ĐỨC MARIA LÊN TRỜI LÀ MẸ CHÚNG TA 

1. Đức Maria, con người hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa.

Vào giây phút linh thiêng và long trọng nhất của mầu nhiệm hy tế, đứng dưới chân thập giá của Đức Giêsu, có thân mẫu Người (x. Ga 19,25).

Đó là giờ trọng đại cao cả của Đức Giêsu mà nhiều lần Người đã loan báo.  Đó chính là giờ mà quyền năng cứu độ của Thiên Chúa thực hiện để đánh bại Satan và những gì thuộc quyền lực của thế gian.  Đây là thời điểm tỏa sáng ứng nghiệm điều đã được tiên báo trong Tiền Tin Mừng (Protoevargelium của sách Sáng Thế 3,15).[1]  Cũng chính giờ phút này cộng đoàn Hội Thánh được thiết lập như dấu chỉ và phương thế cứu rỗi nhân loại.

Chính trong thời khắc tột đỉnh long trọng của “Giờ” đó, bên cạnh cây thập giá, Đức Maria đang hiện diện cùng Đức Giêsu Kitô, Con-Chiên-Xóa-Bỏ-Tội-Trần-Gian, trong một trạng  thái  hiệp nhất trọn vẹn cả thể xác lẫn tâm hồn và tình yêu.  Không gian cõi lòng Mẹ vang vọng tiếng “xin vâng” bằng cả con tim đang bị lưỡi gươm đâm thâu (Lc 2, 35).

Khung cảnh này gợi nhớ về trình thuật trong sách Sáng Thế 3,1-15 nơi một cặp nam nữ, Adam và Eva đang đứng bên cạnh cái cây ở giữa vườn, rồi gục ngã trong tội bất tuân.

2. Đức Maria, Eva Mới và là Đấng Đầy Ơn Phúc

Trong mầu nhiệm cứu độ, chỗ đứng của Đức Maria là bên thập giá Con Mình.  Cây thập giá là hậu quả của tội lỗi đưa đến khổ hình, Đức Giêsu Kitô là Đấng vô tội đã tự nguyện đóng đinh trên đó, để thánh giá trở nên nguồn ơn cứu độ cho nhân loại đến muôn đời.

Như Eva đã liên kết với Ađam trong tội lỗi, Đức Maria, suốt cuộc đời lắng nghe lời Thiên Chúa và vâng phục thẳm sâu, đã hiệp thông trọn vẹn với Ađam Mới là Đức Kitô trong sự chiến thắng sự chết và được tham dự vào vinh quang Phục Sinh với Con Mình (x. 1 Cr 5).

Tông hiến Munificentissimus Deus tuyên bố tín điều Đức Maria Hồn Xác về trời, không phải dựa trên những dữ kiện lịch sử còn sót lại, mà là một tiến trình khám phá của lý trí tựa trên ánh sáng đức tin, được soi chiếu bởi Kinh Thánh qua niềm tin tỏa chiếu mạnh mẽ trong truyền thống Hội Thánh.

Trước hết cần nhận ra rằng, đặc ân cao cả được cất lên trời cả hồn lẫn xác của Mẹ Maria là một hồng ân do lòng ưu ái đặc biệt của Thiên Chúa dành cho Mẹ, như là một nối kết vinh quang trong chuỗi hồng ân trọn vẹn mà Thiên Chúa sai sứ thần đến chào “ Mẹ đầy ơn phúc” (Lc 1,28).

Đức Kitô là Adam mới đã chiến thắng tội lỗi và phá tan ách  tử  thần (Rm 5-6; 1 Cr 15,21-26. 54-57).  Nhờ  vậy, Mẹ Maria, là Eva Mới đã hiệp thông với Con Mình một cách hoàn hảo nên cũng được tham dự vào cuộc chiến thắng trên tội lỗi và khải hoàn vào thiên quốc cả hồn lẫn xác.[2]

Tin Mừng Luca đã dọi sáng cho các giáo phụ nhìn thấy Mẹ Maria như là Hòm Bia Giao Ước và Nhà Tạm của Đấng Tối Cao, nên Mẹ cũng mang lấy sự thánh thiện và bất khả vi phạm của Hòm Bia (x. Tv 131,8; Is 60,13).  Đức Maria cũng chính là Hoàng Hậu, Thân mẫu của Đức Vua muôn thuở ngự bên ngai vua, tức là bên cạnh Chúa Cứu Thế vinh quang (Tv 44, 10-16).[3]

3. Cảm Nếm

Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời là hoa trái sinh ra từ cuộc Phục Sinh khải hoàn của Đức Kitô.  Mẹ đã khiêm hạ đón nhận lời mời gọi của Thiên Chúa và đã hiến dâng đáp trả trọn vẹn bằng sự hiệp thông cả tâm hồn và thân xác với Con Mình là Đức Kitô trong cuộc chiến thắng tội lỗi và sự chết.  Tình yêu Thiên Chúa đã cư ngụ dồi dào và đã biến đổi cả linh hồn và thân xác Mẹ, gìn giữ cả thân xác Mẹ không bị tan rữa trong bụi đất.

Đức Giêsu Kitô sống lại và lên trời (ascensio) là do tự quyền năng thần tính của Ngài, còn Đức Maria được sống lại và lên trời cả hồn lẫn xác (assumptio) là nhờ được lãnh nhận bởi ơn cứu độ của Đức Kitô.

Đức Maria Lên Trời là dấu chỉ hy vọng lớn lao cho những người tin vào Đức Kitô một ngày kia sẽ lãnh nhận ơn trọng đại  này.  Bên cạnh đó, người tin còn nhận ra Đức Maria trong vinh quang của Thiên Chúa cũng chính là Nữ Vương, là Mẹ nhân loại “Này là Mẹ con” (Ga 19,27), là Mẹ của mỗi người chúng ta.  Niềm vinh hạnh đó dẫn đưa chúng ta vào sống thân mật thâm sâu trong tình yêu trọn vẹn của Chúa Ba Ngôi và Mẹ Maria, Đấng đẹp lòng Thiên Chúa một cách hoàn hảo.  Tình yêu đó sẽ biến đổi cuộc sống hiện tại của chúng ta ngay ở đây và bây giờ.

Lm. Antôn Võ Công Ánh, SVD

[1] “Thiên Chúa phán với con rắn, kẻ cám dỗ người nữ: Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy, dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót chân người đó.

[2] xc. Phan Tấn Thành, Vầng Trăng Tuyệt Vời, tr 120-121.

[3] xc. Phan Tấn Thành, Sđd,  tr 121.

THÁNH CLARA ĐỒNG TRINH (1193 – 1253)

Thánh Clara sinh năm 1193 tại Assisi, miền Umbria.  Thuộc dòng họ danh giá Offreducciô.  Người ta nói thánh nữ sinh ra với nụ cười trên môi và không bao giờ thấy ngài khóc.  Ngài dành nước mắt để tưới chân Chúa Giêsu chịu đóng đinh.  Nghe biết một thanh niên giàu có đã trở nên người nghèo ở thành Assisi, người thiếu nữ danh giá cảm kích trước mẫu gương của thánh nhân.  Trong khi gia đình nhắm cưới gả cho nàng, thì nàng chỉ nhắm đến cuộc sống sám hối khiêm hạ.  Sau khi nghe bài giảng của thánh nhân, ngài đã đi tới quyết định.

Khi ấy, Thánh Clara 18 tuổi.  Vào ngày Lễ Lá, 18 tháng 3 năm 1212, thánh nữ ăn mặc sang trọng tới nhà thờ chính tòa dự lễ.  Theo thói quen, các bà tiến lên nhận lá từ tay Đức Giám mục.  Hôm ấy, Clara quá xúc động, khiến chính Đức Giám mục phải rời ghế, đưa lá đến cho ngài.  Chiều về, ngài đã cùng với một người bạn lén bỏ nhà theo lối cửa hậu rồi theo ánh đuốc tới gặp Thánh Phanxicô tại Porziuncola…

Giai thoại thật cảm động: một cô gái 18 sang trọng đã bỏ tất cả những gì là quen thuộc và an toàn để đi theo Đấng vô hình, còn Phanxicô 30 tuổi không có lấy một xu dính túi đã nhận lấy trách nhiệm về cả tinh thần lẫn vật chất đối với cô.  Giữa đêm xuân trong rừng cây và dưới ánh đuốc của đoàn anh em.  Clara buông xõa mái tóc huyền trên bàn thờ cho Phanxicô cắt bỏ.  Hành động hoàn toàn ngoại lệ và không có một chút quyền hạn theo giáo luật.  Phanxicô đã lãnh bản ly dị của Clara đối với thế gian, rồi gởi đi vào một nữ tu viện Bênêdictô gần đó.

