NHÀM CHÁN – LỖI CỦA CHÍNH CHÚNG TA

Năm 2011, quyển sách của tác giả trẻ Bieke Vandekerckhove đã giành giải Sách Thiêng liêng của Năm ở Bỉ.  Với tựa đề, Vị của Thinh lặng [Taste of Silence], quyển sách ghi lại cuộc đấu tranh của cô sau khi bị chẩn đoán mắc bệnh ALS, hay thường gọi là bệnh Lou Gehrig, tình trạng suy thoái thần kinh dẫn đến kết cục là suy nhược cơ thể trầm trọng và sẽ chết không lâu sau đó.  Thật là một chẩn đoán không dễ chấp nhận với một phụ nữ trẻ đầy sinh lực.

Nhưng không lâu sau khi bị trầm cảm nội tâm sâu sắc, cô tìm thấy ý nghĩa cuộc đời thông qua suy niệm, thinh lặng, văn học, nghệ thuật, thi ca, và không kém phần quan trọng, là một mối quan hệ cuối cùng đã kết trái thành hôn nhân.  Và thật không ngờ, bệnh tình của cô thuyên giảm, và cô sống thêm hai mươi năm nữa.  Trong nhiều thấu suốt phong phú đã chia sẻ với chúng ta, Bieke có đưa ra một suy tư đáng chú ý về sự nhàm chán.

Bàn về sự nhàm chán đang thịnh hành trong thời nay, cô nêu bật một nghịch lý, cụ thể là sự nhàm chán đang tăng mạng giữa chúng ta cho dù mỗi ngày chúng ta đều sản xuất ra đủ loại cải tiến để tránh chuyện đó.  Ngày nay, khi có trong tay các thiết bị công nghệ nối kết chúng ta với mọi thứ, từ tin tức thế giới cho đến ảnh chụp của những người thân yêu đang chơi với con cái họ, chẳng phải chúng ta đã được cách ly khỏi sự nhàm chán hay sao?  Nghịch lý thay, ngược lại thế mới đúng.  Mọi cải tiến công nghệ không xoa dịu nỗi nhàm chán của chúng ta.  Tại sao lại không?  Chúng ta vẫn vật lộn với sự nhàm chán bởi mọi kích thích trong thế giới không hẳn đã có ý nghĩa.  Theo Bieke, ý nghĩa và hạnh phúc không hệ tại nhiều ở chuyện gặp gỡ những người thú vị và khám phá những điều thú vị, mà đúng hơn là hệ tại ở việc hứng thú sâu sắc về những con người và sự vật.

Từ thú vị phát xuất từ gốc La Tinh, với hai từ là inter (bên trong) và esse (hiện hữu) và khi kết hợp lại, nghĩa là hiện hữu bên trong sự gì đó.  Mọi sự thú vị với chúng ta khi chúng ta chú tâm đến chúng đủ để thật sự đi vào trong chúng.  Và hứng thú của chúng ta không nhất thiết phải tùy vào khả năng kích thích tự nhiên của sự đó, dù ta vẫn thừa nhận rằng có những sự kiện và cảm nghiệm mạnh mẽ hơn cái khác.  Điều này giải thích sự hứng thú mạnh của ta với những sự kiện thế giới, các giải thể thao lớn, các lễ trao giải, cũng như sự ám ảnh vốn kém lành mạnh hơn với đời sống của những người nổi tiếng.  Có những người, sự vật và sự kiện, tự nhiên thu hút chúng ta hơn và chúng ta muốn ở “bên trong” những cuộc sống và sự kiện đó.

Nhưng hầu hết các tin tức thế giới, sự kiện thể thao lớn, các buổi trao giải và đời sống riêng tư của những người nổi tiếng, không phải là chế độ bình thường của ta, không phải là bữa ăn gia đình, nơi làm việc, những buổi đi nhà thờ, những buổi bán hàng từ thiện, lịch sống thường nhật hay những món ta ăn hằng ngày.  Và đây chính là điểm thường khiến ta chịu lấy sự nhàm chán, bởi ta không ở sâu trong hiện thực của những con người và sự kiện đó.  Chính vì thế mà chúng ta thường cảm thấy cuộc sống đều đều, ù lì, và thông lệ.  Nhưng nếu như thế, xét cho cùng, chúng ta đấu tranh với sự nhàm chán, không phải bởi gia đình, nơi làm việc, hàng xóm, giáo xứ, và bạn bè mình không thú vị.  Chúng ta nhàm chán bởi quá bần cùng nội tâm, quá phân tâm hay quá quy ngã, để có thể thật sự hứng thú với những sự đó.  Cảm nghiệm không phải là những gì xảy đến với chúng ta, mà là những gì chúng ta làm với những gì xảy đến với mình.  Enstein đã nói thế đấy.

Và Bieke Vandekerckhove cũng nêu bật một nghịch lý khác: Thật nghịch lý khi ta có xu hướng đấu tranh với nhàm chán và trì trệ trong khi ta đang đầy triển nở trong đời, đang khỏe mạnh và làm việc, còn những người như Bieke Vandekerckhove thì mất sức khỏe và chuẩn bị đối diện với cái chết nhưng lại thường thấy sự hồ hởi vui tươi nơi những cảm nghiệm bình thường nhất.

Những thấu suốt của Bieke Vandekerckhove rất giống với cảm nghiệm của Rainer Maria Rilke trong quyển Những lá thư gởi Thi sĩ Trẻ [Letters to a Young Poet.]  Như Bieke, ông cũng gợi ý rằng nhàm chán là lỗi của chúng ta, lỗi của một con mắt hờ hững.  Trong những lá thư giữa ông với một thi sĩ trẻ, chàng thi sĩ đã than phiền rằng mình không được tiếp cận đủ với những cảm nghiệm thúc đẩy thi ca, bởi anh sống trong một thị trấn nhỏ nơi hầu như chẳng có chuyện gì thú vị.  Và chàng thi sĩ ghen tị với Rilke, vì ông chu du gần khắp châu Âu và đã gặp đủ mọi kiểu người thú vị.  Với anh, những thấu suốt thi ca của Rilke phần nhiều dựa vào việc được đến những thành phố lớn, gặp những người thú vị, và được những kích thích mà một chàng trai ở thị trấn nhỏ chẳng bao giờ có được.

Câu trả lời của Rilke với chàng trai trẻ này đã trở thành câu trả lời kinh điển về vấn đề nhàm chán: “Nếu cuộc sống thường nhật của anh có vẻ nghèo nàn, thì đừng đổ lỗi cho nó, mà hãy bảo rằng mình không đủ thi vị để khơi lên sự phong phú của nó, bởi với người sáng tạo, thì không có sự nghèo nàn và không có không gian nghèo nàn.”

Tìm được hứng thú trong đời không hệ tại ở việc chúng ta là ai và gặp ai, nhưng là ở khả năng nhìn sâu vào mọi sự.  Cuộc sống khắp nơi đủ phong phú để cho ta thú vị, nhưng về phần mình ta phải hứng thú trước đã.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

MỤC ĐÍCH CỦA ĐỜI SỐNG

Vào khoảng 3 giờ sáng ngày 17 tháng Tám, 1999, một trong những trận động đất kinh hoàng nhất đã xảy ra trong lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ.  Nó đã san bằng hàng trăm công trình kiến trúc và làm thiệt mạng hàng ngàn người.

Khi động đất xảy ra, một kế toán viên 40 tuổi người Thổ Nhĩ Kỳ là Yuksel Er vừa mới đi ra từ phòng vệ sinh ở lầu ba trong khu chung cư sáu tầng lầu.

Bỗng dưng, mọi thứ bắt đầu quay cuồng.  Chính ông cũng lảo đảo và bị rơi vào dòng thác cuốn các đồ vật.  Trong 45 giây tiếp đó tai ông như điếc vì tiếng động mạnh.

Và rồi, bỗng dưng mọi sự im lặng một cách ghê sợ.

Khi Yuksel tỉnh dậy, ông thấy mình bị kẹt dưới đống gạch vụn trong một vùng thật tối.

Trong khoảng cách nhỏ bé đó, ông không thể nào cựa quậy được, chỉ có thể nằm yên ở đó.

Trên mình ông và chung quanh ông là những vụn vỡ của tòa chung cư sáu tầng lầu.

Lúc đầu ông tưởng là tận thế.  Nhưng khi nghe thấy tiếng rên rỉ ở xa xa, ông biết là một điều gì khác đã xảy ra.

Trong bốn ngày liền, ông không ăn uống gì.  Ông dùng thời giờ để cầu nguyện, suy nghĩ về đời sống và tự hỏi đời sống sau khi chết sẽ như thế nào.

Lúc đầu, ông còn la lớn kêu cứu.  Nhưng thấy vô ích ông im lặng để dưỡng sức.

Ông bắt đầu nhớ đến gia đình, và nhất là đứa con trai 13 tuổi mà ông vừa mới la rầy nó chỉ vài giờ trước trận động đất – vì nó cứ dành máy vi tính của gia đình để chơi “game.”

Sau đó vào ngày thứ tư, khoảng một giờ sáng, ông nghe có tiếng gọi quen thuộc.  Chỉ trong vài phút, ông nhận ra tiếng của đứa cháu và thằng con 13 tuổi.  Chúng đào xới đống vụn để lôi ông lên.

Khi đứa con trai lôi được ông ra khỏi đống gạch vụn, điều đầu tiên nó nói là, “Bố ơi, con sẽ không bao giờ làm bố giận nữa.”  Ông Yuksel trả lời, “Bây giờ thì không còn quan trọng nữa, vì bây giờ mọi sự sẽ khác biệt.”

Sau này, khi ở trong bệnh viện, Yuksel nói với gia đình và bạn hữu: “Đây là cuộc đời thứ hai của tôi.  Tôi sẽ cố gắng tận dụng cuộc đời ấy.”  Và rồi ông khóc.  Giống như tiếng khóc của đứa bé mới lọt lòng mẹ.

