KHÔNG TIN – VẪN ĐƯỢC SAI

“Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng.”

“Đức tin không phải là kết quả của suy nghĩ, nhưng là kết quả của một cuộc gặp gỡ!” – Bênêđictô XVI

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không khen ngợi một niềm tin vững vàng rằng Thầy đã sống lại, nhưng là những lời khiển trách vì các môn đệ không tin và cứng lòng.  Đức tin không đến từ suy nghĩ, nhưng từ gặp gỡ; và ‘dù không tin,’ họ ‘vẫn được sai’ – một nghịch lý khó chấp nhận.

Marcô đã tài tình tóm tắt các lần hiện ra của Chúa Phục Sinh; tuy nhiên, qua đó, việc các môn đệ “không tin” không chỉ là một phản ứng tâm lý, nhưng là việc họ không nhận ra Đấng đã tỏ mình; không phải vì thiếu chứng từ, nhưng vì lòng chưa mở ra.  Vì thế, điều Chúa Giêsu khiển trách không chỉ là sự nghi ngờ, nhưng là một sự “chậm mở” trước một thực tại mang tính quyết định đã xảy đến; và đó cũng là điều có thể xảy ra nơi chúng ta.  Đôi khi, không phải vì thiếu ánh sáng, nhưng vì chúng ta chưa sẵn sàng để thấy.

Vậy mà, Chúa Giêsu không dừng lại ở việc họ không tin, Ngài lập tức sai các ông đi.   Incredulitas không loại trừ missio, nhưng mở ra chính sứ vụ; không phải khi họ đã hoàn toàn tin, nhưng ngay khi họ còn đang trên đường đến với đức tin.  Và cũng chính nơi đó, chúng ta nhận ra mình: Chúa không đợi đến khi chúng ta vững vàng rồi mới sai đi, nhưng ngay trong những chần chừ và nghi hoặc, lời sai đi vẫn không ngừng vang lên – ‘không tin – vẫn được sai!’  “Thiên Chúa không chọn người xứng đáng, nhưng làm cho người được chọn trở nên xứng đáng!” – Phanxicô.

Vì thế, điều xảy ra nơi các tông đồ không dừng lại ở kinh nghiệm riêng, nhưng trở thành lời chứng: “Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra” – bài đọc một.  Đức tin – một khi phát sinh từ một cuộc gặp gỡ – không thể khép kín, nhưng tự nó mở ra thành sứ vụ.  Đức Phanxicô nhấn mạnh: đức tin hoặc mang chiều kích truyền giáo, hoặc không còn là đức tin; không phải để giữ cho mình, nhưng để trao ban, không chỉ bằng lời nói, nhưng bằng chính đời sống.  Và khi đó, điều đã thấy không thể giữ lại, điều đã tin không thể không nói ra.

Anh Chị em,

Nơi Đức Giêsu Kitô, đức tin không còn là một tiến trình phải đi tới, nhưng là một tương quan được sống trọn vẹn.  Ngài tin Cha một cách tuyệt đối, không chỉ trong vinh quang, nhưng cả trong khổ đau; ngay tại vườn Dầu, khi mọi sự dường như sụp đổ, Ngài vẫn thưa: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha.”  Vì thế, nơi Ngài, không có khoảng cách giữa tin và được sai; chính trong sự phó thác trọn vẹn ấy, sứ vụ đạt tới cùng đích và trở thành ơn cứu độ.  Và cũng từ đó, chúng ta nhận ra rằng, đức tin không lớn lên khi mọi sự rõ ràng, nhưng khi dám phó thác, ngay trong những điều mình chưa hiểu.  “Để đạt tới điều ngươi không biết, ngươi phải đi qua con đường ngươi không biết!” – Gioan Thánh Giá.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Giêsu, dù lòng con chưa vững, xin vẫn cứ sai con.  Xin cho con biết yêu mến việc gặp Chúa mỗi ngày, để không giữ lại điều đã thấy, và không nín lặng điều đã tin!”  Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

CUỘC SÁNG TẠO MỚI

Ngày thứ nhất của nhân loại cũ

Từ khởi thuỷ, sau khi dựng nên trời đất muôn vật, Thiên Chúa lấy bùn đất dựng nên Ađam.  Mới đầu thân thể ông chỉ là một khối đất bất động, không hề có dấu hiệu của sự sống.

Thế rồi, Thiên Chúa thổi hơi vào lỗ mũi Ađam (St 2,7), tức thì Ađam bắt đầu mở mắt, cựa mình và vươn vai chỗi dậy thành một con người đầy sức sống và được trở thành thuỷ tổ loài người đông đảo trên khắp trái đất.

Đó là ngày thứ nhất của lịch sử loài người, ngày khai sinh nhân loại cũ, khởi đi từ con người đầu tiên được Thiên Chúa tạo dựng, thông ban sự sống và những phẩm tính cao đẹp của Ngài.

Tiếc thay, con người tuyệt vời được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh Ngài lại lâm vào vòng sa đọa, đánh mất phẩm chất cao đẹp mà Thiên Chúa đã phú cho và phải mang lấy án phạt đời đời nên Thiên Chúa phải thực hiện kế hoạch kiến tạo một nhân loại mới.

Ngày thứ nhất của nhân loại mới

Thế rồi, “vào ngày thứ nhất trong tuần – và cũng là ngày thứ nhất trong lịch sử nhân loại mới – nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái.  Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Chúc anh em được bình an!” (Ga 20, 19-22)

Kế đó, như thời khởi thuỷ, Thiên Chúa thổi hơi vào lỗ mũi Ađam để thông truyền sự sống cho ông, thì nay Chúa Giêsu cũng thổi hơi trên các tông đồ đang co cụm như những xác không hồn để thông ban Chúa Thánh Thần cho họ: “Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20, 22)

Thế là từ đây, các tông đồ bắt đầu đón nhận sức sống mới, các ông được hồi sinh, được trở nên can đảm mạnh mẽ, thoát ra khỏi căn phòng đóng kín như hầm mộ u tối chôn vùi các ông suốt mấy tuần qua để ra đi khắp các nẻo đường, hô vang Tin Mừng cứu độ.

Đó là ngày thứ nhất trong tuần đồng thời cũng là ngày thứ nhất trong lịch sử của nhân loại mới.

Ngày thứ nhất trong cuộc đời người môn đệ

Vậy mà cho đến hôm nay, sau hơn hai ngàn năm Chúa Giêsu khai sinh nhân loại mới, vẫn còn trong ta sự ương ngạnh của Ađam, muốn sống theo dục vọng của mình bất chấp lời giáo huấn của Thiên Chúa.  Vẫn còn trong ta tính ù lì khiếp nhược của các tông đồ sau biến cố Thầy Giêsu thụ nạn, tự giam mình trong phòng kín như mộ địa tối tăm.  Vẫn còn trong ta con người ích kỷ chỉ biết sống cho mình, cho gia đình mình mà chưa mở ra với tha nhân và lối xóm.

Thế nên, hơn lúc nào hết, chúng ta cần Chúa Giêsu hiện đến thổi hơi truyền ban Thần Khí cho chúng ta như Ngài đã thực hiện cho các tông đồ xưa, để chúng ta được hồi sinh, được vượt ra khỏi ngục tù do lòng tham lam ích kỷ dựng nên, thoát ra khỏi mộ địa do chính sự hèn yếu của chúng ta vây bọc.

Và nhờ đó, ngày thứ nhất trong cuộc đời người môn đệ được khai mở trong ta.

Lm Ignatiô Trần Ngà

CHẾT VÀ SỐNG LẠI 

Đức Giê-su đã chết và đã sống lại!  Đó là khẳng định của Ki-tô giáo từ hai mươi thế kỷ nay.  Đó cũng là cốt lõi lời rao giảng của Giáo hội Ki-tô, ngay từ những ngày đầu.

Trước hết, chúng ta phải xác định: Chúa Giê-su đã chết trên cây thập giá.  Bởi lẽ nếu Người không chết, thì không thể nói đến sống lại.  Một người được coi là “sống lại” tức là người trước đó đã chết thực sự.  Trong lịch sử, cũng đã có những lập luận cho rằng Đức Giê-su chỉ chết lâm sàng mà không chết thật, sau đó Người hồi sinh.  Cả bốn tác giả Phúc âm đều khẳng định: Đức Giê-su đã chết khi còn bị treo trên thập giá, và đã được an táng trong mồ.

Đức Giê-su là Con Thiên Chúa nhập thể làm người.  Người cũng là Thiên Chúa quyền năng.  Vì thế thân xác của Người không bị chi phối theo quy luật vật lý thông thường, và việc Người từ cõi chết sống lại cũng không phải là bất khả thi.  Các tông đồ đều làm chứng, Chúa Giê-su đã sống lại.  Phê-rô vốn là một người dân chài đơn sơ ít học, nhưng đã trở nên can đảm lạ thường.  Trước Công nghị Do Thái, ông dõng dạc khẳng định: Đức Giê-su là Đấng Thiên sai mà Thiên Chúa của Tổ phụ chúng ta đã hứa.  Người đã bị chính quý vị hành hạ, đóng đinh và giết chết.  Thiên Chúa đã làm cho Người phục sinh, như lời Thánh Kinh, và chúng tôi xin làm chứng về điều ấy.  Trước đó, ông cũng công khai giảng dạy trước cử tọa đông đảo khách hành hương về Giê-su-sa-lem nhân ngày lễ Ngũ Tuần.  Bài giảng của ông đầy lửa và Thần Khí, nên đã có ba ngàn người xin theo Đạo.

Ngay từ thời sơ khai, Giáo hội Ki-tô đã suy tư về cái chết và sống lại của Chúa Giê-su với lăng kính phụng vụ.  Cái chết của Chúa Giê-su đích thực là một hy tế, nhằm tôn vinh Thiên Chúa.  Trên cây thập giá, Đức Giê-su dâng hiến chính thân mình làm của lễ, thay cho những của lễ cũ được quy định bởi Luật Môi-sen, như chiên, cừu, mỡ động vật, máu bò…  Tác giả thư gửi người Híp-ri đã nêu rõ: “Máu các con bò, con dê không thể nào xóa được tội lỗi.  Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Ki-tô nói: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể.  Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội.  Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây.  Con đến để thực thi ý Ngài” (Hr 10,4-7).  Như thế, theo Giáo lý Ki-tô giáo, kể từ cái chết của Chúa Giê-su, nhân loại không cần các hy lễ xưa nữa.  Hy lễ xưa chỉ là hình bóng, nay thực tại đã đến rồi thì hình bóng trở nên lỗi thời và phải nhường bước.  Vì vậy, mà trong bài Ca Thánh Thể (Tantum ergo) chúng ta hát: “hy lễ xưa nhường cho hy lễ mới”; hay bản dịch khác: “Phụng vụ xưa phải được thay, này đây nghi lễ mới”.

