BỐN PHÉP LẠ THÁNH THỂ MỚI ĐÂY

Mặc dù đã có rất nhiều phép lạ Thánh Thể từ thời Trung cổ, nhiều phép lạ đã xảy ra trong thế kỷ trước, với một số phép lạ đã được xác nhận trong 20 năm qua.  Các phép lạ này là bằng chứng sống động cho giáo lý của Giáo Hội Công giáo rằng mặc dù hình dạng của bánh và rượu vẫn còn, nhưng bản chất đã được thay đổi hoàn toàn (nhờ quyền năng của Thiên Chúa) thành Mình và Máu Chúa Giêsu Kitô.  Đó là giáo huấn dựa trên Kinh Thánh và Thánh Truyền vẫn không thay đổi về bản chất từ thời các tông đồ.

Ngoài ra, Giáo Hội đã công nhận rằng đôi khi Thiên Chúa can thiệp theo cách hữu hình hơn và có thể thay đổi ngay cả hình dạng của bánh rượu thành Mình Máu Ngài.  Hoặc Thiên Chúa có thể bảo quản tấm bánh đã thánh hóa một cách kỳ diệu trong một khoảng thời gian dài, vượt qua những gì tự nhiên đối với bánh.

Tại Legnica – Ba Lan

 Năm 2013, Đức Giám mục Zbigniew Kiernikowski, Giáo phận Legnica, cho biết: “Ngày 25-12-2013, khi đang cho rước lễ, một Bánh Thánh rơi xuống, sau đó được cầm lên và đặt vào một bình nước.  Ngay sau đó, các vết màu đỏ xuất hiện.  Đức Giám mục Stefan Cichy, Giáo phận Legnica, đã thành lập một ủy ban để nghiên cứu hiện tượng này.  Tháng 02-2014, một mảnh nhỏ màu đỏ của Bánh Thánh được tách ra và đặt trên khăn thánh.  Ủy ban đã lấy mẫu để tiến hành các cuộc kiểm tra kỹ lưỡng của các viện nghiên cứu thích hợp.”

Sau khi điều tra, Bộ phận Pháp y cho biết: “Trong hình ảnh mô bệnh học, các mô đã được tìm thấy có chứa các phần cơ có vân chéo. (…) Toàn bộ (…) rất giống cơ tim với những thay đổi thường xuất hiện trong cơn hấp hối.  Các nghiên cứu di truyền chỉ ra nguồn gốc con người của mô.”

Tại Sokółka – Ba Lan

Trong Thánh Lễ Chúa Nhật 12-10-2008, tại nhà thờ giáo xứ Thánh Antôn ở Sokolka, một Bánh Thánh đã rơi khỏi tay linh mục khi đang cho rước lễ.  Linh mục ngừng cho rước lễ, cúi xuống cầm Bánh Thánh lên, rồi đặt Bánh Thánh vào một bình nước nhỏ.  Bình thường thì Bánh Thánh sẽ tan trong nước, sau đó sẽ được xử lý đúng quy cách phụng vụ.

Sau Thánh Lễ, theo lời yêu cầu của cha xứ Stanislaw Gniedziejko, sơ Julia Dubowska đã đổ nước và Bánh Thánh vào một bình chứa khác.

Một tuần sau, vào ngày 19-10-2008, sơ Julia thấy có mùi thơm dịu dàng của bánh không men.  Khi mở hộp đựng, sơ nhìn thấy ở giữa Bánh Thánh – phần lớn còn nguyên vẹn – có một vết cong màu đỏ tươi, giống như vết máu: một phân tử sống của cơ thể.  Nước không bị loang màu sắc.

Một phần của Bánh Thánh đã thay đổi và được lấy để phân tích riêng bởi hai chuyên gia, giáo sư Maria Sobaniec-Lotowska và giáo sư Stanislaw Sulkowski, để đảm bảo độ tin cậy của kết quả.

Kết quả của cả hai nghiên cứu độc lập đều hoàn toàn phù hợp.  Họ kết luận rằng cấu trúc của Bánh Thánh đã biến đổi giống hệt với mô cơ tim của một người sắp chết.  Theo giáo sư Maria Sobaniec-Lotowska, cấu trúc của các sợi cơ tim liên kết chặt chẽ với cấu trúc của bánh, theo cách mà con người không thể làm được.

Tại Tixtla – Mexico

Ngày 21-10-2006, trong một cuộc tĩnh tâm của giáo xứ, một Bánh Thánh sắp được trao đã tiết ra chất màu đỏ.  Đức Giám mục Alejo Zavala Castro đã triệu tập một ủy ban thần học điều tra để xác định xem đó có phải là một phép lạ hay không.  Tháng 10-2009, ngài đã mời tiến sĩ Ricardo Castañón Gómez tiến hành nghiên cứu khoa học với một nhóm các khoa học gia và xác minh tính chất kỳ diệu của sự việc.  Tiến sĩ Gómez đã hoàn thành cuộc điều tra.

Nghiên cứu khoa học được thực hiện từ tháng 10-2009 đến tháng 10-2012, với nhận định này: “Chất màu đỏ được phân tích tương ứng với máu, trong đó chứa Hemoglobin và DNA có nguồn gốc từ con người.  Hai nghiên cứu được thực hiện bởi các chuyên gia pháp y lỗi lạc với các phương pháp luận khác nhau đã cho thấy rằng chất này có nguồn gốc từ bên trong, loại trừ giả thuyết rằng ai đó có thể đã đặt nó từ bên ngoài.  Đó là loại máu AB, giống như máu ở Khăn Liệm Turin.  Một phân tích hiển vi về độ phóng đại và độ xuyên thấu cho thấy phần trên của máu đã đông lại từ tháng 10-2006.  Hơn nữa, tháng 02-2010, các lớp bên trong cho thấy sự hiện diện của máu tươi.

Tại Chirattakonam – Ấn Độ

Ngày 28-04-2001, tại nhà thờ giáo xứ Đức Mẹ Chirattakonam, cha xứ nhận thấy một hình ảnh kỳ lạ xuất hiện trên một Bánh Thánh, và ngài đã ghi lại chính xác những gì xảy ra.

Lúc 8 giờ 49 sáng, tôi đã đặt Mình Thánh để mọi người tôn thờ.  Một lúc sau, tôi thấy như có ba chấm trên Thánh Thể.  Tôi ngừng cầu nguyện và bắt đầu nhìn vào Mặt Nhật, cũng mời các tín hữu chiêm ngưỡng dấu ba chấm.  Sau đó, tôi mời các tín hữu tiếp tục cầu nguyện và đóng cửa Nhà Tạm…  Sáng thứ Bảy, 05-05-2001, tôi mở cửa nhà thờ để cử hành phụng vụ bình thường.  Tôi đến mở cửa Nhà Tạm để xem điều gì đã xảy ra với Thánh Thể trong Mặt Nhật.  Tôi thấy ngay trong Bánh Thánh có một hình tượng giống như mặt người.  Tôi vô cùng xúc động và yêu cầu các tín hữu quỳ xuống và bắt đầu cầu nguyện.  Tôi nghĩ chỉ mình tôi có thể nhìn thấy khuôn mặt, vì vậy tôi đã hỏi người giúp lễ xem có thấy gì ở Mặt Nhật hay không.  Người giúp lễ trả lời: “Con nhìn thấy bóng dáng một người đàn ông.”

Cuối cùng, hình ảnh trở nên rõ ràng hơn và là một người giống như Chúa Giêsu Kitô đội vòng gai.  Hình ảnh kỳ diệu đã được Tổng Giám mục Beatitude Cyril Mar Baselice, Tổng Giáo Phận Trivandrum, điều tra.  Mặt Nhật với Bánh Thánh vẫn được lưu giữ trong nhà thờ cho đến ngày nay.

Philip Kosloski
Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ Aleteia.org)

NĂM PHÉP LẠ THÁNH THỂ HÀNG ĐẦU MÀ CHÂN PHƯỚC CARLO ACUTIS LIỆT KÊ

Chân phước Carlo Acutis đã liệt kê 32 phép lạ Thánh Thể — Đây là 5 phép lạ hàng đầu

Chúa Giêsu nói với Thánh Thôma, “Có phải vì đã thấy Thầy nên anh đã tin?  Phước cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20:29).

Mỗi lần chúng ta tham dự Thánh lễ, một điều gì đó tuyệt vời xảy ra.  Theo lời của Kinh Tin Kính dân Chúa:

Chúa Kitô không thể hiện diện như vậy trong bí tích Thánh Thể trừ khi biến đổi thực tại của bánh thành Thân thể Người và biến đổi thực tại của rượu thành Máu Người, chỉ giữ nguyên các đặc tính của bánh và rượu mà giác quan chúng ta cảm nhận được. Sự thay đổi bí ẩn này được Giáo hội gọi một cách rất thích hợp là sự biến thể.

Nói cách khác, Giáo hội dạy rằng “bản chất” – “nature” của bánh và rượu thay đổi khi truyền phép, nhưng “chất thể” – “substance” vẫn giữ nguyên. Trước và sau khi truyền phép, Mình và Máu có mùi, hình dạng, vị và cảm giác giống như bánh và rượu trước đó.

Đôi khi, rất hiếm khi, trong Thánh lễ, những chất thể của bánh và rượu dường như thay đổi theo một cách nào đó cùng với bản chất. Những điều này được gọi là phép lạ Thánh Thể.

Chân phước Carlo Acutis đã tạo ra một trang web liệt kê các Phép lạ Thánh Thể trên khắp thế giới. Trong khi danh sách của ngài bao gồm 32 Phép lạ Thánh Thể cho Ý, thì năm phép lạ này là những phép lạ nổi tiếng và được viếng thăm nhiều nhất.

