THÁNH MARIA MADALENA

Các Giáo phụ đã tranh luận và các nhà chú giải vẫn còn tìm hiểu xem Giáo hội có kính nhớ ba thánh nữ dưới cùng một danh xưng Maria Madalena hay không.

Người thứ nhất là một người nữ tội lỗi.  Khi Chúa Giêsu vào nhà ông biệt phái Simon, một tội nhân vô danh đã được ơn tha tội, nhờ tình yêu bà bày tỏ trong việc xức dầu thơm vào chân Chúa rồi lấy tóc mà lau (Lc 7, 36-39).

Đàng khác, cũng chính việc thánh sử Luca (Lc 7, 43-48) đã nói đến Maria Madalêna được Chúa Giêsu trừ quỉ cho.  Thánh nữ là một trong số phụ nữ đã theo Chúa trong các cuộc hành trình của Người.  Hiện diện trên đồi Calvê, ngài cũng thuộc vào số các bà đem dầu thơm đến mồ xức xác Chúa.  Ngài là người đầu tiên báo tin cho các môn đệ biết ngôi mộ trống.  Trở lại mộ ngay sau đó, ngài đã thấy và nói truyện với các thiên thần.  Sau cùng, ngài đã nhận ra Đấng Phục Sinh mà thoạt đầu ngài tưởng là một bác làm vườn (Ga 20, 1-18).

Maria Bêtania, là chị em của Matta và Lazarô đã ngồi dưới chân Chúa Giêsu mà nghe lời Người, trong khi Matta bận rộn chuẩn bị bữa ăn.  Thế mà ngài là người đã chọn phần tốt nhất, phần chiêm niệm (Lc 10,38-42).  Khi Chúa Giêsu đến cứu sống Lazarô, thánh nữ vẫn giữ một phần tương tự.  Ngài ngồi tại nhà cho tới khi Matta kêu ngài tới gặp “Thầy.”  Ít ngày sau, ngài đã xức dầu Chúa Giêsu (Mt 26,6-13).

Mặc dầu các sách Tin Mừng không bảo đảm đồng nhất ba khuôn mặt này thành một người và ý kiến các Giáo phụ còn trái nghịch, nhưng Giáo hội Tây phương từ thế kỷ thứ VI đã đồng hóa thành một người.  Sự đồng hóa này được diễn tả trong phụng vụ.

Với sự đồng hóa ấy, lòng đạo đức thường diễn tả thánh Maria Madalena như một phụ nữ có mái tóc dài, được Chúa Giêsu tha thứ nao nức đón nghe Lời Người.  Bà đã được chứng kiến Lazarô sống lại.  Tiên cảm được về thảm kịch khổ nạn, bà đã đổ dầu thơm quí giá lên chân Chúa Giêsu như một cuộc xức dầu cao cả.  Hiện diện dưới chân thánh giá, bà sẽ được Chúa Giêsu thân ái gọi tên “Maria” buổi sáng Phục Sinh.

Sau đó, người ta không nghe nói gì về Maria Madalena nữa.  Theo truyền thuyết, ngài đã từ trần và được mai táng ở Êphêsô.  Năm 889, Hoàng đế Lêô VI đã chuyển thi hài thánh nữ về một tu viện ở Constantinople.

Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý 

NHỮNG ĐIỀU MUỐN NHỚ, NHỮNG ĐIỀU MUỐN QUÊN

Khi bạn nhớ một người thân đã chết, bạn cảm thấy lòng mình bao mối ngổn ngang, muôn vàn kỷ niệm.  Có những kỷ niệm làm bạn vui, có những kỷ niệm khiến bạn buồn, và cũng có những điều khi nhớ lại bạn tiếc xót ngẩn ngơ, như kẻ bất ngờ phải đi xa tiếc không được hôn người yêu lần cuối, hay tiếc đã bỏ lỡ một lần âu yếm bên nhau.  Có kỷ niệm làm bạn hối hận vì đã làm buồn làm khổ người thân.  Có nỗi nhớ làm bạn tiếc hùi hụi vì đã chẳng chiều ý người, chẳng làm người vui một lần nào đó.  Có những hình ảnh thân thương bạn cứ muốn nhớ hoài, và có những cảnh huống bạn muốn quên đi mãi mãi.  Nhưng dù vui dù buồn, dù thích dù không thì bạn cũng chẳng bao giờ tách rời những kỷ niệm với hình ảnh và nỗi nhớ người thân.  Bởi lẽ hình ảnh người thân còn lại trong bạn không bao giờ là một bức chân dung trừu tượng, mà luôn là một hình ảnh sống động trong một giây phút nào đó.  Bạn không thể hình dung người cha đã chết tách khỏi một nét mặt, một cử chỉ, một dáng điệu, một hành động, một bước chân nhất định nào đó.  Bạn chỉ có thể hình dung thấy cha đang nhìn bạn, đang cười với bạn hay đang sửa dạy bạn, đang vui về bạn hay đang buồn về bạn; cha đang lo lắng hay đang hạnh phúc, đang khỏe hay đang đau… kỷ niệm, hình ảnh của người thân còn lại trong ta bao giờ cũng là trong tương quan với ta.  Những hình ảnh ấy được ghi vào tâm hồn và cuộc sống của ta từng giây từng phút sống với người.  Khi người vĩnh viễn đi vào dĩ vãng thì chuỗi kỷ niệm về người đã kết thúc trong ta như hình ảnh cuối cùng của một cuốn phim.  Bác sĩ Paul Nagai trong cuốn “Hồi chuông Quang đảo” kể lại kinh nghiệm bản thân ông với cái nhìn của mẹ trước khi chết.  Ông đã mất niềm tin và sống sa đọa từ khi vào trường Y, sự tiếp xúc với xác chết và bạn bè cùng lứa đã xô ông vào đó.  Nhưng chính đôi mắt mẹ nhìn ông trước khi chết đã làm cho ông không thể nào tin rằng khi đôi mắt ấy khép lại thì mẹ ông thành hư vô.  Ông tin rằng đằng sau đôi mắt ấy phải có cái gì bất tử.  Và từ lúc đó ông khám phá trở lại lòng tin vào Thiên Chúa và Sự Sống.

Ðiều tôi muốn cùng bạn suy nghĩ là “cuốn phim” ấy có thể kết thúc bất cứ lúc nào, và mỗi hình ảnh đều chỉ ghi một lần, ta không thể xóa đi để ghi lại, làm lại một giây phút, một hành động nào.  Cái khắt khe của cuộc sống là thế bạn ạ.  Ở phim trường hay ngoài trời, khi một cảnh diễn không đạt, đạo diễn cho làm lại, thu hình lại, và cuối cùng bàn tay của người ráp nối mới cố định vị trí của mỗi hình ảnh trong cuốn phim.  Còn trong cuộc sống thì mỗi giây phút đều được ghi một lần duy nhất vào tâm hồn ta, và người ráp nối cuối cùng chính là mức độ quan hệ của ta với người thân.  Càng thân thì sự ghi nhớ càng trọn vẹn.  Mẹ có thể kể từng chi tiết về con mình từ khi mang thai cho đến ngày cuối cùng, bởi vì mẹ bao giờ cũng yêu con hơn hết và luôn “ghi nhớ và suy gẫm trong lòng” mọi chuyện liên quan tới con của mình.

Dù thân hay sơ, thì mỗi người ta đã đích thân gặp gỡ, có khi là vui, có khi là buồn bực… nhưng dù sao cũng để lại một hình ảnh nào đó khiến mỗi lần nhớ đến phải vui hay buồn, mừng hay tủi, hãnh diện hay hối tiếc.

Bạn ơi, những điều muốn nhớ và những điều muốn quên về mỗi người thân hoặc bất kỳ ai ta đã gặp gỡ một lần, tùy ý ta khi sự gặp gỡ chưa diễn ra và đang diễn ra.  Còn khi đã diễn ra rồi thì không thể tùy ý ta nữa.  Những điều muốn nhớ và những điều muốn quên, ta đều phải nhớ như nhau.  Mỗi giây phút của cuộc sống, mỗi lần thể hiện quan hệ với một người, ta đều có tự do chọn giữa những gì ta muốn nhớ và những gì ta muốn quên.  Muốn quên tức là muốn không bao giờ xảy ra điều ấy, muốn không có nó trong cuốn phim đời mình sống với mọi người.

