BIỆT LY THÁNH

Ngày xửa ngày xưa… tại một đất nước Do Thái xa thật xa, có một làng Nazarét nhỏ bé….  Tôi nhắm mắt thả hồn mơ màng theo tiếng mời gọi của Giêsu đến ăn tối với gia đình Ngài, trước khi Ngài khăn gói lên đường bước chân vào cuộc đời rao giảng.  Gió hiu hiu thổi nhẹ, đưa hồn tôi vào cõi xa xăm thân thương của ngày xưa đó…

Nắng chiều ngả dần sau những rặng cây cao cuối làng, tiếng chó sủa oăng oẳng khi nghe tiếng bước chân lạ dẫm xào xạc trên cành lá khô.  Tôi mon men nhẹ bước tiến về căn nhà quen thuộc nơi cuối thôn Nazarét, một ngôi làng nhỏ xíu chỉ vài ba chục mái ngói túm tụm với nhau trên vùng đồi núi khá hẻo lánh của xứ Galilê.  Giêsu, người bạn thân cùng xóm, sáng nay rủ tôi đến nhà chơi, để cùng với Ngài chia tay người Mẹ hiền trước khi lên đường.  Tôi lưỡng lự, đâu ai muốn mình ở trong cảnh biệt ly bịn rịn bao giờ.  Nhưng trước ánh mắt chờ đợi của Giêsu, tôi không nỡ chối từ.  Đang đứng ngập ngừng trước cửa ngôi nhà tranh vách đất xiêu vẹo cũ kỹ, chưa kịp lên tiếng thì cánh cửa đã bật mở.  Với khuôn mặt mừng rỡ, Mẹ niềm nở đón tôi vào nhà chơi.  Đã thường đến đây nhiều lần, ăn dầm nằm dề ở nhà Mẹ đến mòn đũa mòn bát, nhưng lần này, không hiểu sao tôi cứ lúng ta lúng túng, vụng về lấp bấp không nên lời.  Mẹ mời tôi cùng ăn bữa tối với gia đình.  Bữa cơm được dọn ra dưới ánh trăng trong vườn, đơn sơ và đạm bạc, cả ba ăn uống hàn huyên vui vẻ.

ZZSau khi dùng bữa, Giêsu hít một hơi dài đằng hắng rồi ngập ngừng lên tiếng:

–     Mẹ ơi, con có chuyện quan trọng muốn thưa với Mẹ. Nhưng trước khi nói, con muốn hỏi Mẹ một điều.  Con năm nay đã ba mươi tuổi rồi, có bao giờ Mẹ thắc mắc tại sao con không lấy vợ, rồi sinh con đẻ cái cho Mẹ có cháu bồng, cho nhà mình có tiếng cười nói của trẻ thơ để bớt đi không khí quạnh hiu, đơn chiếc của cảnh mẹ goá con côi không?

Mẹ nhìn sâu vào ánh mắt Giêsu như cố đoán một vấn đề gì đó đằng sau câu hỏi giản đơn kia, nhấp một miếng trà, Mẹ nhẹ nhàng đáp:

–     Mẹ cũng từng nghĩ đến vấn đề đó, nhưng Mẹ không muốn hỏi con.  Mẹ thấy con yêu mến hết tất cả mọi người trong làng, nhưng không dừng lại một cách đặc biệt nơi cô gái nào cả.  Con ẵm bế chơi đùa với mọi đứa trẻ nhỏ trong xóm, nhưng không quyến luyến bịn rịn riêng đứa nào.  Mẹ thấy tình yêu của con rộng lớn trải đều cho tất cả không phân biệt ai.  Mẹ nhớ lúc con 12 tuổi, khi Mẹ Cha tìm được con trong đền thờ Giêrusalem, con có nói với Mẹ là con còn có bổn phận ở nhà của Cha con nữa.  Mẹ không hiểu hết ý con nhưng Mẹ giữ và luôn suy gẫm những sự ấy trong lòng.  Chắc con còn có một hoài bão to lớn muốn làm cho đời.  Hay còn có một bổn phận thiêng liêng với “Cha con” mà con cần phải thi hành nên không muốn vướng bận chuyện vợ con gia đình.

Giêsu nắm lấy bàn tay gân guốc nhăn nheo vì đời sống lam lũ của Mẹ đưa lên ngực ôm hôn:

–     Mẹ nói đúng lắm, con không thể ở mãi với Mẹ đến suốt đời được. Con còn có những bổn phận, những việc riêng của Cha con mà con cần phải làm.  Đêm nay, con muốn nói lời tạm biệt với Mẹ để lên đường thi hành sứ vụ của mình, mà chính vì những sứ vụ đó con đã đến với thế gian này.  Con biết nhà mình neo đơn, ba chết, con là con một, là niềm an ủi, là chỗ dựa duy nhất của Mẹ trong lúc tuổi già bóng xế.  Dưới con mắt thế gian, ra đi để lại Mẹ già lủi thủi không người chăm sóc là một việc làm bất hiếu.  Nhưng với Thiên Chúa, mọi sự lại khác Mẹ à!  Con mong Mẹ hiểu cho con.

Mẹ nghiêm khắc nhìn thẳng vào ánh mắt của Giêsu rồi nhíu mày hỏi lại:

–     Con nghĩ rằng Mẹ cưu mang con 9 tháng 10 ngày trong lòng để rồi giữ con cho riêng mình đến suốt đời ư?  Hay Mẹ kể công nuôi con khôn lớn rồi giữ con ở nhà, bắt con phải sống theo ý của Mẹ sao?  Không, con ơi!  Mẹ đã sống cuộc đời của mẹ rồi, Mẹ đã có cơ hội để nói lời “xin vâng” hay “chối từ.”  Bây giờ đến phiên con sống cuộc đời của con, đến lúc để con tự do gật đầu hay lắc đầu với tiếng gọi thiêng liêng trong lòng.  Như Mẹ đã trả lời “xin vâng” khi xưa thế nào, thì Mẹ cũng muốn con xin vâng như vậy, cho dù có là chén đắng của con, là nỗi đau thấu suốt tim gan của Mẹ, Mẹ vẫn vui vẻ chấp nhận.

Ngước nhìn bầu trời đầy ánh sao, đôi mắt Mẹ khẽ nhắm lại như nén chặt những giọt lệ sầu muộn vào lòng, Mẹ thầm thĩ nói tiếp như nói với chính mình:

–     Nếu nói không buồn là Mẹ dối lòng mình. Có cuộc chia tay nào mà không lưu luyến sầu đau hả con?  Có chữ “xin vâng” nào mà không có cái giá phải trả?  Nhưng trong nỗi đau có niềm vui của kẻ được chọn, trong nỗi buồn biệt ly có xen lẫn niềm hạnh phúc được hợp tác với Thiên Chúa trong chương trình cứu độ của Ngài.  Con cứ đi, đừng lo cho Mẹ!  Ở nhà đã có láng giềng, bà con thân thuộc xa gần rồi.  Con đi từ Bắc chí Nam, đường xa gian khổ, Mẹ không theo con được.  Nếu con đi rao giảng ngang qua làng mình, Mẹ sẽ đi thăm con, sẽ lo cơm nước cho con, cho các môn đệ và bạn bè của con, Mẹ sẽ làm những gì sức Mẹ có thể làm được.  Con đi giữ gìn sức khoẻ, làm tròn bổn phận với Cha con trên trời là Mẹ vui rồi.

Mẹ đưa hai tay lên vuốt nhẹ mái tóc rối bù của Giêsu, rồi lại vuốt má đứa con trai yêu dấu như sợ sẽ chẳng còn có cơ hội nữa.  Tự nhiên thái độ Mẹ đổi qua vui tươi rộn ràng, nhìn đứa con nay đã trưởng thành, mắt Mẹ long lanh mơ màng nhớ về chuyện xưa, một kỷ niệm đẹp trong đời Mẹ:

–     Con biết không, hồi xưa, khi Sứ Thần hiện ra báo tin cho Mẹ biết sẽ mang thai con, lúc đó Mẹ chỉ mới 15-16 tuổi.  Sau những phút giây đầu ngạc nhiên sợ hãi, Mẹ đã mạnh dạn nói lời xin vâng mà không buồn hỏi ý ông bà ngoại, cũng chẳng màng hỏi ý ba Giuse của con.  Mẹ vui vì được diễm phúc Thiên Chúa chọn lựa làm Mẹ con.  Bây giờ làm sao Mẹ lại dám ngăn con nói lời xin vâng với Thiên Chúa được hả con?  Con ơi, sống cho Chúa đi rồi mình sẽ nhận lãnh những niềm vui thiêng liêng, những hạnh phúc ngọt ngào mà thế gian không thể ban tặng.  Hạnh phúc của đời người là sống theo thánh ý Chúa, là đáp trả lời mời gọi của Ngài để sống trọn vẹn với ơn gọi của mình.

Giêsu như vui lây trước thái độ vui tươi của người Mẹ.  Ngài hân hoan xoa tới xoa lui bàn tay mang nhiều dấu ấn vất vả của một phụ nữ nghèo miền quê, giọng nói đầy vẻ biết ơn:

–     Cám ơn Mẹ đã khích lệ con lên đường làm tròn sứ vụ của mình. Con tưởng rằng Mẹ sẽ đau khổ vật vã khóc than, sẽ âu sầu sợ hãi cho những tháng ngày dài quạnh hiu của tuổi già đơn bóng, sẽ năn nỉ xin con ở lại bên Mẹ.  Mẹ can đảm lắm, Mẹ ơi!  Mẹ ở nhà nhớ giữ gìn sức khoẻ, đừng quên đọc Thánh Vịnh và cầu nguyện cho con, cho các linh hồn bơ vơ không người chăn dắt.  Cám ơn Mẹ đã nói lời xin vâng khi xưa để có con ngày nay.  Cám ơn Mẹ ba mươi năm nuôi con khôn lớn, dạy dỗ con nên người mà không đòi sự báo đáp.  Cám ơn Mẹ đã cho con tự do sống đời của mình.  Nếu có cơ hội đi rao giảng gần nhà, con sẽ về thăm Mẹ, thăm bà con láng giềng.  Mẹ con mình sẽ có ngày đoàn tụ.  Con hứa với Mẹ như vậy.

Buổi Biệt ly tưởng sẽ diễn ra trong nước mắt sầu đau của chia lìa mất mát.  Nhưng rốt cuộc lại biến thành cuộc hàn huyên chia sẻ của những tâm hồn khát khao đáp trả.  Người ở khích lệ người đi.  Người thưa hai tiếng xin vâng lúc trước, giờ mạnh dạn nâng đỡ tinh thần người đi sau, để cùng nhau nói tiếng xin vâng với Thiên Chúa Chí Thánh.

Tôi ngồi đó, hai dòng lệ nóng lăn dài xuống má.  Trong cảnh biệt ly của mẹ góa con côi, người trong cuộc không khóc, nhưng kẻ ngoài cuộc lại sụt sùi giọt ngắn giọt dài, đua nhau tuôn rơi.  Tôi thấy mình yếu đuối bé nhỏ trước người bạn Giêsu vĩ đại.  Tôi thấy thèm có một người mẹ cao cả yêu thương vô điều kiện như Mẹ của Giêsu.  Cho đi mà chẳng đòi hỏi nhận lãnh, nuôi con khôn lớn mà không hề giữ con cho riêng mình, nâng niu dạy dỗ con, nhưng không bắt con sống theo ý mình.

Tôi bước tới ôm chầm lấy tấm thân gầy guộc, gục vào bờ vai mảnh mai của Mẹ mà sụt sùi:

–     Mẹ ơi, con xin lỗi Mẹ vì đã đoán lầm tấm lòng của Mẹ. Con cứ ngỡ rằng Mẹ sẽ đau khổ, sẽ  khóc lóc, rồi sẽ năn nỉ Giêsu suy nghĩ lại để ở nhà với Mẹ.  Con sợ chứng kiến cảnh biệt ly ai oán đó nên đã tính từ chối lời mời của Giêsu.  Không ngờ con lại được diễm phúc chứng kiến cảnh “Biệt Ly Thánh” của hai tâm hồn thánh thiện.  Mẹ đã dạy con một bài học về tình yêu không điều kiện, về lòng can đảm sống Thánh ý Chúa.  Lời “xin vâng” của Mẹ với sứ thần ngày xưa, hòa với lời “xin vâng” của Mẹ hôm nay với người con Giêsu đã dệt nên một lời nguyện tuyệt đẹp hoàn hảo của nhân loại dâng lên Thiên Chúa tối cao.  Cám ơn Mẹ đã cho những đứa con có cơ hội sống cuộc đời mình, được tự do để đáp trả tiếng gọi trong lòng.  Khi Mẹ để Giêsu đi rao giảng, Mẹ không mất đứa con nào cả, trái lại Mẹ còn có thêm nhiều đứa con khác nữa.  Xin cho con được diễm phúc làm con Mẹ, Mẹ nhé!

Mẹ nhẹ vuốt mái tóc bờm xờm của tôi rồi đưa tay lau nhẹ những giọt lệ đọng trên má tôi:

–     Mẹ già rồi, không thể theo các con trên từng nẻo đường được. Mẹ gởi gấm Giêsu cho con đó.  Hãy thay Mẹ săn sóc Giêsu từng miếng ăn giấc ngủ nghe con.  Đường đời nhiều cạm bẫy chông gai, thế gian, ma qủy, xác thịt, hai anh em hãy cố gắng giữ mình, đừng bao giờ làm điều gì mất lòng Thiên Chúa!  Mẹ sẽ ăn chay cầu nguyện mỗi ngày cho hai con.

Rồi tất cả rơi vào thinh lặng.  Mỗi người thả hồn theo đuổi một suy nghĩ của riêng mình, về một ngày mai xa lạ khi không còn có nhau bên đời.  Tiếng côn trùng rả rích trong đêm như đệm nhạc cho buổi nói chuyện không lời của chúng tôi.  Ánh trăng lung linh xuyên qua kẽ lá chiếu xuống chan hòa khu vườn làm cho cảnh vật trở nên thánh thiêng hơn.  Tôi muốn ngồi đó mãi, bên người Mẹ hiền thánh thiện, và bên người bạn Giêsu cao cả mang đầy khát vọng đáp trả, cho dù có phải dâng hiến mạng sống.  Mặt trăng đã lên cao, sương khuya lành lạnh giăng đầy cảnh vật.  Dù không muốn nhưng cũng đã đến lúc phải chia tay để ngày mai chúng tôi còn lên đường sớm.  Ôm hôn Mẹ ra về mà lòng tôi nao nao bùi ngùi.  Tôi không dám nhìn vào mắt Mẹ vì sợ không cầm được nước mắt, nhưng Mẹ lại bắt tôi nhìn thẳng vào mắt Mẹ để hứa với Mẹ một điều.  “Cho dù có thế nào, không bao giờ được rời bỏ Giêsu, dù chỉ nửa bước!”  Tôi ngạc nhiên nhìn Mẹ.  Mẹ hiểu thấu tôi hơn chính tôi hiểu tôi.  Mẹ hiểu tấm lòng của tôi, hăng hái nhiệt thành đó nhưng chỉ là hời hợt a dua.  Đi với người xấu thì tôi trở thành người xấu, mà kết bạn với người tốt thì tôi trở thành người tốt.  Và Mẹ cũng hiểu rõ Giêsu con Mẹ là ai, Người sẽ dắt tôi đi đâu nếu tôi trung thành đi bên Người mãi.  Trong giây phút bịn rịn chia ly, dặn dò thì nhiều nhưng quy lại chỉ có một lời hứa duy nhất.

Nhìn lên những ngọn núi lởm chởm đen ngòm nhấp nhô dưới ánh trăng như hứa hẹn một ngày mai đầy sóng gió trong cuộc đời phiêu bạt.  Tôi lưỡng lự tự hỏi lòng mình không biết có thể giữ được lời hứa đó không?  Tôi có thể trung thành với người bạn nối khố Giêsu mãi cho dù gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo không?  Không, tôi không đủ can đảm để hứa.  Hôm qua, tôi chỉ nói với Giêsu là đi theo Ngài chơi cho vui thôi, không có gì ràng buộc cả.  Sao bây giờ Mẹ lại muốn tôi hứa với Mẹ.  Tôi thấy tay mình nhói đau, bàn tay Mẹ đang xiết chặt tay tôi như ban thêm cho tôi lòng can đảm, như truyền thêm sinh lực cho đứa con nhút nhát còn nhiều sợ hãi.  Lấy hết can đảm tôi nhìn vào mắt Mẹ rồi ấp úng ngập ngừng:

–     Con hứa với mẹ, con sẽ không bao giờ rời bỏ Giêsu… nếu Mẹ hứa… Mẹ hứa rằng… Mẹ sẽ không bao giờ quên cầu nguyện cho con.

Mẹ mừng rỡ ôm chặt lấy tôi, đôi môi khô đặt lên mái tóc rối bù một nụ hôn nồng ấm.  Tôi di di bàn chân trên cát, xấu hổ nhìn gằm xuống đất đen trước nụ hôn nồng nàn đầy yêu thương của mẹ.  Lời hứa của tôi là một lời hứa có điều kiện, tình yêu của tôi cũng là một tình yêu có điều kiện.  Tôi không theo không người bạn Giêsu của mình.  Tôi nhận lời cùng đi rao giảng với Giêsu với điều kiện, mai này Giêsu có thành danh thì tôi cũng được ké, có thành đạt thì tôi cũng được hưởng lây.  Thôi kệ đi, bây giờ cứ như vậy đã, ngày mai đi cùng với Giêsu trên quãng đường dài, biết đâu tôi sẽ khá hơn.  Giêsu và Mẹ người tiễn tôi ra về tới tận đầu thôn.  Tôi ngậm ngùi đưa tay lên vẫy chào Mẹ lần cuối, người Mẹ hiền đã dạy cho tôi nhiều bài học qúy ở đời.  Mẹ ơi, hẹn gặp lại Mẹ một ngày gần đây.  Bóng Giêsu và Mẹ Ngài ngả dài dưới ánh trăng khuất dần trong làn sương mỏng.

Cám ơn mối tình thâm mà Giêsu đã dành cho tôi như một người thân trong gia đình, đã cho tôi cơ hội có mặt trong cuộc chia tay thánh thiện giữa hai Mẹ con Ngài, một Biệt Ly Thánh mà không bao giờ tôi quên được.  Cám ơn Mẹ Maria đã nhận tôi làm con và ràng buộc tôi với một lời hứa qúy giá nhất trong đời!

