HÃY NHÌN LẠI BẦU TRỜI

Chủ đề: “Nếu chúng ta cảm thấy khó sống phúc âm, có lẽ do chúng ta không còn nhìn đến Chúa Giêsu.”

Có một ông nọ nói: “Tôi cứ nghĩ là càng về già tôi sẽ càng ít bị cám dỗ, nhưng thực tế tôi lại bị cám dỗ nhiều hơn.”  Có một phụ nữ kia nói: “Tôi cứ ngỡ là khi các cháu bé lớn lên tôi sẽ kiên nhẫn hơn, thế mà ngược lại tôi thấy mình nóng tính hơn trước.”  Một thiếu niên nói: “Trước đây tôi cứ nghĩ vâng phục luật Chúa là dễ dàng.  Bây giờ thì tôi lại thấy càng ngày càng khó.”

Bạn có lời nói nào tương tự như vậy không?  Bạn có thấy bị cám dỗ thường xuyên không?  Bạn có thấy mất kiên nhẫn với những người thân yêu không?  Bạn có cảm thấy ngày càng khó vâng theo luật Chúa không?  Nếu có, thì bài Phúc Âm hôm nay chắc chắn là một sứ điệp quan trọng đối với bạn.

Câu chuyện trên đây minh họa điều đó.  Nó giống hệt câu chuyện trong Phúc Âm hôm nay.

Vào lúc mới có thuyền buồm, một cậu bé nọ xin đi biển để học làm thủy thủ.  Một hôm biển có bão, người ta bảo cậu leo lên trên cột buồm.  Leo được nửa phần đầu thì dễ dàng vì cậu cứ đưa mắt gắn chặt vào bầu trời.  Nhưng đến lưng chừng cậu lại phạm một sai lầm.  Cậu nhìn xuống mặt nước biển trong cơn bão thế là cậu bị chóng mặt và sắp sửa ngã xuống.

Thấy thế, một thuỷ thủ già liền la to lên với cậu: “Này nhóc, ngước nhìn lên lại bầu trời đi!  Nhìn lên lại bầu trời đi!”  Cậu bé nghe theo lời chỉ dẫn và cuối cùng đã leo lên được an toàn.  Lỗi lầm của cậu bé, giống hệt lỗi lầm của Phêrô trong Phúc âm hôm nay.  Cậu ta đã rời mắt khỏi đích nhắm của mình và đã nhìn xuống mặt biển giông tố giống như Phêrô đã rời mắt khỏi Chúa Giêsu và nhìn xuống mặt biển giông tố.

Và điều này thường xảy ra cho bạn cũng như cho tôi.  Lúc đầu chúng ta khởi sự cuộc sống thật tốt đẹp, đôi mắt đăm đăm nhìn vào Chúa Giêsu, nhưng rồi một điều gì đó xảy đến khiến chúng ta rời xa mắt Người.  Chúng ta không còn nhìn vào Chúa Giêsu nữa; thế là chúng ta bị mất thăng bằng, chúng ta bắt đầu chìm xuống.  Tôi xin nêu một ví dụ cụ thể.

Trong cuốn sách tựa đề “The Taste of New Wine” (Hương rượu mới), Keith Miller có mô tả một biến cố thay đổi cuộc đời ông.  Biến cố này xảy ra vào mùa hè ngay sau năm thứ nhất đại học của ông.  Ðêm hôm ấy, Keith bị thương nặng vì một tai nạn xe hơi.  Anh nằm sõng soài bên vệ đường suốt một tiếng rưỡi chờ xe cứu thương.  Khi tâm trí hoàn toàn tỉnh táo, anh bắt đầu cầu nguyện.  Ðang khi nằm đó cầu nguyện trong bóng đêm, một cảm giác an bình xâm chiếm con người anh.  Keith viết: “Tôi nghĩ thật xấu hổ biết bao khi khám phá ra quá trễ trong cuộc đời có loại an bình thực sự như thế.  Lần đầu tiên, tôi không biết sợ chết.”  Keith cho biết, lúc đó anh nhận thức được rằng dầu có chết anh cũng sẽ chết trong khi biết mình đã được tiếp xúc với một điều gì đó thân mật và có thực.  Dù điều ấy là gì đi nữa, điều quan trọng là mãi cho đến bây giờ anh mới khám phá ra điều ấy trong cuộc sống của mình.