Trước trận động đất, Yuksel sống với những ưu tiên và mục đích, không khác gì những ưu tiên và mục đích của chúng ta.  Sau cảm nghiệm ấy, các ưu tiên và mục đích của ông thay đổi cách đáng kể.

Điều này đưa chúng ta đến bài Phúc Âm hôm nay.  Trong bài Chúa Giêsu nói rằng, “Nếu ai trong các con muốn đến với Thầy, phải từ bỏ mình, vác thập giá của con và theo Thầy.”

Ở đó chúng ta cũng thấy Chúa Giêsu cảnh cáo các môn đệ về sự ngu dại khi giành được thế gian nhưng đánh mất điều quan trọng nhất trong tất cả: là sự sống vĩnh cửu ở đời sau.

Sau cùng, chúng ta cũng thấy Chúa Giêsu nói: “Con Người sẽ thưởng cho họ tùy theo hành động của họ.”

Hãy trở về với câu chuyện của Yuksel.  Khởi đầu tưởng rằng là một thập giá nặng nề, nhưng sau cùng lại là một phước lành lớn lao.

Nó đã dạy cho ông và thúc giục ông sống thời gian còn lại theo một phương cách xứng hợp với Chúa, và với suy nghĩ của Thiên Chúa chứ không phải của Satan.

Cũng giống như trận động đất đã thay đổi cuộc đời ông Yuksel, bài Phúc Âm hôm nay cũng nhắm đến một kết quả tương tự cho chúng ta – tối thiểu cho một số người trong chúng ta.  Có lẽ, như Phêrô, lối suy nghĩ về đời sống của chúng ta trở nên nguy hiểm hơn và càng giống với kiểu cách suy nghĩ của Satan hơn là của Thiên Chúa.

Có lẽ, giống như Phêrô, chúng ta đang mất dần ý nghĩa của đời sống.  Một đời sống không hoàn toàn vì vui thú và không muốn tránh càng nhiều thập giá càng tốt.

Đúng ra, đó là một đời sống để được phần thưởng là sự sống đời đời.  Đó là lối sống trong những năm còn lại của chúng ta ở đời này để giúp chúng ta gặt được phần thưởng là sự sống vĩnh cửu ở đời sau.

Rõ rệt hơn nữa là vác thập giá hằng ngày của chúng ta và chấp nhận các thập giá ấy trong tinh thần mà Chúa Giêu đã chấp nhận thập giá của Người.

Và đây là phần đáng kể.  Một khi chúng ta bắt đầu sống như Chúa Giêsu đã dậy, chúng ta sẽ khám phá ra điều mà Yuksel đã tìm thấy.

Nó sẽ thay đổi mọi sự, và bỗng dưng, điều tưởng như một thập giá to lớn lại trở nên một ơn sủng lớn lao trong đời này và đời sau.

Hãy kết thúc với câu chuyện để nói lên điều chúng ta muốn nói:

Một vài năm trước đây, Gene Stallings đã huấn luyện đội banh trường đại học Alabama để thắng được 22 trận và được coi là trường đứng hạng hai về dã cầu (football).  Nhưng không phải biến cố này, mà là một biến cố khác, đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc đời của ông.  Đó là việc sinh hạ đứa con trai, Johnny.

Khi bác sĩ nói với ông Stallings rằng Johnny sẽ bị hội chứng Down (chậm phát triển) và có lẽ không sống lâu hơn bốn năm, ông đã ngất xỉu.

Ba mươi năm sau, Johnny vẫn còn sống.  Nói về ảnh hưởng của Johnny trong cuộc đời, ông Stallings cho biết:

“Cháu rất đặc biệt!  Tất cả sự yêu thương của cháu thì vô điều kiện.  Cháu không đạt được thành tích gì.  Cháu hoàn toàn vị tha.”

Trong rất nhiều dịp, ông Stallings tuyên bố rằng cho dù có thể đảo ngược mọi sự và bắt đầu lại với một đứa con không bị bệnh Down thì ông cũng không muốn như vậy.  Ông nói, “Tôi cảm nhận được rất nhiều ơn lành.”

Điều mà ông Stallings nghĩ rằng sẽ là một thập giá lớn lao trong đời thì lại trở nên một ơn sủng lớn lao – cả ở đời này và ngay cả ở đời sau.

Đây là Tin Mừng của Phúc Âm hôm nay.  Đây là Tin Mừng mà chúng ta cử hành trong phụng vụ này.

Đó là Tin Mừng khi chúng ta vác thập giá của mình và theo Chúa Giêsu, điều đó có thể thay đổi cuộc đời chúng ta nhưng sẽ đem lại một bình an và phước lành mà chưa bao giờ chúng ta tưởng tượng nổi hay dám hy vọng – và ngay cả dám mơ tưởng đến.

Lm. Mark Link, S.J.

TIẾNG GỌI

Ít nhất phải có một chút hy vọng nào đó thì người gọi mới cất tiếng gọi.  Mong được người đáp trả, đấy là niềm vui của người gọi.  Trong tiếng gọi bao hàm sự có mặt của hai người.  Nếu chỉ có một người lẻ loi thì không có tiếng gọi, vì tiếng gọi không có đối tượng để gửi tới.

Tiếng gọi là một lời mời.  Lời mời là một cử chỉ biểu lộ lòng mến yêu.  Không mến thương ai thì chẳng bao giờ gọi người đó.

Thà rằng tôi lẻ loi, cô độc còn hơn là tôi quen biết, còn hơn là tôi có những mối giây liên hệ tình cảm để rồi những quen biết, những mối liên hệ ấy chối từ tôi.  Khi sống một mình thì tôi chỉ đơn độc, còn khi tôi quen biết mà bị từ chối thì tôi sẽ cô đơn.  Bị thờ ơ bao nhiêu thì nỗi cô đơn càng hiu hắt bấy nhiêu.  Và nỗi cô đơn này có thể hoang vu hơn sa mạc.  Chúa không buồn khi chưa có con người.  Khi con người chối từ tình yêu mà Ngài ban tặng, bấy giờ Ngài mới cô đơn (Kn. 6:6).  Chúa không tủi lòng khi chưa quen biết Phêrô, khi chưa gặp mặt Yuđa.  Khi đã gọi tên, khi đã cùng nhau xây đắp mối liên hệ, bấy giờ nỗi cô đơn của Ngài mới thấm thía lúc bị phản bội, bị chối từ.

Khi tôi gởi một cánh thư đi là tôi gởi lòng tôi ở đó.  Gởi nỗi lòng mình đi thì bao giờ cũng có nhớ nhung và hồi hộp, âu lo.  Tôi không viết thư cho gió vì gió không biết tiếng người.  Tôi chẳng gửi thư cho mây vì mây không bao giờ đáp trả.  Tôi chỉ gởi cho người vì chỉ người mới có thể đáp trả lại nỗi lòng tôi.  Nhưng người có tự do nên tôi cũng có thể bị chối từ.  Tiếng gọi của tôi có thể vang lên khô khan rồi hiu hắt trở về với cõi lòng tôi.

Khi Chúa cất tiếng gọi thì Chúa cũng thầm nuôi hy vọng được đáp trả.  Chắc hẳn Ngài cũng ngậm ngùi khi bị khước từ.  Bởi trong tiếng gọi là thầm cho đi tình yêu.  Bởi trong tiếng gọi là thầm nói lên nỗi nhớ thương.

Gọi là dấu hiệu đang còn xa nhau.  Gọi là muốn lại gần.

Trong cuộc đời, tôi có hai tiếng gọi, hai mẫu người lý tưởng để theo.  Tiếng gọi thứ nhất là Chúa Kitô. Tiếng gọi thứ hai là chính tôi.  Tôi có thể tạo nên cho tôi những tiếng gọi, những giấc mơ và tôi có thể theo đuổi để trở thành mẫu người như tiếng gọi tôi ước mong.  Tôi cũng có thể trở thành mẫu người như Chúa Kitô mong muốn.  Cái khác nhau là một đàng tôi sống ước mơ của tôi, một đàng tôi phải sống tiếng gọi của Chúa.  “Thức ăn của Ta là làm theo ý Ðấng đã sai Ta và hoàn tất công việc của Ngài” (Yn. 4:34).  Chúa Kitô đã sống trọn vẹn tiếng gọi của Cha Ngài.

Tôi có thể lầm lẫn thì tiếng gọi của tôi cũng có thể không trung thực.  Nếu tiếng gọi của tôi không trung thực thì lo âu để trở nên mẫu người như tôi mơ ước sẽ là dại dột.

Nếu tôi tin rằng Chúa không thể sai lầm thì tôi cũng phải xác tín rằng tiếng gọi của Ngài phải tuyệt hảo.  Không thể có hai sự tuyệt hảo.  Như thế, khi tôi chối từ sự tuyệt hảo là tôi nhận sự bất hảo.

Có nhiều thứ tiếng gọi.  Gọi để cho một tặng vật.  Gọi để chung một niềm vui.  Gọi để gởi gấm một niềm tin cậy.  Nhưng tiếng gọi cao cả nhất, sâu xa nhất là gọi để theo một người.  Gọi để cho một tặng vật mới chỉ là cho một phần yêu thương.  Còn gọi để theo một người là tiếng gọi cho tất cả.  Vì muốn người khác trở nên giống mình thì phải cho họ biết rõ về mình.  Cách cho họ biết rõ về mình tốt nhất là cho chính mình.  Tôi không thể trở nên mẫu người như Chúa muốn, tôi không thể theo Ngài nếu Ngài không tỏ rõ cho tôi biết Ngài là ai.  Ngài chẳng thể tỏ rõ cho tôi biết Ngài là ai nếu Ngài không cho tôi chính Ngài.  Và thực sự, Thập Giá đã minh chứng sự cho đi trọn vẹn ấy.

