TÌM RA ƠN GỌI CỦA MÌNH

Nhiều người trong chúng ta quen thuộc với một câu nói nổi tiếng của C.S. Lewis.  Khi viết về cuộc trở lại Kitô giáo của mình, ông chia sẻ rằng mình là “người trở lại miễn cưỡng nhất trong lịch sử Kitô giáo.”  Khi ông quỳ gối lần đầu tiên, đó không phải là trong sự sốt sắng hân hoan, nhưng với cảm giác rằng đây là điều ông buộc phải làm.  Điều gì đã cho ông cảm giác ấy?

Lời của ông: “[Tôi quỳ xuống dù lòng còn chống đối], bởi tôi đã nhận ra rằng sự thôi thúc của Thiên Chúa chính là sự giải thoát của chúng ta.”

“Sự thôi thúc của Thiên Chúa” là gì?  Đó là cảm thức luân lý sâu xa, không thể dập tắt, ở trong ta – điều cho ta biết mình phải làm gì hơn là mình muốn làm gì.  Và điều đó có thể rất hữu ích khi chúng ta tìm kiếm ơn gọi và vị trí của mình trong cuộc đời.

Ơn gọi là gì, và làm sao để tìm ra ơn gọi của mình?  Theo David Brooks, ơn gọi là một yếu tố có phần “phi lý trí,” khi bạn nghe một tiếng nói nội tâm mạnh đến mức không thể nghĩ đến chuyện quay lưng lại; khi bạn trực giác rằng mình không có lựa chọn nào khác, ngoài việc tự hỏi: trách nhiệm của tôi ở đây là gì?

Đó cũng là câu chuyện về ơn gọi linh mục và đời sống tu trì của tôi.  Tôi chia sẻ ở đây không phải vì câu chuyện ấy đặc biệt; thực ra, nó rất bình thường, chỉ là một trong hàng triệu câu chuyện khác.  Tôi chia sẻ với hy vọng rằng nó có thể giúp ai đó nhận ra ơn gọi của mình trong đời.  Đây là câu chuyện của tôi.

Tôi lớn lên trong một nền văn hóa Công giáo, nơi mà vào thời ấy, hầu như mọi thiếu niên nam nữ đều được mời gọi suy nghĩ xem mình có được kêu gọi sống đời thánh hiến và/hoặc làm linh mục hay không.  Tôi nghe điều đó cách minh nhiên từ cha mẹ và từ các nữ tu Ursuline dạy tôi ở trường; tôi cũng cảm nhận điều ấy trong bầu khí chung của văn hóa Công giáo thời bấy giờ.

Nhưng bên trong tôi luôn có một sự kháng cự mạnh mẽ.  Đó không phải là điều tôi muốn làm với đời mình!  Tôi không muốn trở thành linh mục Công giáo.  Tôi nuôi dưỡng sự chống đối ấy suốt những năm trung học và tốt nghiệp với dự định vào đại học, lý tưởng là để trở thành một nhà tâm lý học.  Thế nhưng, một tiếng nói trong tôi không chịu im lặng.

Tôi đã dành cả mùa hè sau khi tốt nghiệp trung học làm việc tại hai trang trại, trang trại của gia đình và một trang trại của người hàng xóm.  Hầu hết thời gian tôi làm việc ngoài trời, thường là một mình, lái máy kéo hàng giờ liền trên đồng ruộng.  Và trong những giờ làm việc dài ấy, sự thôi thúc của Chúa bắt đầu làm suy yếu sự kháng cự của tôi.  Ý nghĩ rằng tôi được kêu gọi trở thành linh mục đơn giản là không thể bị dập tắt, dù tôi đã cố gắng.  Tôi nhớ một buổi chiều nọ, khi đang làm việc một mình trên máy kéo, tôi đã cố gắng xua tan suy nghĩ đó bằng cách hát thật to, nhưng tiếng nói của Chúa không dễ dàng bị dập tắt như vậy.

Mọi sự lên đến cao điểm vào cuối mùa hè, chỉ hai tuần trước khi tôi dự định lên đường vào đại học.  Một buổi tối, sau một buổi chiều lại làm việc một mình trên máy cày, tôi về nhà.  Cha mẹ tôi không có ở đó, nên tôi cố tự làm mình xao lãng bằng cách chơi ném bóng với em trai.  Nhưng bình an vẫn chưa đến.  Bình an chỉ đến sau đó, khi tôi lên giường ngủ – sau khi tôi đã quyết định theo đuổi ơn gọi linh mục.  Sáng hôm sau, tôi chia sẻ quyết định ấy với cha mẹ.  Họ mỉm cười và đưa tôi đến gặp cha xứ địa phương, một linh mục thuộc Dòng Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm.

Công bằng mà nói, vị linh mục ấy cho tôi biết rằng, dù ngài là một tu sĩ Thừa Sai, tôi vẫn có những lựa chọn khác, chẳng hạn như trở thành linh mục địa phận hoặc gia nhập Dòng Tên.  Tôi chọn Dòng Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm vì đó là điều tôi quen thuộc, và vì tôi đã có một người anh trong dòng.  Hai tuần sau, tôi vào nhà tập của Dòng – như một trong những tập sinh miễn cưỡng nhất trong lịch sử của Dòng!

Nhưng ngay từ ngày đầu tiên, tôi biết đó là đúng.  Tôi biết đó là nơi tôi được gọi để thuộc về.  Điều ấy đã xảy ra cách đây sáu mươi năm.  Dù đã trải qua những khó khăn trong đời linh mục, tôi chưa bao giờ nghi ngờ rằng đây là ơn gọi của mình – đời linh mục và Dòng Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm.

Và Thiên Chúa, cuộc sống, sứ vụ và Dòng đã ban cho tôi nhiều hơn những gì tôi xứng đáng.  Thừa tác vụ của tôi chan chứa ân sủng vượt quá mọi lường đo; Dòng đã cho tôi một đời sống cộng đoàn lành mạnh, những cơ hội học tập xuất sắc, nhiều sứ vụ tuyệt vời, và niềm tự hào về đặc sủng của hội dòng trong việc phục vụ người nghèo.

Sáu mươi năm sống ơn gọi này, tôi chỉ có thể nói: Lạy Chúa, con cảm tạ Ngài vì đã dẫn con đến nơi con không muốn đi.

Tôi đã đưa ra quyết định ấy khi mới mười bảy tuổi.  Ngày nay, văn hóa của chúng ta có thể nói rằng một quyết định như thế không thể được thực hiện với sự trưởng thành và sáng suốt đầy đủ ở tuổi còn quá trẻ như vậy.  Thế nhưng, tôi chưa bao giờ thực sự nghi ngờ lựa chọn của mình, và giờ đây nhìn lại, tôi xem đó là quyết định sáng tỏ nhất, vị tha nhất và ban sự sống nhất mà tôi từng thực hiện.

Đó là câu chuyện của tôi.  Nhưng còn có rất nhiều câu chuyện ban sự sống khác, khác với câu chuyện của tôi.  Sự thôi thúc của Thiên Chúa có vô vàn cách để biểu lộ.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CHẾT TRƯỚC TỬ ĐẠO

“Họ sẽ khai trừ anh em khỏi hội đường!”

“Khi Đức Kitô gọi một người, Ngài mời người ấy đến để chết!” – Dietrich Bonhoeffer.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy người tử đạo không chết khi máu đổ, nhưng từ lúc chấp nhận đứng về phía Chúa Kitô dù phải bị loại trừ.  Khởi đầu của một cái chết âm thầm hơn – ‘chết trước tử đạo!’