Lang Thang Chiều Tím
Kỷ niệm Linh Thao 8 ngày, September 2010

KỶ NIỆM VỚI LINH THAO

ZZTôi đến với Linh Thao trong một dịp tình cờ, khi đọc thấy các khoá tĩnh tâm Linh Thao Cuối Tuần trên một tờ thông tin của nhà thờ Việt Nam.  Mới trở về với Chúa qua một biến cố trong đời, tâm hồn tôi thao thức muốn tìm đến với Ngài trong tình thân mà không biết phải làm sao.  Tôi mò mẫm đi tìm Chúa qua mấy khoá tĩnh tâm.

Khoá của Gia Đình Đồng Công thì già quá, tĩnh tâm với nhóm Đường Hy Vọng thì trẻ quá…  Chúa lúc thì già lụ khụ, lúc thì trẻ măng non choèn choẹt…, chưa Chúa nào hợp với tôi cả.  Tôi không hy vọng gì ở khóa tĩnh tâm Linh Thao này, nhưng ít nhất cũng phải thử mới biết có hạp hay không, chứ đâu thể ngồi ở nhà mà đoán già đoán non. Thế là tôi từ chối một party vào cuối tuần đó, và rủ cô bạn thân cùng đi dự khoá với tôi.  Lúc ấy, tôi không có khái niệm gì về hai chữ Linh Thao, cũng không biết ông I-nhã là ai, bày ra những trò gì, chỉ là muốn thử thời vận thêm một lần nữa thôi.

Bị bất ngờ và thất vọng tràn trề ngay từ buổi đầu tiên, có chui vô rọ mới biết kiểu tĩnh tâm Linh Thao là “thinh lặng,” và bản tình ca “KHÔNG” làm ngạc nhiên những tên lính mới như tôi.  Không nói chuyện, không phone tay, không internet, không báo chí, không tivi, không radio…, nói chung là không có gì, và không còn gì để nói không nữa.  Những “linh hồn tượng đá” đi ra đi vô, đụng mặt nhau ầm ầm, mà mặt lạnh như những tảng băng có thể đâm thủng mấy chiếc tàu Titanic.  Bốn mắt có tình cờ giao nhau ở hành lang, thì nhất định liếc lên trời hay ngó xuống đất chứ nhất quyết không hề chào hỏi nhau, dù bằng ánh mắt hay nụ cười.  Trong giờ thong dong và cầu nguyện riêng, hai đứa chúng tôi cứ đi chung và nói chuyện rù rì với nhau suốt buổi.  Một “linh hồn tượng đá” trong nhóm Bạn Đường Cầu Nguyện đến nhắc nhở chúng tôi không nên đi chung, và nói chuyện với nhau nữa, nếu cha thấy sẽ la.  Bực mình thiệt!  Chúng tôi nói chuyện nho nhỏ chứ có nói ồn ào, hay làm phiền tới ai đâu mà cấm như con nít vậy.  Tôi đã hiểu sai nghĩa “thinh lặng” trong Linh Thao.

Tôi đi từ ngạc nhiên này qua ngạc nhiên khác khi chiêm ngắm những khuôn mặt lạnh lùng trong khóa.  Có lần tôi đã suýt phá ra cười nhưng kịp giữ lại, vì chẳng biết họ cấm nói chuyện nhưng có cho cười hay cho khóc không?  Đến giờ ăn, hai anh chị ở trong nhóm Bạn Đường Cầu Nguyện ngồi ăn chung một bàn, anh muốn mời chị ăn chuối.  Khuôn mặt băng giá với cặp mắt long lanh chỉ đăm đăm nhìn về trời, nên chị không thấy người đối diện đang mời ăn chuối.  Anh cầm trái chuối giơ lên cao trước mặt chị, và đung đưa quả chuối qua lại để thu hút cái nhìn của chị.  Chị vẫn làm ngơ và im lặng ăn!  Nhìn họ giống như hai con khỉ trong sở thú đang mời nhau ăn chuối.

Không được đi chung, không cho nói chuyện công khai thì hai đứa con gái chui vô phòng đóng cửa lại nói chuyện.  Lâu lắm mới có dịp được ở chung với nhau, tha hồ mà chít chát.  Dù được nói thoả thuê trong phòng như thế, nhưng tôi vẫn cảm thấy chán ngắt.  Cái miệng được hoạt động nhưng tay chân lại thấy buồn bã khó chịu.  Lòng tôi vấn vương nhớ tới cuộc vui ở dưới núi mà tôi đã bỏ lỡ cơ hội.  “Tâm” tôi chưa “tĩnh” thì làm sao có thể tĩnh tâm được đây?  Mới qua ngày hôm sau mà tôi có cảm tưởng như dài cả thế kỷ.  Tôi ngán ngẩm chán chường, tay chân thừa thãi, mồm miệng xuống đường biểu tình đòi quyền nói.  Tôi rủ cô bạn “chuồn” về sớm.  Bạn tôi e dè, sợ mắc cở với những người chung quanh, họ sẽ nhìn mình như một tên lính đào ngũ vậy!  Tôi thuyết phục cô bạn: “Họ là ai mà mình phải sợ?  Xuống núi chưa chắc mình sẽ gặp lại họ, mà nếu có gặp, họ cũng không biết mình là ai mà phải sợ.” Bạn tôi đồng ý và chúng tôi lên phòng thu xếp hành lý.

Khi có được đồng minh thì tôi lại chùn chân.  Tiếc tiền chăng?  Có lẽ, nhưng không phải là chính!  Ngại người ta cười ư?  Trời đất, ba gai như tôi thì sợ gì ai, tôi không cười người ta thì thôi chứ!  Có lẽ tôi sợ Chúa buồn!  Lòng tôi bỗng xao xuyến và bước chân ngập ngừng.  “Ở lại với những tâm tình nổi loạn như vậy thì chẳng có ích gì đâu!”  Tôi nghe tiếng dụ dỗ trong đầu.  Biết thế, nhưng có lẽ Chúa sẽ vui hơn là bỏ về nửa chừng.  Ngước nhìn lên tượng chịu nạn treo trên tường, tôi bối rối!  Thế là tôi quyết định ở lại.  Thôi thì ráng lê lết cái xác không hồn thêm 12 tiếng nữa để chiêm ngắm những “linh hồn tượng đá” di động.  Chỉ một lần nữa thôi, rồi dẹp tan giấc mơ “thà như mưa gió đến ôm tượng đá.”

Rồi cũng đến lúc kết thúc hai ngày lê thê trên núi, lòng tôi nhảy lên mừng vui reo hò.  Đến giờ lượng giá khoá tĩnh tâm, Ban Tổ Chức phát tờ giấy để người tham dự đánh giá, và cho ý kiến về khóa.  À ha, đây là một cơ hội bằng vàng để “trả thù.”  Bao nhiêu nỗi bực dọc bị dồn nén trong hai ngày qua, nay có cơ hội tuôn xối xả lên trang giấy trắng vô tội, tôi viết đến nỗi không đủ giấy để viết.  Về phần ưu điểm của khóa là cho ăn ngon, ngày ba bữa phục vụ tận tình… thì tôi ghi chữ… nho nhỏ thôi.

Tôi hả hê ra về vì đã trút được sự bực bội của mình, thề với lòng sẽ không có lần thứ hai.  Vài tháng sau, lại thấy đăng trên tờ thông tin của nhà thờ, có khoá tĩnh tâm Linh Thao Cuối Tuần với một ông cha khác.  Tôi ngạc nhiên, Ban Tổ Chức Tĩnh Tĩnh Tâm vẫn còn sống sao?  Bắt im như vậy mà cũng có người đi nữa ư?  Làm gì mà có người dại dột lần thứ hai nhỉ?

Hình như Chúa Thánh Thần không buông tha cho tôi.  Tôi cứ tò mò và thắc mắc về khóa kế tiếp, chẳng biết có gì hay ho hơn không?  Ông cha khóa sau có “linh” hơn ông cha khóa trước không?  Có cao tay ấn hơn không?  Làm sao có câu trả lời nếu tôi không thử.  Tôi cảm thấy ngứa ngáy muốn nạp mạng thêm một lần nữa.  “Quá tam ba bận,” mình mới bị có một lần thôi mà!  Có vô hang cọp mới bắt được cọp.  Có lên núi mới bắt được Chúa của cọp chứ!  Tôi ấm ức vì dò đài hoài mà vẫn chưa bắt trúng được tần số với Giêsu.

Thế là tôi “dại dột” nhắm mắt đưa chân thêm một lần nữa, cô bạn thân cùng đi khoá trước cũng bị tôi năn nỉ dụ đi theo cho có bạn, dù sao khi muốn đào ngũ trốn trại, có hai người vẫn đỡ hơn.

Ra quân lần này chúng tôi đụng độ phải một ông cha dữ “thần sầu qủy khóc.”  Trong một giờ huấn đức, tôi muốn đi vệ sinh nhưng chờ hoài chờ mãi mà cha vẫn say sưa mê mải nói.  Ngồi kế bên tôi là một “linh hồn tượng đá” trong Ban Tổ Chức, tôi viết giấy nhờ anh nói với cha cho bà con nghỉ giải lao.  Anh giơ tay đứng lên xin cha cho nghỉ giải lao năm phút vì có người muốn đi vệ sinh.  Vị cha già khả ái trợn mắt nạt luôn “linh hồn tượng đá” mà tôi cứ tưởng có quyền lắm chứ.  Cha hất mặt hỏi cắc cớ: “Ở đây có ai bị câm không nói được không mà cậu phải nói thay?” Trời ơi, luật nhắc nhở những người đi Linh Thao là không được nói chuyện, mà nhờ người khác nói dùm thì lại hỏi “có ai bị câm không?” Đúng là “miệng ông cha có gang có thép” nói gì cũng được.

Cha giảng khá hay nhưng lại nói “tiếng lạ” vì cha người Huế, tôi nghe tiếng được tiếng mất, hiểu lơ mơ những gì cha nói.  Trong một bài giảng, cha nói Thánh I-nhã khi có ý định thành lập Dòng Tên, ngài phải chờ có đủ ba “qủy” mới thực hiện ý định.  Cái gì?  Tôi chổm người kinh ngạc, “ba qủy?”  Lập Dòng mà phải chờ có đủ “ba qủy,” vậy Dòng này lập ra để làm gì?  Ngạc nhiên quá mà sợ bị la nên không dám hỏi.  Tôi nhíu mày thấp thỏm trên ghế, mắt trợn tròn nhìn cha mà miệng cứ lẩm bẩm “ba qủy,”… cần “ba qủy” để lập Dòng?  Cha liếc nhìn tôi, có lẽ ngài cũng lấy làm lạ trước cái mặt ngơ ngác của tôi.  Ngài lập lại, chậm rãi, nhấn mạnh từng chữ, và giải nghĩa thêm: “Ba q…ũ…y, qũy an sinh, qũy cho các cha đi học, và qũy cho các cha về hưu.”  Tôi thở hắt ra, thì ra là “qũy” chứ không phải “qủy,” vì cha người Huế nên tôi nghe chữ “qủy” thay vì là “qũy.”  Đúng là chữ “qủy” và “qũy” tuy rằng khác nghĩa nhưng chung một vần, đã tạo nên sự hiểu lầm cho kẻ chưa có kinh nghiệm nghe “tiếng lạ” như tôi.

Lần này tôi cũng chẳng hiền lành gì mà tuân thủ luật “thinh lặng” của Linh Thao.  Có điều vì ngăn sông cách trở, ở nhà tĩnh tâm mới, mỗi người “bị” ở riêng một phòng, có sẵn tiện nghi bồn tắm, nên tôi không thể nói chuyện với cô bạn đi cùng được.  Chẳng biết có phải là ý Chúa hay không mà phòng tôi lại được vinh dự ở sát phòng của một “linh hồn tượng đá” trong Ban Tổ Chức, nên tôi không dám nhúc nhích.

Tối về phòng ngủ, tôi bị rối tung lên vì mớ giáo lý vừa nghe giảng được.  Cứ ngỡ rằng mình là đạo gốc, gốc “cổ thụ” cỡ bự, gia đình cũng có người làm cha như ai, hồi nhỏ tôi cũng được đi học giáo lý đàng hoàng, lớn lên cũng tập tành dạy giáo lý cho đám nít nhỏ, vậy mà…!  Trời ơi, làm sao đủ can đảm để nghĩ rằng những kiến thức giáo lý sơ đẳng mà tôi học được từ thưở xa xưa đó, và còn nhớ lõm bõm cho đến nay, hình như bị lệch lạc hết.  Những câu trả lời trước những câu hỏi hóc búa của đám học trò đều là “lạc đạo.”  Tôi sai, kéo theo cả một đám học trò lau nhau sai theo.  Tội tày trời Chúa ơi! Tội này kéo theo tội kia.  Tất cả đảo lộn trong đầu, những khái niệm mới như “tội nặng,” “tội nhẹ,” mục đích đời sống của con người, cách cầu nguyện, cách đọc Kinh Thánh…. đều quá mới mẻ và xa lạ với tôi.  Tôi muốn nổi khùng lên với chính mình.  Ôm đầu đi tới đi lui bực bội trong phòng, đá bàn đá ghế, giật chăn quăng gối, tôi không muốn đối diện với sự thật, không muốn nghe thêm điều gì nữa.

Lạ thật, ngay vào lúc không chờ đợi, không muốn nghe gì thêm, thì tôi lại nghe được tiếng nói quan trọng nhất.  Trong thinh lặng, dù là một thinh lặng bị cưỡng bức, tiếng Chúa như ngọn gió êm êm, nhè nhẹ rót vào tai tôi!  Như người mẹ hiền đang dịu dàng vuốt ve cơn giận của đứa con gái mới lớn cứ chực chờ nổi loạn, Ngài âu yếm ngồi xuống nhẹ nhàng gỡ rối từng mối tơ lòng cho tôi.  Thiên Chúa đã quảng đại tỏ mình với tôi như với ba môn đệ khi xưa trên núi Tabo.  Mũi tên của vị thần ái tình Cupid đã giương lên trong đám bùi nhùi hỗn loạn, và đã bắn trúng tim tôi.

Tôi bắt trúng đài từ đó, và cũng từ đó tôi mới hiểu được giá trị của thinh lặng trong Linh Thao, một thứ thinh lặng thánh thiêng từ trong cõi tâm hồn để dọn lòng nghe tiếng Chúa.  Cho dù tâm hồn tôi đang nổi loạn, cho dù tôi đang bất mãn, cho dù tôi bịt tai lại không muốn nghe, cho dù… và cho dù… có bao nhiêu cản trở…  Nhưng với những điều kiện thuận lợi của một người ở trên núi, đang cố sức “thao tập linh hồn” mình, Thiên Chúa đã có cơ hội ra tay hành động một cách dễ dàng hơn.  Bản tình ca “KHÔNG” đáng ghét ngày xưa, không này, không nọ, không kia, đã trở nên thân thương và dễ hiểu. Đó là những đòi hỏi từ bỏ đầu tiên cho những người muốn lên núi đi tìm Ngài.  Với những điều kiện sơ đẳng nhất mà không từ bỏ được, thì làm sao dám mơ từ bỏ những cái cao siêu mà Chúa đòi hỏi?  Làm sao có thể nghe được tiếng Chúa, khi tâm hồn chất đầy những tiếng động ồn ào của cuộc sống?  Làm sao có thể sống theo ý Chúa, nếu không nghe được tiếng Ngài?  Và làm sao dám mơ về Nước Thiên Đàng, nếu không sống thánh ý Chúa?

Mười năm tình cũ đã qua kể từ ngày được nghe tiếng Chúa nói trong tâm hồn, và nghe “tiếng lạ” của vị cha già khả ái mạng cọp.  Cứ mỗi năm tôi lại khăn gói lên đường đi Linh Thao, không phân biệt cha dữ hay hiền, già hay trẻ, có được ơn nói “tiếng lạ” hay không.  Tạ ơn Chúa đã không chịu đầu hàng với những phản ứng tiêu cực của đứa con ngỗ nghịch như con.  Cám ơn Ban Tổ Chức Tĩnh Tâm chưa bị phá sản vì lời rủa thầm của con trước đây, để con có cơ hội đến với Chúa mỗi năm.

Lang Thang Chiều Tím
(Viết theo lời kể của một người đi Linh Thao)
September 2010

THƯ GỞI CHA YÊU

Nhà Cha, ngày…. tháng…. năm……

Cha yêu thương,

Giờ này chắc Cha đang say trong giấc ngủ bình an – con hy vọng như vậy!  Không gian chung quanh nhà mình yên tĩnh quá, chỉ có tiếng kêu của mấy con ễnh ương, và côn trùng đang hòa điệu vào bản nhạc giao hưởng về đêm của thiên nhiên.  Ánh trăng tròn ngày rằm xuyên qua khung cửa sổ, rọi vào bàn viết nơi con đang ngồi, chiếu sáng lên trang giấy trắng nhòe nhoẹt những giọt nước mắt của đứa con hoang đàng.  Ánh sáng dìu dịu của mặt trăng, một thứ ánh sáng nhẹ nhàng, tỏa lan nhưng không chói chang – như khuyến khích con viết ra nỗi lòng của mình, như ban thêm cho con can đảm để bắt đầu những bước chân chập chững trong ánh sáng!

Sau mấy ngày trở về lại trong ngôi nhà thân thương.  Bao tử đã được lấp đầy bởi con bê vỗ béo và những món ăn thịnh soạn, những vết ghẻ lở đã được chăm sóc chu đáo giờ đang đâm da non, người ngợm đã được tắm rửa sạch sẽ cho ra hình thù con người.  Giờ đây con đã tỉnh táo hẳn, cả về thể chất lẫn tinh thần, để nhìn thẳng vào lòng mình.  Và con cảm thấy muốn tâm sự với Cha!  Con cần một lời thú tội thành thật, không phải cho Cha mà cho chính con.  Với Cha, con trở về, điều đó là quá đủ!  Cha chỉ muốn ôm con vào lòng.  Cha không cần biết đến lý do con trở về!  Cha không muốn nghe bài diễn văn con đã công phu soạn sẵn.  Cha không một tiếng hạch hỏi nửa phần gia tài kếch sù kia đi đâu.  Tình ZZyêu sâu thẳm và thái độ khoan dung nhân hậu của Cha càng làm xao xuyến hồn con.  Hối hận ngập tràn tim con, Cha ơi!  Hôm nay, dưới ánh sáng tinh khiết của ánh trăng rằm, con sẽ kể Cha nghe.