Biến cố nổ lớn làm cả thành phố xúc động.  Thế gian kết án Clara.  Ông Monaldo, cậu thánh nữ đến nhà dòng bắt thánh nữ về, nhưng ngài ôm cứng chân bàn thờ quyết chọn Chúa mà thôi.  Phanxicô dẫn thánh nữ tới một nữ tu tu viện Bênêdictô khác, cùng với em của mình là Anê.  Sau cùng Phanxicô thiết lập cho Clara và cộng đoàn một tu viện tại San Damiano, nơi đây bà Ortolana, mẹ của thánh nữ cũng nhập dòng.  Trong một thời gian, cộng đoàn độc lập như những người hành khất đầu tiên.  Phanxicô viết cho cộng đoàn một bản luật sống vắn gọn, đòi kỷ luật gắt gao và chay tịnh khắc khổ.

Dầu vậy, Clara, con người đi xa hơn cả ước muốn của Thánh Phanxicô.  Năm 1215, Phanxicô đặt Clara làm tu viện trưởng và có lẽ đã trao cho ngài một bản luật dòng thánh Bênêdictô.  Nhưng một mục chương nói rằng sự đơn sơ và nhiệt tình của chị em khiến cộng đoàn tăng số rất nhanh.

Vào những năm cuối đời thánh Phanxicô, mọi liên hệ với San Đômianô bị gián đoạn.  Câu chuyện hay về bữa ăn tối với Clara không được chính xác lắm.  Nhưng cơn đau cuối cùng, Phanxicô đã được Clara cho trú ngụ trong một mái chòi bằng lá cây ở cổng tu viện Damianô, nơi Phaxicô trước tác bài ca mặt trời.  Ngài ban phép lành cuối cùng cho Clara rồi về Porziuncola và qua đời tại đó.  Ngài cũng xin anh em đưa xác về Assisi qua ngã San Đamianô.  Thánh Clara và chị em tiếp rước và có dịp chiêm ngưỡng các vết thương ở tay và chân ngài.

Clara thực hiện đúng lý tưởng của người nghèo thành Assisi.  Đức Innôcentê III đã đích thân ban phép cho ngài được giữ đức nghèo khó tuyệt đối.  Nhưng Đức Grêgôriô IX nguyên là Hồng y Ugôlinô, đã muốn cải sửa luật cho phép nhà dòng có đất đai, nhà cửa.  Clara cưỡng lại và năm 1228 đã được hưởng đặc ân như sở nguyện.  Ngài đã thưa với Đức Grêgôriô :

– Thưa Đức Cha, xin tha tội cho chúng con, nhưng đừng tha cho con khỏi theo lời Chúa

Năm 1247, một lần nữa Đức Innocentê IV kiểm soát lại luật Thánh Phanxicô, muốn sống đời khó nghèo tuyệt đối.  Luật này được Đức Innocente chấp thuận vội vã, hai ngày trước khi thánh nữ qua đời.  Năm 1893, người ta tìm thấy sắc chỉ nguyên thủy trong mộ thánh nữ.

Cuộc sống còn được ghi nhớ bởi cuộc tàn phá năm 1241 của vua Frêdêrico II, nhờ lời cầu nguyện đắc lực của ngài.  Trong cơn bệnh của ngài, Đức Hồng y Rainalđô, tức là Đức Giáo Hoàng Alexandrô sau này, đã đến trao mình Chúa và khuyên nhủ thánh nữ, thánh nữ trả lời:

– Từ khi nếm thử chén đắng và cuộc tử nạn của Chúa, con thấy không còn gì làm con đau đớn nữa

Sau khi chúc lành cho các nữ tu đến thăm, ngài nói với mình:

– Hãy an tâm, ngươi đã theo đúng đường, cứ tin tưởng vì Chúa tạo thành đã thánh hiến và không ngừng gìn giữ ngươi, đã yêu ngươi với tình mẹ thương con, ôi lạy Chúa, xin chúc tụng Chúa vì đã dựng nên con.

Thánh nữ qua đời ngày 11 tháng 8 năm 1253 và năm 1255 được tôn phong hiển thánh.

Trích: Theo Vết Chân Người, Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý

HÀNH TRÌNH NHÌN LẠI

Trong một đoạn rất sâu sắc trong bài thơ Chiếc lá và Đám mây (The Leaf and the Cloud), Mary Oliver đã họa lên hình ảnh mình đang đứng cạnh mộ cha mẹ, nghĩ về cuộc đời của họ.  Họ không phải là hình ảnh hoàn hảo và bà cũng không tô lên cho đẹp những sai lỗi của họ.  Bà nói thẳng về tâm hồn nặng nề của mẹ, về đức tin non nớt của cha.  Bà biết nhiều chuyện khó khăn của bà phát xuất từ đó.  Tuy nhiên, bà không đi thăm mộ cha mẹ để trách họ.  Bà đến đó để thật tâm hôn từ biệt họ, cuối cùng bà thấy bình an với cuộc đời không hoàn hảo và ảnh hưởng của cha mẹ trên cuộc đời mình.  Bà cám ơn họ vì mọi sự, cả tốt và xấu, cầu chúc họ mọi sự tốt đẹp dưới lòng đất sâu, rồi bà nói, “nhưng tôi sẽ không tặng cha mẹ tôi nụ hôn đồng tình.  Tôi sẽ không để họ có trách nhiệm trên đời tôi.”

Tất cả chúng ta có lẽ nên làm cuộc hành trình nhìn lại này bằng cách xem lại giáo dục tôn giáo thuở nhỏ của mình.  Đây là cả một điều đáng để xem lại.  Tiếc là nhiều người trong chúng ta không bao giờ lưu lại đủ lâu để xác định xem điều gì mang lại ân phúc, điều gì mang lại tổn thương khi một tác nhân dễ sai lầm là con người giới thiệu Thiên Chúa cho chúng ta.  Ngày nay, chuyện phổ biến, thậm chí còn là thời thượng khi người ta chỉ xem lại những gì tiêu cực trong giáo dục tôn giáo thuở nhỏ.  Đúng là nhiều người nói về “tái sinh” khỏi giáo dục tôn giáo và thường quy mọi bất hạnh và rối loạn trong đời họ cho giáo dục tôn giáo này.

Chắc chắn, một số khẳng định như thế là có lý, giáo dục tôn giáo thuở nhỏ thật sự để lại một dấu tích không phai trong chúng ta.  Tuy nhiên, chúng ta có trách nhiệm với bản thân, với cha mẹ, giáo viên thời thơ ấu và với sự trung thực, trong việc phải xác định những điều tích cực và tiêu cực trong giáo dục tôn giáo thuở nhỏ.  Và như bà Mary Oliver, chúng ta cần làm hòa với nó, dù chúng ta không thể tặng cho nó nụ hôn đồng tình.

Câu chuyện của riêng tôi là gì?  Với tôi, sự tỉnh ngộ về ý thức và tỉnh ngộ về Thiên Chúa và Giáo hội là hai điều liên kết không thể phân ly.  Tôi hấp thụ bầu khí Công giáo La-mã thời đó, và đó là công giáo thời tiền Vatican II, một tinh thần công giáo đầy những chuyện tiêu cực lẫn tích cực.  Lòng đạo thuở nhỏ của tôi là những chân lý tuyệt đối, những luật không thể thương lượng, nhưng lại đòi hỏi cao, cả tính bè phái và hạn hẹp bao gồm.  Chúng ta và chỉ chúng ta mới có đức tin thật, duy nhất.  Hơn nữa, những điều này được viết ra bởi một Thiên Chúa theo dõi sát sao hành động con người, không dễ dàng cho phép chúng ta lỗi phạm, giữ điều răn thứ sáu trên tất cả, dùng xấu hổ làm khí cụ và thường hay cau mày giận dữ.

Nhưng đó còn lâu mới là tất cả.  Mặt tích cực của nó thì có quá nhiều.  Gia đình, cộng đoàn, và Giáo hội đã rửa tội cho tôi, có những mối liên kết chung mà hầu hết các cộng đồng thời nay chỉ có thể ganh tị.  Bạn thật sự là một phần của một thân thể, một gia đình, một cộng đoàn là hiện thân của ý thức siêu việt đã làm cho đức tin thành điều tự nhiên, làm cho cộng đoàn thành một phần cuộc đời của bạn.  Bạn biết mình là con cái Thiên Chúa và bạn cũng biết mình là tạo vật luân lý có trách nhiệm thật sự với tha nhân và Thiên Chúa.  Bạn biết ý nghĩa bất diệt của mình, phẩm giá căn bản của mình và trách nhiệm luân lý đến từ đó và bạn không thể miễn trừ mình khỏi chuyện đó.