1. Phép lạ Thánh Thể ở Bolsena

Ở vùng Umbria thấp hơn là thị trấn cổ Orvieto.  Được bảo tồn trong nhà thờ trang trí công phu của thành phố là Phép lạ Thánh Thể ở Bolsena.  Phép lạ này dẫn đến lễ Mình Máu Thánh Chúa hay Corpus Christi.

Vào năm 1263, một linh mục người Đức đang trên đường hành hương đến Rôma, khi ngài dừng chân tại Bolsena.  Theo truyền thuyết, ngài đã nghi ngờ về giáo lý Công Giáo về Sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể.  Ngay sau khi truyền phép, bánh thánh bắt đầu chảy máu.  Quá kinh ngạc, ngài đã hoãn Thánh lễ và đi thẳng đến Orvieto, nơi Đức Giáo Hoàng Urban IV đang cư trú.

Đức Giáo Hoàng đã điều tra về bánh thánh kỳ diệu và khăn thánh đẫm máu (vải bàn thờ bằng vải lanh) và xác nhận tính xác thực của nó.  Ngài đã thiết lập một lễ mới trong lịch phụng vụ: Lễ trọng kính Mình Máu Thánh Chúa Kitô thường được gọi là lễ Corpus Christi.

2. Phép lạ Thánh Thể ở Lanciano

Phép lạ Thánh Thể ở Lanciano, xảy ra tại vùng Abruzzo, là phép lạ nổi tiếng nhất trong Giáo Hội Công Giáo.

Phép lạ xảy ra vào thế kỷ thứ tám trong một nhà thờ do các tu sĩ Basilianô quản lý.  Tương tự như ở Bolsena, một trong những linh mục đã nghi ngờ Sự Hiện Diện Thực Sự.  Khi ngài đọc lời truyền phép, bánh thánh đã biến thành thịt, rượu thành máu.  Thân thể mang hình dạng của một trái tim, và Máu đông lại thành năm giọt hình dạng không đều.

Năm 1970, phép lạ này đã được khoa học kiểm chứng.  Các bác sĩ kết luận rằng phần thịt là mô tim người và máu là máu của người.  Cả hai đều thuộc cùng nhóm máu AB.

Ngày nay, thánh tích được bảo quản trong một nhà thờ Phanxicô.  Mặc dù thường khó để phân biệt chi tiết của các phép lạ Thánh Thể khác, Lanciano là độc nhất.  Có thể đến gần nhờ một cầu thang ngay phía sau thánh tích.  Thịt được bảo quản trong một mặt dây chuyền bằng bạc, các giọt máu trong một chén pha lê.

3. Phép lạ Thánh Thể ở Siena

Vào ngày 14 tháng 8 năm 1730, bọn trộm đã lấy trộm một hộp đựng bánh thánh bằng bạc từ một nhà thờ Phanxicô ở Siena.  Hộp đựng bánh thánh chứa 351 bánh thánh đã được thánh hiến, nhiều bánh thánh đã được thánh hiến vì lễ Đức Mẹ Lên Trời vào ngày hôm sau.  Ba ngày sau, những bánh thánh bị đánh cắp đã được tìm thấy trong một nhà thờ gần đó và được trả lại cho nhà thờ Phanxicô.

Các tu sĩ dòng Phanxicô xác minh rằng những chiếc bánh thánh này là bánh thánh bị đánh cắp.  Năm thập niên sau, vào ngày 14 tháng 4 năm 1780, những chiếc bánh thánh này được kiểm tra và phát hiện là “không có bất kỳ sự thay đổi nào.”

Vào các năm 1789, 1889, 1815 và 1854, nhiều cuộc kiểm tra khác đã được tiến hành.  Trong một lần, một số bánh thánh chưa được thánh hiến đã được niêm phong trong hộp thiếc trong 10 năm.  Khi mở lại, ủy ban chỉ tìm thấy giun và các mảnh mục nát thay vì bánh thánh.

Trong một cuộc điều tra khác vào năm 1914, theo sáng kiến của Đức Giáo Hoàng Pius X, báo cáo cuối cùng nêu rõ:

Các hạt dường như được bảo quản tốt, không có bất kỳ dấu hiệu biến đổi hoặc nấm mốc nào, cũng không bị hư hỏng do sự biến đổi của sâu mọt hoặc các loại ký sinh trùng khác, thường thấy ở các sản phẩm bột mì.

Ngoài ra, tuyên bố còn nêu rõ:

Các hạt tạo nên một hiện tượng kỳ lạ, có liên quan phong phú, đảo ngược các định luật tự nhiên về bảo toàn vật chất hữu cơ.  Đây là một sự kiện độc đáo được lưu giữ trong biên niên sử khoa học.

Năm 1980, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đến thăm Siena trong một chuyến viếng thăm mục vụ.   Khi chứng kiến phép lạ, ngài đã thốt lên: “Đây là Sự Hiện Diện Thực Sự!”

4. Phép lạ Thánh Thể ở Cascia

Trong Thung lũng Valnerina của Umbria, gần thành phố nơi Thánh Bênêđíctô thành Nursia sinh ra, là Cascia.  Trong khi hầu hết những người hành hương đến đó để tỏ lòng tôn kính Thánh Rita, sinh năm 1371 và qua đời năm 1447, bên dưới vương cung thánh đường lưu giữ hài cốt của thánh nữ vẫn còn lưu giữ một phép lạ Thánh Thể khác.

Vào năm 1330, một linh mục đang chuẩn bị đến thăm một giáo dân đang hấp hối không xa Siena.  Ngài đã bất cẩn đặt một bánh thánh đã thánh hiến vào sách kinh nguyện của mình thay vì trong một hộp đựng bánh thánh.  Khi đến nhà người đàn ông bệnh tật, ngài đã nghe ông xưng tội và ban phép xá giải cho ông.  Khi mở sách kinh nguyện, ngài phát hiện ra bánh thánh đang chảy máu, cả hai trang đều dính đầy máu.  Một trong những trang được bảo quản tại Cascia.

5. Phép lạ Thánh Thể ở Macerata

Phép lạ Thánh Thể ở Macerata theo mô hình ở Bolsena và Lanciano.  Năm 1356, một linh mục đang cử hành Thánh lễ và nghi ngờ về Sự Hiện Diện Thực Sự.  Trong khi truyền phép, máu tuôn ra từ bánh thánh đã truyền phép rơi vào chén thánh, cũng như trên khăn trải bàn thờ.

Sau thánh lễ, vị linh mục đã nhanh chóng báo cáo sự việc với Giám mục, và vị Giám mục đã mở một cuộc điều tra theo giáo luật.

Mặc dù các tài liệu điều tra không còn được lưu giữ do sự đàn áp của Napoleon, vải lanh vẫn được lưu giữ trong nhà thờ lớn của thành phố.

Mặc dù không ai biết được ý muốn của Chúa, có lẽ Người cho phép xảy ra những phép lạ Thánh Thể để chúng ta, giống như các linh mục nghi ngờ và Thánh Tôma, cũng có thể “thấy và tin.”

Source: National Catholic Register

LUÔN CÓ NHỮNG TÊN MẬT THÁM

Chúng ta có khuynh hướng cho là dĩ nhiên những quà tặng đặc biệt như Mình Thánh Chúa và cha ruột của chúng ta.

Cha Walter Ciszek bị lính Nga bắt trong Thế Chiến II.  Người bị kết tội là “gián điệp của Vatican” và bị 23 năm tù trong các trại lao động ở Siberia.  Sau cùng khi ra khỏi tù, cha đã viết một cuốn sách về các cảm nghiệm này.  Cha lấy tên sách là Người Đã Dẫn Dắt Tôi.

Trong sách có nhiều câu chuyện cảm động về những hy sinh của các tù nhân khi rước Mình Thánh Chúa trong tù.  Một câu chuyện đáng được nhắc đến.  Trước khi chia sẻ câu chuyện ấy, chúng ta cần biết một chút về quá khứ.

Trong thời Thế Chiến II, trước khi có Công Đồng Vatican II, luật Giáo Hội buộc phải kiêng ăn uống 24 giờ trước khi rước Mình Thánh Chúa.  Hãy nhớ đến điều này khi lắng nghe Cha Ciszek kể trong sách:

Tôi từng thấy… các tù nhân đành mất giấc ngủ cần thiết và thức dậy sớm trước khi chuông reo để dự Thánh Lễ cách lén lút…  Chúng tôi sẽ bị phạt nặng nếu việc tham dự Thánh Lễ bị khám phá, và luôn luôn có những tên mật thám…

Tất cả những điều này gây khó khăn khi có nhiều tù nhân tham dự, do đó chúng tôi thánh hiến thêm bánh và phân phát Mình Thánh cho các tù nhân khác khi có thể.  Đôi khi điều đó có nghĩa là chúng tôi chỉ có thể gặp họ khi trở về doanh trại vào ban đêm trước khi ăn tối.

Tuy thế, những người này thực sự đã giữ chay cả ngày dài và lao động kiệt lực mà không ăn uống gì từ sau bữa ăn tối hôm trước, chỉ để rước Mình Thánh Chúa – đó là ý nghĩa của bí tích này đối với họ! 

Nói cách khác, nó giống như bạn và tôi không ăn uống gì kể từ lúc này ngày hôm qua.  Trong khi đó, chúng ta còn phải lao động muốn gẫy lưng trong nhiệt độ dưới số không.  Đó là ý nghĩa của Mình Thánh đối với Cha Ciszek và các tù nhân.