Về điều này, Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo viết: “Cái chết của Đức Ki-tô đồng thời vừa là hy lễ Vượt qua, mang lại ơn cứu chuộc tối hậu cho loài người, nhờ Con Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, vừa là hy lễ của Giao ước mới, cho con người lại được hiệp thông với Thiên Chúa, khi giao hòa con người với Thiên Chúa nhờ máu đổ ra cho muôn người được tha tội” (số 613).

Thánh Au-gút-ti-nô đã diễn tả rất sinh động và sâu sắc: “Người (Đức Giê-su) không có gì ở nơi mình để chết vì chúng ta, nếu Người đã không nhận lấy xác phàm phải chết của chúng ta.  Như thế, Đấng bất tử đã có thể chết.  Như thế, Người đã muốn ban sự sống cho loài người phải chết: vì chưng với những gì chúng ta có xưa, chúng ta không thể sống; cũng như với những gì là của Người trước kia, Người không thể chết” (Bài đọc II, Kinh Sách thứ Hai Tuần Thánh).  Thánh nhân muốn diễn tả: chết là bản tính của con người.  Con Thiên Chúa vốn không bao giờ chết, nhưng vì yêu thương nhân loại, nên đã mang lấy xác thịt để có thể chết.

Khi suy tư về cái chết và sự phục sinh của Đức Giê-su, Ki-tô hữu được mời gọi nhận ra cái chết và sống lại của Người nơi chính bản thân mình.  Thánh Phao-lô quảng diễn: “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” ( 2 Cr 4,10).  Thật là một điều kỳ lạ!  Chấp nhận chết với Chúa, thì có sự sống của Người nơi bản thân.  Khước từ chết với Người, sẽ không được chung phần vinh quang với Người.  Thực ra, nơi con người của chúng ta, sự chết và sự sống luôn hòa quyện đan xen.  Mỗi ngày chúng ta chết đi cho tội lỗi, ích kỷ, gian trá và những điều nhỏ nhen, thì niềm vui, sự an bình và lòng quảng đại lại được sinh ra và lớn lên trong chính tâm hồn và cuộc đời chúng ta.  Lời mời gọi sống lại với Chúa luôn vang lên trong cuộc đời của Ki-tô hữu chúng ta. “Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự.”  Đó là những cố gắng nỗ lực của một cuộc đời đã sang trang, muốn chuyển hướng định mệnh tương lai, không còn hướng xuống đất, nhưng hướng lên trời.

Nếu cái chết của Chúa Giê-su là một hy tế, thì cuộc sống của Ki-tô hữu cũng là một lễ dâng.  Thánh Phao-lô ngỏ lời với các tín hữu Rô-ma: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy ​hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa.  Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12,1).  Vâng, chính những cố gắng hy sinh, những thiện chí và quảng đại, những trách nhiệm của chúng ta đối với tha nhân, với môi trường, với công ích… đều là những của lễ đẹp lòng Chúa, nếu chúng được thực hiện với tâm tình vâng phục của Đức Giê-su.  Đó là cách thức thờ phượng mà Chúa muốn nơi chúng ta.

Trong cuộc sống hôm nay, cái chết vẫn luôn ám ảnh và hành hạ chúng ta.  Đó không chỉ là cái chết thể lý, mà còn là cái chết tinh thần, cái chết thiêng liêng.  Khi tuyên xưng: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, và sự sống đời sau,” Ki-tô hữu vừa xác tín vào sự sống lại của ngày tận thể, vừa khẳng định: hôm nay, ở đây, trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta có thể sống lại thực sự với Đức Ki-tô, nếu chúng ta cùng chết với Người.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TÌNH YÊU MẠNH HƠN CÁI CHẾT

Một trong những điều xem ra ngược đời nhất, là giữa tình yêu và cái chết có sự liên lạc chặt chẽ.  Kể cũng lạ kỳ: tình yêu là một giá trị tích cực, một khía cạnh phong phú của cuộc đời, là cao điểm của sự sống, thì tại sao khi nói tới tình yêu, người ta lại liên tưởng đến sự chết, là một mãnh lực phá hoại và dìm sự sống xuống đáy sâu?  Quả thật, một chân lý càng sâu sắc, thì càng có vẻ nghịch lý và không ngớt làm cho người ta bỡ ngỡ.  Tình yêu càng ở cao độ, càng có những đòi hỏi gắt gao và hầu như đặt con người trong thế chiến đấu: chiến đấu để loại trừ các chướng ngại, chiến đấu để đạt tới đối tượng của lòng mình.  Nhưng vì là một cuộc chiến đấu cam go, nguy hiểm, nên thường kết thúc bằng cái chết.  Do đó mà có những cái chết vì yêu: chết vì tình không được toại nguyện; chết vì muốn chung thủy với tình yêu; chết vì thương yêu quá đỗi.  Nhưng vì sao lại nói; Tình yêu mạnh hơn cái chết?

1. Chết và mãnh lực của tội

Chúng ta suy niệm về tình yêu và cái chết trong bối cảnh phụng vụ ngày thứ Sáu Tuần Thánh.  Ngày ấy, bóng Thập giá bao trùm lên khắp mặt địa cầu.  Một xác người treo trên cây gỗ.  Những giọt máu từ các vết thương loang lỗ chảy thấm xuống lòng đất.  Uy tín Con Thiên Chúa bị chôn vùi trong ô nhục.  Đó là một cái chết quá ư bi thảm!  Nhưng vì sao Người phải chết như thế?

Phải chăng vì ông Giêsu đã xách động quần chúng nổi loạn (Lc 23,2-5)?  Vì ông đã có ý tưởng phá hủy Đền thờ Giêrusalem (Mc 14,58; Mt 26,61)?  Vì ông đã phạm thượng khi tự xưng là Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa (Mt 26,65; Mc 14,64; Lc 22,71; Gn 19,7)?  Hoặc vì các kỳ lão ghen tương (Mc 15,10) và sợ dân chúng bỏ họ đi theo ông (Lc 22,2) hay vì môn đệ Giuđa muốn bán Thầy mình (Mc 14,10; Mt 26,14; Lc 22,3)?  Xét về các lý do chính trị, xã hội, chính Philatô xác nhận: ông Giêsu đã không làm điều gì đáng chết (Lc 22,14-23; Gn 19,4); và lời tự thú của Giuđa cũng chứng minh cho sự vô tội của Người : “Tôi đã nhúng tay vào một cuộc đổ máu oan uổng” (Mt 27,4).

Tất cả các hành vi phản bội, hận thù, ghen tương, cáo gian, bỏ vạ, hèn nhát, sợ sệt kia đều là những khía cạnh của tội một mãnh lực làm cho lòng người ra tối tăm và bị kiềm chế trong vòng nô lệ.  Đức Giêsu chính là Người Đầy Tớ Đau Khổ của Giavê (Is 52,13-53,12) và chỉ là nạn nhân vô tội của tội ác loài người.

Muốn hiểu đúng ý nghĩa cái chết trên Thập giá cũng như toàn bộ mầu nhiệm Đức Kitô, ta phải chọn cái nhìn thần học, nghĩa là nhìn như Thiên Chúa nhìn vào công việc Người làm.  Nhãn quan đó cho ta thấy: Đức Kitô đã chịu chết vì tội thế gian.  Người vô tội, đã tình nguyện trở thành tội vì ta và gánh chịu hậu quả của tội là cái chết trên Thập giá (2C 5,21).  Thánh Phaolô mô tả tội như một mãnh lực độc hại, chỉ tổ gây ra chết chóc (Rm 6,23; 1C 15,55).  Với cái chết như khí giới nguy hiểm ấy tội đã thống trị loài người (Rm 5,12-21; 6,20-23).

Theo quan niệm Thánh Kinh, tội là hành động phản bội Giao ước tình yêu, và như thế cắt đứt mạch sống nối liền chúng ta với trái tim Thiên Chúa.  Tội gây ra chết chóc toàn diện và vĩnh viễn cho loài người, nếu Thiên Chúa không tự động tái lập sự sống.  Người Do Thái trong Cựu Ước đã ý thức được điều đó.  Họ biết rằng tội và sự chết là những thực tại hệ trọng đến nỗi không thể dùng các lý lẽ thuần túy nhân bản để giải thích hết được.  Họ thoáng thấy: có bàn tay hắc ám của một mãnh lực ma quái nào đó đã nhúng vào và gây nên cơ sự ấy.  Sách Khôn ngoan viết: “Vì quỷ dữ ghen tương, nên sự chết đã đột nhập vào thế gian” (Kn 2,24).  Sự chết đây không phải là cái chết thể lý thuộc bản tính tự nhiên của con người như một tạo vật làm bằng bụi tro và sẽ trở về tro bụi (Kn 8,19), nhưng là chết trong tâm hồn, chết vĩnh cửu, mà cái chết thể lý từ nay chỉ là một hình ảnh.  Theo thánh Gioan, con rắn trong vườn Địa đàng chính là hiện thân của Satan, “đứa mê hoặc thiên hạ” (Kh 12,9; 20,2).  Còn theo thánh Phaolô, chính tội loài người phạm từ nguyên thủy dưới ảnh hưởng độc hại của Satan đã mở cửa cho sự chết đột nhập vào đời và dìm tất cả trong bóng tối tử thần (Rm 5,12-21).  Như một phản ứng dây chuyền, một khi tội xuất hiện, thì càng ngày càng chồng chất dồn dập và gieo rắc sự chết khắp nơi.  Tội mạnh như thác lũ và cái chết là bằng chứng chiến thắng của nó.  Nhưng hỏi rằng: Tội có thẳng nổi tình yêu ?