Ðừng sợ bạn ạ.  Sự khắt khe này của cuộc sống không đè bẹp chúng ta nhưng thôi thúc chúng ta.  Đừng làm những gì mà khi nhớ lại ta muốn quên đi.

Có bao giờ bạn cầm chắc được là sẽ gặp lại người thân, người bạn, người lạ mà bạn đang gặp bây giờ đâu.  Giây phút cuối cùng có thể đến với người kia hoặc với bạn bất cứ lúc nào.  Có khi người bạn, người thân bạn gặp đó hoặc chính bạn sẽ không còn đứng trên mặt đất chiều nay hay ngày mai.  Vậy thì tại sao ta không sống mỗi giây phút như thể đó là giây phút cuối cùng, đối xử với mỗi người mỗi lần như thể đó là lần cuối cùng gặp nhau!

Bạn đã từng chia tay với người thân, với bạn bè đi xa.  Bạn có để ý là lúc đó ai cũng rộng lượng hơn, ân cần hơn, sẵn sàng tha thứ, sẵn sàng giúp đỡ, sẵn sàng để lại hình ảnh đẹp nhất trong lòng kẻ ở lẫn người đi?

Bạn ơi, giá mình có thể sống với mọi người cũng như với chính mình từng giây phút, từng lần gặp gỡ như thể đó là lần cuối thì sẽ đẹp, sẽ vui biết mấy phải không?

Liệu bạn có sợ hụt hơi vì tính cách khẩn trương của giây phút cuối tràn lên suốt cuộc đời?

Bạn ơi hãy sống hãy yêu, hãy nói, hãy cười như thể đây là phút cuối, và hãy làm như thể đây là việc sau cùng.  Mà đúng là như thế bạn ạ, vì có bao giờ giây phút này lặp lại nữa đâu và bao giờ nó cũng có thể là giây phút cuối, sau đó thì cuộc đời bạn kết thúc mất rồi.

Bạn hãy nhìn người võ sĩ trên vũ đài.  Họ biết chỉ có quyền thi thố tài năng giữa hai lần tiếng cồng vang lên, nên họ hối hả chừng nào.  Bạn hãy nhìn cầu thủ trên sân bóng đá, khi đồng hồ trên bảng điện càng gần phút 90 thì họ càng ráo riết tấn công.  Bạn hãy nhìn các bác sĩ và y tá trong phòng cấp cứu chạy đua với tử thần giành giựt mạng sống của bệnh nhân.

Tính vắn vỏi, cấp bách của giây phút hiện tại đối với người không có niềm hy vọng nào ngoài sự hưởng thụ vật chất, là động lực thúc đẩy họ yêu cuồng sống vội: mau hái bông hoa kẻo nó tàn.  Còn đối với người có niềm hy vọng ở tương lai vĩnh cửu thì nó lại là sự thúc đẩy sống thanh thoát và quảng đại, trong trắng và yêu thương, không để lòng mình vướng mắc với những gì phải qua đi nhưng luôn biết vươn cao (coi 1 Cor 7,29-31), là lời mời gọi đứng vững trong cuộc chiến đấu cho công bình và lẽ phải, cho yêu thương và hạnh phúc.

Mỗi lời bạn nói là lời cuối cùng
Mỗi việc bạn làm là việc sau hết
Mỗi người bạn gặp là người duy nhất
Từng giây phút trong đó,
Bạn hãy sống như mình chỉ có phút ấy mà thôi.

LM. Nguyễn Công Ðoan, SJ

THIÊN CHÚA KIÊN NHẪN ĐỢI CHỜ

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay làm nổi bật hình ảnh của một Thiên Chúa giàu lòng từ bi và hay thương xót, luôn kiên nhẫn đợi chờ kẻ có tội biết ăn năn.

Thiên Chúa khoan dung cách lạ lùng

Thiên Chúa của chúng ta là một người cha đầy lòng trắc ẩn, và rất mực khoan dung.  “Vì là chủ sức mạnh, nên Chúa xét xử hiền lành, Chúa thống trị chúng ta với đầy lòng khoan dung” (Kn 12,16).  Người luôn chờ đợi với con tim rộng mở để đón chào và tha thứ cho người có tội, kẻ gian ác muốn ăn năn.  Ngài luôn tha thứ, nếu đến với Ngài… Chúa dạy : “Người công chính phải ăn ở nhân đạo, và Người làm cho con cái Người đầy hy vọng rằng: Người ban cho kẻ tội lỗi ơn ăn năn sám hối” (Kn 12,19).

Thái độ của Thiên Chúa giúp chúng ta hiểu rằng sự dữ không phải là điểm đầu và điểm kết.  Có cái gì đó hơn thế nữa: nhờ niềm hy vọng đầy tình thương mến của Thiên Chúa mà những con tim xấu xa, ngập tràn tội lỗi có thể trở nên hạt giống tốt.  Lòng trắc ẩn không phải là làm ngơ trước sự xấu; hay là lẫn lộn giữa tốt và xấu!

Lý do cuối cùng để Thiên Chúa thực hiện lòng bao dung là muốn cho tội nhân trở lại mà được sống, đây là lòng bác ái quá bao la.  Thế nên thái độ của người công chính ở đời, của người đi theo đường lối Thiên Chúa, là phải nhân đạo, thương người, không muốn cho kẻ có tội bị tiêu diệt nhưng là mong họ sám hối ăn năn.

Kiên trì và cố gắng

Với dụ ngôn “Cỏ Lùng.”  Chúa Giê-su mạc khải cho các môn đệ cũng như chúng ta về sự kiên nhẫn và lòng nhân từ của Thiên Chúa đối với đủ hạng người, lành cũng như dữ, đồng thời cảnh tỉnh chúng ta đừng có nông nổi như người tôi tớ và nhất là phải luôn cố gắng.  Ông chủ trong dụ ngôn thật nhân hậu tuyệt vời.  Ông thận trọng thẳng thừng nói: “Không được, kẻo khi nhổ cỏ lùng, các anh lại nhổ luôn cả lúa chăng.  Hãy cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt.  Và đến mùa, ta sẽ dặn thợ gặt” (Mt 13, 29-30).  Ý muốn nói, giống tốt cũng phải mọc lên và sinh bông trái; nếu không, đến mùa gặt là ngày tận thế, giống tốt cũng chỉ là cỏ, bị bỏ vào lửa thôi.  Bởi cứ sự thường, người ta sẽ chỉ gặt lúa mang về nhà.  Còn rươm rạ sẽ cắt sau.  Nhưng ở đây vì tôi tớ đang muốn biết về số phận của cỏ lùng, nên buộc lòng người chủ phải nói đến nó trước.

Đôi lúc thấy sự dữ hay kẻ dữ lấn át người lành, và cũng dễ thấy, người lành thánh ao ước có được một thiên đàng ngay trên trần thế, nên muốn Thiên Chúa diệt sạch kẻ ác ra khỏi thế gian.  Lời thân thưa và tiếp đến là lời cầu xin của người đầy tớ với ông chủ trong dụ ngôn là một bằng chứng: “Thưa ông, thế ông đã không gieo giống tốt trong ruống ông sao?  Vậy cỏ lùng từ đâu mà có? ” (Mt 13,27)  Nhiều người hôm nay vẫn hỏi Chúa: Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên mọi sự trong đó có con người, và Ngài đã chẳng thấy mọi sự đều tốt đẹp đó sao?  Vậy, sự dữ, người gian ác do đâu mà có?  Và họ khơi lên ước muốn trừng phạt: “Nếu ông bằng lòng, chúng tôi xin đi nhổ cỏ” (Mt 13,28).

