CHA WILFRID STINISSEN GIẢI THÍCH VỀ ĐÊM TỐI THIÊNG LIÊNG

Mỗi tháng trong Năm Cầu Nguyện 2024 này, thầy Baptiste de l’Assomption giúp chúng ta khám phá thông điệp về một nhân vật tâm linh ít được biết đến của thế kỷ 20.  Thầy bắt đầu với cha Wilfrid Stinissen, dòng Cát Minh, một chuyên gia lớn về Thánh Gioan Thánh Giá, người cho chúng ta thấy “đêm tối” là một giai đoạn của đời sống thiêng liêng chuẩn bị cho sự kết hợp tình yêu với Thiên Chúa ở trung tâm tâm hồn.

“Điều đó sẽ mang lại cho bạn bớt ở luyện ngục hơn!”  Đây là cách diễn đạt mà đôi khi chúng ta nghe thấy trên môi miệng các Kitô hữu!  Chúng ta có thể giải thích nó theo cách chủ bại: “Trong mọi trường hợp, đau khổ là cần thiết… dù phải có nó, nhưng càng phải sống với nó ngay bây giờ!”  Chúng ta cũng có thể hiểu nó như là một tin tuyệt vời!  Người ta có thể sống, từ trái đất này, sự chuẩn bị tuyệt vời này cho cuộc sống trên thiên đàng và thấy trước, ngay cả trước khi chết, những niềm vui trên Thiên Đàng!  Đây là một trong những học thuyết truyền thống nhất được tìm thấy trong học thuyết về đêm tối của Thánh Gioan Thánh Giá.  Theo ngài, đêm tối không gì khác hơn là một luyện ngục được trải nghiệm trên trái đất, vốn chuẩn bị cho sự kết hợp tình yêu với Thiên Chúa ở trung tâm tâm hồn.  Nhưng thực sự ngài đang nói về điều gì?  Hãy để cha Wilfrid Stinissen (1927-2013) nói cho chúng ta về điều này: vị tu sĩ Cát Minh người Bỉ này đã trở thành bề trên tu viện của mình ở Thụy Điển và được công nhận là một trong những chuyên gia giỏi nhất về Thánh Gioan Thánh Giá vào cuối thế kỷ 20.

Vào thời điểm nào của đời sống thiêng liêng?

Nơi các Kitô hữu, có nhiều giai đoạn của đời sống thiêng liêng: giai đoạn mà chúng ta bắt đầu bước theo Chúa Kitô một cách cương quyết hơn; giai đoạn mà cuộc sống với Ngài trở nên giống như hơi thở tự nhiên.  Nhưng cuộc hành trình vẫn chưa kết thúc.  Như cha Wilfrid giải thích: “Chúng ta bị cám dỗ để tin – đặc biệt khi đọc các sách thần bí – rằng chúng ta đã tìm ra con đường, và bây giờ vấn đề là phải tiếp tục con đường này cho đến hết đời, sự nghỉ ngơi sẽ trở nên sâu xa hơn bao giờ hết, sự thỏa mãn càng lớn hơn” (La nuit comme le jour illumine, trang 18).

Trên thực tế, mọi thứ chỉ mới bắt đầu.  Sau khi đã trải nghiệm đủ lâu một cuộc sống gần gũi với Thiên Chúa, cảm nghiệm được sự hiện diện của Ngài ở trung tâm tâm hồn, giờ đây linh hồn đã sẵn sàng, nó đủ gắn bó với ý muốn của Ngài, để trải qua một cảm nghiệm đau đớn hơn, một cuộc thanh tẩy sâu sắc hơn vốn có hai khía cạnh, “khía cạnh luân lý và khía cạnh hữu thể học” (tr. 19).

Sự thanh tẩy luân lý

Khía cạnh luân lý của đêm tối gắn liền với sự thánh thiện quá vĩ đại của Thiên Chúa.  Khi Chúa đến gần một linh hồn, ánh sáng rất tinh tuyền của Ngài làm nổi bật những vùng tối tăm ẩn giấu nhất.  Lúc đó, linh hồn trải qua một trải nghiệm khó có thể chịu đựng được.  Tội lỗi và nỗi khốn cùng của nó được đưa ra ánh sáng, không phải để nó tuyệt vọng, nhưng để nó hiến thân, với sự nhỏ bé và yếu đuối của mình, cho ngọn lửa thiêu đốt của Lòng Thương Xót của Chúa.  Cha Wilfrid nói: “Điều hết sức quan trọng là phải hiểu rằng nỗi đau khổ trong đêm tối không phải do sự vắng mặt của Chúa gây ra.  Ngược lại, chính sự hiện diện của Thiên Chúa – một sự hiện diện theo một cách nào đó quá mãnh liệt và vượt quá khả năng của linh hồn – là nguyên nhân của mọi nỗi buồn của đêm tối.  Thánh Gioan Thánh Giá không ngừng lặp lại rằng đêm tối xuất phát từ tình yêu “quá vĩ đại” của Thiên Chúa” (tr. 20).

Sự biến đổi hữu thể học

Nhưng đêm tối không chỉ là “sự thanh lọc.”  Nó cũng là một “sự biến đổi” để những lời của Thánh Phaolô được thể hiện trong linh hồn: “Với Chúa Kitô, tôi bị đóng đinh.  Không phải là tôi sống nữa mà là Chúa Kitô sống trong tôi” (Ga 2,19-20).  Người nào đã nhìn thế giới và các sinh vật theo cách của con người, giờ đây sẽ nhìn chúng bằng con mắt của Chúa.  “Hoa hồng” không còn là một loài cây kỳ diệu nói với họ về vẻ đẹp của Thiên Chúa nữa: nó trở thành một lời của Chúa Cha mặc khải cho họ tất cả vẻ đẹp của Lời Ngài, trong Người Ngài đã tạo dựng nên mọi sự.  Họ không còn yêu thương anh em mình bằng sức lực con người nữa, nhưng bằng tình yêu của chính Chúa Thánh Thần.  Không còn là họ phải “chịu đựng” một đồng nghiệp khó quản lý: chính Chúa Giêsu đã yêu người đó qua họ, bằng chính Trái Tim của Người.  Nhưng trước khi đạt được trạng thái hạnh phúc này, cần phải ưng thuận trải qua một quá trình chuyển đổi đau đớn:

Sức mạnh của linh hồn không ngay lập tức chấp nhận rằng họ không còn có thể hành động theo cách thông thường nữa.  Phải mất thời gian trước khi họ hoàn toàn buông mình cho Thiên Chúa và học cách lắng nghe những tín hiệu đến từ bên trong, thay vì chiếm lấy đối tượng của họ một cách tàn nhẫn.  Phải mất thời gian trước khi móng vuốt phát triển thành những an-ten nhạy cảm.  Trong khi chờ đợi sự biến đổi này, chúng ta lơ lửng giữa trời và đất (NO II 6, 5).  Chúng tôi không còn có thể hành động như trước nữa, chúng tôi cảm nghiệm sự hoàn toàn bất lực của mình” (tr. 23).

Bằng lòng đi vào mầu nhiệm thập giá

Tóm lại: do đó rất có thể sống “luyện ngục” này trên trái đất.  Đó là sự triển nở của tâm hồn, vốn cho phép nó sống từ trần thế này trong niềm vui của cuộc sống thiên đường.  Nhưng để làm được điều này, cần phải ưng thuận đi sâu vào mầu nhiệm Thập Giá một cách trọn vẹn.  “Luyện ngục” này thường xảy ra nơi những người Kitô hữu sau một thời gian dài thân mật với Thiên Chúa.  Nó mang hình thức một cuộc thanh tẩy những cội rễ sâu xa nhất của tội lỗi và một sự biến đổi tâm hồn.  Mặc dù trải nghiệm đó rất đau đớn – nó có thể có hàng ngàn hình thức! – nhưng đây có lẽ là ân sủng đẹp nhất mà Thiên Chúa có thể ban cho con người trên trái đất này.  Đêm tối này, như Thánh Gioan Thánh Giá đã nói, là một đêm tối thực sự hạnh phúc vì nó dẫn chúng ta đến sự kết hợp sâu sắc với Đấng đã yêu thương chúng ta biết bao.

Baptiste de l’Assomption o.c.d. – Tý Linh Chuyển ngữ từ: fr.aleteia.org (20.01.2024)
Nguồn: 
xuanbichvietnam.net

Ở HIỀN GẶP LÀNH

Cha ông ta vẫn thường dạy con cái: “Ở hiền gặp lành.”  Người ăn ở hiền lành, người sống có nhân, có nghĩa ắt trời sẽ ban cho nhiều phúc lộc dư tràn.  Ngược lại, nếu sống ác nhân ác đức, trời sẽ quả báo những tai họa khó lường.