Và tất cả những điều này truyền cho bạn một chân lý tôn giáo, luân lý, rất căn bản và không thể thương lượng, rằng sự sống của bạn không đơn thuần là của bạn để bạn muốn làm gì thì làm.  Bạn biết rằng trừ khi bạn bội tín, bạn không thể làm ngơ sự thật là bạn mang tính xã hội, phụ thuộc lẫn nhau, thuộc về Giáo hội, và sự thật rằng Thiên Chúa cho bạn xuất hiện trên đời không phải chỉ để mưu cầu cuộc sống tốt đẹp cho riêng bạn.  Bạn có ơn gọi, một bổn phận nào đó để phục vụ, và Thiên Chúa, gia đình, cộng đoàn và Giáo hội có thể đòi hỏi bạn hy sinh mạng sống.  Ngày nay, tôi thấy phần này trong tâm hồn mình là một trong những ơn quý báu nhất tôi đã nhận được từ linh đạo thuở nhỏ.  Dù nó có kèm theo những con quái vật xấu xa nào, nó cũng vẫn xứng đáng.

Thêm nữa, quái vật có thể bị xua trừ và hầu hết quái vật bị chôn trong giáo lý căn bản tôi học hồi nhỏ đã dần dần bị tiêu diệt qua năm tháng. Điều gì đã giúp làm được như thế? Nhiều điều lắm: những năm học và dạy thần học, đọc sách hay, có linh hướng tốt, thấy được sự lành mạnh hân hoan và thiết thực nơi những người có đức tin, kiên trì trong nỗ lực trung thành với việc cầu nguyện, thánh lễ và cộng đoàn Giáo hội suốt bảy thập kỷ, và cuối cùng, nhưng quan trọng, chính là nhờ ơn Thiên Chúa.

Ngày nay, tôi có thể nhìn lại giáo dục tôn giáo thuở nhỏ của tôi và thấy sự tiêu cực bị điều tích cực át hẳn.  Tôi biết ơn tất cả, kể cả những nghiêm khắc, dọa dẫm, bè phái, sợ hãi, và những nỗi sợ sai lầm về Thiên Chúa, bởi vì trong mọi sự này có gì đó đã truyền cho tôi và dạy tôi điều gì là quan trọng nhất. Thật vậy, sự nghiêm khắc, dọa dẫm, bè phái và cẩn trọng quá đáng không tệ để làm điểm xuất phát, vì khi dần thoát khỏi chúng, chúng ta được tự do suốt phần đời còn lại.  Một ơn không nhỏ!

Rev. Ron Rolheiser, OMI

HÃY NHÌN LẠI BẦU TRỜI

Chủ đề: “Nếu chúng ta cảm thấy khó sống phúc âm, có lẽ do chúng ta không còn nhìn đến Chúa Giêsu.”

Có một ông nọ nói: “Tôi cứ nghĩ là càng về già tôi sẽ càng ít bị cám dỗ, nhưng thực tế tôi lại bị cám dỗ nhiều hơn.”  Có một phụ nữ kia nói: “Tôi cứ ngỡ là khi các cháu bé lớn lên tôi sẽ kiên nhẫn hơn, thế mà ngược lại tôi thấy mình nóng tính hơn trước.”  Một thiếu niên nói: “Trước đây tôi cứ nghĩ vâng phục luật Chúa là dễ dàng.  Bây giờ thì tôi lại thấy càng ngày càng khó.”

Bạn có lời nói nào tương tự như vậy không?  Bạn có thấy bị cám dỗ thường xuyên không?  Bạn có thấy mất kiên nhẫn với những người thân yêu không?  Bạn có cảm thấy ngày càng khó vâng theo luật Chúa không?  Nếu có, thì bài Phúc Âm hôm nay chắc chắn là một sứ điệp quan trọng đối với bạn.

Câu chuyện trên đây minh họa điều đó.  Nó giống hệt câu chuyện trong Phúc Âm hôm nay.

Vào lúc mới có thuyền buồm, một cậu bé nọ xin đi biển để học làm thủy thủ.  Một hôm biển có bão, người ta bảo cậu leo lên trên cột buồm.  Leo được nửa phần đầu thì dễ dàng vì cậu cứ đưa mắt gắn chặt vào bầu trời.  Nhưng đến lưng chừng cậu lại phạm một sai lầm.  Cậu nhìn xuống mặt nước biển trong cơn bão thế là cậu bị chóng mặt và sắp sửa ngã xuống.

Thấy thế, một thuỷ thủ già liền la to lên với cậu: “Này nhóc, ngước nhìn lên lại bầu trời đi!  Nhìn lên lại bầu trời đi!”  Cậu bé nghe theo lời chỉ dẫn và cuối cùng đã leo lên được an toàn.  Lỗi lầm của cậu bé, giống hệt lỗi lầm của Phêrô trong Phúc âm hôm nay.  Cậu ta đã rời mắt khỏi đích nhắm của mình và đã nhìn xuống mặt biển giông tố giống như Phêrô đã rời mắt khỏi Chúa Giêsu và nhìn xuống mặt biển giông tố.

Và điều này thường xảy ra cho bạn cũng như cho tôi.  Lúc đầu chúng ta khởi sự cuộc sống thật tốt đẹp, đôi mắt đăm đăm nhìn vào Chúa Giêsu, nhưng rồi một điều gì đó xảy đến khiến chúng ta rời xa mắt Người.  Chúng ta không còn nhìn vào Chúa Giêsu nữa; thế là chúng ta bị mất thăng bằng, chúng ta bắt đầu chìm xuống.  Tôi xin nêu một ví dụ cụ thể.

Trong cuốn sách tựa đề “The Taste of New Wine” (Hương rượu mới), Keith Miller có mô tả một biến cố thay đổi cuộc đời ông.  Biến cố này xảy ra vào mùa hè ngay sau năm thứ nhất đại học của ông.  Ðêm hôm ấy, Keith bị thương nặng vì một tai nạn xe hơi.  Anh nằm sõng soài bên vệ đường suốt một tiếng rưỡi chờ xe cứu thương.  Khi tâm trí hoàn toàn tỉnh táo, anh bắt đầu cầu nguyện.  Ðang khi nằm đó cầu nguyện trong bóng đêm, một cảm giác an bình xâm chiếm con người anh.  Keith viết: “Tôi nghĩ thật xấu hổ biết bao khi khám phá ra quá trễ trong cuộc đời có loại an bình thực sự như thế.  Lần đầu tiên, tôi không biết sợ chết.”  Keith cho biết, lúc đó anh nhận thức được rằng dầu có chết anh cũng sẽ chết trong khi biết mình đã được tiếp xúc với một điều gì đó thân mật và có thực.  Dù điều ấy là gì đi nữa, điều quan trọng là mãi cho đến bây giờ anh mới khám phá ra điều ấy trong cuộc sống của mình.

Thế rồi Keith đã thoát được tai nạn đó và bình phục trở lại.  Anh trở lại đại học và được bầu làm chủ tịch hội huynh đệ của lớp đại học năm thứ hai.  Chẳng bao lâu anh lại bị khích động bởi đời sống hào nhoáng ở đại học.  Nghĩa là, Keith đã quay mặt khỏi Chúa Giêsu, Ðấng mà anh đã từng gặp bên vệ đường.

Sau khi tốt nghiệp, Keith lập gia đình và làm việc cho một hãng xăng dầu ở Texas.  Nhưng anh đã không được hạnh phúc như anh từng mơ ước.  Một hôm, Keith buồn quá, anh chui vào chiếc xe hơi của công ty rồi vọt đi.  Chạy được một lúc anh cho xe chạy lên vệ đường, tắt máy rồi ngồi thừ ra đó.  Trước đây, Keith luôn luôn tin tưởng rằng luôn luôn có lối thoát cho buồn sầu, chẳng hạn uống vài ly Martini và ngủ một giấc thật say là có thể khởi sự lại vào sáng sớm hôm sau.  Thế nhưng hiện giờ không còn có sáng hôm sau nữa.  Anh ta đã đến bên bờ vực thẳm rồi.  Anh nhìn lên trời cao và la to lên với Chúa: “Nếu Chúa muốn điều gì nơi con thì Ngài hãy lấy đi, con thực tình muốn như thế!”

Câu chuyện trên xảy ra cách đây đã nhiều năm.  Tuy nhiên điều xảy ra trong đời Keith vào ngày đó đã không bao giờ rời anh ta nữa.  Hôm đó, không có những tiếng nói mầu nhiệm.  Hôm đó Keith chỉ nhận ra những điều Thiên Chúa muốn nơi chúng ta.  Chúa không cần tiền bạc, thời giờ của chúng ta.  Người chỉ cần ý muốn của chúng ta và nếu chúng ta dâng cho Người ý muốn này, Người sẽ chỉ cho chúng ta cuộc sống mà từ trước đến giờ chưa bao giờ chúng ta thấy, và có thể nói đây là một cuộc tái sinh thực sự.

Một lần nữa, Keith lại hướng đôi mắt nhìn vào Chúa Giêsu, và ngay lúc đó, anh lại tìm được sự bình an thâm sâu mà nhiều năm trước đây anh đã khám phá ra trong lúc nằm sõng soài bên vệ đường.