“Cỏ lùng” tiếng Do Thái, có gốc từ chữ “Satan” và nói đến việc chia rẽ.  Tất cả chúng ta đều biết rằng quỷ dữ là người gieo cỏ lùng: luôn tìm cách gây chia rẽ con người với nhau, chia rẽ trong gia đình, hội đoàn, giáo họ, giáo xứ, quốc gia và dân tộc.  Những người đầy tớ muốn nhổ cỏ xấu đi ngay lập tức, nhưng ông chủ ngăn cản vì sợ rằng khi nhổ cỏ lùng thì nhổ nhầm cả lúa.  Bởi cỏ lùng, khi lớn lên, trông rất giống lúa tốt, nên dễ gây nhầm lẫn.  Quỷ Dữ đến trong đêm để gieo cỏ lùng, trong đêm tối, trong sự hỗn loạn…  Nơi đâu không có ánh sáng, quỷ sẽ đến để gieo cỏ lùng.  Kẻ thù này rất tinh khôn: hắn gieo sự xấu vào giữa điều tốt, để chúng ta không thể nào tách biệt rõ ràng, nhưng Thiên Chúa sẽ làm điều đó.  Ông chủ trong dụ ngôn thật nhân hậu tuyệt vời.

Lòng Chúa cao cả hơn lòng chúng ta

Trước cỏ lùng đang hiện diện trên thế giới, cụ thể hơn, sống chung với kẻ vô đạo, kẻ gian ác, chống lại sự thiện, người môn đệ Chúa được mời gọi bắt chước Chúa, hy vọng với niềm tin vào chiến thắng chung cuộc của sự Thiện, là chính Thiên Chúa.

Thật vậy, chỉ trên mặt đất này mới có chỗ cho lúa và cỏ lùng mọc lên, chỉ trong cuộc sống nhân trần mới có bột cần chất men, nên ở trên Thiên Đàng, chỉ có Thiên Chúa là tất cả mọi sự trong mọi người.

Thánh Au-gút-ti-nô quan niệm: “Chính Giáo Hội là một cánh đồng có lúa và cỏ lùng, có kẻ xấu và người tốt đều chung sống với nhau, là nơi để chúng ta bắt chước gương nhẫn nại của Chúa.  Những kẻ dữ hiện hữu trong thế gian này hoặc là để được cải hóa hay là nhờ họ mà những kẻ lành có thể luyện tập đức nhẫn nại.”

Vì thế, trước sự hiện hữu của cái ác, thái độ của các môn đệ Chúa Kitô là gì nếu không phải là kiên nhẫn với sự hiện hữu của cái ác trên thế giới.

Việc cần làm là tích cực gieo quanh chúng ta thật nhiều hạt tốt.  Tiếp đến là phải hành động với sự khôn ngoan, thận trọng khi đối đầu với sự ác, đồng thời cầu xin Chúa Thánh Thần giúp sức cho, vì: “Thánh Thần nâng đỡ sự yếu hèn của chúng ta”(Rm 8, 26).

Sau cùng, cần phải vững tin, hy vọng và sống bác ái; nghĩa là chinh phục cái ác bằng việc làm tốt, theo lời khuyên của Thánh Tông đồ Phao-lô: “Chớ để sự dữ thắng được ngươi, nhưng hãy lấy lành mà thắng dữ” (Rm 12, 21).

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

TẬP TRUNG VÀO CHÚA

Giáo Hội kính nhớ Thánh tiến sĩ Bonaventura (1221-1274) ngày 15 tháng 7.  Thánh nhân sinh trưởng tại Ý, và ngài được mệnh danh là “Tiến Sĩ Thiên Thần Sêraphim” (Seraphic Doctor), là một trong các thần học gia nổi tiếng của Dòng Phanxicô, và là người đã viết tiểu sử Thánh Phanxicô bằng thơ, bài “Cuộc đời Thánh Phanxicô” (The Life of St. Francis) và bài “Hành trình Tâm trí tới Thiên Chúa” (The Journey of the Mind to God).

Ngài nổi danh là “Tiến Sĩ Thiên Thần Sêraphim” bởi vì ngài thực sự sở hữu tinh thần của Thánh Phanxicô, Ngài được bầu làm Bề trên Tổng quyền của Dòng Phanxicô để giúp cộng đoàn hồi phục lòng yêu mến tinh thần của Thánh Phanxicô.  Có nhiều điều được biết về Thánh Bonaventura, nhưng người ta có thể ít biết rằng tầm ảnh hưởng của vị thánh này đối với nền tảng thần học của Đức Hồng Y Joseph Ratzinger – tức là nguyên Giáo Hoàng Benedict XVI.

Thánh Bonaventura sống trong thế kỷ 13, thời gian tốt cho đức tin Kitô giáo, khi xã hội thấm nhuần và chịu ảnh hưởng nhiều từ các tác phẩm văn chương, thần học và triết học.  Hồi nhỏ, Bonaventura bị bệnh nặng đến nỗi người cha là bác sĩ cũng đành “bó tay.”  Tuy nhiên, người mẹ tin tưởng cầu nguyện với Thánh Phanxicô Assisi để xin chữa cho con trai, và rồi Bonaventura đã bình phục.  Chính sự kiện này về sau đã ảnh hưởng đến quyết định đi tu của Bonaventura.

Sau khi gia nhập Dòng Phanxicô, Bonaventura được gởi đi học thần học tại Đại học Paris.  Tại đây, Bonaventura học Kinh Thánh và Châm ngôn của Peter Lombard, rồi bảo vệ luận án với tựa đề “Bàn về việc nhận biết Đức Kitô” (Questions on the knowledge of Christ).  Đây là điều chủ yếu để hiểu về thần học của Thánh Bonaventura.

Khi tu sĩ Bonaventura được bầu làm Bề trên Tổng quyền của Dòng Phanxicô, mục đích chính của ngài là kết hợp phong trào Phanxicô và tái nhen nhóm lòng yêu mến tinh thần nghèo khó và vị sáng lập là Thánh Phanxicô.  Thánh Bonaventura muốn các tu sĩ hiểu rằng họ cũng được mời gọi trở nên “một Kitô khác” và tuân theo Đức Kitô.  Thánh Bonaventure muốn các tu sĩ mời Đức Kitô đến sống trong lòng họ, để họ có thể sống trọn lời khấn nghèo khó, khiết tịnh và vâng lời, đồng thời vui vẻ rao giảng Tin Mừng cho mọi người.  Ước muốn này của Thánh Bonaventura là điều mà tất cả chúng ta có thể đạt được trọn vẹn, bất kể chúng ta sống ở bậc nào.

Trong thời Thánh Bonaventura, có một sai lầm nổi lên trong Dòng Phanxicô.  Một nhóm gọi là “Tinh Thần Phanxicô” (Spiritual Franciscans) đã theo cái bài viết của Joachim Fiore, hiểu toàn bộ lịch sử là “lịch sử của sự tiến bộ: từ sự nghiêm ngặt của Cựu Ước tới sự tự do tương đối của thời Chúa Giêsu, trong Giáo Hội, tới sự tự do hoàn toàn của con cái Thiên Chúa trong thời của Chúa Thánh Thần.”  Thánh Bonaventura thấy đó là sai lầm nghiêm trọng về sứ vụ của Thánh Phanxicô, do đó ngài đã nghiên cứu các tác phẩm của Joachim Fiore để có thể chấn chỉnh sai lầm trong dòng.  Từ đó, Thánh Bonaventura phát triển cách hiểu về lịch sử của Giáo Hội, bác bỏ lịch sử về Tam vị Nhất thể của Joachim, và tuyên bố rằng “Thiên Chúa là một đối với toàn bộ lịch sử.”  Thánh Bonaventura xác định: “Đức Giêsu Kitô là lời cuối cùng của Thiên Chúa; nơi Ngài, Thiên Chúa đã nói mọi điều, trao ban và giải thích chính Ngài.”  Điều này có nghĩa là Thiên Chúa mặc khải Giáo Hội, và không có gì “mới” được mặc khải mà lại không có trong sự mặc khải.