Trong Tin Mừng Gioan, bị “khai trừ khỏi hội đường” không chỉ là mất một nơi cầu nguyện, nhưng là bị lấy đi một bầu khí quyển để hít thở và thuộc về – koinōnia.  Người môn đệ không chỉ mất một chỗ ngồi trong hội đường, nhưng còn mất cả ‘oxy của sự công nhận.’  Chúa Giêsu không báo trước cho họ một cuộc bách hại máu đổ hay ngục tù, nhưng là một cuộc tước bỏ âm thầm và dai dẳng hơn: bị đẩy ra bên lề vì danh Ngài.  Chính ở đó, người môn đệ bắt đầu bước vào điều mà Kitô giáo về sau gọi là tử đạo – một chứng tá phải trả giá bằng đời mình.  Origen hiểu tử đạo không chỉ hệ tại ở việc đổ máu, nhưng còn ở đời sống không ngừng thuộc trọn về Chúa Kitô.

Thật vậy, thuật ngữ “tử đạo” trong Kitô giáo bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp martyria – “làm chứng.”  Ban đầu, nó không mang nghĩa cái chết, nhưng là một chứng tá sống động về Đức Kitô.  Chỉ về sau, khi các Kitô hữu sẵn sàng trả giá bằng chính mạng sống mình, “chứng nhân” mới trở thành “người tử đạo.”  Vì thế, điều Chúa Giêsu chuẩn bị cho các môn đệ không đơn thuần là sức chịu đựng trước khổ đau, nhưng là khả năng không chối bỏ sự thật ngay cả khi điều đó khiến họ không còn thuộc về đâu nữa.  “Cám dỗ lớn nhất của con người là bằng lòng với một điều gì đó quá nhỏ bé!” – Thomas Merton.

Có lẽ vì thế, nỗi sợ lớn nhất của con người chưa bao giờ là đau khổ, nhưng là bị loại trừ.  Người ta có thể chấp nhận mất nhiều thứ, miễn vẫn còn biết mình thuộc về một ai đó, một cộng đoàn nào đó.  Thế nhưng, theo Chúa Giêsu, sẽ có lúc người môn đệ phải chọn giữa việc được thuộc về thế gian và việc thuộc về sự thật.  Và đó là nơi cuộc tử đạo âm thầm nhất bắt đầu: không còn sống để được chấp nhận, nhưng để làm chứng.  Đó là cuộc hành hình êm ái đối với cái tôi luôn muốn được thế gian công nhận. Đó cũng là lúc con người bắt đầu ‘chết trước tử đạo.’  “Chỉ tình yêu mới đáng tin!” – Hans Urs von Balthasar.

Anh Chị em,

Đức Giêsu Kitô là Đấng đã trải qua sự “bị khai trừ” sâu xa nhất.  Trước khi chịu đóng đinh, Ngài đã chấp nhận bị khước từ bởi dân mình, bị bỏ rơi bởi các môn đệ và bị kết án như kẻ lạc đạo.  Thập giá là đỉnh cao của sự vô gia cư!  Chính trong sự bị loại trừ ấy, Ngài không ngừng làm chứng rằng Ngài ở trong Chúa Cha.  Có lẽ đó là điều sâu nhất của tử đạo Kitô giáo: không phải chết vì đau khổ, nhưng vì đã chọn thuộc về Đấng mình yêu hơn tất cả, Đấng đã yêu mình vô cùng.  “Thà tôi chết trong Đức Kitô Giêsu còn hơn thống trị tận cùng trái đất!” – Ignatiô Antiôkia.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con không sống để được thế gian chấp nhận; không sống để được đám đông tung hô; nhưng sống để thuộc về Ngài và cho Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

THỜI CỦA THÁNH THẦN

Đức Giê-su đã hoàn tất công trình cứu độ trần gian, và Người đã về với Chúa Cha.  Hy tế của Chúa Giê-su được dâng một lần trên thập giá là đủ cho con người được cứu rỗi.  Tuy vậy, con người ở mọi thời đại và mọi nền văn hóa lại luôn cần đến ơn Cứu độ, nên Chúa Giê-su hứa: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.”  “Đấng Bảo trợ khác” là Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa, Đấng có cùng bản thể và cùng quyền năng với Chúa Cha và với Chúa Con.  Như vậy, sau thời của Chúa Giê-su, là thời của Thánh Thần.  Chúa Thánh Thần tiếp nối công việc Chúa Giê-su đã làm, để giúp con người ở mọi thời đại đón nhận ơn Cứu độ.  Chúa Giê-su không bỏ các môn đệ mồ côi.  Người chăm sóc họ bằng những hành động của Chúa Thánh Thần.

Trong ngày lễ Ngũ Tuần, lời hứa của Chúa Giê-su đã được thực hiện.  Chúa Thánh Thần đã đến với các tông đồ đang khi các ông cầu nguyện bên Đức Ma-ri-a.  Ngay từ lúc đó, các tông đồ đã được biến đổi.  Từ những dân chài đơn sơ chất phác, các ông trở thành những nhà giảng thuyết hùng hồn và can đảm.  Chúa Thánh Thần đã hoạt động trong Giáo hội kể từ ngày ấy.

Lịch sử hai ngàn năm của Giáo hội đã chứng minh sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần.   Ngài là Đấng Canh tân luôn làm cho Giáo hội trẻ trung và phù hợp với các nền văn hóa.  Ngài là Đấng Bảo trợ luôn gìn giữ các môn đệ của Chúa Ki-tô trong những hoàn cảnh khó khăn thử thách.  Trong bối cảnh sa sút về đức tin của Giáo hội tại một số quốc gia tây phương hôm nay, nhiều người cảm thấy lo ngại cho tương lai của Giáo hội.  Họ đặt câu hỏi: phải chăng giáo huấn của Chúa Giê-su đã trở thành lỗi thời với con người thời nay?  Tuy vậy, nếu chúng ta nghiên cứu lịch sử, chúng ta sẽ thấy có những giai đoạn Giáo hội gặp nhiều thử thách cam go, thậm chí có những chia rẽ ngay từ thượng tầng của Giáo hội.  Ấy vậy mà Chúa Thánh Thần vẫn gìn giữ con thuyền của Giáo hội, và dẫn đưa con thuyền ấy vượt trùng dương, thoát nguy biến.  Chúng ta tin vào quyền năng Thiên Chúa và cầu nguyện.  Chúa sẽ có cách giải quyết của Người.

Mặc dù Chúa Thánh Thần vẫn hoạt động trong Giáo hội, và mặc dù Chúa Giê-su vẫn hiện diện nơi trần thế như Người đã hứa: “Này đây Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế,” Ki-tô hữu không được chủ quan và ỷ lại.  Mệnh lệnh Chúa Giê-su đã truyền cho các tông đồ, và hôm nay cho chúng ta, là: “hãy giữ điều răn của Thầy.”  Điều răn của Thầy là điều nào?  Là yêu thương nhau.  Điều răn của Thầy còn là trọn vẹn giáo huấn mà Thầy đã rao giảng trong xứ Pa-lét-ti-na.  Tình yêu của tín hữu dành cho Chúa Giê-su không dừng lại ở lý thuyết và ngôn từ trên môi miệng, nhưng phải được chứng minh bằng việc làm cụ thể, đó là thực hiện những gì Chúa đã dạy.  Nhờ yêu mến và thực hành lời Chúa Giê-su, tín hữu được gặp gỡ Chúa Cha, được Chúa Cha yêu mến và được ở trong Chúa Cha, như đắm chìm vào đại dương yêu thương viên mãn vĩnh cửu.  Đây là huyền nhiệm mà lý trí con người không sao hiểu thấu.