Thế nhưng, hiền lành có phải là “tĩnh tọa như Bụt?”  Ai muốn làm gì thì làm hay không?  Thưa không, mà hiền lành ở đây là biết sống đúng với vị trí của mình.  Là biết sống đúng với phẩm giá của mình.  Là biết tôn trọng phẩm giá của mình.  Một con người có phẩm giá cao đẹp là một con người có lý trí đủ để suy biết điều hay lẽ phải, có ý chí vững mạnh để không bị sự gian ác làm hại bản thân và tha nhân, có sự chọn lựa đúng đắn và chuẩn mực về cái hay, cái đẹp, cái phải, cái trái.  Là người phải biết phân biệt phải quấy.  Biết nói không với điều ác.  Không thỏa hiệp với gian tà.  Vì “im lặng là đồng lõa” và hùa theo là “đồng phạm.”  Người không có trí khôn, làm theo lời người khác thì không có tội, nhưng người hiền lành không thể làm chuyện ác, chuyện lừa dối để rồi đổ lỗi cho hoàn cảnh.  Nếu đổ lỗi cho hoàn cảnh thì trên đời này ai phạm tội cũng vì hoàn cảnh mà ra.  “Túng quá hóa liều,” “Nóng mất khôn,” “Tức nước vỡ bờ.”  Trong một phân tích về lý do phạm tội của các tù nhân thì có 80% tội nhân cho rằng mình phạm tội là do hoàn cảnh.  Như vậy, sự hiền lành là một thái độ sống dung hoà với mọi người.  Sự hiền lành sẽ giúp cho con người hành xử theo tình, theo lý và theo lẽ phải nhưng với một thái độ ôn hòa với đầy lòng bác ái bao dung.

Hôm nay Chúa nói: “hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.”  Sự hiền lành của Chúa không phải là đi tìm sự thỏa hiệp với thế gian.  Chúa không im lặng trước sự dữ.  Chúa đã từng lên án gắt gao thói giả hình và gian tà của những kẻ biệt phái.  Chúa đã từng xua đuổi con buôn ra khỏi đền thờ.  Chính vì những điều Chúa làm, những lời Chúa nói đã ảnh hưởng đến miếng cơm manh áo, đến địa vị, chỗ đứng của các người biệt phái mà người ta tìm cách giết Chúa.  Sự hiền lành của Chúa là vì công lý mà chịu nhiều thiệt thòi không kháng cự.  Vì dám nói sự thật mà phải chết nhục nhã trên cây thập giá, nhưng Ngài không oán hận, và còn xin cùng Chúa Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.  Chúa đấu tranh nhưng bất bạo động, vì “ai dùng gươm sẽ chết vì gươm,” “oán báo oán, oán chập chùng” và còn tha thứ cho sự xúc phạm của tha nhân không chỉ “7 lần mà là 70 lần bảy.”

Trong tám mối phúc, Chúa đã chúc phúc những cho ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nườc Trời là của họ.  Như thế hiền lành ở đây là sống thật và làm chứng cho sự thật.  Không nhượng bộ, không thỏa hiệp với dối gian.  Cho dù vì lẽ công chính mà mình bị bách hại, bị thiệt thòi vẫn chấp nhận, vì phần thưởng của chúng ta là Nước trời.

Sự hiền lành của Chúa còn hệ tại ở sự cảm thông với lỗi lầm của người khác.  Không thành kiến đối với những người bị xã hội ruồng bỏ.  Ngài yêu thương họ.  Ngài đến để đối thoại với họ.  Ngài mở cho họ một con đường mới.  Ngài giúp họ làm lại cuộc đời như Madalena, như Giakêu, hay như người thiếu phụ bên bờ giếng Giacóp.

Sự hiền lành thường đi song song với khiêm tốn.  Hiền lành để tha nhân dễ gần chúng ta và khiêm tốn để ta dễ hòa đồng với tha nhân.  Tuy hai nhưng là một mục đích.  Tạo cơ hội cho chúng ta đến với tha nhân và tha nhân đến với ta.  Kẻ kiêu căng thường phân loại để chơi.  Người khiêm nhường thì đối xử mọi người như nhau.  Người hiền lành ai cũng muốn tới gần.  Kẻ gian ác ai cũng chạy xa.  Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường nên ai cũng có thể tiếp xúc với Ngài, và Ngài cũng có thể gặp gỡ trao đổi với mọi người.  Từ em bé đến người già.  Từ người giầu có đến kẻ hèn.  Từ người công chính đến tội lỗi.

Xin Chúa giúp chúng ta biết học nơi trái tim yêu thương của Chúa: “sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng.”  Ngài không ở trên cao nhưng tự hạ mặc lấy thân phận con người.  Ngài còn dạy chúng ta bài học khiêm tốn khi quỳ gối rửa chân cho các môn đệ.  Một cử chỉ khiêm tốn đến nỗi Phêrô đã bộc trực thốt lên: “Không đời nào Thầy lại rửa chân cho con sao?”  Đó là một sự tự hạ không ủy mị hay luồn cúi mà là bài giáo huấn sống động về tinh thần hy sinh phục vụ lẫn nhau.  Ngài đã dạy chúng ta hãy sống đúng với thân phận con người là lệ thuộc vào Chúa.  Ngài đã dạy chúng ta hãy hạ mình để sống hòa hợp với tha nhân.  Đừng tự cao tự đại để gạt Thiên Chúa ra bên ngoài như Adam – Evà năm xưa chỉ dẫn tới diệt vong.  Đừng tự cao tự đại đến nỗi đè bẹp người khác để mình được tôn vinh.  Đừng khinh bỉ người tội lỗi, bất hạnh nhưng yêu thương và tôn trọng họ.  Và trên hết, hãy mang lấy tâm hồn trẻ thơ để luôn đơn sơ và bé nhỏ trước mặt Chúa, trước mặt tha nhân.  Vì sự đơn sơ và bé nhỏ là dấu chỉ đặc thù của sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng.  Đây cũng là phương thế để chúng ta đón nhận mạc khải Nước Trời và đón nhận tình thương của Chúa tuôn đổ xuống trên cuộc đời chúng ta.  Amen.

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

PHỤC SINH TRONG THUYỀN

“Rồi Người trỗi dậy, ngăm đe gió và biển: biển liền lặng như tờ.”

“Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời!” – Thư Hipri.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay tiết lộ: Đấng “vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” lại ngủ trong một con thuyền giữa bão tố.  Chính qua đó, Matthêu kín đáo kể câu chuyện ‘phục sinh trong thuyền.’

Các môn đệ đánh thức Chúa Giêsu giữa cơn bão.  Nhưng Matthêu không viết đơn giản: “Ngài thức dậy.”  Ông dùng động từ Hy Lạp egertheis – “trỗi dậy,” một động từ sẽ ngân vang ở cuối Tin Mừng.  Matthêu cũng không giữ chi tiết “chiều đến” của Marcô, vì điều ông muốn nhấn mạnh không phải là thời điểm, nhưng là chính con người Chúa Giêsu.  Ông còn gọi cơn bão là seismos, “cơn địa chấn,” một từ sẽ trở lại dưới chân thập giá và ngôi mộ trống vào một buổi sớm khi trời còn tờ mờ.  Như vậy, ngay giữa cảnh biển động, Matthêu đã gieo một âm vang Phục Sinh.

Con thuyền từ rất sớm đã trở thành hình ảnh Hội Thánh.  Sự hiện diện của Chúa Giêsu không làm sóng gió biến mất; nhưng chính giữa bão, đức tin mong manh của các môn đệ mới được phơi bày.  Vậy mà Hội Thánh không chìm, không phải vì con thuyền vững chắc, cũng không vì các môn đệ chèo giỏi, nhưng vì Chủ thuyền vẫn ở đó.  Hoá ra, nền tảng của Hội Thánh không nằm ở sức mạnh con người, nhưng ở Đấng không bao giờ rời con thuyền của mình.  “Hãy biết rằng Đức Kitô luôn ở với bạn, cho đến tận thế.  Nếu Đức Kitô ở với tôi, tôi còn sợ gì?” – Gioan Kim Khẩu.

Có những cơn bão không nổi lên ngoài biển, nhưng âm thầm nổi lên trong lòng một dân đã quên công lý.  Amos đã nghe tiếng gầm của cơn bão ấy từ lâu: “Sư tử đã gầm lên: ai mà không sợ hãi?” – bài đọc một.  Điều Thiên Chúa dẹp yên không chỉ là sóng gió bên ngoài, mà còn là hỗn mang trong lòng người.  Con thuyền ấy cũng là con thuyền của giáo xứ, cộng đoàn, gia đình và mỗi người chúng ta.  Điều đáng sợ không phải sóng lớn, nhưng là khi chúng ta để nỗi sợ lèo lái đời mình.  Vì thế, chúng ta cần Đấng “vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” hướng dẫn.  Lời cầu của Thánh Vịnh trở nên rất thật: “Xin lấy đức công chính của Ngài mà hướng dẫn con!”