Tất cả chúng ta đều đã từng có những cảm nghiệm giống như Keith.  Nhiều lần trong cuộc đời, chúng ta đã cảm nghiệm sự hiện diện quyền năng của Chúa Giêsu.  Tuy nhiên, giống như Keith, chúng ta đã rời mắt mình khỏi Chúa Giêsu, đã bỏ Người để đi tìm những sự vật khác.  Và cũng như Keith chúng ta đã bị mất thăng bằng.

Bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta hãy thẳng thắn nhìn vào cuộc sống của mình.  Nếu chúng ta không cảm nhận được sự bình an là niềm vui thiêng liêng mà ta đã từng cảm nhận, thì chắc hẳn là vì chúng ta đã rời mắt khỏi Chúa Giêsu.  Nếu chúng ta đang sắp bị bão tố cuộc đời nuốt trửng, thì có lẽ là vì chúng ta đã rời mắt đi xa Chúa Giêsu.  Bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta quay mắt trở lại nhìn vào Chúa Giêsu.  Bài Phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta cùng nói với Thánh Phêrô: “Lạy Chúa, xin cứu vớt con!”  Nếu chúng ta chấp nhận lời mời gọi của Phúc âm thì tôi có thể dám chắc với các bạn rằng chúng ta sẽ cảm nghiệm được giống như Thánh Phêrô, chúng ta sẽ cảm nhận được bàn tay Chúa Giêsu giơ ra biểu lộ tình yêu đối với chúng ta.

Chúng ta không thể cảm nhận điều ấy ngay lập tức và một cách nhiệm mầu, tuy nhiên chúng ta cứ tiếp tục kêu cầu chúng ta sẽ thực sự cảm nghiệm điều ấy, để rồi chúng ta sẽ nói như Thánh Phêrô: “Lạy Ngài, Ngài thực sự là Con Thiên Chúa.”

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện:

Lạy Chúa, Keith Miller đã gặp được Chúa lúc nằm sõng soài bên vệ đường trong một tai nạn xe hơi.
Ngôn sứ Êlia đã gặp được Ngài trong tiếng thì thầm nơi cửa hang.
Thánh Phaolô đã gặp được Ngài trong chớp sáng trên đường đi Ðamas.
Và Thánh Phêrô đã gặp được Ngài giữa cơn bão biển.
Xin hãy giúp chúng con gặp lại Ngài,
Xin hãy giúp chúng con biết chạy đến với Ngài.
Xin hãy giúp chúng con lại cảm nghiệm được sự hiện diện cứu độ của Ngài trong cuộc sống chúng con.  Amen!

Lm. Mark Link, S.J.

THÁNH GIOAN MARIA VIANNEY- BỔN MẠNG CÁC CHA XỨ

Chúa chọn một người nào là hoàn toàn tự do theo ý của Ngài.  Chúa không theo sự hướng dẫn của con người, Chúa tuyển lựa con người là do ơn huệ của Ngài.  Thánh Gioan Maria Vianney được Chúa mời gọi, được Chúa tuyển chọn để trở nên môn đệ trung kiên của Ngài.

Thánh Gioan Maria Vianney Trong Cuộc Sống Thế Trần:

Thánh nhân được sinh ra trong một gia đình nông dân đạo đức, luôn biết kính sợ Thiên Chúa vào năm 1786 tại Dardilly thuộc địa phận Lyon nước Pháp.  Vì là Người được Thiên Chúa để ý, nên ngay từ hồi còn thơ ấu, thánh nhân đã sống một đời sống thánh thiện, tuân theo ý Chúa; ngay từ 8 tuổi, đi chăn chiên, chăn cừu, thánh Vianney đã biết làm gương dậy các bạn cùng trang lứa quỳ trước ảnh Mẹ Maria lần chuỗi và suy gẫm những sự trên trời.  Thánh nhân có lòng chạnh thương người nghèo, lưu tâm và tìm mọi cách, mọi phương thế để giúp đỡ họ.  Thánh Vianney luôn kiên tâm, can đảm để vượt thắng vấn đề học hành vì Ngài không được thông minh đặc biệt như nhiều người khác.  Ngài rất vất vả trên đường học vấn để tiến tới chức linh mục.  Tuy nhiên, thánh Vianney luôn cậy trông, phó thác và cầu nguyện, Ngài phấn đấu, chăm chỉ học thần học.  Chúa luôn ghé mắt đoái thương những tâm hồn thành tâm thiện chí và yêu thương những con người quyết tâm theo Chúa.  Thánh Vianney đã được lãnh sứ vụ linh mục năm 1815.  Ba năm sau vào năm 1818, thánh Vianney được bổ nhiệm làm cha sở họ Ars, một giáo xứ bé nhỏ, ít giáo dân thuộc miền Dombes.

Thiên Chúa Đã Dùng Một Con Người Xem Ra Không Tài Trí Để Biến Đổi Giáo Xứ, Biến Đổi Thế Giới:

Thánh nhân nhận một giáo xứ dưới mắt người đời và dưới mắt các bạn hữu linh mục là một sự thua thiệt vì một linh mục chỉ có trong tay hơn trăm con chiên thử hỏi có bõ công gì?  Nhưng Thiên Chúa có cách của Người và đường lối của Người quả thực hoàn toàn khác lạ, hoàn toàn huyền nhiệm.  Thánh Vianney luôn chu toàn trách nhiệm chủ chăn của mình Ngài chăm chỉ dậy giáo lý, hướng dẫn giáo dân, siêng năng đọc kinh nguyện gẫm chuyên cần giải tội.  Thánh nhân đã được ơn Chúa đặc biệt, Ngài đã biến đổi giáo xứ nhỏ bé của Ngài trở nên điểm sáng chói ngời khắp thế giới, thu hút biết bao nhiêu người từ khắp nơi tới với Ngài nơi tòa cáo giải.  Ngài đã ngồi tòa miệt mài từ giờ này qua giờ khác.  Thiên hạ khắp nơi tuôn đến với Ngài như xưa dân chúng tấp nập tới với Chúa Giêsu để nghe Người giảng dậy khiến Người không có giờ nghỉ ngơi và cả không còn giờ ăn uống nữa.  Thánh nhân đã làm việc không ngơi nghỉ, Ngài đã kiệt sức hơn là vì tuổi già.  Thiên Chúa đã chọn những sự tầm thường để phá tan những sự cao sang.

Thánh Nhân Ra Đi Về Với Chúa Và Được Chúa Thưởng Công:

Thánh nhân ra đi về cùng Chúa trong bình an vào ngày 04/8/1859.  Chúa thưởng công Ngài bằng vô số những phép lạ sau khi Ngài qua đời.  Đức Thánh Cha Piô X nâng Ngài lên bậc chân phước.  Đức Giáo Hoàng Piô XII trong dịp năm thánh 1925 phong Ngài lên bậc hiển thánh và đặt Ngài làm bổn mạng các cha xứ.

Vài Suy Nghĩ Về Thánh Vianney:

Thánh Gioan Maria Vianney đã thay đổi một giáo xứ nhỏ bé xem ra không là gì trước mắt thế gian trở nên điểm sáng cho toàn thế giới về sự thánh thiện và đạo đức của Ngài.  Nơi tòa giải tội, thánh nhân đã thực thi lòng bác ái tuyệt đỉnh của Ngài, thánh nhân họa lại chính con người thật của Đức Kitô, con người đầy tình thương xót và chạnh lòng tha thứ…  Như Chúa Giêsu, Ngài đã cho nhân loại, cho những người đau khổ về phần hồn ăn.  Ngài đã miệt mài với sứ vụ, nhân loại sẽ không bao giờ quên được lời của Ngài nói: “Cái chết thật vô cùng tốt đẹp khi người ta đã chịu đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô.”  Ơn gọi của thánh Vianney là do Chúa.  Tất cả đều do sự chọn lựa nhưng không của Chúa.  Tất cả do hồng ân của Chúa.  Thánh Vianney đã sống ơn huệ tuyệt vời của Chúa và luôn sẵn sàng thông chia cho mọi người ơn huệ quí báu mà Ngài đã nhận được nơi Chúa.

Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, Chúa đã làm cho thánh linh mục Gioan Maria Vianney nên một tấm gương tuyệt vời về lòng tận tụy hy sinh của một người mục tử.  Vì lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp, xin cho chúng con hằng noi theo lòng bác ái của Người mà cố gắng đem nhiều anh em về với Đức Kitô để muôn đời cùng nhau hưởng nguồn vinh phúc (Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Gioan Maria Vianney).

Xin thánh Vianney cầu thay nguyện giúp cho chúng con các linh mục quản xứ luôn biết noi gương bắt chước thánh nhân để chúng con siêng năng, chuyên cần giải tội và chăm chỉ ban phát các Bí Tích.