Chúa đã viết một cánh thư.  Ở nơi nào đó, Chúa đang mong chờ hồi âm.  Ngài không viết thư cho lá rừng, vì lá rừng và bụi cát chỉ phủ mờ thập giá.  Ngài viết thư cho người vì chỉ có người mới biết quét mạng nhện trong đền thờ, mới biết xóa dịu một nỗi khổ đau.

Có xa nhau thì người ta mới phải gọi.  Khi tôi nghe tiếng Chúa gọi là dấu hiệu tôi còn đang xa Ngài.  Khi Ngài gọi là dấu hiệu Ngài muốn tôi lại gần.

Lm Nguyễn Tầm Thường, S.J.

THƯƠNG YÊU LÀ TRUNG THÀNH

Tình yêu vô hình, không nhìn thấy.  Nhưng tình yêu lại hiện hữu trong những gì hữu hình.  Gạt bỏ những gì hữu hình thì tình yêu cũng không còn chỗ đứng.  Tôi không thể yêu bông hoa nếu không có bông hoa.  Nhớ người nào là đã gặp người đó.  Thương là thương ai.  Vì thế, tình yêu là tổng hợp của cả tinh thần và thể xác.

Yêu bằng ý nghĩ mà thôi là tình yêu không có thật.  Không ai có thể chỉ yêu bằng tư tưởng và cũng không ai cần tình yêu chỉ bằng câu ca dao.  Chúa Kitô cũng chối từ thứ tình yêu ấy: “Ðừng yêu Ta bằng lời” (Mt 7,21).  Ðã yêu là có rung động của con tim, có bâng khuâng của toàn vẹn con người, có tình cảm cao thượng của hy sinh.  Ðấy là tình yêu một lần Chúa đã nói: “Ta sẵn lòng chết vì chiên của Ta” (Gn 10,12).  Có thổn thức của xác thân dạt dào, Chúa cũng cảm thấy tâm hồn chất ngất buồn thương (Mt 26,38).  Và, trong cái rung động của toàn vẹn con người ấy cũng có thao thức đòi đáp trả: “Con có yêu Ta không?”  Chúa đã không hỏi Phêrô một nhưng đến ba lần (Gn 21,15-17).  Tất cả xúc cảm đó làm nên cung điệu yêu đương của đời người.

Bông hoa đang khoe sắc ngoài kia nên tôi mới yêu được.  Như thế, làm sao tôi có thể chỉ yêu tinh thần của bông hoa mà lại không có xác thân?  Có con tim nên tôi mới biết thương mến.  Bởi đó, làm sao tôi có thể chỉ yêu bằng tinh thần thôi mà lại không có rung cảm của môi, mắt?  Yêu là có cả hai; linh hồn và thân xác.  Chỉ yêu bằng thân xác là tình yêu tật nguyền.  Chỉ yêu bằng tinh thần là tình yêu đánh lừa.  Cái dạt dào của thân xác là một yếu tố sáng tạo.  Sáng tạo ấy đưa đến nhiều chân trời tươi đẹp.  Khả năng rạo rực của con tim là ngôn ngữ của yêu thương.  Ánh nhìn.  Một khuôn mặt xinh.  Ngôn ngữ của thân xác là ngôn ngữ tuyệt vời của tình yêu, nó là dòng suối tươi mát cho cánh đồng.  Gạt bỏ dòng suối đó cỏ cây sẽ héo úa.

Thân xác là ngôn ngữ của tình yêu nhưng không là tất cả tình yêu.

Nó chỉ là một nốt nhạc mà thôi.  Nếu chỉ dùng một ngôn ngữ đó cho một hòa âm thì cung đàn không còn là cung điệu hòa hợp nữa, nó chỉ là tiếng re ré của một đơn điệu nhạt thếch.  Dòng suối phải được chảy theo nhánh nhỏ tưới cho cánh đồng.  Nếu suối tụ lại thì tình yêu sẽ chết vì dòng suối thay vì tưới mát sẽ làm lụt lội dâng đầy bùn phù sa.

Không có gì buồn tẻ bằng bức họa chỉ có một mầu.  Ðấy không phải là tác phẩm nghệ thuật và tác giả không là nghệ sĩ.

Thân xác là ngôn ngữ diễn tả và tiếp nhận tình yêu.  Nhưng một đốm lửa thì là ánh đèn cần thiết cho đêm đen, nếu cả đêm đen là lửa thì đấy không còn là đèn nữa mà là hỏa ngục bừng bừng.  Những ánh mắt, mùi thơm của hương tóc cũng vậy.

Qua đối tượng hữu hình, tình yêu như cánh vườn mở ngõ, mời vào.  Tuy nhiên, lý trí thẩm định, hướng dẫn và ban tặng cho tình yêu giá trị.  Trí tuệ con người có lúc bừng sáng, trong như hạt nước mưa, nhưng cũng không vắng những ngày đục mù sương.  Rung cảm của thân xác có những lúc rì rào như lúa chiều gợn sóng, ên đềm.  Có ngày nức nở níu kéo, ì ầm sóng vỗ.  Vì tội lỗi nên bản đàn đã lệch cung, sai giọng.  Ði tìm một trật tự để nối chắp lại, gạn lọc, để so cho bằng, để giữ đúng nhịp là một vất vả gian truân.  Dù cố gắng đến đâu người nghệ sĩ cũng có lúc vẩy sai nét mực, tô đậm một mầu.

Trung thành là mọi người phải đi con đường của mình.  Khi nói mọi người phải đi con đường của mình, không có nghĩa là họ không nhìn thấy những lối rẽ ngang.  Kẻ cho thập giá như lời mời gọi, chẳng có nghĩa là họ không nghe thấy tiếng gọi của một giọng nói dịu dàng bên nương dâu, bờ trúc.  Kẻ nhìn thập giá như trời cao để bước tới không có nghĩa là họ không thấy bờ tóc bay như một ngôn ngữ rất nôn nao.  Trong hôn nhân có ai tuyệt đối thương yêu bạn đời của mình đến nỗi không bao giờ có một ngăn nhỏ nghĩ đến những bóng hình lãng mạn khác?

Lối rẽ bên đường đi có làm tôi âu lo.  Ðôi lúc tình cảm dịu dàng có làm tôi bâng khuâng.  Nhưng không vì thế mà lý tưởng của tôi hao mòn.  Lối rẽ bên đường, tình cảm dịu dàng ấy làm tăng khả năng tự do lựa chọn của người trong cuộc.  Nếu không có những ngã rẽ, những ánh nhìn khác thì tình yêu trong hôn nhân cũng như lý tưởng của người tu sĩ không còn cố gắng nữa, vì còn gì lựa chọn nữa để mà tiếp tục chọn lựa.  Có những ngã rẽ nên tôi phải dừng lại hỏi lòng mình, tôi phải cố gắng giữ gìn con đường của tôi, tôi phải phấn đấu trung thành.  Lúc hỏi lại lòng, lúc phấn đấu là lúc tình yêu dành cho người yêu, dành cho lý tưởng sâu đậm hơn.

Người bạn đời trong hôn nhân là những con đường của nhau đi.  Nếu người bạn đời hoàn hảo thì con đường hoàn hảo.  Chẳng ai muốn rẽ sang một lối mòn nếu con đường đang đi đẹp ngát hương về lối mộng.  Nhưng vì tội lỗi nên người yêu không hoàn hảo, rồi, do vậy, đường đi của họ có gai.  Ðây là lý do không trung thành.  Nếu người tu sĩ bước trên đường lý tưởng toàn những ngọt ngào thì làm gì có lỗi lời thề.  Nhưng thập giá là lý tưởng chỉ đủ hé ánh sáng cho họ bước và giữ lại bóng tối để họ phải tin.  Trầm luân và vinh quang của họ nằm ở đó.

Người yêu tôi không hoàn hảo nên đường tôi đi gập ghềnh.  Có thể vì đường đi gập ghềnh, không toại nguyện, tôi cắt bỏ lời cam kết để đi tìm một con đường hạnh phúc khác hoàn hảo hơn?  Nếu tôi hủy bỏ lời thủy chung để tìm một người có khả năng làm tôi thỏa mãn thì tôi trả lời làm sao cho vấn nạn: Tôi không hoàn hảo.  Chính tôi cũng không là con đường thẳng cho tôi đi.  Tôi không thỏa mãn được tôi.  Tôi muốn giàu mà thực tại tôi cứ nghèo.  Tôi muốn có nhan sắc mà thực tại tôi cứ tầm thường.  Tôi muốn người khác phải để ý đến tôi mà thực tại tôi cứ khổ sở vì thương nhớ người ta.  Khi chính tôi không thỏa mãn tôi được thì tôi có thể từ giã mình để đi tìm cái tôi khác được không?  Tôi có thể xây dựng cho đời tôi thêm phong phú chứ không chối từ được chính mình.

Không chối từ được chính mình thì làm sao có thể biện minh vì bất toàn của người bạn đời mà đi tìm người yêu mới?  Mỗi người có một khả năng khác biệt, khi nào thì tôi có thể đi tìm được có tất cả khả năng để thỏa mãn tôi hoàn toàn?

Kiếm tìm là tự thú rõ ràng tôi là người thiếu thốn, vì nếu hoàn hảo thì làm gì phải cậy nhờ đến ai.  Mà tôi có khuyết điểm thì tôi cũng chẳng thể đem hạnh phúc vô bờ cho người tôi đang sống.  Tôi cũng là nguyên nhân khổ đau, là gai nhọn trên đường đi của người yêu tôi.

Hạnh phúc hệ tại luôn luôn được thỏa mãn hay là cố gắng làm thỏa mãn người?