Tác giả sách Công vụ Tông đồ kể lại, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi đã đạt được mùa màng bội thu (Bài đọc I).  Số người tin Chúa gia tăng nhanh chóng, trong số đó có một số tư tế cũng đón nhận đức tin.  Khi suy tư về Giáo hội, chúng ta thấy đây quả là công trình của Thiên Chúa.  Từ một nhóm nhỏ dân chài ở biển hồ Ga-li-lê-a, những người tin theo Chúa ngày một đông, lớn mạnh và ngày nay đã hiện diện trên toàn thế giới.  Giáo hội là công trình của Thiên Chúa, và công trình ấy lại được thực hiện qua những cố gắng và nỗ lực của con người.  Ki-tô hữu có bổn phận học biết Chúa Giê-su, gặp gỡ Người, để có thể nói về Người cho anh chị em mình.  Thánh Phê-rô khuyên chúng ta: “Hãy luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em.  Nhưng phải trả lời cách hiền hòa và với sự kính trọng” (Bài đọc II).  Hai yếu tố “hiền hòa và kính trọng” được thánh Tông đồ nêu như điều kiện cần thiết để việc giới thiệu Đức Giê-su mang lại hiệu quả tích cực.  Quả vậy, truyền giáo không bao giờ là áp lực, là lôi kéo, đe dọa, chiêu dụ hay mua chuộc.  Truyền giáo phải như hoa tỏa hương xung quanh, để những người chưa biết Chúa cảm nhận được hương thơm qua đời sống của các tín hữu.  Những ai gia nhập Đạo do bị ép buộc, sẽ sớm bỏ Đạo, khi gặp khó khăn thử thách.

“Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên, mừng Danh thánh rạng ngời!”  Dẫu rằng cuộc sống còn nhiều bi thương và thử thách, là Ki-tô hữu, chúng ta hãy vui mừng tạ ơn và cậy trông nơi Chúa.  Đấng Bảo trợ là Chúa Thánh Thần luôn ở cùng chúng ta, để yêu thương nâng đỡ và để soi sáng khích lệ chúng ta trong cuộc sống đời thường.  Đây là thời của Thánh Thần, cũng là thời của yêu thương, canh tân và ân sủng.  Xin Chúa cho chúng ta cảm nhận được niềm vui thiêng liêng ấy.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

THÁNG NĂM: TỪ HOA ĐỒNG CỎ NỘI ĐẾN HOA CÕI LÒNG

WHĐ (01/5/2026) – Tháng Hoa kính Mẹ Maria không chỉ là truyền thống nề nếp nhà đạo, mà còn là sự kết nối hài hòa giữa thiên nhiên, lịch sử, văn hóa dân tộc và niềm tin sắt son của người tín hữu Việt Nam với người Mẹ Thiên Quốc.

Dẫn nhập

Trong nếp sống đạo của tín hữu Công giáo Việt Nam, tháng Năm có vị trí đặc biệt.  Trong tháng này, từ những giáo xứ to lớn đến các họ lẻ nhỏ bé, không gian đều rộn ràng tiếng nhạc, lời ca tiếng hát và ngát hương hoa.  Tháng Hoa kính Mẹ Maria không chỉ là truyền thống nề nếp nhà đạo, mà còn là sự kết nối hài hòa giữa thiên nhiên, lịch sử, văn hóa dân tộc và niềm tin sắt son của người tín hữu Việt Nam với người Mẹ Thiên Quốc.

1. Trong tháng Hoa, thiên nhiên hòa cùng đức tin

Việc tháng Năm trở thành tháng dâng kính Mẹ Maria khởi đi từ cái nôi trời Tây của truyền thống này.  Sau những tháng mùa đông dài dằng dặc, bầu trời xám xịt và giá rét lạnh căm, tháng Năm tại châu Âu là thời điểm “Xuân phân” đạt đến độ rực rỡ nhất.  Cả đất trời như bừng tỉnh, cây cối đâm chồi nảy lộc, không khí ấm áp trở lại, và đặc biệt là muôn hoa đua nở khắp các cánh đồng, núi đồi và thung lũng.

Vẻ đẹp thanh khiết, đầy sức sống của thiên nhiên lúc này đã trở thành một biểu tượng tâm linh mạnh mẽ.  Các tín hữu sơ khai nhìn thấy vẻ đẹp của hoa cỏ phản chiếu vẻ đẹp của Đức Trinh nữ Maria, người nữ “đầy ân phúc,” là “Bông hoa đẹp nhất” mà Thiên Chúa đã tạo dựng.  Nếu như hoa xuân mang lại niềm vui cho trần thế sau mùa đông u ám, thì Mẹ Maria, qua tiếng “Xin vâng,” đã mang Đấng Cứu Thế đến để mang lại sự sống vĩnh cửu cho nhân loại sau “mùa đông ảm đạm” của tội lỗi.

Truyền thống dành tháng Năm cho Mẹ Maria không xuất hiện ngay lập tức mà là một hành trình tích lũy qua nhiều thế kỷ.  Thời trung cổ, tại các quốc gia như Tây Ban Nha hay Pháp, người dân đã có thói quen thực hành các việc đạo đức đặc biệt để tôn vinh Mẹ Maria vào tháng Năm, nhằm thay thế cho các lễ hội ngoại giáo mừng mùa xuân, vốn có những yếu tố đa thần đôi khi biểu lộ cách thô thiển.  Các tín hữu muốn thánh hóa thời gian này, thay vì chỉ ngưỡng mộ vẻ đẹp thiên nhiên thì họ qui hướng mọi vẻ tươi đẹp đó về Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng và Mẹ Maria.

Vào thế kỷ XVI, Thánh Philipphê Nêri dạy các thiếu nhi thu lượm hoa tươi trong vườn để dâng trước bàn thờ Mẹ Maria.  Ngài muốn trẻ em tìm thấy Chúa và Mẹ Maria thông qua vẻ đẹp đơn sơ của cỏ hoa.  Thế kỷ XVIII, các tu sĩ Dòng Tên tại Ý chính thức dành trọn 31 ngày tháng Năm với các bài suy niệm, bài hát hướng về Mẹ Maria và khuyến khích giáo dân thực hiện việc này tại gia đình cũng như tại nhà thờ, đưa phong trào lan rộng toàn cầu.  Sang thế kỷ XIX – XX, truyền thống này được các Đức Giáo Hoàng chuẩn nhận.  Đặc biệt, qua Thông điệp Mense Maio – Tháng Năm (1965), Đức Phaolô VI khẳng định tháng Năm là dịp đặc biệt để cầu nguyện cho hòa bình và những nhu cầu của Giáo hội.

2. “Vãn dâng hoa” là sự sáng tạo độc đáo của người tín hữu Việt Nam khi xưa.

Khi đạo Công giáo được truyền vào Việt Nam, các nhà truyền giáo đã rất khôn ngoan khi không chỉ áp dụng các nghi thức phương Tây xa lạ khó nắm bắt đối với người dân Việt.  Các ngài khuyến khích giáo dân diễn tả đức tin Công giáo theo cách riêng của tâm hồn dân Việt, vốn thấm đẫm thi ca, tha thiết diễn xướng và náo nức lễ hội, như Linh mục Léopold Michel Cadière (1869-1955) đúc kết: “Khi nhận ra nguồn cội sâu xa mà các thần linh thuộc thế giới siêu nhiên đã gieo vãi trong tâm hồn người Việt Nam, người ta không thể phủ nhận rằng dân tộc này là một dân tộc hết sức sùng đạo…  Người ta khấn vái kêu cầu, bằng ngôn ngữ trang trọng, kèm theo âm nhạc và vũ khúc…  Người ta bái lạy, một cách chậm rãi, trang nghiêm, tôn kính, cúi đầu cung kính với áo thụng bằng lụa, khăn mão uy nghi,[1] “vãn dâng hoa” và việc dâng hoa của người Công giáo Việt Nam ra đời trong tâm thế văn hóa đậm chất tâm linh đó.