Thế rồi Keith đã thoát được tai nạn đó và bình phục trở lại.  Anh trở lại đại học và được bầu làm chủ tịch hội huynh đệ của lớp đại học năm thứ hai.  Chẳng bao lâu anh lại bị khích động bởi đời sống hào nhoáng ở đại học.  Nghĩa là, Keith đã quay mặt khỏi Chúa Giêsu, Ðấng mà anh đã từng gặp bên vệ đường.

Sau khi tốt nghiệp, Keith lập gia đình và làm việc cho một hãng xăng dầu ở Texas.  Nhưng anh đã không được hạnh phúc như anh từng mơ ước.  Một hôm, Keith buồn quá, anh chui vào chiếc xe hơi của công ty rồi vọt đi.  Chạy được một lúc anh cho xe chạy lên vệ đường, tắt máy rồi ngồi thừ ra đó.  Trước đây, Keith luôn luôn tin tưởng rằng luôn luôn có lối thoát cho buồn sầu, chẳng hạn uống vài ly Martini và ngủ một giấc thật say là có thể khởi sự lại vào sáng sớm hôm sau.  Thế nhưng hiện giờ không còn có sáng hôm sau nữa.  Anh ta đã đến bên bờ vực thẳm rồi.  Anh nhìn lên trời cao và la to lên với Chúa: “Nếu Chúa muốn điều gì nơi con thì Ngài hãy lấy đi, con thực tình muốn như thế!”

Câu chuyện trên xảy ra cách đây đã nhiều năm.  Tuy nhiên điều xảy ra trong đời Keith vào ngày đó đã không bao giờ rời anh ta nữa.  Hôm đó, không có những tiếng nói mầu nhiệm.  Hôm đó Keith chỉ nhận ra những điều Thiên Chúa muốn nơi chúng ta.  Chúa không cần tiền bạc, thời giờ của chúng ta.  Người chỉ cần ý muốn của chúng ta và nếu chúng ta dâng cho Người ý muốn này, Người sẽ chỉ cho chúng ta cuộc sống mà từ trước đến giờ chưa bao giờ chúng ta thấy, và có thể nói đây là một cuộc tái sinh thực sự.

Một lần nữa, Keith lại hướng đôi mắt nhìn vào Chúa Giêsu, và ngay lúc đó, anh lại tìm được sự bình an thâm sâu mà nhiều năm trước đây anh đã khám phá ra trong lúc nằm sõng soài bên vệ đường.

Tất cả chúng ta đều đã từng có những cảm nghiệm giống như Keith.  Nhiều lần trong cuộc đời, chúng ta đã cảm nghiệm sự hiện diện quyền năng của Chúa Giêsu.  Tuy nhiên, giống như Keith, chúng ta đã rời mắt mình khỏi Chúa Giêsu, đã bỏ Người để đi tìm những sự vật khác.  Và cũng như Keith chúng ta đã bị mất thăng bằng.

Bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta hãy thẳng thắn nhìn vào cuộc sống của mình.  Nếu chúng ta không cảm nhận được sự bình an là niềm vui thiêng liêng mà ta đã từng cảm nhận, thì chắc hẳn là vì chúng ta đã rời mắt khỏi Chúa Giêsu.  Nếu chúng ta đang sắp bị bão tố cuộc đời nuốt trửng, thì có lẽ là vì chúng ta đã rời mắt đi xa Chúa Giêsu.  Bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta quay mắt trở lại nhìn vào Chúa Giêsu.  Bài Phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta cùng nói với Thánh Phêrô: “Lạy Chúa, xin cứu vớt con!”  Nếu chúng ta chấp nhận lời mời gọi của Phúc âm thì tôi có thể dám chắc với các bạn rằng chúng ta sẽ cảm nghiệm được giống như Thánh Phêrô, chúng ta sẽ cảm nhận được bàn tay Chúa Giêsu giơ ra biểu lộ tình yêu đối với chúng ta.

Chúng ta không thể cảm nhận điều ấy ngay lập tức và một cách nhiệm mầu, tuy nhiên chúng ta cứ tiếp tục kêu cầu chúng ta sẽ thực sự cảm nghiệm điều ấy, để rồi chúng ta sẽ nói như Thánh Phêrô: “Lạy Ngài, Ngài thực sự là Con Thiên Chúa.”