Con trở về không phải vì thương nhớ Cha già ốm yếu đang tuổi gần đất xa trời, cũng chẳng phải hối tiếc những lỗi lầm của mình khi xưa.  Con trở về, đơn giản chỉ vì cái bao tử!  Một cái bao tử rỗng tuếch hết ngày này qua tháng nọ, đang gào thét dãy dụa để được lấp đầy.  Cái bao tử dù đã chịu xuống nước, xin được ăn cám heo, và đậu muồng của heo nhưng cũng không xong.  Về, để không muốn nghe thêm những tiếng chửi nhục nhã ề chề của chủ, tiếng cười nhạo báng của người đời.  Về, vì không muốn sống kiếp người mà không bằng kiếp heo.  Con trở về, đơn giản chỉ vì những ghẻ lở mụn nhọt đầy mình, đang cấu xé hành hạ thân thể quắt queo.  Những vết thương ngoài da chỉ dám xin những loại thuốc xoàng xĩnh rẻ tiền đắp lên, nhưng cũng chẳng ai cho.  Giờ đây nó đang từ từ tấn công vào lớp mỡ bên trong, đau thấu ruột gan!  Con trở về, đơn giản chỉ vì không chịu được cái lạnh buốt xương về đêm khi ngủ ngoài đường, cái nắng gay gắt giữa trưa hè khi chăn heo ngoài đồng.  Về, chỉ vì không muốn chết đường chết chợ như một con chó đói đi hoang!  Dưới tận đáy địa ngục trần gian đó, con chợt nhớ ra mình còn một mái nhà, một người cha già…

…..Và con quyết định trở về!  Vì chưa dám tin vào lòng bao dung của Cha, nên con đã soạn sẵn một bài diễn văn thật lâm li bi đát để khơi dậy lòng thương xót của Cha.  Vì chưa dám tin vào lòng nhân hậu của Cha, nên con đã tính toán kỹ thời điểm để về, con thấy rằng không lúc nào thích hợp hơn buổi hoàng hôn.  Trong hoàng hôn của đời người, quyện với ráng chiều heo hắt ảm đạm của giao điểm ngày và đêm, người già sẽ cảm thấy lẻ loi cô độc hơn, và dễ dàng tha thứ hơn.  Nắng chiều nhạt nhòa tranh tối tranh sáng, chỉ vừa đủ để Cha nhìn ra mặt thằng con đi hoang.  Nếu cánh cửa gỗ lim có đóng sập trước mắt con, nếu bọn gia nhân có xua chó ra cắn, sẽ không ai nhìn thấy con chạy đi trong bóng ngả chiều hôm.  Vì chưa dám tin vào sự khoan dung rộng lượng của Cha, nên con đã tập khóc nhiều lần trước khi gặp Cha, khóc thật to để đánh động trái tim Cha.  Thú thật, với cái bao tử trống rỗng nhiều tháng ngày, con không còn đủ sức để khóc nữa.  Nước mắt đã cạn kiệt khi người yêu quay lưng, đứa bạn thân cuối cùng phản bội.  Tất cả đã được tính toán kỹ từng chi tiết rồi Cha ạ!  Chỉ chờ con bước ra sân khấu.

….. Nhưng rồi kịch bản đã không được sử dụng.

Con ngạc nhiên bối rối khi thấy bóng Cha thấp thoáng đầu ngõ.  Dù đã chuẩn bị, nhưng đôi chân đi hoang giờ đây lại ngập ngừng không biết nên tiến tới hay bỏ chạy.  Sao Cha không ở trong nhà mà ra đứng đầu ngõ?  Sao Cha biết hôm nay con sẽ trở về mà ra đây đứng đợi?  Trong khoảnh khắc lưỡng lự đó, đâu ngờ Cha đã nhận ra con, ánh mắt tẻm nhẻm của một người già sao mà tinh anh đến thế?  Bóng dáng Cha già quăng gậy lụ khụ chạy về phía mình làm con ngỡ ngàng hoa mắt.  Con như chết trân tại chỗ, đôi chân chôn cứng xuống đất.  Con chẳng chạy đi mà cũng không thể tiến tới!  Con chỉ bừng tỉnh khi đôi tay gầy guộc của Cha ôm choàng lấy người con, và hôn lấy hôn để, những giọt nước mắt xối xả tuôn xuống tấm thân gầy guộc nhơ nhuốc như muốn gột rửa hết bụi nhơ cho thằng con Út.

Gục xuống chân Cha mà khóc, vì con chẳng mong đợi để được đón nhận vòng tay ôm, và nụ hôn thắm thiết.  Con khóc, chẳng rõ đó là những giọt nước mắt đã được chuẩn bị từ trước, hay là những giọt lệ chân thành từ trái tim chai đá cằn cỗi?  Cánh tay già gầy guộc run rẩy sờ soạng khắp người con như kiểm tra thân thể con còn nguyên vẹn hay không.  Con muốn ngăn Cha đừng hôn lên những vết mụn lở loét trên người con, nhưng không kịp nữa rồi!  Môi Cha đã đặt lên nơi mà con chó ghẻ mới liếm tối qua.  Con cúi đầu nghẹn ngào không dám nhìn lên!  Bất xứng quá, Cha ơi!  Ánh mắt đỏ hoe nhoè nhoẹt của Cha dừng lại ở những cọng lông chó rải rác trên người con.  Một thoáng nhíu mày, rồi dường như Cha như đã hiểu ra hết sự thật, ánh mắt đau xót nhìn con!  Không chút đắn đo, Cha lại tiếp tục cúi xuống, hôn lấy hôn để trên những vết thương đó bất chấp mùi tanh tưởi, bất chấp thân con rách nát bầm dập, bất chấp tất cả…

Cha thương!  Con đang ngồi trong ngôi nhà mình mà cứ ngỡ như mơ.  Ánh trăng rọi qua rèm cửa chiếu lên chiếc áo choàng đẹp nhất mà Cha đã khoác cho con ngày con về!  Chiếc áo dài tượng trưng cho một con người được tôn trọng trong xã hội.  Lóng lánh trên tay con là chiếc nhẫn uy quyền của cậu chủ mà Cha đã trân trọng đeo vào tay con, ngón tay cáu ghét dơ bẩn của ngày về.  Chiếc nhẫn tượng trưng cho quyền bính, quyền làm con Cha, quyền của cậu Út trong nhà mà con đã không thèm đoái hoài khi trước.  Dưới chân là đôi dép mà chính Cha đã ngồi xuống mang vào đôi chân ghẻ lở bám đầy bụi đường, để phục hồi lại phẩm giá của một người con trong gia đình.  Con không dám mơ để đón nhận những bảo vật này.  Con về chỉ để xin một bát cơm thừa canh cặn.  Về chỉ để xin như một người làm công thôi mà!  Một cuộc trở về không trọn vẹn lại được đón nhận sự tha thứ trọn vẹn làm bàng hoàng tim con.  Tội lỗi con ngập tràn nhưng tình yêu của Cha còn bao la hơn tội lỗi đó!  Con phải làm gì để chuộc lại những lỗi lầm đã qua của mình?  Con không biết mình phải làm gì, Cha ơi!  Chỉ biết nhìn lên Cha, và con giật mình khám phá ra nhiều điều.

Cha đã già đi quá nhiều so với ngày con mới ra đi!  Thân hình phương phi cường tráng của người đàn ông trung niên năm nào, giờ chỉ là một cụ già ốm yếu lụ khụ, như một bóng đèn leo lét trước gió có thể tắt bất cứ lúc nào.  Tạ ơn Trời đất đã cho con có đủ thời gian để kịp trở về!  Mái tóc bạc trắng thay thế mái tóc muối tiêu khi xưa.  Chiếc lưng còng như sụm hẳn xuống vì mòn mỏi chờ đợi.  Cặp mắt đỏ hoe sưng mọng, xưa khóc con Út, nay tiếp tục khóc đứa con Cả.  Con biết anh Cả đang giận Cha, anh ấy không vui vì cách Cha đối xử khoan hồng với con.  Cha già tội nghiệp!  Ngày xưa ra vào đầu ngõ ngong ngóng chờ đợi thằng con Út, ngày nay lại ra vô năn nỉ lạy lục đứa con lớn.  Ngày nào Cha mới được an vui hạnh phúc bên hai thằng con trai?

Sáng nay đi ra thăm đồng với Cha, Cha chỉ cho con những cánh đồng lúa xanh rì thẳng cánh cò bay, nó sẽ tiếp tục là của anh Cả và của con.  Con ngạc nhiên thấy lòng mình dửng dưng trước phần gia tài đồ sộ còn lại của gia đình mình.  Lạ lùng khi nhìn ra niềm hạnh phúc là lúc con đang đứng cạnh Cha, nghe Cha nói chuyện chỉ dạy con cách sống ở đời.  Hạnh phúc là đây mà sao con cứ mãi đi tìm nơi nao?

Tối qua ngồi bên cha uống trà, con thấy mắt cha sáng long lanh niềm vui sau bếp lửa hồng.  Con ngạc nhiên tự hỏi điều gì đã làm cho cha vui?  Chẳng lẽ sự hiện diện của con trong căn nhà này, ngồi bên con hàn huyên mỗi tối, lại mang đến cho Cha niềm vui lớn lao đến thế sao?  Niềm vui và hạnh phúc của Cha chỉ có vậy thôi ư?  Chẳng lẽ Cha không chút tiếc nuối nửa phần gia tài mà con đã phá tan hoang?  Đâu ngờ trong ánh mắt Cha, giá trị của con lớn lao đến thế!  Vậy mà con cứ đi tìm giá trị của mình ngoài chân trời kia.

Và tối nay, ngồi viết cho Cha những dòng chữ này, tâm hồn con trào dâng một niềm vui thánh thoát, niềm hạnh phúc ngọt ngào mà con chưa từng cảm nếm trước đây.  Cặp mắt con đã mở ra để nhìn thấy được giá trị làm con Cha mà con đã đánh mất thưở nào.  Giá trị đó lớn lao biết bao, hơn hẳn mọi thứ giá trị khác ở đời!

Con sẽ nói chuyện với anh Cả sau.  Hy vọng hai anh em sẽ hiểu được nhau, sẽ làm cho Cha vui hơn trong những tháng ngày còn lại.  Con sẽ cố gắng sống cho trọn vẹn với tình yêu rộng lượng của Cha.  Cái trọn vẹn mà con đã thiếu sót khi trở về, nhưng Cha đã chấp nhận cái dang dở, thiếu sót đó.  Cám ơn tấm lòng độ lượng của Cha.  Cám ơn Thiên Chúa đã ban cho con một người Cha nhân hậu!  Cám ơn Trời đất đã cho Cha còn sống để chờ ngày con về.  Cám ơn một lần đi hoang để biết giá trị đích thực của tình yêu, của đồng tiền, của những cuộc vui phù phiếm vô bổ.  Cám ơn Trời cao đã cho con có đủ can đảm cất bước trở về để lãnh nhận ơn tha thứ.  Xin cho tất cả những người con đi hoang có đủ can đảm và sức mạnh để cất bước trở về trong vòng tay Cha mình.  Xin cho những cuộc trở về còn bắt kịp thời gian.

Đứa con hoang đàng của cha!

Lang Thang Chiều Tím
Mùa Sám Hối 2010

TIẾN THOÁI LƯỠNG NAN

Tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận
Tình đôi ngập ngừng tiến thoái lưỡng nan
Mây bay khắp xứ chân mờ cõi xa
Vàng phai nhè nhẹ chiều hôm cửa nhà

Tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận
Ngày xưa lận đận tiến thoái lưỡng nan ZZ
Mây bay khắp xứ chân mờ cõi xa
Vàng phai nhè nhẹ chiều hôm cửa nhà

Tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận
Ngày xưa lận đận không biết về đâu
Về đâu cuối ngõ về đâu cuối trời
Xa xăm tôi ngồi tôi tìm giấc mơ
Xa xăm tôi ngồi tôi tìm lại tôi

Tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận
Ngày nay lận đận là…. giọt hư không.

Trịnh Công Sơn

*****************************************

“Tiến thoái lưỡng nan là một trong những ca khúc ít được biết đến của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, được sáng tác vào những năm cuối đời.  Chỉ mới thoáng nghe tựa đề với bốn chữ Hán khó hiểu, khó hát, không thơ, không tình, không chất lãng mạn khiến người nghe nửa tin nửa ngờ đó là đứa con tinh thần của nhạc sĩ họ Trịnh.  Nhưng nghe hết bài nhạc, thì vâng, người nghe biết ngay đó là anh, một Trịnh Công Sơn phân vân khó định, cả đời trăn trở trong kiếp người, cả đời u uất tìm cho mình một hướng đi!

Nói chung chung tiến thoái lưỡng nan là một tình trạng khó xử, tiến không được mà lùi cũng không xong, là một khoảng thời gian nhất thời, một trạng thái tâm lý rối bời, hoang mang…  Nhưng sớm muộn gì rồi tình trạng đó cũng qua đi, người trong cuộc cần phải có một quyết định, một hành động, dù chưa chắc là tốt nhất, để giải quyết vấn đề.  Bước chân ra khỏi tình huống “tiến thoái lưỡng nan,” là một tiếng thở phào nhẹ nhõm được trút ra để trở về một đời bình yên không sóng gió.  Nhưng tình trạng “tiến thoái lưỡng nan” trong bài hát ở đây thì bất hạnh hơn.  Đó là cả một kiếp người phải làm bạn với “tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận.”  “Ngày xưa lận đận không biết về đâu,” mà ngày nay vẫn không thôi hết “lận đận là… giọt hư không.”  Rồi ngày mai và ngày sau ra sao?  Người nghe thắc mắc tự hỏi, một ngày mai của tác giả có thôi hết lận đận, hay vẫn xa xăm mù mờ như “mây bay khắp xứ, chân mờ cõi xa,” mà không biết là cõi nào, bay về đâu?  Tại Trời bắt người lận đận trong những chuỗi ngày dài không biết “về đâu cuối ngõ, về đâu cuối trời?”  Hay tại tác giả tự đày đọa mình lận đận trong cảnh “tình đôi ngập ngừng tiến thoái lưỡng nan?”

Đã mang lấy phận người phức tạp “điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm” (Rm 7:15), chắc không ít thì nhiều ai cũng đã từng một lần trong đời trải qua tình huống khó xử “tiến thoái lưỡng nan.”  Có kinh nghiệm đó mới thương cho tác giả phải sống cả đời với nó, lúc nào cũng ray rứt, trăn trở.  Cuộc đời như ảo ngay từ hiện tại, một mái nhà như không thật trong nắng chiều hôm “vàng phai nhè nhẹ.”  Quá khứ thì xa xăm, ngày mai không có, hiện tại “là giọt hư không.”  Đó là thực hay mơ?  Là ảo hay thực?  Là tôi sống hay ai sống?  Cuộc sống chẳng lẽ bế tắc đến thế sao?

Những tưởng rằng chỉ có Trịnh Công Sơn, người mang nặng thuyết Phật giáo “đời là bể khổ, tình là giây oan,” mới trăn trở trong kiếp người không lối thoát đó.  Nhưng sao, dù khác tôn giáo và nhân sinh quan, tôi lại tìm thấy mình trong cái tâm tình khắc khoải mà lâu nay mình chưa nhìn ra.  Đó là cảnh “tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận” của kẻ muốn sống an phận trong đời sống thiêng liêng, nhưng dường như không ổn!

Sinh ra và lớn lên trong gia đình Công giáo, tôi giữ đạo phiên phiến đủ cho lương tâm khỏi áy náy.  Một thánh lễ vội vàng cho ngày Chúa nhật, ba Kinh Yên Chí vào ban đêm, một năm xưng tội một lần.  Thế là quá đủ để gọi là người Công giáo.  Tôi không dám phạm tội trọng, nhưng cũng không ráng làm điều gì tốt hơn, chẳng muốn cho đi nhiều hơn, và cũng chẳng tha thiết để sống tốt hơn.  Làm đủ như thế nhưng sao tôi không ngủ yên được với những lời mời gọi thật nhỏ, thật khẽ, thật sâu từ đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn mình.  Tiếng gọi lúc thầm thì, lúc mãnh liệt khuấy động sự an phận của tâm hồn, làm tôi thổn thức đứng ngồi không yên.  Tiếng mời gọi này đòi hỏi phải có một sự đáp trả mới chịu im tiếng, nhưng tôi lại không đủ can đảm.  Không đủ can đảm để có phút giây lắng đọng “xa xăm tôi ngồi tôi tìm lại tôi.”  Tiếng gọi oái ăm đó cứ tiếp tục réo gọi!  Thế là tôi bịt tai lại để sống!

Giữa cảnh đời bon chen bát nháo, nếu biết gian manh, dối trá, khai gian thuế, lừa đảo… thì cảnh đời tôi có thể khá hơn, gia đình tôi có cuộc sống sung túc hơn.  Nhưng khổ nỗi tôi lại không dám!  Từ chối những cuộc làm ăn bất chính, những mối tình vụng trộm… tôi lại nghe tiếng cười nhạo từ bạn bè và người thân.  Với họ, đó là chuyện thường tình, ai cũng làm, cả xã hội đều làm, sao tôi lại ngập ngừng?  Thiên Chúa nhân từ, chẳng lẽ để cả một đám đông người xuống hoả ngục hết sao?  Tôi lại bối rối không câu trả lời!

Đáp trả lại tiếng gọi thiêng liêng từ trong lòng thì tôi không đủ can đảm, lùi lại để sống buông thả, gian dối như bạn bè rủ rê thì tôi lại không dám.  Tôi chẳng biết mình đã sa chân vào thế “tiến thoái lưỡng nan” từ hồi nào.  Như con thuyền xoay vòng vòng giữa dòng nước, không tiến mà cũng chẳng lùi, tôi thấy phận người sao quá long đong khổ sở!  Nếu sống khôn ngoan lắc léo theo kiểu người đời, thì tôi đã giàu có và hạnh phúc hơn, dù chỉ là hời hợt chóng qua, và như thế tôi được đời này.  Nếu sống thánh thiện, cho đi vì tha nhân tôi sẽ cảm nếm được niềm hạnh phúc thiêng liêng cho dù có sống khổ, sống nghèo, như thế tôi được đời sau.  Còn cái kiếp người “đi về lận đận,” dở dở ương ương, nóng chẳng nóng, lạnh chẳng lạnh, chẳng tốt hơn mà cũng chẳng xấu hơn, tôi không biết đời mình rồi sẽ “về đâu cuối ngõ, về đâu cuối trời?”  Sau ánh nắng “vàng phai nhè nhẹ” của một đời người, tôi cũng không biết chắc là tôi sẽ được gì và mất gì?