2. Sức mạnh sáng tạo của tình yêu

Tình yêu luôn sáng tạo và tìm ra được nhiều cách biểu hiện, lắm khi cũng bất ngờ.  Để thắng tội kiêu căng, Đức Kitô đã chọn sống khiêm hạ và tự hư-vô-hóa (Ph 2,6).  Để thắng tội tham lam hưởng thụ, Người đã chọn sống khó nghèo (2C 8,9).  Để thắng tính háo danh trần tục, Người đã như điên rồ chọn cái chết ô nhục trên Thập giá (1C 1 ,23).  Thiên Chúa hành động cách ngược đời, và vì Người là tình yêu, nên tình yêu thắng được tội và mạnh hơn cả cái chết.

Tình yêu bao hàm chiến đấu.  Chiến đấu đòi phải có năng lực.  Quả thật, Nước Trời chỉ dành riêng cho những người mạnh (Mt 11,12) và chính Tin Mừng là một sức mạnh giải phóng (Rm 1,16).  Thiên Chúa là Đấng dũng mạnh, vì Người đầy lòng yêu thương.  Cái chết trên Thập giá của Đức Kitô là một cái chết tự nguyện vì tình yêu: Người yêu mến Chúa Cha và yêu thương chúng ta.  Người chết vì vâng lời Chúa Cha để chuộc tội nhân loại.

Đàng sau cây Thập giá xảy ra một cuộc chiến đấu vô hình giành quyền sống chết giữa tình yêu và tội ác.  Một chiến thuật đánh đổi rất ngược đời đã bẻ gãy mũi nhọn của tội và vô-hiệu-hóa sức tàn phá của nó.  Thân xác Đức Kitô đã chết lạnh, và trở thành bất động trên cây gỗ.  Về mặt nhân loại, Người đã thua.  Người đã thực nghiệm trong chính bản thân mình sự bất lực tột độ, sự yếu nhược tận cùng của thân phận làm người là cái chết thể lý.  Mãnh lực tối đa của tội là gây ra cảnh chết: cái chết vĩnh cửu của tâm hồn, mà cái chết trong thời gian của thân xác là một hình ảnh.  Chúa Kitô vô tội không thể trải qua cái chết vĩnh cửu của tâm hồn.  Nhưng Người có thể dùng cái chết của thể xác mình thay cho cái chết vĩnh cửu của tâm hồn ta.  Người chết thay cho ta là như thế – cuộc đánh đổ ấy chỉ có thể thực hiện bởi vị Thiên-Chúa-làm-người, vì mầu nhiệm Đức Kitô thuộc cơ cấu bí tích, trong đó yếu tố nhân loại hữu hình là dấu chỉ và khí cụ của yếu tố thần linh vô hình (Vat II, GH 8).  Người chết về thể xác trong thời gian, để ta khỏi chết về tâm hồn trong vĩnh cửu.  “Người mặc lấy bản tính nhân loại từ nơi lòng Mẹ Maria, để giải thoát loài người khỏi tội lỗi nhờ các mầu nhiệm của thân xác Người” (Vat II, GH 55), nhất là nhờ mầu nhiệm cái chết của Người trên Thập giá.

Người đã bị sức mạnh của tội đẩy lui đến tận cùng: Người chịu chết trong thể xác, vì yêu ta.  Chính Người thực hiện điều Người đã nói: không thể yêu hơn là yêu đến chết vì yêu (Gn 15,13).  Chịu đựng được tột mức như thế không phải là bất lực, nhưng là dấu hiệu nói lên sức mạnh vô biên.  Tình yêu có bị giết cũng vẫn không chết.  Còn tội chỉ gây ra được cái chết là hết sức mình: đó là cái chết vĩnh cửu của tâm hồn ta, từ nay được đánh đổi với cái chết thể xác trên Thập giá của Con Thiên Chúa.  Nơi đây, tội bị mãnh lực vô biên của tình yêu giết chết và tiêu diệt tận căn.  “Tội bị kết án nơi thân xác Đức Kitô” trên cây gỗ (Rm 8,3).

Chính tình yêu  được chứng minh bởi ý chí tự nguyện chịu chết vì vâng lời Chúa Cha là sức mạnh làm cho thân xác Đức Giêsu sống lại vinh hiển, nghĩa là biến hình (Mc 9,1-9) từ trạng thái thân xác thường tình bị chi phối bởi các định luật thể lý, đến trạng thái thân xác sáng láng sống theo định luật của Thần Khí tự do.  Xuyên qua cái chết tự nguyện vì tình yêu, Đức Giêsu đã vượt từ thân phận tôi đòi của kiếp người trần thế đến thiên chức Chúa Tể được siêu thăng để bá chủ muôn loài, hầu làm rạng rỡ Chúa Cha (Ph 2,7-11).  “Vượt qua,” theo thần học thánh Gioan, có nghĩa là “trở về với Chúa Cha” (Gn 13,1).  Chính sức mạnh tình yêu, sức mạnh của Thần Khí Chúa Kitô và Chúa Cha, đã tái sinh tâm hồn ta qua bí tích Thánh Tẩy.  Cũng chính sức mạnh tình yêu ấy đang tiếp tục biến đổi tâm hồn ta nhờ Thánh Thể và lời tha tội, và sẽ biến hình cả thân xác ta khi ta sống lại trong ngày sau hết.

Tình yêu mạnh hơn cái chết, vì tình yêu tiêu diệt được?  Tội là căn nguyên sinh ra nó.  Hỡi tử thần, chiến thắng của ngươi đâu?  Nọc độc ngươi còn đâu? (1C 15,55).

3. Suy Tôn Thánh Giá

Ngày thứ Sáu Tuần Thánh, trên Núi Sọ, bóng Thập giá bao trùm lên khắp mặt địa cầu.  Một xác người treo trên cây gỗ…

Thập giá ô nhục đã trở nên Thánh giá vinh quang, ngai tòa vương quyền tình yêu, vì con người treo trên cây gỗ ấy là Con Thiên Chúa, tự nguyện chịu chết vì vâng lời Chúa Cha để chuộc tội thiên hạ.  Vinh quang Thiên Chúa biểu hiện trong tình yêu.  Ách thống trị của tình yêu luôn êm ái nhẹ nhàng (Mt 11,30).

Nhưng tình yêu của Chúa Kitô mạnh mẽ hơn cái chết, vì tình yêu đã thắng được tội ác.  Tình yêu ấy có tham vọng chinh phục lòng mọi người để lấp đầy bằng sự sống mới: sự sống bởi Thần Khí tự do, là Đấng biến đổi chúng ta thành con cái Chúa Cha.  Vì thế Thập giá ô nhục đã trở nên cây ban sự sống.

Thập giá ô nhục cũng đã trở nên ngai tòa phán xét: “Tội đã bị kết án nơi thân xác Đức Kitô.”  Tòa án thế gian đã phán xét Người và lên án tử cho Người; nhưng chính khi chịu đóng đinh trên Thập giá, Người, vô tội, đã lên án tội ác thế gian.  Song là một bản án khoan hồng, tha bổng cho những người sám hối ăn năn.  Người vừa phán xét, vừa cầu ân cho những kẻ phạm tội giết Người, mà không biết mình giết Con Thiên Chúa (Lc 23,34).  Từ nay Thập giá đã dựng lên giữa lịch sử loài người để trở thành phương tiện thánh hóa và cứu độ.  Ai ngước mắt nhìn lên thánh giá Đức Kitô mà tin nhận Người là Chúa Cứu thế, thì sự sống vĩnh cửu sẽ chảy tràn vào lòng họ.  Chính Thái độ đối với thập giá đã định đoạt số mệnh mọi người.

Trong lịch sử nhân loại chỉ có một người – mà người ấy lại chính là Con Thiên Chúa – đã chịu chết ô nhục trên thập giá vì yêu thương.  Tình yêu ngược đời ấy đã đảo ngược thế sự: từ nay mọi tủi nhục, uất ức, mọi chết chóc oan uổng, mọi thua thiệt đắng cay không còn vĩnh viễn luống công một cách phi lý vì lúc mà lý trí loài người không hiểu nổi nữa, thì chính Thiên Chúa tìm ra được một sáng kiến lạ lùng: thâu dụng những cái nghịch lý ấy vào kế hoạch cứu thế của Người.  Thập giá Đức Kitô là điểm quy tụ và siêu thăng tất cả mọi tủi nhục uất ức, mọi thua thiệt oan uổng của loài người, nhất là của những người không nói lên được với ai tiếng nói và nỗi lòng mình, lại cũng chẳng được ai hiểu biết, để làm nên sự thành công tối hậu, sau cái vẻ thất bại trước mắt, và đem lại vinh dự vinh hiển cho họ.  Bởi vì sức mạnh của Thiên Chúa tự biểu dương ra trong cảnh bất lực; khôn ngoan của Thiên Chúa thích khoác chiếc áo điên rồ.  Nhưng trong sự điên rồ, có tiềm ẩn một triết lý sâu xa; triết lý của tình yêu cứu độ được viết ra trên Thập giá.

Mọi người mang dấu Thánh giá trong lòng đều là chủ thể của Chúa Cứu thế.  Họ làm thành dân Thiên Chúa, quy tụ trong Giáo hội.  Họ xây dựng Nước Trời giữa lòng thế giới bằng cách làm cho tình yêu thống trị khắp hoàn vũ.  Từ trên Núi Sọ ngày thứ Sáu Tuần Thánh, bóng Thập giá bao trùm lên mặt địa cầu, để quy tụ mọi con cái Thiên Chúa đang tản mắc khắp nơi (Gn 12,51-52).  Thập giá Chúa Kitô là trung tâm điểm của lịch sử cứu độ, nhờ tình yêu đã thắng vượt cái chết.

Tình yêu mạnh hơn cái chết, vì Thập giá Chúa Kitô đã toàn thắng tội lỗi.

Ðức Cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

ĐỂ XEM TRỜI GIẢI NGHĨA TÌNH YÊU

Anh chị em thân mến,

Con người thời nào cũng đi tìm tình yêu.  Người ta nói nhiều về tình yêu, viết nhiều về tình yêu, hát nhiều về tình yêu.  Người ta dành những ngày đặc biệt cho tình yêu.  Thế nhưng, càng sống, người ta càng thấy một điều rất thật: nói về tình yêu thì dễ, nhưng hiểu cho đúng tình yêu lại rất khó.  Ai cũng muốn được yêu, nhưng không phải ai cũng biết yêu thế nào cho đúng.  Ai cũng thích nghe những lời ngọt ngào, nhưng không phải ai cũng đủ sức đi đến tận cùng của hy sinh, của tha thứ, của trao ban.