Tại Việt Nam, dâng hoa không chỉ là đặt một bó hoa lên bàn thờ rồi thôi, nhưng đó là một cách biểu lộ tâm tình đạo hạnh dưới hình thức nghệ thuật.  Người tín hữu Công giáo Việt Nam khi xưa đã soạn ra những bài “vãn dâng hoa,” dựa theo thể thơ lục bát, song thất lục bát, giàu hình ảnh, dễ thuộc, dễ thấm, để ngợi ca vẻ đẹp của Mẹ Maria cũng như nói lên những nỗi niềm, thân phận và niềm hy vọng cậy trông của người tín hữu Việt Nam nơi Mẹ, giữa những lao nhọc vất vả của đời sống.

Đền vàng quỳ trước dâng hoa
Trông lên tháp bảo thấy tòa Ba Ngôi
Mười hai nhân đức gương soi
Kính dâng Đức Mẹ đời đời ngửa trông
”…

…“Bảy hoa mượn chỉ nghĩa mầu.
Hình dong ơn phúc kính tâu ngợi mừng.
Hợp cùng năm sắc điều dâng,
Dường mười hai ngọc kết tầng Triều thiên
”…

…“Ban ơn cho chúng con nhờ,
Được lòng sốt sắng phượng thờ cho liên.
Đời này được sự bằng yên,
Đời sau lại được ngợi khen hát mừng… Amen
.”[2]

Về hình thức, vãn hoa là một “lễ hội đức tin” rộn rã, đậm chất văn hóa Việt.  Từ những tà áo truyền thống đến những điệu nhạc quen thuộc, tất cả tạo nên bầu không khí náo nức, gắn kết bà con xóm đạo.  Trong đoàn rước hoa dâng kính Mẹ Maria, mọi tín hữu không phân biệt giàu nghèo đều cùng hướng về Mẹ, biến nghi thức dâng hoa, hội nhập hoàn toàn vào tình tự dân tộc, thành một phần ký ức sâu sắc.

Ngày nay, việc dâng hoa trong tháng Hoa được tổ chức ngày càng quy mô và lộng lẫy hơn.  Các giáo xứ lớn tổ chức các đoàn dâng hoa lên tới hàng trăm người, cả nam lẫn nữ, cả già lẫn trẻ, với hệ thống ánh sáng, âm thanh hiện đại.  Những giáo xứ miền quê nhỏ bé cũng tổ chức dâng hoa cho Mẹ Maria, một cách đơn sơ nhưng không kém phần trang trọng.  Trang phục được đầu tư đáng kể, kỹ năng múa được tập luyện bài bản, ngày càng trở nên nghệ thuật, chuyên nghiệp.

3. Những thao thức mục vụ của ngày hôm nay

Tuy nhiên, sự rực rỡ ấy vẫn nhắc nhở mọi người: Chúng ta đang dâng lên Mẹ Maria tâm tình hiếu thảo hay chỉ lo lắng đến việc biểu diễn?  Thực tế, việc quá chăm chút vào kỹ thuật, trang phục đôi khi khiến người tham gia lo lắng “sai nhịp” hơn là hướng lòng về Mẹ.  Khi tính biểu diễn lấn át tinh thần suy niệm, buổi lễ chỉ để lại sự trầm trồ về hình thức mà thiếu đi sứ điệp thiêng liêng trong tâm hồn.  Tính “biểu diễn” lấn át tinh thần “suy niệm cầu nguyện”.

Để tháng Hoa tiếp tục là nguồn mạch nuôi dưỡng đức tin cho người tín hữu hôm nay cũng như các thế hệ mai sau, việc dâng hoa cần phải là một buổi suy niệm sống động, kết nối mỗi động tác, mỗi sắc hoa với Lời Chúa và các nhân đức của Mẹ Maria.

Hoa trắng không chỉ là sắc màu của sự thanh khiết, nhưng còn là biểu tượng Ơn Vô nhiễm nguyên tội.  Khi dâng hoa trắng, người tín hữu được mời gọi thanh tẩy tâm hồn, sống trung thực và trong sạch giữa một xã hội đầy dẫy sự gian dối.  “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mátthêu 5:8).

Xinh thay hoa trắng tốt lành,
Ví cùng nhân đức đồng trinh Đức Bà.
Nguyên tuyền hơn ngọc hơn ngà,
Sáng trong hơn tuyết cùng là hơn gương.
” *

Hoa đỏ tượng trưng cho sự hy sinh, tình yêu nồng cháy và những đau khổ mà Mẹ đã gánh chịu dưới chân Thập giá.  Đây là cơ hội để suy niệm về sự kiên trì và lòng yêu người, giúp người ta biết chấp nhận gian khổ để dấn thân phục vụ.  “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Gioan 15:13).

Nhiệm thay hoa đỏ hồng hồng,
Nhuộm thêm Máu thánh thơm chung lòng người.
Vì thương con gánh tội đời,
Chịu như dao sắc thâu nơi lòng mình.
” *

Hoa vàng là biểu tượng của vinh quang Thiên Chúa và lòng tin sắt son.  Dâng hoa vàng là cam kết giữ vững đức tin trước những lôi cuốn của chủ nghĩa vật chất, lối sống thực dụng.  “Vàng thử lửa, đức tin thử gian nan… để khi Chúa Giêsu Kitô tỏ hiện, đức tin ấy sẽ trở thành lời ca tụng, vinh quang và danh dự” (1 Phêrô 1:7).

Quý thay này sắc hoa vàng,
Sánh nhân đức mến Bà càng trọng hơn.
Một niềm tin kính nhơn nhơn,
Vững vàng cậy mến trong cơn vui sầu.
” *

Hoa tím là màu của thống hối và khiêm nhường.  Trong một thế giới của cái tôi kiêu hãnh, sắc tím nhắc nhở chúng ta về sự nhỏ bé của mình trước nhan Chúa như Mẹ đã từng tự nhận là “nữ tỳ hèn mọn”.

Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Ngài nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Luca 1:52).

Dịu thay hoa tím càng màu,
Ý trên Bà những cúi đầu vâng theo.
Bằng lòng chịu khó trăm chiều,
Khiêm nhường nhịn nhục hằng yêu hãm mình.
” *

Hoa xanh nhắn đến niềm hy vọng và sự bình an.  Giữa những lo âu về cơm áo gạo tiền, sắc xanh dâng Mẹ là lời cầu xin sự bình an trong tâm hồn và niềm cậy tin vào tương lai tươi sáng. “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Chúa, và có Chúa làm chỗ nương thân.  Người ấy như cây trồng bên dòng nước” (Giêrêmia 17:7-8).

“Lạ thay là sắc hoa xanh,
Mừng Bà nhân đức trọn lành cực cao.
Dờn dờn sau trước một màu,
Quản chi sương nắng dãi dầu ngày đêm.” *

4. Tháng Hoa giúp biến đổi đời sống thành vườn hoa thánh thiện

Nếu mỗi buổi dâng hoa đều kèm theo Lời Chúa và lời suy niệm ngắn gọn, súc tích, người dâng hoa và người thưởng lãm gặp gỡ được Mẹ Maria của Tin Mừng, chứ không chỉ đi xem một hình thức phô diễn nghệ thuật.