Cuộc sống chỉ là tương đối.  Tôi không thể làm người bạn đời trọn vẹn hạnh phúc.  Người bạn đời cũng chẳng thể cho tôi mọi ước mơ.  Vì cả hai đều yếu đuối và mắc nhiều lỗi lầm, cả hai không là thiên thần mà là người.  Là người nên tôi không thể làm thỏa mãn người được.  Không làm thỏa mãn người được cũng có nghĩa là người cũng chẳng thể làm thỏa mãn được tôi.  Như thế, hạnh phúc là cùng nhau lắng nghe tiếng hót của con họa mi.  Cùng chịu gió lạnh của mưa.  Chịu khổ của bão.  Hạnh phúc trong hôn nhân là cùng nhau góp một ước mơ.  Cùng nhau gánh nỗi đau của đời.

Cái chua của chanh, cái ngọt của đường làm nên ly nước mát chứ không riêng có đường, không hẳn chỉ là chanh.

* * *

Chúa biết rằng cứ để con trong thế gian thì tốt cho con hơn là đem con khỏi thế gian.  Chúa chỉ xin Chúa Cha đừng để con thuộc về thế gian mà thôi.

Lạy Chúa, nếu vậy, con không xin Chúa cắt mọi ngã rẽ trên đường con đi.  Vì như thế, con đường của con sẽ nhạt nhẽo.  Con cũng không xin cho con trở thành vô cảm trước những vẻ đẹp mà Chúa đã tạo dựng.  Con chỉ xin ơn can đảm để ngắm bông hoa trên đồi nhưng thương bông hoa trong vườn.  Con không sợ hãi những giọt chanh chua vì con biết Chúa cũng cho con những muỗng đường.  Con chỉ xin được khôn ngoan để biết hòa hợp sao cho đúng hương vị ly nước mát mà Chúa đã ban tặng con trong trưa hè oi nóng.

* * *

Phêrô ra sức rủa mình mà thề: “Tôi không hề biết người các ông nói đó là ai” (Mc 14,71).  Như thế, tình yêu của Phêrô là tình phản bội.

Chúa quay lại nhìn Phêrô, và Phêrô nhớ lại lời Chúa khi Ngài bảo ông: “Hôm nay, trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối Ta ba lần.  Và ra ngoài, ông khóc lóc thảm thiết” (Lc 22,61-62).  Như thế, lỗi lời thề lại trở nên yêu thương sâu đậm.  Lỗi lời thề lại trở nên trung thành, gắn bó thiết tha.

* * *

Trung thành là cố gắng gìn giữ mối giây liên hệ, là không cắt đứt.  Nhưng nếu làm đứt mà tha thiết nối chắp lại thì đấy mới càng chứng tỏ ý nghĩa sâu xa của trung thành.  Nếu không gặp thử thách thì sao quả quyết được là không bao giờ vấp ngã?  Nếu tôi không dám chắc tôi không bao giờ vấp ngã thì tôi làm gì có quyền bắt kẻ khác hoàn hảo?

Trung thành không hẳn chỉ có nghĩa là không bao giờ lỗi phạm, mà là từ lỗi phạm, tôi trở về với người tôi yêu, với kẻ yêu tôi.

* * *

Có hai thứ trung thành.  Trung thành bằng tình yêu và trung thành bằng sợ hãi.  Trung thành trong hôn nhân, trung thành của đời tu cũng vậy.

Sợ hãi cũng có trung thành, nhưng trong trung thành có mầm phản loạn, vì trung thành của sợ hãi là nô lệ.  Kẻ đòi buộc trung thành bằng sự sợ hãi thì trả thù kẻ bội phản.  Người lấy tình yêu làm sợi giây trung thành thì tha thứ cho kẻ phản bội.  Chúa Kitô đã chọn con đường thứ hai.

Lm. Nguyễn Tầm Thường, SJ  (Trích trong Nước Mắt và Hạnh Phúc)

GIÊ-SU – THẦN TƯỢNG ĐỜI TÔI

Tại Việt Nam, thời gian gần đây, trong ngôn ngữ của giới trẻ, chúng ta thường thấy cụm từ nửa tiếng Việt nửa tiếng Anh.  Đó là “đu Idol.”  “Đu” là tiếng Việt, “Idol” là tiếng Anh.  “Đu” theo nghĩa này có nghĩa là chạy theo, hâm mộ đến mức cuồng tín mê man.  “Idol” là thần tượng.  Chủ thể của “Đu Idol” hầu hết là thanh niên nam nữ.  “Idol” của họ là những người mẫu, ca sĩ, cầu thủ bóng đá, diễn viên điện ảnh.  Trong một số trường hợp, “Idol” lại là những “giang hồ mạng,” là những kẻ vô học và những người có phát ngôn ngông cuồng, thiếu chuẩn mực đạo đức.  Vậy mà vẫn có những người coi là “Idol – thần tượng” của mình.  Việc chạy theo thần tượng là điều không có gì lạ.  Việc hâm mộ và tôn vinh những tài năng là điều chẳng có gì đáng trách.  Tuy vậy, về phương diện ngữ học cũng như về khía cạnh đức tin, chúng ta cũng cần tìm hiểu để sử dụng ngôn từ cho chính xác.

Trong truyền thống Cựu ước, “Idol” được dịch là thần tượng, ngẫu tượng, ngẫu thần, tà thần.  Từ điển Công giáo Việt – Anh giải thích: “Theo nghĩa rộng, ngẫu thần là bất cứ điều gì được gán cho địa vị tối cao vốn chỉ dành cho một mình Thiên Chúa.  Theo nghĩa hẹp, ngẫu thần là một đồ vật, thường mang dáng con thú hoặc hình ảnh biểu tượng chỉ thần, và được thờ thay cho Thiên Chúa đích thật.”  Như thế, thờ ngẫu tượng là đặt một thụ tạo vào chỗ mà chỉ có Thiên Chúa mới xứng đáng.  Các ngôn sứ của Cựu ước kịch liệt lên án các loại hình thờ ngẫu tượng, và các ông gọi đó là phản bội, là bất trung, giống như người vợ hay chồng ngoại tình.  Chúa phán trong sách Lêvi: “Các ngươi không được hướng về các tà thần, không được đúc tượng thần mà thờ.  Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi” (Lv 19,4).  Thánh Phao-lô cũng lên án thờ ngẫu tượng, khi ngài viết: “Anh em đừng trở thành những kẻ thờ ngẫu tượng, như một số trong nhóm họ, theo lời đã chép: Dân đã ngồi xuống để ăn uống, rồi lại đứng lên chơi đùa” (1 Cr 10,7-8).  Tác giả Thánh vịnh còn chế giễu: “Tượng thần chúng chỉ là vàng bạc, chỉ do tay người thế tạo thành.  Có mắt có miệng, không nhìn không nói, có mũi có tai, không ngửi không nghe.  Có hai tay, không sờ không mó, có hai chân, không bước không đi, từ cổ họng, không thốt ra một tiếng.  Tác giả còn chúc dữ: “Ước gì kẻ làm ra hoặc tin ở tượng thần cũng giống như chúng vậy” (Tv 115,4-8).

Yêu mến người tài, yêu mến cái đẹp và tôn vinh những tài năng, đó là điều hoàn toàn chính đáng.  Tuy vậy, suy tôn đến mức để cho những nhân vật và sự vật ấy thay thế vị trí của Thiên Chúa, thì đó là chọn nhầm lý tưởng, gọi là tội thờ ngẫu tượng.

Một ngày nọ, Chúa Giê-su đặt câu hỏi với các môn đệ: “Người ta bảo Con Người là ai?”  Sau khi nghe các ông trả lời theo dư luận quần chúng, Chúa Giê-su muốn các ông phải xác định rõ ràng hơn: “Còn các anh, các anh bảo Thầy là ai?”  Câu hỏi này cũng tương tự như câu hỏi: các anh chọn ai là “Idol” của mình?  Tông đồ Phê-rô đã trả lời: “Thày là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.”  Câu trả lời của Phê-rô là lời tuyên xưng Đức tin.  Lời tuyên xưng này có ơn soi sáng của Chúa, như Chúa Giê-su đã nói khi Người khen ngợi ông Phê-rô: “Không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thày, Đấng ngự trên trời.”  Sau này, tông đồ Phao-lô viết: “không ai có thể nói “Đức Giê-su là Chúa” mà lại không do Thánh Thần (1 Cr 12,3).  Chúa Giê-su còn khẳng định điều này trong lời cầu nguyện với Chúa Cha: “Con xưng tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn” (Mt 11,25).  Không có ơn soi sáng của Chúa, chúng ta không thể nhận biết và tin vào Người.

Nếu chúng ta có dịp đến hành hương tại Đền thờ Thánh Phê-rô ở Rôma, khi viếng mộ Thánh Phê-rô, ở khu bàn thờ chính của Đền thờ, chúng ta sẽ nhìn thấy một tấm biển bằng đồng, khắc chữ La-tinh hai câu nói của Thánh Phê-rô.  Câu thứ nhất: “Thày là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16); câu thứ hai: “Lạy Thày, bỏ Thày thì chúng con biết theo ai?” (Ga, 6,68).  Câu thứ nhất là lời tuyên xưng Đức tin; câu thứ hai là lời hứa trung thành.  Hai câu nói này đã làm nên dung mạo của vị Tông đồ trưởng.  Ông đã được Đức Giê-su đặt làm nền tảng Giáo Hội, đồng thời trao quyền cai quản và điều hành cộng đoàn tín hữu tin vào Chúa Giê-su trên toàn thế giới.  Những ai đến viếng mộ Thánh Phê-rô, được mời gọi tuyên xưng Đức tin và tuyên hứa trung thành với Chúa.  Xưa cũng như nay, ơn gọi luôn là một huyền nhiệm.  Bài đọc I trích sách ngôn sứ I-sai-a ghi lại: Thiên Chúa đã chọn ông En-gia-kim làm vua và ban cho vương quốc hùng mạnh an bình.  Chính Ngài củng cố quyền lực của vị vua này.  Ngài trao chìa khoá nhà Đavít cho ông, và làm cho vương quyền của ông vững bền.