Câu chuyện này là một câu chuyện thích hợp cho lễ Mình Thánh Chúa.  Chữ Corpus Christi tiếng Latinh có nghĩa “thân thể của Chúa Kitô.”  Vào ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa chúng ta tôn kính Thân Thể của Chúa Kitô.

Tại sao chúng ta lại dành riêng một ngày để kính Thân Thể Chúa Kitô?  Không phải là chúng ta kính Mình Thánh Chúa trong mọi Thánh Lễ hay sao?  Vậy tại sao lại có ngày đặc biệt này?

Chúng ta cử hành lễ Mình Máu Thánh Chúa với cùng lý do như chúng ta cử hành Ngày Người Cha.  Đó là vì loài người chúng ta có khuynh hướng cho là điều dĩ nhiên những món quà đặc biệt như Mình Thánh Chúa Kitô và như các người cha của chúng ta.

Đó là một trong những thảm kịch lớn của đời sống khi chúng ta có khuynh hướng đánh mất sự cảm kích một số quà tặng rất quý báu mà chúng ta có.  Tại sao lại như vậy?

Các nhà tâm lý nói rằng nếu chúng ta chú ý đến mọi tiếng động nghe được hoặc mọi mầu sắc thấy được, có thể nói chúng ta sẽ trở thành điên.  Để bảo vệ chúng ta khỏi bị điên, chúng ta quen thuộc hóa các tiếng động và mầu sắc này.  Chúng ta cản trở và gạt chúng ra ngoài sự chú ý.

Tỉ như, nếu chúng ta nghe tiếng lạch cạch đánh máy chữ ở phòng bên cạnh, tai chúng ta không còn nghe được âm thanh ấy nữa.  Các nhà tâm lý gọi tiến trình này là “quen thuộc hóa.”

Nhưng quen thuộc hóa có một khía cạnh tiêu cực.  Nó có sự hạn chế.  Chúng ta có khuynh hướng quen thuộc hóa mọi thứ sau một thời gian – cảnh hoàng hôn, bông hoa, bạn hữu, cha mẹ, và ngay cả Mình Thánh Chúa Kitô.  Chúng ta mất sự nhận thức về các điều ấy.  Chúng ta không còn phấn khởi về các điều ấy.  Chúng ta coi các điều ấy là điều dĩ nhiên.

Quen thuộc hóa là một trong những lý do chính tại sao thiền trở nên phổ thông.  Mục đích của thiền là giúp chúng ta đừng quen thuộc hóa.  Nó giúp chúng ta lại trở nên nhạy cảm trước cảnh đẹp của hoàng hôn, bông hoa, và bạn hữu.

Để có ý tưởng về cách hoạt động này, thử chú ý đến một vật quen thuộc, tỉ như một cánh hoa, như thể bạn nhìn thấy nó lần đầu tiên.  Hoặc chú ý đến ai đó bạn yêu mến, như cha của bạn, như thể lần đầu tiên bạn nhìn thấy người và muốn in sâu vào tâm khảm hình ảnh cuối cùng này của ông.

Điều này đưa chúng ta trở về Mình Máu Thánh Chúa.  Ngày lễ này đề ra cho chúng ta một lời mời và một thách đố.

Trước hết, lời mời.  Mình Máu Thánh Chúa mời chúng ta tự hỏi, Thánh Thể có ý nghĩa gì đối với chúng ta?  Chúng ta có còn quý trọng như trước đây chúng ta rước lễ lần đầu tiên không?  Điều này có ý nghĩa thật nhiều đối với chúng ta như đối với các tù nhân trong sách của Cha Ciszek không?

Nếu câu trả lời của chúng ta là không, chúng ta đối diện với một thách đố.  Nó cũng giống như thách đố mà Ngày Người Cha đặt ra cho chúng ta.  Nó như thế này:

Làm thế nào chúng ta có thể làm sâu đậm hơn sự quý trọng Thánh Thể một cách cá biệt?

Làm thế nào chúng ta có thể làm sâu đậm hơn sự quý trọng người cha của chúng ta một cách cá biệt?

Làm thế nào chúng ta lại trở nên phấn khởi coi hai điều này như quà tặng quý báu cho chúng ta?

Một cách thi hành là làm những gì người thiền thi hành.  Cố gắng suy niệm về Mình Thánh Chúa Kitô như thể bạn mới khám phá ra điều đó lần đầu tiên.

Emilie Griffin, bà là người ở trong kỹ nghệ quảng cáo Nữu Ước, và trở nên người Công Giáo vài năm trước đây.  Bà viết một cuốn sách thu hút được gọi là Turning.  Bà viết:

Một sự sùng kính Thánh Thể ngày càng gia tăng – và một niềm tin vào sự Hiện Diện Thật – đã lôi kéo tôi về với Giáo Hội Công Giáo…  Khi sự sùng kính Thánh Thể của tôi gia tăng, tôi lại càng hấp dẫn với đạo Công Giáo.

Và như thế chúng ta phải cố gắng suy niệm về Thánh Thể theo cách bà Emilie Griffin đã làm khi bà khám phá ra mầu nhiệm khôn lường này lần đầu tiên.

Tôi có thể kết thúc với hai đề nghị được không?

Thứ nhất, trong tuần lễ trước mặt hãy thêm một lời cảm tạ trong phần kinh nguyện hàng ngày của bạn vì món quà của Chúa Kitô là Thân Thể của Người ban cho chúng ta.

Thứ hai, trong Thánh Lễ khi bạn xếp hàng lên rước lễ, hãy tập trung tư tưởng đến người mà bạn sẽ lãnh nhận khi thừa tác viên thánh thể nâng bánh lễ lên và nói, “Mình Thánh Chúa Kitô.”

Bạn sẽ lãnh nhận Thân Thể sống động của Chúa Kitô.

Bạn sẽ lãnh nhận cùng Đức Kitô đã sinh ra ở Bêlem.

Bạn sẽ lãnh nhận cùng Đức Kitô đã chết trên thập giá.

Bạn sẽ lãnh nhận cùng Đức Kitô đã chỗi dậy từ cõi chết.

Khi bạn nghĩ về điều này, nó thật vô cùng khó khăn để mường tượng.  Nhưng qua đức tin, chúng ta biết đó là sự thật.

Chỉ có một Thiên Chúa đầy yêu thương mới có thể ban cho chúng ta một món quà không thể tưởng được như thế.

Lm. Mark Link, S.J.

TẠI SAO THINH LẶNG LẠI CẦN THIẾT?

Thánh Biển Đức dạy các môn sinh của mình: giữ thinh lặng, ngay cả đối với những điều lành thánh.  Một lời nói đúng cũng thành sai, bởi vì ngay khi ta dùng lời để nói về sự thật, nó đã bị bóp méo; dù ta có nói đúng về Thiên Chúa, thì, cũng giống như ngón tay vẽ trên mặt đại dương, sự thật không nằm trong ngôn từ, Thiên Chúa không nằm trong các định nghĩa.

Có một nghịch lý: người càng hiểu sâu, thì càng nói ít, còn người càng biết ít, thì càng nói nhiều.  Khôn ngoan thật sự không nằm ở lời nói, nhưng ở thinh lặng, nơi không còn gì để chứng minh, không còn gì để khoe khoang.  Thinh lặng không phải là yếu đuối, mà là, dấu hiệu của sự trưởng thành: khi ta còn nhiều sợ hãi, ta nói để bảo vệ mình; khi ta còn nhiều mong cầu, ta nói để được người khác chấp nhận; khi ta còn nhiều lo âu, ta nói để khỏa lấp khoảng trống; nhưng, khi đã đủ sâu, ta bắt đầu thấy: không phải điều gì biết cũng cần nói, không phải điều gì tốt cũng cần chia sẻ, không phải sự thật nào cũng cần lời để thể hiện.  Thinh lặng là không gian để sự thật được hiển lộ: giống như mặt nước phẳng lặng, mới có thể phản chiếu bầu trời; tâm hồn tĩnh lặng mới phản ánh những điều sâu xa.

Lời nói chỉ quý khi nó được sinh ra từ sự tĩnh lặng, chứ không phải, từ sự bất an.  Có người chọn im lặng vì sợ: sợ bị đánh giá, sợ bị hiểu lầm, sợ bị bỏ rơi.  Có người nói rất nhiều cũng vì sợ: sợ bị lãng quên, sợ bị coi thường, sợ mất quyền lực.  Thinh lặng không phải là trạng thái trống rỗng, mà là, một cánh cửa mở vào một thế giới sâu nhất bên trong ta: khi ta thinh lặng, ta không còn bận rộn để nói, cũng không còn bị cuốn theo phản ứng, lúc đó, ta mới đủ tỉnh táo để nhận ra mọi chuyện đang diễn ra: ta sẽ nhận ra nỗi giận vừa rồi, hóa ra không đến từ người kia, mà, từ một tổn thương cũ; hóa ra sự ghen tỵ vừa thoáng qua, là vì, mình chưa nhận ra các ân huệ mà mình nhận được; hóa ra tâm hồn ta vốn rất đẹp, nhưng, từ lâu đã bị phủ bởi quá nhiều tiếng ồn.