Tư tưởng tiến bộ về lịch sử của Thánh Bonaventura là sáng kiến khi so sánh với các giáo phụ.  Thánh Bonaventura không bác bỏ các giáo phụ, nhưng ngài thấy rằng Đức Kitô đã đem sự mới mẻ đến trong Giáo Hội và sự phong phú của Đức Kitô là vô tận.  Với Đức Kitô là trung tâm, chúng ta có thể phát hiện nhiều kho tàng mà Ngài trao ban cho chúng ta qua Ngôi Lời.  Đức Kitô là Đấng mà chúng ta có thể khám phá sự mới mẻ trong các giáo huấn và truyền thống của Giáo Hội.

Một số người cho rằng như thế thì Giáo Hội xuống dốc.  Dựa vào thần học của Thánh Bonaventura, Đức Giáo Hoàng Benedict XVI giải thích: “Công việc của Đức Kitô không thụt lùi mà tiến tới.”  Hơn nữa, chúng ta không thể nói rằng Giáo Hội “hoàn toàn mới” và mọi truyền thống trong quá khứ đã lỗi thời.  Đức Giáo Hoàng Benedict XVI giải thích về tính mới mẻ của Giáo Hội: “Giáo Hội sẽ là gì nếu không có tinh thần mới của Dòng Xitô, Dòng Phanxicô, Dòng Đaminh, tinh thần của Thánh Teresa Avila và Thánh Gioan Thánh Giá?  Theo thần học của Thánh Bonaventura, chúng ta có cách hiểu mới về tinh thần trong lịch sử Giáo Hội: hoạt động của Giáo Hội luôn tiến tới, với Đức Kitô ở giữa và ở cuối tầm nhìn theo Bát Phúc.”  Thánh Bonaventura hiểu sự thật này nhờ tận hiến cho Đức Kitô qua lời cầu nguyện.  Thánh Bonaventura làm gương cho chúng ta về cách “học hỏi ở trường học của Thầy Chí Thánh,” và chúng ta nên noi gương thánh nhân.  Ước muốn canh tân dòng khó nghèo hồi thế kỷ 13 có thể gợi hứng cho chúng ta khi chúng ta muốn canh tân hoặc tái truyền giáo cho những người đã lạc xa Thiên Chúa.

Sự nhấn mạnh của Thánh Bonaventura về việc canh tân truyền thống đan tu làm cho ngài trở thành một vị thánh thích nghi với mọi thời đại, đặc biệt đối với việc Tân Phúc Âm Hóa, bởi vì thời đại chúng ta rất cần giúp đỡ nhau và giúp người khác tái tập trung vào Đức Kitô là trung tâm của đời sống và vũ trụ.  Đức Kitô là “cùng đích” của mọi thụ tạo theo một ý nghĩa nào đó, Ngài cũng ở giữa lịch sử cứu độ – Ngài muốn nối kết với chúng ta trong tâm hồn chúng ta và là “tâm điểm” của chúng ta.  Thông qua thần học của Thánh Bonaventura, chúng ta gặp được Đức Kitô – Đấng là trung tâm của Phụng Vụ. Chính Phụng Vụ là nơi trời gặp đất, cử hành Thập Giá, khi chúng ta có thể lãnh nhận Thánh Thể Đức Kitô.  Cùng với Thánh Bonaventura, chúng ta có thể cầu nguyện: “Suy niệm về Thập Giá của Đức Kitô thật tốt lành biết bao!”

Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

CẦU NGUYỆN – CON ĐƯỜNG KHÔNG AI ĐI THAY

Có một sự thật rất đơn giản, nhưng con người thường quên:
ai ăn thì người ấy no,
ai đi thì người ấy đến,
ai cầu nguyện thì chính người ấy được chạm đến ánh sáng.

Không ai có thể ăn giùm ta để ta hết đói.
Cũng vậy, không ai có thể tu giùm ta để ta được đổi thay.
Đời sống thiêng liêng, suy cho cùng, không phải là một dịch vụ uỷ quyền, mà là một hành trình cá vị — âm thầm, đơn độc, nhưng trung thực.

Cầu nguyện không phải là cách để trốn tránh trách nhiệm sống.
Cũng không phải là lời nhờ vả ai đó “xin hộ” để ta khỏi phải đối diện với chính mình.
Muốn được cứu, con người buộc phải bước đi bằng chính đôi chân tự do của mình — vừa cầu nguyện, vừa nỗ lực, vừa chịu trách nhiệm cho những lựa chọn của bản thân.

Không ai bị câm trước Thiên Chúa.
Ai cũng có một miệng để thốt lời,
một trái tim để mở ra,
và một tự do để đáp lại hay khước từ.

Vì thế, không ai có thể cầu thay cho một sự từ chối cố chấp.

Có những người xin cầu nguyện rất nhiều,
nhưng lại không hề muốn thay đổi.
Có những người mong được cứu,
nhưng lại không muốn rời khỏi vùng tối quen thuộc của mình.
Không phải vì lời cầu nguyện bất lực,
mà vì ánh sáng đã đến — và bị quay lưng.

Cầu nguyện, ở chiều sâu nhất, không phải là xin cho ý riêng được thành tựu,
mà là để ý riêng được soi sáng.
Khi ánh sáng được ban mà con người vẫn khư khư giữ lấy cái tôi,
thì ơn huệ không mất — chỉ là không được đón nhận.

Vì thế, trật tự của cầu nguyện cũng là trật tự của sự khiêm tốn.
Ta cầu cho chính mình trước — để biết mình yếu đuối.

Ta cầu cho cha mẹ, ông bà, anh chị em — để học yêu thương cụ thể.
Rồi sau đó mới dám mở lòng ra với làng xóm, thiên hạ, và những người đã khuất —
không phải bằng ảo tưởng đạo đức,
mà bằng một trái tim đã được luyện tập trong sự thật.

Không ai có thể được cứu nếu họ không muốn.
Nhưng cũng không ai mất ơn cứu độ vì thiếu lời cầu nguyện —
chỉ vì họ không muốn mở cửa.

Cầu nguyện, rốt cuộc,
là đứng trước ánh sáng
và thành thật hỏi chính mình:
“Tôi có thực sự muốn được soi sáng không?”

Lumi Hồng Nhung
Nguồn: https://www.nguoitinhuu.org/

CHIẾC ÐINH CONG

Chủ đề: “Ðáp lại lời Chúa bao gồm ba việc: Nhận lãnh, gìn giữ và mang nó ra thực hành”

John Powers.  Một tiểu thuyết gia ở Chicago có viết quyển sách nhan đề “The Unoriginal Sinner and the Ice Cream God.

Tác phẩm này kể về một cậu bé tên Tim Conroy.  Cậu đang trong thời kỳ phát triển, một thời kỳ phát triển gai góc.  Ngày nọ Tim tâm sự với một người bạn: “Tớ xuất thân từ một gia đình công giáo, nhưng cậu biết sao không?  Càng sống đạo tớ càng tồi tệ hơn.”

Ðôi khi tất cả chúng ta đều có cảm nghĩ giống Tim.  Có thể chúng ta không trở nên tồi tệ hơn, nhưng chúng ta cũng chả khá hơn bao nhiêu.  Quý vị hãy nghĩ xem: khi được 25 tuổi, chúng ta đã nghe đọc và cắt nghĩa Lời Chúa phải được khoảng độ một ngàn lần, thế mà sau đó, tại sao chúng ta vẫn không tiến bộ hơn trước?  Câu trả lời có lẽ nằm nơi dụ ngôn của Chúa Giêsu trong Phúc Âm hôm nay.

Người nông dân trong dụ ngôn là Chúa Giêsu.  Hạt giống là Lời Chúa.  Những nơi hạt giống được gieo xuống là vệ đường, đá, gai, đất tốt, ám chỉ những kẻ nghe Lời Chúa.  Một vài người chối bỏ lời ấy thẳng thừng.  Số khác thì nhận lấy và sau đó thì chối bỏ.  Còn số khác nữa thì nhận lãnh, tích chứa và đem ra thực hành.

Ðiều quan trọng cần ghi nhận là chỉ có một trường hợp Lời Chúa bị chối thẳng thừng và triệt để.  Trong ba trường hợp còn lại.  Lời Chúa đều được vui vẻ đón nhận.  Vấn đề không hệ tại việc đón nhận Lời Chúa, mà hệ tại việc tích chứa và mang nó ra thực hành.  Vì thế, có tất cả ba bước để đáp trả lời Chúa là: đón nhận, tích chứa và thực hành lời ấy.