Nhằm bảo vệ môi trường theo tinh thần của Thông điệp Laudato Si’, các cuộc dâng hoa có thể được khuyến khích dâng hoa trong những chậu, nhỏ to khác nhau.  Sau buổi dâng hoa, số hoa này có thể trồng tại khuôn viên thánh đường hoặc tặng lại cho giáo dân chăm sóc, giúp tạo nên “Vườn hoa Đức Mẹ” xanh tươi quanh năm.

Đỉnh cao của việc dâng hoa là sống cuộc đời “Per Mariam ad Jesum – Nhờ Mẹ đến với Chúa Giêsu,” biến đời sống thành vườn hoa nhân đức, mến Chúa yêu người, theo mẫu gương “Fiat – Xin vâng” của Mẹ Maria.  Mỗi người cần hiểu rằng một lời tử tế, một bữa cơm cho người nghèo hay sự trung thực trong công việc mới là đóa hoa ngát hương mà Mẹ Maria mong muốn nhất để giúp chúng ta nên thánh.  Mẹ không cần hoa, chính chúng ta mới là người cần đến hoa nhằm biểu lộ rằng đôi bàn tay vốn đang dâng lên Mẹ những bông hoa đầy hương sắc cũng là đôi bàn tay đã biết chia sẻ cụ thể những buồn vui, lo âu với những người chung quanh, và rằng cõi lòng chúng ta đang dần biến đổi để biết yêu thương, hy sinh như Mẹ.  Một tháng Năm mà mỗi tín hữu hăng hái làm việc bác ái, trao gửi nụ cười và sự quan tâm chân tình mới thực sự là một tháng Hoa ý nghĩa.

5. Khuyến khích giới trẻ tiếp nối và đào sâu truyền thống đạo hạnh

Tháng Năm về, giữa cái nắng oi bức của mùa hè Việt Nam, những giai điệu “Mùa hoa về rồi muôn hoa xinh con hái dâng Mẹ.  Mùa hoa về rồi muôn hương thơm bay trước nhan Mẹ…” (Trầm Hương) lại vang lên đầy thân thương.  Truyền thống tháng Hoa là một kho tàng vô giá mà cha ông đã để lại.  Trách nhiệm của chúng ta là giữ cho ngọn lửa ấy luôn cháy sáng bằng cách thổi vào đó hơi thở của ngày hôm nay, với các bản thánh ca có điệu nhạc tươi mới, ngôn từ gần gũi nhưng vẫn trang trọng, đúng với Lời Chúa và giáo huấn của Giáo hội, khơi gợi được cảm thức đức tin – sensus fidei.

Sử dụng khéo léo các phương tiện truyền thông hiện đại sẽ giúp việc dâng hoa không còn là nghi thức “cổ xưa” mà trở thành cảm nghiệm tâm linh tươi mới.  Khi được gạn đục khơi trong đúng với tâm tình, các bạn trẻ sẽ tham gia với tất cả sự nhiệt huyết và đức tin cá vị, thay vì chỉ làm theo tập tục phong trào.

Tuy nhiên, nếu tháng Hoa chỉ dừng lại ở tiếng nhạc, trang phục thướt tha, hoặc “hứng thú nghệ thuật,” thì chúng ta chỉ là khán giả đi xem một buổi trình diễn văn nghệ chứ không phải người mong muốn hoán cải nội tâm.  Chỉ khi bước ra khỏi nhà thờ sau buổi dâng hoa, mỗi người biết sống tử tế, hy sinh, tôn trọng và yêu thương nhau hơn, thì lúc đó, chúng ta mới thực sự trở thành những đóa hoa sống động làm đúng ý Chúa và Mẹ Maria.

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] Trường Đại học Khoa học xã hội và nhận văn, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, https://hcmussh.edu.vn/news/item/25727

[2] Và các câu thơ khác (*) tại http://gdptttvn.org/nam-sac-bay-mau-hoa-dang-kinh-duc-me/

THÁNH GIUSE – ĐƯỜNG NÊN THÁNH

Trong các loài hoa, có một loài không những thân luôn mọc về phía ánh sáng mà hoa còn luôn quay về phía mặt trời.  Đó là hoa hướng dương.  Hoa hướng dương luôn hướng về phía mặt trời với cánh hoa mở rộng đón nhận ánh sáng và sức sống để tỏa hương khoe sắc.  Thánh Giuse như hoa hướng dương luôn hướng về Thánh Ý Thiên Chúa.  Ngài hằng hướng mắt, hướng lòng về Thiên Chúa để nhận ra và làm tròn Thiên Ý.  Thánh Giuse được sách Tin Mừng gọi là “người công chính.”  Theo Kinh Thánh, “Người công chính sống bởi đức tin” (Hab 2, 4; Rm 1, 17; Gal 3, 11).  Sống đức tin là sống công chính, là hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa như tổ phụ Abraham.  Người công chính, nói đơn giản là người tốt, ngay thẳng, trung tín, có trách nhiệm.  Là tôi tớ trung thành của Thiên Chúa, luôn thực thi trọn vẹn thánh ý của Thiên Chúa.  Là con người luôn biết kính trọng và yêu thương tha nhân.

Thánh Giuse tuyệt đối tin tưởng vào lời Thiên Chúa.  Ngài đã luôn sống trong thái độ hoàn toàn phó thác cho tình yêu quan phòng của Thiên Chúa.  Trong bất cứ hoàn cảnh nào, hễ biết là Ý Chúa, Thánh Giuse vui lòng lãnh nhận và mau mắn thi hành.

Thấy Maria có thai, Giuse phải đau khổ lắm.  Người Hôn thê đạo hạnh mà Ngài rất mực yêu thương lại mang thai trước khi về nhà chồng.  Bối rối và khó xử nhưng Ngài vẫn tiếp tục tin tưởng Maria trong sạch vẹn tuyền.  Không một lời phàn nàn, ca thán, trách móc, Giuse không hề hạch sách hay tra hỏi Maria một lời nào, Ngài âm thầm ôm lấy nỗi đau riêng mình với một quyết định: “Đào vi thượng sách.”  Giuse không còn chọn lựa nào khác “vì là người công chính và không muốn tố giác bà nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1,19).  Thế nhưng, Thiên Thần đã hiện ra với Giuse trong giấc mộng giải thích cho Ngài biết “Người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20); rồi Thiên Thần khuyên Giuse “Chớ sợ rước Maria về nhà mình” (Mt 1, 20).  Nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa” Giuse đã làm như lời Thiên Thần Chúa truyền và ông đã rước bà về” (Mt 1,24).

Cuộc sống đang bình yên tại Bêlem thì chính lúc đó Chúa lại bảo ông chỗi dậy đi ngay giữa đêm khuya, không hành trang, không tiền bạc sang Ai Cập sống kiếp lưu đày.  Trước mắt là gian truân vất vả, đường dài vạn dặm mà vợ yếu con thơ, nhưng Giuse luôn tín thác vâng phục “Chỗi dậy, ông đem Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai Cập ngay giữa đêm khuya” (Mt 2,14).

Khi đã ổn định cuộc sống nơi xứ lạ quê người với một cơ ngơi bé nhỏ mà Giuse đã gầy dựng từ hai bàn tay trắng.  Vậy mà một lần nữa Chúa lại bảo ông phải bỏ lại tất cả để ra đi.  Thật mau mắn trước Thiên Ý “Giuse chỗi dậy đem Hài Nhi và Mẹ Người về đất Israel” (Mt 2, 21).  Trước Thánh Ý Thiên Chúa, Giuse vâng phục và chu toàn.  Từ Nazareth qua Bêlem, từ Bêlem đi Ai Cập, từ Ai Cập về Israel, Chúa bảo ông đi là ông đi, bảo ông về là ông về, bảo ông làm thế nào là ông làm thế ấy, đúng thời gian, đúng địa điểm mà không thắc mắc, không hoài nghi, không cự nự.  Tất cả mọi lần Giuse đều thưa như Đức Maria “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền” (Lc 1, 38).