Có lẽ bị dày vò hơn Trịnh Công Sơn vì tôi biết cuộc đời không phải “là giọt hư không.”  Cuộc đời có đích để đến, có ngày để trả lẽ, có ngày tôi sẽ phải đối mặt với Tiếng Gọi mà tôi đã bịt tai không nghe!  Bài nhạc “Tiến thoái lưỡng nan” của Trịnh Công Sơn bao trùm một bầu khí buồn bã, ảm đảm.  Nỗi buồn bất tận của cả đời người sống trong kiếp tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận,” chứ không phải là cái buồn nhất thời của kẻ bị tình phụ, hay cái buồn nên thơ của người tình si.  Ca sĩ Thanh Hà đã lột tả hết cái tâm tình não nùng chán chường của bản nhạc, với phần hoà âm của tiếng gõ mõ chầm chậm, đều đều như tiếng tụng kinh nơi cửa Phật, đưa hồn người vào một cảnh bế tắc không lối thoát.

Khi lời nhạc ngấm dần vào tâm, tôi bỗng giật mình tự hỏi chẳng lẽ cuộc đời mình rồi sẽ thê lương như thế sao?  Bế tắc đến vậy ư?  Tôi là người Công Giáo mà, tôi có Chúa Giêsu mà!  Con Một Thiên Chúa đã bỏ trời cao xuống thế làm người để trao ban lại cho tôi sự sống mới, để rao giảng Tin Mừng Nước Chúa cho tôi, nhưng sao tôi vẫn chưa cảm nhận được nỗi mừng vui đó?  Tôi phải làm gì để có được niềm vui như Tin Mừng Chúa nói đến?  Tôi vẫn chưa hiểu được niềm vui trong ánh mắt của người nữ tu xinh xắn, đang chăm sóc những người cùi nơi miền núi hẻo lánh xa xôi.  Chưa thấu đáo được niềm hạnh phúc của các linh mục trẻ đang quên mình phục vụ tha nhân.  Chúa Giêsu ơi, con phải làm gì để thoát cảnh “tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận” này?

Có lẽ “nghe” không thì chưa đủ, vì tôi đã “nghe” Tin Mừng nhuần nhuyễn từ khi mới lọt lòng mẹ rồi.  Nghe hoài nghe mãi mà có thấy hạnh phúc hơn đâu!  Có lẽ cái tôi thiếu là “sống!”  Thiếu lòng can đảm để “sống” tinh thần Tin Mừng mà tôi chưa từng một lần dám thử.  Thiếu những giây phút lắng đọng giữa những tiếng ồn ào của thế gian xô bồ để “xa xăm tôi ngồi tôi tìm lại tôi,” mà người ta gọi là cầu nguyện.  Thiếu mạnh dạn để đáp trả lại Tiếng Gọi đang âm ỉ réo gọi trong tâm hồn.

**************************************

Lạy Chúa Giêsu Con Một Thiên Chúa, đôi khi con thấy được an ủi vì con có một Thiên Chúa để kêu cầu dù Thiên Chúa đó còn rất xa lạ với con!  Con biết Chúa không đến thế gian để mặc con dãy dụa trong cảnh cả đời “tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận.”  Xin chỉ cho con biết con phải làm gì?  Và khi đã biết, đã nghe ra thì xin cho con đủ can đảm để sống theo tiếng Chúa mời gọi.

Lang Thang Chiều Tím
January 2010

Thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ
Tuổi ấu thơ đã mang nhiều âu lo
Ngày nó sống kiếp lang thang
Ngẩn ngơ như chim xa đàn
Nghĩ mình tủi thân muôn vàn
 
Mẹ nó qua đời khi còn tấm nhỏ
Một chén cơm chiều nhưng lòng chưa noZZ
Cuộc sống đói rách bơ vơ
Hỏi ai ai cho nương nhờ
Chuỗi ngày tăm tối bơ vơ
 
Đêm đêm nó ngủ một manh chiếu rách co ro
Một thân côi cút không nhà
Thân em lá cỏ bạn quen ai có đâu xa
Thằng Tư con Tám hôm qua trên phố lê la
 
Miền Bắc điêu tàn nên đời nó khổ
Một chén cơm chiều nên lòng chưa no
Nhiều lúc nó khóc trong mơ
Mẹ ơi ! Con yêu mong chờ
Bao giờ cho đến bao giờ

Lê Minh Bằng

*****************************************

Nhạc phẩm “Nó” của nhạc sĩ Lê Minh Bằng được sáng tác vào thuở đất nước còn chinh chiến điêu linh, cái thưở “miền Bắc điêu tàn” đã một thời đánh động trái tim bao người.  Mấy mươi năm cuộc nội chiến đẫm máu đã qua đi, những “thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ” ngày xưa trong thời chiến ấy, nay đã trưởng thành trong xứ sở hòa bình, cuộc sống chắc không đến nỗi “đói rách bơ vơ,” hay phải “sống kiếp lang thang” nữa.  “Nó” đã đi vào quên lãng theo dòng thời gian.  Chắc đã hết rồi những “Nó” đói khát côi cút bơ vơ của thời chiến tranh loạn lạc phân ly.  Khi nghe lại nhạc phẩm “Nó” trong hoàn cảnh đất nước thời kinh tế thị trường, hội nhập với WTO, với chính sách “vươn ra biển lớn,” tôi muốn hỏi thăm số phận “Nó” ngày nay ra sao?  “Nó” đang sống cuộc đời như thế nào trong hoàn cảnh mới?  “Nó” ngày nay có khá hơn “Nó” ngày xưa không?

… và “Nó” thì thầm kể cho tôi nghe về những khuôn mặt của “Nó” trong xã hội mới.

Nhiều con hẻm, “ngõ nhỏ” ngày xưa bây giờ không còn nhỏ nữa, nhưng “Nó” vẫn còn đó, những mảnh đời bất hạnh vẫn ngày đêm tiếp tục “sống kiếp lang thang” trên những đường phố rộng lớn hơn.  Bộ mặt xã hội ngày nay đã khác xưa nhiều, những tòa nhà cao ốc mọc lên như nấm, nhà hàng, vũ trường nhiều hơn, dòng xe cộ bóng loáng tấp nập hơn xưa… xã hội xuất hiện nhiều người giàu hơn.  Nhưng riêng “Nó” thì vẫn thế, vẫn “cuộc sống đói rách bơ vơ,” với “một manh chiếu rách co ro.”  Tuổi thơ của “Nó” vẫn là những tháng ngày dài “mang nhiều âu lo,” làm bạn với những “chuỗi ngày tăm tối bơ vơ.” “Nó” không còn “âm thầm đi vào ngõ nhỏ” côi cút một mình như xưa, bên cạnh “Nó” là cả một đám bạn bụi đời, ban ngày túa nhau đi ăn xin, nhặt rác, đánh giầy, bán vé số, lượm bao nylon… đêm xuống từng đàn, từng lớp, ùn ùn kéo về tụ bên những lều tranh rách nát, hoặc bên lề đường, góc chợ, xó cầu… để lây lất sống qua ngày đoạn tháng.

Bước chân bé nhỏ của “Nó” ngày nay không chỉ dừng lại ở hình chữ S quê Mẹ, mà còn lưu lạc sang nước láng giềng Campuchia.  Để làm gì thì nào “Nó” có biết, “Nó” chỉ biết rằng “Nó” khờ dại tin người.  Và mở mắt ra “Nó” đã thấy cuộc đời mình đổi thay, người lớn thay phiên nhau chà đạp tấm thân bé nhỏ còm cõi chưa kịp phát triển của “Nó,” “Nó” chẳng hiểu họ đang làm trò đồi bại gì. “Nó” chỉ biết rằng “Nó” đau lắm, cuộc sống sao giống một con thú bị nhốt mà “Nó” không biết làm sao để thoát ra.  Ngày xưa có “nhiều lúc nó khóc trong mơ,” giờ những tiếng “khóc trong mơ” đã bật thành những tiếng thét hãi hùng giữa thanh thiên bạch nhật!  Ngày xưa đời “Nó” khổ, “Nó” có thể kêu cứu bằng tiếng Việt.  Ở xứ người, “Nó” có thể kêu cứu với ai?  Ai nghe được tiếng kêu của “Nó”?

Ngày xưa “Nó” “một thân côi cút không nhà,” “như chim xa đàn” nên đã quen rồi cái cảnh “một chén cơm chiều nên lòng chưa no,” nhưng bây giờ “Nó” có cha mẹ anh em, nhưng cảnh “một chén cơm chiều nên lòng chưa no” là cảnh đời quen thuộc của anh chị em nó.  Quê “Nó” nghèo, hết bão đến lụt, hết hạn hán đến mất mùa, hết chiến tranh đến bị chèn ép.  Thanh niên thiếu nữ ùn ùn bỏ xứ ra đi, đi đâu và làm gì thì “Nó” nào có biết. “Nó” cũng chẳng biết “bao giờ cho đến bao giờ” “Nó” và gia đình mới thoát khỏi cảnh nghèo truyền kiếp này?

“Nó” ngày nay lạ quá!  Lại chấp nhận bán thân đi làm dâu xứ người để giúp gia đình thoát khỏi bịnh nghèo kinh niên.  Nơi đất khách quê người, “Nó” ngỡ ngàng nhìn ra cảnh đời nô lệ cho cả gia đình chồng không cùng dòng giống và ngôn ngữ.  Chồng “Nó” là những bô lão bị sứt mẻ, những bậc cha chú sồn sồn mất tính người, là những chàng trai quá lứa cộc cằn, ít học không đủ khả năng cưới vợ ở nước họ.  Bạn bè đồng cảnh với “Nó” đã có đứa tự tử, đứa bị giết, còn “Nó” thì không biết đến bao giờ?  Bỏ trốn ư?  “Hỏi ai ai cho nương nhờ, chuỗi ngày tăm tối bơ vơ,” “Nó” hát lại điệp khúc năm xưa mà không có câu trả lời.  “Nó” cứ ngỡ làm cuộc đổi đời, đâu ngờ lại tiếp tục một giấc mơ hãi hùng khác nơi xứ lạ.  Ôi, một giấc mơ hão huyền của Con Rồng Cháu Tiên.

“Nó” ngày nay biến hình đổi dạng nhiều quá!  Ôm trong mình căn bịnh oái ăm của thế kỷ, tấm thân “Nó” nằm quắt queo bên ống cống đầu đường chờ ngày người ta xúc đi.  “Nó” biết trách ai bây giờ?  Tại chồng “Nó” trăng hoa, tại chính “Nó” một phút ham vui, tại cha mẹ “Nó” ăn chơi, hay tại “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen?”  Trách ai thì cũng thế thôi, án tử “Nó” đã mang, thôi thì nằm đó chờ đợi thần chết, chờ đợi lòng xót thương của gia đình và xã hội. “Nó” chỉ xin người ta đừng xa lánh khinh bỉ “Nó,” xin cho được chết như một con người.

Thưở đó “Nó” khổ, “thằng Tư, con Tám” khổ, thì ai ai cũng có thể hiểu, và lý giải được tại sao chúng nó khổ.  Bởi vì “miền Bắc điêu tàn nên đời nó khổ,” “mẹ nó ra đi khi còn tấm nhỏ, vì sinh nhầm thế kỷ ở một đất nước loạn lạc mới có những “thân côi cút không nhà.”   Những “Nó” ngày nay khổ mà chẳng hiểu vì sao mình khổ!  Miền Bắc đã hết điêu tàn, đất nước đã thanh bình rồi, thế sao đời “Nó” vẫn khổ?  Ba mẹ “Nó” vẫn còn đó nhưng sao lại bán “Nó” đi để kiếm tiền nuôi đàn em nhóc nheo?  Sao ba mẹ nó lại quá nghèo để “Nó” không thể đặt chân chân tới trường?  Làng quê Việt Nam đẹp đẽ là thế, sao bước chân “Nó” lại lưu lạc qua tận xứ người để làm nô lệ tình dục?  Quê cha đất tổ thân thương là thế, sao “Nó” lại liều mình bán thân đi làm dâu xứ người?  Sao người đồng loại lại quay lưng với “Nó”?  Sao Đấng Tối Cao lại không nghe được tiếng kêu tuyệt vọng của “Nó”?

“Nó” thôi không kể tiếp cho tôi nghe câu chuyện của “Nó” nữa, những câu chuyện “Nó” kể trong bóng đêm thanh tịnh khi tôi ngồi đối diện với Đấng Tối Cao khiến tôi giật mình tỉnh giấc.  Thì ra “Nó” vẫn còn đó cho dù đất nước có hết chinh chiến.  Nhưng sao “Nó” lại nhiều và đa dạng đến thế?  Tại sao “Nó” lại kể cho tôi nghe những câu chuyện phiêu bạt đời “Nó” khiến tôi phải bối rối?

Tôi có thể làm được gì cho “Nó” đây?  Những mảnh đời bất hạnh ngày càng nhiều hơn trên quê hương tôi, và bàn tay tôi thì bé nhỏ, sức tôi hạn hẹp.  Trong đêm khuya, Lời của Chúa Giêsu vang lên trong ký ức: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25:40).  “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn, Ta khát các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han”  (Mt 25:35-36).  Chúa Giêsu đã không nói rõ cho ăn cái gì: cao lương mỹ vị, hay một chén cơm thừa.  Ngài cũng chẳng nói rõ cho uống loại nào mới được tính điểm: sâm hảo hạng, hay một ly nước lạnh.  Một chén nước lã cũng là thức uống, một bộ quần áo cũ mèm để quên trong tủ lâu ngày cũng là cho mặc, một lời thăm hỏi không tốn tiền mua cũng là hỏi han, vài phút dừng chân nơi nhà người bịnh cũng là thăm viếng…  Giữa những câu chuyện buồn của “Nó,” phải chăng đây là Tin Mừng cho tôi, và những kẻ đi theo Ngài, vì những cái Chúa Giêsu đòi hỏi không nằm ngoài vòng tay có thể cho đi của tôi?

Người nghèo thời nào cũng có, “Nó” thời nào cũng còn đó cho dù xã hội có đổi thay, chiến tranh hay hòa bình, nhưng làm sao để nhìn ra “Nó” muôn màu muôn sắc trong xã hội hiện đại hôm nay?  Làm sao để nhìn ra hình ảnh Thiên Chúa nơi “Nó?”  Quả thực, nếu không có cái nhìn của Giêsu chắc chắn tôi sẽ không thể nhìn ra “Nó” vẫn đang âm thầm đi bên cạnh tôi mỗi ngày.  Nếu không có trái tim của Giêsu, chắc hẳn trái tim tôi không thể rung động nổi với “thằng Tư, con Tám trên phố lê la” đang bán vé số, hay đang thất thểu ăn xin bên lề đường, mà tôi nghĩ đó có thể là cảnh gạt gẫm của bọn lưu manh.  Nếu không kết hợp với Con Một Thiên Chúa thì một chén cơm thừa, một ly nước lã, một cánh tay mở rộng của tôi chẳng làm nên tích sự gì trong xã hội hiện kim này.

Thiên Chúa quyền năng có thể làm “Nó” biến mất khỏi cuộc đời mà không cần đến sự trăn trở của tôi, nhưng Chúa vẫn để “Nó” tồn tại, phải chăng để tôi có cơ hội sống yêu thương như Ngài đã sống?  Hay vì “Nó” là biểu tượng của Nước Thiên Chúa?  Ba năm cuộc đời rao giảng, Giêsu chẳng có gì để cho “Nó,” Ngài chỉ cho “Nó” một vòng tay ôm và lời chúc phúc.  Vâng, Chúa Giêsu đã yêu thương ôm “Nó,” từng đứa trẻ vào lòng, và “đặt tay chúc lành cho chúng” (Mc 10:16).  Chỉ thế thôi!

****************************************

Chúa ơi, con biết con không thể yêu được nếu không có ơn Chúa, xin ban cho con một trái tim mới và thần khí mới để con có thể yêu thương hết những đứa trẻ với “tuổi ấu thơ đã mang nhiều âu lo.”  Xin cho con là cánh tay nối dài của Chúa để có thể ôm hết những “Nó,” những “thằng Tư, con Tám trên phố lê la,” và những đứa trẻ đang “khóc trong mơ” vào lòng mình.  Xin cho con cái nhìn của Chúa để có thể nhìn ra hết những thằng bé/con bé thời đại bất hạnh đang “âm thầm đi vào ngõ nhỏ,” ở những ngóc nghách khác nhau trong cuộc đời này.  Amen!

Lang Thang Chiều Tím
October 2009

BAO GIỜ BIẾT TƯƠNG TƯ

Ngày nào cho tôi biết,
Biết yêu em rồi tôi biết tương tư
Ngày nào biết mong chờ,
Biết rộn rã buồn vui đợi em dưới mưa…

ôi biết đem tin này,
Vắng như lòng giấy, tình yêu lấp đầy
Rồi biết quên câu cười,
Biết cho đôi dòng lệ rơi.ZZ

Tình yêu đã trở lại,
Đôi mắt đêm ngày vơi hết đọa đầy
Tà áo em phơi bầy,
Ngón tay em dài, tiếng yêu không lời.

Ngày nào lòng tôi đã
Biết vui biết buồn, ôm mối tương tư
Ngày nào cánh Thiên Đường
Đã mở hé tình yêu là trái táo thơm.

Tôi ghé răng cắn vào
Miệng môi ngọt đắng, tình yêu cuối đường
Là trối trăn cuối cùng,
Giấc mơ não nùng vội tan…

Phạm Duy – Ngọc Chánh

*************************************

Chìm mình trong tiếng hát du dương của Khánh Hà trong bài “Bao Giờ Biết Tương Tư” của nhạc sĩ Phạm Duy, thơ Ngọc Chánh, tôi liên tưởng đến hình ảnh một chàng trai mới lớn mặt điểm những cọng râu lún phún xen lẫn những hạt mụn trứng cá đó đây, đang ngày đêm sốt ruột đi ra rồi lại đi vào, lòng cứ ngong ngóng chờ đợi một bóng hồng xuất hiện trong cuộc đời.  Cậu bé tuổi mới lớn này hẳn chưa biết yêu là gì, nhưng có lẽ cậu đã được nghe nói nhiều về tình yêu, đề tài muôn thưở của con người, nên lòng mới háo hức rộn ràng đến thế.  Cũng có lẽ chờ đợi khá lâu nên cậu mới bồn chồn sốt ruột thốt lên “bao giờ biết tương tư?”  Là ngày nào, tháng nào?  Ai có thể cho tôi biết “ngày nào…, biết yêu em rồi tôi biết tương tư, ngày nào biết mong chờ.”  Hôm nay hay ngày mai?  Lòng háo hức trước ngưỡng cửa tình yêu của cậu bé dù chưa biết bóng hình đó là ai bỗng làm tim tôi xao xuyến ngẫm đến thái độ của mình trước tình yêu của một người – người đã dám chết vì tôi – Thiên Chúa Tình Yêu.