Thần tượng và lý tưởng của người Ki-tô hữu là chính Đức Giê-su.  Ơn gọi Ki-tô hữu là nên giống Đức Giê-su trong tư tưởng, lời nói và việc làm.  Các tông đồ đã chọn Đức Giê-su làm lý tưởng.  Họ đã chết để làm chứng rằng sự lựa chọn của họ là chính đáng và cao cả.  Để được nên giống Chúa Giê-su là “Idol” của mình, chúng ta phải năng gặp Người.  Cuộc gặp gỡ thân tình nhất, là gặp gỡ qua lời cầu nguyện, vì khi cầu nguyện là ta tâm sự với Chúa và lắng nghe Chúa nói với ta, thân thiết gần gũi như một người Bạn.  Cầu nguyện để càng ngày càng nhận biết Đức Giê-su là Ai đối với bản thân mình.

“Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên Tảng Đá này, Thày sẽ xây Giáo Hội của Thày, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.”  Chúa Giê-su đã đổi tên cho ông Si-mon và cho ông một tên mới là Phê-rô.  Việc đổi tên đánh dấu một giai đoạn mới trong cuộc đời.  Phê-rô là Tảng Đá.  Giáo Hội của Đức Giê-su đặt nền trên chính Tảng Đá ấy.  Nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội luôn đứng vững đã hai ngàn năm, và sẽ còn vững vàng cho tới khi Chúa Giê-su đến trong vinh quang.

Khi lĩnh nhận Bí tích Thanh Tẩy, chúng ta đã chọn Chúa Giê-su là IDOL, là LÝ TƯỞNG cho đời mình.  Xin cho chúng ta luôn trung thành với lựa chọn ấy.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

SỰ NGÂY THƠ CỦA CON TIM

Bóng tối chỉ trở nên xấu xa khi có ánh sáng.  Tội lỗi chỉ có thể xảy ra nếu trước đó đã có tình yêu.

Thần học gia Karl Rahner đưa ra một nhận xét rất sâu sắc về đoạn văn trong Phúc Âm, nơi Chúa Giê-su bị đóng đinh và nói về những kẻ hành hình Ngài: “ Xin Cha tha thứ cho họ, vì họ không biết mình đang làm gì!”

Rahner cho rằng họ biết chính xác mình đang làm gì.  Họ biết mình đang giết một người vô tội, rằng họ đang đổ máu người vô tội.  Vậy tại sao Chúa Giê-su lại nói như vậy?

Sự ngây thơ của họ là gì?  Sự cả tin của họ là gì?

Câu trả lời của Rahner: Họ không biết mình đang làm gì vì họ không biết mình được yêu thương nhiều đến mức nào.  Và điều đó có thể dẫn đến sự ngây thơ trong tâm hồn.  Tại sao vậy?

Có một nơi sâu thẳm bên trong mỗi chúng ta, một nơi mà chúng ta hiếm khi ý thức được, nơi mỗi người được Chúa yêu thương vô điều kiện.  Những người đóng đinh Chúa Giê-su không biết mình đang làm gì vì họ không nhận thức được điều đó.  Đó là sự mù quáng, sự thiếu hiểu biết của họ.  Mặc dù bề ngoài có vẻ như vậy, nhưng họ không biết mình đang làm gì.

Điều này cũng đúng với chúng ta.  Quá thường xuyên chúng ta đóng đinh người khác và chính mình vì sự thiếu hiểu biết này: chúng ta không biết mình được yêu thương nhiều đến mức nào.  Hậu quả là, đôi khi chúng ta tàn nhẫn trong phán xét và dễ làm những điều làm tổn hại đến phẩm giá của mình.  Chúng ta đấu tranh để không trở thành một trong những kẻ hành quyết trên thập tự giá bởi vì, cuối cùng, chúng ta hành động vì thiếu hiểu biết.  Chúng ta không biết gì hơn, giống như sự ngây thơ của đứa trẻ tự làm tổn thương mình vì thiếu hiểu biết.

Nhưng đây không phải là một nhận định mới.

Thần học cổ điển đã phân biệt giữa sự ngu dốt có lỗi và sự ngu dốt không có lỗi.  Loại thứ hai, còn được gọi là sự ngu dốt không thể khắc phục, được xem là biện minh cho việc người ta không phạm tội và không chịu trách nhiệm.  Do đó, có quan điểm cho rằng bạn có thể làm những việc sai trái nhưng không phạm tội vì bạn hành động trong sự ngu dốt.  Điều này dựa trên niềm tin rằng bạn chỉ có thể hành động một cách đạo đức và có trách nhiệm nếu bạn thực sự biết mình đang làm gì.  Để phạm tội, bạn phải hành động một cách “có chủ ý.”  Tuy nhiên, đó là một điều kiện khá phức tạp.

Nhìn vào thế giới ngày nay, tôi dám khẳng định rằng trong một số vấn đề đạo đức quan trọng, chúng ta đang hành động trong sự ngu dốt không thể cứu vãn.  Nói một cách đơn giản, chúng ta không biết điều gì tốt hơn.  Chỉ có kiểu ngu dốt đã cho phép những người chân thành đóng đinh Chúa Giê-su mới có thể giải thích tại sao chúng ta, những người tốt và chân thành, lại có thể mù quáng đến vậy, cả về mặt cộng đồng và cá nhân, đối với người nghèo, đối với những đòi hỏi về kinh tế và xã hội mà đức tin của chúng ta đặt ra.  Lý do thực sự khiến chúng ta có thể sống thoải mái trong khi khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng nới rộng không phải vì chúng ta xấu xa và vô lương tâm, mà đúng hơn, như Rahner nói, chúng ta không biết mình được yêu thương đến mức nào.

Điều tương tự cũng đúng với thái độ của chúng ta đối với tình dục.  Chúng ta đã có thể coi thường tình dục, tách rời nó khỏi sự thiêng liêng của hôn nhân, và biến nó thành một phần mở rộng của việc hẹn hò (hoặc đơn giản là tình dục giải trí) chỉ vì một sự thiếu hiểu biết cố hữu nào đó.  Chúng ta không biết điều gì tốt hơn, không phải vì chúng ta thiếu lương tâm, mà vì chúng ta thiếu bất kỳ cảm nhận thực sự nào về tình yêu sâu sắc của Chúa và phẩm giá mà nó ban cho chúng ta.

Giống như những kẻ hành quyết Chúa Giê-su, chúng ta có khả năng đáng kinh ngạc trong việc hợp lý hóa, coi nhẹ và bù đắp chính vì chúng ta không biết mình đang làm gì.  Chúng ta không có nhận thức rõ ràng về tình yêu thương của Chúa dành cho mình.  Do đó, rất dễ đánh mất cái nhìn khách quan, cảm thấy bị loại trừ và làm những điều mà chúng ta sẽ không bao giờ làm nếu nhận thức đầy đủ hơn về phẩm giá của mình.

Chẳng có gì lạ khi chúng ta chấp nhận những điều kém cỏi hoặc bất cứ thứ gì hứa hẹn sự thoải mái và an toàn.  Chắc chắn Chúa Giê-su đang nhìn chúng ta và nói: “ Xin Cha tha thứ cho họ, vì họ không biết mình đang làm gì!”

Nhưng liệu điều đó có đúng không?  Chúng ta có thể thực sự viện cớ thiếu hiểu biết và vô tội để nói rằng mình không biết gì hơn được không?

Tôi nói có, không phải vì chúng ta ngu ngốc hay thiếu thông minh.  Đây là sự ngây thơ trong tâm hồn.

Chúng ta vô tình không nhận thức được tình yêu thương vô bờ bến của Chúa dành cho chúng ta.

Rất ít người trong chúng ta, ở bất kỳ cấp độ hiện sinh nào, từng nghe Chúa nói với mình: “Ta yêu con!”  Rất ít người trong chúng ta từng nghe và cảm nhận được những gì Chúa Giê-su hẳn đã cảm nhận khi chịu phép báp-têm, khi Ngài nghe Cha mình phán: “Con là con yêu dấu của Ta; Ta vui mừng vì con!”  Thật vậy, rất ít người trong chúng ta từng nghe một người khác, từ tâm hồn đến tâm hồn, nói với mình: “ Ta yêu con vô điều kiện! Ta vui mừng vì con!”  Vậy thì có gì đáng ngạc nhiên khi, giống như những kẻ hành hình Chúa Giê-su, chúng ta có khả năng đáng kinh ngạc, với lương tâm trong sáng, đôi khi lại mù quáng và không trung thực với chính mình?

Bóng tối chỉ trở nên xấu xa khi có ánh sáng.  Tội lỗi chỉ có thể xảy ra nếu trước đó đã có tình yêu.  Sự phản bội chỉ có thể xảy ra nếu trước đó người ta đã nghe những lời: “Tôi yêu bạn.”  Những kẻ hành hình Chúa Giê-su đã hành động trong bóng tối xuất phát từ việc chưa bao giờ nghe thấy điều đó.  Tôi cho rằng điều tương tự cũng đúng với nhiều người trong chúng ta.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

NHỮNG NGHI NGỜ CỦA BÀ LÃO

Chủ đề: “Cách thức để triển nở đức tin là thực hành nó, đặc biệt trong việc yêu thương tha nhân.”

Một bé gái 6 tuổi đến ăn tại nhà một người bạn.  Khi mọi người ngồi vào bàn, cô bé cúi đầu chờ đợi mọi người đọc kinh ăn cơm.  Chẳng thấy ai đọc kinh hết, cô bé thẹn thùng nói: “Cả nhà giống con chó nhà cháu quá, cứ ngồi xuống là ăn!”

Dân Do Thái cũng nghĩ như thế đối với đám dân ngoại.  Theo họ, dân ngoại xét về mặt thiêng liêng cũng giống như loài chó vì họ hoàn toàn thiếu nhạy cảm đối với Thiên Chúa.  Ðiều này dẫn chúng ta đến chủ điểm quan trọng của bài Phúc Âm hôm nay.