Có người ít nói, lâu lâu mới nói một câu, không triết lý, không giảng giải, nhưng, sự tĩnh lặng nơi họ sâu hơn mọi điều được đọc trong sách vở.  Có người thông minh, nói giỏi, biết nhiều, tư duy sắc bén, nhưng, mỗi lần trò chuyện với họ, ta lại thấy áp lực, không phải vì họ không tốt, mà vì, họ quá muốn đúng: luôn cần thắng lý, luôn phải giải thích, luôn cố để người khác hiểu mình, câu chuyện nào cũng dài, ý nào cũng phải bảo vệ, và thế là, đối thoại biến thành tranh luận gay gắt.  Có người bước vào phòng không nói gì, chỉ mỉm cười nhẹ và không khí như dịu lại.  Có người bước vào, ngay lập tức, khiến bầu khí trở nên căng thẳng, sự khác biệt nằm ở nội tâm, người càng bất an, thì càng phải lên tiếng; người càng tĩnh lặng, thì càng không cần thể hiện.  Có người bị trách mắng, cúi xuống không nói gì, nhưng thật ra, đang co mình lại vì sợ hãi, đang im lặng vì không biết phải phản ứng sao.  Có người thinh lặng, vì đã thấy rõ mọi điều, không còn tức giận, không còn kháng cự, chỉ đơn giản, thấy và buông.  Vì vậy, ta đừng nhầm lẫn giữa hai sự thinh lặng: một bên là co rút, một bên là thấu suốt; một bên là sợ, một bên là hiểu; một bên là đè nén, một bên là buông lơi.

Người chưa thật sự thinh lặng, bên trong vẫn còn tranh cãi, vẫn còn diễn tập từng câu đáp trả, như đang chống lại cả thế giới.  Người thật sự thinh lặng thì không còn tranh với ai nữa, không cần phải thắng trong bất kỳ cuộc trò chuyện nào, không cần được khen, chỉ cần sống thật với lòng mình.  Ước gì ta trở nên người thật sự tĩnh lặng, để khi ai đến gần ta, họ đều cảm thấy bình yên, không phải vì ta nói đạo lý, mà vì ta lặng mà thấu: không ồn ào nhưng sâu, không sắc bén nhưng sáng, không cháy rực nhưng nóng nhẹ, đủ để họ được ấm lòng.  Ước gì ta đủ can đảm để chọn không nói, không biện minh, không tô vẽ, nhưng hiện diện đơn sơ, chân thật, trần trụi trước Nhan Thánh Chúa, đủ tĩnh lặng, đủ khiêm cung để nghe được tiếng Chúa nói trong lòng ta.  Ước gì được như thế!

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

VẬT LỘN VỚI CHÍNH SỰ PHỨC TẠP CỦA BẢN THÂN

Catherine de Hueck Doherty, người sáng lập Madonna House, đã từng có một cuộc phỏng vấn rất sâu sắc.  Là một nhân vật thiêng liêng nổi tiếng và được kính trọng, bà thẳng thắn thừa nhận rằng con đường của mình không hề dễ dàng, rằng bà cũng có rất nhiều giằng co nội tâm.  Tại sao?  Vì giống như tất cả chúng ta, bà mang một sự phức tạp gần như “bệnh lý.”  Làm người – bà nói – không hề đơn giản.

Bà mô tả chính mình như thế này (diễn lại ý):

“Trong tôi,” bà nói, “dường như có ba con người.  Có một người tôi gọi là ‘Nữ Bá tước.’  ‘Nữ Bá tước’ là người thiêng liêng, hiệu quả, sống cầu nguyện và khổ chế.  Đó là con người đạo đức trong tôi.  Chính người này đã lập nên một cộng đoàn tu trì, viết sách thiêng liêng, thách đố người khác, và hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa và người nghèo.  ‘Nữ Bá tước’ đọc Tin Mừng và cảm thấy thiếu kiên nhẫn với những chuyện trần thế.  Đối với bà, cuộc sống hiện tại phải được hy sinh cho đời sau.

Nhưng trong tôi cũng có một người khác, tôi gọi là ‘Catherine.’  ‘Catherine’ là người phụ nữ thích những điều đẹp đẽ, xa hoa, tiện nghi và khoái lạc.  Bà muốn tận hưởng sự nhàn rỗi, những bồn tắm dài, quần áo đẹp, trang điểm, thức ăn ngon, và (khi còn kết hôn) từng tận hưởng đời sống vợ chồng lành mạnh.  ‘Catherine’ yêu thích cuộc sống này và không thích hy sinh.  Bà không mấy đạo đức và thường không ưa ‘Nữ Bá tước.’  Hai người này không phải lúc nào cũng hòa hợp.

Nhưng vẫn còn một con người nữa trong tôi – không phải ‘Catherine,’ cũng không phải ‘Nữ Bá tước.’   Trong tôi còn có một cô bé nằm trên sườn đồi ở Phần Lan, nhìn mây và mơ mộng.  Cô bé này không đặc biệt thích cả ‘Catherine’ lẫn ‘Nữ Bá tước’. … “và khi tôi già đi, tôi cảm thấy mình giống ‘Nữ Bá tước’ hơn, vẫn còn khao khát ‘Catherine,’ nhưng tôi nghĩ con người thật trong tôi có lẽ là cô bé đang mơ mộng trên đồi.”

Nếu những lời này được nói bởi một người còn đang loay hoay với việc hoán cải căn bản, thì có lẽ không gây ấn tượng mạnh.  Nhưng đây lại là lời của một “người khổng lồ thiêng liêng,” một người đã từ lâu sống đời môn đệ cách nghiêm túc và dấn thân triệt để phục vụ Thiên Chúa và người nghèo.

Nếu các vị thánh còn giằng co như vậy, thì chúng ta sẽ thế nào?

Sự thật là: tất cả chúng ta đều phải vật lộn, bởi vì tất cả chúng ta đều phức tạp.  Làm người vốn đã không đơn giản, và còn phức tạp hơn nữa khi ta cố gắng sống vượt lên trên những gì tự nhiên nơi mình.

Giống như Catherine, trong mỗi chúng ta đều có nhiều “con người.”  Trong ta có một phần có đức tin, muốn sống các Mối Phúc, muốn hòa nhịp với chân lý Tin Mừng.  Trong ta có một vị tử đạo muốn hy sinh vì người khác, một vị thánh muốn phục vụ người nghèo, một “nghệ sĩ luân lý” muốn sống nội tâm sâu sắc.

Nhưng đồng thời, trong ta cũng có một phần muốn tận hưởng cuộc sống và mọi khoái lạc của nó.  Trong ta có một kẻ hưởng thụ, một người chạy theo cảm giác, một kẻ buông thả, một người duy vật, một kẻ hoài nghi, và một cái tôi ích kỷ.

Chưa hết, trong mỗi chúng ta còn có một đứa trẻ – vô tư, mơ mộng, nằm nhìn mây trên một sườn đồi nào đó – không hẳn nghiêng về phía “thánh” hay “tội nhân”.

Vậy con người thật là ai?  Tất cả đều là ta.  Ta vừa là thánh vừa là kẻ tìm khoái lạc, vừa vị tha vừa ích kỷ, vừa tử đạo vừa hưởng thụ, vừa có đức tin vừa hoài nghi, vừa nghệ sĩ luân lý vừa buông thả, vừa trẻ thơ vừa chai sạn.  Và nhiệm vụ của đời sống không phải là tiêu diệt phần này để giữ phần kia, mà là giúp tất cả những phần đó hòa giải với nhau.

Và bình an – ta biết – không chỉ đơn giản là không có xung đột.  Nó là một phẩm chất tích cực.  Điều gì tạo nên bình an?  Hai điều: hòa hợp và trọn vẹn.

Hòa hợp: Một giai điệu trở nên êm đẹp khi các nốt nhạc khác nhau được kết nối thành hòa âm.  Có bình an là không còn chói tai, không còn lệch tông.

Trọn vẹn: Muốn chơi một bản nhạc phức tạp, bạn cần một bàn phím đầy đủ.  Bình an đòi hỏi bạn có đủ “phím” để chơi tất cả những nốt mà cuộc đời yêu cầu.

Điều này cũng đúng với bản tính con người.  Sự phức tạp của ta không phải là kẻ thù mà là người bạn.  Tất cả những đối nghịch trong ta đòi hỏi một “bàn phím đầy đủ.”  Vì ta vừa là tội nhân vừa là thánh, vừa hưởng thụ vừa hy sinh, vừa người lớn vừa trẻ thơ – ta cần đầy đủ các “phím” để chơi những bản nhạc mà cuộc đời trao cho.

Bí quyết là đạt tới sự hòa hợp – nơi các phần khác nhau trong đời ta tạo thành một giai điệu.  Nói cách khác, ta phải vượt qua kiểu “gõ loạn” trên bàn phím tạo ra âm thanh hỗn độn.  Đồng thời, ta cũng phải sử dụng trọn vẹn bàn phím để chơi được tất cả những nốt mà cuộc sống đòi hỏi.

Kinh nghiệm sống đủ lâu sẽ dạy ta điều này:

Bình an đến khi ta biết sắp xếp tất cả những mảnh phức tạp trong mình thành một bản nhạc đẹp.

Và dĩ nhiên, càng nhiều nốt, bản nhạc càng phong phú – và giai điệu cuối cùng càng sâu sắc.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

NÀO AI CHỨA NỔI

“Cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra!”

“Hãy coi Kinh Thánh như một tấm bản đồ.  Nó chỉ đường cho bạn, nhưng bản đồ không phải là hành trình.  Muốn thật sự biết một vùng đất, bạn phải lên đường, ở lại và khát khao nó!” – Charles Swindoll.

Kính thưa Anh Chị em,

“Bản đồ không phải là hành trình!”  Gioan kết thúc Tin Mừng của mình bằng một hình ảnh gần như “quá đáng:” nếu viết hết mọi điều về Chúa Giêsu, cả thế giới cũng không chứa nổi sách.  Nói cách khác, ngôn ngữ nhân loại chỉ là một chiếc áo quá chật cho mầu nhiệm Đức Kitô – Đấng ‘nào ai chứa nổi.’