Thánh Ý Thiên Chúa bao giờ cũng hoàn hảo, không những cho cá nhân mà còn cho toàn thể nhân loại.  Thánh Giuse người công chính đã thực hiện lời mời gọi “nên hoàn hảo như Cha trên trời là Đấng hoàn hảo” (Mt 5, 48) bằng cách thi hành ý muốn của Thiên Chúa.

Công đồng Vatican II dạy: “Mọi Kitô hữu, dù ở địa vị nào, bậc sống nào, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự trọn lành thánh thiện như Chúa Cha trọn lành, tùy theo con đường của mỗi người” (GH 11,3).

Nên thánh theo con đường của Thánh Giuse là một con đường cho nhiều người.  Không quan trọng mình là ai, địa vị nào trong xã hội, làm việc cao quý hay tầm thường.  Trước nhan Thiên Chúa, mọi địa vị và công việc đều có giá trị.  Điều quan trọng là hãy thực thi thánh ý Chúa, đáp lại tiếng Người mời gọi trong cuộc sống.  Địa vị và công việc lao động chân tay của Thánh Giuse chỉ ở mức tầm thường; thế nhưng, ngài vẫn có khả năng biến đổi nó trở thành phi thường.  Cái phi thường ở trong cái tầm thường của mỗi con người là một viên ngọc quý tiềm ẩn.  Những người đồng thời nói về Thánh Giuse rất trìu mến là “bác thợ mộc.”  Một tên gọi rất thường nhưng lại bao hàm lòng yêu mến con người thợ mộc ấy.  Dĩ nhiên, phải có điều gì đó nơi người thợ mộc kia đã tạo được thiện cảm và lòng yêu mến của nhiều người.  Ngày nay có bao nhiêu người chức nọ, quyền kia, có học vị, có địa vị, rất giàu có; nhưng khi nói về họ, nhiều người rủa thầm: tên này, tên nọ, thằng này, thằng kia, tay này, tay nọ…  Để được tôn trọng, trước tiên người đó cần có lòng tự trọng.  Công việc mỗi ngày bộc lộ tính tự trọng trong đó, người có lòng tự trọng sẽ làm công việc cẩn thận, có trách nhiệm, liêm khiết, công bằng, hợp tác, thân tình…  Thánh Giuse là một con người “đầy tinh thần trách nhiệm,” một con người nhiều sáng kiến trong bất cứ công việc gì được trao phó.  Thánh Giuse nên thánh trong nghề nghiệp của mình nên Ngài là Thánh bổn mạng của những người lao động.

Theo gương thánh Giuse, sống đạo là tin tưởng, cậy trông, yêu mến Thiên Chúa.  Tin với tâm hồn thờ phượng, tạ ơn, với lòng phó thác nguyện cầu và sống theo Ý Chúa.

Hoa hướng dương là hình ảnh Thánh Giuse.  Nhìn một đoá hoa hướng dương khoe sắc ta nghĩ đến Thánh Giuse.  Nhìn cả vườn hoa hướng dương đang rực rỡ trong nắng ấm ta ước mong mỗi người Kitô hữu là một bông hoa nhỏ luôn hướng tâm hồn về Thiên Chúa, mở rộng lòng đón nhận sự sống, tình yêu, niềm vui để rồi toả hương khoe sắc cho cuộc đời.

Thánh Giuse mãi mãi là tấm gương cho tất cả chúng ta soi.  Tấm gương của một con người luôn thao thức lắng nghe tiếng Chúa và khi đã nghe thì mau mắn đáp lại không thắc mắc cho dù phải trả giá.  Tấm gương của một con người luôn hướng tâm hồn về Chúa, xin vâng trước Thiên Ý, luôn phó thác để Chúa thực hiện chương trình cứu rỗi của Người.  Tấm gương về người quản gia trung tín chăm sóc hai kho tàng quý giá nhất trần gian là Hài Nhi Giêsu và Mẹ Maria.

Thánh Giuse là con người thầm lặng, ít nói, khiêm tốn, sống theo Ý Chúa trong cuộc sống hàng ngày.  Gioan Tẩy Giả chân thành “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ bé lại.”  Giuse đã sống điều đó mà không nói một lời.  Chính cuộc sống ấy đã làm nên một con đường tu đức hướng đến trọn lành.  Thánh Giuse là bậc thầy dạy con người sống an vui và nên thánh trong địa vị của mình.  Thánh Giuse là mẫu gương cho mọi người nên thánh trong cuộc sống thường ngày.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

LÒNG ANH EM ĐỪNG XAO XUYẾN

Giữa cuộc sống đầy xáo trộn hôm nay, Lời Chúa đem lại cho chúng ta niềm hy vọng: “Lòng anh em đừng xao xuyến.”  Đức Giê-su đã nói những lời tâm huyết này trong một bối cảnh rất đặc biệt: đó là lúc Người và các môn đệ vừa dùng xong bữa tiệc Vượt qua.  Những lời này đã trấn an các môn đệ đang vô cùng hoang mang lo sợ, vì họ cảm thấy thập giá đã gần kề.  Đức Giê-su mặc khải cho các ông về nơi Người sẽ tới.  Người quả quyết rằng, các môn đệ và những ai tin vào Người sau này cũng sẽ được đến nơi hạnh phúc đó.

“Lòng anh em đừng xao xuyến.”  Con người trong cuộc sống hôm nay đang hoang mang trước thảm họa chiến tranh và biết bao đe dọa khác đến từ thiên nhiên vũ trụ cũng như từ sự mưu mô của chính con người.  Cụ thể hơn, chúng ta băn khoăn lo lắng vì đâu đâu cũng thấy tội phạm, từ gia đình cho đến xã hội.  Chúng ta hoảng loạn khi thấy cuộc sống bất an do khủng hoảng kinh tế, suy thoái đạo đức, rạn nứt gia đình, bạo lực học đường, tệ nạn xã hội…  Giữa những âu lo của cuộc sống, nhiều khi chúng ta chỉ biết lên án mà không cùng góp phần làm giảm nhẹ những bất công và chia rẽ trong cuộc đời.

Thiên Chúa đang qua bàn tay của mỗi chúng ta để thực hiện những điều kỳ diệu.  Bởi lẽ nếu chúng ta thực hành Lời Chúa dạy, cùng nhau xây đắp một thế giới an lành, thiện hảo và tôn trọng sự thật, thì sẽ góp phần đẩy lui bất công và sự dữ.  “Thà thắp lên một ngọn nến nhỏ còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối.”  Mỗi tín hữu hãy là một cây nến nhỏ, tiếp lửa từ Đức Ki-tô, Ánh sáng cho trần gian, nhờ đó chúng ta có thể đẩy lui bóng tối đang ám ảnh đe dọa cuộc đời.