Chúng ta hãy xem kỹ từng bước một.

Bước thứ nhất là nghe Lời Chúa.  Chúng ta có thể gọi đây là bước của trí não.  Bước này bao hàm việc chăm chú lắng nghe đọc và giải thích Kinh Thánh.

Bước thứ hai là trân trọng tích giữ Lời Chúa.  Bước này có thể được gọi là bước của trái tim, bao hàm việc ghi sâu vào lòng lời ta vừa nghe, và suy nghĩ xem có cách nào áp dụng lời ấy vào cuộc sống và làm sao để lời ấy biến cuộc sống của chúng ta nên tốt đẹp hơn.  Bước thứ hai này không nhất thiết xẩy ra tại giáo đường.  Nó có thể khởi sự tại giáo đường nhưng thường kéo dài suốt tuần lễ sau đó khi chúng ta suy nghĩ về Lời Chúa đã được nghe hôm Chúa nhật.

Bước thứ ba là đem Lời Chúa ra thực hành.  Nếu chúng ta gọi bước thứ nhất là bước của “trí não,” bước thứ hai là bước của “trái tim,” thì chúng ta có thể gọi bước thứ ba là bước của “linh hồn.”  Bước này bao hàm việc tác động lên những gì trí óc chúng ta lãnh nhận và con tim chúng ta tích chứa gìn giữ.

Thánh Phaolô cố ý bàn về bước của “linh hồn” này như sau:

Lời Chúa… sắc bén hơn bất kỳ chiếc gươm hai lưỡi nào.  Nó phân chia hồn linh, cốt tủy, thấu suốt tư tưởng và ý định trong lòng” (Dt.4,12).

Như thế, có tất cả ba bước liên quan đến việc nghe Lời Chúa: bước “trí não” (lãnh nhận), bước “trái tim” (tích chứa gìn giữ) và bước “linh hồn” (đem ra thực hành).

Câu chuyện sau đây minh họa cho ba bước nêu trên:

Có một người đàn ông tên Bill.  Ông ta là một nhà thầu khoán nổi tiếng.  Dần dà do công việc dồn ép nên Bill đã đâm đầu vào rượu chè và chẳng bao lâu sau, ông đã tách lìa mái ấm gia đình, đồng thời sự nghiệp ông lâm vào tình trạng đổ vỡ.

Một hôm, đang lúc đi bộ xuống phố, tình cờ Bill cúi mắt nhìn xuống.  Bên vệ đường có một chiếc đinh cong queo rỉ sét.  Bill tự nghĩ: “Cái đinh này đúng là hình ảnh của ta, ta cũng rỉ sét cong queo như nó.  Ta chỉ còn là đồ vô dụng chỉ có nước quẳng đi không khác gì cái đinh ấy.”  Nghĩ thế, Bill cúi xuống nhặt chiếc đinh lên bỏ nó vào túi.  Về đến nhà, Bill lấy búa đập nó thẳng lại, đoạn dùng giấy nhám chà lớp rỉ sét đi.  Sau đó, Bill đặt chiếc đinh này bên cạnh chiếc đinh mới.  Ông cảm thấy khó phân biệt được sự khác biệt giữa hai chiếc đinh ấy.  Thế là một tư tưởng loé lên trong trí Bill.  Cuộc đời ông có thể uốn thẳng, đánh bóng trở lại giống chiếc đinh nọ.  Tuy nhiên không phải dễ dàng!  Liệu ông có thể chịu được những cú gõ chát chúa và sự chà xát không?  Bill quyết định làm thử…

Hiện nay Bill đã đoàn tụ với gia đình và trở lại với công việc xây cất.  Ông rất quý chiếc đinh cũ rỉ cong queo mà ông đã nhặt ở vệ đường đúng vào lúc cam go nhất của đời ông.  Mãi đến hôm nay, Bill vẫn còn giữ chiếc đinh ấy trong ví của ông.

Nhìn lại toàn bộ câu chuyện của Bill, chúng ta có thể nhận ra ba bước nói trên:

Bước thứ nhất hay bước “trí não”, là lúc Bill nhận thức được chiếc đinh cong queo rỉ sét đúng là hình ảnh của chính ông.  Bước thứ hai tức bước “trái tim”, là khi Bill dùng búa gò thẳng chiếc đinh và dùng giấy nhám đánh cho sạch, đồng thời nhận ra mình cũng có thể làm y như vậy đối với cuộc đời mình.  Bước thứ ba, tức là bước “linh hồn”, là lúc Bill thực hành những đổi thay trong cuộc sống của mình nhờ đó ông được hồi phục trọn vẹn.

Nếu chúng ta lỡ rơi vào trường hợp giống như trường hợp cậu bé Tim Conroy trong tiểu thuyết của John Power, thắc mắc tại sao mình không là những Kitô hữu hành đạo tốt hơn, thì bài Phúc Âm hôm nay có thể mang lại cho chúng ta một sứ điệp quan trọng.

Có lẽ chúng ta không khá hơn bởi vì chúng ta không biết đáp lại Lời Chúa bằng cả trí óc, bằng cả trái tim và bằng cả linh hồn chúng ta.  Sứ điệp bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta hãy noi gương Bill, đáp lại Lời Chúa giống như cách thức của Bill: đó là nhận lãnh, tích chứa và mang ra thực hành.

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu là Ðấng gieo lời Thiên Chúa, xin giúp chúng con nhận biết rằng lãnh nhận lời Ngài mà thôi thì chưa đủ.  Xin giúp chúng ta biết tích chứa và mang lời ấy ra thực hành nữa.

Lạy Chúa Giêsu là Ðấng gieo lời Thiên Chúa, xin giúp chúng con đáp trả lời Ngài không chỉ với tất cả trí óc và trái tim và còn với tất cả linh hồn chúng con nữa.  Amen!

Lm. Mark Link, S.J.

BÀI HỌC TỪ TRONG NỖI CÔ ĐƠN

Nhiều năm trước, tôi có khuyên một thanh niên, anh có cuộc đấu tranh chống lại nỗi cô đơn gần như ngược đời.  Thay vì cố gắng thoát ra, anh lại sợ mất nó.  Anh khoảng hơn hai mươi tuổi, yêu một cô gái trẻ tuyệt vời, nhưng cảm thấy bị giằng xé về việc cưới cô ấy, vì anh sợ hôn nhân gây trở ngại cho sự cô đơn của anh, và theo lời anh, nó sẽ làm cho anh trở thành “người hời hợt hơn và mất đi những gì có thể dâng tặng Chúa và thế giới này.”

“Tôi bước vào một căn phòng,” anh nói, và “một cách phản xạ, tôi nhìn quanh để tìm một gương mặt buồn rầu, tìm một người nào đó có dáng vẻ gợi cho thấy cuộc sống có nhiều điều hơn là tiệc tùng và những tin tức nóng hổi về những người nổi tiếng.”  Sẽ nguy hiểm nếu ngắn gọn xem trạng thái nặng nề là biểu hiệu của sâu sắc, nhưng trong trường hợp của anh thì điều đó không đúng.

“Có hai hình ảnh đôi co trong lòng tôi,” anh nói. “Cha tôi mất khi tôi mười lăm tuổi.  Gia đình tôi sống ở miền quê, ông bị lên cơn đau tim.  Chúng tôi vội vàng đưa ông lên xe, mẹ tôi ngồi ôm ông ở băng ghế sau, còn tôi lái xe, mới mười lăm tuổi, và sợ run lên.  Cha tôi mất trên đường tới bệnh viện, nhưng ông chết trong vòng tay mẹ tôi.  Mặc dù chuyện đó rất buồn, nhưng có một cái gì đó rất đẹp.  Lúc nào tôi cũng muốn chết theo kiểu đó, được người tôi yêu ôm trong vòng tay.  Dù hình ảnh đó hút tôi một cách mạnh mẽ về phía hôn nhân, nhưng tôi cũng nhìn hình ảnh chúa Giê-su chết đơn độc, bị ruồng bỏ, chẳng trong vòng tay của ai, chỉ trong vòng một điều gì đó cao hơn, và tôi cũng bị thu hút về hướng đó.  Hình ảnh đó có một vẻ thanh cao mà tôi không muốn từ bỏ.  Đó cũng là một cách chết hay.