Là môn đệ của Ngài, được dạy dỗ về bổn phận phải yêu mến Ngài trên hết mọi sự nhưng chưa bao giờ tôi yêu mến Chúa như Chúa đáng được yêu.  Ừ nhỉ, sao tôi không có được cái tâm tình háo hức rộn ràng như cậu bé mới lớn kia?  Tình yêu không thể cưỡng bức, không thể ép lòng mình phải yêu ai cho dù đó là bổn phận.  Chưa yêu mến Ngài cho đủ, đó không phải là cái lỗi, nhưng cái thiếu sót của tôi so với cậu bé mới lớn trong “Bao Giờ Biết Tương Tư” là chưa bao giờ tôi xin để được tương tư Ngài, xin để được “biết mong chờ,” để được “rộn rã buồn vui,” để được cùng đau khổ và hạnh phúc với Đấng đã chết cho tôi được sống để yêu.  Với Thiên Chúa, tôi xin xỏ nhiều thứ nhưng chưa một lần xin được yêu chính Chúa.  Phải chăng đó là một sự hời hợt vô tình hay sự cố ý chấp nhận tình trạng vô cảm với tình yêu Thiên Chúa?  Cậu bé biết yêu là đau khổ, yêu sẽ làm cậu “biết quên câu cười, biết cho đôi dòng lệ rơi…”  Biết thế, nhưng cậu vẫn chấp nhận, chờ đợi và cuối cùng là mạnh dạn “ghé răng cắn vào…”  Còn tôi, biết yêu Chúa sẽ thêm nhiều thử thách gian nan trên đường đời vốn đã đầy chông gai, hẹn hò với Ngài sẽ phải đi trên con đường hẹp, và còn nhiều những khó khăn khác nữa mà Ngài đã “dại dột” báo trước.  Thế nên… tôi đành câm nín!  Tôi chấp nhận chọn “lỗ hơn khổ” trong khi cậu bé lại mạnh dạn chọn “thà khổ hơn lỗ.”  Lòng tôi chùng xuống, thấy mắc cở với mình và ngại ngùng với Chúa khi lời nhạc thấm vào da thịt gói ghém tâm tình da diết mong muốn được tương tư của chú bé con.

Rồi một ngày có lẽ cậu bé đã biết yêu là gì, cái ngày mà lòng cậu đã “biết vui, biết buồn, ôm mối tương tư” là ngày cậu thấy “cánh Thiên Đường đã mở hé” để chợt nhận ra rằng “tình yêu là trái táo thơm.”  Tình yêu là Thiên Đường!  Một Thiên Đường tạm bợ ở dương thế cũng đủ làm cậu bé ngất ngây.  Vậy sao một Thiên Đường vĩnh cửu lại không đủ sức quyến rũ tôi?  “Trái táo thơm” đã cho cậu bé “miệng môi ngọt đắng,” tình yêu không chỉ có vị đắng mà còn có chất ngọt, không chỉ có đau khổ mà còn có hương thơm hạnh phúc.  Vậy sao tôi cứ sợ hãi tình yêu của Thiên Chúa để không chấp nhận Ngài trong cuộc đời?  Sao tôi không xin để được tương tư Ngài?  Tình yêu đã làm cậu “đôi mắt đêm ngày vơi hết đọa đầy,” cho dù cặp mắt đó từ nay sẽ “có đôi dòng lệ rơi…”  Tình yêu đã chắp cánh cho cậu bé bay cao chỉ để lại lời trối trăn cuối cùng, giấc mơ não nùng vội tan…”

Trong lời trối trăn cuối cùng” đó không thấy nói cậu bé hối hận vì đã biết yêu và tương tư!  Vậy sao tôi cứ còn chần chừ?

Bao giờ Chúa ơi, đến bao giờ con mới biết tương tư Chúa?  Xin cho con một lần “miệng môi ngọt đắng” tình yêu với Ngài để thêm mạnh dạn “ghé răng cắn vào” “trái táo thơm” của Chúa.  Trái táo xưa đã đẩy con người ra khỏi Vườn Địa Đàng thì trái táo ngày nay giúp con tìm lại hương vị Thiên Đường ngày xưa ấy.  Xin cho mắt con một lần được nhìn thấy “cánh Thiên Đường đã mở hé” nơi cuối chân trời để giúp con can đảm xin cho được biết tương tư Chúa cho dù đôi môi sẽ “biết quên câu cười,” cặp mắt sẽ “biết cho đôi dòng lệ rơi.”  Amen!

Lang Thang Chiều Tím
October 2009

KHÔNG

Không! Không! Tôi không còn yêu em nữa.
Không! Không! Tôi không còn yêu em nữa.
Không! Không! Tôi không còn yêu em nữa em ơi.
Tình đời thay trắng đổi đen. Tình đời còn lắm bon chen.
Tình đời còn lắm đam mê. Nên tình còn lắm ê chề.
Tình mình có nghĩa gì đâu. Tình mình đã lắm thương đau.
Tình mình gian dối cho nhau. Thôi đành hẹn lại kiếp sau.
Không! Không! Tôi không còn, tôi không còn yêu em nữa.
Không! Không! Tôi không còn, tôi không còn yêu em nữa.
Không! Không! Tôi không còn, tôi không còn yêu em nữa em ơi…

Nguyễn Ánh 9

***************

Có lẽ không người Việt nào sống ở Sài gòn vào những năm 1969-1970 mà không biết đến nhạc phẩm “Không” của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9.  Bản nhạc ra đời như một câu trả lời cho thắc mắc của Khánh Ly: “Ông có còn thương người ấy?”  Người ấy là mối tình đầu khi nhạc sĩ mới 18 tuổi.  Hai người tình thơ trẻ bị cuốn vào niềm đam mê choáng váng và mãnh liệt.  Nhưng dường như là số phận, những mối tình quá đẹp, thường khó vẹn toàn.  Gia đình cô gái không đồng ý cho con mình yêu anh nhạc sĩ nghèo, sống lang bạt kỳ hồ.  Ngăn không được lòng đôi trẻ, cha mẹ cô dùng kế ly gián, gây nghi ngờ hờn giận cho hai người, rồi đưa cô gái sang Pháp sống, hòng ngăn cản mối tình “rồ dại” với chàng nhạc sĩ.

Năm 1965, người nhạc sĩ lập gia đình và tin tưởng những giông bão của mối tình đầu sẽ ngủ yên.  Nhưng thực tế, trái tim ông đã không còn cảm giác sau mối tình đầu, bởi tình yêu đã vĩnh viễn câm lặng.  Năm 1974, ông gặp lại người tình xưa khi cô về Sài Gòn, cô vẫn một mình, vẫn yêu ông và chẳng oán trách gì.  Đã lỡ làng, có xót xa thì cũng đành sống cho hết bi kịch một kiếp người.  Họ lại xa nhau, lần này là mãi mãi, để vùi chôn những dấu yêu xưa cũ vào đáy lòng mình, nhức buốt, cho tới hơi thở cuối cùng.

Ca khúc “Không” được Khánh Ly thu lần đầu trên đĩa nhựa Tình ca quê hương, và cũng chính nhạc phẩm “Không” đã đưa Elvis Phương “lên sao” ở thập kỷ 70, sau đó nổi tiếng đến mức công chúng gọi Nguyễn Ánh 9 là ông “Không.”

***************

Ở hải ngoại, tôi thường được nghe bài “Không” đã được hòa âm (remix) lại sau này với điệu nhạc Disco giật gân, nhanh vui, và dồn dập.  Trong đĩa video ca nhạc Asia, ca sĩ Mai Lệ Huyền đã lột tả tận chân chữ “không” của bài nhạc với khuôn mặt lạnh lùng, một cái ngoắt đầu quả quyết, cái khoát tay mạnh mẽ, đôi môi mím chặt, thêm với ánh mắt hờn căm của kẻ bị tình phụ.  Tất cả được phụ họa thêm bằng những pha ánh sáng trắng đen chớp tắt liên hồi, tiếng trống chát chúa từng nhịp một.  “Không,” dứt khoát là không!  Không còn yêu thương, luyến tiếc!  Cũng chẳng tiếc thương chi mối tình đã lắm thương đau.  Dù chẳng biết ai gian dối với ai?  Dù chẳng hiểu mối tình đang đẹp sao trở thành “có nghĩa gì đâu?”  Ai là kẻ bon chen và gây ra lắm ê chề?  Chẳng hiểu vì sao, người nghe chỉ cảm nhận được một âm điệu “không” dứt khoát và rõ ràng.  Một tiếng “không” chát chúa chói tai!  Một tiếng  “không” lạnh lùng bẽ bàng!  Không là không!  Trăm lần không, ngàn lần không!  Đừng hy vọng đợi chờ!  Đừng năn nỉ luyến lưu….  Nếu có chăng, chỉ là kiếp sau!  Nghe tiếng  “không” mạnh mẽ quyết liệt này, thì dù chưa muốn chia tay, dù còn vấn vương, người yêu cũng đành phải ngậm ngùi ra đi…

Trong một dịp tình cờ tôi được đọc một bài phỏng vấn của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 về tác phẩm “Không” bất hủ này.  Thật ngạc nhiên khi khám phá ra cả một tâm tư thầm kín của tác giả gởi gắm trong hồn thơ nốt nhạc.  Đó không phải là một chữ  “không” dứt khoát quyết liệt, bẽ bàng như người ta thường được nghe và hiểu sau này.  Bản nhạc nguyên thủy được soạn với điệu Slow Rock lả lướt, tình tứ du dương, tiếng nhạc réo rắt nhẹ nhàng, diễn tả một chữ  “không” đầy ẩn ý mời gọi.  Hiểu chữ  “không” này như thế nào, điều đó tùy thuộc vào độ rung cảm của tâm hồn và nhịp đập của con tim. Tim tôi và tim em, hai kẻ trong cuộc đã từng một thời yêu thương!  Với tác giả, đó là một chữ  “không” giận lẫy, đầy trách móc nhưng không dứt khoát.  Một chữ  “không” để hở!  Nói  “không” nhưng không phải là  “không!”  “Không” đó nhưng đầy hàm ý chờ đợi, đẩy em đi nhưng lại muốn kéo em về.  Mấy nốt cuối cùng của điệp khúc “tôi không còn yêu em nữa, em ơi…..” được kéo dài ra, luyến láy nói lên cái tâm tình xao xuyến chờ đợi, như dằng co, như muốn kéo áo người đừng đi.  Nếu tình đã gian dối, lắm thương đau, nhiều ê chề thì hẹn chi đến kiếp sau?  Mâu thuẫn!  Gian dối một kiếp, một đời chưa đủ hay sao?  Lúc giận nói thế, nhưng không phải thế!  Bởi còn yêu mới giận.  Nói “không” để lòng bớt đau, nói giận để lòng bớt thương, nói hận để lòng bớt nhớ!  Phủ định để tự khẳng định!  Người yêu có hiểu lòng kẻ nói “không?”  Người đi có hiểu lòng kẻ ở?  Nghĩa chữ “không” vời vợi đầy đau khổ, tuyệt vọng nhưng vẫn chờ đợi, oán trách nhưng vẫn yêu đậm sâu.  Ai kia nếu có hiểu mới gọi là yêu!

Chữ “không” huyền bí của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 trong ca khúc “Không” đã được thế hệ sau hòa âm lại, hiểu theo nghĩa trắng đen của thời đại, nhưng lại lệch lạc với tâm tình của tác giả gởi gắm trong đó.  Cả một con tim sôi sục yêu thương được diễn tả bằng giọng hờn giận nhẹ nhàng của điệu nhạc Slow Rock tình tứ, trách đó nhưng yêu đó, giận đấy nhưng vẫn đợi đây, đã được chuyển sang nhịp giật gân, dồn dập, như hối thúc người ta đi cho lẹ, như muốn thanh toán mối tình cho xong để còn tính chuyện khác.  Cả một trời ẩn ý được che dấu dưới chữ “không” ai oán não nùng, nào có ai thấu hiểu nỗi lòng của kẻ nói chữ “không” nếu không được nghe chính tác giả tâm sự?

***************

Chữ “không” huyền bí nhiều ý làm tôi liên tưởng đến chữ “không” của Thiên Chúa.  Thưở ban sơ, Ngài đã nói “không,” con người sẽ phải chết và đuổi ra khỏi vườn địa đàng sau khi loài người phạm tội bất tuân.  Nhưng sau đó, Con Một của Thiên Chúa lại chết để con người được sống.  Quả là một chữ “không” mâu thuẫn!  Một cái chết ô nhục khổ đau trên thập tự đồi Golgotha năm xưa của Chiên Thiên Chúa đã nói lên bao điều.  Không những thế, Người Con Một đó đã đến thế gian truyền rao một thông điệp về tình yêu thâm sâu vô biên của Thiên Chúa Cha.  Rằng Thiên Chúa đã yêu thương loài người đến nỗi đã ban Người Con Duy Nhất cho thế gian.  Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người đã dám thí mạng sống mình vì bằng hữu.  Ôi, một chữ “yêu” nhiệm mầu!  Một Thiên Chúa quyền năng sáng tạo muôn loài muôn vật từ hư không, nhưng lại bó tay “không” thể cứu chuộc con người, nếu “không” có sự hợp tác của con người.  Một chữ “không” khó hiểu!

Thật không dễ dàng để đối diện với chữ “không” phũ phàng của Đấng mà mình đã đặt trọn tin yêu!  Đã bao lần, Thiên Chúa nói “không” với tôi trong cuộc sống này, mỗi khi tôi xin nhưng không được, tìm nhưng không thấy, gõ cửa nhưng không được mở.  Tôi phải hiểu nghĩa chữ “không” này như thế nào đây?  Xin thành công chỉ gặp toàn thất bại, xin Chúa chữa lành bịnh tật thì thấy bịnh nặng thêm, xin hạnh phúc lại gặp toàn khổ đau.  Xin cho đường đời êm ả bên những đứa con ngoan hiền thì gia đình tan tác, con cái vô đạo nghĩa.  Tại sao và tại sao?  Ngay cả khi tôi xin những điều tốt lành cho phần hồn mình, và của những người thân thương, Thiên Chúa vẫn nói: “Không, chưa phải lúc!”

Thật không dễ dàng để thông hiểu chữ “không” đầy cay đắng của Thượng Đế quyền uy. Tôi cần phải nhìn lên thập giá Giêsu, ngước mặt lên trời cao để nhìn thẳng vào ánh mắt của Đấng đã nói “không,” để hiểu tâm tình của Ngài đằng sau chữ “không” đáng ghét kia.  Thiên Chúa cũng đã từng nói “không” với Người Con duy nhất của Ngài trong vườn Cây Dầu.  Ngài đã “không” cất chén đắng cho Giêsu nhưng Ngài ban thêm sức mạnh và nguồn an ủi thiêng liêng cho Giêsu.

Trong phút giây đối đầu với sự chết, Giêsu cũng đã từng có tâm tình bị bỏ rơi bởi Người Cha yêu dấu, nhưng Ngài đã không bỏ cuộc, và sau cùng Ngài đã chiến thắng.  Trong men cay chua chát của thất bại, lạ thay tôi nhận ra đức khiêm nhường trổ sinh hoa trái.  Trong thể xác ốm yếu bịnh hoạn, tôi thấy linh hồn mình tỉnh thức sống gần Chúa hơn.  Dãy dụa trong bể khổ, tôi thấy mình chán ghét thế gian hào nhoáng, lòng hướng về một hạnh phúc viên miễn hơn.  Đi trên đường đời gập ghềnh sóng gió, người mang đầy thương tích, tôi thấy mình bám chặt vào Chúa hơn, và ngỡ ngàng nhận ra đức tin, cậy, mến của mình sáng rực như bó đuốc trong đêm đen.  Phải chăng qua chén đắng của chữ “không,” Thiên Chúa đang dạy dỗ tôi nhiều điều.  Ngài giúp tôi lớn hơn trong đời sống thiêng liêng và mở mắt tâm hồn tôi để nhìn thấy được những điều cao cả thuộc về thượng giới hơn?

Có lẽ khi chữ “yêu” kết hợp với chữ “không” sẽ giúp người trong cuộc hiểu rõ nghĩa từ thâm sâu huyền nhiệm của chữ “không” hơn.  Tùy theo mức độ “yêu” để hiểu nghĩa chữ “không.”  “Không” đi một mình thì thuần túy chỉ là “không” đúng nghĩa trắng đen, chẳng cần phải “yêu” cũng có thể hiểu.  Nhưng “không” đi với hơi thở của con tim, với ánh mắt tha thiết yêu thương, với độ rung cảm của linh hồn, chữ “không” chắc hẳn không còn là “không” nữa.  Người trong cuộc sẽ hiểu tại sao Thiên Chúa lại nói “không” với mình, khi Thiên Chúa đã dám cho đi cái qúy nhất của Ngài.  Chắc hẳn phải có lý do ẩn khuất đằng sau chữ “không” đắng chát kia.  Nghĩa chữ “không” vời vợi khó hiểu!  Có lẽ cần phải “yêu” nhiều hơn nữa mới có thể hiểu được chữ “không” của Thiên Chúa Tình Yêu.