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

PHÉP LẠ HÓA BÁNH RA NHIỀU NHỜ TIN VÀ NHỜ ĐỨC ÁI 

Có ai đó nói rằng: Tôi có một quả táo, chia cho bạn một nửa, đó là tình bạn.  Khi tôi có một quả táo, tôi cắn một miếng rồi đưa cho bạn, đó là tình yêu.  Khi tôi không cắn miếng nào, đưa hết cho bạn, đó là tình thân.  Cuối cùng là khi tôi cố tình giấu quả táo đi, không cho bạn biết hoặc phũ phàng nói rằng tôi cũng đói và đó là thực tế xã hội.

Xã hội con người chính là vậy.  “Lúc gian nan mới hiểu được lòng người!”  Con người chỉ khi thất bại, túng quẫn hay sa sút tinh thần một lần mới biết và hiểu được ai là người chân thành dành sự quan tâm cho chúng ta.

Nhưng có một Đấng không bao giờ bỏ rơi ta như lời Người nói: “Người phụ nữ nào có thể quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương xót con ruột mình đã sinh ra?  Cho dù họ có quên nữa, Ta sẽ không quên ngươi bao giờ” (Isaia 49:15).  Đó chính là Thiên Chúa.  Đấng mà Thánh Gioan định nghĩa rằng: Thiên Chúa là tình yêu.  Tình yêu Ngài bền vững qua muôn thế hệ.  Dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, Ngài vẫn luôn trung thành với tình yêu của Ngài.

Đây cũng là tình yêu của những người tin vào Thiên Chúa.  Nhờ tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa mà họ sống đức ái triệt để trong cả những hoàn cảnh khó khăn nhất như bà góa thành Xarepta.  Vào thời tiên tri Êlia, có một đợt hạn hán kéo dài dẫn đến lương thực và nguồn nước đều cạn kiệt.  Thiên Chúa truyền lệnh cho tiên tri Êlia đến Xarépta, thuộc vùng Si-đôn.  Tại đây, ông gặp một bà góa đang nhặt củi.  Ông xin bà cho ông một chút nước uống và một miếng bánh.  Bà góa trả lời rằng bà chỉ còn một nắm bột và một ít dầu, đủ để làm một chiếc bánh nhỏ cho bà và con trai trước khi họ chết đói.

Ê-li-a nói với bà rằng nếu bà làm theo lời ông, thì hũ bột sẽ không bao giờ cạn và vò dầu sẽ không bao giờ vơi cho đến ngày Chúa cho mưa xuống trên đất.  Bà góa đã tin tưởng và làm theo lời Ê-li-a.  Kết quả là hũ bột và vò dầu thực sự không bao giờ cạn, và bà cùng con trai và tiên tri Ê-li-a đã có đủ lương thực trong suốt thời gian hạn hán .

Kinh Thánh Chúa Nhật 17 Năm B kể lại sự kiện khi đám đông say mê nghe Chúa giảng đến quên cả thời gian.  Hàng ngàn người vẫn ở nơi hoang vắng và không có đủ thức ăn.  Chính trong sự bế tắc của con người ta lại thấy Thiên Chúa mở cánh cửa mới cho dân của Người.

Cả hai phép lạ này đều xảy ra trong hoàn cảnh mà con người đều bất lực trước khó khăn vì hạn hán kéo dài hay vì ở nơi hoang vắng.  Cả hai phép lạ đều được thực hiện trong sự tin tưởng và vâng phục Thiên Chúa.   Bà góa đã vâng lời tiên tri Ê-li-a khi dám cho đi cả phần lương thực còn lại trong nhà.   Các môn đệ của Chúa Giê-su đã vâng lời Thầy khi đi gom 5 chiếc bánh và hai con cá, rồi chia đám đông ngồi từng nhóm, dẫn đến phép lạ hóa bánh ra nhiều.

Thực vậy, sau khi đón nhận 5 chiếc bánh và 2 con cá từ lòng quảng đại của một em bé.  Chúa Giêsu đã có thể nhân rộng ra thành hàng trăm, hàng ngàn tấm bánh.  Với quyền năng của một vì Thiên Chúa có thể tạo dựng mọi sự từ hư vô.  Ngài có thể làm tất cả nhưng Thiên Chúa lại muốn hành động ngang qua con người.  Bởi vì con người là họa ảnh của Thiên Chúa.  Ngài muốn con người tiếp tục thay Ngài gieo yêu thương vào trong thế gian.  Hay nói cách khác, con người được tạo dựng để yêu thương.  Do đó, ai không yêu thương là vong thân, là đang chết dần trong ích kỷ và cô đơn.  Người ta sống để yêu, mà không còn khả năng yêu thương, tức là con người đã mất giá trị đích thực của đời người.

Có lẽ nhân loại hôm nay không chết đói cho bằng chết vì thiếu tình thương.  Những người đang chờ chết cũng là những người đang chờ từng nghĩa cử yêu thương, san sẻ của đồng loại.  Con người cần cơm bánh để sống.  Nhưng con người lại rất cần tình thương để tồn tại.  Thật là một bất hạnh cho con người, nếu hai chữ tình yêu không còn có ở trên đời.  Và cũng thật bất hạnh cho những ai không có ai đó để thương, để nhớ.  Tình yêu là lẽ sống còn của con người.  Con người không có tình yêu sẽ đầy đọa mình và làm khổ anh em.

Lời Chúa hôm nay dường như đang chất vấn bạn và tôi về những thiếu sót của chúng ta trước sự khốn cùng của tha nhân.  Chúng ta hãy hành động yêu thương trong tư cách là môn đệ Chúa Giê-su, để bánh và cá tiếp tục được nhân rộng đến cho mọi người, để tình yêu đem lại hạnh phúc cho con người hôm nay.

Xin Chúa ban thêm đức tin và lòng quảng đại để vì Chúa chúng ta yêu thương, chia sẻ và dấn thân lan tỏa tình yêu Chúa đến cho mọi người. Amen

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

ĐÔI NÉT VỀ THÁNH I-NHÃ LOYOLA

I-NHÃ CON NGƯỜI QUẢNG ĐẠI

Trong cuộc tử thủ chống quân Pháp ở Pamplona, một mảnh đạn đại bác đã làm I-nhã gãy chân, và làm ngài dừng chân.  Biến cố ấy đã đổi hướng đi của ngài.  Đời I-nhã mở sang trang mới.  Phải được khuôn mặt của Đức Kitô thu hút, I-nhã mới dám bỏ và dám theo.  Bỏ những tham vọng của mình về chức tước, tiếng tăm.  Bỏ  giấc mơ chinh phục một tiểu thư quý phái.  Bỏ việc phụng sự cho một vị vua ở trần gian.  Bỏ lâu đài, gia đình và sự nghiệp….  Bỏ là điều kiện để theo.  Để bỏ, cần quảng đại.  Quảng đại là thái độ ta thường thiếu.  Chúng ta dè sẻn, tính toán khi sống cho Chúa, bởi lẽ chúng ta không tin Chúa quảng đại hơn mình.  Chúng ta còn có nhiều  nỗi sợ và tham vọng.  Thánh I-nhã đã định nghĩa quảng đại là: “Dâng trọn cả ý muốn và tự do của mình cho Chúa, để mặc Ngài sử dụng bản thân mình, cũng như mọi sự mình có theo ý Ngài”  (LT.5).  Chúng ta có nên thử một lần quảng đại với Chúa không?

I-NHÃ, CON NGƯỜI SAY MÊ CHÚA GIÊSU

Giêsu là vị thủ lãnh mới mà I-nhã khám phá được trong thời gian nằm trên giường bệnh, sau khi đọc sách về cuộc đời Đấng Cứu Thế.  I-nhã chỉ mong mau khỏi bệnh để đi Đất Thánh.  Bất chấp nguy hiểm đến tính mạng, I-nhã muốn ở lại và rao giảng trên nơi Đức Giêsu đã sống.  Một ơn lớn phải xin trong Linh thao Tuần hai, đó là ơn “Hiểu biết thâm sâu về Chúa Giêsu, Đấng đã làm người vì tôi, để yêu mến Ngài hơn và theo Ngài hơn” (LT. 104).   Tình yêu Chúa Giêsu đã chi phối cuộc đời I-nhã. Một tình yêu vừa rất riêng tư, tha thiết, vừa đầy tính hành động cụ thể.  Giêsu là một vị Vua mà I-nhã muốn hiến thân phục vụ, muốn chia sẻ với Ngài sứ mạng chinh phục thế giới.  Tình yêu đòi nên giống người mình yêu, chọn bị nghèo khó sỉ nhục, bị coi là ngu dại, để nên giống Đức Kitô, Đấng đã chịu như thế vì tôi.  Chúng ta hãy để cho Đức Kitô  thu hút mình và mời gọi mình làm bạn đường của Ngài.  Hãy cùng Ngài đồng cam cộng khổ để đưa cả thế giới này về cho Chúa Cha.