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện:

Lạy Chúa, Keith Miller đã gặp được Chúa lúc nằm sõng soài bên vệ đường trong một tai nạn xe hơi.
Ngôn sứ Êlia đã gặp được Ngài trong tiếng thì thầm nơi cửa hang.
Thánh Phaolô đã gặp được Ngài trong chớp sáng trên đường đi Ðamas.
Và Thánh Phêrô đã gặp được Ngài giữa cơn bão biển.
Xin hãy giúp chúng con gặp lại Ngài,
Xin hãy giúp chúng con biết chạy đến với Ngài.
Xin hãy giúp chúng con lại cảm nghiệm được sự hiện diện cứu độ của Ngài trong cuộc sống chúng con.  Amen!

Lm. Mark Link, S.J.

THÁNH GIOAN MARIA VIANNEY- BỔN MẠNG CÁC CHA XỨ

Chúa chọn một người nào là hoàn toàn tự do theo ý của Ngài.  Chúa không theo sự hướng dẫn của con người, Chúa tuyển lựa con người là do ơn huệ của Ngài.  Thánh Gioan Maria Vianney được Chúa mời gọi, được Chúa tuyển chọn để trở nên môn đệ trung kiên của Ngài.

Thánh Gioan Maria Vianney Trong Cuộc Sống Thế Trần:

Thánh nhân được sinh ra trong một gia đình nông dân đạo đức, luôn biết kính sợ Thiên Chúa vào năm 1786 tại Dardilly thuộc địa phận Lyon nước Pháp.  Vì là Người được Thiên Chúa để ý, nên ngay từ hồi còn thơ ấu, thánh nhân đã sống một đời sống thánh thiện, tuân theo ý Chúa; ngay từ 8 tuổi, đi chăn chiên, chăn cừu, thánh Vianney đã biết làm gương dậy các bạn cùng trang lứa quỳ trước ảnh Mẹ Maria lần chuỗi và suy gẫm những sự trên trời.  Thánh nhân có lòng chạnh thương người nghèo, lưu tâm và tìm mọi cách, mọi phương thế để giúp đỡ họ.  Thánh Vianney luôn kiên tâm, can đảm để vượt thắng vấn đề học hành vì Ngài không được thông minh đặc biệt như nhiều người khác.  Ngài rất vất vả trên đường học vấn để tiến tới chức linh mục.  Tuy nhiên, thánh Vianney luôn cậy trông, phó thác và cầu nguyện, Ngài phấn đấu, chăm chỉ học thần học.  Chúa luôn ghé mắt đoái thương những tâm hồn thành tâm thiện chí và yêu thương những con người quyết tâm theo Chúa.  Thánh Vianney đã được lãnh sứ vụ linh mục năm 1815.  Ba năm sau vào năm 1818, thánh Vianney được bổ nhiệm làm cha sở họ Ars, một giáo xứ bé nhỏ, ít giáo dân thuộc miền Dombes.

Thiên Chúa Đã Dùng Một Con Người Xem Ra Không Tài Trí Để Biến Đổi Giáo Xứ, Biến Đổi Thế Giới:

Thánh nhân nhận một giáo xứ dưới mắt người đời và dưới mắt các bạn hữu linh mục là một sự thua thiệt vì một linh mục chỉ có trong tay hơn trăm con chiên thử hỏi có bõ công gì?  Nhưng Thiên Chúa có cách của Người và đường lối của Người quả thực hoàn toàn khác lạ, hoàn toàn huyền nhiệm.  Thánh Vianney luôn chu toàn trách nhiệm chủ chăn của mình Ngài chăm chỉ dậy giáo lý, hướng dẫn giáo dân, siêng năng đọc kinh nguyện gẫm chuyên cần giải tội.  Thánh nhân đã được ơn Chúa đặc biệt, Ngài đã biến đổi giáo xứ nhỏ bé của Ngài trở nên điểm sáng chói ngời khắp thế giới, thu hút biết bao nhiêu người từ khắp nơi tới với Ngài nơi tòa cáo giải.  Ngài đã ngồi tòa miệt mài từ giờ này qua giờ khác.  Thiên hạ khắp nơi tuôn đến với Ngài như xưa dân chúng tấp nập tới với Chúa Giêsu để nghe Người giảng dậy khiến Người không có giờ nghỉ ngơi và cả không còn giờ ăn uống nữa.  Thánh nhân đã làm việc không ngơi nghỉ, Ngài đã kiệt sức hơn là vì tuổi già.  Thiên Chúa đã chọn những sự tầm thường để phá tan những sự cao sang.