Anh Chị em,

Con thuyền rồi cũng cập bến, không phải vì biển đời hết bão, nhưng vì Đức Kitô đã đi trọn hành trình ấy trước.  Ngài đã đi qua thập giá để mở lối vào vinh quang Phục Sinh.  Vì thế, con thuyền của Hội Thánh và của mỗi người vẫn có thể tiếp tục hành trình.  Đức Lêô XIV nhắc rằng, cơn bão chưa phải là câu hỏi lớn nhất; câu hỏi lớn nhất vẫn là: “Người này là ai?”  Khi nhận ra Đấng đang ở trong thuyền là ai, nỗi sợ không còn cầm lái.  “Khi Đức Kitô bước vào thuyền, gió liền yên!” – Hilary of Poitiers.  Chính vì thế, ‘phục sinh trong thuyền’ không chỉ là câu chuyện của biển hồ Galilê, nhưng còn là niềm hy vọng của mọi con thuyền đang hướng về Nước Cha trên trời.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin gìn giữ Hội Thánh giữa biển đời; nâng đỡ chúng con trong mọi thử thách; và cho chúng con luôn nhận ra Chúa đang ở trong con thuyền của mình!”  Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 

MẤT KHÔNG PHẢI LÀ MẤT

“Ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được!”

“Chỉ điều gì được trao đi vì tình yêu mới thật sự thuộc về chúng ta!” – Hans Urs von Balthasar.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy một nghịch lý: có những điều càng nắm chặt càng vuột mất; nhưng càng dám hiến trao, chúng ta lại càng nhận lại nhiều hơn.  Điều được trao đi vì Đức Kitô không đi vào hư vô.  Tưởng là mất; thật ra, ‘mất không phải là mất’.

“Ai yêu cha mẹ hơn Thầy… Ai tìm giữ mạng sống mình…”. Thật ngạc nhiên khi Chúa Giêsu không đòi người môn đệ từ bỏ những điều xấu; Ngài đòi những điều tốt đẹp nhất của con người phải đứng sau Thiên Chúa.  Nghịch lý của Tin Mừng nằm ở đây: chúng ta không chỉ có thể mất Thiên Chúa vì những điều xấu, nhưng còn vì những điều tốt chiếm lấy chỗ chỉ dành cho Ngài.  Và khi một điều tốt chiếm chỗ Thiên Chúa, nó cũng bắt đầu chiếm luôn quyền quyết định mọi sự.  Như vậy, điều đáng sợ nhất không phải là mất một điều tốt, nhưng là mất một Thiên Chúa vì những điều tốt.  “Hãy đặt điều hàng đầu lên hàng đầu, và những điều thứ yếu sẽ được ban thêm; đặt điều thứ yếu lên hàng đầu, và chúng ta sẽ mất cả điều hàng đầu lẫn điều thứ yếu!” – C. S. Lewis.

Chúa Giêsu không nói: ai mất mạng sống mình vì Thầy sẽ được trả lại nguyên vẹn.  Ngài nói: “sẽ tìm thấy được.”  Động từ Hy Lạp heurēsei không chỉ là tìm lại điều đã mất, nhưng còn là khám phá một sự sống mà trước đó họ chưa từng biết.  Vì thế, người môn đệ không bước vào con đường từ bỏ để nghèo đi, nhưng để trở nên phong nhiêu hơn.  Điều được trao đi vì Đức Kitô không khép lại một cuộc đời; nó mở ra một chân trời mới.  Tưởng là mất; thật ra, ‘mất không phải là mất.’

Hai minh hoạ thật đẹp cho nghịch lý ấy: Người phụ nữ Sunêm – bài đọc một – chỉ dành cho người của Chúa một căn phòng nhỏ, nhưng lại nhận được một người con; Phaolô còn đi xa hơn: ai cùng chết với Đức Kitô sẽ cùng sống “một đời sống mới” với Ngài – bài đọc hai.  Đó là một quy luật của đời sống thiêng liêng: điều được trao đi vì Chúa không biến mất; nó được biến đổi và trở về trong một sự sống lớn hơn và cao cả hơn. Có lẽ ai trong chúng ta cũng đang giữ rất chặt một điều gì đó: một tương quan, một dự tính, một cái tôi; thế nhưng, chỉ khi dám buông, chúng ta mới nhận ra bàn tay Chúa đang mở ra cho mình một sự sống lớn hơn.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã mất tất cả để không mất một ai.  Trên thập giá, xem ra Ngài đã mất tất cả; nhưng chính khi trao hiến mạng sống, Ngài lại trở thành nguồn sống cho muôn người.  Phục sinh là lời xác nhận rằng: nơi Thiên Chúa, không có tình yêu nào được trao đi mà phải mất mát.  Theo Chúa Kitô là dám bước vào nghịch lý ấy.  Bởi vậy, những ai dám trao đi như thế sẽ không ngừng hát lên: “Lạy Chúa, tình thương Chúa, đời đời con ca tụng!”- Thánh Vịnh đáp ca. “Tình yêu là hình thức duy nhất của sự sở hữu không dẫn đến nghèo đi!” – Gabriel Marcel.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giải thoát con khỏi nỗi sợ mất mát; dạy con biết quảng đại hiến trao; và cho con xác tín rằng, nơi Ngài, mất không phải là mất!”  Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

BƯỚC THEO HAY CHỈ THÁN PHỤC

Chủ đề: “Khi thánh giá chúng ta trở nên quá nặng, chúng ta nên bắt chước Chúa Giêsu là chấp nhận cho kẻ khác giúp đỡ mình.”

Clarence Jordan là người từng phát hành bản dịch Tân Ước của Cotton Patch vào hai thập niên 1950 và 1960.  Suốt thời kỳ này ông còn tham dự vào công việc giao hoà giữa các chủng tộc ở vùng Georgia.

Ðây không phải là một công việc có nhiều người làm ở miền Nam vào những năm 1960.  Sự căng thẳng giữa dân da đen và dân da trắng đang lên cao.  Người ta ngồi ăn vạ trong các nhà hàng, xuống đường ở các phố.  Cảnh sát phải dùng chó và vòi phun lửa để giải tán đám dân chống đối dân da đen và ủng hộ dân da trắng.  Chẳng bao lâu công việc của Clarence cũng bị chỉ trích gắt gao.  Ông đến với em trai mình là Robert để xin sự giúp đỡ của luật pháp.  Ông em này hiện là luật sư cũng là một chính trị gia rất sáng gía ở Georgia.  Clarence sững sờ khi thấy em ông từ chối không giúp đỡ ông.

Robert Mc Clendon, người kể lại câu chuyện này trong cuốn “Biography As theology” (tiểu sử được viết như thần học) nói rằng: điều khiến cho Clarence sửng sốt hơn hết là cả hai anh em ông đã cùng nhau dâng hiến cuộc đời cho Chúa Giêsu, thế mà em ông lại từ chối việc ấy.  Lập tức Clarence trách em về việc đã từng thề nguyền việc ấy.  Robert tự bào chữa: “Anh Clarence ơi!  Em theo Chúa Giêsu đến một mức độ nào đó thôi.  Em chỉ theo Người đến thập giá chứ không theo Người lên trên thập giá đâu!  Em không thích bị đóng đinh đâu.”  Clarence nhìn thẳng vào người em và nói: “Robert, chú không phải là người theo Chúa Giêsu!  Chú chỉ thán phục Người mà thôi!”

Nhận xét của Clarence khiến Robert phải xét lại tâm hồn mình theo lời Chúa Giêsu trong bài phúc âm hôm nay: “Ai không vác thập giá mình và theo Ta, người ấy không xứng đáng là môn đệ Ta.

Tất cả chúng ta đều có những lúc suy nghĩ giống Robert.  Trong đời sống chúng ta, việc ta dâng mình cho Chúa Giêsu nhiều khi bị thử thách đến mức muốn bỏ Chúa luôn.  Nhiều khi trong cuộc đời chúng ta ấn tượng mạnh mẽ lời của Chúa Giêsu trong bài phúc âm hôm nay thực sự có sức mạnh hăm doạ.  Vào lúc đó vì sự khó khăn hoặc bi đát nào đó vùi dập, chúng ta bị cám dỗ từ bỏ thánh giá và không vác thánh giá theo Chúa Giêsu nữa, chúng ta bị cám dỗ rồi bỏ Chúa Giêsu và không bước theo Người nữa.