I-NHÃ, CON NGƯỜI CỦA TÌNH BẠN

I-nhã không độc quyền yêu Chúa Giêsu Ngài muốn tất cả trở nên bạn với Chúa.  Chính vì thế, đi đâu ngài cũng có bạn.  Ngài có khả năng tìm được những người cùng chí hướng, và quy tụ họ lại thành một nhóm thân thương.  Ở Barcelona, Alcala, Salamanca, Paris, đâu đâu I-nhã cũng có những người bạn.  Có những nhóm bạn không bền, nhưng cũng có nhóm bạn đã đi vào lịch sử.  Ở Paris, I-nhã đã giúp sáu bạn sinh viên làm Linh thao, thuyết phục họ quyết tâm phục vụ Thiên Chúa, trong số đó có hai vị thánh Phanxicô Xavier và Phêrô Favre.  Dù quốc tịch, tuổi tác, tính  khí khác nhau nhưng họ có chung một lý tưởng, một ước mơ.  Ước mơ chịu chức linh mục để phục vụ con người.  Ước mơ đi Đất Thánh để giúp người Hồi trở lại.  Ước mơ đi Rôma để đặt mình dưới  quyền Đức Thánh Cha.  Ước mơ sống khó nghèo và khiết tịnh.  Hẳn I-nhã đã góp phần khơi lên những ước mơ, tiềm ẩn nơi những tâm hồn quảng đại.  Chúng ta cần xây dựng tình bạn trên nền Giêsu, cần mở rộng vòng tay đón những bạn mới.  Ước gì tình bạn làm bật dậy những ước mơ và làm cho ước mơ thành sự thật.

I-NHÃ VÀ VIỆC HỌC

Sau khi không được phép ở lại Đất Thánh, I-nhã thấy mình cần phải đi học một thời gian, để có khả năng giúp các linh hồn.  Như thế, việc tông đồ là lý do khiến ngài đi học trở lại.  Bằng cấp chỉ là phương tiện để phục vụ.  Chúng ta ngỡ ngàng khi thấy I-nhã đi học ở tuổi 33, can đảm ngồi học chung với những chú nhỏ!  Trong thời gian học ở Alcala và Salamanca, I-nhã  lo dạy giáo lý và giảng Linh thao hơn là lo học.  Chính vì thế, ngài gặp rắc rối với giáo quyền, và việc học chẳng tiến bộ mấy.  Cuối cùng, I-nhã quyết định học tập nghiêm túc, kiếm tiền trợ cấp vào mùa hè để khỏi phải đi ăn xin.  Đến năm 44 tuổi, I-nhã mới tốt nghiệp Đại học.  Với mảnh bằng, ngài không còn bị làm khó dễ như xưa.  Mảnh bằng là giấy phép để tôi làm việc.  Kiến thức là chiếc cầu để tôi gặp gỡ tha nhân.  Ước gì tôi có khả năng đưa Chúa vào ngành chuyên môn, và đưa con người khoa học hôm nay đến với Chúa.

I-NHÃ, CON NGƯỜI YÊU MẾN HỘI THÁNH

Hội Thánh thời I-nhã có nhiều vết nhơ.  Có những vị chủ chăn sa ngã nặng nề.  Nhiều linh mục, tu sĩ cũng sa sút và bất xứng.  Ông Luther đã đoạn tuyệt với Hội Thánh công giáo, sau khi phản đối việc bán ân xá một cách mạnh mẽ.  I-nhã không phải không thấy những lầm lỗi, nhưng ngài đã không chỉ trích Hội Thánh.  Ngài ở lại trong Hội Thánh để cải tổ, canh tân.  Dù đã có vị Giáo Hoàng mang nhiều khiếm khuyết, nhưng I-nhã vẫn coi Đức Giáo Hoàng là đại diện Đức Kitô, và chấp nhận được Người sai đi bất cứ đâu, để làm bất cứ việc gì xét thấy cần cho vinh danh Chúa và lợi ích cho con người hơn.  Chúng ta cần có lòng yêu mến Hội Thánh, Hãy bắt tay vào việc xây dựng Hội Thánh bằng những đóng góp nhỏ bẻ, vừa tầm của mình, để Hội Thánh đáp ứng được những nhu cầu thời đại, Hãy canh tân Hội Thánh từ bên trong bằng việc canh tân chính bản thân mình.

I-NHÃ, CON NGƯỜI BIẾT PHÂN ĐỊNH

Lúc còn trên giường bệnh, I-nhã  đã có kinh nghiệm sau: Khi nghĩ đến chuyện trần tục, ngài cảm thấy vui thú, nhưng sau đó lại thấy buồn chán trống rỗng; còn khi nghĩ đến chuyện sống hết mình cho Chúa ngài cảm thấy niềm vui kéo dài.  Từ đó ngài khám phá ra tác động của Thiên Chúa và ma quỉ trong đời mình.  Lúc ở Manresa, I-nhã còn trải nghiệm nhiều thử thách khác: chán nản, khô khan, bối rối đến độ muốn tự tử.  Trong thời đi học, I-nhã cũng bị lôi cuốn bởi những tư tưởng đạo đức khiến ngài say mê đến nỗi không tập trung vào việc học được.  Dần dần ngài biết cách phân định để khám phá ra rằng đó không phải là tác động thực sự của Chúa.  Chúng ta rất muốn biết ý Chúa khi phải chọn lựa.  Có một vài tiêu chuẩn để chọn việc phải làm: nên chọn điều gì có ích lợi phổ quát hơn và lâu bền hơn, nên chọn chỗ nào có nhu cầu lớn hơn và khẩn cấp hơn, nên chọn chỗ nào có hy vọng sinh nhiều hoa trái hơn.  Ước gì chúng ta nhạy cảm với tác động của Chúa và không bị mắc mưu của ma quỉ xuất hiện dưới dạng thiên thần sáng láng.

I-NHÃ, CON NGƯỜI CỦA MAGIS ( HƠN NỮA)

 “Nhằm vinh quang lớn hơn cho Thiên Chúa” đó là điều tâm niệm, là châm ngôn sống của I-nhã.  Tình yêu làm người ta say mê cái hơn nữa (magis).  I-nhã chẳng bao giờ chịu ngừng lại và mãn nguyện.  Hoàn cảnh đổi thay, con người cũng biến đổi.  Điều hôm nay là tốt nhất cho vinh danh Chúa thì ngày mai có thể lại không còn như vậy nữa.  Chính vì thế ta cứ phải suy nghĩ, tìm kiếm, cứ phải trăn trở, thích nghi…  Cái hơn nữa đưa ta đi vào một chuyển động.  Đó là khao khát khôn nguôi của I-nhã.  Làm sao để mọi người nhận biết Chúa, và nhận ra nhau là anh em?  Làm sao để vinh quang Thiên Chúa tràn lan trên mặt đất này.  Chúng ta đừng để mình rơi vào sự dễ dãi, và bằng lòng với cái tầm thường.  Làm sao để hôm nay của tôi hơn hôm qua và ngày mai hơn hôm nay?

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

NGUY CƠ CỦA QUÁ AN TOÀN 

Tôi thường hay được nhắc nhở là phải thận trọng cả hồn lẫn xác: “Cẩn thận!  Đừng mắc sai lầm!  Hãy thận trọng!  Đừng làm điều gì khiến mình phải hối tiếc!”  Đúng là tôi đã hấp thụ những lời này ngay từ khi còn nhỏ, những năm học ở trường dòng, và phần lớn những năm tháng làm linh mục.  Đây cũng là những lời trối trăn cuối cùng của cha tôi, cha tôi là một trong những người đàn ông chân thật nhất mà tôi được biết.  Đêm đó, anh tôi và tôi đến bệnh viện thăm cha đang bị bệnh ung thư, sau đó chúng tôi ra về không hề biết sáng sớm hôm sau cha ra đi, cha nhắc chúng tôi: “Cẩn thận nghe!”  Ông nhắc chúng tôi lái xe cẩn thận trên con đường mùa đông đầy băng tuyết.  Lời nhắc nhở này cho thấy cá tính, tâm hồn nhạy cảm và sự lo lắng đúng đắn của ông dành cho con cái, và về mặt tinh thần nó cũng có nghĩa: “Cẩn thận!  Thận trọng!”  Đây là lời nhắc nhở thường xuyên của cha tôi.

Bây giờ những lời đó là một phần tính di truyền của tôi.  Con cái không những thừa hưởng các đặc tính sinh học của cha mẹ mà còn hơn thế nữa, đặc biệt nếu may mắn có một đấng sinh thành có lập trường đạo đức vững chắc.  Và sự thận trọng đó giúp ích cho tôi rất nhiều.  Tôi biết ơn nó.  Hơn năm mươi năm qua, tôi đã giữ gìn nguyên vẹn cả xác lẫn hồn.  Một món quà không phải là nhỏ.