Thánh Nhân Ra Đi Về Với Chúa Và Được Chúa Thưởng Công:

Thánh nhân ra đi về cùng Chúa trong bình an vào ngày 04/8/1859.  Chúa thưởng công Ngài bằng vô số những phép lạ sau khi Ngài qua đời.  Đức Thánh Cha Piô X nâng Ngài lên bậc chân phước.  Đức Giáo Hoàng Piô XII trong dịp năm thánh 1925 phong Ngài lên bậc hiển thánh và đặt Ngài làm bổn mạng các cha xứ.

Vài Suy Nghĩ Về Thánh Vianney:

Thánh Gioan Maria Vianney đã thay đổi một giáo xứ nhỏ bé xem ra không là gì trước mắt thế gian trở nên điểm sáng cho toàn thế giới về sự thánh thiện và đạo đức của Ngài.  Nơi tòa giải tội, thánh nhân đã thực thi lòng bác ái tuyệt đỉnh của Ngài, thánh nhân họa lại chính con người thật của Đức Kitô, con người đầy tình thương xót và chạnh lòng tha thứ…  Như Chúa Giêsu, Ngài đã cho nhân loại, cho những người đau khổ về phần hồn ăn.  Ngài đã miệt mài với sứ vụ, nhân loại sẽ không bao giờ quên được lời của Ngài nói: “Cái chết thật vô cùng tốt đẹp khi người ta đã chịu đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô.”  Ơn gọi của thánh Vianney là do Chúa.  Tất cả đều do sự chọn lựa nhưng không của Chúa.  Tất cả do hồng ân của Chúa.  Thánh Vianney đã sống ơn huệ tuyệt vời của Chúa và luôn sẵn sàng thông chia cho mọi người ơn huệ quí báu mà Ngài đã nhận được nơi Chúa.

Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, Chúa đã làm cho thánh linh mục Gioan Maria Vianney nên một tấm gương tuyệt vời về lòng tận tụy hy sinh của một người mục tử.  Vì lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp, xin cho chúng con hằng noi theo lòng bác ái của Người mà cố gắng đem nhiều anh em về với Đức Kitô để muôn đời cùng nhau hưởng nguồn vinh phúc (Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Gioan Maria Vianney).

Xin thánh Vianney cầu thay nguyện giúp cho chúng con các linh mục quản xứ luôn biết noi gương bắt chước thánh nhân để chúng con siêng năng, chuyên cần giải tội và chăm chỉ ban phát các Bí Tích.

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

PHÉP LẠ HÓA BÁNH RA NHIỀU NHỜ TIN VÀ NHỜ ĐỨC ÁI 

Có ai đó nói rằng: Tôi có một quả táo, chia cho bạn một nửa, đó là tình bạn.  Khi tôi có một quả táo, tôi cắn một miếng rồi đưa cho bạn, đó là tình yêu.  Khi tôi không cắn miếng nào, đưa hết cho bạn, đó là tình thân.  Cuối cùng là khi tôi cố tình giấu quả táo đi, không cho bạn biết hoặc phũ phàng nói rằng tôi cũng đói và đó là thực tế xã hội.

Xã hội con người chính là vậy.  “Lúc gian nan mới hiểu được lòng người!”  Con người chỉ khi thất bại, túng quẫn hay sa sút tinh thần một lần mới biết và hiểu được ai là người chân thành dành sự quan tâm cho chúng ta.

Nhưng có một Đấng không bao giờ bỏ rơi ta như lời Người nói: “Người phụ nữ nào có thể quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương xót con ruột mình đã sinh ra?  Cho dù họ có quên nữa, Ta sẽ không quên ngươi bao giờ” (Isaia 49:15).  Đó chính là Thiên Chúa.  Đấng mà Thánh Gioan định nghĩa rằng: Thiên Chúa là tình yêu.  Tình yêu Ngài bền vững qua muôn thế hệ.  Dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, Ngài vẫn luôn trung thành với tình yêu của Ngài.