Chẳng hạn sau khi người tình mà mình yêu thương khôn tả ruồng bỏ mình, thì đối với một thiếu phụ quả là khó mà vực nổi thánh giá lên, quả là khó mà cúi xuống vác thập giá lên tiếp tục bước theo Chúa.  Hay như cha mẹ sau khi đã bị cưỡng bức đưa vào viện dưỡng lão.  Cũng như đối với một bà vợ thật khó mà vực nổi thập giá lên để tiếp tục vác theo Chúa Giêsu khi chồng bà đêm nào cũng bỏ bê bà và đám con.  Và một thanh niên bị một gã say rượu xô đẩy phần đời còn lại của mình vào chiếc xe lăn thì đối với anh quả thực là khó mà vực nổi thập giá lên để tiếp tục bước theo Chúa Giêsu.

Những người như trên sẽ làm gì khi mà cây thập giá thình lình đè xuống trên họ một sức nặng khiến họ dường như vác không nổi?  Chúng ta sẽ làm gì khi cây thập giá thình lình đè xuống trên chúng ta một sức nặng khiến chúng ta dường như không thể nào vác nổi nữa?

Khi cây thánh giá nặng quá mức như thế ụp xuống đời mình, chúng ta nên nhớ lại rằng Chúa Giêsu đã từng có lúc cảm thấy thánh giá của mình nặng quá sức.  Lúc đó, Người đã chấp nhận để cho người lạ là Simon Cyrênê giúp đỡ.

Xin anh chị em hãy suy nghĩ về điều ấy!

Ðường đường là Con Thiên Chúa, là đấng cứu độ trần gian, thế mà Chúa Giêsu đành thú nhận với chính mình và với thế gian rằng Người không đủ sức vác nổi thập giá của mình nữa.  Nếu Con Thiên Chúa còn có đủ khiêm nhượng để làm điều đó thì chắc chắn chúng ta cũng sẽ phải đủ khiêm nhượng để theo gương Người.  Khi thập giá trong đời trở nên nặng quá sức vác của mình.  Chúng ta phải kêu cầu sự giúp đỡ giống như Chúa Giêsu đã từng làm.  Nhưng chúng ta sẽ kêu cầu ai giúp đây?

Trước hết và trên hết, chúng ta kêu cầu chính Chúa Giêsu.  Chúa Giêsu đã từng biết thế nào là lảo đảo và té sấp xuống đất dưới một cây thánh giá.  Người cũng biết rõ cảm tưởng khi phải thú nhận rằng cây thập giá đã trở nên nặng quá không thể vác nổi một mình nữa.  Người đã biết rõ cảm tưởng khi phải khiêm nhường chấp nhận sự giúp đỡ của kẻ khác.

Bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta tự vấn mình câu hỏi khiêm nhượng sau: Có phải đã có những lúc trong đời chúng ta gần như không thể vác nổi thập giá mình để tiếp tục bước theo Chúa Giêsu nữa không? – Nếu có thì bài phúc âm hôm nay quả là đưa ra cho chúng ta một thách đố.  Nó thách đố chúng ta bắt chứơc Chúa Giêsu khi thánh giá của Người nặng qúa không vác nổi nữa.  Nó thách đố chúng ta làm giống như Clarence Jordan là kêu cầu sự giúp đỡ của người khác, nó thách đố chúng ta cầu cứu kẻ khác giúp đỡ.

Cuối cùng, câu chuyện Simon Cyrênê giúp đỡ Chúa Giêsu vác thập giá như thế nào, cũng như câu chuyện Robert Jordan đã từ chối giúp đỡ anh mình lúc cần thiết ra sao, khiến chúng ta phải tự vấn mình xem: “Chúng ta trả lời thế nào với những kẻ đến yêu cầu chúng ta giúp đỡ?  Chúng ta có từ chối họ không?  Chúng ta giúp đỡ họ một cách miễn cưỡng với lời càu nhàu không?  Hay là chúng ta nồng nàn tiếp đón vui vẻ giúp đỡ họ?”

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện sau đây, nó tóm tắt được cả lời mời gọi lẫn thách đố chứa đựng trong bài Phúc âm hôm nay:

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con sức mạnh của Ngài vì đôi khi sự việc quá cam go khiến chúng con sẵn sàng bỏ cuộc.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con tình yêu của Ngài, bởi vì đôi khi bị thiên hạ ruồng rẫy, chúng con bị cám dỗ căm ghét họ.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con đôi mắt Ngài bởi vì đôi khi cuộc đời trở nên tối tăm và chúng con lạc mất lối đi.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con lòng can đảm của Ngài, bởi vì khi thường chúng con hay bị áp lực khiến chúng con khó làm được điều gì đúng đắn.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con chính Ngài bởi vì tâm hồn chúng con được tạo nên cho Ngài và chúng con có thể được an nghỉ trong Ngài. Amen.”

Lm. Mark Link, S.J.

BỐ NUÔI

Ngày cưới của tôi và em đã được ấn định, tôi đón chờ ngày 08/05/2016 sắp tới như một món quà của cuộc đời cho em, cho tôi và cho cả người cha già của tôi nữa.  Vậy mà chỉ trong phút chốc, giấc mơ ấy tan tành, nó phá vỡ niềm tin của tôi, hạnh phúc của tôi nhưng đau khổ hơn thế, nó có thể biến tôi thành một người con bất hiếu mà có nằm mơ, cả cuộc đời này tôi cũng không dám nghĩ mình sẽ có ngày bất hiếu với cha…….

Em là người biết rõ hoàn cảnh của tôi.  Tôi mồ côi cha từ bé, mẹ tôi góa chồng năm mẹ 26 tuổi, mẹ có hai đứa con trai, đứa lớn 5 tuổi, đứa bé vừa mới 1 tuổi.  Trong làng ngoài xóm nói mẹ tôi số sát chồng, ông bà nội không nhìn nhận cháu.  Mẹ tôi một mình nuôi hai anh em tôi trong đớn đau và tủi nhục.  Trong làng có một người đàn ông tuổi đã ngoài 30 nhưng do di chứng của bệnh quai bị nên chẳng lấy vợ.  Người đàn ông ấy bất chấp tất cả, xin được cưu mang ba mẹ con tôi dù gia đình từ bỏ, làng xóm chê cười và bạn bè dè bỉu.  Người đàn ông đó chính là bố tôi.  Bố không sợ số phận, không sợ gì số sát phu của mẹ tôi mà đón nhận chúng tôi như chính các con do bố đứt ruột sinh thành ……

Ba năm sau ngày bố tôi lấy mẹ, mẹ tôi mắc bệnh hiểm nghèo và qua đời.  Chôn vùi nỗi tiếc thương vợ, bố vẫn nói với mọi người rằng hai anh em tôi chính là món quà quí giá mà mẹ để lại.

Từ ngày đó, nhà chỉ có ba bố con nhưng chúng tôi chưa bao giờ phải nhịn đói, cũng chưa từng nghỉ học dù chỉ một buổi.  Bố nhận tất cả công việc có thể (đóng gạch ba banh thuê, làm củ sứ điện, làm phụ hồ…) để nuôi chúng tôi khôn lớn.  Nhiều đêm thức giấc, hình ảnh bố tôi ngồi bên ngọn đèn khâu cặp sách cho anh em tôi mãi không bao giờ quên.

Có lần, đoàn thợ nhận được công trình lớn nhưng phải xa nhà một tháng, bố tôi muốn đi lắm để kiếm được nhiều tiền, nhưng vì lo cho anh em chúng tôi ở nhà nên bố lại từ chối chỉ để ở cạnh các con.  Sau lần đấy, họ không nhận bố tôi làm thợ phụ nữa, bố lại chuyển sang nghề bốc vác thuê, cứ ai gọi là đi, bất kể ngày hay đêm, chỉ mong đủ tiền cho các con ăn học.

Từ lúc tôi nhận thức được, tôi chưa thấy bố tôi khóc bao giờ.  Lần đầu tiên tôi thấy bố tôi khóc là ngày tôi nhận giấy báo trúng tuyển Đại học Kinh tế Quốc dân (khóa 46).  Ngày hôm đó, bố tôi cầm tờ giấy báo trúng tuyển đại học của tôi mà hai tay run rẩy, bố để lên bàn thờ mẹ thắp hương rồi cứ thế mà khóc.

Tôi và em trai chỉ biết nhìn bố mà không nói nên lời.