Tuy vậy sự thận trọng đó đôi lúc cũng không tốt cho tôi.  Một người có thể  không sứt mẻ, nhưng thận trọng đến mức nhút nhát, rụt rè nhiều hơn yêu thương thì sự thận trọng đó trở thành tâm điểm cuộc đời họ.  Mối nguy cơ trong việc luôn luôn muốn toàn hảo dễ đi đến tâm trạng giống như tâm trạng của người anh cả của người con hoang đàng, đặt niềm tin cứng ngắc vào mọi sự, nhưng lại hay xét đoán, đố kỵ, gắt gỏng cay chua; không bao giờ thỏa hiệp về mặt đạo đức và tín lý, trong khi lại ham muốn những chuyện phi luân lý và tâm hồn như tê cứng với cuộc sống thật.  Đôi lúc một sự thận trọng được rèn giũa kỹ lưỡng trong từng hành vi là do quả tim cảnh giác nhiều hơn là quảng đại, ham muốn nhiều hơn là khẳng định, xét đoán nhiều hơn là tha thứ.  Đôi lúc nó làm do một quả tim mà yêu thương và tha thứ được xem như phần thưởng chứ không phải cho và nhận không vụ lợi.  Nó là kết quả của một quả tim âm thầm sung sướng khi người khác đi lầm đường vì không sống giống như mình.  Không phải lúc nào cũng như vậy, nhưng nó cũng dễ xảy ra, phải thẳng thắn và khiêm tốn nói thỉnh thoảng trong cuộc đời tôi, tôi cũng vướng vào những trường hợp như vậy.

Goethe, nhà thơ người Đức đã viết: Cuộc sống chứa đựng nhiều nguy cơ, và sự an toàn là một trong những mối nguy cơ đó.  Đối với một vài người thì có lẽ lời nhắc nhở ngược lại mới thích hợp hơn.  Tuy nhiên đối với hầu hết chúng ta, những người luôn được nhắc nhở phải trở nên người tử tế và có đạo thì câu nói của Goethe cũng mang một sự thật làm chúng ta bối rối.

Có phải chúng ta đang sống quá thận trọng?  Liệu chúng ta có đủ can đảm để nhìn vào những kiềm chế, ghen tương, luận phạt tôn giáo của chúng ta một cách thẳng thắn không?  Có phải cuộc sống của chúng ta bị nỗi sợ hướng dẫn thay vì được tình yêu hướng dẫn không?  Liệu chúng ta có thể yêu đời mà không bị phán xét và cay đắng không?  Người khác có xem chúng ta là những người cứng ngắc không?  Lần cuối cùng chúng ta thật sự tha thứ cho người làm tổn thương mình là lần nào?  Cuộc sống chúng ta có nói lên tình yêu thương và lòng quảng đại hơn là sợ hãi và tự vệ không?  Mối nguy cơ trong việc sống quá thận trọng là đôi lúc chúng ta nghĩ chúng ta đang bảo vệ cuộc đời nhưng thật ra chúng ta đang bảo vệ sự nghèo nàn của chính đời sống mình, đôi lúc chúng ta nghĩ chúng ta đang bảo vệ đức hạnh, nhưng thật ra chúng ta đang bảo vệ những kiềm chế và sợ hãi của chính mình, và có khi chúng ta nghĩ chúng ta đang nói về sự quan phòng của Thiên Chúa cho thế gian nhưng, như người anh cả của người con hoang đàng, thật ra chúng ta đáng nói về lòng ghen tương giấu kín trong con người mình.

Nhân vật nam chính trong bộ phim Những cỗ xe rực lửa là Eric Liddell, một chàng thanh niên hết sức đạo đức, là lực sĩ chạy bộ tham dự Thế Vận Hội Olympic với triển vọng được huy chương vàng, nhưng anh từ chối tham dự cuộc tranh tài vì vòng tranh sơ khởi nhằm vào ngày Chúa Nhật, ngày anh giành cho Chúa.  Rất dễ phê phán việc làm của Eric Liddell là việc làm xuất phát từ nguyên tắc tôn giáo cứng ngắc.  Đối với ai đó thì điều này có thể đúng.  Nhưng đối với Eric Liddell thì không.  Tại sao?  Bởi vì anh không bị cuốn đi bởi nỗi sợ hãi hay nguyên tắc cứng ngắc.  Anh được cuốn đi bởi tình yêu.  “Khi tôi chạy,” anh nói, “tôi cảm thấy niềm vui của Thiên Chúa.”

Thỉnh thoảng tôi cũng hỏi tôi câu hỏi đó trong mối liên hệ của tôi với tôn giáo và những kiềm chế tinh thần: Liệu Thiên Chúa có vui trong sự thận trọng của tôi?  Liệu Thiên Chúa có vui trong các hy sinh của tôi?  Liệu Thiên Chúa có vui trong những khắc khoải của tôi về những khiếm khuyết đạo đức của thế giới?  Hay có phải Người Cha đang đứng bên cạnh tôi, bên ngoài bàn tiệc, nài nỉ tôi như ông từng nài nỉ với người con cả, con không thể vì cha mà chấp nhận em con sao?

Tôi biết ơn sự giáo dục tôi được hưởng, dù tính dè dặt bẩm sinh đi kèm với nó không còn ở tôi nữa.  Thận trọng là điều hay.  Đó là cách sống đầy yêu thương và có trách nhiệm.  Nhưng tôi lớn lên một cách thẳng thắn hơn trên các nguy cơ này.  Đa số thời gian tôi như được trọn vẹn, tuy nhiên đôi lúc tôi sợ hãi nhiều hơn quảng đại, tự vệ nhiều hơn yêu thương, ghen tương nhiều hơn quan tâm lành mạnh.  Sự thận trọng đôi lúc đã không cho tôi một quả tim lớn.  An toàn cũng là một mối nguy cơ.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

NGẪM NGHĨ

Vì sao loạt phi hành gia trở về từ vũ trụ đều hóa “điên dại,” người nát rượu, kẻ trầm cảm vứt bỏ cả sự nghiệp?

Chỉ một lần ngoái nhìn về Trái Đất từ không gian bao la cũng đủ để đảo lộn hoàn toàn nhận thức của một con người.  Hiện tượng tâm lý này kinh điển đến mức các nhà khoa học đã đặt tên cho nó: Hiệu ứng cái nhìn tổng quan.

​Kể từ sau các sứ mệnh Apollo lịch sử, NASA đã ghi nhận rất nhiều phi hành gia trở về với những thay đổi sâu sắc, thậm chí là cực đoan trong thế giới quan:

Buzz Aldrin (Apollo 11): Người đàn ông thứ hai đặt chân lên Mặt Trăng đã rơi vào trầm cảm và nghiện rượu kéo dài sau khi trở về.  Khi đứng ở đỉnh cao của vinh quang nhân loại, ông bỗng nhận ra cái gọi là “vĩ đại” của con người thực chất chỉ là một ảo tưởng nực cười.  Vinh quang không cứu rỗi được ông, nó chỉ làm nổi bật thêm sự trống rỗng của thực tại.

Những người khác: Người thì từ bỏ chức quản lý cấp cao, người lập tức vứt bỏ cả công ty tỷ đô để đi tìm một lối sống hoàn toàn khác.

Giới siêu giàu cũng không ngoại lệ: Từng chi ra số tiền tương đương 700 tỷ VNĐ (hơn 26 triệu đô Mỹ) để mua một tấm vé bay vào vũ trụ, tỷ phú Tôn Vũ Thần sau khi trở về đã im lặng suốt 3 ngày mới thốt lên một câu: “Tôi không biết chúng ta đang sống vì điều gì.”

Tài sản, thể diện, tranh giành bỗng chẳng là gì giữa khoảng không vô tận.

Người đời chê cười anh bỏ tiền mua về nỗi sợ, nhưng thực chất, khoảnh khắc nhìn thấy Trái Đất nhỏ bé, anh hiểu ra tài sản, thể diện hay những cuộc tranh giành danh lợi ngoài kia bỗng chốc chẳng bằng một hạt cát giữa hư không.

​Hãy tưởng tượng bạn đã đạt được điều mà 99,9999% nhân loại cả đời này không thể chạm tới: đứng ở rìa thế giới, nhìn ngắm ngọn nguồn của sự sống trong một khoảng không tĩnh lặng tuyệt đối.

​Và rồi, bạn buộc phải quay lại mặt đất để xếp hàng mua đồ ăn sáng, loay hoay trả hóa đơn tiền điện, và chứng kiến những cuộc cãi vã vặt vãnh của người đời.  Sự chênh lệch quá lớn ấy chính là thứ đã bẻ gãy tâm lý của họ.