Anh sợ sẽ mất đi sự cô đơn của mình dù anh khao khát một cách lành mạnh tình cảm thân mật.  Anh không thể nào lý giải được trọn vẹn tại sao anh bị thu hút trước sự cô đơn của chúa Giê-su trên thập giá, trừ việc cảm thấy rằng điều này cách nào đó là một điều cao đẹp, một điều sâu sắc, và là điều sẽ đem lại cho anh chiều sâu và thanh cao.

Trước anh, cũng có nhiều người khác có kinh nghiệm này, kể cả chúa Giê-su.  Chẳng hạn triết gia Soren Kierkegaard, khi còn trẻ, cũng với lý do lo sợ như người bạn trẻ của tôi, ông từ chối hôn nhân.  Dù đúng dù sai, anh cảm thấy những gì anh có để mang tặng cho thế giới này bắt rễ sâu thẳm trong nỗi đau cô đơn của mình, và chỉ có thể tỏa ra từ cốt lõi đó mà thôi, và, nếu anh bớt cô đơn, thì anh cũng sẽ bớt đi những gì có thể trao tặng.  Liệu anh có đúng không?

Hoa trái của đời một người, ví dụ những người như cha Henri Nouwen, rút ra sức mạnh và khả năng hồi phục từ những tác phẩm của họ, xác nhận cho sự thật của trực giác của họ.  Nhìn hoa trái của họ, bạn sẽ hiểu họ.  Kierkegaard là vị thánh bảo trợ cho những người cô đơn.  Nhưng, như anh bạn trẻ của tôi, ông cũng bị giằng xé bởi những gì điều đó gây ra cho ông.  Quá ít người hiểu được, và điều này dìm ông vào “nỗi buồn của việc đã hiểu ra một điều gì đó chân thực – và rồi thấy mình bị hiểu lầm.”  Ông cũng tự nhận là ông sống trong lời thề “không bao giờ cho phép ai đi vào sâu thẳm trong nội tâm và kết hợp nội tâm sâu sắc với tôi.”  Thomas Merton, khi bàn về vấn đề này, đã nói rằng sự thiếu vắng tình cảm thân mật của đời sống hôn nhân trong đời ông đã tạo thành “một khiếm khuyết trong sự khiết tịnh của tôi.”  Loại sâu sắc này có được cũng bắt nguồn từ một cái giá nào đó.

Tại sao, bất chấp bất lợi rõ ràng như vậy, mà cô đơn vẫn thu hút nhiều người như Kierkegaard của thế giới chúng ta, với niềm tin rằng đó là chìa khóa dẫn tới sự sâu sắc, lòng lân mẫn, và minh triết?  Cô đơn làm gì cho chúng ta?

Điều mà cô đơn làm cho chúng ta, đặc biệt nỗi cô đơn tột cùng, là lay chuyển bản ngã và khiến bản ngã mong manh đến mức không thể duy trì chúng ta theo cách thông thường được nữa.  Những gì xảy ra sau đó là chúng ta bắt đầu buông bỏ, cảm thấy chúng ta trở nên không còn vướng mắc, hiểu ra sự nhỏ bé của mình, và biết từ trong sâu xa của bản thể rằng chúng ta cần phải kết liên với một điều gì đó lớn lao hơn chính bản thân mình thì mới sống sót.  Nhưng đó là một trải nghiệm rất đau đớn, và chúng ta có khuynh hướng trốn chạy khỏi nó.

Tuy nhiên, và đây chính là nghịch lý to lớn, trải nghiệm nỗi cô đơn tột cùng này là một trong những đặc cách để tìm ra câu trả lời sâu thẳm cho cuộc đi tìm bản thể và ý nghĩa của chúng ta.  Bởi vì nó lay chuyển bản ngã và khiến chúng ta mất phương hướng, nỗi cô đơn khiến chúng ta chạm đến những gì nằm bên dưới bản ngã, đó là tâm hồn, bản thể sâu sắc nhất của chúng ta.  Hình ảnh Chúa và sự tương đồng với Chúa nằm ở đó, cũng như năng lượng thanh cao nhất và thiêng liêng nhất của chúng ta cũng ở đó.  Đó chính là sự thật trong niềm tin rằng trong nỗi cô đơn có chiều sâu.

Và như thế, bài học là, dù lập gia đình hay không: Đừng chạy trốn cô đơn.  Đừng coi đó là kẻ thù.  Đừng tìm kiếm  ai khác để chữa chạy nỗi cô đơn của mình.  Hãy coi nỗi cô đơn là đặc cách dẫn tới chiều sâu và lòng lân mẫn.

Đây là lời khuyên của Hafiz, một nhà thơ Ba-tư xưa:

Đừng hàng phục nỗi cô đơn
Nhanh đến vậy
Hãy để nó cứa sâu hơn
Để nó ủ men và thêm hương vị
Vì rất ít người phàm
Và ngay cả hương vị thần thánh làm được
Điều trái tim tôi thiếu vắng đêm nay
Đã làm đôi mắt tôi thêm dịu dàng
Giọng nói tôi
thêm trìu mến,
Nhu cầu có Chúa của tôi
Tuyệt đối
Rõ ràng.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CHA WILFRID STINISSEN GIẢI THÍCH VỀ ĐÊM TỐI THIÊNG LIÊNG

Mỗi tháng trong Năm Cầu Nguyện 2024 này, thầy Baptiste de l’Assomption giúp chúng ta khám phá thông điệp về một nhân vật tâm linh ít được biết đến của thế kỷ 20.  Thầy bắt đầu với cha Wilfrid Stinissen, dòng Cát Minh, một chuyên gia lớn về Thánh Gioan Thánh Giá, người cho chúng ta thấy “đêm tối” là một giai đoạn của đời sống thiêng liêng chuẩn bị cho sự kết hợp tình yêu với Thiên Chúa ở trung tâm tâm hồn.

“Điều đó sẽ mang lại cho bạn bớt ở luyện ngục hơn!”  Đây là cách diễn đạt mà đôi khi chúng ta nghe thấy trên môi miệng các Kitô hữu!  Chúng ta có thể giải thích nó theo cách chủ bại: “Trong mọi trường hợp, đau khổ là cần thiết… dù phải có nó, nhưng càng phải sống với nó ngay bây giờ!”  Chúng ta cũng có thể hiểu nó như là một tin tuyệt vời!  Người ta có thể sống, từ trái đất này, sự chuẩn bị tuyệt vời này cho cuộc sống trên thiên đàng và thấy trước, ngay cả trước khi chết, những niềm vui trên Thiên Đàng!  Đây là một trong những học thuyết truyền thống nhất được tìm thấy trong học thuyết về đêm tối của Thánh Gioan Thánh Giá.  Theo ngài, đêm tối không gì khác hơn là một luyện ngục được trải nghiệm trên trái đất, vốn chuẩn bị cho sự kết hợp tình yêu với Thiên Chúa ở trung tâm tâm hồn.  Nhưng thực sự ngài đang nói về điều gì?  Hãy để cha Wilfrid Stinissen (1927-2013) nói cho chúng ta về điều này: vị tu sĩ Cát Minh người Bỉ này đã trở thành bề trên tu viện của mình ở Thụy Điển và được công nhận là một trong những chuyên gia giỏi nhất về Thánh Gioan Thánh Giá vào cuối thế kỷ 20.

Vào thời điểm nào của đời sống thiêng liêng?

Nơi các Kitô hữu, có nhiều giai đoạn của đời sống thiêng liêng: giai đoạn mà chúng ta bắt đầu bước theo Chúa Kitô một cách cương quyết hơn; giai đoạn mà cuộc sống với Ngài trở nên giống như hơi thở tự nhiên.  Nhưng cuộc hành trình vẫn chưa kết thúc.  Như cha Wilfrid giải thích: “Chúng ta bị cám dỗ để tin – đặc biệt khi đọc các sách thần bí – rằng chúng ta đã tìm ra con đường, và bây giờ vấn đề là phải tiếp tục con đường này cho đến hết đời, sự nghỉ ngơi sẽ trở nên sâu xa hơn bao giờ hết, sự thỏa mãn càng lớn hơn” (La nuit comme le jour illumine, trang 18).