Các học giả nhận xét là từ ngữ Hy Lạp mà Chúa Giêsu nói về “lũ chó” trong câu “không nên ném thức ăn cho lũ chó” là một hình thức giảm thiểu.  Nó ám chỉ lũ chó cưng nuôi trong nhà, chứ không phải những con chó rông ngoài đường.  Chúa Giêsu dùng từ ngữ ấy một cách thân ái.  Câu đáp lại của người phụ nữ cho thấy rõ điều ấy.  Có lẽ bà ta vừa mỉm cười vừa nói:

“Những lũ chó cũng được ăn vụn bánh rơi xuống nền nhà chứ!”

Nói cách khác, bà ta đang nói với Chúa Giêsu: “Con biết Ngài hiện đang dành ưu tiên cho dân Israel, tuy nhiên trong khi Ngài thiết đãi họ, Ngài lại không thể đẩy cho con chút ít bánh vụn giống như đám nhóc quăng bánh xuống cho lũ chó cưng khi bố mẹ chúng không nhìn thấy sao?”

Chúa Giêsu liền trả lời cho bà ta: “Bà là người phụ nữ giàu lòng tin!  Điều bà mong muốn sẽ được trao ban cho bà.”

Thật đẹp biết bao nếu Chúa Giêsu cũng nói như thế về anh chị em.

Ðiều này gợi lên một vấn nạn: Tại sao một số người có đức tin mạnh mẽ trong khi số khác đức tin lại yếu kém?  Tại sao lại thấy đó là điều khó khăn?  Và điều đó dẫn đến một vấn nạn còn khó khăn hơn: Nếu đức tin của chúng ta yếu kém thì liệu chúng ta có thể làm gì để củng cố?  Chúng ta hãy xét vắn tắt từng vấn nạn nêu trên.

Trước hết, tại sao có những người đức tin yếu kém và có những người đức tin mạnh mẽ?  Ðiều này cũng giống hệt như việc hỏi tại sao có người yếu nhược còn có người lại khỏe mạnh?

Một số người có sức khỏe yếu kém là do cha mẹ họ.  Họ thừa hưởng một thân xác eo sèo.  Nhưng cũng có những người sức khỏe yếu kém vì họ chẳng biết chăm sóc sức khỏe cho chính mình.

Ðiều đúng cho sức khỏe thể lý thế nào thì cũng đúng cho sức khỏe tâm linh đức tin của chúng ta như thế.  Một số người có đức tin yếu kém là do cha mẹ họ.  Sức khỏe tâm linh được di truyền cũng tương tự như sức khỏe thể lý.  Nếu bố mẹ lạnh nhạt với đức tin của mình thì điều này cũng thường tác động lên đám con cái họ.  Mặt khác, đức tin của chúng ta yếu kém cũng có thể là do chúng ta không chăm sóc nó.

Ðiều này dẫn chúng ta đến vấn nạn thứ hai.  Nếu đức tin chúng ta yếu kém bất kể vì lý do gì, chúng ta có thể làm gì để củng cố nó lại?  Ðức tin có thể được so sánh với một bắp thịt.  Nếu chúng ta không chịu luyện tập, bắp thịt ấy sẽ từ từ yếu đi.  Mặt khác, các bạn càng luyện tập, bắp thịt ấy càng mạnh mẽ lên.  Đức tin của chúng ta tương tự như thế.  Nó cũng cần phải được tập luyện.

Có nhiều phương cách luyện tập đức tin.  Chúng ta có thể học hỏi và bàn luận về Phúc Âm như hiện chúng ta đang làm.  Chúng ta có thể tham dự thánh lễ mà ít phút nữa chúng ta sẽ cử hành một cách chăm chú hơn.  Chúng ta có thể tập cầu nguyện mỗi ngày để việc cầu nguyện trở thành thói quen.

Tuy nhiên, còn một phương cách luyện tập đức tin chúng ta xem ra cực kỳ hữu hiệu.  Cách này đáng được lưu tâm đặc biệt.  Dostoevski có bàn đến nó trong tác phẩm của ông nhan đề: “Anh em nhà Karamazốp” (The Brothers Karamazov).  Trong tác phẩm này, tác giả đề cập đến một bà lão nọ.  Sức khoẻ thiêng liêng của bà đã suy thoái mau chóng theo sức khỏe thể lý.  Ngày nọ bà ta bàn luận vấn đề của mình với vị linh mục già tên là Zossima.  Bà kể cho cha nghe về đức tin yếu kém của bà và những nỗi ngờ vực vừa phát sinh, chẳng hạn như: Thiên Chúa có thực sự quan tâm đến vạn vật không?  Có đời sống sau lúc chết không?

Linh mục Zossima thông cảm lắng nghe bà và nói: “Chẳng có cách nào minh chứng rõ ràng những điều này, nhưng bà vẫn có thể tin tưởng những điều ấy vững chắc hơn.”  Bà ta ngạc nhiên: “Bằng cách nào?”  Vị linh mục già đáp: “Bằng tình yêu.  Hãy cố gắng yêu láng giềng của bà thật tình.  Càng yêu thương, bà sẽ càng chắc chắn hơn về sự hiện hữu của Chúa và đời sống tương lai sau khi chết.  Càng yêu mến, đức tin bà sẽ càng lớn lên và các nỗi ngờ vực sẽ tiêu tan.  Ðây là điều chắc chắn từng được thử nghiệm và nó đã có kết quả.”

Linh mục Zossima nói thật chí lý.  Người cho ta thấy điểm quan trọng là: tình yêu và đức tin đi đôi với nhau không khác gì hai đường rầy xe lửa.  Tìm được cái này tức là tìm thấy cái kia.  Ðức tin và tình yêu liên kết với nhau như xác với hồn.  Albert Schweitzer, vị bác sĩ thừa sai vĩ đại, cũng có cùng quan điểm như trên trong cuốn sách của ông có nhan đề Reverence For Life (Kính trọng cuộc sống).  Ông bàn đến một vài điều đem lại kết quả này như sau:

“Bạn có muốn tin vào Chúa Giêsu không?  Bạn có thực sự muốn tin Người không?  Như thế bạn phải làm một điều gì đó cho Người.  Trong thời buổi đầy ngờ vực này thì không có cách nào khác đâu.  Nếu vì Người mà các bạn cho kẻ khác cái gì đó để ăn, để uống hoặc để mặc, những nghĩa cử này Chúa Giêsu đã hứa chúc phúc như là làm cho chính Người, thì lúc đó các bạn sẽ thấy rằng mình đã thực sự làm điều ấy cho Người.  Chúa Giêsu sẽ mặc khải chính Người cho các bạn như thể Người vẫn còn sống.”

Và điều này dẫn chúng ta trở lại với người phụ nữ trong bài Phúc Âm.  Bà đến với Chúa Giêsu là vì kẻ khác, chớ không vì chính bà, Bà đã đến vì tình yêu, đã đến với tư cách một người mẹ đầy lòng yêu thương, tin tưởng.

Tôi xin nêu lên một gợi ý.  Tôi tin rằng mỗi bài Phúc Âm khi được đọc trong thánh lễ đều mang theo một ân sủng đặc biệt.  Nếu các bạn là một bậc cha mẹ cảm thấy cần củng cố đức tin của mình, thì hãy bắt chước người phụ nữ trên.  Ngay tuần này, các bạn hãy bắt đầu đến với Chúa Giêsu mỗi ngày đều đặn để kêu cầu Người chúc phúc cho con cái các bạn.  Nếu các bạn là một thanh niên cảm thấy cần củng cố đức tin của mình thì hãy làm điều Dostoevski và Schweitzer đã nói.  Hãy bắt đầu cư xử một cách yêu thương đối với bố mẹ và anh chị em của mình.

Và tôi xin chia sẻ thêm một tư tưởng nữa về vấn đề đức tin.  Bất cứ ai dù khỏe mạnh đến đâu cũng phải trải qua những khó chịu bởi vì cuộc sống con người vốn là như thế.  Chẳng hạn, vào ngày buồn sầu trong cuộc sống khi gặp phải cảm nghiệm chua chát, chúng ta thường gây gỗ với mọi người và mọi vật, chúng ta nguyền rủa kẻ thù và than phiền về bạn bè của mình.  Còn vào ngày hưng phấn trong cuộc sống.  Khi chúng ta cảm nghiệm được điều gì hoan hỉ, tự dưng chúng ta cảm thấy yêu mến mọi người và mọi sự.  Chúng ta tha thứ cho kẻ thù và thích tỏ tình thân thiện với bè bạn.

Ðức tin cũng rất giống như thế.  Có ngày rất tươi sáng và rất phấn khích, có ngày ảm đạm, sầu thảm.  Khi gặp phải một ngày “tồi tệ” của đức tin, các bạn hãy ghi nhớ câu chuyện có thực sau đây.  Nó sẽ giúp bạn chịu đựng ngày ấy và giữ vững niềm tin của mình.

Sau thế chiến thứ hai ít lâu, có một số công nhân lo dọn dẹp sạch sẽ tàn tích của một ngôi nhà bị bom ở Cologne (nước Ðức).  Họ thấy trên một bức tường nhỏ trong nhà, có một bản ghi chú đầy cảm động, hình như một người Do Thái trên đường trốn bọn Quốc Xã đã viết lên đó.  Anh ta dùng tầng hầm của căn nhà để trốn bọn Quốc Xã.  Sau đây là bản ghi chú đó:

“Tôi tin vào mặt trời ngay cả lúc nó không chiếu sáng.
Tôi tin vào tình yêu ngay cả lúc tôi không cảm thấy nó.
Tôi tin vào Thiên Chúa ngay cả khi Người yên lặng
”…

Lm. Mark Link, S.J.

ĐỨC MARIA LÊN TRỜI LÀ MẸ CHÚNG TA 

1. Đức Maria, con người hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa.