Điều Gioan muốn nói không phải là các Tin Mừng thiếu sót, nhưng là mầu nhiệm Đức Kitô luôn vượt quá khả năng chứa đựng của ngôn ngữ.  Các nhà chú giải gọi đây là một “hyperbole Gioan” – một kiểu cường điệu thần học Gioan – nhằm mở ra cảm thức kinh ngạc trước sự vô tận của Đức Kitô.  Vì thế, Tin Mừng không phải là một “hồ sơ đầy đủ” về Ngài, nhưng là cánh cửa dẫn con người bước vào tương quan sống động với Thiên Chúa.  Đó là lý do càng gần Đức Kitô, con người càng thấy mình chưa biết Ngài.  Kẻ tưởng mình đã hiểu thấu Thiên Chúa thật ra chỉ đang thờ lạy một ảo ảnh do chính mình vẽ ra.  “Nếu bạn hiểu được Ngài, thì đó không còn là Thiên Chúa!” – Augustinô.

Nhưng Gioan không muốn người đọc chỉ đứng nhìn “tấm bản đồ” – thứ có thể chính xác tuyệt đối nhưng không bao giờ thay thế được hành trình.  Người ta có thể biết rất nhiều về Chúa Giêsu qua Kinh Thánh, thần học hay sách vở mà vẫn chưa thật sự gặp Ngài.  Vì thế, Tin Mừng không nhằm nhốt Đức Kitô trong chữ nghĩa, nhưng dẫn con người đến một cơn khát gặp Ngài qua cầu nguyện, Thánh Thể, đau khổ, tha nhân và đời sống thường ngày.

Chính cơn “khát” ấy đã đẩy Phaolô đi đến tận cùng hành trình của mình.  Bị giam lỏng tại Rôma, ông vẫn tiếp đón mọi người và không ngừng rao giảng – bài đọc một.  Phaolô hiểu rằng, Đức Kitô không phải một ý tưởng để hiểu một lần cho xong, nhưng là một Đấng để sống, để tìm kiếm, thuộc về và loan báo.  Nhờ đó, muôn dân “được chiêm ngưỡng thánh nhan” – Thánh Vịnh đáp ca.  Và càng chiêm ngưỡng Ngài, con người càng khao khát Ngài hơn.  “Chiêm ngắm đích thực Đấng ta tìm kiếm hệ tại ở chỗ không bao giờ ngừng khao khát Ngài!” – Grêgôriô Nyssa.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là dung mạo hữu hình của một Chúa Cha, Đấng cửu trùng không chứa nổi.  Ngài đến giữa thế gian không để khép Thiên Chúa vào những trang sách hay khái niệm, nhưng để mở con người ra trước một mầu nhiệm vô tận.  Vì thế, theo Đức Kitô không phải là nghĩ mình đã hiểu hết Thiên Chúa, nhưng là mỗi ngày bước sâu hơn vào tương quan với Ngài.  Có những người biết rất nhiều về Chúa mà lòng vẫn khô cạn; nhưng cũng có những tâm hồn âm thầm cầu nguyện, yêu thương và đau khổ với Chúa mà lại chạm rất gần trái tim Thiên Chúa.  Bản đồ có thể vẽ đúng con đường, nhưng chỉ bàn chân rớm máu mới chạm tới đích đến.  Có lẽ, chỉ những ai thật sự khao khát mới bắt đầu bước vào Đấng ‘nào ai chứa nổi.’

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giữ lòng con đói khát Chúa; cho con biết kinh ngạc khi nhận ra rằng, Chúa còn khao khát con hơn cả con khao khát Ngài!” Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

CHÚA THÁNH THẦN HIỆN DIỆN

Trước khi về trời, nhiều lần Chúa Giêsu đã nói và đã hứa với các môn đệ: Ngài sẽ ban Chúa Thánh Thần xuống.  Lời hứa đó đã được hoàn tất trong ngày lễ Ngũ Tuần, tức là lễ ngày thứ 50 tính từ lễ Vượt Qua của người Do Thái, và từ khi Chúa Thánh Thần hiện xuống, lễ này được gọi là lễ Hiện Xuống.  Chúa Thánh Thần đã hiện xuống trên các tông đồ dưới hình lưỡi lửa và biến đổi các ông thành những con người mới.  Như vậy, Chúa Giêsu chịu treo trên thập giá là điều kiện để ban Chúa Thánh Thần cho Giáo Hội.  Và khi được vinh quang bên hữu Chúa Cha, Chúa Giêsu đã sai Chúa Thánh Thần xuống và ban Chúa Thánh Thần cho Giáo Hội như linh hồn của Giáo Hội.

Đối với Giáo Hội nói riêng và đối với toàn thể nhân loại nói chung, ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống thật là quan trọng, vì đánh dấu một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên của Chúa Thánh Thần, kỷ nguyên áp dụng ơn cứu độ, thời kỳ cuối cùng, thời kỳ cánh chung, trước khi Chúa Kitô trở lại để xét xử kẻ sống và kẻ chết.  Nhưng tại sao chúng ta có thể nói hay dám nói Chúa Thánh Thần được ví như linh hồn của Giáo Hội?  Bởi vì những lý do sau đây:

Thứ nhất, cũng như linh hồn quan trọng đối với thân xác thế nào thì Chúa Thánh Thần cũng quan trọng đối với Giáo Hội như vậy.  Bởi vì Giáo Hội được ví như một thân thể nhiệm mầu, mà Chúa Kitô là đầu và tất cả chúng ta là thân mình.  Vậy nếu đã là một nhiệm thể thì cần phải có một linh hồn, linh hồn của Giáo Hội là Chúa Thánh Thần.

Thứ hai, cũng như linh hồn ở khắp thân thể và ở trong từng phần thân thể, thì Chúa Thánh Thần cũng ở trong toàn thể Giáo Hội và trong từng người.  Linh hồn là nguyên lý, là căn bản của sự sống tự nhiên của thân thể, không có linh hồn thì chúng ta không sống được, không có linh hồn thì thân thể chúng ta là cái xác chết.  Chúa Thánh Thần cũng là nguyên lý căn bản siêu nhiên nơi đầu là Chúa Kitô và nơi các chi thể là chúng ta, Ngài trực tiếp ban ơn cho từng thành phần để sinh hoa quả là những việc lành.

Thứ ba, cũng như nơi con người, linh hồn hoạt động qua trí khôn, ý chí, tình cảm.  Cũng vậy, Chúa Thánh Thần hoạt động qua những khả năng siêu nhiên là bảy ơn Chúa Thánh thần, qua ba nhân đức đối thần là tin, cậy, mến.  Chúa Thánh Thần gìn giữ, thánh hóa, biến đổi từng tâm hồn.  Chẳng hạn: 12 tông đồ trước kia nhút nhát, sợ hãi, Chúa Thánh thần đã làm cho họ mạnh bạo can đảm.  Rồi suốt hai mươi thế kỷ qua, biết bao gương anh dũng của các thánh đồng trinh, hiển tu, tử đạo… và hôm nay cả tỉ con cái Chúa đang được Chúa Thánh Thần thôi thúc bước mau về trời, Ngài hướng dẫn, trợ giúp chúng ta trên đường về trời.

Thứ tư, cũng như một linh hồn hiện diện nơi mỗi người làm cho người đó thành một người riêng biệt, khác với những người khác, thì Chúa Thánh Thần cũng hiện diện nơi mỗi tín hữu, để làm thành những tín hữu khác nhau: Chúa Giêsu, Đức Maria, các thánh, kẻ lành… và ơn Chúa Thánh Thần khác nhau, nên có những loại thánh khác nhau, rồi lại có những ơn sủng khác nhau, tùy theo chức bậc: người truyền giáo, người làm cha mẹ, người đi tu, v.v…

Ngoài ra, ngày lễ Hiện Xuống, Chúa Thánh Thần đã hiện xuống dưới hình lưỡi lửa.  Hình ảnh này thật đầy ý nghĩa: Giáo Hội của Chúa được ví như một đống củi, được lửa của Chúa Thánh thần đốt cháy lên và sưởi ấm trần gian lạnh lẽo.  Không có Chúa Thánh Thần, Giáo Hội chỉ là một tổ chức trần gian như bao hội khác trên đời này, nhưng suốt hai mươi thế kỷ qua, Chúa Thánh Thần luôn ở giữa Giáo Hội, hướng dẫn mọi hoạt động của Giáo Hội và Ngài vẫn tiếp tục hoạt động mãi cho đến tận thế.

Mỗi người chúng ta đều đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần ngày chúng ta chịu phép Rửa tội, và nhất là khi lãnh nhận phép Thêm sức, Ngài luôn ở cùng chúng ta, hướng dẫn và trợ giúp chúng ta.  Vậy chúng ta chớ dập tắt Chúa Thánh Thần.  Nếu dập tắt Chúa Thánh Thần thì chẳng khác gì chiếc tàu bỏ bánh lái, đoàn xe lửa bỏ đầu tàu, con người bỏ trái tim.  Chúng ta có thể dập tắt Chúa Thánh Thần thế nào?

Nhiều cách lắm, chẳng hạn: chúng ta không sử dụng tối đa những ân huệ Ngài ban, những khả năng, những tiền bạc Chúa ban để chúng ta làm lợi cho linh hồn, cho gia đình, chúng ta sử dụng vào những việc có hại cho mình và người khác.  Chẳng hạn: Chúa cho chúng ta cơ hội để phục vụ Chúa và Giáo Hội, nhưng chúng ta không lợi dụng những cơ hội đó, bỏ dịp tốt qua đi đó là dập tắt Chúa Thánh Thần.