Bởi thế, nếu hôm nay có ai hỏi chúng ta: Tình yêu thật là gì?  Yêu cho đúng nghĩa là gì?  Có lẽ không nơi nào trả lời sâu bằng phụng vụ Thứ Năm Tuần Thánh.

Nhà thơ Xuân Diệu có một câu rất đẹp: “Và để xem Trời giải nghĩa tình yêu.”

Tối nay, chúng ta đến đây, không chỉ để tham dự một nghi thức phụng vụ long trọng.  Chúng ta đến đây để xem Trời giải nghĩa tình yêu.  Bởi vì chỉ có Thiên Chúa là Tình Yêu, nên chỉ có Ngài mới có thể nói cho con người biết: yêu là gì.

1. Tình yêu thật không phải là giữ lại, nhưng là trao ban

Bài đọc thứ nhất đưa chúng ta trở về đêm Vượt Qua đầu tiên của dân Israel nơi đất Ai Cập.  Đó là một đêm rất đặc biệt, một đêm đầy khẩn trương, một đêm không thể quên.  Mỗi gia đình phải sát tế một con chiên, lấy máu bôi lên khung cửa.  Và chính nhờ máu ấy mà dân Chúa được cứu thoát khỏi tai ương, khỏi án phạt, khỏi kiếp nô lệ, để bước vào con đường tự do.

Nhưng câu chuyện ấy không chỉ là một biến cố lịch sử của dân Do Thái.  Đó còn là một hình bóng, một lời báo trước về một cuộc Vượt Qua lớn lao hơn, sâu xa hơn, cứu độ hơn.

Con chiên năm xưa chính là hình bóng của Đức Giêsu Kitô, Chiên Vượt Qua mới.  Nếu ngày xưa dân được cứu nhờ máu chiên, thì hôm nay nhân loại được cứu nhờ Máu của Con Thiên Chúa.

Và  trong bài đọc II, nói về bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã làm một điều không ai có thể tưởng tượng nổi: Ngài không chỉ nói về tình yêu.  Ngài không chỉ dạy phải yêu thương.  Ngài biến chính mình thành của ăn cho nhân loại.

“Này là Mình Thầy… Này là Chén Máu Thầy…”

Chưa bao giờ tình yêu đi xa đến thế.  Chưa bao giờ tình yêu hạ mình đến thế.  Chưa bao giờ Thiên Chúa ở gần con người đến thế.  Ngài không cho chúng ta một món quà bên ngoài Ngài.  Ngài cho chính bản thân Ngài.

Đó là định nghĩa đầu tiên và sâu nhất của tình yêu theo kiểu của Thiên Chúa: Tình yêu là trao ban chính mình, chính mạng sống của mình.

2. Nhưng tình yêu ấy không chỉ dừng lại trên bàn thờ, mà phải đi xuống tận đôi chân

Thế nhưng, nếu tình yêu chỉ dừng lại nơi bàn tiệc, thì vẫn chưa đủ.

Điều rất lạ là trong khi các Tin Mừng Nhất Lãm kể rất rõ việc Chúa Giêsu cầm bánh, cầm chén và lập Bí tích Thánh Thể, còn trong Tin Mừng Gioan lại không kể lại lời truyền phép.  Thay vào đó, thánh Gioan dẫn chúng ta đến một hình ảnh khác: Chúa Giêsu cúi xuống rửa chân cho các môn đệ.

Một hình ảnh vừa đẹp, vừa lạ, vừa gây ngỡ ngàng.  Bởi vì Đấng đang quỳ xuống đó không phải là một người đầy tớ.  Đó là Thầy, là Chúa, là Con Thiên Chúa.

Đôi tay đã dựng nên vũ trụ, giờ đây lại cầm lấy chân bụi đất của con người.  Đấng mà thiên thần thờ lạy, giờ đây lại quỳ xuống trước những con người yếu đuối, đầy giới hạn, thậm chí có kẻ sắp phản bội Ngài.

Tại sao Chúa lại làm như thế?

Bởi vì Chúa muốn cho các môn đệ hiểu một điều mà nếu chỉ nghe bằng tai thì chưa đủ, nhưng phải nhìn bằng mắt và cảm bằng tim: Ai đón nhận Thánh Thể, thì phải sống tinh thần của Thánh Thể.  Ai ăn Mình Chúa, thì phải biết sống như Chúa.

Mà sống như Chúa là gì?  Là biết cúi xuống. – Là biết phục vụ. – Là biết nhẫn nại. – Là biết chịu đựng nhau. – Là biết tha thứ – Là biết yêu nhau đến cùng.

Theo cách nghĩ của thế gian, cao là để được phục vụ.  Có quyền là để người khác nể mình.  Có vị trí là để người khác nghe mình.

Nhưng nơi Chúa Giêsu, mọi sự bị đảo ngược hoàn toàn: Theo Chúa, cao là để cúi xuống sâu hơn, có quyền có địa vị là để phục vụ nhiều hơn, yêu không phải là được nhận, mà là dám cho đi, dám hạ mình, dám mang lấy phần nặng của người khác.

Có lẽ đây là chỗ khó nhất của tình yêu.  Bởi vì nói yêu thì dễ, nhưng cúi xuống vì người mình yêu thì không dễ chút nào.

Cho nên, nếu tối nay Chúa chỉ lập Bí tích Thánh Thể mà không rửa chân cho các môn đệ, thì chúng ta vẫn có thể hiểu sai về tình yêu.  Chúng ta có thể nghĩ rằng yêu Chúa chỉ là chuyện của bàn thờ, chuyện của nhà thờ, chuyện của kinh nguyện.  Nhưng Chúa Giêsu muốn kéo tình yêu ấy xuống sàn nhà của đời thường, xuống chậu nước của phục vụ, xuống những tương quan cụ thể giữa người với người.

3. Thứ Năm Tuần Thánh là hành trình từ bàn tiệc đến chậu nước

Vì thế, Thứ Năm Tuần Thánh không chỉ là ngày Chúa lập Bí tích Thánh Thể.  Mà còn là ngày Chúa dạy chúng ta cách sống Bí tích Thánh Thể.

Có thể nói thật ngắn mà rất trúng như thế này:

Bí tích Thánh Thể được cử hành trong nhà thờ – còn việc rửa chân phải được thực hiện trong cuộc sống.

Bí tích Thánh Thể diễn ra trên bàn thờ –  còn việc rửa chân phải diễn ra trong gia đình, trong cộng đoàn, trong giáo xứ, trong từng tương quan mỗi ngày.

Bí tích Thánh Thể đưa ta đến với Chúa – còn việc rửa chân đưa ta đến với anh em.

Bí tích Thánh Thể dạy ta thưa với Chúa: “Con yêu mến Chúa” – còn việc rửa chân buộc ta chứng minh: “Con thật sự yêu người bên cạnh con.”

Cho nên, sống Thứ Năm Tuần Thánh là bước vào một hành trình rất rõ:

Từ bàn tiệc đến chậu nước. – Từ Thánh Thể đến bác ái.  Từ hiệp lễ đến hiến thân.

4. Và đây là lời mời gọi rất thật cho gia đình, cộng đoàn, giáo xứ của chúng ta

Tối nay, Chúa không mời chúng ta làm điều gì xa vời.  Ngài chỉ mời chúng ta bắt đầu từ những điều rất gần.

Rửa chân hôm nay không chỉ là nghi thức, mà là một lối sống.

Rửa chân là khi vợ chồng biết nhịn nhau một chút.  Rửa chân là khi cha mẹ biết lắng nghe con cái.  Rửa chân là khi con cái biết hiếu thảo với cha mẹ.  Rửa chân là khi anh chị em trong cộng đoàn biết bớt xét đoán, bớt làm đau nhau bằng lời nói và thái độ.

Có những người đi lễ rất đều, đọc kinh rất chăm, nhưng lại không sống hòa thuận được với những người xung quanh mình.

Cho nên, điều Hội Thánh cần hôm nay không phải chỉ là thêm nghi thức, mà là thêm tình yêu được sống thật.

Không phải chỉ cần những người giỏi nói về Chúa, mà cần những người để người khác có thể chạm được Chúa nơi cách sống của mình.

Ước gì mỗi lần tham dự Thánh Lễ, chúng ta không chỉ biết rước Chúa vào lòng, mà còn biết mang trái tim của Chúa vào cuộc sống.

Để rồi gia đình chúng ta sẽ bớt lạnh hơn, cộng đoàn chúng ta sẽ bớt tổn thương nhau hơn, giáo xứ chúng ta sẽ dịu dàng hơn, và đời sống chúng ta sẽ trở thành một lời chứng sống động rằng: Ở đây, người ta không chỉ nói về tình yêu, mà người ta đang sống tình yêu của Chúa.  Amen.

Lm Giuse Hồ Ngọc Vũ

THINH LẶNG LÀ MỘT CÂU TRẢ LỜI

Cuộc sống con người đôi lúc quá hối hả, ồn ào và bận rộn với mọi nhu cầu của cơm-áo-gạo-tiền và nhiều thứ khác, nên lắm lúc người ta chẳng còn giờ để lặng, để lắng và để nghe tiếng lòng mình.  Lắng nghe để thẩm, để thấu và để đi vào chiều sâu nội tâm của cõi lòng.  Lặng để chìm sâu vào và để tìm ra ý nghĩa hiện hữu của thân phận con người.  Người ta thường đòi hỏi mình phải được nói, được bày tỏ và được nói nhiều hơn để nghe.

Ta đòi hỏi, nói phải có người đáp, hỏi phải có câu trả lời, phải có phản hồi thì mới thỏa mãn con người bản năng tự nhiên của mình.  Nhiều lúc người ta bị cuộc sống lôi cuốn vào những vòng xoáy của sự hấp dẫn bên ngoài, lao vào những nhộn nhịp của hào nhoáng trước mắt và rồi, khi không đáp ứng được những thỏa mãn đó, người ta dễ mất đi niềm tin vào cuộc sống, đánh mất đi giá trị và ý nghĩa của sự hiện hữu.  Người ta dễ đi vào ngõ cụt và nhìn cuộc đời với cặp mắt tiêu cực, phủ đầy cám dỗ và không lối thoát.