Trên thực tế, mọi thứ chỉ mới bắt đầu.  Sau khi đã trải nghiệm đủ lâu một cuộc sống gần gũi với Thiên Chúa, cảm nghiệm được sự hiện diện của Ngài ở trung tâm tâm hồn, giờ đây linh hồn đã sẵn sàng, nó đủ gắn bó với ý muốn của Ngài, để trải qua một cảm nghiệm đau đớn hơn, một cuộc thanh tẩy sâu sắc hơn vốn có hai khía cạnh, “khía cạnh luân lý và khía cạnh hữu thể học” (tr. 19).

Sự thanh tẩy luân lý

Khía cạnh luân lý của đêm tối gắn liền với sự thánh thiện quá vĩ đại của Thiên Chúa.  Khi Chúa đến gần một linh hồn, ánh sáng rất tinh tuyền của Ngài làm nổi bật những vùng tối tăm ẩn giấu nhất.  Lúc đó, linh hồn trải qua một trải nghiệm khó có thể chịu đựng được.  Tội lỗi và nỗi khốn cùng của nó được đưa ra ánh sáng, không phải để nó tuyệt vọng, nhưng để nó hiến thân, với sự nhỏ bé và yếu đuối của mình, cho ngọn lửa thiêu đốt của Lòng Thương Xót của Chúa.  Cha Wilfrid nói: “Điều hết sức quan trọng là phải hiểu rằng nỗi đau khổ trong đêm tối không phải do sự vắng mặt của Chúa gây ra.  Ngược lại, chính sự hiện diện của Thiên Chúa – một sự hiện diện theo một cách nào đó quá mãnh liệt và vượt quá khả năng của linh hồn – là nguyên nhân của mọi nỗi buồn của đêm tối.  Thánh Gioan Thánh Giá không ngừng lặp lại rằng đêm tối xuất phát từ tình yêu “quá vĩ đại” của Thiên Chúa” (tr. 20).

Sự biến đổi hữu thể học

Nhưng đêm tối không chỉ là “sự thanh lọc.”  Nó cũng là một “sự biến đổi” để những lời của Thánh Phaolô được thể hiện trong linh hồn: “Với Chúa Kitô, tôi bị đóng đinh.  Không phải là tôi sống nữa mà là Chúa Kitô sống trong tôi” (Ga 2,19-20).  Người nào đã nhìn thế giới và các sinh vật theo cách của con người, giờ đây sẽ nhìn chúng bằng con mắt của Chúa.  “Hoa hồng” không còn là một loài cây kỳ diệu nói với họ về vẻ đẹp của Thiên Chúa nữa: nó trở thành một lời của Chúa Cha mặc khải cho họ tất cả vẻ đẹp của Lời Ngài, trong Người Ngài đã tạo dựng nên mọi sự.  Họ không còn yêu thương anh em mình bằng sức lực con người nữa, nhưng bằng tình yêu của chính Chúa Thánh Thần.  Không còn là họ phải “chịu đựng” một đồng nghiệp khó quản lý: chính Chúa Giêsu đã yêu người đó qua họ, bằng chính Trái Tim của Người.  Nhưng trước khi đạt được trạng thái hạnh phúc này, cần phải ưng thuận trải qua một quá trình chuyển đổi đau đớn:

Sức mạnh của linh hồn không ngay lập tức chấp nhận rằng họ không còn có thể hành động theo cách thông thường nữa.  Phải mất thời gian trước khi họ hoàn toàn buông mình cho Thiên Chúa và học cách lắng nghe những tín hiệu đến từ bên trong, thay vì chiếm lấy đối tượng của họ một cách tàn nhẫn.  Phải mất thời gian trước khi móng vuốt phát triển thành những an-ten nhạy cảm.  Trong khi chờ đợi sự biến đổi này, chúng ta lơ lửng giữa trời và đất (NO II 6, 5).  Chúng tôi không còn có thể hành động như trước nữa, chúng tôi cảm nghiệm sự hoàn toàn bất lực của mình” (tr. 23).

Bằng lòng đi vào mầu nhiệm thập giá

Tóm lại: do đó rất có thể sống “luyện ngục” này trên trái đất.  Đó là sự triển nở của tâm hồn, vốn cho phép nó sống từ trần thế này trong niềm vui của cuộc sống thiên đường.  Nhưng để làm được điều này, cần phải ưng thuận đi sâu vào mầu nhiệm Thập Giá một cách trọn vẹn.  “Luyện ngục” này thường xảy ra nơi những người Kitô hữu sau một thời gian dài thân mật với Thiên Chúa.  Nó mang hình thức một cuộc thanh tẩy những cội rễ sâu xa nhất của tội lỗi và một sự biến đổi tâm hồn.  Mặc dù trải nghiệm đó rất đau đớn – nó có thể có hàng ngàn hình thức! – nhưng đây có lẽ là ân sủng đẹp nhất mà Thiên Chúa có thể ban cho con người trên trái đất này.  Đêm tối này, như Thánh Gioan Thánh Giá đã nói, là một đêm tối thực sự hạnh phúc vì nó dẫn chúng ta đến sự kết hợp sâu sắc với Đấng đã yêu thương chúng ta biết bao.

Baptiste de l’Assomption o.c.d. – Tý Linh Chuyển ngữ từ: fr.aleteia.org (20.01.2024)
Nguồn: 
xuanbichvietnam.net

Ở HIỀN GẶP LÀNH

Cha ông ta vẫn thường dạy con cái: “Ở hiền gặp lành.”  Người ăn ở hiền lành, người sống có nhân, có nghĩa ắt trời sẽ ban cho nhiều phúc lộc dư tràn.  Ngược lại, nếu sống ác nhân ác đức, trời sẽ quả báo những tai họa khó lường.

Thế nhưng, hiền lành có phải là “tĩnh tọa như Bụt?”  Ai muốn làm gì thì làm hay không?  Thưa không, mà hiền lành ở đây là biết sống đúng với vị trí của mình.  Là biết sống đúng với phẩm giá của mình.  Là biết tôn trọng phẩm giá của mình.  Một con người có phẩm giá cao đẹp là một con người có lý trí đủ để suy biết điều hay lẽ phải, có ý chí vững mạnh để không bị sự gian ác làm hại bản thân và tha nhân, có sự chọn lựa đúng đắn và chuẩn mực về cái hay, cái đẹp, cái phải, cái trái.  Là người phải biết phân biệt phải quấy.  Biết nói không với điều ác.  Không thỏa hiệp với gian tà.  Vì “im lặng là đồng lõa” và hùa theo là “đồng phạm.”  Người không có trí khôn, làm theo lời người khác thì không có tội, nhưng người hiền lành không thể làm chuyện ác, chuyện lừa dối để rồi đổ lỗi cho hoàn cảnh.  Nếu đổ lỗi cho hoàn cảnh thì trên đời này ai phạm tội cũng vì hoàn cảnh mà ra.  “Túng quá hóa liều,” “Nóng mất khôn,” “Tức nước vỡ bờ.”  Trong một phân tích về lý do phạm tội của các tù nhân thì có 80% tội nhân cho rằng mình phạm tội là do hoàn cảnh.  Như vậy, sự hiền lành là một thái độ sống dung hoà với mọi người.  Sự hiền lành sẽ giúp cho con người hành xử theo tình, theo lý và theo lẽ phải nhưng với một thái độ ôn hòa với đầy lòng bác ái bao dung.