Đàng khác, Chúa Thánh Thần là Đấng Phù Trợ.  Phù trợ chứ không phải là làm thay chúng ta.  Chúng ta phải làm hết sức mình, hết khả năng mình, phải học hỏi, phải nghiên cứu, phải thực hiện hết sức của mình, Chúa Thánh Thần sẽ phù trợ thiện chí của chúng ta.  Ngài không bao cấp làm thay chúng ta.  Nếu chúng ta không cố gắng đổi mới chính mình, đổi mới môi trường của mình, nếu chỉ cậy trông suông, khoán trắng cho Chúa Thánh Thần, thì Chúa Thánh Thần sẽ không làm thay.  Bởi vì trách nhiệm ấy thuộc về chúng ta, những người Chúa đã trao cho những khả năng để có thể làm được, không nhiều thì ít, không việc lớn thì việc nhỏ, ai cũng có khả năng làm việc tốt.

Xin Chúa Thánh Thần khơi dậy trong chúng ta những nguồn sinh lực mới, để chúng ta biết quyết tâm đổi mới chính mình, biết quyết tâm góp phần xây dựng thời đại chúng ta.  Sự quyết tâm này chúng ta sẽ gửi gấm nơi Chúa Thánh Thần.  Ngài sẽ ban phép lành cho chúng ta, Ngài sẽ phù trợ cho chúng ta thực hiện.  Mặc dầu hôm nay chúng ta không thấy kết quả nhưng hãy kiên trì nhẫn nại như những người gieo giống, mùa màng không thấy ngay, nhưng mùa màng nếu làm đúng, làm với cố gắng, với ơn phù trợ của Chúa Thánh Thần, chắc chắc sẽ thành công và hiệu quả sẽ phong phú.

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP.

KHIÊM NHƯỜNG – NỀN TẢNG CỦA THÁNH THIỆN

Để chúng ta thực sự lớn lên trong sự thánh thiện, nhân đức quan trọng nhất chúng ta cần phải có là đức ái – tình yêu đích thực với Thiên Chúa và với người lân cận.  Nhưng bên cạnh đức ái – nhân đức đối thần – chúng ta còn phải có nhân đức khiêm nhường.  Theo một nghĩa nào đó, đức ái và khiêm nhường là hai trụ cột hay đá tảng cho người thực sự muốn theo đuổi một cuộc sống thánh thiện đích thực.

Đối với thánh nữ tiến sĩ vĩ đại của Giáo hội, tiến sĩ cầu nguyện, thánh Teresa Avila, khiêm nhường đơn giản là SỰ THẬT.  Đó là chúng ta nhận thức được chúng ta thực sự là ai theo chiều kích thiêng liêng, trong cái nhìn của Chúa, chủ thể của tất cả sự thật trên trần gian này.  Thật sự, chúng ta có một phẩm giá rất cao cả, đó là chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, và qua Bí tích Rửa tội, chúng ta được biến đổi thành biểu tượng của Thiên Chúa Ba Ngôi.  Định mệnh cuộc đời chúng ta không thể diễn tả bằng lời, đó là chúng ta được hiệp nhất với các thiên thần và các thánh trên trời để ca ngợi Thiên Chúa Ba Ngôi đến muôn đời.  Tuy nhiên, việc mang tội tổ tông, có những ham muốn thú vui trần tục, và là những tội nhân cho thấy bản chất dễ sa ngã của con người.

Thật vậy, người khiêm tốn đích thực sẽ nhận ra một cách hết sức rõ ràng rằng tất cả những điều tốt lành họ đã làm và có khả năng để làm đều là do bởi quyền năng, ân sủng và sự tốt lành của Thiên Chúa trong cuộc đời họ.  Mặt khác, người khiêm nhường thừa nhận rằng, tất cả những thất bại của họ, đặc biệt là các tội lỗi luân lý, đều là bởi họ lạm dụng các khả năng Chúa đã ban cho họ.

Quả thực khiêm nhường là nhân đức hết sức quan trọng, nên chúng ta cần gắng luyện tập nhân đức này trong đời sống của mình; chúng ta hãy cố gắng đạt được nó và để nó đâm rễ sâu tận tâm hồn chúng ta.  Cầu mong cho lời nói, hành động, việc làm và ý hướng của chúng ta luôn thấm nhuần và thẩm thấu tinh thần khiêm nhường đích thực.

Mẹ Maria và Chúa Giêsu là mẫu gương cho chúng ta.  Quả thực, cả Mẹ Maria và Đức Giêsu là Đấng thánh thiện nhất, người đã từng sống trên hành tinh này, nhưng cũng là người khiêm nhường nhất.  Chỉ một lần duy nhất Chúa Giêsu mô tả những đặc tính của Trái tim Cực Thánh của Người, một trái tim hiền lành và khiêm nhường.  Ước chi, lời cầu nguyện vang vọng sâu thẳm trong tâm hồn chúng ta là lời cầu nguyện của sự khiêm nhường cao cả của Trái Tim Chúa Giêsu: Lạy Chúa Giêsu, Trái tim hiền lành và khiêm nhường, xin làm cho trái tim của con trở nên giống trái tim của Chúa.

CÁC BƯỚC CHIẾN LƯỢC ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC NHÂN ĐỨC KHIÊM NHƯỜNG TUYỆT VỜI

1. Trân trọng giá trị của khiêm nhường. Chúng ta không có thể đạt được bất cứ điều gì tốt đẹp trong cuộc sống nếu chúng ta không coi trọng những giá trị của nó. Những kẻ keo kiệt thì tìm kiếm vàng; con tim rỗng tuếch thì thích được vinh danh; những kẻ theo chủ nghĩa khoái lạc thì đam mê nhục dục.  Tại sao?  Vì họ coi những điều tốt đẹp này là có giá trị, cho dẫu chúng là ngẫu tượng và mang giá trị sai lầm.  Chúng ta phải nhìn nhận và đánh giá sự khiêm nhường là sự quan trọng nhất trong lâu đài của sự thánh thiện và là nền tảng cho sự thánh thiện.  Nếu không thì cuộc sống theo đuổi sự thánh thiện của chúng ta sẽ bị xây trên cát và sụp đổ nhanh chóng.

2. Hành khất trước Thiên Chúa. Trong sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, thánh Augustine đã khẳng định rằng tất cả chúng ta đều là những kẻ hành khất trước mặt Chúa. Chúng ta rất cần Chúa trong tất cả mọi sự; chúng ta lệ thuộc vào Ngài trong mọi việc.  Nhất là chúng ta cần Thiên Chúa để sống một đời sống nhân đức và từ bỏ tính kiêu ngạo – đối cực của sự khiêm nhường – dưới mọi dạng thức và mức độ.  Chúa Giêsu đã truyền cho chúng ta: “Hãy xin thì sẽ được; hãy tìm thì sẽ gặp; hãy gõ cửa thì sẽ mở cho” (Mt 7,7).  Lời cầu nguyện của chúng ta như thế nào?  Lạy Chúa, xin ban cho con biết hiền lành và khiêm nhường trong lòng.

3. Dễ dàng trong việc linh hướng. Tất cả chúng ta đều có những góc khuất trong cuộc sống và đặc biệt là trong đời sống tâm linh. Một vị linh hướng được đào tạo chuyên nghiệp sẽ giúp chúng ta rất nhiều trên hành trình tiến về thiên đàng.

4. Vâng phục trong việc linh hướng. Trong việc linh hướng, chúng ta phải khiêm nhường đủ để vâng phục vị Linh hướng, người thông ban ân sủng và chân lý của Thiên Chúa. Không còn nghi ngờ gì nữa, một trong những dấu hiệu nổi bật về sự thánh thiện đích thực của thánh Faustina Kowalska là sự ngoan ngoãn và vâng phục của ngài trong việc linh hướng.  Nếu không có sự vâng phục thì thực sự không có sự tăng trưởng về đức khiêm nhường và sự thánh thiện cũng sẽ bị cản trở và bóp nghẹt.

5. Chấp nhận sự sửa lỗi huynh đệ. Điều này thực sự nhức nhối, nhưng cần thiết cho sự trưởng thành thiêng liêng và sự trưởng thành trong sự khiêm nhường của chúng ta: chấp nhận sự sửa lỗi của huynh đệ. Thông thường, do lòng kiêu hãnh bẩm sinh, khi ai đó chỉ ra điều chúng ta cần phải sửa chữa, chúng ta nổi giận, khước từ sự sửa chữa và đôi khi chúng ta phản ứng lại bằng sự tấn công trực diện để phòng thủ.  Một cách đơn giản chúng ta chống lại việc bị chỉ ra những thiếu sót của mình bởi vì lòng kiêu hãnh của chúng ta quá lớn.  Thánh Đa Minh Saviô đã kết bạn với một cậu bé khác trong Nhà nguyện của thánh Gioan Bosco.  Savio nài xin bạn của mình phải thẳng thắn và chỉ ra cho anh những lỗi của anh để anh có thể thăng tiến trong sự thánh thiện.  Trước khi lên 15 tuổi, Savio đã đạt được điều này và đã được phong thánh.

6. Chấp nhận sự sỉ nhục. Có lẽ việc sẵn sàng chấp nhận những sỉ nhục giáng xuống chúng ta khó hơn việc chấp nhận việc sửa lỗi huynh đệ. Dù muốn hay không, chúng ta cũng sẽ phải đón lấy sự sỉ nhục.  Cơ hội ngàn vàng của chúng ta chính là lúc Thiên Chúa cho phép chúng ta bị hạ nhục.  Xu hướng tự nhiên của chúng ta là trả đũa.  Trong khi đó, phản ứng của các thánh khi bị sỉ nhục là im lặng, cầu nguyện cho người chống đối, và kết hợp với sự sỉ nhục của Chúa Giêsu mà Ngài đã trải qua trong cuộc khổ nạn cay đắng, tàn nhẫn và nhục nhã của Ngài.  Không có ân sủng của Thiên Chúa thì điều này là không thể, nhưng với Thiên Chúa thì tất cả đều có thể!

7. Bác ái và phục vụ. Đây là một bước xoay thú vị: lòng bác ái và sự phục vụ là đường dẫn đến sự khiêm nhường. Thực ra, mỗi khi chúng ta tự hạ mình phục vụ người khác, thực hành bác ái và yêu thương người khác, chúng ta đồng thời sẽ lớn lên trong sự khiêm nhường.  Thật ra, khi chúng ta thực thi lòng bác ái – nghĩa là thực thi tình yêu siêu nhiên đối với Thiên Chúa và người thân cận – chúng ta sẽ lớn lên về tất cả các nhân đức khác, trong đó có đức khiêm nhường.

8. Chiêm ngắm ba chiều kích của cuộc đời Chúa Giêsu biểu lộ lòng khiêm nhường tuyệt đối của ngài

Mầu Nhiệm Nhập Thể:  Việc Chúa Giêsu, Ngôi Hai trong Thiên Chúa Ba Ngôi, thực sự đã mặc lấy xác phàm và trở thành con người, là một bước nhảy vọt lớn lao của sự hèn hạ và khiêm nhường.  Thiên Chúa làm người để chúng ta có thể trở thành con cái Thiên Chúa.

Cuộc Khổ Nạn:  Tất cả các yếu tố và chi tiết về Cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu Kitô, là Chúa và Đấng Cứu Độ chúng ta, đều biểu lộ một sự khiêm nhường lạ lùng và đặc biệt.  Tuy nhiên, một cách đơn giản bạn có thể chiêm ngắm mầu nhiệm thứ ba mùa thương “Chúa Giêsu đội mão gai” của Kinh Mân Côi.  Những lời nhạo báng, mỉa mai và lăng mạ, bị bịt mắt, đánh đập, giật râu, bị khạc nhổ vào mặt, và quan trọng nhất là Ngài phải đội vòng gai nhọn sắc.  Đón nhật tất cả những điều này, tiên tri Isaia đã nói, Đức Giêsu như con chiên hiền lành, im lặng bị dẫn đến lò sát sinh.  Bằng việc suy niệm về Cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu Kitô, sự kiêu ngạo của chúng ta sẽ rơi xuống vực sâu.

Chúa Giêsu trong Thánh lễ và hiện diện trong Bí tích Thánh Thể.  Rất nhiều người Công giáo thậm chí thờ ơ đối với việc tham dự Thánh lễ Chúa Nhật.  Nhiều người không biết quý trọng Thánh lễ.  Vẫn có những người tiếp nhận Chúa Giêsu trong tình trạng tội trọng và vì thế họ đóng đinh Chúa một lần nữa.  Nói chung, Chúa Giêsu hiện diện trong Nhà Tạm đã bị lãng quên, bị bỏ rơi, cô độc trên khắp thế giới.  Tất cả những điều trên là nguồn gốc những sỉ nhục nhức nhối và đau đớn của Chúa Giêsu, Chúa các Chúa, Vua các Vua, người yêu vĩ đại nhất của những người yêu.

9. Nhận thức về tội lỗi quá khứ và lòng thương xót của Chúa. Khi chúng ta bị cám dỗ được nâng cao trong sự kiêu ngạo của mình, việc nhớ lại nhiều lần chúng ta đã phạm tội xúc phạm đến Chúa Giêsu và sự xấu hổ đằng sau những hành động này. Thật vậy, việc này có thể giúp chúng ta khiêm tốn nếu không muốn nói là rất khiêm tốn.

10. Mẹ Maria, mẫu gương thánh thiện và khiêm nhường.  Từ trước đến nay, trong số tất cả các tạo vật của Thiên Chúa, Mẹ Maria là người vĩ đại nhất. Nhưng Mẹ cũng là người khiêm tốn nhất trong số những người phụ nữ. Những lời thân thưa của Mẹ thể hiện sự khiêm nhường tuyệt vời nơi Mẹ: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa…  Linh hồn tôi vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi vì Ngài đã nhìn đến phận hèn của tôi tớ Ngài… Người bảo gì hãy làm theo….”  Những câu nói này của Mẹ Maria được ghi lại trong Kinh Thánh làm nổi bật sự thánh thiện của Đức Maria, đặc biệt là sự khiêm nhường của Mẹ.

Cuối cùng, một trong những cách hữu hiệu nhất giúp chúng ta có thể lớn lên trong sự khiêm nhường đó là rước Chúa Giêsu Thánh Thể với sự chuẩn bị tốt nhất.  Khi đón nhận Chúa Thánh Thể, với lòng nhiệt tình và đức tin mạnh mẽ, chúng ta hãy cầu xin Ngài ban cho chúng ta trái tim của Ngài: “Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin hãy làm cho trái tim con giống trái tim Chúa.”  Đây thực sự là lối tắt dẫn đến sự thánh thiện và lòng khiêm nhường sâu sắc của tâm hồn.

Ed Broom, OMV – Sr. Têraêsa Mai Thị Thu Hường, OP chuyển ngữ
Nguồn: catholicexchange 

HƯỚNG VỀ TRỜI

Từ nhiều năm trở lại đây, để thuận lợi cho giáo dân tham dự lễ trọng, đa số các Giáo phận chuyển dịch ngày lễ Thăng Thiên vào Chúa nhật thứ VII Phục Sinh.  Tổng Giáo phận Hà Nội vẫn cử hành long trọng lễ Thăng Thiên vào thứ Năm sau Chúa nhật VI Phục sinh, vì theo truyền thống của Giáo Tỉnh miền Bắc, lễ này thuộc “Tứ Quý”: lễ Giáng Sinh, lễ Chúa Thăng Thiên, lễ Đức Mẹ Lên Trời và lễ các Thánh Nam Nữ.  Trong bốn ngày lễ này, người tín hữu phải kiêng việc xác và tham dự thánh lễ.

Dù mừng lễ Thăng Thiên vào ngày nào, thì Phụng vụ vẫn nhắc người tín hữu hướng về Quê Trời, đồng thời cố gắng chu toàn bổn phận dưới đất.  Đức Giêsu là Con Thiên Chúa nhập thể.  Người về trời sau khi đã hoàn tất chương trình cứu độ.  Người về với Chúa Cha, vì Người đã từ Chúa Cha mà đến.  Dưới ánh sáng phục sinh, một nhãn quan mới về nhân sinh Kitô giáo đã mở ra: con người không đơn giản chỉ là “đầu đội trời, chân đạp đất,” mà họ đã thuộc về trời ngay khi họ đang sống nơi trần gian.  Nói cách khác, Kitô hữu luôn hướng về trời, và đối với những người đạo đức thánh thiện, họ được nếm trước vinh quang Nước Trời ngay ở đời này.  Khi suy niệm Kinh Mân côi, ở mầu nhiệm thứ hai Mùa Mừng, chúng ta xin cho được yêu mến (ái mộ) những sự trên trời, để dầu còn sống trên trần gian, một cách nào đó, chúng ta đã hưởng hạnh phúc như các thánh trên trời.

Hướng về trời không phải là một ảo tưởng hão huyền hay là một thứ “thuốc phiện mê dân”, nhưng là niềm hy vọng và niềm xác tín của Kitô hữu.  Chúng ta dựa vào lời cầu nguyện của Chúa Giêsu với Chúa Cha trong Tin Mừng Thánh Gioan chương 17.  Qua lời cầu nguyện này, Chúa Giêsu vừa thân thưa với Chúa Cha, vừa thể hiện tâm tình thương mến đặc biệt đối với các môn đệ.  Người xin Chúa Cha cho các môn đệ được ở với Người, vì các môn đệ – và những người kế tiếp các ngài là chính chúng ta hôm nay – là những quà tặng mà Chúa Cha ban cho Chúa Giêsu.  Như thế, những ai tin vào Chúa Giêsu, sẽ được ở với Người và cùng Người chiêm ngưỡng vinh quang vĩnh cửu.  Vinh quang này đến từ nơi Chúa Cha.  Chính Chúa Giêsu cũng được đón nhận vinh quang ấy, rồi Người lại chia sẻ cho chúng ta.

Hướng về trời mở ra cho người tín hữu một chân trời hy vọng.  Hy vọng là chờ đợi những điều tốt đẹp ở phía trước.  Người tin Chúa biết rõ tương lai hậu vận đời mình, đó là được sống với Chúa, được chia sẻ vinh quang hạnh phúc với Ngài.  Nhờ có niềm hy vọng, chúng ta vững tin ngay cả khi gặp những gian nan thử thách, với xác tín rằng, người yêu mến Chúa sẽ vượt thắng tất cả.  Trong lời cầu nguyện vừa nêu ở trên, Chúa Giêsu khẳng định những ai tin vào Người sẽ được Chúa Cha yêu thương.  Ở một nơi khác trong Tin Mừng Thánh Gioan, Chúa Giêsu nói đến sự hiện diện của Chúa Cha và Chúa Con trong tâm hồn những ai yêu mến và thực thi giáo huấn của Chúa Con “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy.  Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy.  Cha và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23).  Đây là hạnh phúc kỳ diệu.  Chúa Ba Ngôi sẽ ở trong tâm hồn người công chính.

Hướng về trời cũng giúp cho người tín hữu có được những nghị lực siêu nhiên.  Thế gian là bãi chiến trường, là thung lũng nước mắt, là bể khổ.  Đức tin khẳng định với chúng ta: Thiên Chúa hiện diện giữa bãi chiến trường ấy, vì Ngài là Cha giàu lòng thương xót.  Ngài luôn nâng đỡ trợ lực chúng ta trên mọi nẻo đường đời.  Tác giả sách Công vụ Tông đồ đã kể lại chứng từ của thánh Stêphanô, vị tử đạo đầu tiên của Kitô giáo: trong lúc sắp tắt thở vì bị ném đá, ông đã nói: “Kìa, tôi thấy trời mở ra, và Con Người ngự bên hữu Thiên Chúa.”  Đức tin vào đời sống vĩnh cửu đã ban cho vị tử đạo của chúng ta sức mạnh và niềm xác tín phi thường, với niềm xác tín: chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.

Hỡi những người Galilêa, sao còn đứng nhìn trời?  Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv 1,11).  Lời của hai sứ thần mặc áo trắng nói với các môn đệ năm xưa lúc thày trò chia tay, cũng là lời ngỏ với chúng ta hôm nay.  Mừng Chúa lên trời hướng chúng ta về quê hương vĩnh cửu, đồng thời nhắc chúng ta về bổn phận đối với quê hương trần thế.  Kitô hữu không phải là người bị “bứng” khỏi cuộc sống đời này, nhưng là những người dấn thân trong mọi môi trường cuộc sống, để làm chứng cho niềm vui của Đức tin, nhất là làm chứng cho Chúa Giêsu trong khi mong đợi Người lại đến.

“Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!  Đời sống Kitô hữu là sự chờ đợi liên lỉ, với tâm tình cầu nguyện và phó thác cậy trông.  Đấng Phục sinh đang hiện diện giữa chúng ta.  Người sẽ đến trong vinh quang vào ngày tận thế.  Chúa đã hứa với chúng ta như vậy.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

SỰ UỶ THÁC CỦA CHÚA GIÊSU

Một buổi sáng kia, bé Jenny bẩy tuổi ngồi ăn điểm tâm trên chiếc bàn nhỏ trong bếp.  Ngay lúc đó, cha em bước vào.  Ông vội vã đến cạnh bé để lấy món đồ gì đó.

Bé Jenny đứng dậy, đi theo ông, nắm lấy cánh tay ông, và nói, “Bố ơi, bố có quên một điều.  Bố quên nói ‘good morning’ với con.”

Ông ôm lấy bé, và nói, “Xin lỗi con.  Bố đang nghĩ đến những khó khăn ở sở làm.”

Sau đó, tay vẫn ôm lấy cánh tay của bố, bé Jenny nói, “Bố ơi, sáng nay bố có cầu nguyện không?” “Không,” ông bố thú nhận một cách ngượng ngùng.

Bé Jenny nói, “Đến đây với con.  Chỉ mất có vài phút thôi.”  Bé kéo ông ra khỏi phòng ăn và đi vào phòng của nó.  Dẫn bố đến góc phòng mà bé thường cầu nguyện, Jenny nói, “Bố ơi, nhắm mắt lại.”  Ông vâng theo.

Sau đó, bé Jenny cũng nhắm mắt và nói nhỏ, “Chúa Giêsu nói, ‘Đừng sợ. Ta luôn ở với con.’”  Sau khi im lặng đôi chút, bé mở mắt ra và nói, “Bố hãy suy nghĩ về điều đó, và bố sẽ thấy an tâm.”

Tôi thích câu chuyện này vì hai lý do.  Thứ nhất, chính là điều mà em gái này thi hành.  Thứ hai, chính là điều mà ông bố của em Jenny cần đến vào lúc đó.

Ông cần nhớ đến lời Chúa Giêsu đã hứa với các môn đệ trong những lời sau cùng, như được chép trong Phúc Âm Mátthêu.  Chúa Giêsu nói: “Thầy sẽ luôn ở với anh em cho đến tận thế.”

Điều đúng với ông bố của bé Jenny thì cũng đúng với tất cả chúng ta.

Chúng ta có khuynh hướng quá bận rộn với những khó khăn ngày này sang ngày khác trong cuộc sống, chúng ta cần tạm ngưng hàng ngày, và nhớ lại điều mà bé Jenny đã nắm vững và diễn tả thật hay.

Chúng ta cần nhớ rằng Chúa Giêsu luôn hiện diện với chúng ta ngay bây giờ, như khi Người hiện diện với các môn đệ khi còn sống ở thế gian.

Chúng ta hãy nhìn kỹ hơn vào ngày lễ Thăng Thiên hôm nay khi Chúa Giêsu lên trời.  Đó là một ngày lễ quan trọng nhất của năm phụng vụ và bao gồm hai sự cử hành.

Thứ nhất, lễ này mừng sự chiến thắng của Chúa Giêsu trên tội lỗi và sự chết và sự trở về vinh hiển với Chúa Cha trên thiên đường.  Ở đó Người ngự ở bên hữu Chúa Cha, với tư cách là đầu của Thân Thể, là Hội Thánh, và là vua của mọi tạo vật.

Điều này đưa chúng ta trở về với câu chuyện của bé Jenny.  Lễ Thăng Thiên không mừng sự vinh hiển tột cùng của sự hiện diện bằng thân xác của Đức Giêsu trong thế gian.  Đúng hơn, lễ này mừng sự tiếp tục hiện diện của Chúa Giêsu giữa chúng ta trong sự vinh hiển mầu nhiệm qua một phương cách hoàn toàn mới và mạnh mẽ hơn.

Lễ này vui mừng với sự kiện rằng Chúa Giêsu không còn hiện diện với chúng ta qua thân xác con người trong một phương cách vật chất.  Đúng hơn, Người hiện diện với chúng ta qua thân thể mầu nhiệm của Người trong một phương cách thiêng liêng.  Và vì thế điều đầu tiên chúng ta cử hành trong ngày lễ trọng đại này là sự lên trời vinh hiển của Chúa Giêsu; và Người tiếp tục hiện diện với chúng ta như đầu của thân thể Người, là Hội Thánh.

Điều này đưa chúng ta đến chiều kích thứ hai của việc mừng lễ Thăng Thiên.

Chúng ta vui mừng với sự uỷ thác mà Chúa Giêsu trao cho chúng ta, các môn đệ của Người.  Điều đó được nói rõ trong bài đọc một và bài phúc âm hôm nay.

Trong bài đọc một, Đức Giêsu nói với các môn đệ:
Khi Thánh Thần ngự trên anh em, anh em sẽ được đổ đầy sức mạnh, và sẽ trở nên nhân chứng cho Thầy… cho đến tận cùng trái đất. CVTĐ 1:8

Trong Phúc Âm, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng sau khi Người lên trời, họ phải trở về Giêrusalem để cầu nguyện và chuẩn bị đón Chúa Thánh Thần đến.  Khi Chúa Thánh Thần đến, họ sẽ được đổ đầy sức mạnh để ra đi và trở nên nhân chứng cho đến tận cùng trái đất.

Chúng ta có thể so sánh lễ Thăng Thiên như người chạy đua tiếp sức chuyền lại cây gậy nhỏ cho người khác.

Nói về thực tế, điều này có nghĩa gì cho chúng ta đang quy tụ ở đây?

Nó có nghĩa chúng ta được mời gọi để tiếp tục công việc mà Đức Giêsu đã khởi sự ở trần gian, khi Người hiện diện trong thân xác.

Có phải điều này có nghĩa rằng chúng ta phải ra đi và thực sự rao giảng về Chúa Giêsu như Thánh Phêrô và các môn đệ khác đã thi hành hay không?

Thí dụ, có phải điều này có nghĩa là dựng lên một trạm thông tin trong trung tâm thương mại nào đó, và mời người ta đến uống nước và giải thích những gì chúng ta đang thi hành và tại sao chúng ta lại thi hành điều ấy không?

Có lẽ đối với một số người điều này có nghĩa đúng như vậy, nhất là khi chúng ta về hưu, có tài chánh bảo đảm, và thuộc về một nhóm nào đó.

Nhưng, với hầu hết chúng ta, có lẽ nó có nghĩa một điều gì đó ít gây ấn tượng hơn.  Tối thiểu, nó có nghĩa sống Phúc Âm trong đời sống hàng ngày.

Tối thiểu, nó có nghĩa trở nên nhân chứng cho Chúa Giêsu trong chính gia đình mình, như bé Jenny.

Chỉ khi nào chúng ta bắt đầu nghiêm trọng nói về ơn gọi Kitô Hữu của mình, sứ điệp của Chúa Giêsu sẽ có ảnh hưởng trong thế giới chúng ta.

Và, nếu chúng ta bước đi trong đức tin và sống đức tin ấy, nó sẽ tạo nên sóng lăn tăn trong thế gian.  Và nếu nhiều người chúng ta thi hành điều ấy, sóng lăn tăn sẽ trở nên một ngọn sóng lớn.

Và ngọn sóng ấy — được thêm sức bởi Chúa Thánh Thần — sẽ canh tân bộ mặt trái đất trong một phương cách mà chúng ta không bao giờ dám mơ tưởng.

Đây là điều chúng ta cử hành trong ngày lễ hôm nay.

Trước hết, chúng ta cử hành sự hiện diện mầu nhiệm của Chúa Giêsu giữa chúng ta trong thân thể thiêng liêng của Người, là Hội Thánh.

Thứ hai, chúng ta nhớ đến sự uỷ thác mà Chúa Giêsu đã trao cho chúng ta là làm chứng cho Người — tối thiểu — bởi chính đức tin và gương mẫu của mình, như bé Jenny đã làm.

Lm Mark Link, S.J.