Khác với con người, Thiên Chúa là Đấng yêu thích sự cô tịch và Ngài lại nói trong sự thinh lặng.  Sau những lần bận rộn với sứ vụ của mình, Đức Giêsu thường lui vào trong cô tịch, lên núi một mình để thầm thì, chuyện trò, để nguyện cầu cùng Thiên Chúa Cha.  Chính nơi sự thinh lặng đó, Ngài thường được kết hiệp một cách sâu xa với Chúa Cha và học lấy thánh ý Cha cho sứ mạng của mình.

Với thân phận con người yếu đuối và đầy những lo toan, đôi lúc ta muốn chìm vào thinh lặng đôi chút, nhưng bên trong ta, tâm hồn ta còn đầy những vướng mắc, đầy những sóng gió đang vô vập bởi những lo lắng và hoang mang, của những sợ hãi và vô vọng.  Ta chưa thể lặng để lắng được, sóng gió trong cõi lòng ta vẫn còn cuồn cuộn của lối sống tìm kiếm để lấp đầy cho bản năng, tâm hồn ta vẫn còn ồn ào với những toan tính của cuộc sống tạm bợ này, khiến sóng lòng vẫn chưa thể ngưng và lặng được.

Hãy cùng Giêsu trong chiều thứ Sáu Tuần Thánh này, đi vào một chiều sâu cô tịch và lặng chìm với Ngài trên đỉnh đồi Canvê hoang vu.  Lặng với Ngài để chiêm ngắm tình yêu và khám phá cùng đích của phận người là gì.  Dưới chân Thập Giá, hãy ghì chặt lấy chân Chúa Giêsu đang rỉ từng giọt máu, để kiếm tìm câu trả lời cho chính mình.  Ngài vẫn ghim chặt thân mình trên thập giá trong một sự tĩnh lặng tưởng chừng như vô vọng, nhưng kỳ thực “THINH LẶNG LÀ MỘT CÂU TRẢ LỜI” vĩ đại nhất của Thiên Chúa.

Thiên Chúa nơi Đức Giêsu trên đồi Gôngôtha ấy, Ngài vẫn thinh lặng đến tột cùng, tưởng chừng như hoàn toàn bất lực trước sự dữ.  Trên đồi hiu mông quạnh đó, không một tiếng than khóc ỉ ôi thương tiếc Con Thiên Chúa vô tội, nhưng là sự thinh lặng đến nghẹt thở của sự vô ơn và trở mặt của con người.

Nhưng sự thinh lặng của Thiên Chúa đó, không hề mở miệng than trách Thiên Chúa Cha và cũng không hề mở miệng lên án sự bất nhân, bất công và tội lỗi của con người.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để trao ban ơn tha thứ, van nài Chúa Cha tha thứ cho con người “vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34).  Là sự thinh lặng để Thiên Chúa cảm thông, chia sẻ phận người với nhân loại.  Là sự thinh lặng sâu thẳm để từng giọt máu giọt nước từ thánh thể Ngài thấm sâu vào tận cõi lòng của nhân gian, là để gột sạch và tẩy rửa mọi ô nhơ, tội lỗi của con người.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để chạm vào từng nỗi đau, từng vết thương đang rên rỉ than khóc của nhân loại, là để từng giọt nước mắt còn lăn trên gò má Ngài xoa dịu những nóng rát, cồn cào trong cõi lòng con người và để chữa lành những thương đau của kiếp người.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để máu và nước từ cạnh sườn Con Thiên Chúa trào tràn dội xuống và thấm vào lòng nhân loại, để xoa dịu những cơn đói cơn khát đang quằn quại rên siết và để ân sủng Thiên Chúa khỏa lấp sự trống rỗng trong cõi lòng con người.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để trở nên sức mạnh cho ơn cứu độ và để giải thoát con người khỏi cảnh trầm luân của sự chết, mang lại sự sống và hạnh phúc vĩnh cửu cho nhân loại.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để mở ra một cánh cửa mới, một lối đi mới cho con người, là khai thông ngõ cụt cho con người và để con người được tìm đến cùng đích là hạnh phúc cứu độ.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là từ cao trên Thánh Giá Ngài với xuống và đoái trông đến thân phận hèn yếu, tội lỗi của con người.  Là dang cánh tay ôm lấy trọn vẹn kiếp người và để cho con người được đi vào, được nên một và được kết hiệp vào thần tính với Thiên Chúa.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để cho Thiên Chúa có cơ hội và tự do đến với con người, chạm lấy trọn vẹn cùng khổ của con người và để con người được cảm nếm sự êm ái, dịu ngọt của Thiên Chúa.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để con người được lên núi và đi vào cô tịch, thoát ra những ồn ào của thế sự và buông bỏ những thứ không cần thiết, để làm no thỏa cơn đói sự thánh thiện của nhân loại.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là giúp con người lộ rõ được bản chất và sự trần trụi của chính mình, và cảm nhận được lòng thương xót bao la của Thiên Chúa.  Để con người được sống vô biên vô diệt và đạt tới sự tự do bất diệt của chính Thiên Chúa.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để giao hòa Trời Cao với Đất Thấp, để nối kết lại tương quan giữa Trời với Đất-tương quan bị phá đổ bởi Ađam cũ và nhờ Ađam Mới, kéo Trời Cao xuống gần với Đất hơn, để Trời nhập thể và nhập thế, sống đồng kiếp phàm nhân với con người.

Ngước nhìn thập giá, và Ngài vẫn lặng thinh – đó là câu trả lời cho mỗi chúng ta.  Ngài muốn ta chìm đắm trong cô tịch, cúi sâu lòng mình để khám phá giá trị và ý nghĩa qua từng biến cố của cuộc sống.  Ngài muốn ta học lấy sự thinh lặng và học cách đón nhận mọi sự trong thinh lặng để tìm đến cùng đích của kiếp người.  Bởi thinh lặng không có nghĩa là vô nghĩa, vô vọng; không là thất vọng, thất bại; không là chấm hết, kết thúc; nhưng là câu trả lời mở ra cho ta vô vàn lối thoát, cho ta sức mạnh để lớn lên trong ân sủng với Thiên Chúa.

Trong những nghịch cảnh tưởng chừng như bế tắc nhất, nghiệt ngã nhất, tuyệt vọng nhất mà con người phải đối diện, thì thinh lặng dường như là câu trả lời ý nghĩa hơn cả cho mỗi chúng ta.  Mọi sự rồi sẽ qua đi, chỉ còn lại Chúa đó, Ngài vẫn ở đó và kiên trì chờ đợi ta.  Một Giêsu trần trụi trên thập giá vẫn âm thầm và lặng lẽ tiếp bước trong ta.  Lặng thinh trên thập giá, Đức Giêsu Kitô muốn ta tiếp tục khám phá chính mình, khám phá và cảm nếm sự ngọt ngào, tươi mát hòa lẫn sự bình an sâu thẳm trong thinh lặng.  Ngài mời gọi ta tiếp tục đi tìm ý nghĩa câu trả lời “Thinh Lặng” cả hôm nay, ngày mai và suốt cuộc đời ta.

Cùng với Ngài bước lên đồi Gôngôtha của đời mình trong thinh lặng, để trên đỉnh đồi, ta được Ngài biểu lộ vinh quang phục sinh của Ngài cho cuộc đời ta.

Phaolô Nguyễn Văn Cầu C.P.

NỤ HÔN KHÔNG TÌNH YÊU

Nụ hôn diễn tả tình yêu.
Nụ hôn gửi gắm muôn điều thân thương.

Hôn là một hành động nhằm biểu đạt tình yêu.  Nụ hôn luôn được coi là “biểu tượng đẹp” trong tình cảm của con người.  Chữ hôn được ghép với nhiều chữ khác như hôn nhân, hôn ước, hôn phối, hôn lễ, thành hôn, kết hôn, tái hôn.  Chữ hôn đứng vai chủ động diễn tả hành động yêu thương, cử chỉ trìu mến, tác thành như tân hôn, kết hôn, thành hôn, tái hôn.  Chữ hôn dùng trong trường hợp cử hành các nghi thức mừng vui như hôn lễ, hôn phối, hôn ước.  Và chữ hôn còn dùng diễn tả sự kiện đau buồn, cô đơn như tiêu hôn.

Tân Ước có mô tả về hai nụ hôn khá tương phản.  Một của Giuđa, một của người phụ nữ tội lỗi trong Lc 7, 37.

Trong mái nhà Nagiaret, Mẹ Maria và thánh Giuse chắc chắn đã hôn Chúa Giêsu nhiều lần khi Ngài còn bé thơ, những lúc ẵm bồng âu yếm con trẻ trên tay, nhưng phúc âm đã không nhắc gì đến điều này.  Phúc âm chỉ kể lại có hai lần thôi Đức Giêsu được hôn trong cuộc đời rao giảng công khai.

Cả ba Tin Mừng Nhất Lãm đều nói đến cái hôn của Giuđa (Mt 26, 48-49; Mc 14, 44-45; Lc 22, 47-48).  Nét tinh tế của các tác giả Tin Mừng là ở chỗ này: Các ngài kể rằng Giuđa đã cho đám người đi bắt Đức Giêsu một dấu hiệu: “Tôi hôn ai thì chính là người đó” (Mt 26, 48//Mc Mc 14, 44//Lc 22, 47); chữ “hôn” ở đây là phileô.  “Ngay lúc đó, Giuđa tiến lại gần Đức Giêsu và nói: ‘Rabbi, xin chào Thầy!’, rồi hôn Người” (Mt 26, 49//Mc 14, 45); chữ “hôn” ở đây lại là kataphileô, “hôn thắm thiết, nồng nàn.”  Giuđa đã dùng một cử chỉ để diễn tả “tình yêu thương tha thiết, trọn vẹn,” “cái hôn thắm thiết,” để phản bội Đức Giêsu là Tình Yêu Thiên Chúa nhập thể!  Một trái tim phản bội che giấu hành vi bất lương dưới một cái hôn nồng nàn…

Cái hôn của người phụ nữ vô danh.  Đây là một “người phụ nữ tội lỗi trong thành”, nghĩa là “tội lỗi công khai” (Lc 7, 36-50).  Chị đã “đứng đàng sau, sát chân Đức Giêsu mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người.  Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên” (Lc 7, 38).  Chữ “hôn” ở đây là kataphileô, “hôn thắm thiết.”  Một tâm hồn tội lỗi đến gặp Đức Giêsu để thú nhận tình trạng bất chính của mình cùng với lòng kính trọng và tâm tình biết ơn sâu xa bằng những nụ hôn thắm thiết đặt lên chân Người…(Lm Vũ Phan Long, ofm; kinhthanh.org).

Giuđa hôn má của Thầy, ông đang đứng ở một khoảng cách rất gần trong tương quan với Chúa Giêsu.  Người phụ nữ tội lỗi hôn chân Thầy để biểu lộ lòng sám hối, cô ấy tự đặt mình ở một khoảng cách rất xa trong tâm hồn.

Nụ hôn của môn đệ nộp Thầy và nụ hôn của người đàn bà thống hối biểu tỏ lòng ăn năn.  Cùng một nụ hôn nhưng khác nhau về nội dung.  Hai nụ hôn này không chỉ khác về vị trí mà ánh mắt cũng rất khác lạ.  Kinh Thánh không mô tả thần thái của hai gương mặt này trong khi hôn.  Chỉ có Chúa mới đo được tình yêu của hai nụ hôn này và Ngài hiểu thấu tâm can của mọi hành vi, ngay cả khi hai người ấy chưa hành động.

Giuđa nói với đám người đông đảo mang gươm giáo gậy gộc: “Tôi hôn ai thì đó chính là Người, các anh bắt lấy” (Mt 26, 48).  Cái bi đát của tình yêu là dùng chính cử chỉ âu yếm nhất để phản bội tình yêu.  Nụ hôn của Giuđa đau hơn ngàn cái tát, nhục nhằn hơn dòng nước mắt, quặn thắt hơn vết thương sâu.  Chúa Giêsu ngỡ ngàng trước thái độ của Giuđa nên hỏi: “Giuđa ơi!  Anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao? (Lc 22, 48).  Chúa Giêsu không tưởng tượng được một môn đệ sau ba năm chung sống, bây giờ dùng nụ hôn chỉ điểm cho đám người đến bắt Ngài.  Nếu Giuđa dùng cái tát tai hoặc cú đấm để làm dấu chỉ thì Chúa đỡ đau lòng hơn.  Cái bi đát ở đây là Giuđa dùng chính cái hôn để phản bội tình yêu, dùng chính cái hôn để chà đạp sỉ nhục tình yêu.  Có nhiều cách phản bội, nhưng Giuđa đã chọn cách phản bội đau lòng nhất.

Giuđa đã dùng nụ hôn vốn là “ngôn ngữ yêu thương” để “chỉ điểm” và bán Thầy với giá “ba mươi đồng” (Mt 26, 15; Mt 27, 3.9).  “Ba mươi đồng” chỉ là số tiền nhỏ so với “ba trăm quan tiền” giá chiếc bình bạch ngọc đựng dầu cam tùng hảo hạng (Mc 14, 5; Ga 12, 5) mà người phụ nữ tội lỗi đã đập bể và lấy dầu xức chân Chúa Giêsu tại nhà ông Simon (Mt 26, 6-13; Mc 14, 3-9; Ga 12, 1-8).  Bán Thầy giá “ba mươi đồng” so với bình dầu “ba trăm quan tiền,” nên Giuđa tiếc nuối cho rằng cô kia làm như vậy là hoang phí (Mt 26, 8; Mc 14, 4).  Giuđa không ngay thẳng khi mượn danh người nghèo để trách lòng quảng đại của người phụ nữ: “Phí phạm dầu để làm gì?  Sao không bán để giúp cho người nghèo?”  Thánh Gioan nhận định: “Hắn nói thế không phải vì thương người nghèo đâu, nhưng vì hắn giữ tiền chung, hay bớt xén tiền của anh em.”  Khi lòng người đã không ngay thẳng, không thật thà, thì những hành động hoặc lời nói bên ngoài cũng sẽ không trung thực.

Hai nụ hôn bởi hai con người khác nhau, mang hai tâm tình khác nhau.  Hai nụ hôn bắt nguồn từ hai trái tim: một trái tim chất ngất yêu thương, còn một trái tim lừa lọc, bội phản.  Từ đó, hai trái tim đưa về hai nẻo lối khác nhau: một lối đi về mênh mông thiên đường, còn lối kia dẫn về ngục tù hun hút.

Chúa xét đến tâm tư thầm kín của từng người.  Giuđa đến hôn lên má Thầy, làm dấu hiệu cho người khác đến bắt Thầy.  Còn người phụ nữ tội lỗi đến hôn chân Chúa để tỏ lòng thống hối bên trong, xin ơn làm lại cuộc đời.  Bàn chân nằm ở vị trí thấp nhất.  Chọn chân để hôn nhằm chứng minh tình yêu, lòng khiêm cung, người hôn muốn nói lên sự bất tương xứng trong tình yêu của mình.

Cái hôn của Giuđa chỉ tốt ở bên ngoài, hợp với phong tục tập quán.  Người môn đệ hôn thầy mình đúng luật xã giao và hợp tình nghĩa, nhưng ý hướng bên trong thì thật xấu xa.  Còn nụ hôn của cô ấy bên ngoài không được thích hợp, nhưng bên trong chất chứa những ý hướng tốt đẹp.

Cuộc sống với giá trị bên trong mới đáng kể: nếu thấy một người có những hành động và thái độ xem ra không thích hợp với thói quen xã hội và tôn giáo, chúng ta đừng vội nghi ngờ và lên án.  Họ có thể không được xã hội đồng ý, không được đám đông chấp nhận, nhưng biết đâu trước mặt Chúa họ không có gì phải hổ thẹn và thua kém ai.  Điều mà mỗi người cần lo sợ đề phòng hơn hết là thái độ như Giuđa, dùng cái hôn, dùng việc đạo đức tốt lành bên ngoài để nộp Chúa, bán Chúa.  Đó là trường hợp người ta lợi dụng việc từ thiện việc đạo đức để kiếm tiền, dùng thế giá tôn giáo để xây dựng uy tín riêng mình, viện cớ tôn giáo để bắt nạt kẻ khác.  Nêu ra lý do đạo đức để khoe khoang bôi nhọ, nói xấu người khác….  Thiếu gì những người nhân danh Chúa để loại trừ Chúa và làm hại anh chị em xung quanh.

Nụ hôn Giuđa đã khiến cho cái chết của Chúa Giêsu vốn đã đau đớn lại thêm tê tái hơn.  Nụ hôn của Giuđa để lại một kỷ niệm buồn.  Hơn hai nghìn năm lịch sử vẫn không phai mờ, bởi Giuđa đã hôn Thầy bằng một nụ hôn không chút tình yêu.  Nếu mỗi nụ hôn trao nhau là một đóa hoa hồng, thì nụ hôn không chút tình yêu của Giuđa trở nên vòng gai nhọn trao cho Chúa Giêsu.

Suy ngẫm về nụ hôn không chút tình yêu của Giuđa là dịp cho ta nhìn lại chính mình: Giuđa đã phản bội Chúa bằng môt nụ hôn khéo léo lọc lừa, còn chúng ta thì sao?  Trong lời nói, suy nghĩ và hành động, có khi nào ta phản bội Chúa không?  Trong tương quan với tha nhân nhiều lần ta thiếu vắng tình yêu chăng?

Ngày thành hôn, đôi bạn trẻ thề non hẹn biển, nhưng không chừng ngày nào đó lời thề hứa ấy lại bay theo tiếng gọi của gió ngàn.  Yêu đòi phải hy sinh cho nhau.  Hy sinh là bảo chứng của tình yêu.  Khi chấp nhận đau đớn vì nhau thì tình yêu mới trọn vẹn, nụ hôn trao nhau mới thực sự là bằng chứng của tình yêu.

Linh mục tu sĩ cũng đã có những cái ôm hôn trong ngày khấn dòng hay trong ngày lễ phong chức.  Nghi thức trao hôn bình an của giám mục, của bề trên hay của người anh em cũng bào hàm một lời mời gọi yêu thương và trung thành với những điều đã khấn hứa, đã tuyên thệ.  Thế nhưng lời thế ấy vẫn dang dở đôi lần vì bất trung, tình yêu ấy đã có lúc mai một.

Ba năm theo Chúa, Giuđa luôn đi trong ánh sáng của sự bình an, tình yêu và hy vọng.  Nhưng cuối cuộc đời lại trở nên kẻ tối tăm phản bội.  Cuộc sống của chúng ta luôn có những người thân, những người bạn, những người đồng nghiệp… có ai ngờ được một lúc nào đó cũng là những kẻ phản bội chúng ta.  Thực tế cuộc sống xã hội hôm nay đã cho thấy cảnh gia đình tan nát khi vợ chồng phản bội nhau, con cái dối gạt cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp vì một mối tình, cạnh tranh làm ăn… mà đánh mất tình bạn, tình yêu, đưa đến những thảm họa đau thương.  Chúa Giêsu biết rõ tận tâm can của con người: “kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (Ga 14,18).  Hãy nhớ lời Thánh Phaolô khuyên nhủ: “Ai tưởng mình đang đứng vững thì hãy coi chừng kẻo ngã” (1Cr 10,12).  Và lời Thánh Phêrô căn dặn: “ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5, 8).

Đừng trách Giuđa phản thầy của mình, nếu có trách thì trách ông đã để cho ma quỉ bước vào cuộc đời và dẫn lối đời mình (x. Lc 22,3).  Mà nếu trách như vậy thì thử hỏi ai trong chúng ta không đáng trách!  Ai trong đời cũng có đôi lần để ma quỉ dẫn lối đi về miến u tối của bất trung.

Lạy Chúa, xin dạy con sống trung thành với Chúa và chân thành với anh chị em, luôn biết sống yêu thương với hết mọi người.  Xin dạy con sống quảng đại và luôn là khí cụ bình an của Chúa. Amen!

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

THẬP GIÁ CUỘC ĐỜI

Thập giá là tâm điểm của Phụng vụ Ki-tô giáo, nhất là trong Tuần Thánh.  Hai thanh gỗ, một thanh dọc và một thanh ngang, có điều gì kỳ diệu, mà từ hai ngàn năm nay, các tín hữu tôn kính thờ lạy?  Thực ra, Ki-tô hữu không thờ lạy một cây gỗ, nhưng là thờ lạy Đấng đã chịu treo trên cây gỗ ấy, đó là Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa nhập thể làm người.

Đức Giê-su đã đón nhận thập giá một cách tự do và hoàn toàn vì tình yêu.  Người đã vâng phục Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá.  Thập giá là biểu tượng của sự vâng phục, của tình yêu hy sinh, và cũng là của lòng quảng đại bao dung tha thứ.  Qua thập giá Đức Giê-su, Ki-tô hữu được mời gọi nhận ra thập giá cuộc đời.  Vâng, khi chúng ta khởi đầu hành trình làm người, cũng là lúc chúng ta khởi đầu hành trình thập giá.  Bởi lẽ cuộc sống con người luôn luôn đan quyện những đau khổ và niềm vui, nước mắt và hạnh phúc.  Nhận ra thập giá trong đời mình, và cố gắng vác thập giá với tâm tình của Chúa Giê-su, gánh nặng cuộc đời sẽ bớt chua chát, hạnh phúc sẽ thay thế đau thương.

“Nếu ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình đi và vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). “Vác thập giá” là điều kiện không thể thiếu cho những ai muốn làm môn đệ Chúa Giê-su.  Nơi khác, Chúa khẳng định: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10,38).  Theo giáo huấn của Chúa Giê-su, “vác thập giá” cũng có nghĩa là bỏ mình.  Sự buông bỏ để đón nhận người khác và sống hài hòa với tha nhân luôn đòi hỏi chúng ta phải hy sinh.  Đó không phải là buông bỏ một điều gì ngoài bản thân, mà là buông bỏ chính mình.  Theo tâm lý tự nhiên, con người luôn quy hướng về bản thân, đồng thời cũng muốn (đôi khi là ép buộc) người khác phải quy hướng theo mình.  Từ bỏ bản thân là sống khiêm tốn, không kiêu ngạo và cố chấp.  Từ bỏ bản thân là điều khó nhất trong những thứ có thể từ bỏ, nhưng đó là lại là bằng chứng hùng hồn về tình yêu.  Thánh Tê-rê-xa Hài đồng Giê-su đã viết: “Yêu là cho đi tất cả và cho đi chính mình.”

Nếu không có Chúa Giê-su, thập giá chỉ là cây gỗ vô dụng.  Nhiều người nai lưng vác cái mà mình nghĩ là thập giá, nhưng thực ra lại không phải.  Có thể đó là những điều mà mình cho là “hy sinh,” là “chịu đựng,” nhưng đúng hơn là mình đang bắt người khác phải hy sinh và chịu đựng vì mình.  Có những người thường vô tình hay cố ý tạo ra thập giá cho những người thân rồi bắt họ vác đi.  Trên đường đến núi Can-vê, Chúa Giê-su đã ba lần ngã quỵ.  Ông Si-mon người thành Ky-rê-nê đã vác thập giá đỡ cho Chúa.  Hôm nay Chúa Giê-su đang vác thập giá đi ngang qua cuộc đời chúng ta.  Người hiện thân nơi những người đau khổ cùng cực và những người đói nghèo.  Khi thực hiện những nghĩa cử bác ái, là chúng ta vác đỡ thập giá cho Chúa.

Đối diện với một đám đông ồn ào và hung bạo, Đức Giê-su vác thập giá bước đi trong thinh lặng.  Khi Chúa bị điệu ra trước tòa Phi-la-tô và trên con đường thập giá, chỉ có một số rất ít bênh vực Người.  Phải chăng đó cũng chính là thực trạng thế giới hôm nay.  Trong xã hội tự tin cho là  văn minh và hiện đại này, có bao nhiêu người cảm động trước một con người bị hành hạ bất công, và bị treo trên thập giá?  Tuy vậy, Giáo Hội của Chúa Ki-tô luôn luôn là “số ít còn lại của Ít-ra-en.”  Một Giáo Hội không chạy theo những phong trào và sở thích của số đông, nhưng lắng đọng nội tâm để quy hướng về Chúa, qua đó tìm thấy ý nghĩa của đời mình.  Từ cái chết cô đơn của Đức Giê-su trên cây thập giá, ơn cứu độ tuôn trào đến muôn dân, nhất là đến với những ai tin tưởng và trung tín với Người.  Đấng chịu treo trên thập giá vẫn đang nói với chúng ta: hãy lấy tình yêu đáp lại ghen ghét; lấy tha thứ đáp lại hận thù, vì tình yêu vượt lên tất cả!

Chúa Giê-su đến trần gian không phải để cất đi vĩnh viễn đau khổ và thập giá, nhưng Người đã vác nó trên vai.  Người tin vào Chúa không phải để tránh khỏi đau khổ thập giá, nhưng để có Chúa nâng đỡ và cùng vác với mình.  “Hãy đến với Ta, tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồ dưỡng” (Mt 11,28).  Chúa mời gọi chúng ta đến với Chúa, tức là cậy trông vào sức mạnh thiêng liêng mà Người sẽ ban cho chúng ta.  Nhờ đó, thập giá cuộc đời trở nên nhẹ nhàng và dễ vác hơn.

Thập giá không chỉ là dấu hiệu của khổ đau thất bại, nhưng còn là biểu tượng của niềm hy vọng.  Trên mỗi nấm mộ của người tín hữu, cây thập giá được dựng lên như lời khẳng định: tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.  Thánh Phao-lô đã “đọc” được niềm hy vọng nơi cây thập giá.  Ngài quả quyết: “Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức ​Giê-su Ki-tô, mà là Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá” (1 Cr 2,2).

Hôm nay, chúng ta khai mạc Tuần Thánh.  Trong những ngày sắp tới, chúng ta cùng sống với Đấng Cứu Thế những ngày cuối cùng của Người trong cuộc sống trần gian.  Bài Thương khó như một vở kịch gồm nhiều chương đoạn, diễn tả những cảm xúc khác nhau.  Tấn bi kịch cũng cho chúng ta thấy ai là người trung thành với Chúa, vào những giờ phút sau hết của cuộc đời Người nơi dương thế.  Chúa Giê-su đang vác thập giá đi ngang qua cuộc đời.  Chúng ta hãy nhận ra Người nơi những anh chị em bé mọn và bị quên lãng.

“Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32).  Vâng, thập giá là điểm quy tụ muôn người.  Xin cho nhân loại hôm nay tôn nhận Đấng chịu đóng đinh trên thập giá là Chúa và là Đấng Cứu độ, nhờ đó hòa bình sẽ được thiết lập trên thế giới đầy biến động của chúng ta.  Amen.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

“XIN VÂNG” – SỨ MẠNG TÔNG ĐỒ

Nếu tìm hiểu lịch sử Israel chúng ta sẽ thấy vua Achaz trong bài đọc 1 hôm nay không phải vì khiêm nhượng mà không dám xin Chúa một dấu lạ, nhưng vì ông đã hồ nghi Yahweh Thiên Chúa không đủ quyền năng để bảo toàn đất nước khi nghe quân ngoại bang vây đánh.  Vì thế, thay vì cầu khấn cùng Yahweh, ông đã đi năn nỉ vua Assaria giúp đỡ.  Bài đọc 2 cho chúng ta thấy các của lễ toàn thiêu không phải là điều Thiên Chúa hằng mong đợi nơi con người.  Điều làm Thiên Chúa vui lòng nhất là thi hành ý Ngài.  Và bài Phúc Âm hôm nay nêu lên một mẫu gương sống động của việc thi hành ý Chúa qua tiếng “Xin Vâng” của Mẹ Maria trong biến cố truyền tin mà chúng ta kính nhớ hôm nay.

Tiếng xin vâng của Đức Mẹ, thoạt nghe, chẳng có gì đặc biệt đáng chúng ta phải chú ý.  Nhưng nếu để tâm suy nghĩ và cầu nguyện, chúng ta sẽ thấy được tinh thần hy sinh, lòng bác ái, và đức tin sống động của Mẹ được gói gọn trong hai tiếng xin vâng đó.

Qua tiếng xin vâng, Mẹ Maria sẵn sàng gạt bỏ đi tất cả những gì Mẹ hằng ôm ấp cho riêng mình là sống đời đồng trinh, để chấp nhận cộng tác với Chúa trong việc sinh ra cho nhân loại Đấng Cứu Thế mà ai cũng trông chờ.

Chính vì điểm này mà Chúa đã ban cho Mẹ được cả hai, tức là vừa đồng trinh vừa làm Mẹ Thiên Chúa.  Khi thưa lên tiếng xin vâng, Mẹ Maria hiểu được nhiệm vụ chính yếu của Mẹ là hiến mình làm dụng cụ đem Chúa đến cho nhân loại.  Vì vậy, khi Ngôi Hai Thiên Chúa vừa đầu thai trong cung lòng Mẹ, Mẹ đã “vội vã” lên đường thăm viếng bà Isave.  Không cần phải dài dòng, ai cũng hiểu được mục đích của cuộc viếng thăm này không phải là để Mẹ ca bài Magnificat cho bà Isave và cũng chẳng phải để nghe bà Isave tán tụng Mẹ là người có đức tin mạnh mẽ.  Lý do chính yếu của cuộc viếng thăm này là để Mẹ đem Chúa đến cho gia đình ông Giacaria, đặc biệt là thánh Gioan Tiền Hô, khiến ngài phải nhảy mừng trong lòng bà Isave.

Tiếng xin vâng của Mẹ Maria còn nhắc nhớ chúng ta về đức tin sống động của Mẹ: luôn phó thác mình cho tác động của Chúa Thánh Thần.  Nếu chỉ xin vâng một lần rồi thôi hoặc có thể rút lại được khi hết hứng thì rất dễ, nhưng tiếng xin vâng của Mẹ Maria là tiếng xin vâng liên tục và vĩnh viễn kể từ giây phút truyền tin.  Do đó, nếu không có một đức tin mạnh mẽ và sống động thì Mẹ Maria không thể nào thưa lên được tiếng xin vâng cộng tác vào chương trình cứu chuộc.  Và nếu đức tin đó không được tiếp tục nuôi dưỡng thì Mẹ Maria cũng chẳng tiếp tục sứ mạng cộng tác của Ngài cho đến ngày Mẹ được Chúa cất về trời.  Vì cuộc đời tại thế của Mẹ cũng là một cuộc hành trình đức tin như mỗi người chúng ta ngày nay vậy.  Và mỗi biến cố xảy đến trong cuộc đời là một bước Mẹ tiến cao hơn trong cuộc lữ hành đức tin.  Mỗi một lần như vậy nó đòi buộc một sự tín thác cao độ hơn lần trước, vì như mọi người chúng ta, Mẹ cũng chẳng biết được tương lai ngày mai sẽ ra sao.

Như Mẹ đã cưu mang Chúa trong thân xác qua biến cố truyền tin, mỗi người chúng ta cũng cưu mang Chúa trong tâm hồn kể từ ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội.  Vì thế, biến cố truyền tin mời gọi mỗi người chúng ta hãy xét lại xem cuộc sống Kitô hữu của chúng ta có rập theo khuôn mẫu của Mẹ Maria chưa: luôn tín thác mình cho tác động của Chúa Thánh Thần.  Điều này đòi buộc mỗi người chúng ta phải luôn sẵn sàng để thưa lời xin vâng như Mẹ Maria trong mọi cảnh huống của cuộc sống hằng ngày.  Bao lâu chúng ta chưa thi hành được như vậy thì bấy lâu chúng ta đừng trông mong đem Chúa đến cho người khác.  Vì việc tông đồ đúng nghĩa phải là việc của Thiên Chúa.  Mà bao lâu chúng ta chưa đồng tâm nhất trí với Chúa, chưa sẵn sàng đón nhận tác động của Chúa trong chúng ta thì bấy lâu Chúa và chúng ta không thể nào hoạt động giống nhau được.

Như Mẹ Maria xưa đã đồng ý để Chúa dùng Mẹ như một phương tiện đến với nhân loại thế nào thì nhiệm vụ chính yếu của mỗi người Kitô hữu ngày nay cũng chính là việc sẵn sàng hiến cho Chúa một cơ hội để Ngài tỏ mình ra cho những người chúng ta tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày: một nụ cười thân thiện, một ánh mắt thông cảm, một nghĩa cử bác ái, một sự nhịn nhục kẻ thù… tất cả sẽ là việc tông đồ nếu qua đó mà người ta nhận biết Chúa rõ ràng hơn, yêu mến Chúa sâu đậm hơn, và thương yêu tha nhân chân thật hơn.

Xin Mẹ Maria nâng đỡ phù trì để chúng ta ngày một tiến cao hơn trong cuộc lữ hành đức tin qua việc mở rộng tâm hồn sẵn sàng cộng tác với ơn soi động của Chúa Thánh Thần ngõ hầu Chúa Giêsu có cơ hội tiếp tục sinh xuống tâm hồn những ai chưa nhận biết Chúa.

Sr. Tâm Năng

NƠI TĨNH LẶNG

Nhiều người trong chúng ta cần có thêm thinh lặng trong cuộc sống.  Tôi nói điều này một cách dè dặt, bởi vì vị trí của thinh lặng trong đời ta không phải là điều dễ xác định.

Tĩnh lặng là một thực tại phức tạp; đôi khi chúng ta sợ nó và tìm cách tránh né, nhưng cũng có lúc, khi mệt mỏi và bị kích thích quá mức, chúng ta lại tha thiết khao khát nó.

Nhìn chung, chúng ta có quá ít thinh lặng trong đời mình.  Công việc, điện thoại di động, các cuộc trò chuyện, giải trí, tin tức, những xao lãng và đủ loại bận tâm khác lấp đầy từng phút giây tỉnh thức.

Chúng ta đã quá quen với việc được kích thích bởi lời nói, thông tin và sự phân tâm, đến mức thường cảm thấy lạc lõng và bồn chồn khi ở một mình, không có ai để nói chuyện, không có gì để xem, không có gì để đọc hay làm để chiếm lấy sự chú ý của mình.

Tuy nhiên, không phải tất cả điều này đều xấu.  Trước đây, các tác giả viết về tâm linh thường quá phiến diện trong việc ca ngợi đức tính của sự thinh lặng.  Họ có xu hướng tạo ấn tượng quá đơn giản rằng Thượng đế và chiều sâu tâm linh chỉ được tìm thấy trong sự thinh lặng, như thể những đức tính của công việc thường nhật, trò chuyện, lễ hội, gia đình và cộng đồng đều kém quan trọng hơn về mặt tâm linh.

Khi nói về không gian thinh lặng, các tín ngưỡng tâm linh xưa kia thường trừng phạt người hướng ngoại và quá dễ dãi với người hướng nội.  Nói tóm lại, họ đã không xem xét đầy đủ rằng tất cả chúng ta, cả người hướng ngoại và hướng nội, đều cần đến liệu pháp của đời sống xã hội.  Trong khi chúng ta cần sự thinh lặng để có chiều sâu, chúng ta lại cần sự tương tác với người khác để ổn định tâm trí và giữ gìn sự tỉnh táo.  Một số quá trình tự khám phá bản thân chỉ có thể thực hiện trong thinh lặng, nhưng một số khía cạnh khác của sự tỉnh táo lại phụ thuộc vào sự tương tác với người khác.  Sự thinh lặng cũng có thể là một lối thoát, một sự né tránh quá trình thanh lọc khắc nghiệt thường chỉ có thể xảy ra thông qua thử thách của việc tương tác trong gia đình và cộng đoàn.

Hơn nữa, thinh lặng không phải lúc nào cũng là cách tốt nhất để đối diện với những nỗi đau hay ám ảnh trong lòng.  Xét cho cùng, đó có thể là một dạng tập trung quá mức vào chính mình.  Đôi khi, khi một nỗi đau đang đe dọa sự quân bình nội tâm, điều tốt nhất ta có thể làm không phải là vào nhà nguyện, nhưng là đến rạp hát hoặc dùng bữa với một người bạn.  Sự chuyên tâm vào công việc hay một hình thức giải trí lành mạnh đôi khi lại chính là người bạn cần thiết khi con tim ta đang ngột ngạt.

Có một câu chuyện về triết gia nổi tiếng Hegel.  Ngay sau khi hoàn tất công trình đồ sộ của mình về hiện tượng học của lịch sử, ông nhận ra rằng mình đang bên bờ suy sụp vì cường độ tập trung kéo dài quá lâu.  Ông đã làm gì để thoát khỏi tình trạng ấy?  Đi tĩnh tâm trong thinh lặng ư?  Không.  Ông đi xem nhạc kịch mỗi tối, dùng bữa hằng ngày với bạn bè, và tìm đến đủ mọi hình thức giải trí cho đến khi, sau một thời gian, sự siết chặt nghẹt thở của thế giới nội tâm dần buông lỏng và ánh nắng cùng sự tươi mới của đời sống thường ngày lại bừng lên.  Đôi khi, chính sự xao lãng – chứ không phải thinh lặng – mới là phương thuốc tốt nhất cho chúng ta, kể cả trên bình diện thiêng liêng.

Dẫu vậy, thinh lặng vẫn là điều cần thiết.  Những gì các bậc thầy linh đạo qua mọi thời đại muốn dạy về điều này có thể được tóm gọn trong một câu của Meister Eckhart: Không gì giống ngôn ngữ của Thiên Chúa cho bằng thinh lặng.

Thực chất, Eckhart muốn nói rằng thinh lặng là một lối vào đặc biệt của cõi thần linh.  Bên trong mỗi chúng ta có một khoảng thinh lặng mênh mông đang mời gọi ta bước vào, và có thể giúp ta học ngôn ngữ của trời cao.  Điều đó có nghĩa là gì?

Thinh lặng là một ngôn ngữ sâu xa hơn, bao quát hơn, thấu hiểu hơn, giàu lòng trắc ẩn hơn và vĩnh cửu hơn bất cứ ngôn ngữ nào khác.  Trên thiên đàng, dường như sẽ không còn ngôn ngữ, không còn lời nói.  Thinh lặng sẽ cất tiếng.  Chúng ta sẽ hiểu nhau cách trọn vẹn, thân mật và hân hoan, và nâng đỡ nhau trong tĩnh lặng.  Trớ trêu thay, dù rất quan trọng, lời nói cũng là một phần lý do khiến chúng ta chưa thể làm được điều ấy ngay bây giờ.  Lời nói có thể hiệp nhất, nhưng cũng có thể chia rẽ.  Trong tĩnh lặng, có một sự kết nối sâu xa hơn.

Những người yêu nhau đã biết điều này, cũng như các tín hữu Quaker với phụng vụ cố gắng phản chiếu sự thinh lặng của thiên đàng, và như những ai thực hành cầu nguyện chiêm niệm.  Thánh Gioan Thánh Giá diễn tả điều ấy bằng một câu đầy ẩn ý: “Hãy học để hiểu nhiều hơn bằng cách không hiểu, hơn là bằng cách hiểu.”

Thinh lặng có thể nói lớn hơn và sâu hơn lời nói.  Chúng ta đã trải nghiệm điều này theo nhiều cách khác nhau: khi bị ngăn cách bởi khoảng cách hay cái chết với những người thân yêu, chúng ta vẫn có thể ở với họ trong thinh lặng; khi bị chia rẽ với những người thiện chí vì hiểu lầm, thinh lặng có thể là nơi chúng ta lại có thể ở cùng nhau; khi đứng bất lực trước nỗi đau của người khác, thinh lặng có thể là cách diễn tả sự cảm thông tốt nhất; và khi chúng ta phạm lỗi và không còn lời nào có thể khôi phục sự nguyên vẹn trước đây, thì trong thinh lặng, một Lời sâu xa hơn có thể vang lên, cho ta biết rằng rốt cuộc mọi sự sẽ ổn thỏa, và mọi cách thế hiện hữu sẽ được ổn thỏa.

Không gì giống ngôn ngữ của Thiên Chúa cho bằng thinh lặng.  Đó là ngôn ngữ của thiên đàng, đã sẵn ở sâu thẳm trong ta, đang mời gọi ta bước vào sự thân mật sâu xa hơn với mọi sự – ngay cả khi chúng ta vẫn cần đến “liệu pháp” của đời sống công khai.

Rev. Ron Rolheiser, OMI