Hôm nay Chúa nói: “hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.”  Sự hiền lành của Chúa không phải là đi tìm sự thỏa hiệp với thế gian.  Chúa không im lặng trước sự dữ.  Chúa đã từng lên án gắt gao thói giả hình và gian tà của những kẻ biệt phái.  Chúa đã từng xua đuổi con buôn ra khỏi đền thờ.  Chính vì những điều Chúa làm, những lời Chúa nói đã ảnh hưởng đến miếng cơm manh áo, đến địa vị, chỗ đứng của các người biệt phái mà người ta tìm cách giết Chúa.  Sự hiền lành của Chúa là vì công lý mà chịu nhiều thiệt thòi không kháng cự.  Vì dám nói sự thật mà phải chết nhục nhã trên cây thập giá, nhưng Ngài không oán hận, và còn xin cùng Chúa Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.  Chúa đấu tranh nhưng bất bạo động, vì “ai dùng gươm sẽ chết vì gươm,” “oán báo oán, oán chập chùng” và còn tha thứ cho sự xúc phạm của tha nhân không chỉ “7 lần mà là 70 lần bảy.”

Trong tám mối phúc, Chúa đã chúc phúc những cho ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nườc Trời là của họ.  Như thế hiền lành ở đây là sống thật và làm chứng cho sự thật.  Không nhượng bộ, không thỏa hiệp với dối gian.  Cho dù vì lẽ công chính mà mình bị bách hại, bị thiệt thòi vẫn chấp nhận, vì phần thưởng của chúng ta là Nước trời.

Sự hiền lành của Chúa còn hệ tại ở sự cảm thông với lỗi lầm của người khác.  Không thành kiến đối với những người bị xã hội ruồng bỏ.  Ngài yêu thương họ.  Ngài đến để đối thoại với họ.  Ngài mở cho họ một con đường mới.  Ngài giúp họ làm lại cuộc đời như Madalena, như Giakêu, hay như người thiếu phụ bên bờ giếng Giacóp.

Sự hiền lành thường đi song song với khiêm tốn.  Hiền lành để tha nhân dễ gần chúng ta và khiêm tốn để ta dễ hòa đồng với tha nhân.  Tuy hai nhưng là một mục đích.  Tạo cơ hội cho chúng ta đến với tha nhân và tha nhân đến với ta.  Kẻ kiêu căng thường phân loại để chơi.  Người khiêm nhường thì đối xử mọi người như nhau.  Người hiền lành ai cũng muốn tới gần.  Kẻ gian ác ai cũng chạy xa.  Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường nên ai cũng có thể tiếp xúc với Ngài, và Ngài cũng có thể gặp gỡ trao đổi với mọi người.  Từ em bé đến người già.  Từ người giầu có đến kẻ hèn.  Từ người công chính đến tội lỗi.

Xin Chúa giúp chúng ta biết học nơi trái tim yêu thương của Chúa: “sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng.”  Ngài không ở trên cao nhưng tự hạ mặc lấy thân phận con người.  Ngài còn dạy chúng ta bài học khiêm tốn khi quỳ gối rửa chân cho các môn đệ.  Một cử chỉ khiêm tốn đến nỗi Phêrô đã bộc trực thốt lên: “Không đời nào Thầy lại rửa chân cho con sao?”  Đó là một sự tự hạ không ủy mị hay luồn cúi mà là bài giáo huấn sống động về tinh thần hy sinh phục vụ lẫn nhau.  Ngài đã dạy chúng ta hãy sống đúng với thân phận con người là lệ thuộc vào Chúa.  Ngài đã dạy chúng ta hãy hạ mình để sống hòa hợp với tha nhân.  Đừng tự cao tự đại để gạt Thiên Chúa ra bên ngoài như Adam – Evà năm xưa chỉ dẫn tới diệt vong.  Đừng tự cao tự đại đến nỗi đè bẹp người khác để mình được tôn vinh.  Đừng khinh bỉ người tội lỗi, bất hạnh nhưng yêu thương và tôn trọng họ.  Và trên hết, hãy mang lấy tâm hồn trẻ thơ để luôn đơn sơ và bé nhỏ trước mặt Chúa, trước mặt tha nhân.  Vì sự đơn sơ và bé nhỏ là dấu chỉ đặc thù của sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng.  Đây cũng là phương thế để chúng ta đón nhận mạc khải Nước Trời và đón nhận tình thương của Chúa tuôn đổ xuống trên cuộc đời chúng ta.  Amen.

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

PHỤC SINH TRONG THUYỀN

“Rồi Người trỗi dậy, ngăm đe gió và biển: biển liền lặng như tờ.”

“Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời!” – Thư Hipri.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay tiết lộ: Đấng “vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” lại ngủ trong một con thuyền giữa bão tố.  Chính qua đó, Matthêu kín đáo kể câu chuyện ‘phục sinh trong thuyền.’

Các môn đệ đánh thức Chúa Giêsu giữa cơn bão.  Nhưng Matthêu không viết đơn giản: “Ngài thức dậy.”  Ông dùng động từ Hy Lạp egertheis – “trỗi dậy,” một động từ sẽ ngân vang ở cuối Tin Mừng.  Matthêu cũng không giữ chi tiết “chiều đến” của Marcô, vì điều ông muốn nhấn mạnh không phải là thời điểm, nhưng là chính con người Chúa Giêsu.  Ông còn gọi cơn bão là seismos, “cơn địa chấn,” một từ sẽ trở lại dưới chân thập giá và ngôi mộ trống vào một buổi sớm khi trời còn tờ mờ.  Như vậy, ngay giữa cảnh biển động, Matthêu đã gieo một âm vang Phục Sinh.

Con thuyền từ rất sớm đã trở thành hình ảnh Hội Thánh.  Sự hiện diện của Chúa Giêsu không làm sóng gió biến mất; nhưng chính giữa bão, đức tin mong manh của các môn đệ mới được phơi bày.  Vậy mà Hội Thánh không chìm, không phải vì con thuyền vững chắc, cũng không vì các môn đệ chèo giỏi, nhưng vì Chủ thuyền vẫn ở đó.  Hoá ra, nền tảng của Hội Thánh không nằm ở sức mạnh con người, nhưng ở Đấng không bao giờ rời con thuyền của mình.  “Hãy biết rằng Đức Kitô luôn ở với bạn, cho đến tận thế.  Nếu Đức Kitô ở với tôi, tôi còn sợ gì?” – Gioan Kim Khẩu.

Có những cơn bão không nổi lên ngoài biển, nhưng âm thầm nổi lên trong lòng một dân đã quên công lý.  Amos đã nghe tiếng gầm của cơn bão ấy từ lâu: “Sư tử đã gầm lên: ai mà không sợ hãi?” – bài đọc một.  Điều Thiên Chúa dẹp yên không chỉ là sóng gió bên ngoài, mà còn là hỗn mang trong lòng người.  Con thuyền ấy cũng là con thuyền của giáo xứ, cộng đoàn, gia đình và mỗi người chúng ta.  Điều đáng sợ không phải sóng lớn, nhưng là khi chúng ta để nỗi sợ lèo lái đời mình.  Vì thế, chúng ta cần Đấng “vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” hướng dẫn.  Lời cầu của Thánh Vịnh trở nên rất thật: “Xin lấy đức công chính của Ngài mà hướng dẫn con!”

Anh Chị em,

Con thuyền rồi cũng cập bến, không phải vì biển đời hết bão, nhưng vì Đức Kitô đã đi trọn hành trình ấy trước.  Ngài đã đi qua thập giá để mở lối vào vinh quang Phục Sinh.  Vì thế, con thuyền của Hội Thánh và của mỗi người vẫn có thể tiếp tục hành trình.  Đức Lêô XIV nhắc rằng, cơn bão chưa phải là câu hỏi lớn nhất; câu hỏi lớn nhất vẫn là: “Người này là ai?”  Khi nhận ra Đấng đang ở trong thuyền là ai, nỗi sợ không còn cầm lái.  “Khi Đức Kitô bước vào thuyền, gió liền yên!” – Hilary of Poitiers.  Chính vì thế, ‘phục sinh trong thuyền’ không chỉ là câu chuyện của biển hồ Galilê, nhưng còn là niềm hy vọng của mọi con thuyền đang hướng về Nước Cha trên trời.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin gìn giữ Hội Thánh giữa biển đời; nâng đỡ chúng con trong mọi thử thách; và cho chúng con luôn nhận ra Chúa đang ở trong con thuyền của mình!”  Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)