Vào giây phút linh thiêng và long trọng nhất của mầu nhiệm hy tế, đứng dưới chân thập giá của Đức Giêsu, có thân mẫu Người (x. Ga 19,25).

Đó là giờ trọng đại cao cả của Đức Giêsu mà nhiều lần Người đã loan báo.  Đó chính là giờ mà quyền năng cứu độ của Thiên Chúa thực hiện để đánh bại Satan và những gì thuộc quyền lực của thế gian.  Đây là thời điểm tỏa sáng ứng nghiệm điều đã được tiên báo trong Tiền Tin Mừng (Protoevargelium của sách Sáng Thế 3,15).[1]  Cũng chính giờ phút này cộng đoàn Hội Thánh được thiết lập như dấu chỉ và phương thế cứu rỗi nhân loại.

Chính trong thời khắc tột đỉnh long trọng của “Giờ” đó, bên cạnh cây thập giá, Đức Maria đang hiện diện cùng Đức Giêsu Kitô, Con-Chiên-Xóa-Bỏ-Tội-Trần-Gian, trong một trạng  thái  hiệp nhất trọn vẹn cả thể xác lẫn tâm hồn và tình yêu.  Không gian cõi lòng Mẹ vang vọng tiếng “xin vâng” bằng cả con tim đang bị lưỡi gươm đâm thâu (Lc 2, 35).

Khung cảnh này gợi nhớ về trình thuật trong sách Sáng Thế 3,1-15 nơi một cặp nam nữ, Adam và Eva đang đứng bên cạnh cái cây ở giữa vườn, rồi gục ngã trong tội bất tuân.

2. Đức Maria, Eva Mới và là Đấng Đầy Ơn Phúc

Trong mầu nhiệm cứu độ, chỗ đứng của Đức Maria là bên thập giá Con Mình.  Cây thập giá là hậu quả của tội lỗi đưa đến khổ hình, Đức Giêsu Kitô là Đấng vô tội đã tự nguyện đóng đinh trên đó, để thánh giá trở nên nguồn ơn cứu độ cho nhân loại đến muôn đời.

Như Eva đã liên kết với Ađam trong tội lỗi, Đức Maria, suốt cuộc đời lắng nghe lời Thiên Chúa và vâng phục thẳm sâu, đã hiệp thông trọn vẹn với Ađam Mới là Đức Kitô trong sự chiến thắng sự chết và được tham dự vào vinh quang Phục Sinh với Con Mình (x. 1 Cr 5).

Tông hiến Munificentissimus Deus tuyên bố tín điều Đức Maria Hồn Xác về trời, không phải dựa trên những dữ kiện lịch sử còn sót lại, mà là một tiến trình khám phá của lý trí tựa trên ánh sáng đức tin, được soi chiếu bởi Kinh Thánh qua niềm tin tỏa chiếu mạnh mẽ trong truyền thống Hội Thánh.

Trước hết cần nhận ra rằng, đặc ân cao cả được cất lên trời cả hồn lẫn xác của Mẹ Maria là một hồng ân do lòng ưu ái đặc biệt của Thiên Chúa dành cho Mẹ, như là một nối kết vinh quang trong chuỗi hồng ân trọn vẹn mà Thiên Chúa sai sứ thần đến chào “ Mẹ đầy ơn phúc” (Lc 1,28).

Đức Kitô là Adam mới đã chiến thắng tội lỗi và phá tan ách  tử  thần (Rm 5-6; 1 Cr 15,21-26. 54-57).  Nhờ  vậy, Mẹ Maria, là Eva Mới đã hiệp thông với Con Mình một cách hoàn hảo nên cũng được tham dự vào cuộc chiến thắng trên tội lỗi và khải hoàn vào thiên quốc cả hồn lẫn xác.[2]

Tin Mừng Luca đã dọi sáng cho các giáo phụ nhìn thấy Mẹ Maria như là Hòm Bia Giao Ước và Nhà Tạm của Đấng Tối Cao, nên Mẹ cũng mang lấy sự thánh thiện và bất khả vi phạm của Hòm Bia (x. Tv 131,8; Is 60,13).  Đức Maria cũng chính là Hoàng Hậu, Thân mẫu của Đức Vua muôn thuở ngự bên ngai vua, tức là bên cạnh Chúa Cứu Thế vinh quang (Tv 44, 10-16).[3]

3. Cảm Nếm

Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời là hoa trái sinh ra từ cuộc Phục Sinh khải hoàn của Đức Kitô.  Mẹ đã khiêm hạ đón nhận lời mời gọi của Thiên Chúa và đã hiến dâng đáp trả trọn vẹn bằng sự hiệp thông cả tâm hồn và thân xác với Con Mình là Đức Kitô trong cuộc chiến thắng tội lỗi và sự chết.  Tình yêu Thiên Chúa đã cư ngụ dồi dào và đã biến đổi cả linh hồn và thân xác Mẹ, gìn giữ cả thân xác Mẹ không bị tan rữa trong bụi đất.

Đức Giêsu Kitô sống lại và lên trời (ascensio) là do tự quyền năng thần tính của Ngài, còn Đức Maria được sống lại và lên trời cả hồn lẫn xác (assumptio) là nhờ được lãnh nhận bởi ơn cứu độ của Đức Kitô.

Đức Maria Lên Trời là dấu chỉ hy vọng lớn lao cho những người tin vào Đức Kitô một ngày kia sẽ lãnh nhận ơn trọng đại  này.  Bên cạnh đó, người tin còn nhận ra Đức Maria trong vinh quang của Thiên Chúa cũng chính là Nữ Vương, là Mẹ nhân loại “Này là Mẹ con” (Ga 19,27), là Mẹ của mỗi người chúng ta.  Niềm vinh hạnh đó dẫn đưa chúng ta vào sống thân mật thâm sâu trong tình yêu trọn vẹn của Chúa Ba Ngôi và Mẹ Maria, Đấng đẹp lòng Thiên Chúa một cách hoàn hảo.  Tình yêu đó sẽ biến đổi cuộc sống hiện tại của chúng ta ngay ở đây và bây giờ.

Lm. Antôn Võ Công Ánh, SVD

[1] “Thiên Chúa phán với con rắn, kẻ cám dỗ người nữ: Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy, dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót chân người đó.”

[2] xc. Phan Tấn Thành, Vầng Trăng Tuyệt Vời, tr 120-121.

[3] xc. Phan Tấn Thành, Sđd,  tr 121.

THÁNH CLARA ĐỒNG TRINH (1193 – 1253)

Thánh Clara sinh năm 1193 tại Assisi, miền Umbria.  Thuộc dòng họ danh giá Offreducciô.  Người ta nói thánh nữ sinh ra với nụ cười trên môi và không bao giờ thấy ngài khóc.  Ngài dành nước mắt để tưới chân Chúa Giêsu chịu đóng đinh.  Nghe biết một thanh niên giàu có đã trở nên người nghèo ở thành Assisi, người thiếu nữ danh giá cảm kích trước mẫu gương của thánh nhân.  Trong khi gia đình nhắm cưới gả cho nàng, thì nàng chỉ nhắm đến cuộc sống sám hối khiêm hạ.  Sau khi nghe bài giảng của thánh nhân, ngài đã đi tới quyết định.

Khi ấy, Thánh Clara 18 tuổi.  Vào ngày Lễ Lá, 18 tháng 3 năm 1212, thánh nữ ăn mặc sang trọng tới nhà thờ chính tòa dự lễ.  Theo thói quen, các bà tiến lên nhận lá từ tay Đức Giám mục.  Hôm ấy, Clara quá xúc động, khiến chính Đức Giám mục phải rời ghế, đưa lá đến cho ngài.  Chiều về, ngài đã cùng với một người bạn lén bỏ nhà theo lối cửa hậu rồi theo ánh đuốc tới gặp Thánh Phanxicô tại Porziuncola…

Giai thoại thật cảm động: một cô gái 18 sang trọng đã bỏ tất cả những gì là quen thuộc và an toàn để đi theo Đấng vô hình, còn Phanxicô 30 tuổi không có lấy một xu dính túi đã nhận lấy trách nhiệm về cả tinh thần lẫn vật chất đối với cô.  Giữa đêm xuân trong rừng cây và dưới ánh đuốc của đoàn anh em.  Clara buông xõa mái tóc huyền trên bàn thờ cho Phanxicô cắt bỏ.  Hành động hoàn toàn ngoại lệ và không có một chút quyền hạn theo giáo luật.  Phanxicô đã lãnh bản ly dị của Clara đối với thế gian, rồi gởi đi vào một nữ tu viện Bênêdictô gần đó.

Biến cố nổ lớn làm cả thành phố xúc động.  Thế gian kết án Clara.  Ông Monaldo, cậu thánh nữ đến nhà dòng bắt thánh nữ về, nhưng ngài ôm cứng chân bàn thờ quyết chọn Chúa mà thôi.  Phanxicô dẫn thánh nữ tới một nữ tu tu viện Bênêdictô khác, cùng với em của mình là Anê.  Sau cùng Phanxicô thiết lập cho Clara và cộng đoàn một tu viện tại San Damiano, nơi đây bà Ortolana, mẹ của thánh nữ cũng nhập dòng.  Trong một thời gian, cộng đoàn độc lập như những người hành khất đầu tiên.  Phanxicô viết cho cộng đoàn một bản luật sống vắn gọn, đòi kỷ luật gắt gao và chay tịnh khắc khổ.

Dầu vậy, Clara, con người đi xa hơn cả ước muốn của Thánh Phanxicô.  Năm 1215, Phanxicô đặt Clara làm tu viện trưởng và có lẽ đã trao cho ngài một bản luật dòng thánh Bênêdictô.  Nhưng một mục chương nói rằng sự đơn sơ và nhiệt tình của chị em khiến cộng đoàn tăng số rất nhanh.