Nhìn vào bức ảnh Trái Đất chỉ là một chấm sáng mỏng manh kích thước 0.12 pixel giữa không gian vô tận, nhà thiên văn học Carl Sagan đã viết nên những dòng triết học lay động lòng người: “Mọi vị vua và kẻ ăn xin, mọi kẻ độc tài và nạn nhân, mọi cuộc chiến tranh đẫm máu hay nỗi dằn vặt xé lòng của con người… tất cả đều chỉ diễn ra trên một hạt bụi nhỏ ngoai ngoắt bám trên một tia nắng.”  (Trích từ cuốn “Đốm xanh mờ” – Carl Sagan)

Vì vạn vật mong manh, nên từng giây phút mới là vô giá

Những thứ như danh vọng, thể diện, sự hơn thua… thực chất chỉ là những quy ước do con người tự tạo ra.

Hàng ngày, chúng ta tự làm khổ mình bằng những áp lực tự tạo: hơn thua nhau một câu nói, dằn vặt vì một lỗi lầm trong quá khứ, hay lo lắng thái quá về tương lai.

Nếu một tỷ phú sở hữu trăm tỷ còn thấy tiền bạc vô nghĩa trước vũ trụ, thì việc bạn chưa mua được cái túi hiệu hay chưa thăng chức tháng này thực ra cũng chẳng phải là thảm họa của thế giới.

​Nhìn thấy sự bao la của vũ trụ dạy chúng ta rằng: Mọi đau khổ, sĩ diện và tranh giành của con người thực ra rất nực cười.

Nếu những tủi hờn, thất bại hay áp lực của bạn nhỏ bé đến mức vô hình trước vũ trụ, thì tại sao bạn lại để chúng gặm nhấm tâm hồn mình ngày này qua ngày khác?

Nhận ra sự vô nghĩa giúp chúng ta dũng cảm buông bỏ cái tôi vặt vãnh, tha thứ cho bản thân, tha thứ cho người khác, và bước đi một cách nhẹ nhõm hơn.

(Theo Sách Hay Chọn Đọc)
Nguồn: Tâm Lý Học & Khoa Học Hành Vi

TÌM CHO BẰNG ĐƯỢC ĐỨC KHÔN NGOAN

Xin có được tâm hồn Khôn Ngoan

Salomon khi đứng trước nhan Chúa là nguồn mạch mọi ơn phúc trong một thị kiến ban đêm cho ông những lựa chọn.  Chúa phán cùng ông rằng “Người muốn gì thì hãy xin, Ta sẽ ban cho ngươi” (1V 3, 5).  Salomon không xin được sống lâu, giàu sang phú quý.  Ông cũng chẳng xin mạng quân thù.  Ông xin Chúa ban cho “một tâm hồn khôn ngoan” (1V 3, 9).  Thiên Chúa đã ban cho ông điều ông xin, vì đẹp lòng Chúa: “Đây Ta ban cho ngươi điều ngươi xin… đến nỗi trước ngươi không có ai giống ngươi, và sau ngươi không có ai bằng ngươi” (1V 3, 12).  Ông xin và ông đã được.

Nỗ lực tìm kiếm Chúa là Đấng Khôn Ngoan

Thiên Chúa muốn thông ban vinh quang đã có từ đời đời cho con người.  Vinh quang và hạnh phúc ấy là chính Chúa.  Chính con người cũng không biết mình được dựng nên để vui hưởng vinh quang với Thiên Chúa.  Theo Thánh Phao-lô thì Thiên Chúa biết chúng ta từ thuở đời đời; khi được tạo thành, Ngài đã gọi tên ta.  Theo nghĩa Thánh Kinh, Thiên Chúa biết và cưu mang chúng ta bằng cả tấm lòng, như người mẹ biết con mình khi cưu mang con trong dạ.

Kế hoạch của Thiên Chúa là Ngài muốn chúng ta trở nên giống hình ảnh của Chúa Giê-su, Con Ngài.  Nói cách khác, Thiên Chúa muốn chúng ta là một thành viên trong gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa.  Đây là một đại ân huệ Thiên Chúa dành cho chúng ta!  Ngài tạo dựng chúng ta giống hình ảnh của Con Chúa, nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giê-su, nhất là mang trên mình danh hiệu là Ki-tô hữu “Quả thật, anh em biết Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cr 8,9).

Nếu chúng ta nghe và đáp lời Chúa, Thiên Chúa sẽ biện hộ cho chúng ta, Ngài sẽ làm cho chúng ta trở nên thánh thiện, hoan lạc, hạnh phúc và chiếu tỏa rạng ngời vinh quang Chúa, phù hợp với Thiên Chúa.  Vì kế hoạch của Thiên Chúa là “Những kẻ Chúa đã biết trước, thì Người đã tiền định cho họ nên giống hình ảnh Con Người, để Ngài trở nên trưởng tử giữa đoàn anh em đông đúc.  Những ai Người đã tiền định, thì Người cũng kêu gọi; những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính; mà những ai Người đã làm cho nên công chính, thì Người cũng cho họ được vinh quang” (Rm 8, 29-30).

Trong khi đó, kế hoạch của con người, là đi tìm hạnh phúc.  Việc tìm kiếm này đòi hỏi phải phân định. Như chiếc lưới kéo lên tất cả các loại cá, nên hạnh phúc cũng có tất cả các loại.  Có những thứ hạnh phúc đích thực, có những thứ hạnh phúc rẻ tiền, hão huyền, trống rỗng và giả dối.  Vua Solomon đã xin Chúa ban cho một “tâm hồn khôn ngoan để đoán xét dân Chúa, và phân biệt lành dữ” (1V 3, 9).  Để có hạnh phúc thật, cần phải cầu xin Chúa như Salomon: cho được ơn làm chủ bản thân, biết phân biệt tốt xấu, chọn lựa điều tốt, bỏ điều xấu.  Vì tất cả những gì chúng ta hài lòng chưa hẳn đã là tốt.  Có ơn phân định, để nhận ra tiếng Chúa, làm theo kế hoạch của Chúa.

Bằng mọi giá để có được Nước Trời

Với đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su dùng ba dụ ngôn: Kho báu được chôn giấu, dụ ngôn viên ngọc quý và dụ ngôn lưới thả xuống biển để phác họa về Nước Trời.  Kho báu được chôn giấu và viên ngọc quý là hai thực tại quý giá nên cả hai người này đều bán tất cả để mua cho bằng được điều họ cho là quý nhất.  Điều căn bản của đời sống Ki-tô hữu cũng thế, để có được Nước Trời chúng ta đánh đổi vì Nước Trời.

Người tìm thấy kho báu và thương gia đều bán mọi thứ họ có.  Như thế, chúng ta hiểu rằng việc xây dựng Nước Trời không chỉ đòi hỏi ân sủng của Thiên Chúa, mà còn cả sự sẵn sàng chủ động của con người.  Cử chỉ của người tìm thấy kho báu và thương gia, đánh đổi hết tài sản để mua điều quý giá hơn, là những cử chỉ quyết đoán.  Cả hai người này đều tràn đầy niềm vui vì họ đã tìm thấy kho báu.  Đây là bài học quý giá cho chúng ta.  Để có được Nước Trời, chúng ta từ bỏ gánh nặng của sự an toàn thế gian vốn làm cản trở chúng ta tìm kiếm và xây dựng Nước Trời.

Ai cũng biết, trong thời đại hôm nay, cuộc sống của một số người có thể trở nên tầm thường và buồn tẻ, bởi họ có thể đã không tìm kiếm một kho báu thực sự là Chúa Giê-su.  Họ hài lòng với những thứ hấp dẫn nhưng phù du, với những ánh sáng lung linh nhưng hư ảo vì sau đó chúng đi vào bóng tối.  Thay vào đó, ánh sáng của Nước Trời không phải là pháo hoa, mà là ánh sáng: pháo hoa chỉ tồn tại trong chốc lát, còn ánh sáng của Nước Trời thì đồng hành suốt đời.

Nước Trời thì trái ngược với những điều thừa thãi mà thế gian bày ra, nó trái ngược với cuộc sống tầm thường: đó là một kho báu làm mới lại cuộc sống mỗi ngày và mở ra những chân trời rộng lớn hơn.

Chúa Giê-su, Ðấng là kho báu ẩn giấu và là viên ngọc quý, Người luôn khơi dậy niềm vui khám phá một ý nghĩa cho cuộc sống của con người.  Niềm vui này thôi thúc người ta đánh đổi tất cả, phiêu lưu dấn thân để tìm kiếm.

Chúng ta hãy xin với Mẹ Ma-ri-a, ngai tòa Đấng Khôn Ngoan giúp chúng ta tìm kiếm kho báu của Nước Trời mỗi ngày, để qua lời nói và cử chỉ của chúng ta, tình yêu mà Thiên Chúa ban cho chúng ta qua Chúa Giê-su có thể được thể hiện.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