Đây cũng là tình yêu của những người tin vào Thiên Chúa.  Nhờ tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa mà họ sống đức ái triệt để trong cả những hoàn cảnh khó khăn nhất như bà góa thành Xarepta.  Vào thời tiên tri Êlia, có một đợt hạn hán kéo dài dẫn đến lương thực và nguồn nước đều cạn kiệt.  Thiên Chúa truyền lệnh cho tiên tri Êlia đến Xarépta, thuộc vùng Si-đôn.  Tại đây, ông gặp một bà góa đang nhặt củi.  Ông xin bà cho ông một chút nước uống và một miếng bánh.  Bà góa trả lời rằng bà chỉ còn một nắm bột và một ít dầu, đủ để làm một chiếc bánh nhỏ cho bà và con trai trước khi họ chết đói.

Ê-li-a nói với bà rằng nếu bà làm theo lời ông, thì hũ bột sẽ không bao giờ cạn và vò dầu sẽ không bao giờ vơi cho đến ngày Chúa cho mưa xuống trên đất.  Bà góa đã tin tưởng và làm theo lời Ê-li-a.  Kết quả là hũ bột và vò dầu thực sự không bao giờ cạn, và bà cùng con trai và tiên tri Ê-li-a đã có đủ lương thực trong suốt thời gian hạn hán .

Kinh Thánh Chúa Nhật 17 Năm B kể lại sự kiện khi đám đông say mê nghe Chúa giảng đến quên cả thời gian.  Hàng ngàn người vẫn ở nơi hoang vắng và không có đủ thức ăn.  Chính trong sự bế tắc của con người ta lại thấy Thiên Chúa mở cánh cửa mới cho dân của Người.

Cả hai phép lạ này đều xảy ra trong hoàn cảnh mà con người đều bất lực trước khó khăn vì hạn hán kéo dài hay vì ở nơi hoang vắng.  Cả hai phép lạ đều được thực hiện trong sự tin tưởng và vâng phục Thiên Chúa.   Bà góa đã vâng lời tiên tri Ê-li-a khi dám cho đi cả phần lương thực còn lại trong nhà.   Các môn đệ của Chúa Giê-su đã vâng lời Thầy khi đi gom 5 chiếc bánh và hai con cá, rồi chia đám đông ngồi từng nhóm, dẫn đến phép lạ hóa bánh ra nhiều.

Thực vậy, sau khi đón nhận 5 chiếc bánh và 2 con cá từ lòng quảng đại của một em bé.  Chúa Giêsu đã có thể nhân rộng ra thành hàng trăm, hàng ngàn tấm bánh.  Với quyền năng của một vì Thiên Chúa có thể tạo dựng mọi sự từ hư vô.  Ngài có thể làm tất cả nhưng Thiên Chúa lại muốn hành động ngang qua con người.  Bởi vì con người là họa ảnh của Thiên Chúa.  Ngài muốn con người tiếp tục thay Ngài gieo yêu thương vào trong thế gian.  Hay nói cách khác, con người được tạo dựng để yêu thương.  Do đó, ai không yêu thương là vong thân, là đang chết dần trong ích kỷ và cô đơn.  Người ta sống để yêu, mà không còn khả năng yêu thương, tức là con người đã mất giá trị đích thực của đời người.

Có lẽ nhân loại hôm nay không chết đói cho bằng chết vì thiếu tình thương.  Những người đang chờ chết cũng là những người đang chờ từng nghĩa cử yêu thương, san sẻ của đồng loại.  Con người cần cơm bánh để sống.  Nhưng con người lại rất cần tình thương để tồn tại.  Thật là một bất hạnh cho con người, nếu hai chữ tình yêu không còn có ở trên đời.  Và cũng thật bất hạnh cho những ai không có ai đó để thương, để nhớ.  Tình yêu là lẽ sống còn của con người.  Con người không có tình yêu sẽ đầy đọa mình và làm khổ anh em.

Lời Chúa hôm nay dường như đang chất vấn bạn và tôi về những thiếu sót của chúng ta trước sự khốn cùng của tha nhân.  Chúng ta hãy hành động yêu thương trong tư cách là môn đệ Chúa Giê-su, để bánh và cá tiếp tục được nhân rộng đến cho mọi người, để tình yêu đem lại hạnh phúc cho con người hôm nay.

Xin Chúa ban thêm đức tin và lòng quảng đại để vì Chúa chúng ta yêu thương, chia sẻ và dấn thân lan tỏa tình yêu Chúa đến cho mọi người. Amen

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền