ĐÔI NÉT VỀ THÁNH I-NHÃ LOYOLA

I-NHÃ CON NGƯỜI QUẢNG ĐẠI

Trong cuộc tử thủ chống quân Pháp ở Pamplona, một mảnh đạn đại bác đã làm I-nhã gãy chân, và làm ngài dừng chân.  Biến cố ấy đã đổi hướng đi của ngài.  Đời I-nhã mở sang trang mới.  Phải được khuôn mặt của Đức Kitô thu hút, I-nhã mới dám bỏ và dám theo.  Bỏ những tham vọng của mình về chức tước, tiếng tăm.  Bỏ  giấc mơ chinh phục một tiểu thư quý phái.  Bỏ việc phụng sự cho một vị vua ở trần gian.  Bỏ lâu đài, gia đình và sự nghiệp….  Bỏ là điều kiện để theo.  Để bỏ, cần quảng đại.  Quảng đại là thái độ ta thường thiếu.  Chúng ta dè sẻn, tính toán khi sống cho Chúa, bởi lẽ chúng ta không tin Chúa quảng đại hơn mình.  Chúng ta còn có nhiều  nỗi sợ và tham vọng.  Thánh I-nhã đã định nghĩa quảng đại là: “Dâng trọn cả ý muốn và tự do của mình cho Chúa, để mặc Ngài sử dụng bản thân mình, cũng như mọi sự mình có theo ý Ngài”  (LT.5).  Chúng ta có nên thử một lần quảng đại với Chúa không?

I-NHÃ, CON NGƯỜI SAY MÊ CHÚA GIÊSU

Giêsu là vị thủ lãnh mới mà I-nhã khám phá được trong thời gian nằm trên giường bệnh, sau khi đọc sách về cuộc đời Đấng Cứu Thế.  I-nhã chỉ mong mau khỏi bệnh để đi Đất Thánh.  Bất chấp nguy hiểm đến tính mạng, I-nhã muốn ở lại và rao giảng trên nơi Đức Giêsu đã sống.  Một ơn lớn phải xin trong Linh thao Tuần hai, đó là ơn “Hiểu biết thâm sâu về Chúa Giêsu, Đấng đã làm người vì tôi, để yêu mến Ngài hơn và theo Ngài hơn” (LT. 104).   Tình yêu Chúa Giêsu đã chi phối cuộc đời I-nhã. Một tình yêu vừa rất riêng tư, tha thiết, vừa đầy tính hành động cụ thể.  Giêsu là một vị Vua mà I-nhã muốn hiến thân phục vụ, muốn chia sẻ với Ngài sứ mạng chinh phục thế giới.  Tình yêu đòi nên giống người mình yêu, chọn bị nghèo khó sỉ nhục, bị coi là ngu dại, để nên giống Đức Kitô, Đấng đã chịu như thế vì tôi.  Chúng ta hãy để cho Đức Kitô  thu hút mình và mời gọi mình làm bạn đường của Ngài.  Hãy cùng Ngài đồng cam cộng khổ để đưa cả thế giới này về cho Chúa Cha.

I-NHÃ, CON NGƯỜI CỦA TÌNH BẠN

I-nhã không độc quyền yêu Chúa Giêsu Ngài muốn tất cả trở nên bạn với Chúa.  Chính vì thế, đi đâu ngài cũng có bạn.  Ngài có khả năng tìm được những người cùng chí hướng, và quy tụ họ lại thành một nhóm thân thương.  Ở Barcelona, Alcala, Salamanca, Paris, đâu đâu I-nhã cũng có những người bạn.  Có những nhóm bạn không bền, nhưng cũng có nhóm bạn đã đi vào lịch sử.  Ở Paris, I-nhã đã giúp sáu bạn sinh viên làm Linh thao, thuyết phục họ quyết tâm phục vụ Thiên Chúa, trong số đó có hai vị thánh Phanxicô Xavier và Phêrô Favre.  Dù quốc tịch, tuổi tác, tính  khí khác nhau nhưng họ có chung một lý tưởng, một ước mơ.  Ước mơ chịu chức linh mục để phục vụ con người.  Ước mơ đi Đất Thánh để giúp người Hồi trở lại.  Ước mơ đi Rôma để đặt mình dưới  quyền Đức Thánh Cha.  Ước mơ sống khó nghèo và khiết tịnh.  Hẳn I-nhã đã góp phần khơi lên những ước mơ, tiềm ẩn nơi những tâm hồn quảng đại.  Chúng ta cần xây dựng tình bạn trên nền Giêsu, cần mở rộng vòng tay đón những bạn mới.  Ước gì tình bạn làm bật dậy những ước mơ và làm cho ước mơ thành sự thật.

I-NHÃ VÀ VIỆC HỌC

Sau khi không được phép ở lại Đất Thánh, I-nhã thấy mình cần phải đi học một thời gian, để có khả năng giúp các linh hồn.  Như thế, việc tông đồ là lý do khiến ngài đi học trở lại.  Bằng cấp chỉ là phương tiện để phục vụ.  Chúng ta ngỡ ngàng khi thấy I-nhã đi học ở tuổi 33, can đảm ngồi học chung với những chú nhỏ!  Trong thời gian học ở Alcala và Salamanca, I-nhã  lo dạy giáo lý và giảng Linh thao hơn là lo học.  Chính vì thế, ngài gặp rắc rối với giáo quyền, và việc học chẳng tiến bộ mấy.  Cuối cùng, I-nhã quyết định học tập nghiêm túc, kiếm tiền trợ cấp vào mùa hè để khỏi phải đi ăn xin.  Đến năm 44 tuổi, I-nhã mới tốt nghiệp Đại học.  Với mảnh bằng, ngài không còn bị làm khó dễ như xưa.  Mảnh bằng là giấy phép để tôi làm việc.  Kiến thức là chiếc cầu để tôi gặp gỡ tha nhân.  Ước gì tôi có khả năng đưa Chúa vào ngành chuyên môn, và đưa con người khoa học hôm nay đến với Chúa.

I-NHÃ, CON NGƯỜI YÊU MẾN HỘI THÁNH

Hội Thánh thời I-nhã có nhiều vết nhơ.  Có những vị chủ chăn sa ngã nặng nề.  Nhiều linh mục, tu sĩ cũng sa sút và bất xứng.  Ông Luther đã đoạn tuyệt với Hội Thánh công giáo, sau khi phản đối việc bán ân xá một cách mạnh mẽ.  I-nhã không phải không thấy những lầm lỗi, nhưng ngài đã không chỉ trích Hội Thánh.  Ngài ở lại trong Hội Thánh để cải tổ, canh tân.  Dù đã có vị Giáo Hoàng mang nhiều khiếm khuyết, nhưng I-nhã vẫn coi Đức Giáo Hoàng là đại diện Đức Kitô, và chấp nhận được Người sai đi bất cứ đâu, để làm bất cứ việc gì xét thấy cần cho vinh danh Chúa và lợi ích cho con người hơn.  Chúng ta cần có lòng yêu mến Hội Thánh, Hãy bắt tay vào việc xây dựng Hội Thánh bằng những đóng góp nhỏ bẻ, vừa tầm của mình, để Hội Thánh đáp ứng được những nhu cầu thời đại, Hãy canh tân Hội Thánh từ bên trong bằng việc canh tân chính bản thân mình.

I-NHÃ, CON NGƯỜI BIẾT PHÂN ĐỊNH

Lúc còn trên giường bệnh, I-nhã  đã có kinh nghiệm sau: Khi nghĩ đến chuyện trần tục, ngài cảm thấy vui thú, nhưng sau đó lại thấy buồn chán trống rỗng; còn khi nghĩ đến chuyện sống hết mình cho Chúa ngài cảm thấy niềm vui kéo dài.  Từ đó ngài khám phá ra tác động của Thiên Chúa và ma quỉ trong đời mình.  Lúc ở Manresa, I-nhã còn trải nghiệm nhiều thử thách khác: chán nản, khô khan, bối rối đến độ muốn tự tử.  Trong thời đi học, I-nhã cũng bị lôi cuốn bởi những tư tưởng đạo đức khiến ngài say mê đến nỗi không tập trung vào việc học được.  Dần dần ngài biết cách phân định để khám phá ra rằng đó không phải là tác động thực sự của Chúa.  Chúng ta rất muốn biết ý Chúa khi phải chọn lựa.  Có một vài tiêu chuẩn để chọn việc phải làm: nên chọn điều gì có ích lợi phổ quát hơn và lâu bền hơn, nên chọn chỗ nào có nhu cầu lớn hơn và khẩn cấp hơn, nên chọn chỗ nào có hy vọng sinh nhiều hoa trái hơn.  Ước gì chúng ta nhạy cảm với tác động của Chúa và không bị mắc mưu của ma quỉ xuất hiện dưới dạng thiên thần sáng láng.

I-NHÃ, CON NGƯỜI CỦA MAGIS ( HƠN NỮA)

 “Nhằm vinh quang lớn hơn cho Thiên Chúa” đó là điều tâm niệm, là châm ngôn sống của I-nhã.  Tình yêu làm người ta say mê cái hơn nữa (magis).  I-nhã chẳng bao giờ chịu ngừng lại và mãn nguyện.  Hoàn cảnh đổi thay, con người cũng biến đổi.  Điều hôm nay là tốt nhất cho vinh danh Chúa thì ngày mai có thể lại không còn như vậy nữa.  Chính vì thế ta cứ phải suy nghĩ, tìm kiếm, cứ phải trăn trở, thích nghi…  Cái hơn nữa đưa ta đi vào một chuyển động.  Đó là khao khát khôn nguôi của I-nhã.  Làm sao để mọi người nhận biết Chúa, và nhận ra nhau là anh em?  Làm sao để vinh quang Thiên Chúa tràn lan trên mặt đất này.  Chúng ta đừng để mình rơi vào sự dễ dãi, và bằng lòng với cái tầm thường.  Làm sao để hôm nay của tôi hơn hôm qua và ngày mai hơn hôm nay?

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

NGUY CƠ CỦA QUÁ AN TOÀN 

Tôi thường hay được nhắc nhở là phải thận trọng cả hồn lẫn xác: “Cẩn thận!  Đừng mắc sai lầm!  Hãy thận trọng!  Đừng làm điều gì khiến mình phải hối tiếc!”  Đúng là tôi đã hấp thụ những lời này ngay từ khi còn nhỏ, những năm học ở trường dòng, và phần lớn những năm tháng làm linh mục.  Đây cũng là những lời trối trăn cuối cùng của cha tôi, cha tôi là một trong những người đàn ông chân thật nhất mà tôi được biết.  Đêm đó, anh tôi và tôi đến bệnh viện thăm cha đang bị bệnh ung thư, sau đó chúng tôi ra về không hề biết sáng sớm hôm sau cha ra đi, cha nhắc chúng tôi: “Cẩn thận nghe!”  Ông nhắc chúng tôi lái xe cẩn thận trên con đường mùa đông đầy băng tuyết.  Lời nhắc nhở này cho thấy cá tính, tâm hồn nhạy cảm và sự lo lắng đúng đắn của ông dành cho con cái, và về mặt tinh thần nó cũng có nghĩa: “Cẩn thận!  Thận trọng!”  Đây là lời nhắc nhở thường xuyên của cha tôi.

Bây giờ những lời đó là một phần tính di truyền của tôi.  Con cái không những thừa hưởng các đặc tính sinh học của cha mẹ mà còn hơn thế nữa, đặc biệt nếu may mắn có một đấng sinh thành có lập trường đạo đức vững chắc.  Và sự thận trọng đó giúp ích cho tôi rất nhiều.  Tôi biết ơn nó.  Hơn năm mươi năm qua, tôi đã giữ gìn nguyên vẹn cả xác lẫn hồn.  Một món quà không phải là nhỏ.

Tuy vậy sự thận trọng đó đôi lúc cũng không tốt cho tôi.  Một người có thể  không sứt mẻ, nhưng thận trọng đến mức nhút nhát, rụt rè nhiều hơn yêu thương thì sự thận trọng đó trở thành tâm điểm cuộc đời họ.  Mối nguy cơ trong việc luôn luôn muốn toàn hảo dễ đi đến tâm trạng giống như tâm trạng của người anh cả của người con hoang đàng, đặt niềm tin cứng ngắc vào mọi sự, nhưng lại hay xét đoán, đố kỵ, gắt gỏng cay chua; không bao giờ thỏa hiệp về mặt đạo đức và tín lý, trong khi lại ham muốn những chuyện phi luân lý và tâm hồn như tê cứng với cuộc sống thật.  Đôi lúc một sự thận trọng được rèn giũa kỹ lưỡng trong từng hành vi là do quả tim cảnh giác nhiều hơn là quảng đại, ham muốn nhiều hơn là khẳng định, xét đoán nhiều hơn là tha thứ.  Đôi lúc nó làm do một quả tim mà yêu thương và tha thứ được xem như phần thưởng chứ không phải cho và nhận không vụ lợi.  Nó là kết quả của một quả tim âm thầm sung sướng khi người khác đi lầm đường vì không sống giống như mình.  Không phải lúc nào cũng như vậy, nhưng nó cũng dễ xảy ra, phải thẳng thắn và khiêm tốn nói thỉnh thoảng trong cuộc đời tôi, tôi cũng vướng vào những trường hợp như vậy.

Goethe, nhà thơ người Đức đã viết: Cuộc sống chứa đựng nhiều nguy cơ, và sự an toàn là một trong những mối nguy cơ đó.  Đối với một vài người thì có lẽ lời nhắc nhở ngược lại mới thích hợp hơn.  Tuy nhiên đối với hầu hết chúng ta, những người luôn được nhắc nhở phải trở nên người tử tế và có đạo thì câu nói của Goethe cũng mang một sự thật làm chúng ta bối rối.

Có phải chúng ta đang sống quá thận trọng?  Liệu chúng ta có đủ can đảm để nhìn vào những kiềm chế, ghen tương, luận phạt tôn giáo của chúng ta một cách thẳng thắn không?  Có phải cuộc sống của chúng ta bị nỗi sợ hướng dẫn thay vì được tình yêu hướng dẫn không?  Liệu chúng ta có thể yêu đời mà không bị phán xét và cay đắng không?  Người khác có xem chúng ta là những người cứng ngắc không?  Lần cuối cùng chúng ta thật sự tha thứ cho người làm tổn thương mình là lần nào?  Cuộc sống chúng ta có nói lên tình yêu thương và lòng quảng đại hơn là sợ hãi và tự vệ không?  Mối nguy cơ trong việc sống quá thận trọng là đôi lúc chúng ta nghĩ chúng ta đang bảo vệ cuộc đời nhưng thật ra chúng ta đang bảo vệ sự nghèo nàn của chính đời sống mình, đôi lúc chúng ta nghĩ chúng ta đang bảo vệ đức hạnh, nhưng thật ra chúng ta đang bảo vệ những kiềm chế và sợ hãi của chính mình, và có khi chúng ta nghĩ chúng ta đang nói về sự quan phòng của Thiên Chúa cho thế gian nhưng, như người anh cả của người con hoang đàng, thật ra chúng ta đáng nói về lòng ghen tương giấu kín trong con người mình.

Nhân vật nam chính trong bộ phim Những cỗ xe rực lửa là Eric Liddell, một chàng thanh niên hết sức đạo đức, là lực sĩ chạy bộ tham dự Thế Vận Hội Olympic với triển vọng được huy chương vàng, nhưng anh từ chối tham dự cuộc tranh tài vì vòng tranh sơ khởi nhằm vào ngày Chúa Nhật, ngày anh giành cho Chúa.  Rất dễ phê phán việc làm của Eric Liddell là việc làm xuất phát từ nguyên tắc tôn giáo cứng ngắc.  Đối với ai đó thì điều này có thể đúng.  Nhưng đối với Eric Liddell thì không.  Tại sao?  Bởi vì anh không bị cuốn đi bởi nỗi sợ hãi hay nguyên tắc cứng ngắc.  Anh được cuốn đi bởi tình yêu.  “Khi tôi chạy,” anh nói, “tôi cảm thấy niềm vui của Thiên Chúa.”

Thỉnh thoảng tôi cũng hỏi tôi câu hỏi đó trong mối liên hệ của tôi với tôn giáo và những kiềm chế tinh thần: Liệu Thiên Chúa có vui trong sự thận trọng của tôi?  Liệu Thiên Chúa có vui trong các hy sinh của tôi?  Liệu Thiên Chúa có vui trong những khắc khoải của tôi về những khiếm khuyết đạo đức của thế giới?  Hay có phải Người Cha đang đứng bên cạnh tôi, bên ngoài bàn tiệc, nài nỉ tôi như ông từng nài nỉ với người con cả, con không thể vì cha mà chấp nhận em con sao?

Tôi biết ơn sự giáo dục tôi được hưởng, dù tính dè dặt bẩm sinh đi kèm với nó không còn ở tôi nữa.  Thận trọng là điều hay.  Đó là cách sống đầy yêu thương và có trách nhiệm.  Nhưng tôi lớn lên một cách thẳng thắn hơn trên các nguy cơ này.  Đa số thời gian tôi như được trọn vẹn, tuy nhiên đôi lúc tôi sợ hãi nhiều hơn quảng đại, tự vệ nhiều hơn yêu thương, ghen tương nhiều hơn quan tâm lành mạnh.  Sự thận trọng đôi lúc đã không cho tôi một quả tim lớn.  An toàn cũng là một mối nguy cơ.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

NGẪM NGHĨ

Vì sao loạt phi hành gia trở về từ vũ trụ đều hóa “điên dại,” người nát rượu, kẻ trầm cảm vứt bỏ cả sự nghiệp?

Chỉ một lần ngoái nhìn về Trái Đất từ không gian bao la cũng đủ để đảo lộn hoàn toàn nhận thức của một con người.  Hiện tượng tâm lý này kinh điển đến mức các nhà khoa học đã đặt tên cho nó: Hiệu ứng cái nhìn tổng quan.

​Kể từ sau các sứ mệnh Apollo lịch sử, NASA đã ghi nhận rất nhiều phi hành gia trở về với những thay đổi sâu sắc, thậm chí là cực đoan trong thế giới quan:

Buzz Aldrin (Apollo 11): Người đàn ông thứ hai đặt chân lên Mặt Trăng đã rơi vào trầm cảm và nghiện rượu kéo dài sau khi trở về.  Khi đứng ở đỉnh cao của vinh quang nhân loại, ông bỗng nhận ra cái gọi là “vĩ đại” của con người thực chất chỉ là một ảo tưởng nực cười.  Vinh quang không cứu rỗi được ông, nó chỉ làm nổi bật thêm sự trống rỗng của thực tại.

Những người khác: Người thì từ bỏ chức quản lý cấp cao, người lập tức vứt bỏ cả công ty tỷ đô để đi tìm một lối sống hoàn toàn khác.

Giới siêu giàu cũng không ngoại lệ: Từng chi ra số tiền tương đương 700 tỷ VNĐ (hơn 26 triệu đô Mỹ) để mua một tấm vé bay vào vũ trụ, tỷ phú Tôn Vũ Thần sau khi trở về đã im lặng suốt 3 ngày mới thốt lên một câu: “Tôi không biết chúng ta đang sống vì điều gì.”

Tài sản, thể diện, tranh giành bỗng chẳng là gì giữa khoảng không vô tận.

Người đời chê cười anh bỏ tiền mua về nỗi sợ, nhưng thực chất, khoảnh khắc nhìn thấy Trái Đất nhỏ bé, anh hiểu ra tài sản, thể diện hay những cuộc tranh giành danh lợi ngoài kia bỗng chốc chẳng bằng một hạt cát giữa hư không.

​Hãy tưởng tượng bạn đã đạt được điều mà 99,9999% nhân loại cả đời này không thể chạm tới: đứng ở rìa thế giới, nhìn ngắm ngọn nguồn của sự sống trong một khoảng không tĩnh lặng tuyệt đối.

​Và rồi, bạn buộc phải quay lại mặt đất để xếp hàng mua đồ ăn sáng, loay hoay trả hóa đơn tiền điện, và chứng kiến những cuộc cãi vã vặt vãnh của người đời.  Sự chênh lệch quá lớn ấy chính là thứ đã bẻ gãy tâm lý của họ.

Nhìn vào bức ảnh Trái Đất chỉ là một chấm sáng mỏng manh kích thước 0.12 pixel giữa không gian vô tận, nhà thiên văn học Carl Sagan đã viết nên những dòng triết học lay động lòng người: “Mọi vị vua và kẻ ăn xin, mọi kẻ độc tài và nạn nhân, mọi cuộc chiến tranh đẫm máu hay nỗi dằn vặt xé lòng của con người… tất cả đều chỉ diễn ra trên một hạt bụi nhỏ ngoai ngoắt bám trên một tia nắng.”  (Trích từ cuốn “Đốm xanh mờ” – Carl Sagan)

Vì vạn vật mong manh, nên từng giây phút mới là vô giá

Những thứ như danh vọng, thể diện, sự hơn thua… thực chất chỉ là những quy ước do con người tự tạo ra.

Hàng ngày, chúng ta tự làm khổ mình bằng những áp lực tự tạo: hơn thua nhau một câu nói, dằn vặt vì một lỗi lầm trong quá khứ, hay lo lắng thái quá về tương lai.

Nếu một tỷ phú sở hữu trăm tỷ còn thấy tiền bạc vô nghĩa trước vũ trụ, thì việc bạn chưa mua được cái túi hiệu hay chưa thăng chức tháng này thực ra cũng chẳng phải là thảm họa của thế giới.

​Nhìn thấy sự bao la của vũ trụ dạy chúng ta rằng: Mọi đau khổ, sĩ diện và tranh giành của con người thực ra rất nực cười.

Nếu những tủi hờn, thất bại hay áp lực của bạn nhỏ bé đến mức vô hình trước vũ trụ, thì tại sao bạn lại để chúng gặm nhấm tâm hồn mình ngày này qua ngày khác?

Nhận ra sự vô nghĩa giúp chúng ta dũng cảm buông bỏ cái tôi vặt vãnh, tha thứ cho bản thân, tha thứ cho người khác, và bước đi một cách nhẹ nhõm hơn.

(Theo Sách Hay Chọn Đọc)
Nguồn: Tâm Lý Học & Khoa Học Hành Vi

TÌM CHO BẰNG ĐƯỢC ĐỨC KHÔN NGOAN

Xin có được tâm hồn Khôn Ngoan

Salomon khi đứng trước nhan Chúa là nguồn mạch mọi ơn phúc trong một thị kiến ban đêm cho ông những lựa chọn.  Chúa phán cùng ông rằng “Người muốn gì thì hãy xin, Ta sẽ ban cho ngươi” (1V 3, 5).  Salomon không xin được sống lâu, giàu sang phú quý.  Ông cũng chẳng xin mạng quân thù.  Ông xin Chúa ban cho “một tâm hồn khôn ngoan” (1V 3, 9).  Thiên Chúa đã ban cho ông điều ông xin, vì đẹp lòng Chúa: “Đây Ta ban cho ngươi điều ngươi xin… đến nỗi trước ngươi không có ai giống ngươi, và sau ngươi không có ai bằng ngươi” (1V 3, 12).  Ông xin và ông đã được.

Nỗ lực tìm kiếm Chúa là Đấng Khôn Ngoan

Thiên Chúa muốn thông ban vinh quang đã có từ đời đời cho con người.  Vinh quang và hạnh phúc ấy là chính Chúa.  Chính con người cũng không biết mình được dựng nên để vui hưởng vinh quang với Thiên Chúa.  Theo Thánh Phao-lô thì Thiên Chúa biết chúng ta từ thuở đời đời; khi được tạo thành, Ngài đã gọi tên ta.  Theo nghĩa Thánh Kinh, Thiên Chúa biết và cưu mang chúng ta bằng cả tấm lòng, như người mẹ biết con mình khi cưu mang con trong dạ.

Kế hoạch của Thiên Chúa là Ngài muốn chúng ta trở nên giống hình ảnh của Chúa Giê-su, Con Ngài.  Nói cách khác, Thiên Chúa muốn chúng ta là một thành viên trong gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa.  Đây là một đại ân huệ Thiên Chúa dành cho chúng ta!  Ngài tạo dựng chúng ta giống hình ảnh của Con Chúa, nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giê-su, nhất là mang trên mình danh hiệu là Ki-tô hữu “Quả thật, anh em biết Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cr 8,9).

Nếu chúng ta nghe và đáp lời Chúa, Thiên Chúa sẽ biện hộ cho chúng ta, Ngài sẽ làm cho chúng ta trở nên thánh thiện, hoan lạc, hạnh phúc và chiếu tỏa rạng ngời vinh quang Chúa, phù hợp với Thiên Chúa.  Vì kế hoạch của Thiên Chúa là “Những kẻ Chúa đã biết trước, thì Người đã tiền định cho họ nên giống hình ảnh Con Người, để Ngài trở nên trưởng tử giữa đoàn anh em đông đúc.  Những ai Người đã tiền định, thì Người cũng kêu gọi; những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính; mà những ai Người đã làm cho nên công chính, thì Người cũng cho họ được vinh quang” (Rm 8, 29-30).

Trong khi đó, kế hoạch của con người, là đi tìm hạnh phúc.  Việc tìm kiếm này đòi hỏi phải phân định. Như chiếc lưới kéo lên tất cả các loại cá, nên hạnh phúc cũng có tất cả các loại.  Có những thứ hạnh phúc đích thực, có những thứ hạnh phúc rẻ tiền, hão huyền, trống rỗng và giả dối.  Vua Solomon đã xin Chúa ban cho một “tâm hồn khôn ngoan để đoán xét dân Chúa, và phân biệt lành dữ” (1V 3, 9).  Để có hạnh phúc thật, cần phải cầu xin Chúa như Salomon: cho được ơn làm chủ bản thân, biết phân biệt tốt xấu, chọn lựa điều tốt, bỏ điều xấu.  Vì tất cả những gì chúng ta hài lòng chưa hẳn đã là tốt.  Có ơn phân định, để nhận ra tiếng Chúa, làm theo kế hoạch của Chúa.

Bằng mọi giá để có được Nước Trời

Với đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su dùng ba dụ ngôn: Kho báu được chôn giấu, dụ ngôn viên ngọc quý và dụ ngôn lưới thả xuống biển để phác họa về Nước Trời.  Kho báu được chôn giấu và viên ngọc quý là hai thực tại quý giá nên cả hai người này đều bán tất cả để mua cho bằng được điều họ cho là quý nhất.  Điều căn bản của đời sống Ki-tô hữu cũng thế, để có được Nước Trời chúng ta đánh đổi vì Nước Trời.

Người tìm thấy kho báu và thương gia đều bán mọi thứ họ có.  Như thế, chúng ta hiểu rằng việc xây dựng Nước Trời không chỉ đòi hỏi ân sủng của Thiên Chúa, mà còn cả sự sẵn sàng chủ động của con người.  Cử chỉ của người tìm thấy kho báu và thương gia, đánh đổi hết tài sản để mua điều quý giá hơn, là những cử chỉ quyết đoán.  Cả hai người này đều tràn đầy niềm vui vì họ đã tìm thấy kho báu.  Đây là bài học quý giá cho chúng ta.  Để có được Nước Trời, chúng ta từ bỏ gánh nặng của sự an toàn thế gian vốn làm cản trở chúng ta tìm kiếm và xây dựng Nước Trời.

Ai cũng biết, trong thời đại hôm nay, cuộc sống của một số người có thể trở nên tầm thường và buồn tẻ, bởi họ có thể đã không tìm kiếm một kho báu thực sự là Chúa Giê-su.  Họ hài lòng với những thứ hấp dẫn nhưng phù du, với những ánh sáng lung linh nhưng hư ảo vì sau đó chúng đi vào bóng tối.  Thay vào đó, ánh sáng của Nước Trời không phải là pháo hoa, mà là ánh sáng: pháo hoa chỉ tồn tại trong chốc lát, còn ánh sáng của Nước Trời thì đồng hành suốt đời.

Nước Trời thì trái ngược với những điều thừa thãi mà thế gian bày ra, nó trái ngược với cuộc sống tầm thường: đó là một kho báu làm mới lại cuộc sống mỗi ngày và mở ra những chân trời rộng lớn hơn.

Chúa Giê-su, Ðấng là kho báu ẩn giấu và là viên ngọc quý, Người luôn khơi dậy niềm vui khám phá một ý nghĩa cho cuộc sống của con người.  Niềm vui này thôi thúc người ta đánh đổi tất cả, phiêu lưu dấn thân để tìm kiếm.

Chúng ta hãy xin với Mẹ Ma-ri-a, ngai tòa Đấng Khôn Ngoan giúp chúng ta tìm kiếm kho báu của Nước Trời mỗi ngày, để qua lời nói và cử chỉ của chúng ta, tình yêu mà Thiên Chúa ban cho chúng ta qua Chúa Giê-su có thể được thể hiện.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

 THÁNH MARIA MADALENA

Các Giáo phụ đã tranh luận và các nhà chú giải vẫn còn tìm hiểu xem Giáo hội có kính nhớ ba thánh nữ dưới cùng một danh xưng Maria Madalena hay không.

Người thứ nhất là một người nữ tội lỗi.  Khi Chúa Giêsu vào nhà ông biệt phái Simon, một tội nhân vô danh đã được ơn tha tội, nhờ tình yêu bà bày tỏ trong việc xức dầu thơm vào chân Chúa rồi lấy tóc mà lau (Lc 7, 36-39).

Đàng khác, cũng chính việc thánh sử Luca (Lc 7, 43-48) đã nói đến Maria Madalêna được Chúa Giêsu trừ quỉ cho.  Thánh nữ là một trong số phụ nữ đã theo Chúa trong các cuộc hành trình của Người.  Hiện diện trên đồi Calvê, ngài cũng thuộc vào số các bà đem dầu thơm đến mồ xức xác Chúa.  Ngài là người đầu tiên báo tin cho các môn đệ biết ngôi mộ trống.  Trở lại mộ ngay sau đó, ngài đã thấy và nói truyện với các thiên thần.  Sau cùng, ngài đã nhận ra Đấng Phục Sinh mà thoạt đầu ngài tưởng là một bác làm vườn (Ga 20, 1-18).

Maria Bêtania, là chị em của Matta và Lazarô đã ngồi dưới chân Chúa Giêsu mà nghe lời Người, trong khi Matta bận rộn chuẩn bị bữa ăn.  Thế mà ngài là người đã chọn phần tốt nhất, phần chiêm niệm (Lc 10,38-42).  Khi Chúa Giêsu đến cứu sống Lazarô, thánh nữ vẫn giữ một phần tương tự.  Ngài ngồi tại nhà cho tới khi Matta kêu ngài tới gặp “Thầy.”  Ít ngày sau, ngài đã xức dầu Chúa Giêsu (Mt 26,6-13).

Mặc dầu các sách Tin Mừng không bảo đảm đồng nhất ba khuôn mặt này thành một người và ý kiến các Giáo phụ còn trái nghịch, nhưng Giáo hội Tây phương từ thế kỷ thứ VI đã đồng hóa thành một người.  Sự đồng hóa này được diễn tả trong phụng vụ.

Với sự đồng hóa ấy, lòng đạo đức thường diễn tả thánh Maria Madalena như một phụ nữ có mái tóc dài, được Chúa Giêsu tha thứ nao nức đón nghe Lời Người.  Bà đã được chứng kiến Lazarô sống lại.  Tiên cảm được về thảm kịch khổ nạn, bà đã đổ dầu thơm quí giá lên chân Chúa Giêsu như một cuộc xức dầu cao cả.  Hiện diện dưới chân thánh giá, bà sẽ được Chúa Giêsu thân ái gọi tên “Maria” buổi sáng Phục Sinh.

Sau đó, người ta không nghe nói gì về Maria Madalena nữa.  Theo truyền thuyết, ngài đã từ trần và được mai táng ở Êphêsô.  Năm 889, Hoàng đế Lêô VI đã chuyển thi hài thánh nữ về một tu viện ở Constantinople.

Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý 

NHỮNG ĐIỀU MUỐN NHỚ, NHỮNG ĐIỀU MUỐN QUÊN

Khi bạn nhớ một người thân đã chết, bạn cảm thấy lòng mình bao mối ngổn ngang, muôn vàn kỷ niệm.  Có những kỷ niệm làm bạn vui, có những kỷ niệm khiến bạn buồn, và cũng có những điều khi nhớ lại bạn tiếc xót ngẩn ngơ, như kẻ bất ngờ phải đi xa tiếc không được hôn người yêu lần cuối, hay tiếc đã bỏ lỡ một lần âu yếm bên nhau.  Có kỷ niệm làm bạn hối hận vì đã làm buồn làm khổ người thân.  Có nỗi nhớ làm bạn tiếc hùi hụi vì đã chẳng chiều ý người, chẳng làm người vui một lần nào đó.  Có những hình ảnh thân thương bạn cứ muốn nhớ hoài, và có những cảnh huống bạn muốn quên đi mãi mãi.  Nhưng dù vui dù buồn, dù thích dù không thì bạn cũng chẳng bao giờ tách rời những kỷ niệm với hình ảnh và nỗi nhớ người thân.  Bởi lẽ hình ảnh người thân còn lại trong bạn không bao giờ là một bức chân dung trừu tượng, mà luôn là một hình ảnh sống động trong một giây phút nào đó.  Bạn không thể hình dung người cha đã chết tách khỏi một nét mặt, một cử chỉ, một dáng điệu, một hành động, một bước chân nhất định nào đó.  Bạn chỉ có thể hình dung thấy cha đang nhìn bạn, đang cười với bạn hay đang sửa dạy bạn, đang vui về bạn hay đang buồn về bạn; cha đang lo lắng hay đang hạnh phúc, đang khỏe hay đang đau… kỷ niệm, hình ảnh của người thân còn lại trong ta bao giờ cũng là trong tương quan với ta.  Những hình ảnh ấy được ghi vào tâm hồn và cuộc sống của ta từng giây từng phút sống với người.  Khi người vĩnh viễn đi vào dĩ vãng thì chuỗi kỷ niệm về người đã kết thúc trong ta như hình ảnh cuối cùng của một cuốn phim.  Bác sĩ Paul Nagai trong cuốn “Hồi chuông Quang đảo” kể lại kinh nghiệm bản thân ông với cái nhìn của mẹ trước khi chết.  Ông đã mất niềm tin và sống sa đọa từ khi vào trường Y, sự tiếp xúc với xác chết và bạn bè cùng lứa đã xô ông vào đó.  Nhưng chính đôi mắt mẹ nhìn ông trước khi chết đã làm cho ông không thể nào tin rằng khi đôi mắt ấy khép lại thì mẹ ông thành hư vô.  Ông tin rằng đằng sau đôi mắt ấy phải có cái gì bất tử.  Và từ lúc đó ông khám phá trở lại lòng tin vào Thiên Chúa và Sự Sống.

Ðiều tôi muốn cùng bạn suy nghĩ là “cuốn phim” ấy có thể kết thúc bất cứ lúc nào, và mỗi hình ảnh đều chỉ ghi một lần, ta không thể xóa đi để ghi lại, làm lại một giây phút, một hành động nào.  Cái khắt khe của cuộc sống là thế bạn ạ.  Ở phim trường hay ngoài trời, khi một cảnh diễn không đạt, đạo diễn cho làm lại, thu hình lại, và cuối cùng bàn tay của người ráp nối mới cố định vị trí của mỗi hình ảnh trong cuốn phim.  Còn trong cuộc sống thì mỗi giây phút đều được ghi một lần duy nhất vào tâm hồn ta, và người ráp nối cuối cùng chính là mức độ quan hệ của ta với người thân.  Càng thân thì sự ghi nhớ càng trọn vẹn.  Mẹ có thể kể từng chi tiết về con mình từ khi mang thai cho đến ngày cuối cùng, bởi vì mẹ bao giờ cũng yêu con hơn hết và luôn “ghi nhớ và suy gẫm trong lòng” mọi chuyện liên quan tới con của mình.

Dù thân hay sơ, thì mỗi người ta đã đích thân gặp gỡ, có khi là vui, có khi là buồn bực… nhưng dù sao cũng để lại một hình ảnh nào đó khiến mỗi lần nhớ đến phải vui hay buồn, mừng hay tủi, hãnh diện hay hối tiếc.

Bạn ơi, những điều muốn nhớ và những điều muốn quên về mỗi người thân hoặc bất kỳ ai ta đã gặp gỡ một lần, tùy ý ta khi sự gặp gỡ chưa diễn ra và đang diễn ra.  Còn khi đã diễn ra rồi thì không thể tùy ý ta nữa.  Những điều muốn nhớ và những điều muốn quên, ta đều phải nhớ như nhau.  Mỗi giây phút của cuộc sống, mỗi lần thể hiện quan hệ với một người, ta đều có tự do chọn giữa những gì ta muốn nhớ và những gì ta muốn quên.  Muốn quên tức là muốn không bao giờ xảy ra điều ấy, muốn không có nó trong cuốn phim đời mình sống với mọi người.

Ðừng sợ bạn ạ.  Sự khắt khe này của cuộc sống không đè bẹp chúng ta nhưng thôi thúc chúng ta.  Đừng làm những gì mà khi nhớ lại ta muốn quên đi.

Có bao giờ bạn cầm chắc được là sẽ gặp lại người thân, người bạn, người lạ mà bạn đang gặp bây giờ đâu.  Giây phút cuối cùng có thể đến với người kia hoặc với bạn bất cứ lúc nào.  Có khi người bạn, người thân bạn gặp đó hoặc chính bạn sẽ không còn đứng trên mặt đất chiều nay hay ngày mai.  Vậy thì tại sao ta không sống mỗi giây phút như thể đó là giây phút cuối cùng, đối xử với mỗi người mỗi lần như thể đó là lần cuối cùng gặp nhau!

Bạn đã từng chia tay với người thân, với bạn bè đi xa.  Bạn có để ý là lúc đó ai cũng rộng lượng hơn, ân cần hơn, sẵn sàng tha thứ, sẵn sàng giúp đỡ, sẵn sàng để lại hình ảnh đẹp nhất trong lòng kẻ ở lẫn người đi?

Bạn ơi, giá mình có thể sống với mọi người cũng như với chính mình từng giây phút, từng lần gặp gỡ như thể đó là lần cuối thì sẽ đẹp, sẽ vui biết mấy phải không?

Liệu bạn có sợ hụt hơi vì tính cách khẩn trương của giây phút cuối tràn lên suốt cuộc đời?

Bạn ơi hãy sống hãy yêu, hãy nói, hãy cười như thể đây là phút cuối, và hãy làm như thể đây là việc sau cùng.  Mà đúng là như thế bạn ạ, vì có bao giờ giây phút này lặp lại nữa đâu và bao giờ nó cũng có thể là giây phút cuối, sau đó thì cuộc đời bạn kết thúc mất rồi.

Bạn hãy nhìn người võ sĩ trên vũ đài.  Họ biết chỉ có quyền thi thố tài năng giữa hai lần tiếng cồng vang lên, nên họ hối hả chừng nào.  Bạn hãy nhìn cầu thủ trên sân bóng đá, khi đồng hồ trên bảng điện càng gần phút 90 thì họ càng ráo riết tấn công.  Bạn hãy nhìn các bác sĩ và y tá trong phòng cấp cứu chạy đua với tử thần giành giựt mạng sống của bệnh nhân.

Tính vắn vỏi, cấp bách của giây phút hiện tại đối với người không có niềm hy vọng nào ngoài sự hưởng thụ vật chất, là động lực thúc đẩy họ yêu cuồng sống vội: mau hái bông hoa kẻo nó tàn.  Còn đối với người có niềm hy vọng ở tương lai vĩnh cửu thì nó lại là sự thúc đẩy sống thanh thoát và quảng đại, trong trắng và yêu thương, không để lòng mình vướng mắc với những gì phải qua đi nhưng luôn biết vươn cao (coi 1 Cor 7,29-31), là lời mời gọi đứng vững trong cuộc chiến đấu cho công bình và lẽ phải, cho yêu thương và hạnh phúc.

Mỗi lời bạn nói là lời cuối cùng
Mỗi việc bạn làm là việc sau hết
Mỗi người bạn gặp là người duy nhất
Từng giây phút trong đó,
Bạn hãy sống như mình chỉ có phút ấy mà thôi.

LM. Nguyễn Công Ðoan, SJ

THIÊN CHÚA KIÊN NHẪN ĐỢI CHỜ

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay làm nổi bật hình ảnh của một Thiên Chúa giàu lòng từ bi và hay thương xót, luôn kiên nhẫn đợi chờ kẻ có tội biết ăn năn.

Thiên Chúa khoan dung cách lạ lùng

Thiên Chúa của chúng ta là một người cha đầy lòng trắc ẩn, và rất mực khoan dung.  “Vì là chủ sức mạnh, nên Chúa xét xử hiền lành, Chúa thống trị chúng ta với đầy lòng khoan dung” (Kn 12,16).  Người luôn chờ đợi với con tim rộng mở để đón chào và tha thứ cho người có tội, kẻ gian ác muốn ăn năn.  Ngài luôn tha thứ, nếu đến với Ngài… Chúa dạy : “Người công chính phải ăn ở nhân đạo, và Người làm cho con cái Người đầy hy vọng rằng: Người ban cho kẻ tội lỗi ơn ăn năn sám hối” (Kn 12,19).

Thái độ của Thiên Chúa giúp chúng ta hiểu rằng sự dữ không phải là điểm đầu và điểm kết.  Có cái gì đó hơn thế nữa: nhờ niềm hy vọng đầy tình thương mến của Thiên Chúa mà những con tim xấu xa, ngập tràn tội lỗi có thể trở nên hạt giống tốt.  Lòng trắc ẩn không phải là làm ngơ trước sự xấu; hay là lẫn lộn giữa tốt và xấu!

Lý do cuối cùng để Thiên Chúa thực hiện lòng bao dung là muốn cho tội nhân trở lại mà được sống, đây là lòng bác ái quá bao la.  Thế nên thái độ của người công chính ở đời, của người đi theo đường lối Thiên Chúa, là phải nhân đạo, thương người, không muốn cho kẻ có tội bị tiêu diệt nhưng là mong họ sám hối ăn năn.

Kiên trì và cố gắng

Với dụ ngôn “Cỏ Lùng.”  Chúa Giê-su mạc khải cho các môn đệ cũng như chúng ta về sự kiên nhẫn và lòng nhân từ của Thiên Chúa đối với đủ hạng người, lành cũng như dữ, đồng thời cảnh tỉnh chúng ta đừng có nông nổi như người tôi tớ và nhất là phải luôn cố gắng.  Ông chủ trong dụ ngôn thật nhân hậu tuyệt vời.  Ông thận trọng thẳng thừng nói: “Không được, kẻo khi nhổ cỏ lùng, các anh lại nhổ luôn cả lúa chăng.  Hãy cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt.  Và đến mùa, ta sẽ dặn thợ gặt” (Mt 13, 29-30).  Ý muốn nói, giống tốt cũng phải mọc lên và sinh bông trái; nếu không, đến mùa gặt là ngày tận thế, giống tốt cũng chỉ là cỏ, bị bỏ vào lửa thôi.  Bởi cứ sự thường, người ta sẽ chỉ gặt lúa mang về nhà.  Còn rươm rạ sẽ cắt sau.  Nhưng ở đây vì tôi tớ đang muốn biết về số phận của cỏ lùng, nên buộc lòng người chủ phải nói đến nó trước.

Đôi lúc thấy sự dữ hay kẻ dữ lấn át người lành, và cũng dễ thấy, người lành thánh ao ước có được một thiên đàng ngay trên trần thế, nên muốn Thiên Chúa diệt sạch kẻ ác ra khỏi thế gian.  Lời thân thưa và tiếp đến là lời cầu xin của người đầy tớ với ông chủ trong dụ ngôn là một bằng chứng: “Thưa ông, thế ông đã không gieo giống tốt trong ruống ông sao?  Vậy cỏ lùng từ đâu mà có? ” (Mt 13,27)  Nhiều người hôm nay vẫn hỏi Chúa: Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên mọi sự trong đó có con người, và Ngài đã chẳng thấy mọi sự đều tốt đẹp đó sao?  Vậy, sự dữ, người gian ác do đâu mà có?  Và họ khơi lên ước muốn trừng phạt: “Nếu ông bằng lòng, chúng tôi xin đi nhổ cỏ” (Mt 13,28).

“Cỏ lùng” tiếng Do Thái, có gốc từ chữ “Satan” và nói đến việc chia rẽ.  Tất cả chúng ta đều biết rằng quỷ dữ là người gieo cỏ lùng: luôn tìm cách gây chia rẽ con người với nhau, chia rẽ trong gia đình, hội đoàn, giáo họ, giáo xứ, quốc gia và dân tộc.  Những người đầy tớ muốn nhổ cỏ xấu đi ngay lập tức, nhưng ông chủ ngăn cản vì sợ rằng khi nhổ cỏ lùng thì nhổ nhầm cả lúa.  Bởi cỏ lùng, khi lớn lên, trông rất giống lúa tốt, nên dễ gây nhầm lẫn.  Quỷ Dữ đến trong đêm để gieo cỏ lùng, trong đêm tối, trong sự hỗn loạn…  Nơi đâu không có ánh sáng, quỷ sẽ đến để gieo cỏ lùng.  Kẻ thù này rất tinh khôn: hắn gieo sự xấu vào giữa điều tốt, để chúng ta không thể nào tách biệt rõ ràng, nhưng Thiên Chúa sẽ làm điều đó.  Ông chủ trong dụ ngôn thật nhân hậu tuyệt vời.

Lòng Chúa cao cả hơn lòng chúng ta

Trước cỏ lùng đang hiện diện trên thế giới, cụ thể hơn, sống chung với kẻ vô đạo, kẻ gian ác, chống lại sự thiện, người môn đệ Chúa được mời gọi bắt chước Chúa, hy vọng với niềm tin vào chiến thắng chung cuộc của sự Thiện, là chính Thiên Chúa.

Thật vậy, chỉ trên mặt đất này mới có chỗ cho lúa và cỏ lùng mọc lên, chỉ trong cuộc sống nhân trần mới có bột cần chất men, nên ở trên Thiên Đàng, chỉ có Thiên Chúa là tất cả mọi sự trong mọi người.

Thánh Au-gút-ti-nô quan niệm: “Chính Giáo Hội là một cánh đồng có lúa và cỏ lùng, có kẻ xấu và người tốt đều chung sống với nhau, là nơi để chúng ta bắt chước gương nhẫn nại của Chúa.  Những kẻ dữ hiện hữu trong thế gian này hoặc là để được cải hóa hay là nhờ họ mà những kẻ lành có thể luyện tập đức nhẫn nại.”

Vì thế, trước sự hiện hữu của cái ác, thái độ của các môn đệ Chúa Kitô là gì nếu không phải là kiên nhẫn với sự hiện hữu của cái ác trên thế giới.

Việc cần làm là tích cực gieo quanh chúng ta thật nhiều hạt tốt.  Tiếp đến là phải hành động với sự khôn ngoan, thận trọng khi đối đầu với sự ác, đồng thời cầu xin Chúa Thánh Thần giúp sức cho, vì: “Thánh Thần nâng đỡ sự yếu hèn của chúng ta”(Rm 8, 26).

Sau cùng, cần phải vững tin, hy vọng và sống bác ái; nghĩa là chinh phục cái ác bằng việc làm tốt, theo lời khuyên của Thánh Tông đồ Phao-lô: “Chớ để sự dữ thắng được ngươi, nhưng hãy lấy lành mà thắng dữ” (Rm 12, 21).

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

TẬP TRUNG VÀO CHÚA

Giáo Hội kính nhớ Thánh tiến sĩ Bonaventura (1221-1274) ngày 15 tháng 7.  Thánh nhân sinh trưởng tại Ý, và ngài được mệnh danh là “Tiến Sĩ Thiên Thần Sêraphim” (Seraphic Doctor), là một trong các thần học gia nổi tiếng của Dòng Phanxicô, và là người đã viết tiểu sử Thánh Phanxicô bằng thơ, bài “Cuộc đời Thánh Phanxicô” (The Life of St. Francis) và bài “Hành trình Tâm trí tới Thiên Chúa” (The Journey of the Mind to God).

Ngài nổi danh là “Tiến Sĩ Thiên Thần Sêraphim” bởi vì ngài thực sự sở hữu tinh thần của Thánh Phanxicô, Ngài được bầu làm Bề trên Tổng quyền của Dòng Phanxicô để giúp cộng đoàn hồi phục lòng yêu mến tinh thần của Thánh Phanxicô.  Có nhiều điều được biết về Thánh Bonaventura, nhưng người ta có thể ít biết rằng tầm ảnh hưởng của vị thánh này đối với nền tảng thần học của Đức Hồng Y Joseph Ratzinger – tức là nguyên Giáo Hoàng Benedict XVI.

Thánh Bonaventura sống trong thế kỷ 13, thời gian tốt cho đức tin Kitô giáo, khi xã hội thấm nhuần và chịu ảnh hưởng nhiều từ các tác phẩm văn chương, thần học và triết học.  Hồi nhỏ, Bonaventura bị bệnh nặng đến nỗi người cha là bác sĩ cũng đành “bó tay.”  Tuy nhiên, người mẹ tin tưởng cầu nguyện với Thánh Phanxicô Assisi để xin chữa cho con trai, và rồi Bonaventura đã bình phục.  Chính sự kiện này về sau đã ảnh hưởng đến quyết định đi tu của Bonaventura.

Sau khi gia nhập Dòng Phanxicô, Bonaventura được gởi đi học thần học tại Đại học Paris.  Tại đây, Bonaventura học Kinh Thánh và Châm ngôn của Peter Lombard, rồi bảo vệ luận án với tựa đề “Bàn về việc nhận biết Đức Kitô” (Questions on the knowledge of Christ).  Đây là điều chủ yếu để hiểu về thần học của Thánh Bonaventura.

Khi tu sĩ Bonaventura được bầu làm Bề trên Tổng quyền của Dòng Phanxicô, mục đích chính của ngài là kết hợp phong trào Phanxicô và tái nhen nhóm lòng yêu mến tinh thần nghèo khó và vị sáng lập là Thánh Phanxicô.  Thánh Bonaventura muốn các tu sĩ hiểu rằng họ cũng được mời gọi trở nên “một Kitô khác” và tuân theo Đức Kitô.  Thánh Bonaventure muốn các tu sĩ mời Đức Kitô đến sống trong lòng họ, để họ có thể sống trọn lời khấn nghèo khó, khiết tịnh và vâng lời, đồng thời vui vẻ rao giảng Tin Mừng cho mọi người.  Ước muốn này của Thánh Bonaventura là điều mà tất cả chúng ta có thể đạt được trọn vẹn, bất kể chúng ta sống ở bậc nào.

Trong thời Thánh Bonaventura, có một sai lầm nổi lên trong Dòng Phanxicô.  Một nhóm gọi là “Tinh Thần Phanxicô” (Spiritual Franciscans) đã theo cái bài viết của Joachim Fiore, hiểu toàn bộ lịch sử là “lịch sử của sự tiến bộ: từ sự nghiêm ngặt của Cựu Ước tới sự tự do tương đối của thời Chúa Giêsu, trong Giáo Hội, tới sự tự do hoàn toàn của con cái Thiên Chúa trong thời của Chúa Thánh Thần.”  Thánh Bonaventura thấy đó là sai lầm nghiêm trọng về sứ vụ của Thánh Phanxicô, do đó ngài đã nghiên cứu các tác phẩm của Joachim Fiore để có thể chấn chỉnh sai lầm trong dòng.  Từ đó, Thánh Bonaventura phát triển cách hiểu về lịch sử của Giáo Hội, bác bỏ lịch sử về Tam vị Nhất thể của Joachim, và tuyên bố rằng “Thiên Chúa là một đối với toàn bộ lịch sử.”  Thánh Bonaventura xác định: “Đức Giêsu Kitô là lời cuối cùng của Thiên Chúa; nơi Ngài, Thiên Chúa đã nói mọi điều, trao ban và giải thích chính Ngài.”  Điều này có nghĩa là Thiên Chúa mặc khải Giáo Hội, và không có gì “mới” được mặc khải mà lại không có trong sự mặc khải.

Tư tưởng tiến bộ về lịch sử của Thánh Bonaventura là sáng kiến khi so sánh với các giáo phụ.  Thánh Bonaventura không bác bỏ các giáo phụ, nhưng ngài thấy rằng Đức Kitô đã đem sự mới mẻ đến trong Giáo Hội và sự phong phú của Đức Kitô là vô tận.  Với Đức Kitô là trung tâm, chúng ta có thể phát hiện nhiều kho tàng mà Ngài trao ban cho chúng ta qua Ngôi Lời.  Đức Kitô là Đấng mà chúng ta có thể khám phá sự mới mẻ trong các giáo huấn và truyền thống của Giáo Hội.

Một số người cho rằng như thế thì Giáo Hội xuống dốc.  Dựa vào thần học của Thánh Bonaventura, Đức Giáo Hoàng Benedict XVI giải thích: “Công việc của Đức Kitô không thụt lùi mà tiến tới.”  Hơn nữa, chúng ta không thể nói rằng Giáo Hội “hoàn toàn mới” và mọi truyền thống trong quá khứ đã lỗi thời.  Đức Giáo Hoàng Benedict XVI giải thích về tính mới mẻ của Giáo Hội: “Giáo Hội sẽ là gì nếu không có tinh thần mới của Dòng Xitô, Dòng Phanxicô, Dòng Đaminh, tinh thần của Thánh Teresa Avila và Thánh Gioan Thánh Giá?  Theo thần học của Thánh Bonaventura, chúng ta có cách hiểu mới về tinh thần trong lịch sử Giáo Hội: hoạt động của Giáo Hội luôn tiến tới, với Đức Kitô ở giữa và ở cuối tầm nhìn theo Bát Phúc.”  Thánh Bonaventura hiểu sự thật này nhờ tận hiến cho Đức Kitô qua lời cầu nguyện.  Thánh Bonaventura làm gương cho chúng ta về cách “học hỏi ở trường học của Thầy Chí Thánh,” và chúng ta nên noi gương thánh nhân.  Ước muốn canh tân dòng khó nghèo hồi thế kỷ 13 có thể gợi hứng cho chúng ta khi chúng ta muốn canh tân hoặc tái truyền giáo cho những người đã lạc xa Thiên Chúa.

Sự nhấn mạnh của Thánh Bonaventura về việc canh tân truyền thống đan tu làm cho ngài trở thành một vị thánh thích nghi với mọi thời đại, đặc biệt đối với việc Tân Phúc Âm Hóa, bởi vì thời đại chúng ta rất cần giúp đỡ nhau và giúp người khác tái tập trung vào Đức Kitô là trung tâm của đời sống và vũ trụ.  Đức Kitô là “cùng đích” của mọi thụ tạo theo một ý nghĩa nào đó, Ngài cũng ở giữa lịch sử cứu độ – Ngài muốn nối kết với chúng ta trong tâm hồn chúng ta và là “tâm điểm” của chúng ta.  Thông qua thần học của Thánh Bonaventura, chúng ta gặp được Đức Kitô – Đấng là trung tâm của Phụng Vụ. Chính Phụng Vụ là nơi trời gặp đất, cử hành Thập Giá, khi chúng ta có thể lãnh nhận Thánh Thể Đức Kitô.  Cùng với Thánh Bonaventura, chúng ta có thể cầu nguyện: “Suy niệm về Thập Giá của Đức Kitô thật tốt lành biết bao!”

Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

CẦU NGUYỆN – CON ĐƯỜNG KHÔNG AI ĐI THAY

Có một sự thật rất đơn giản, nhưng con người thường quên:
ai ăn thì người ấy no,
ai đi thì người ấy đến,
ai cầu nguyện thì chính người ấy được chạm đến ánh sáng.

Không ai có thể ăn giùm ta để ta hết đói.
Cũng vậy, không ai có thể tu giùm ta để ta được đổi thay.
Đời sống thiêng liêng, suy cho cùng, không phải là một dịch vụ uỷ quyền, mà là một hành trình cá vị — âm thầm, đơn độc, nhưng trung thực.

Cầu nguyện không phải là cách để trốn tránh trách nhiệm sống.
Cũng không phải là lời nhờ vả ai đó “xin hộ” để ta khỏi phải đối diện với chính mình.
Muốn được cứu, con người buộc phải bước đi bằng chính đôi chân tự do của mình — vừa cầu nguyện, vừa nỗ lực, vừa chịu trách nhiệm cho những lựa chọn của bản thân.

Không ai bị câm trước Thiên Chúa.
Ai cũng có một miệng để thốt lời,
một trái tim để mở ra,
và một tự do để đáp lại hay khước từ.

Vì thế, không ai có thể cầu thay cho một sự từ chối cố chấp.

Có những người xin cầu nguyện rất nhiều,
nhưng lại không hề muốn thay đổi.
Có những người mong được cứu,
nhưng lại không muốn rời khỏi vùng tối quen thuộc của mình.
Không phải vì lời cầu nguyện bất lực,
mà vì ánh sáng đã đến — và bị quay lưng.

Cầu nguyện, ở chiều sâu nhất, không phải là xin cho ý riêng được thành tựu,
mà là để ý riêng được soi sáng.
Khi ánh sáng được ban mà con người vẫn khư khư giữ lấy cái tôi,
thì ơn huệ không mất — chỉ là không được đón nhận.

Vì thế, trật tự của cầu nguyện cũng là trật tự của sự khiêm tốn.
Ta cầu cho chính mình trước — để biết mình yếu đuối.

Ta cầu cho cha mẹ, ông bà, anh chị em — để học yêu thương cụ thể.
Rồi sau đó mới dám mở lòng ra với làng xóm, thiên hạ, và những người đã khuất —
không phải bằng ảo tưởng đạo đức,
mà bằng một trái tim đã được luyện tập trong sự thật.

Không ai có thể được cứu nếu họ không muốn.
Nhưng cũng không ai mất ơn cứu độ vì thiếu lời cầu nguyện —
chỉ vì họ không muốn mở cửa.

Cầu nguyện, rốt cuộc,
là đứng trước ánh sáng
và thành thật hỏi chính mình:
“Tôi có thực sự muốn được soi sáng không?”

Lumi Hồng Nhung
Nguồn: https://www.nguoitinhuu.org/

CHIẾC ÐINH CONG

Chủ đề: “Ðáp lại lời Chúa bao gồm ba việc: Nhận lãnh, gìn giữ và mang nó ra thực hành”

John Powers.  Một tiểu thuyết gia ở Chicago có viết quyển sách nhan đề “The Unoriginal Sinner and the Ice Cream God.

Tác phẩm này kể về một cậu bé tên Tim Conroy.  Cậu đang trong thời kỳ phát triển, một thời kỳ phát triển gai góc.  Ngày nọ Tim tâm sự với một người bạn: “Tớ xuất thân từ một gia đình công giáo, nhưng cậu biết sao không?  Càng sống đạo tớ càng tồi tệ hơn.”

Ðôi khi tất cả chúng ta đều có cảm nghĩ giống Tim.  Có thể chúng ta không trở nên tồi tệ hơn, nhưng chúng ta cũng chả khá hơn bao nhiêu.  Quý vị hãy nghĩ xem: khi được 25 tuổi, chúng ta đã nghe đọc và cắt nghĩa Lời Chúa phải được khoảng độ một ngàn lần, thế mà sau đó, tại sao chúng ta vẫn không tiến bộ hơn trước?  Câu trả lời có lẽ nằm nơi dụ ngôn của Chúa Giêsu trong Phúc Âm hôm nay.

Người nông dân trong dụ ngôn là Chúa Giêsu.  Hạt giống là Lời Chúa.  Những nơi hạt giống được gieo xuống là vệ đường, đá, gai, đất tốt, ám chỉ những kẻ nghe Lời Chúa.  Một vài người chối bỏ lời ấy thẳng thừng.  Số khác thì nhận lấy và sau đó thì chối bỏ.  Còn số khác nữa thì nhận lãnh, tích chứa và đem ra thực hành.

Ðiều quan trọng cần ghi nhận là chỉ có một trường hợp Lời Chúa bị chối thẳng thừng và triệt để.  Trong ba trường hợp còn lại.  Lời Chúa đều được vui vẻ đón nhận.  Vấn đề không hệ tại việc đón nhận Lời Chúa, mà hệ tại việc tích chứa và mang nó ra thực hành.  Vì thế, có tất cả ba bước để đáp trả lời Chúa là: đón nhận, tích chứa và thực hành lời ấy.

Chúng ta hãy xem kỹ từng bước một.

Bước thứ nhất là nghe Lời Chúa.  Chúng ta có thể gọi đây là bước của trí não.  Bước này bao hàm việc chăm chú lắng nghe đọc và giải thích Kinh Thánh.

Bước thứ hai là trân trọng tích giữ Lời Chúa.  Bước này có thể được gọi là bước của trái tim, bao hàm việc ghi sâu vào lòng lời ta vừa nghe, và suy nghĩ xem có cách nào áp dụng lời ấy vào cuộc sống và làm sao để lời ấy biến cuộc sống của chúng ta nên tốt đẹp hơn.  Bước thứ hai này không nhất thiết xẩy ra tại giáo đường.  Nó có thể khởi sự tại giáo đường nhưng thường kéo dài suốt tuần lễ sau đó khi chúng ta suy nghĩ về Lời Chúa đã được nghe hôm Chúa nhật.

Bước thứ ba là đem Lời Chúa ra thực hành.  Nếu chúng ta gọi bước thứ nhất là bước của “trí não,” bước thứ hai là bước của “trái tim,” thì chúng ta có thể gọi bước thứ ba là bước của “linh hồn.”  Bước này bao hàm việc tác động lên những gì trí óc chúng ta lãnh nhận và con tim chúng ta tích chứa gìn giữ.

Thánh Phaolô cố ý bàn về bước của “linh hồn” này như sau:

Lời Chúa… sắc bén hơn bất kỳ chiếc gươm hai lưỡi nào.  Nó phân chia hồn linh, cốt tủy, thấu suốt tư tưởng và ý định trong lòng” (Dt.4,12).

Như thế, có tất cả ba bước liên quan đến việc nghe Lời Chúa: bước “trí não” (lãnh nhận), bước “trái tim” (tích chứa gìn giữ) và bước “linh hồn” (đem ra thực hành).

Câu chuyện sau đây minh họa cho ba bước nêu trên:

Có một người đàn ông tên Bill.  Ông ta là một nhà thầu khoán nổi tiếng.  Dần dà do công việc dồn ép nên Bill đã đâm đầu vào rượu chè và chẳng bao lâu sau, ông đã tách lìa mái ấm gia đình, đồng thời sự nghiệp ông lâm vào tình trạng đổ vỡ.

Một hôm, đang lúc đi bộ xuống phố, tình cờ Bill cúi mắt nhìn xuống.  Bên vệ đường có một chiếc đinh cong queo rỉ sét.  Bill tự nghĩ: “Cái đinh này đúng là hình ảnh của ta, ta cũng rỉ sét cong queo như nó.  Ta chỉ còn là đồ vô dụng chỉ có nước quẳng đi không khác gì cái đinh ấy.”  Nghĩ thế, Bill cúi xuống nhặt chiếc đinh lên bỏ nó vào túi.  Về đến nhà, Bill lấy búa đập nó thẳng lại, đoạn dùng giấy nhám chà lớp rỉ sét đi.  Sau đó, Bill đặt chiếc đinh này bên cạnh chiếc đinh mới.  Ông cảm thấy khó phân biệt được sự khác biệt giữa hai chiếc đinh ấy.  Thế là một tư tưởng loé lên trong trí Bill.  Cuộc đời ông có thể uốn thẳng, đánh bóng trở lại giống chiếc đinh nọ.  Tuy nhiên không phải dễ dàng!  Liệu ông có thể chịu được những cú gõ chát chúa và sự chà xát không?  Bill quyết định làm thử…

Hiện nay Bill đã đoàn tụ với gia đình và trở lại với công việc xây cất.  Ông rất quý chiếc đinh cũ rỉ cong queo mà ông đã nhặt ở vệ đường đúng vào lúc cam go nhất của đời ông.  Mãi đến hôm nay, Bill vẫn còn giữ chiếc đinh ấy trong ví của ông.

Nhìn lại toàn bộ câu chuyện của Bill, chúng ta có thể nhận ra ba bước nói trên:

Bước thứ nhất hay bước “trí não”, là lúc Bill nhận thức được chiếc đinh cong queo rỉ sét đúng là hình ảnh của chính ông.  Bước thứ hai tức bước “trái tim”, là khi Bill dùng búa gò thẳng chiếc đinh và dùng giấy nhám đánh cho sạch, đồng thời nhận ra mình cũng có thể làm y như vậy đối với cuộc đời mình.  Bước thứ ba, tức là bước “linh hồn”, là lúc Bill thực hành những đổi thay trong cuộc sống của mình nhờ đó ông được hồi phục trọn vẹn.

Nếu chúng ta lỡ rơi vào trường hợp giống như trường hợp cậu bé Tim Conroy trong tiểu thuyết của John Power, thắc mắc tại sao mình không là những Kitô hữu hành đạo tốt hơn, thì bài Phúc Âm hôm nay có thể mang lại cho chúng ta một sứ điệp quan trọng.

Có lẽ chúng ta không khá hơn bởi vì chúng ta không biết đáp lại Lời Chúa bằng cả trí óc, bằng cả trái tim và bằng cả linh hồn chúng ta.  Sứ điệp bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta hãy noi gương Bill, đáp lại Lời Chúa giống như cách thức của Bill: đó là nhận lãnh, tích chứa và mang ra thực hành.

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu là Ðấng gieo lời Thiên Chúa, xin giúp chúng con nhận biết rằng lãnh nhận lời Ngài mà thôi thì chưa đủ.  Xin giúp chúng ta biết tích chứa và mang lời ấy ra thực hành nữa.

Lạy Chúa Giêsu là Ðấng gieo lời Thiên Chúa, xin giúp chúng con đáp trả lời Ngài không chỉ với tất cả trí óc và trái tim và còn với tất cả linh hồn chúng con nữa.  Amen!

Lm. Mark Link, S.J.