Suốt những năm đại học, bố chưa bao giờ chậm gửi tiền đóng học phí cho tôi dù chỉ một ngày, mặc tôi nói tôi đi làm thêm, mặc tôi có học bổng bố vẫn gửi tiền đều đặn cho tôi và căn dặn tôi ăn uống đầy đủ, đừng làm thêm nữa, một mình bố làm là đủ rồi.  Năm hai đại học tôi bị tai nạn nặng và phải nhập viện gần một tháng.  Cả tháng đó, bố mang em trai lên Hà Nội chăm tôi, tôi bảo sao bố không để em ở nhà cho nó đi học thì bố bảo đi đâu bố cũng mang các con theo vì bố không yên tâm giao các con cho bất cứ ai.  Gần một tháng đó, ngày bố ra cầu Long Biên chờ người gọi việc bốc vác là làm, tối lại chăm sóc tôi trong viện.  Những ngày tháng đó, cả đời tôi không bao giờ quên…

Tôi ra trường đi làm cũng chưa mua được gì cho bố, chỉ vài bộ quần áo mà mỗi lần mua, bố lại dỗi lên dỗi xuống kêu tốn tiền.  Tôi cũng mới sửa được cái nhà, cũng nuôi được em trai đại học.  Bố vẫn luôn thế, vẫn bắt tôi dành tiền để cưới vợ, để mua nhà ở Hà Nội, Bố bảo bố vẫn làm được, con đừng lo.

Hôm nhà tôi sang nói chuyện người lớn với nhà em, tôi dẫn bố đi mua một bộ vest.  Bố bảo mua đắt lắm mà bố chỉ mặc có ba ngày (ngày dạm ngõ, ăn hỏi và ngày cưới).  Con thuê hay mượn cho bố cũng được, tiền đó còn để lo cỗ bàn.  Tôi ứa nước mắt, ép mãi bố mới chịu thử áo.

Hôm nay tôi và em đi thử áo cưới.  Em vẫn đang thử đồ.  Điện thoại của em có tin nhắn Zalo của người bạn thân của em.  Tôi nghĩ cô ấy gửi lời chúc mừng nên mở ra xem.  Tôi không tin vào mắt mình khi nhìn đoạn chat giữa em và bạn ấy.  Em nói sao?  Em nói dù lấy tôi, em vẫn không muốn ở với bố tôi.  Em bảo rằng em không muốn chăm bố chồng hờ.  Em bảo với bạn rằng : “Ổng có đẻ ra chồng tao đâu mà tao phải chăm?  Cưới rồi cứ để ông ấy ở quê với thằng em…”  Còn nhiều, nhiều nữa mà tôi không thể đọc vì mắt cứ nhòe đi…

Em từng nói sẽ chăm bố tôi, yêu thương bố tôi khi chúng tôi là vợ chồng, vậy bây giờ tôi nên tin lời em nói với tôi hay tin vào đoạn chat giữa em với bạn?  Em có thể yêu tôi ít đi nhưng thương bố tôi được không?  Người bố đã mang anh em tôi đến cuộc đời này.  Cho em một người chồng mà em vẫn ngày ngày nói yêu thương.

Ngày cưới đã định, bố tôi vui mừng đi mời khắp xóm làng.  Bố tự hào về em, người con dâu có học thức.  Còn tôi, tôi ngồi đây trăn trở, khổ đau.  Liệu tôi có làm em thay đổi được không?  Liệu em có sẵn lòng thay đổi để thương yêu Bố tôi không?  Tôi sợ lắm một tình yêu ích kỷ, chỉ nghĩ cho bản thân.  Tôi vốn chỉ quen với tình yêu cho đi mà không bao giờ biết nhận lại của bố mà thôi.

Gửi anh trai!

Hôm qua tình cờ đứa bạn cho em đọc những lời tâm sự của anh trên group, em đã nhận ra ngay đó là anh của em.  Nước mắt em đã rơi.  Em không rơi nước mắt vì anh mà vì bố của chúng ta anh à.

Khi anh viết lên những dòng tâm sự ấy, em hiểu anh đã phân vân nhiều lắm.  Để em kể anh nghe, nghe về bố của chúng ta những ngày anh vắng nhà, còn quyết định như thế nào thì tùy anh định liệu, em không dám cản ngăn.

Ngày anh lên trường nhập học, em và bố lên Hà Nội cùng anh, anh còn nhớ chứ.  Lúc trở về, nhà Nội (Nội ruột gồm hai ông bà và hai chú) sang bảo Bố: “Thằng H có phải là con ông đâu mà ông đi khoe khắp đầu làng cuối xóm, nó đậu đại học là do gen nhà tao thông minh, chứ gen nhà mày thì chỉ có đi làm cửu vạn mà thôi.”  Hôm đó em đã lao vào ẩu đả với hai chú vì dám xúc phạm đến bố.  Em cứ lao vào vừa khóc vừa quơ tay đấm đá liên hồi.  Em không ý thức được việc em làm, em chỉ thấy đau vì họ sỉ nhục bố em.  Bố đã lôi em ra, giữ chặt tay em và xin lỗi nhà nội.  Bố hứa sẽ giữ lời ăn tiếng nói.  Đêm đó bố ngồi trầm ngâm cả đêm không ngủ.  Sáng hôm sau, bố bắt em quỳ gối và vụt em ba roi (dù lúc đó em đã lớp 9).  Bố nói dù có như thế nào cũng không được hỗn hào với nhà nội ruột…

Sau lần đó, có ai hỏi về anh mắt bố cũng long lanh, khoe anh thông minh giống bố ruột chứ người như bố chỉ biết lao động thôi.  Suốt những năm anh học đại học, chưa bao giờ bố chậm gửi tiền cho anh, nhưng cũng chưa bao giờ bố biết tới ăn sáng, anh biết không?  Nồi cháo đậu đen hôm trước ăn không hết, hôm sau bố ăn qua quít rồi đi làm.  Bố hay bảo người Trung Quốc sáng họ thường ăn cháo buổi sáng mới thọ.  Bố muốn sống lâu để chăm sóc tụi bay.  Em chưa bao giờ nhịn ăn hoặc ăn cháo sáng dù chỉ nắm xôi hay bát mì.  Có lần anh gọi về bảo nộp tiền học tiếng Anh gì đó (em quên rồi,) bố đã đi vay khắp xóm cho đủ.  Bố đi mãi đến khi bố về thì đã hơn một giờ sáng.  Em nói: “Bố có gửi cho Nó chậm một ngày cũng đâu sao mà bố phải đêm hôm khuya khoắt thế này.”  Em xót bố thôi.  Bố tát em, lần đầu tiên bố tát em và khóc.  (Em nói Nó là cái trung tâm tiếng Anh chứ có phải nói anh đâu) thế mà bố đấm ngực và bảo em chưa ngoan là do lỗi bố không biết dạy dỗ.  Sau lần đó, em không  bao giờ dám nói bậy dù chỉ nửa lời.

Ngày anh tốt nghiệp, bố mua cho anh bộ vest mà bốn tháng sau bố mới trả hết tiền, anh biết không?

Em không  có ý định thi đại học vì hơn ai hết, em hiểu bố nhọc nhằn đến như thế nào.  Vậy mà bố dỗi, bố ốm cả tháng là em sợ đến phát ốm theo.  Em lao vào học và đỗ.  Ngày em đỗ vào Đại học Giao thông vận tải, bố không khoe ai nữa, chỉ lặng lẽ dắt em ra thắp hương mộ mẹ mà thôi.

Em không biết anh yêu chị Q nhiều bao nhiêu.  Chị ấy có quyền làm khổ anh nhưng không có quyền làm khổ bố em, càng không có quyền xúc phạm bố chúng ta.  Anh quyết định sao cũng được, em cũng năm cuối đại học rồi, anh không phải lo nuôi em, cả bố nữa vì em sẽ cố gắng lo cho bố.  Chính vì thế mà em chưa dám yêu một ai vì em chưa tin rằng sẽ có ai đó có thể hiểu và thông cảm với hoàn cảnh của chúng ta, chia sẻ với chúng ta và trân quí bố mình.  Nhưng anh khác và em khác.  Em sẽ mang bố theo em suốt cuộc đời này, anh đừng phải lo nếu anh còn phân vân.

Em: HVĐ

Sưu tầm

TOM BROWN

Tom Brown’s School Days là một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Anh Quốc.  Tác phẩm này sau đó được dựng thành phim và trở thành một bộ phim ăn khách.

Tom Brown là một cậu bé được nhiều người yêu mến, theo học tại một trường nội trú ở nước Anh.  Cậu sống với khoảng một chục học sinh khác trong một phòng ngủ của trường.  Bất cứ điều gì Tom nói hay làm đều có ảnh hưởng lớn đến những gì các học sinh khác nói hoặc làm.

Một ngày nọ, có một học sinh mới đến nhập học.  Tối hôm đó, khi đến giờ đi ngủ, cậu bé mới ngây thơ quỳ xuống bên cạnh giường để đọc kinh cầu nguyện.

Một vài học sinh khác bắt đầu cười khúc khích.  Một số khác cười lớn và chế giễu.  Thậm chí có một đứa còn ném chiếc giày vào cậu bé đang quỳ cầu nguyện.