Phêrô và Giuđa, cả hai cùng theo Thầy ròng rã ba năm trời, trực tiếp nghe những lời giáo huấn từ miệng Thầy, hiểu rõ tấm lòng yêu thương vị tha của trái tim Thầy.  Đến giây phút thử thách, cả hai cùng phản bội tình yêu của người Thầy yêu dấu.  Một người bán Thày cho các tư tế, còn một thì leo lẻo chối Thày giữa đám đông.  Với tình yêu, sự phản bội nào cũng xấu xa như nhau.  Cuối con đường, cả hai đã hoà âm lại chữ “không” theo hai nghĩa khác nhau.  Giuđa hiểu rằng Thầy đã nói “không” với mình.  Thế là hết, là xong mối tình thầy trò ba năm!  Không còn con đường nào khác cho kẻ phản bội, và ông đã đi đến ngõ cụt của chữ “không” lối thoát đó bằng cái chết thắt cổ của mình.  Phêrô thì can đảm hơn để nhìn lên ánh mắt của Thầy, và đọc được một sứ điệp trái ngược.  “Không, cho dù con xấu xa phản bội, Thầy vẫn yêu thương con.  Không, đừng bỏ đi, con ơi!  Cho dù con vấp ngã chối Thầy, nhưng Tình Yêu chấp nhận cái tốt lẫn cái xấu.  Không, con phải đứng lên bằng chính đôi chân của mình!  Cho dù con phản bội nhưng Thầy vẫn thứ tha và chờ đợi… Không, con không được bỏ cuộc! Thầy và anh em vẫn cần con và mong con quay về….”  Thế là Phêrô cất bước trở lại với anh em, với sứ mạng Thầy đã giao phó, và cuối cùng đã chết vì người Thầy mình đã một thời chối bỏ.  Phải chăng vì Phêrô yêu Thầy hơn Giuđa yêu Thầy, nên ông hiểu nghĩa chữ “không” đúng với tâm tình của Thầy hơn?

Hai cách hiểu chữ “không” khác nhau dẫn đến hai kết cục khác nhau.  Dù hai cách hiểu hay nghìn cách hiểu, ý tưởng của tác giả cũng chỉ có một.  Thiên Chúa là Đấng trung thành với lời hứa, với những gì Ngài đã nói.  Ngài hằng mong muốn nhân loại nhìn lên cái chết ô nhục đau thương của Người Con Một trên thập giá, để hiểu cho đúng ý nghĩa yêu thương của trời cao, để mỗi khi gặp phải chữ “không” lạnh lùng trong cuộc sống thì đừng vội tuyệt vọng chán nản, đừng vội bỏ cuộc, và đừng bao giờ diễn dịch chữ “không” cao siêu nhiệm mầu của Thiên Chúa theo ý phàm tục riêng mình.  Tác giả Nguyễn Ánh 9 trong bài phỏng vấn đã kêu gọi ca sĩ khi trình bày nhạc phẩm “Không,” hãy tôn trọng tâm tình của người viết nhạc và linh hồn bài hát.  Ca sĩ là người dùng nghệ thuật âm nhạc, giọng hát, cách diễn đạt để lột tả cho trọn vẹn ý tưởng của tác giả gởi gắm trong ca khúc đó, chứ không phải phiên dịch lại theo ý mình.  Cùng là một thân phận nghệ sĩ, chắc hẳn Thiên Chúa cũng có một tâm tình như nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9.  Mong sao thế nhân hiểu cho đúng, diễn tả cho trọn cái tâm tình của Thiên Chúa gởi gắm trong những tác phẩm nghệ thuật của Ngài, mà đỉnh cao của những tác phẩm nghệ thuật đó chính là cây thánh giá cheo leo trên đồi Golgotha năm xưa, và Lời Yêu Thương được gói ghém trong cuốn Thánh Kinh.

ZZQua tình khúc “Không” của điệu Slow Rock, người nghe cảm nhận được nỗi đau, vị chát, men cay, và sự thất bại ê chề của người nói chữ “không,” hơn là kẻ được nghe chữ “không.”  Mâu thuẫn thay, tôi lại cảm nhận được nỗi tuyệt vọng cay đắng của người nghe chữ “không,” nhưng chưa bao giờ tôi thử tìm hiểu xem cõi lòng của Thiên Chúa ra sao, khi Ngài phải nói chữ “không” với tôi!  Đến bao giờ tôi mới hiểu được tâm sự của người nói chữ “không?”  Chẳng biết tôi có thể hiểu được hay không, khi tôi cứ mãi gục xuống trong cơn đau của mình?

***************

Lạy Thiên Chúa là Đấng thấu hiểu mọi sự, con viết bài này cho vơi bớt cơn đau, cho quên nỗi ưu phiền vì Chúa cũng đang nói “không” với con trong lúc này đây.  Linh hồn con đang bên bờ tuyệt vọng vì không hiểu sao Chúa cứ mãi nói “không!”  Con không muốn xin gì thêm nữa vì đã quá mỏi mệt, vì dư âm đắng nghét của chữ “không” vẫn còn đọng nơi đầu môi.  Con chỉ xin một điều duy nhất là cho con biết luôn cậy trông và phó thác vào tình yêu thẳm sâu nhiệm mầu của Chúa.  Gọi là nhiệm mầu vì đôi lúc con không hiểu được tình yêu đó.  Phần còn lại, Chúa muốn cho gì thì cho, vì Chúa đã trao ban Người Con duy nhất của Ngài cho con rồi thì chắc Chúa chẳng tiếc gì những thứ khác nữa. Amen!

Lang Thang Chiều Tím
October 2008

NỖI NIỀM DA-KÊU

 (Lc 19:1-10)

Da-kêu vội vã rảo bước trên con đường dắt ra trung tâm thành phố, ánh mắt sắc bén đánh một vòng xung quanh như đang tìm kiếm cái gì đó để định hướng cho bước chân.  Đôi tai ông vểnh lên nghe ngóng, cánh mũi to phập phồng lên xuống theo nhịp thở, như đang cố gắng tận dụng hết chức năng của mình để ngửi ra mùi vị mới lạ của thành phố Giê-ri-khô.  “A, đây rồi,” mắt ông nheo lên mừng rỡ. Một đám bụi mịt mờ xa xa cuối con đường lớn, cùng với tiếng người ồn ào xôn xao, khiến bước chân ông bẻ ngoắt tiến nhanh về hướng đó.

Giê-ri-khô, một thành phố nhộn nhịp trù phú nằm trong vùng thung lũng sông Gio-đan, mấy hôm nay đang sôi lên với bước chân viếng thăm của một vị ngôn sứ cùng với nhóm môn đệ Ngài.  Trước khi đặt chân vào thành phố giàu có này, vị ngôn sứ mang tên Giêsu đã chữa lành một người mù ngoài cổng thành, làm bao nhiêu phép lạ khác, và giảng dạy những điều mới mẻ về Tình Yêu, Nước Thiên Chúa, và những điều răn mới….  Phố xá hôm nay vắng tanh, hàng quán đóng cửa, người ta bỏ cả công việc đồng áng ùn ùn kéo nhau đi nghe Giêsu giảng dạy.

Hôm nay Da-kêu quyết phải gặp mặt cho được vị ngôn sứ này để xem thực hư ra sao, có đúng như lời thiên hạ đồn đãi hay không.  Những gì mà ông được nghe đồn thổi về Giêsu đã kích thích óc tò mò của ông.  Thật ra, cái mà thôi thúc ông phải thấy tận mắt con người bằng xương bằng thịt Giêsu, chính là câu chuyện truyền miệng gây xôn xao trong giới thu thuế mà ông là người thủ lãnh.  Đấng tự xưng là Con Người đến rao giảng như một Đấng Thiên Sai đầy quyền uy, lại thu nhận một đệ tử là tay thu thuế Lê-vi lợi hại.  Chưa hết, ông Giêsu ấy lại còn ngồi cùng bàn ăn uống với nhóm bạn bè ông, đám thu thuế sừng sỏ, và các cô gái làng chơi, những người mà dưới mắt dân chúng là tay sai ngoại bang, gian ác, và đầy tội lỗi.  Dĩ nhiên là trong buổi tiệc đó ông Giêsu bị nhóm Pha-ri-sêu và kinh sư chống đối kịch liệt, nhưng ông ta vẫn tiếp tục ngồi ăn, còn mắng vào mặt những con người đạo đức giả hình đó nữa.  Hay lắm!  Khá lắm!  Câu chuyện này làm Da-kêu thích thú, và ông rất ngưỡng mộ trước hành động “ngang tàng” của vị ngôn sứ có một không hai này.  Chỉ tiếc là ông không có mặt trong buổi tiệc hôm đó!

***********************************

Đôi chân ngắn ngủn của ông chẳng mấy chốc bắt kịp đám đông.  Ông kinh ngạc mở to đôi mắt nhìn dòng thác người chen chúc xô đẩy.  Đúng là một đám đông khổng lồ di chuyển!  Ông không ngờ thiên hạ lại đi nghe ông Giêsu giảng đông đến thế.  Da-kêu không thấy gì hết, chỉ có người, hơi người, và bụi mịt mờ trong nắng chiều gay gắt.  Những cái lưng ướt đẫm mồ hôi quay lưng ngược về phía ông đang chầm chậm đi giựt lùi lại phía sau, vừa đi vừa gật gù cái đầu ra chiều đắc ý với những lời giảng dạy.

Ông len lỏi chạy vòng ra phía sau đám đông.  Cũng không thấy gì nốt!  Vẫn chỉ là những cái lưng di động tiến về phía trước, còn Giêsu thì lọt thỏm trong đám đông to lớn ấy.  Ngài vừa đi vừa giảng lớn tiếng, giọng nói hùng hồn truyền cảm làm ông càng thêm phấn chấn.  Da-kêu rướn người bám vào vai áo người đứng trước, ráng kiễng chân, ngướng cổ nhìn vào phía trung tâm vòng tròn.  Chẳng khá hơn tí nào!  Chỉ thấy toàn là bả vai, và đầu thiên hạ mà thôi.  Sực nhớ ra số vốn ít ỏi về thước tấc ngoại hình của mình, Da-kêu hạ chân xuống, và bực cái thân hình ngũ đoản đã không giúp ích gì được trong lúc này.  Ông hậm hực nhủ thầm: “Không thể dùng cách này được.”

Vài người trong đám đông nghe tiếng động phía sau bèn quay lại, họ bĩu môi dè bỉu khi nhận ra ông, một thủ lãnh của các tay thu thuế thường ngày rút rỉa tiền của họ bằng nhiều cách để nộp thuế cho Rô-ma, giờ đang đứng xớ rớ để nghe giảng về luân lý đạo đức.  Đâu đó vài tiếng xầm xì: “Đồ chó săn Rô-ma!”  Vài người khác thì nhẹ nhàng mỉa mai: “Đây không phải là chỗ của ông, xin mời ông đi chỗ khác dùm cho, chỗ của ông ở bên bọn lính Rô-ma, cạnh thùng tiền, và các cô gái điếm kia!”  Da-kêu nghẹn họng nuốt nước miếng, thấy ran rát ở cuống họng.  Ông buông xuôi hai tay, luống cuống ngại ngùng ngó lơ đi chỗ khác, tránh những cặp mắt soi mói khinh khi.  Vài người bạn thu thuế đang đứng lảng vảng gần đám đông, chạy lại kéo tay ông đi nơi khác.  Da-kêu hất tay họ ra.  Không, ông không chịu thua một cách dễ dàng như thế được!  Cái ông muốn là ông phải làm cho bằng được!  Ông bực tức nhìn đám đông cản đường đang vây lấy Giêsu và tự hỏi: “chẳng lẽ một con người đa mưu túc kế như mình mà lại chịu thua một cách dễ dàng như vậy sao?”

Da-kêu bỏ đám đông, và trước những cặp mắt ngơ ngác của bạn bè, ông chạy lên phía trước một lần nữa rồi đứng lại quan sát tình hình, và nhận định hướng di chuyển của đám đông.  Đầu óc nhiều mánh lới liên tục làm việc: “Muốn xem thấy mặt Giêsu phải cao hơn đám đông này,” ông nhủ thầm.  Thế là Da-kêu chạy ào ào về phía trước thật xa, dưới gốc một cây sung to rậm rạp, cành lá xum xuê mà ông đoán thế nào đám đông cũng phải đi ngang qua đây.  Ngồi trên cây sung này thì chắc chắn thế nào cũng thấy được mặt người mà ông ngưỡng mộ.

***********************************

Thế nhưng… vừa đặt chân lên thân cây chuẩn bị leo lên thì ông lại ngập ngừng bỏ xuống.  Da-kêu nhìn lại mình: bộ quần áo mắc tiền được đặt may ở bên Rô-ma, đai thắt lưng nạm vàng, đôi săng đan sang trọng chỉ giới nhà giàu mới dám tung tiền ra mua, tuổi tác, và ngôi vị nguời giàu có nhất nhì thành phố Giê-ri-khô thịnh vượng…. làm sao ông có thể ngồi thu lu trên cây sung như một đứa con nít, hay như một tên ăn trộm được?  Nếu chẳng may thiên hạ nhìn thấy thì chỉ có nước… độn thổ.  Lòng kiêu ngạo, tự ái, và sĩ diện… tất cả ở đâu ào ào tuôn tới như làn nước lũ làm cản bước chân ông.  Da-kêu lưỡng lự e ngại, đầu óc khôn lanh bắt đầu tính toán hơn thiệt: “Nếu giữ thể diện không làm cách này thì không còn cách nào khác, và ta sẽ mãi mãi không bao giờ được thấy mặt Giêsu!”

Nghĩ đến đó ông lại hăng hái leo lên.  Biết có ngày Giêsu trở lại thành phố này lần thứ hai hay không?  Con người đã biết chụp thời cơ để làm giàu, thì cũng không bao giờ để vuột mất cơ hội nào trong tay.  Ông ao ước được xem thấy mặt Giêsu, dù chỉ một thoáng cũng thoả lòng.  Ông quyết đạt cho được mục đích của mình bằng mọi cách, như đã không từ một thủ đoạn nào để làm giàu!  Chỉ cầu xin đừng ai thấy ông ngồi trên cây lúc này.  Da-kêu đưa tay kéo những tàn lá to để che thân thể tròn trĩnh, đang cố thu gọn mình lại trên cành cây cao.

Đúng như ông dự đoán, đám đông từ từ tiến về phía cây sung.  Ông hồi hộp chờ đợi, cặp mắt căng ra chăm chú dõi theo bóng dáng Giêsu thấp thoáng trong đoàn người đang từ từ rõ nét dần.  Đằng sau cái dáng dấp cao lớn phong trần là một bộ quần áo cũ dính đầy bụi đường, Giêsu với làn da rám nắng, nét mặt mệt mỏi của người đi xa chưa được nghỉ ngơi, khuôn mặt chữ điền đầy nét cương nghị với cái sóng mũi cao thẳng tắp vẫn không che dấu được nét nhân từ hiền hậu.  Cặp mắt sáng quắc nhìn thẳng vào người đối diện, như muốn nhìn xuyên đến đời sống tâm linh kín đáo bên trong đáy tâm hồn của mỗi người.  Ông xít xoa hả hê trong bụng, và sung sướng với nụ cười mãn nguyện.  Con người bằng xương bằng thịt của Giêsu thật sống động và mạnh mẽ, giọng nói trầm ấm lôi cuốn, thật khác nhiều lắm so với những gì ông đã tưởng tượng.

Ông nín thở!  Ô kìa, sao đám đông cứ chằm chằm nhắm về phía cây sung mà tiến đến.  Da-kêu biết Giêsu đi hướng nào thì đám đông bu quanh sẽ di chuyển về hướng đó, nhưng tại sao Ngài lại tiến thẳng về phía cây sung này thế nhỉ?  Ông đoán họ sẽ đi ngang qua cây sung thôi mà!  Chắc có lẽ Giêsu muốn ngồi nghỉ một lát dưới bóng mát của tàng cây sung này chăng?  Nếu đúng thế thì hạnh phúc cho ông quá!  Ông sẽ có nhiều thời gian hơn nữa để chiêm ngắm “vị ngôn sứ của các tay thu thuế” này cho thoả thích.  Chỉ có một điều lo lắng là nếu người ta nhìn thấy ông trên cành cây đang nhìn trộm Giêsu thì thật xấu hổ quá!  Đám đông càng đến gần, lòng ông càng hồi hộp lo sợ, mồ hôi toát ra như tắm.

ZZBỗng…. bước chân Giêsu dừng lại ngay phía dưới chỗ ông núp.  Ngài từ từ… ngước mặt nhìn lên… kéo theo hàng ngàn cặp mắt tò mò ngẩng cổ nhìn theo….  Ông chới với khi bị bắt gặp quả tang đang nhìn trộm!  Ngạc nhiên!  Xấu hổ!  Hoảng hốt!  Da-kêu luống cuống khi bất ngờ phải đối diện với hàng ngàn cặp mắt đang mở to trừng trừng nhìn ông như một quái vật.  Họ chẳng hiểu ông đang làm gì trên đó.  Ông nhắm mắt lại, mặt đỏ tía tai, hai tay bấu chặt vào cành cây như cố bám vào một nơi nương tựa.  Chẳng có đất đâu để mà độn thổ!  Chẳng cành lá nào che được khuôn mặt đang đổi nhiều sắc màu.  Rồi lại mở mắt ra đối diện với sự thật kinh hoàng, ông bặm môi bối rối chưa biết phải ứng xử ra sao trong hoàn cảnh trớ trêu này, tia mắt lúng túng ngượng ngùng của ông cuối cùng chạm vào ánh mắt khoan dung hiền dịu của Giêsu.

Một ngạc nhiên khác tiếp nối.  Cái gì thế nhỉ?  Một ánh mắt âu yếm cảm thông như trấn tĩnh bảo ông đừng sợ hãi!  Ông nhíu mày ngỡ ngàng tưởng mình nhìn lầm: không phải là một ánh mắt khinh bỉ mà ông thường gặp trong cuộc đời thu thuế, cũng chẳng phải là cái nhìn nghiêm khắc kết án của mấy vị Pharisêu đạo đức, càng không là một cặp mắt trách móc của Đấng có thẩm quyền xét xử.  Đó là tia nhìn bao dung của một người Cha nhân từ, quyện với nét hân hoan mừng rỡ của người mẹ, như muốn dang rộng cánh tay ôm vào lòng đứa con đi hoang mới về.  Cả một biển hồ mênh mông êm dịu chất chứa trong cái nhìn sâu lắng đầy tình thương của Đức Giêsu.  Da-kêu như muốn buông mình để ngụp lặn trong ánh mắt đó.  Đi từ ngạc nhiên này qua ngạc nhiên khác, ông chỉ biết xoe tròn mắt nhìn Giêsu, miệng ú ớ không thành tiếng.

Một giọng nói trầm ấm quen thuộc vang lên phá tan bầu khí yên lặng ngột ngạt:

–     Này, Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông (Lc 19:5).