Vào những năm cuối đời thánh Phanxicô, mọi liên hệ với San Đômianô bị gián đoạn.  Câu chuyện hay về bữa ăn tối với Clara không được chính xác lắm.  Nhưng cơn đau cuối cùng, Phanxicô đã được Clara cho trú ngụ trong một mái chòi bằng lá cây ở cổng tu viện Damianô, nơi Phaxicô trước tác bài ca mặt trời.  Ngài ban phép lành cuối cùng cho Clara rồi về Porziuncola và qua đời tại đó.  Ngài cũng xin anh em đưa xác về Assisi qua ngã San Đamianô.  Thánh Clara và chị em tiếp rước và có dịp chiêm ngưỡng các vết thương ở tay và chân ngài.

Clara thực hiện đúng lý tưởng của người nghèo thành Assisi.  Đức Innôcentê III đã đích thân ban phép cho ngài được giữ đức nghèo khó tuyệt đối.  Nhưng Đức Grêgôriô IX nguyên là Hồng y Ugôlinô, đã muốn cải sửa luật cho phép nhà dòng có đất đai, nhà cửa.  Clara cưỡng lại và năm 1228 đã được hưởng đặc ân như sở nguyện.  Ngài đã thưa với Đức Grêgôriô :

– Thưa Đức Cha, xin tha tội cho chúng con, nhưng đừng tha cho con khỏi theo lời Chúa

Năm 1247, một lần nữa Đức Innocentê IV kiểm soát lại luật Thánh Phanxicô, muốn sống đời khó nghèo tuyệt đối.  Luật này được Đức Innocente chấp thuận vội vã, hai ngày trước khi thánh nữ qua đời.  Năm 1893, người ta tìm thấy sắc chỉ nguyên thủy trong mộ thánh nữ.

Cuộc sống còn được ghi nhớ bởi cuộc tàn phá năm 1241 của vua Frêdêrico II, nhờ lời cầu nguyện đắc lực của ngài.  Trong cơn bệnh của ngài, Đức Hồng y Rainalđô, tức là Đức Giáo Hoàng Alexandrô sau này, đã đến trao mình Chúa và khuyên nhủ thánh nữ, thánh nữ trả lời:

– Từ khi nếm thử chén đắng và cuộc tử nạn của Chúa, con thấy không còn gì làm con đau đớn nữa

Sau khi chúc lành cho các nữ tu đến thăm, ngài nói với mình:

– Hãy an tâm, ngươi đã theo đúng đường, cứ tin tưởng vì Chúa tạo thành đã thánh hiến và không ngừng gìn giữ ngươi, đã yêu ngươi với tình mẹ thương con, ôi lạy Chúa, xin chúc tụng Chúa vì đã dựng nên con.

Thánh nữ qua đời ngày 11 tháng 8 năm 1253 và năm 1255 được tôn phong hiển thánh.

Trích: Theo Vết Chân Người, Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý

HÀNH TRÌNH NHÌN LẠI

Trong một đoạn rất sâu sắc trong bài thơ Chiếc lá và Đám mây (The Leaf and the Cloud), Mary Oliver đã họa lên hình ảnh mình đang đứng cạnh mộ cha mẹ, nghĩ về cuộc đời của họ.  Họ không phải là hình ảnh hoàn hảo và bà cũng không tô lên cho đẹp những sai lỗi của họ.  Bà nói thẳng về tâm hồn nặng nề của mẹ, về đức tin non nớt của cha.  Bà biết nhiều chuyện khó khăn của bà phát xuất từ đó.  Tuy nhiên, bà không đi thăm mộ cha mẹ để trách họ.  Bà đến đó để thật tâm hôn từ biệt họ, cuối cùng bà thấy bình an với cuộc đời không hoàn hảo và ảnh hưởng của cha mẹ trên cuộc đời mình.  Bà cám ơn họ vì mọi sự, cả tốt và xấu, cầu chúc họ mọi sự tốt đẹp dưới lòng đất sâu, rồi bà nói, “nhưng tôi sẽ không tặng cha mẹ tôi nụ hôn đồng tình.  Tôi sẽ không để họ có trách nhiệm trên đời tôi.”

Tất cả chúng ta có lẽ nên làm cuộc hành trình nhìn lại này bằng cách xem lại giáo dục tôn giáo thuở nhỏ của mình.  Đây là cả một điều đáng để xem lại.  Tiếc là nhiều người trong chúng ta không bao giờ lưu lại đủ lâu để xác định xem điều gì mang lại ân phúc, điều gì mang lại tổn thương khi một tác nhân dễ sai lầm là con người giới thiệu Thiên Chúa cho chúng ta.  Ngày nay, chuyện phổ biến, thậm chí còn là thời thượng khi người ta chỉ xem lại những gì tiêu cực trong giáo dục tôn giáo thuở nhỏ.  Đúng là nhiều người nói về “tái sinh” khỏi giáo dục tôn giáo và thường quy mọi bất hạnh và rối loạn trong đời họ cho giáo dục tôn giáo này.

Chắc chắn, một số khẳng định như thế là có lý, giáo dục tôn giáo thuở nhỏ thật sự để lại một dấu tích không phai trong chúng ta.  Tuy nhiên, chúng ta có trách nhiệm với bản thân, với cha mẹ, giáo viên thời thơ ấu và với sự trung thực, trong việc phải xác định những điều tích cực và tiêu cực trong giáo dục tôn giáo thuở nhỏ.  Và như bà Mary Oliver, chúng ta cần làm hòa với nó, dù chúng ta không thể tặng cho nó nụ hôn đồng tình.

Câu chuyện của riêng tôi là gì?  Với tôi, sự tỉnh ngộ về ý thức và tỉnh ngộ về Thiên Chúa và Giáo hội là hai điều liên kết không thể phân ly.  Tôi hấp thụ bầu khí Công giáo La-mã thời đó, và đó là công giáo thời tiền Vatican II, một tinh thần công giáo đầy những chuyện tiêu cực lẫn tích cực.  Lòng đạo thuở nhỏ của tôi là những chân lý tuyệt đối, những luật không thể thương lượng, nhưng lại đòi hỏi cao, cả tính bè phái và hạn hẹp bao gồm.  Chúng ta và chỉ chúng ta mới có đức tin thật, duy nhất.  Hơn nữa, những điều này được viết ra bởi một Thiên Chúa theo dõi sát sao hành động con người, không dễ dàng cho phép chúng ta lỗi phạm, giữ điều răn thứ sáu trên tất cả, dùng xấu hổ làm khí cụ và thường hay cau mày giận dữ.

Nhưng đó còn lâu mới là tất cả.  Mặt tích cực của nó thì có quá nhiều.  Gia đình, cộng đoàn, và Giáo hội đã rửa tội cho tôi, có những mối liên kết chung mà hầu hết các cộng đồng thời nay chỉ có thể ganh tị.  Bạn thật sự là một phần của một thân thể, một gia đình, một cộng đoàn là hiện thân của ý thức siêu việt đã làm cho đức tin thành điều tự nhiên, làm cho cộng đoàn thành một phần cuộc đời của bạn.  Bạn biết mình là con cái Thiên Chúa và bạn cũng biết mình là tạo vật luân lý có trách nhiệm thật sự với tha nhân và Thiên Chúa.  Bạn biết ý nghĩa bất diệt của mình, phẩm giá căn bản của mình và trách nhiệm luân lý đến từ đó và bạn không thể miễn trừ mình khỏi chuyện đó.

Và tất cả những điều này truyền cho bạn một chân lý tôn giáo, luân lý, rất căn bản và không thể thương lượng, rằng sự sống của bạn không đơn thuần là của bạn để bạn muốn làm gì thì làm.  Bạn biết rằng trừ khi bạn bội tín, bạn không thể làm ngơ sự thật là bạn mang tính xã hội, phụ thuộc lẫn nhau, thuộc về Giáo hội, và sự thật rằng Thiên Chúa cho bạn xuất hiện trên đời không phải chỉ để mưu cầu cuộc sống tốt đẹp cho riêng bạn.  Bạn có ơn gọi, một bổn phận nào đó để phục vụ, và Thiên Chúa, gia đình, cộng đoàn và Giáo hội có thể đòi hỏi bạn hy sinh mạng sống.  Ngày nay, tôi thấy phần này trong tâm hồn mình là một trong những ơn quý báu nhất tôi đã nhận được từ linh đạo thuở nhỏ.  Dù nó có kèm theo những con quái vật xấu xa nào, nó cũng vẫn xứng đáng.

Thêm nữa, quái vật có thể bị xua trừ và hầu hết quái vật bị chôn trong giáo lý căn bản tôi học hồi nhỏ đã dần dần bị tiêu diệt qua năm tháng. Điều gì đã giúp làm được như thế? Nhiều điều lắm: những năm học và dạy thần học, đọc sách hay, có linh hướng tốt, thấy được sự lành mạnh hân hoan và thiết thực nơi những người có đức tin, kiên trì trong nỗ lực trung thành với việc cầu nguyện, thánh lễ và cộng đoàn Giáo hội suốt bảy thập kỷ, và cuối cùng, nhưng quan trọng, chính là nhờ ơn Thiên Chúa.

Ngày nay, tôi có thể nhìn lại giáo dục tôn giáo thuở nhỏ của tôi và thấy sự tiêu cực bị điều tích cực át hẳn.  Tôi biết ơn tất cả, kể cả những nghiêm khắc, dọa dẫm, bè phái, sợ hãi, và những nỗi sợ sai lầm về Thiên Chúa, bởi vì trong mọi sự này có gì đó đã truyền cho tôi và dạy tôi điều gì là quan trọng nhất. Thật vậy, sự nghiêm khắc, dọa dẫm, bè phái và cẩn trọng quá đáng không tệ để làm điểm xuất phát, vì khi dần thoát khỏi chúng, chúng ta được tự do suốt phần đời còn lại.  Một ơn không nhỏ!

Rev. Ron Rolheiser, OMI