Đêm đó, Tom không ngủ được.  Cậu nằm thao thức, suy nghĩ về những gì đã xảy ra với người bạn mới.  Cậu cũng bắt đầu nghĩ đến mẹ mình và những lời kinh bà đã dạy cậu đọc mỗi tối trước khi đi ngủ – những lời kinh mà cậu đã không còn đọc kể từ ngày đến trường nội trú.

Tối hôm sau, nhiều cậu bé trong ký túc xá háo hức chờ đợi để tiếp tục chế giễu cậu học sinh mới.  Nhưng khi đến giờ đi ngủ, một điều hoàn toàn bất ngờ đã xảy ra.  Khi cậu học sinh mới quỳ xuống để đọc kinh tối, Tom cũng quỳ xuống theo.

Khi các học sinh khác trong ký túc xá nhìn thấy Tom quỳ gối cầu nguyện, họ đã không thực hiện kế hoạch của mình.

Câu chuyện nhỏ đơn sơ ấy trong Tom Brown’s School Days minh họa một cách cảm động và sâu sắc điều mà Chúa Giêsu muốn nói trong bài Tin Mừng hôm nay:

Những ai công khai tuyên bố rằng họ thuộc về Thầy, thì Thầy cũng sẽ làm như vậy cho họ trước mặt Cha Thầy.  Còn ai công khai chối bỏ Thầy, Thầy cũng sẽ chối bỏ người ấy trước mặt Cha Thầy ở trên trời.”

Câu chuyện ấy cũng cho thấy một trong những lý do khiến Chúa Giêsu nói như vậy.  Đó là vì việc làm chứng hay không làm chứng cho Cha trên trời có thể ảnh hưởng sâu sắc đến những người chung quanh chúng ta.

Hãy nghĩ đến một lĩnh vực mà điều này đặc biệt đúng, đó là gia đình.  Cách cha mẹ làm chứng hoặc không làm chứng cho Cha trên trời của mình có ảnh hưởng rất lớn đến con cái.

Tỉ như, gương sáng của mẹ Tom và chứng tá đức tin của bà chính là yếu tố quyết định khiến Tom can đảm làm chứng cho đức tin của mình trước mặt bạn bè đồng trang lứa.

Có người đã nói rằng mỗi Kitô hữu đều đứng trên một bục giảng nào đó và giảng một bài giảng nào đó hàng ngày.  Điều này đặc biệt đúng đối với cha mẹ trong gia đình.

Vào tháng 4 năm 1987, tạp chí Catholic Digest đăng một bài phỏng vấn cặp vợ chồng vừa kỷ niệm 25 năm ngày cưới.

Trong cuộc phỏng vấn, họ chia sẻ rằng từ đêm tân hôn cho đến nay, họ luôn cầu nguyện với nhau mỗi tối.

Lúc đầu, họ chỉ đọc những kinh quen thuộc như Kinh Lạy Cha hoặc Kinh Kính Mừng.

Dần dần, họ bắt đầu cùng nhau đọc Kinh Thánh và chia sẻ những suy nghĩ về những gì họ đã đọc.  Một cách khác mà họ cầu nguyện với nhau là cầu nguyện bộc phát từ tận đáy lòng.  Đôi khi họ cùng xin Chúa giúp đỡ giải quyết những khó khăn mà cả hai đang đương đầu.

Đôi vợ chồng này nhìn nhận rằng cầu nguyện theo cách này thì không dễ dàng khi mới khởi sự.  Nhưng họ cũng thú nhận rằng những lời cầu nguyện chân thành phát xuất từ trái tim đã trở thành một nguồn ân sủng lớn lao cho họ.

Nhận xét về điều này, người chồng nói: “Đôi khi tôi không cầu nguyện bộc phát về một điều gì đó bởi vì tôi không muốn nói điều ấy với vợ.”  Ông cho biết, sau cùng, ông đã vượt qua được sự ngần ngại đó khi nhận ra rằng việc này không chỉ thiếu thành thật với Rita mà còn thiếu thành thật với chính Thiên Chúa.

Khi ông vượt qua được sự e dè ấy, hình thức cầu nguyện này đã giúp họ rất nhiều trong việc vượt qua những giai đoạn khó khăn, đặc biệt là trong bảy năm đầu của đời sống hôn nhân.

Hai vợ chồng cho biết họ có ý tưởng cầu nguyện chung với nhau nhờ gương sáng của cha mẹ bà Rita.  Bà kể:

Khi tôi còn nhỏ, trong gia đình tôi chúng tôi ít khi đóng cửa phòng.  Tôi thường nghe cha mẹ mình cầu nguyện vào ban đêm.  Đó là một âm thanh thật bình an và ấm áp.  Đôi khi cha mẹ mời chúng tôi vào phòng, và cả nhà cùng ngồi trên giường của họ.  Cha mẹ đọc từ cuốn Kinh Thánh và từ cuốn sách có tên là The Upper Room.”

Đó chính là loại chứng tá mà Chúa Giêsu đang nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay, đặc biệt là trong gia đình.

Có lẽ đó không phải là loại chứng tá mà chúng ta quen thực hành.

Tuy nhiên, đó chính là loại chứng tá mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta thực hiện.

Đó là loại chứng tá mà nếu chúng ta đem ra thực hành, nó có thể biến đổi các mối tương quan gia đình và cuộc sống của chúng ta một cách hết sức kỳ diệu.

Vậy điều gì ngăn cản chúng ta làm chứng như thế?

Chính Chúa Giêsu đã nhắc đến điều đó ba lần trong bài Tin Mừng: đó là sự sợ hãi.  Và đó là điều Chúa Giêsu nói với chúng ta hôm nay: “Đừng sợ.”

Đây là sứ điệp chứa đựng trong bài đọc Cựu Ước hôm nay và đặc biệt trong bài Tin Mừng hôm nay.

Đây là Tin Mừng mà Chúa Giêsu muốn chia sẻ với chúng ta hôm nay, cũng như Người đã chia sẻ với các môn đệ khi còn sống giữa họ.

Đây là Tin Mừng có thể thay đổi không chỉ cuộc sống của những người thân yêu của chúng ta, mà còn cuộc sống của tất cả những người mà họ tiếp xúc.

Chúng ta hãy kết thúc bằng lời cầu nguyện:

Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, xin ban cho chúng con sự can đảm để làm chứng cho Ngài trong mọi lãnh vực của cuộc sống.   Xin giúp chúng con nhận ra rằng lĩnh vực quan trọng nhất để làm chứng chính là gia đình.  Nếu chúng con biết làm chứng trong gia đình mình, việc làm chứng trong những lãnh vực khác của cuộc sống sẽ tự nhiên được thực hiện.  Amen.

Lm. Mark Link, S.J.

GẮNG GỎI ĐỂ SỐNG TRONG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

Trong những năm cuối đời, Thomas Merton đã ẩn cư để cố gắng tìm cô tịch hơn trong đời sống.  Nhưng cô tịch là một điều hết sức khó nắm bắt, và ông nhận thấy rằng nó liên tục chạy trốn ông.

Tuy nhiên, một buổi sáng nọ, ông có cảm nhận, ít nhất vào giây phút đó, ông đã tìm thấy nó.  Nhưng cái mà ông trực nhận là điều hơi bất ngờ đối với ông.  Hóa ra, sự cô tịch không phải là một trạng thái khác nào đó của sự tỉnh thức hay thậm chí một cảm giác thăng hoa nào đó về Chúa hay về tính siêu việt trong đời sống chúng ta.  Sự cô tịch, như ông trực nhận, là sự trung thực trọn vẹn trong chính da thịt mình, trong giây phút hiện tại, cảm nhận tri ân trước sự phong phú bao la chứa đựng trong cuộc sống bình thường của con người.  Cô tịch bao gồm sự hiện diện đầy đủ trong chính đời sống của mình để trực nghiệm những gì đang ở đó.

Nhưng nó chẳng dễ dàng.  Hiếm khi chúng ta thấy mình thật sự ở trong phút giây hiện tại.  Tại sao?  Do cái cách chúng ta đã được tạo nên.  Chúng ta đã được nạp quá nhiều năng lượng để sống trong thế giới này.  Khi Chúa đặt chúng ta vào thế giới này, như tác giả sách Giảng Viên nói, Người đã đặt “phi thời gian tính” vào trái tim chúng ta, vì vậy chúng ta không dễ dàng gì hòa điệu với cuộc sống của chúng ta.

Chúng ta đọc được điều này trong đoạn văn nổi tiếng về giai điệu các mùa trong sách Giảng Viên.  Mọi thứ đều có một thời và một mùa để làm, chúng ta được bảo như vậy: Một thời để chào đời, một thời để lìa thế; một thời để trồng cây, một thời để nhổ cây; một thời để giết chết, một thời để chữa lành…, và cứ như vậy.  Nhưng sau khi liệt kê cái giai điệu tự nhiên về thời và các mùa này, tác giả kết thúc với những lời sau đây: Chúa đã làm mọi sự hợp thời đúng lúc, nhưng lại đã đặt phi thời gian tính vào trái tim con người để cho con người không đồng điệu với thế gian này từ đầu chí cuối.

Từ trong tiếng Do Thái để diễn tả “phi thời gian tính” là Ha olam, một từ chỉ “vĩnh hằng” và “siêu việt.”  Một số bản dịch tiếng Anh đã diễn đạt như thế này: Chúa đã đặt cảm giác về quá khứ và tương lai vào trái tim chúng ta.  Có lẽ nói như vậy là cách nắm bắt sự việc tốt nhất, ít nhất là xét cái cách chúng ta thường xuyên nhận điều đó trong cuộc sống.

Từ trải nghiệm của mình, chúng ta biết ở trong phút giây hiện tại là khó đến mức nào, bởi vì quá khứ và tương lai không để chúng ta yên.  Chúng mãi mãi nhuốm màu lên hiện tại.  Quá khứ ám ảnh với những bài hát ru và giai điệu mơ hồ nửa quên nửa nhớ thỉnh thoảng vụt lên trong ký ức, với những tình yêu đã tìm thấy được và đã mất, với những vết thương lòng không bao giờ lành da non, và với những nỗi thao thức hoài niệm, tiếc nuối, và mong mỏi níu giữ một điều gì đó đã qua.  Quá khứ mãi mãi gieo nỗi bất an vào giây phút hiện tại.

Và tương lai lại cũng len lỏi vào hiện tại, đổ cái bóng lờ mờ của hứa hẹn và đe dọa, luôn luôn đòi chúng ta phải chú ý, luôn luôn gieo lo lắng vào đời sống, và luôn luôn tước đi của chúng ta cái khả năng đơn giản là đắm mình trong hiện tại.  Hiện tại mãi mãi bị nhuốm màu bởi ám ảnh, những cơn đau của tâm hồn và trí óc, những nỗi lo lắng mà hầu như chẳng liên quan gì đến những người đang ở bên cạnh chúng ta.

Các triết gia và thi sĩ đã gọi nó bằng nhiều tên khác nhau: Plato gọi nó là “cơn điên đến từ các thần;” các thi sĩ Hindu gọi nó là “nỗi hoài niệm về cái vô hạn;” Shakespeare nói về “những nỗi khát khao bất diệt,” còn Augustin, mà có lẽ nhiều người biết tới cách nói này của ông nhất, nói rằng nó là một nỗi bất an vô phương cứu chữa mà Chúa đã đặt vào trái tim con người để nó không thể tìm thấy bình an trong bất cứ điều gì ở thấp dưới cái vô hạn và vĩnh hằng: Chúa đã tạo ra chúng con cho chính Chúa, và trái tim chúng con sẽ không bình an chừng nào nó chưa tìm về yên nghỉ bên Chúa.

Và như vậy, rất khó để sống bình an trong cái phút giây hiện tại của đời sống chúng ta, bình an trong chính con người chúng ta.  Nhưng sự “day dứt” này, như T.S. Eliot từng nói, là có mục đích của nó.  Henri Nouwen, trong một đoạn văn nổi bật vừa nhận diện những nỗ lực gắng gỏi này vừa nêu mục đích tối thượng của nó, đã nói như sau: Cuộc sống chúng ta là  khoảng thời gian ngắn mong chờ, là thời gian trong đó nỗi buồn và niềm vui trộn lẫn với nhau trong từng giây phút.  Có một tính cách buồn bao phủ mọi khoảnh khắc của đời sống chúng ta.  Dường như không hề có cái gì là niềm vui tinh khôi trọn vẹn, mà thậm chí trong những khoảnh khắc hạnh phúc nhất của cuộc hiện sinh, chúng ta vẫn thấy gợn buồn.  Trong mọi nỗi hài lòng, đều có sự nhận biết về các giới hạn.  Trong mọi thành công đều có nỗi sợ hãi bị tị hiềm.  Đằng sau bất cứ nụ cười nào đều có nước mắt.  Trong mỗi vòng tay ôm đều có nỗi cô đơn.  Trong mọi tình bằng hữu đều có khoảng cách.  Và trong mọi dạng thể của ánh sáng, đều có ý thức về bóng tối vây quanh.  Nhưng khi ý thức sâu xa rằng mỗi mảnh sự sống đều có một mảnh của sự chết thì ý thức này có thể hướng chúng ta vượt lên trên những giới hạn của cuộc hiện sinh.  Nó có thể làm như vậy bằng cách khiến chúng ta mong tới ngày trái tim chúng ta sẽ tràn đầy niềm vui trọn vẹn, một niềm vui mà sẽ không ai tước đi được khỏi chúng ta.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

TRÁI TIM KHÔNG PHÒNG THỦ

“Thiên Chúa là Tình Yêu!” – bài đọc hai.

“Những kẻ chinh phục hùng mạnh với quân đội và vũ khí khủng khiếp đã tìm cách khuất phục thế giới một cách vô vọng.  Đức Kitô chinh phục muôn triệu con tim chỉ bằng tình yêu, một tình yêu không phòng thủ, không giữ lại điều gì!” – Anthony Fortosis.

Kính thưa Anh Chị em,

“Đức Kitô chinh phục muôn triệu con tim bằng tình yêu!”  Ngài không chinh phục bằng sức mạnh, nhưng bằng sự mong manh.  Mừng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, chúng ta chiêm ngắm một ‘trái tim không phòng thủ.’

“Thiên Chúa là Tình Yêu!”  Toàn bộ thần học Kitô giáo có lẽ cũng chỉ là nỗ lực để đi vào chiều sâu của định nghĩa ngắn ngủi ấy.  Điều đáng ngạc nhiên là khi chứng minh điều đó, Gioan không đưa ra một lý thuyết, nhưng kể một câu chuyện: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.”  Thiên Chúa không gửi một sứ điệp; Ngài gửi chính Người Con.  Vì thế, tình yêu không còn là một ý niệm để suy nghĩ, mà là một con người để gặp gỡ.  “Kitô giáo là một cuộc gặp gỡ, một câu chuyện tình yêu; đó là một biến cố!” – Bênêđictô XVI.

Đó cũng là tình yêu Ngài dành cho Israel từ thuở xa xưa.  Qua miệng Môsê, Ngài nhắc dân, họ được chọn không phải vì đông hơn hay tốt hơn các dân tộc khác; họ được chọn chỉ vì được yêu thương – bài đọc một.  Trái tim của Thiên Chúa luôn đi trước: yêu trước, rồi mới biến đổi.  Thánh Vịnh đáp ca xác tín: “Ân tình Chúa thiên thu vạn đại, Chúa dành cho ai kính sợ Người!”

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu tiết lộ: “Không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con.”  Chỉ mình Ngài mới biết trọn vẹn trái tim Chúa Cha; vì thế, chỉ mình Ngài mới có thể mở trái tim của Cha cho nhân loại.  Nhưng Ngài không dừng lại ở việc mặc khải Chúa Cha, Ngài còn mời gọi chúng ta đến với Cha: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng!”

Phần chúng ta, chúng ta thường sống bằng những phòng tuyến.  Chúng ta phòng thủ trước người khác, phòng thủ trước chính mình, và đôi khi, phòng thủ trước cả tình yêu của Thiên Chúa.  Từ địa đàng, con người đã quen trốn chạy; Thiên Chúa thì không.  Lời mời “Hãy đến cùng tôi!” cho thấy một điều kỳ diệu: Thiên Chúa không đáp lại sự khép kín của con người bằng một sự khép kín lớn hơn.  Ngài mở ra!

Anh Chị em,

Nơi nào chúng ta thấy rõ nhất một ‘trái tim không phòng thủ?’  Nơi cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Kitô trên thập giá!  Ở đó, Thiên Chúa không giữ lại điều gì.  Máu và nước tuôn trào như dấu chỉ của một tình yêu trao hiến đến tận cùng.  Trong Đức Kitô chịu đóng đinh, Thiên Chúa từ bỏ mọi phòng tuyến cuối cùng giữa Ngài và con người.  Cạnh sườn mở ra ấy không chỉ là một vết thương, nhưng là một cánh cửa.  Thiên Chúa không chỉ mở cửa Nước Trời; Ngài mở chính trái tim mình.  Qua Đức Kitô, người mệt mỏi tìm được sự nghỉ ngơi, người tội lỗi tìm được sự tha thứ và người lạc lối tìm được đường về.  “Không có người tội lỗi nào quá xa để không thể trở về với Thiên Chúa!” – Fulton Sheen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho trái tim con bớt phòng ngự trước Chúa; bớt khép kín trước anh em; và mỗi ngày nhu mì hơn như trái tim Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

THỢ GẶT THÌ ÍT

Chủ đề: “Thợ gặt thì ít bởi vì chúng ta không làm hết tất cả sức mình để lưu tâm đến vấn đề.”

Khi được phái đi giảng dạy ở các xứ thừa sai thường các tu sĩ buộc phải gởi bản tường trình đều đặn về cho bề trên dòng tu của mình.  Bản tường trình này không chỉ liên quan đến diễn tiến công việc mà còn cả cuộc sống riêng tư của họ nữa.

Ðây là một đoạn trích từ một bản tường trình viết ra cách đây bốn trăm năm do Thánh Phanxicô từ Ấn Ðộ gởi cho thánh Ignatio Loyola ở Âu Châu.  Sau khi tường trình về sự nghèo đói thê thảm của đám dân, Thánh Phanxicô viết tiếp: “Nhiều người ở đây không được trở thành Kitô hữu chỉ vì không có ai được chuẩn bị để đảm nhận sứ vụ giảng dạy cho họ…  Con thường cảm thấy bị thôi thúc muốn đi đến các trường đại học Âu Châu đặc biệt là đại học Sorbonne ở Balê để la lên như một gã điên cho những kẻ giàu trí thức hơn là thiện chí.  Yêu cầu họ xử dụng trí thức của họ làm sao cho lợi ích… phải chi trong khi nghiên cứu các môn nhân văn, họ cũng nghiên cứu sổ kế toán về những điều Thiên Chúa sẽ đòi hỏi họ qua tài năng Người đã ban cho họ!  Lúc đó nhiều người hẳn sẽ xúc động… thốt lên: “Lạy Chúa này con đây.  Chúa muốn bảo con làm gì?”” (trích trong phụ chương Dòng Tên gởi cho Thánh Bộ – trang 96-99).

Lá thư trên nhắc lại những lời Chúa Giêsu trong Phúc âm hôm nay: “Mùa màng thì nhiều mà thợ gặt thì ít.  Các con hãy cầu xin chủ ruộng sai thợ đến gặt mùa màng của mình” (Mt 9: 37-38).

Và điều xác thực vào thời Chúa Giêsu cũng như thời thánh Phanxicô Xavier thì càng xác thực gấp đôi trong thời buổi hôm nay: “Mùa màng thì nhiều mà thợ gặt thì ít.”  Ðiều này nêu lên một vấn nạn: “Tại sao ngày nay có ít thợ đến gặt hơn trước đây?”  Tuy nhiên, trước khi trả lời cho vấn nạn trên, có lẽ chúng ta nên trả lời cho câu hỏi này trước: Mùa gặt Chúa Giêsu đề cập đến là gì?  Và ai là thợ gặt mà Chúa Giêsu muốn nói đến?

Trước hết, Chúa Giêsu nói đến mùa gặt nào?  Ðó là số thiên hạ đông đúc không chỉ ở các xứ truyền giáo mà còn ở ngay trong đất nước chúng ta, những người hiện đang tìm kiếm chân lý, hiện đang tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống.  Họ là những người giống cậu bé tốt nghiệp trung học nọ mà báo chí trong nước từng nêu lên khi ta nói: “Cuộc đời còn có những cái quý hơn tiền bạc, tivi, tiệc tùng và danh vọng.”

Còn những người thợ mà Chúa Giêsu đề cập đến là ai?

Họ không chỉ là những học sinh tốt nghiệp trung học vào những năm vừa qua thường đi tu hàng đám, mà còn có cả những sinh viên tốt nghiệp đại học nữa.  Theo ghi nhận, hiện có nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học đi tu hơn là những học sinh tốt nghiệp trung học, cho dù lớp người tốt nghiệp trung học đông hơn lớp trước rất nhiều.

Và cuối cùng, đám thợ Chúa Giêsu đề cập tới là tất cả chúng ta đây.  Mỗi người ở đây đều có thể làm một điều gì để đến với mùa gặt.

Ðiều này dẫn chúng ta trở lại vấn nạn ban đầu: “Tại sao ngày nay có ít thợ “đến với mùa gặt” hơn là trước đây?”

Chỉ cần xét ba lý do sau đây thì sẽ rõ.

Thứ nhất, sở dĩ thế là vì chúng ta không thực hành điều Chúa Giêsu truyền bảo chúng ta “Hãy cầu xin chủ ruộng sai thợ gặt đến.”  Chúa Giêsu đã đặt trong tay chúng ta mọi thứ chúng ta cần để “dấn thân vào mùa gặt” nhưng chúng ta đã không sử dụng nguồn mạch nền tảng nhất tức là lời cầu nguyện.  Chẳng hạn, có bao nhiêu người trong chúng ta đây thường xuyên cầu xin Chúa thôi thúc tâm hồn các bạn trẻ để họ nghiêm chỉnh đáp lại ơn gọi làm tu sĩ hoặc linh mục?  Có bao nhiêu người trong chúng ta đây thường xuyên cầu xin Chúa thôi thúc tâm hồn những người đã lập gia đình để họ nghiêm chỉnh dấn thân vào mùa gặt bằng lời cầu nguyện, sự giúp đỡ tài chính hoặc bằng bất cứ việc gì?  Và cụ thể hơn, hãy xét xem lần sau cùng mà chúng ta cầu xin “Chủ ruộng sai thợ gặt” là lúc nào?

Tuy nhiên, còn có lý do thứ hai khiến ngày nay có ít thợ dấn thân vào mùa gặt hơn trước kia.  Lý do này liên quan đến các gia đình.  Gia đình không còn là vườn ươm ơn kêu gọi đi tu.  Một lần nữa, nói cho cụ thể, lần sau cùng chúng ta nói cho con em mình về việc lựa chọn đời sống tu từ phục vụ là lúc nào?

Cuối cùng là lý do thứ ba.  Lý do này liên quan đến cá nhân mỗi người chúng ta.  Chúng ta hãy suy nghĩ về điều này như sau: Giả sử chúng ta là một thanh niên, liệu có bao giờ chúng ta mở lòng dâng hiến cho Chúa trong cuộc sống tu sĩ không?  Hoặc chúng ta lại thuộc về một trong những kẻ mà Thánh Phanxicô từng nói: “Phải chi trong khi nghiên cứu về các môn nhân văn, họ cũng biết nghiên cứu đến sổ kế toán về những gì mà Chúa sẽ đòi hỏi qua tài năng Người đã ban cho họ.”

Và giả sử chúng ta là người lớn tuổi, chúng ta có bao giờ nghiêm chỉnh tự vấn xem mình có thể làm gì để “dấn thân vào mùa gặt” không?  Có bao giờ chúng ta nghĩ đến việc phải làm một điều gì đó trực tiếp giúp cho chủ ruộng trong vấn đề gặt, chẳng hạn bằng lời cầu nguyện, sự giúp đỡ tài chính hoặc một sự dấn thân cá nhân thực sự nào đó không?

Bài Phúc âm hôm nay đặt ra trước mỗi người chúng ta một sự thách thức.  Chúng ta sẽ đương đầu với nó như thế nào?

Bước tối thiểu đầu tiên các gia đình phải làm là tăng thêm một lời nguyện cho ơn gọi vào giờ kinh trong các bữa ăn và giờ kinh tối. Ðiều này có tác dụng như một lời nhắc nhở tế nhị cho con em chúng ta để chúng nó có thể cân nhắc ơn gọi đi tu.

Tương tự thế, những kẻ không sống trong cơ cấu gia đình cũng nên gia tăng một lời cầu trong kinh nguyện hằng ngày với cùng một ý hướng như trên.

Ðể kết thúc, chúng ta hãy nghe lại lần nữa một đoạn văn trích từ lá thư thánh Phaxicô Xavier gởi cho thánh Ignatiô Loyola:

”Con thường cảm thấy bị thôi thúc muốn đi đến các đại học Âu Châu đặc bịêt là đại học Sorbonne ở Balê và la lên như một gã điên cho những kẻ giàu tri thức hơn là thiện chí để yêu cầu họ sử dụng tri thức của họ sao cho có lợi ích…  Phải chăng trong khi nghiên cứu về các nhân văn họ cũng đồng thời nghiên cứu sổ kế toán mà Thiên Chúa sẽ đòi hỏi họ về tài năng Người đã ban cho họ!  Lúc đó nhiều người hẳn sẽ xúc động thốt lên: “Lạy Chúa, này con đây.  Chúa muốn bảo con làm gì?””

Lm. Mark Link, S.J.