Tai ông ù lên, “phải ở lại nhà ông,” ông có nghe lộn không?  Ai bắt ông Giêsu này phải ở lại nhà ông, nhà của một người tội lỗi?  “Ông Giêsu này có biết mình là ai không nhỉ?” ông tự hỏi.  “À, mà ông ấy lại còn kêu đích danh tên của mình nữa chứ!”  Ông thấy lạnh người.  “Sao ông ta biết nhỉ?  Đúng là Đấng Thiên Sai rồi!”   Như vậy là ông không nghe lộn!  Trước niềm vui quá lớn lao, một niềm hạnh phúc không chờ mà đến, bất ngờ ông buông tay ra thả mình rơi xuống đất cái bịch trước sự kinh ngạc của mọi người.  Chẳng còn xấu hổ hay sĩ diện gì nữa, Da-kêu hổn hển chạy đến chụp lấy bàn tay Giêsu lắc lắc mạnh như ngầm hỏi: “Ngài không nói lộn chứ, thưa Ngài?”  Gương mặt Giêsu rạng rỡ niềm vui với một nụ cười nhân từ, ánh mắt trìu mến vẫn không rời xa ông, Ngài nhè nhẹ lắc đầu như ngầm xác nhận là ông không nghe lộn.

Da-kêu thở hắt ra, bao nhiêu hồi hộp sợ hãi tan theo mây khói.  Hai tay ông xiết chặt lấy bàn tay chai sạn của Giêsu xoa xoa rồi đưa lên môi hôn, rồi lại đặt xuống trước lồng ngực đang thổn thức như muốn cho Giêsu nghe nhịp đập của trái tim mình.  Mặt ngửa lên trời, cặp mắt ông nhắm lại để tận hưởng phút giây hạnh phúc bất ngờ mà ông tin rằng rồi sẽ không mong manh như ráng chiều xa xa.

Sau một phút ngỡ ngàng, đám đông bắt đầu lao xao trước hiện tượng lạ, một vị ngôn sứ nổi tiếng thánh thiện trong thiên hạ lại đang “tay bắt mặt mừng” một kẻ tội lỗi cũng nổi tiếng không kém.  Trông họ như một đôi bạn chí thân, đang tay trong tay mừng mừng tủi tủi sau một thời gian dài biệt ly.  Những tiếng xầm xì vang lên đó đây trong đám đông:

–     Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ (Lc 19:7).

Da-kêu vui không bút mực nào tả xiết, niềm vui lớn quá làm những lời ghen ghét tị nạnh như làn gió thoảng bên tai chẳng gây cho ông sự khó chịu nào.  Hơi ấm từ đôi tay của Giêsu truyền qua cho ông một sức mạnh vô hình, ông dạn dĩ đứng thẳng người, nhìn vào đám đông đang hậm hực, rồi quay sang Giêsu, ông kính cẩn cúi đầu thưa:

–     Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn (Lc 19:8).

Những cặp mắt trố ra nhìn ông kinh ngạc như tưởng nghe lầm, những tiếng xầm xì trước đây nghe rầm rì nho nhỏ, giờ bỗng náo động lên với những tiếng kêu thất thanh ngạc nhiên.  Cả đám đông bị chấn động!  Người này chuyền tai người kia lời tuyên bố bất hủ của kẻ giàu có nhất vùng.  Họ xô đẩy, chen lấn, đạp lên nhau để đứng gần hơn giữa hai người, để nghe cho rõ hơn, để thấy tận mắt cuộc gặp gỡ kỳ diệu nào đã biến đổi tâm hồn tay trùm thu thuế sừng sỏ nhất vùng đất Giê-ri-khô này.  Những khuôn mặt cau có ghen tị trước đây, giờ đổi sang nghi ngờ, rồi thoáng chốc lại chau mày suy tư như cố moi óc nhớ xem họ có phải là một trong những nạn nhân của ông không?

Da-kêu đưa mắt rộng lượng nhìn đám đông đầy yêu thương, những con người mới hôm qua còn xa lạ, nay bỗng trở nên thân thiết gần gũi.  Ông biết chứ, với câu tuyên bố xanh rờn đó, ông có thể bị phá sản như chơi.  Với hơn nửa đời người trong nghề thu thuế, những nạn nhân bị ông làm hại, hay chiếm đoạt tài sản không phải là ít.  Nhưng…. tất cả đều không là gì so với niềm vui được biết Đức Giêsu Con Thiên Chúa, được vinh dự đón tiếp Ngài vào ngôi nhà tội lỗi của ông, ngôi nhà mà chẳng một người Do Thái bình thường nào thèm đặt chân bước vô vì sợ liên lụy và ô uế.  Mặc dù Giêsu không hề đòi hỏi ông phải làm điều đó, nhưng ông tình nguyện từ bỏ những gì không chính đáng, tình nguyện sống theo những gì mà ông đã được nghe giảng dạy, như Ngài đã “tình nguyện” “phải” ở lại nhà ông đêm nay.

Chính ông cũng không ngờ cuộc gặp gỡ này đã biến đổi cuộc đời ông đến thế!  Da-kêu thấy lòng mình thật thanh thản nhẹ nhàng cho dù có thể bị tán gia bại sản.  Ông như người vừa được tự do, được giải thoát khỏi những thèm muốn của cải vật chất mà ông đã bỏ cả đời người để đeo đuổi.  Ông không ngờ, gặp không phải để mà gặp cho biết, nhưng gặp rồi để đi theo Đấng mà mình đã có duyên được gặp gỡ.  Mà làm sao có thể đi theo Ngài với những xiềng xích, những ràng buộc lòng thòng kéo trệ bước chân của người lữ hành được.

Ông hân hoan nắm tay Giêsu kéo đi về phía nhà mình như đứa con thơ tung tăng kéo tay người Cha đi chơi.  Đức Giêsu quay lại nói với đám đông đang vẫn còn đứng trân trân tại chỗ như chưa hết ngạc nhiên:

–     Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất (Lc 19:9-10).

Nắng đã tắt dần nơi cuối phố, đoàn người từ từ giải tán với những lời bàn tán xôn xao về biến cố bất ngờ vừa xảy đến cho thành phố Giê-ri-khô.  Họ ra về với những tâm trạng buồn vui khác nhau.  Biết bao con người cùng một diễm phúc được gặp gỡ Đức Giêsu hôm ấy, cùng nghe một bài giảng, cùng chứng kiến những phép lạ như nhau, nhưng có bao nhiêu tâm hồn thật sự đổi thay như Da-kêu??? Những chú chim hoảng hốt vỗ cánh bay lên cao như mang theo câu trả lời cho gió cho mây.

Lang Thang Chiều Tím
October 2007

ĐÔI KHI TA LẮNG NGHE TA

Ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại
Cuộc tình nào đã ra khơi ta còn mãi nơi đây
Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ
Ôi những dòng sông nhỏ lời hẹn thề là những cơn mưa…
 
Khi bước chân ta về, đêm khuya nhìn đường phố,
Thành phố hoang vu như một lần qua cuộc tình
Làm sao em biết đời sống buồn tênh…
 
Đôi khi ta lắng nghe ta,
Nghe sóng âm u dội vào đời buốt giáZZ
Hồn ta gió cát phù du bay về…
 
Đôi khi trên mái tình ta nghe những giọt mưa,
Tình réo tình âm thầm,
Sầu réo sầu bên bờ… vực sâu
 
Còn thấy gì sáng mai đây thôi ta còn bạn bè
Giọt rượu nào mãi chua cay trong tình vẫn u mê…
Từ một ngày tình ta như núi rừng cúi đầu
Ôi tiếng buồn rơi đều,
nhìn lại mình đời đã xanh rêu….

Trịnh Công Sơn – Tình Xa

**************************************

Chẳng ai nắm bắt được thời gian!  Chẳng ai giữ được người muốn đi!  Tình yêu như trò chơi cút bắt, gần đó nhưng thật xa, xa vời vợi nhưng lại gần gũi thân thương!  Nào ai dám chắc khi nào tình ở, lúc nào tình đi!  Nhưng khi tình thực sự vuột khỏi tầm tay thì lòng người mới cảm thấy hụt hẫng, chới với!  “Ngày tháng nào đã ra đi,” “cuộc tình nào đã ra khơi,” “từng người tình bỏ ta đi….” tất cả đã xa rồi, chỉ còn lại lời hẹn thề, những cơn mưa…. những gì mà con người không thể mang theo được, những gì không thể xóa nhoà của một thời yêu thương nồng cháy.

Còn lại một mình trong cô quạnh, với nỗi trống vắng của người bị tình phụ, bước chân lang thang trong đêm khuya giữa lòng thành phố ồn ào xôn xao, mà nay sao thật hoang vu lạnh lẽo như lòng người…  Người nhạc sĩ họ Trịnh giờ đây mới thấm thía cảnh “từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ,” người này nối tiếp bước chân người kia, lại thêm một lần dở dang trong cuộc tình, trái tim thêm một lần rách nát. “Ôi những dòng sông nhỏ, lời hẹn thề là những cơn mưa,” lòng người thêm một lần ngán ngẩm, núi cao biển rộng thêm một lần chứng kiến những lời thề non hẹn biển, như những cơn mưa vội vã chảy ào xuống, không đủ thấm đất rồi trôi nhanh vào quên lãng. “Làm sao em biết đời sống buồn tênh?”  Lời nhạc thoáng nghe như một lời trách móc nhẹ nhàng, nhưng đầy hàm ý thách đố của nhạc sĩ với người xưa.  Phải chăng “dòng sông nhỏ” bỏ bến xưa ở lại để tìm ra đại dương vì chê đời nghệ sĩ buồn chán, không còn gì hấp dẫn lôi cuốn?  Phải chăng cuộc đời dưới mắt em là nhàm chám vô vị, được lập đi lập lại những nhịp đập đều đều vô hồn?  “Dòng sông nhỏ” tiếp tục chảy mãi biết đâu là bến đỗ?

Sau mỗi lần vấp ngã là thêm một kinh nghiệm sống.  Tuy trái tim mang thêm thương tích nhưng cặp mắt người nhạc sĩ đã bừng mở để nhìn ra một chân lý sống cho mình và “dòng sông nhỏ” vội bỏ đi: “Đôi khi ta lắng nghe ta.”  Có cần không những khoảnh khắc “ta lắng nghe ta” trong cuộc đời bon chen bận rộn này?  “Ta lắng nghe ta” có là một chuyện vô ích mất thời gian trong cuộc sống tốc độ của thời đại hiện kim này không?

Với “đôi khi ta lắng nghe ta,” tác giả đã nghe ra tiếng “sóng âm u dội vào đời buốt giá,” mà mải mê với tiếng động ồn ào của cuộc đời, không phải ai cũng nghe được.  Tiếng sóng tuy “âm u” nhưng thức tỉnh lòng người, tuy lạnh “buốt giá” nhưng thấm thía.  Chỉ vài phút “ta lắng nghe ta” tác giả mới ngỡ ngàng nhìn ra “hồn ta gió cát phù du bay về.”  Ôi, tất cả chỉ là phù du thôi sao?  Kể cả tình yêu, tuổi trẻ, tiền tài và danh vọng…?  Nếu không có những giây phút thiêng liêng “ta lắng nghe ta,” không hiểu người nghệ sĩ có cái nhìn thoáng đạt ra ngoài chân trời vật chất như thế không?

Với “đôi khi ta lắng nghe ta,” mình “nhìn lại mình,” tác giả mới giật mình nhìn ra “đời đã xanh rêu…”  Tất cả những giành giựt bon chen của hôm qua, hôm nay trở nên vô nghĩa.  Tất cả những mối tình rượt đuổi của thời trai trẻ, nay trở nên rỗng tuếch.  “Còn thấy gì sáng mai đây thôi ta còn bạn bè,” bây giờ nhìn lại, chẳng còn ai bên đời!  Người tình bỏ đi, bạn bè quay lưng, cuộc sống gió cát phù du… còn lại gì?  Có chăng chỉ là “tình réo tình âm thầm,” “sầu réo sầu bên bờ vực sâu.”  Ôi cuộc sống, là những “tiếng buồn rơi đều” mãi sao?  Ôi, tình yêu, chẳng lẽ chỉ có một thứ tình duy nhất trên đời?

Để nghe được tiếng nói thiêng liêng thầm kín trong tâm hồn, ta phải tách mình ra khỏi dòng đời xô bồ đầy những tiếc động đinh tai nhức óc để đi vào trong sa mạc cõi lòng, lúc bấy giờ ta mới nghe được những âm thanh diệu kỳ của cuộc sống.  Để hiểu rõ ta hơn, con người cần có những phút giây “ta lắng nghe ta.”  Để hiểu rõ người hơn, cũng cần có những khoảnh khắc “ta lắng nghe ta.”  Làm sao có thể hiểu rõ ý nghĩa cuộc sống nếu thiếu những giây phút lắng đọng “ta lắng nghe ta?”  Nếu em biết lắng nghe em, lắng nghe nhịp đập thổn thức của con tim, thì chưa chắc “đời sống buồn tênh” như em vội đoán.  Tiếc thay cho em là người vội vã hấp tấp, không biết thưởng thức hương vị cuộc sống mà tạo hoá đã ban tặng.

Trong ngày sống bận rộn, nếu dành ra đôi ba phút lắng đọng để “ta lắng nghe ta” trong thinh lặng của bình minh, hay trong ánh hoàng hôn dần buông, ta sẽ nghe được những đói khát thiêng liêng ẩn kín trong sâu xa tâm hồn.  Chắc chắn trong những giây phút huyền nhiệm “ta lắng nghe ta,” không những chỉ được nghe, mà ta sẽ nhìn được chiều sâu đời sống nội tâm mà Thượng Đế ban tặng cho con người. Khi có cơ hội nhìn lại mình với mọi thứ tình đều được lấp đầy: tình yêu nam nữ, tình vợ chồng, cha mẹ, gia đình, tình bạn hữu, quê hương…, mọi thứ tình ta đã một thời nếm thử hương vị và đã có đủ…. nhưng sao con vẫn cảm thấy khát khao chưa đủ?  Có chăng một thứ tình nào đó thiêng liêng hơn, cao qúy hơn những thứ tình ở cõi phàm trần này?  À, thì ra cái loại “động vật có lý trí” đó không chỉ có cơm bánh, danh vọng… lấp đầy là xong!  Tấm hình hài này không chỉ cần những chiếc áo đẹp, đi xe mới, ở nhà lầu… là đủ.  Cuộc sống không chỉ có tình yêu nam nữ, vợ chồng, gia đình, bạn hữu, quê hương… là hết.  Trong sâu thẳm của cái ta kia còn thao thức khát khao một thứ tình nào đó thiêng liêng hơn, mãnh liệt hơn, vĩnh hằng hơn đang réo gọi âm thầm trong đáy lòng của những tạo vật bé nhỏ “bên bờ vực sâu,” mà chỉ trong thinh lặng “ta lắng nghe ta” mới nghe ra được.

Cái thao thức băn khoăn trong hồn đó đã được thánh Augustinô thổn thức kêu lên: “Lạy Chúa, Chúa tạo dựng con cho Ngài, lòng con không hề yên nghỉ bao lâu con chưa nghỉ ngơi trong Chúa.”

**************************************

Lạy Chúa, trong cuộc sống bon chen mà con người luôn bị giằng co với những bận rộn lo toan tất bật thường ngày, xin cho con biết chiến đấu dành giựt lấy vài phút giây trong ngày để con lắng nghe con, lắng nghe tiếng Chúa nói trong con.  Xin cho con ý thức rằng, nếu không biết lắng nghe những khát khao thiêng liêng trong tâm hồn mình, con sẽ trở thành câm điếc với chính mình, và với Chúa.  Nếu không nghe được tiếng sóng trong hồn mình, tiếng gió cát phù du của kiếp người, tiếng “tình réo tình âm thầm,” thì con sẽ mãi mãi không nhận ra sự đói khát của linh hồn mình, và bấy giờ đời sống quả là buồn chán, vô nghĩa.

Lạy Thiên Chúa Tình Yêu, trong những lúc tuyệt vọng vì tình, tiền, tài, danh vọng… rũ áo bỏ đi, xin cho con nhớ đến Thiên Chúa Tình Yêu, Đấng yêu thương con ngay từ lúc con còn trong tội lỗi bùn nhơ.  Xin luôn nhắc con nhớ rằng con không chỉ là cát bụi phù du, nhưng còn mang hình ảnh và hơi thở của Chúa nữa. Amen!

Lang Thang Chiều Tím
August 2007

HAI SẮC HOA TI GÔN

T.T.Kh

Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ người ấy với yêu thương

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong,
Và phương trời thẳm mờ sương cát,
Tay vít dây hoa trắng lạnh lòng.

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
Thở dài những lúc thấy tôi vui.
Bảo rằng “Hoa dáng như tim vỡ,
Anh sợ tình ta cũng thế thôi.”

Thuở đó nào tôi có hiểu gì,
Cánh hoa tan tác của sinh ly,
Cho nên cười đáp: “Mầu hoa trắng
Là chút lòng trong chẳng biết suy.”

Đâu biết lần đi một lỡ làng
Dưới trời đau khổ chết yêu đương.
Người xa xăm quá, tôi buồn lắm
Trong một ngày vui, pháo nhuộm đường.

Từ đấy thu rồi, thu lại thu
Lòng tôi còn giá đến bao giờ?
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
“Người ấy” cho nên vẫn hững hờ.

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tim bóng một người.

Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Nhung hồng tựa trái tim tan vỡZZ
Và đỏ như màu máu thắm phai

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi,
Một mùa thu cũ rất xa xôi.
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,
Chiều thu hoa đỏ rụng, chiều thu…
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,
Người ấy ngang sông đứng ngóng đò.

Nếu biết rằng tôi đã có chồng,
Trời ơi, người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ,
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng  

********************************

Huyền thoại thi ca tiền chiến Việt Nam những năm 1937-1938 bỗng nổi cơn ba đào với bốn bài thơ ký tên T.T.Kh, rồi sau đó lặng lẽ tan vào cõi hư không, mặc cho dư luận ồn ào xôn xao.  Chất hưng phấn làm hoa ti gôn nở rộ một thời, được khai hoa nở nhụy bằng một câu chuyện “Hoa Ti Gôn” của ký giả Thanh Châu, đăng trên báo “Tiểu Thuyết Thứ Bảy,” xuất bản tại Hà Nội.  Là một truyện ngắn không có gì đặc sắc, nhưng nhẹ nhàng và bay bổng, “Hoa Ti Gôn” kể về một chuyện tình buồn giữa một chàng họa sĩ và một thiếu nữ gia đình thượng lưu.

Sau đó không lâu, tòa soạn nhận được một bài thơ “Hai Sắc Hoa Ti Gôn,” ký tên T.T.Kh do một thiếu phụ trạc hai mươi, dáng bé nhỏ thùy mị, nét mặt u buồn mang đến.  Đó là lần đầu, và cũng là lần cuối người thiếu phụ nầy xuất hiện.  Câu chuyện “Hoa Ti Gôn” đã khơi lại mối tình xưa của người thiếu phụ (T.T.Kh.) với một chàng nghệ sĩ, cả hai đã qua một thời yêu thương hẹn hò dưới giàn hoa ti gôn.  Rồi chàng ra đi biền biệt không hẹn ngày về.  Nàng ở lại vâng lời mẹ cha, gạt nước mắt nên duyên cùng người khác – một người chồng luống tuổi – để rồi tan nát tâm tư, mỗi khi nhớ lại những kỷ niệm êm đềm của thời quá khứ.  Bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn đã gây nên xúc động lớn trong lòng người yêu thơ, bởi những câu thơ quá da diết.  Sau bài thơ nầy, tòa soạn Tiểu Thuyết Thứ Bẩy lại nhận được bằng đường bưu điện ba tác phẩm khác cũng mang tên T.T.Kh.  Đó là các bài “Bài Thơ Thứ Nhất,” “Bài Thơ Đan Áo” (riêng đăng ở Phụ Nữ Thời Đàm), và “Bài Thơ Cuối Cùng.”

Từ đó về sau, người ta không còn gặp thơ của T.T.Kh nữa.  Không ai hiểu tại sao bài “Hai Sắc Hoa Ti Gôn” lại xuất hiện trước “Bài Thơ Thứ Nhất,” và cũng không hiểu tại sao tác giả lại lặng lẽ rời bỏ văn đàn không lời từ biệt, để lại trong lòng người yêu thơ bao nỗi niềm thương nhớ luyến tiếc.

********************************

Bảy mươi năm trôi qua, nhân gian tốn bao giấy mực để tìm hiểu T.T.Kh là ai.  Người thì đoán Trần Thị Khánh, một nữ sinh Hà nội, người yêu của Thâm Tâm, một nhà thơ Việt Nam nổi tiếng với bài Tống Biệt Hành.  Kẻ lại bảo là Nguyễn Bính, rồi em gái họ nhà thơ Tế Hanh.  Người khác đoan chắc đó là Trần Thị Vân Chung, người yêu nhà văn Thanh Châu, tác giả truyện ngắn Hoa Ti Gôn.  Ai đúng ai sai, làm sao biết được khi tác giả tiếp tục thinh lặng “sống hờ hết kiếp, trong duyên trái đời.”

Làm sao có thể dệt nên chuyện tình buồn nếu chỉ có một người?  Thế là dư luận đổ xô đi tìm “người ấy” của T.T.Kh để hỏi xem “người ấy có buồn không, có còn nghĩ tới loài hoa vỡ.”  Kẻ xầm xì nói đó là nhà thơ Thâm Tâm, người lại bảo là nhà văn Thanh Châu.  Nguyễn Bính, J. Leiba và bao nhiêu anh hùng thiên hạ khác nữa, cũng nhận T.T.Kh. là người yêu của mình!  Ai đúng ai sai, làm sao biết được khi loài hoa ti gôn chỉ nở một lần, hoa rụng mang theo niềm bí mật của người yêu hoa.

Làm sao có thể dệt nên chuyện tình ngang trái nếu không có người thứ ba, là kẻ có nợ nhưng không duyên, có nghĩa nhưng không tình?  Thế mà thiên hạ chẳng ai buồn tìm hiểu người chồng “nghiêm luống tuổi” là ai?  Báo chí chẳng tốn một giọt mực, không một lời phân ưu.  Chẳng ai buồn thắc mắc đến danh tính của kẻ chiến thắng, nhưng lại là chiến bại, kẻ “được” nhưng là “mất.”  Cũng như vợ mình, chân dung của ông vẫn là một ẩn số, nhưng là một ẩn số phụ bé nhỏ, không lối đáp trong nghi án văn học T.T.Kh.

ZZZBài thơ tình lãng mạn thời tiền chiến này đã đi sâu vào lòng tôi một thời.  Ngắm hoa ti gôn “sắc hồng tựa trái tim tan vỡ, và đỏ như màu máu thắm pha,” tôi ngậm ngùi xót thương người con gái bạc phận ôm mối tình dang dở lên xe hoa, theo lời mẹ cha nhắm mắt đưa chân sống “quang cảnh lạ, tháng năm dài, đêm đêm nằm tưởng ngày mai giật mình.”  Tôi cảm thông tâm tình cay đắng người thiếu phụ buồn, ngồi bên song cửa sổ miễn cưỡng “đan đi đan lại áo len cho chồng,” mà mắt cứ dõi nhìn phương xa.  Tôi thầm trách “người ấy” đã làm tan nát thêm cõi lòng người yêu khi mang “Bài Thơ Đan Áo nay rao bán, cho khắp người đời thóc mách xem.”  Xót xa, tiếc nuối… là những tình cảm lưu luyến dành cho hai nhân vật trai thanh gái tú, có duyên gặp gỡ nhưng không phận phu thê, đã dệt nên những áng thơ tình bất hủ cho nền văn chương Việt Nam!

Cũng như người đời, tôi chưa một lần thắc mắc tâm tư người chồng đi bên lề cuộc đời vợ mình ra sao.  Ông buồn hay vui khi đêm đêm nằm ôm cái xác không hồn, với cặp mắt ngơ ngác thất thần?  Ông nghĩ gì khi môi đụng làn môi băng giá?  Ông cảm thấy gì khi được vợ, nhưng không được trái tim của nàng?  Cho đến một ngày tình cờ đọc Kinh Thánh, tôi ngờ ngợ như đọc được nỗi niềm cay đắng của ông, một người đứng bên lề cuộc đời người yêu qua những dòng chữ chua chát “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mc 7:6b).  Ôi, Thiên Chúa của tôi, Đấng tạo dựng nên muôn loài muôn vật, giàu sang và uy quyền, lại chia sẻ chung số phận hẩm hiu với người chồng già bạc phận trong “Hai Sắc Hoa Ti Gôn” hay sao?  Tôi đã sống ra sao để Ngài phải thốt lên những lời ai oán ấy.

Từ “ngày vui pháo nhuộm đường” đó, cuộc sống tuy nhiều sầu muộn, tháng ngày đong đầy những chua cay, nhưng T.T.Kh. không hề có ý định chạy trốn cuộc sống, cũng chẳng dự định trốn theo người yêu.  Nàng “vẫn đi bên cạnh cuộc đời,” trong sự “ái ân lạt lẽo” của chồng, với một thái độ lạnh lùng, dửng dưng chấp nhận sự thật dù phũ phàng.  Tôi cũng thế, vẫn đi bên Thiên Chúa, vẫn thờ phượng Ngài, không có ý định bỏ đạo, càng không muốn chống đối Ngài.  Chỉ là một thái độ lạnh nhạt chấp nhận sự việc có Chúa bên đời như một tình cờ, như một sự ép đặt của mẹ cha.  Còn lòng tôi ư? Người thiếu phụ có chồng “vẫn giấu trong tim bóng một người,” chỉ một người thôi!  Còn tôi, thờ phượng Ngài đó nhưng che giấu trong tim biết bao bóng hình, những mộng mơ với thế gian phù phiếm, những toan tính cho tương lai, dù tương lai không thuộc về tôi, và bao dự định dang dở…  Những bóng hình đó không ngừng đeo đuổi tôi đến nhà thờ những ngày Chúa nhật dù chỉ một tiếng, vẫn hiện diện trong những lời kinh ro ro thuộc lòng dù chỉ vài phút.  Như một thiếu phụ đoan trang khép mình trong lễ giáo, tôi tuân giữ những luật buộc một cách máy móc, dâng Ngài những của lễ dư thừa trong nhăn nhó.  Nhưng linh hồn tôi, trái tim tôi, tâm trí tôi… dật dờ đâu rồi trong một cõi xa xăm nào đó!

Đi bên chồng nhưng lại hỏi “người ấy” có buồn không, đó là tâm trạng của người xưa.  Còn tôi hôm nay đi bên Ngài đó, nhưng vất vả lo toan cho những việc ở trần gian.  Miệng nói tôn kính Thiên Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự.  Nhưng bao sức lực, trí lực, tài năng, máu huyết của tuổi thanh xuân… tôi đã dâng hiến cho thế gian hết rồi, để mong tìm một chỗ đứng trong xã hội, một cuộc sống tiện nghi…  Còn chăng chỉ là cái xác mệt mỏi vô hồn trong lòng nhà thờ mỗi ngày Chúa nhật buồn.  Xa thật hai cõi lòng của tôi và Ngài!  Phải chăng những lời trách móc “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mc 7:6b) là để chỉ tôi sao?

“Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời…, vẫn giấu trong tim…,” “vẫn đi” “vẫn giấu,” một sự ngoan cố đến lạ lùng của một phụ nữ yếu đuối.  Không có ý định từ chối cuộc sống và gia đình, nhưng cũng không có ý định chôn hình ảnh xưa cố quên để sống.  Nàng đã cố bám víu lấy nó như một thứ lương thực nuôi sống hiện tại.  Tôi thấy thấp thoáng hình ảnh mình trong sự cố chấp, bám dính quá khứ của người thiếu phụ.  Vẫn biết một ngày nào đó tôi sẽ phải rũ áo ra đi, không mang theo được gì, nhưng tôi vẫn ngoan cố xây đắp cho thật nhiều.  Vẫn biết đời sau mới là thiên thu vĩnh cửu, nhưng tôi chỉ chăm lo hạnh phúc hời hợt của vài thu chóng qua.  Phải chăng đó là oan trái của kiếp người?  Phải chăng con rắn ngày xưa vẫn tiếp tục cám dỗ trong lòng mỗi người mãi không thôi?  Người thiếu phụ đã bám lấy cả hai, và nàng đã phản bội cả hai: người yêu và chồng mà cuộc sống chỉ là “từng thu chết, từng thu chết.”  Kết quả cuộc sống của tôi có khá hơn không khi tôi cùng bám vào cả hai: Thiên Chúa và thế gian?

Còn gì xót xa não nùng cho bằng khi nghe những lời thở than của người vợ hiền “Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời, ái ân lạt lẽo của chồng tôi.”  Phải chăng đó cũng là những tiếng trách móc của tôi về sự “ái ân lạt lẽo” của Thiên Chúa?  Như một ông chồng già giàu có nhưng keo kiệt, uy quyền nhưng bủn xỉn, Ngài quay mặt làm ngơ trước những lời van xin thống thiết của tôi: cái xin không được, cái không xin lại cho, cái muốn được thì mất, cái mất lại được.  Ngài đã bỏ tôi chới với một mình trong khổ đau, mặc tôi ngụp lặn trong cô quạnh không lời ủi an.  Trong nỗi đau không tình cờ đó, Ngài tiếp tục thinh lặng, bí mật và khó hiểu… không một lời đáp trả.  Quả là lạt lẽo và vô tình làm sao!

Dù lời thơ ai oán, hồn thơ chất chứa niềm trách móc cam chịu của người vợ bị chồng “lạt lẽo, hờ hững,” nhưng tôi vẫn bắt gặp đâu đó một sự quảng đại nơi người chồng “nghiêm luống tuổi” môn đăng hộ đối.  “Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ, “người ấy” cho nên vẫn hững hờ.”  Chỉ là hững hờ thôi sao?  “Vẫn biết,” một sự khẳng định chắc chắn đến thế, nhưng không có cảnh đòi ly dị, không đuổi về nhà người vợ ngày qua đêm lại chỉ “thờ thẫn hồn eo hẹp” nhớ người xưa, không cưới năm thê bảy thiếp, không đánh đập hành hạ, mà cũng chẳng có chuyện “ông ăn chả bà ăn nem,”… không một hành động cụ thể nào cho sự trả thù.  Chỉ là một thái độ “hững hờ” của người quân tử!  Thái độ “hững hờ” hay nồng nàn, “lạt lẽo” hay sốt mến còn do thái độ cảm nhận của đối tượng nữa.  Tôi không thể nhìn thấy cuộc đời màu hồng khi đeo cặp kiếng đen.  Làm sao có thể tìm thấy một sự yêu đương nồng cháy khi “từ đấy thu rồi, thu lại thu, lòng tôi còn giá đến bao giờ?”  Ai có thể làm tan tảng băng nếu lối vô bị bít kín?  Ly nước đã đầy làm sao có thể rót thêm?  Làm sao có thể tìm được lòng sốt sắng yêu mến khi tôi đến với Thiên Chúa với tấm lòng giá băng, qua những nghi thức thờ phượng hời hợt bên ngoài, với trái tim đầy ắp những tham vọng thế gian, và cái đầu tính toán đầy những thành kiến.

Có đúng chăng sự “hững hờ” “lạt lẽo” của người chồng trong “Hai Sắc Hoa Ti Gôn” là kết quả cách sống thờ ơ của người vợ?  Có sai không thái độ giận dữ của Thiên Chúa “Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi!  Nhưng vì ngươi hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” (Kh 3:15-16) là kết quả cách sống dở dở ương ương của tôi?  Tôi còn có sự tự do lựa chọn cho mình một lối sống, nhưng người con gái đất Việt bảy mươi năm về trước thì không.  Vậy tôi và nàng ai đáng thương, và đáng trách hơn?

Xuyên suốt bốn bài thơ của T.T.Kh, ngoài thái độ “hững hờ” “lạt lẽo” của người chồng, còn một thái độ tế nhị khác nữa, đó là sự chờ đợi!  Ông đã âm thầm đi bên cạnh cuộc đời vợ mình, để chờ đợi sự quay về của người vợ hiền, nếu không quay về vì yêu thương thì cũng xin vì bổn phận.  Qua ông, tôi bắt gặp hình ảnh chờ đợi của Thiên Chúa, Ngài đã kiên nhẫn đứng bên lề cuộc đời của những người đã chọn Ngài là Chúa, nhưng chỉ là môi miệng, để ngày qua tháng lại tiếp tục mòn mỏi trông chờ.  Một Thiên Chúa đầy quyền uy nhưng thật tội nghiệp vẫn lặng lẽ đứng đó, không một lời giải thích cho thái độ tưởng như hờ hững, lạt lẽo của mình, với đôi cánh tay giang rộng để chờ đợi không chỉ thân xác, không chỉ hình thức, không chỉ môi miệng, nhưng là một tình yêu đích thực từ trái tim, từ một cái xác có hồn, một sự dâng hiến trọn vẹn tuyệt vời của người yêu.

Ngược lại với sự quảng đại chờ đợi trong âm thầm nhẫn nhục của người chồng, là một sự phản bội tế nhị của “người ấy”:

“Chỉ có ba người đã đọc riêng
Bài Thơ Đan Áo của chồng em
Bài Thơ Đan Áo nay rao bán
Cho khắp người đời thóc mách xem.”
Là giết đời nhau đấy biết không? (Bài Thơ Cuối Cùng)

Bây giờ thì nàng đã rõ rồi tấm lòng yêu thương của người mà nàng hằng ấp ủ trong tim.  Trong khi người con gái “vườn Thanh” lo lắng “nếu biết ngày mai tôi lấy chồng, trời ơi, người ấy có buồn không,” với một niềm tin mạnh mẽ vào người yêu “nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ, người ấy ghi lòng vẫn nhớ em,” và nỗi khắc khoải mong chờ được tái ngộ dù chỉ trong mơ “tiếng lá thu khô xiết mặt hè, như tiếng chân người len lén đến.”  Thế mà người ấy lại nhẹ nhàng đem tình nàng “rao bán” trên mặt báo. “Bài Thơ Đan Áo” chỉ viết riêng cho chị, chia sẻ nỗi lòng u uất của người con gái lấy chồng phương xa, giờ còn đâu nữa những tâm tư thầm kín của người thiếu phụ khuê các.  Người ta đã quên rồi lời hẹn xưa “cố quên đi nhé câm mà nín, đừng thở than bằng những giọng thơ.”  Người ta thương gì “một mảnh lòng tan vỡ,” xót xa gì “một tâm hồn héo,” tiếc gì một đóa “hoa tàn dấu xác xơ.”  Không ăn được thì đạp đổ!  Hạnh phúc của người yêu nào có nghĩa lý gì!  Thẳng tay, phũ phàng, và dứt khoát “lại chính là anh, anh của em” đó!  Đâu rồi một tâm hồn nghệ sĩ cao thượng?  Đâu rồi nét quân tử của người yêu hoa?  Chả trách nào tiếng chim trong lồng tắt lịm từ đó!

Hình ảnh “người ấy” phải chăng là hình ảnh của thế gian: đẹp đẽ, lãng mạn, nên thơ… khi tình đang mặn nồng, thưở “nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn.”  Nhưng khi lòng tôi thao thức với lời mời gọi thiêng liêng từ trong đáy tim, thì thế gian cố níu kéo bằng những dụ dỗ ngon ngọt, những hình ảnh phù phiếm, sự hưởng thụ thân xác.  Và khi tôi nhất quyết quay gót trở về với Thiên Chúa, thì bộ mặt thế gian biến đổi, với những gian trá mưu mô xảo quyệt, với hành động trả thù bỉ ổi, nhằm phơi bày tội lỗi thầm kín của tôi, cho dù làm thế “là giết đời nhau.” “Đời chỉ đẹp khi tình còn dang dở!”  Tình đã dang dở rồi đây, nhưng người trong cuộc có thấy đẹp hơn, thơ mộng hơn không, hay chỉ toàn cay đắng phũ phàng?

Thế gian là thế đấy!  Người tình là thế đó!  Mặc dù “oán hờn anh mỗi phút giây” nhưng lòng thì “giận anh không nỡ nhớ không thôi!”  Thiên Chúa có lẽ quá thấu hiểu sự yếu đuối mù quáng của con người, nên hai chữ TỈNH THỨC được lập đi lập lại nhiều lần trong giáo huấn của Ngài, và ân sủng từ trời cao không ngừng tuôn đổ, để giúp con người biết lựa chọn, và sống với sự chọn lựa của mình một cách sáng suốt.

Chuyện tình nào rồi cũng có đoạn kết, mối tình tay ba nào cũng phải kết thúc bằng sự lựa chọn.  Như “Người chồng Người tình” không thể cùng song hành với nhau trong cuộc sống “Người vợ,” thì Thiên Chúa cũng không thể cùng đồng hành với thế gian trong trái tim, và linh hồn một người.  Tôi đang ở đâu trong mối tình tay ba giữa “Thiên Chúa – Thế gian – và Tôi?”  Tôi sẽ chọn lựa ai, chỉ một trong hai?  Và sẽ sống với thái độ nào trong sự tự do lựa chọn đó?

Lang Thang Chiều Tím
August 2007