Để giúp các môn đệ can đảm đón nhận những biến cố sắp xảy đến, Đức Giê-su còn mạc khải cho các ông về Chúa Cha.  Chúng ta hết thảy đều có thể đến với Chúa Cha qua con đường mang tên Giê-su.  Trước nỗi băn khoăn của ông Tô-ma, Đức Giê-su đã khẳng định: “Chính Thầy là con đường, là Sự thật và là Sự sống.  Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.”  Đây không chỉ là lời hứa suông, mà các môn đệ có thể cảm nghiệm được Chúa Cha ngay trong cuộc sống hôm nay: “Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người.”  Vâng, Chúa Cha là Đấng vô hình, chính Đức Giê-su đã nói với chúng ta về Chúa Cha (x. Ga 1,18).  Hơn thế nữa, Người là phản ảnh của Chúa Cha.  Nơi Đức Giê-su, Chúa Cha đã trở nên hữu hình giữa chúng ta.

Vâng, Nước Trời không phải một thứ “bánh vẽ” để ru ngủ con người, nhưng là một thực tại đã khởi đầu nơi trần gian.  Đức Giê-su không chỉ giới thiệu một hạnh phúc xa vời, ảo tưởng, nhưng Người giúp chúng ta hưởng hạnh phúc ngay hôm nay, ở đời này.  Đấng đã trỗi dậy từ ngôi mộ vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần vẫn đang hiện diện giữa chúng ta.  Người sẽ cùng với chúng ta lên đường mở tung những nấm mộ của gian dối, mưu mô và truỵ lạc để đưa anh chị em mình đến với ánh sáng huy hoàng do Đấng Phục Sinh chiếu soi.

Những ngày hân hoan của Mùa Phục sinh sẽ chấm dứt, nhưng Đấng Phục Sinh vẫn ở với chúng ta.  Khi tuân giữ Lời Chúa và cố gắng sống thánh thiện, mỗi tín hữu sẽ là hiện thân sống động của Đấng Sống lại.  Nói cách khác, mọi người xung quanh sẽ nhận ra Đấng Phục Sinh xuyên qua cuộc đời tốt lành của các tín hữu.  Ngay từ ban đầu, nhóm Mười Hai đã luôn xác tín điều đó, nên các ông miệt mài rao giảng Lời Chúa, say sưa phục vụ cộng đoàn, làm cho đức tin vào Đấng Phục sinh nhanh chóng lan rộng khắp nơi (Bài đọc I).  Rao giảng Lời Chúa là ưu tiên số một của cộng đoàn tín hữu để giới thiệu Đấng Phục Sinh cho mọi thời đại.

“Lòng anh em đừng xao xuyến.”  Chúa vẫn đang ủy lại chúng ta trước bao nỗi truân chuyên của cuộc sống.  Xin Chúa cho chúng ta thêm vững tin và được nâng đỡ giữa cuộc đời đầy biến động này.  Xin cho mọi người thời nay xác tín rằng, chỉ có nơi Chúa mới có bình an đích thực, chỉ có Ngài mới có thể đáp ứng những khát vọng thâm sâu nơi cõi lòng chúng ta.  Amen.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI CATARINA SIENA

Để tóm lược tiểu sử thánh Catarina Siena, tác giả xin chọn cuốn Vie de Sainte Catherine de Sienne, (Legenda Maior) của cha Raymond de Capoue, O.P.  Cha là linh hướng của Catarina từ năm 1374 cho đến ngày chị được Chúa gọi về năm 1380.  Vài năm sau cái chết của chị, cha Raymond đã có ý viết tiểu sử Catarina, vì thế, cha đã gặp gỡ bà Lapa, mẹ của Catarina xin tất cả những chi tiết liên quan đến thời thơ ấu của chị.  Do đó, tiểu sử thánh Catarina do cha Raymond de Capoue viết có phần đáng tin cậy.  Điều này muốn nói rằng tuy không chính xác hết mọi sự kiện, nhưng Vie de Sainte Catherine de Sienne cũng là một trong những tài liệu giúp chúng ta khám phá ra tiểu sử của một con người “không học mà làm tiến sĩ,” một con người sống trọn vẹn linh đạo Đa Minh “Nói với Chúa, nói về Chúa,” một con người sống dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần và trở thành khí cụ của Thiên Chúa cho Giáo hội và xã hội vào thế kỷ XIV.

I.  Thời thơ ấu

Catarina Benincasa sinh 25-03-1347 tại Siena, là con thứ 23 trong một gia đình 25 người con.  Thân phụ là ông Giacômô Benincasa, làm nghề thợ nhuộm.  Thân mẫu là bà Lapa.  Tuy đông con, nhưng cha mẹ Catarina còn nhận thêm một người con nuôi là Toma della Fonte, lớn hơn Catarina 10 tuổi, sau này Toma đi tu dòng Đa Minh và trở nên cha giải tội đầu tiên của Catarina.  Gia đình Catarina nằm trong giáo xứ do các cha Đa Minh phụ trách, vì thế Catarina thường đi lễ nhà thờ thánh Đa Minh và yêu mến các tu sĩ Đa Minh một cách đặc biệt.  Theo truyền thống kể lại, mỗi lần các tu sĩ Đa Minh đi ngang qua nhà, Catarina đã lén ra hôn những dấu chân sau khi họ đi qua.

Khi còn rất nhỏ, Catarina đã đọc kinh Ave Maria mỗi khi leo lên từng bậc cầu thang.  Điều này không gì lạ nơi các thánh.  Thánh Têrêxa Avila năm lên 6 tuổi đã ý thức rất rõ: “Tôi muốn gặp Thiên Chúa, và phải chết đi mới gặp Ngài.”  Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu mới 3 tuổi đã biết nói: “Con không chối Chúa điều gì.”  Thiên Chúa ban ơn cho những ai Ngài tuyển chọn.  Năm lên 6 tuổi, Catarina đã có một thị kiến đầu tiên, thị kiến này ảnh hưởng rất lớn trong cuộc đời Catarina.  Một ngày kia, Catarina cùng với anh Stephanô được sai tới nhà chị Bonaventura.  Trên đường về nhà, khi đi qua Fontebranda, Catarina nhìn lên nóc nhà thờ thánh Đa Minh trên ngọn đồi đối diện, thấy Chúa Giêsu hiện ra trong phẩm phục và đội mũ Đức Giáo Hoàng ngự trên trời.  Chúa Giêsu mỉm cười và ban phép lành cho Catarina.  Bên cạnh Ngài là thánh Phêrô, thánh Phaolô và thánh sử Gioan.

Đâu là ý nghĩa của thị kiến này?  Chúng ta có thể rút ra hai dấu chỉ:

1) Catarina đã thấy Chúa Giêsu, Đấng đã xuống thế làm người vì yêu thương nhân loại tội lỗi và đã chết trên Thập giá, Đấng đã hy sinh đến giọt máu cuối cùng để cứu rỗi nhân loại. Điều này được thể hiện rõ nét trong các bức thư của Catarina, trong tác phẩm Đối Thoại, cũng như trong những lời cầu nguyện, Catarina có một cảm nghiệm sâu xa về Đức Giêsu Đấng cứu độ duy nhất, Ngài là chiếc cầu nối liền giữa trời và đất, là Đấng giao hòa giữa con người với Thiên Chúa. Chính vì thế, năm lên 7 tuổi, Catarina khấn giữ mình đồng trinh để hoàn toàn thuộc trọn về Chúa Kitô, để hy sinh, hãm mình và cầu nguyện cho các linh hồn.

2) Trong thị kiến, Chúa Giêsu hiện ra trong phẩm phục của Đức Giáo Hoàng, vị lãnh đạo Giáo hội, thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô. Chúa Giêsu hiện ra cùng với ba vị tông đồ: Phêrô, vị đại diện Chúa Kitô ở trần gian này, Phaolô, vị tông đồ rao giảng một Đức Kitô chịu đóng đinh, và Gioan là tác giả Tin Mừng mà Catarina trích dẫn rất nhiều trong tác phẩm của chị.

Sau thị kiến này, Catarina bắt đầu tập sống nhân đức và đánh tội.  Catarina bỏ đi các trò chơi, dành nhiều giờ cho việc cầu nguyện, thích sống trong thinh lặng, cô tịch.  Cuộc sống của Catarina đã làm cho các bạn bè cùng lứa tuổi để ý và quy tụ chung quanh Catarina cùng nhau cầu nguyện và làm việc đền tội.

Khi lên 12 tuổi, bà Lapa muốn con gái mình được trang điểm và lập gia đình như bao thiếu nữ khác, thế nhưng Catarina phản đối vì muốn dâng mình cho Chúa.  Trước sự cương quyết của Catarina, bà Lapa đã cùng với chị Bonaventura làm mọi cách để thuyết phục Catarina.  Vì rất quý mến chị Bonaventura, Catarina đã chiều theo ý mẹ mình, nhưng sau khi người chị qua đời, Catarina đã hoán cải và quyết lòng sống đời khiết tịnh.  Để chứng tỏ sự chọn lựa của mình, Catarina đã cắt đi mái tóc vàng xinh đẹp và đội trên đầu một chiếc mũ nhỏ.  Tuy nhiên gia đình đã gây áp lực, bắt Catarina làm việc từ sáng đến tối để không có giờ cầu nguyện.  Trước hoàn cảnh đó, Catarina đã biết làm cho mình một “căn phòng nội tâm,” để ở nơi đó, chị có thể tâm sự với Chúa Giêsu bất cứ lúc nào chị muốn, thời gian và không gian không thể nào chia cắt Catarina với Đấng dấu yêu.

II.  Sống yêu thương

Năm 16 tuổi chị xin nhập Dòng ba Đa Minh, chị mặc áo dòng của các chị em dòng “đền tội” hay còn có một tên khác “Các bà mang áo choàng.”  Đây không phải là các đan sĩ theo nghĩa chặt, cũng không có một cấu trúc như chúng ta ngày hôm nay.  Các bà sống đời sống thánh thiện tại gia đình, làm việc đền tội, thăm viếng người nghèo, chăm sóc bệnh nhân.  Các bà giữ một lời khấn: nếu phụ nữ đã lập gia đình, họ chỉ làm lời khấn với sự đồng ý của chồng, nhưng nếu chồng qua đời họ không được lập gia đình lần nữa.  Đối với một thiếu nữ, họ tuyên bố từ bỏ hôn nhân một cách công khai như trường hợp của Catarina.  Tuy không sống đời sống cộng đoàn, nhưng thứ 6 hàng tuần, các chị em Dòng Áo choàng gặp nhau để cầu nguyện chung với nhau, dưới sự hướng dẫn của một anh em Dòng Đa Minh hoặc nghe chú giải lời Chúa.  Những sinh hoạt của chị em đều dưới quyền của Bề Trên Tổng Quyền hoặc một anh em nào đó được ủy quyền.

Từ ngày đó, Catarina càng gắn bó mật thiết với Chúa.  Chị sống một cuộc đời khổ chế, bớt ăn, bớt ngủ.  Khổ chế của Catarina xuất phát từ lòng yêu mến Chúa chứ không phải đi tìm niềm vui cho bản thân.  Cha Raymond đã dành một chương dài kể những việc khổ chế, hành xác của Catarina.  Giữa những khổ chế, những cực hình chịu đựng vì Chúa Giêsu, Catarina đã nhận được nhiều ơn lạ như thị kiến, an ủi nội tâm.  Năm lên 20 tuổi Catarina đã đính hôn thần bí với Chúa Giêsu, Ngài đã trao cho chị “một chiếc nhẫn gắn bốn viên ngọc và kim cương” để biểu hiện việc kết bạn thiêng liêng.  Sự kiện này đã đánh dấu một bước ngoặc trong cuộc đời Catarina, giai đoạn sống ẩn dật đã chấm dứt, từ hôm nay, Catarina lên đường phục vụ Giáo hội.  Sở dĩ Thiên Chúa liên kết với Catarina bằng chiếc nhẫn vô hình, là để thánh nữ cùng hiệp nhất với Ngài trong công cuộc xây dựng nước Chúa.

Chị Catarina rất thích một cuộc sống cô tịch và thinh lặng, để luôn luôn kết hợp với Chúa.  Thế nhưng đây không phải là điều Chúa muốn, Ngài muốn chị ra đi mang hòa bình cho Giáo hội, cho thế giới và đưa các linh hồn về với Ngài.  Một ngày kia, Chúa sai chị đến với tha nhân, nhưng chị sợ rằng những hoạt động bề ngoài sẽ khiến mình xa rời Thiên Chúa.  Chính trong do dự, hoang mang đó, Thiên Chúa đã nói với chị như sau: “Cha không cố ý làm bất cứ điều gì khiến con phải xa lìa Cha, nhưng hơn thế Cha muốn ràng buộc con lại với Cha cách chắc chắn bằng mối dây tình yêu của con đối với tha nhân. Hãy nhớ rằng Cha đã đặt ra hai giới răn tình yêu: tình yêu Cha và tình yêu tha nhân…  Bây giờ Cha muốn con thực thi hai giới răn này quả là chính đáng.  Con phải bước đi trên hai chân” (ĐT. 158).

Từ lúc đó, bằng việc cầu nguyện và hoạt động, chị Catarina bước đi vững vàng trên hai chân của tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân, của chiêm niệm và hoạt động.  Lần đầu tiên khi chị Catarina ra hoạt động, chị tình nguyện làm những công việc bình thường.  Trong gia đình, chị giúp những việc nội trợ, ngoài xã hội, chị phục vụ người nghèo, viếng thăm bệnh nhân, những người tù, những tử tội để an ủi họ.  Những hoạt động của chị đã lan rộng khắp nơi từ Siena, một thị xã nhỏ bé, qua các tỉnh khác như Florence, Pisa.  Tiếng tăm của chị lan đi khắp nơi, nhiều người đã đến xin chị cầu nguyện, làm tư vấn.  Dù bận rộn với những công việc bác ái xã hội, chị Catarina vẫn dành giờ để tâm giao với Chúa.  Chính những giây phút đó, chị có được những ánh sáng mới để giúp tha nhân.  Chị được nhiều ơn lạ, tiên đoán tương lai, đọc được tâm tư của người khác.

Nói đến tiểu sử của chị Catarina, chúng ta cũng không quên biến cố trao đổi trái tim với Chúa Giêsu, cũng như việc lãnh nhận các dấu tích của Chúa tử nạn ngày 01-04-1375 tại nhà thờ Santa Cristina ở Pisa.  Những sự kiện này nói lên chị được đồng hóa, nên một với Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh.

III.  Lòng yêu mến Giáo hội

Chính vì lòng yêu mến Chúa nồng nàn và yêu tha nhân như chính mình đã thúc đẩy chị Catarina đến những vấn đề đại sự của Giáo hội thời bấy giờ.  Trong những năm sau cùng của cuộc đời, chị đã hoạt động với ba công tác quan trọng như sau: giải phóng đất thánh, canh tân Giáo Hội và đưa Đức Giáo Hoàng từ Avignon về Roma.

Năm 25 tuổi, chị bắt đầu viết những bức thư gửi các nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo.  Chị kêu gọi họ lên đường giải phóng đất thánh.  Ngoài ý định dành lại quyền tự do cho người Công giáo được lui tới viếng thăm thánh địa, chị Catarina còn mong mỏi các lực lượng Công giáo đoàn kết với nhau, để tránh những cuộc chiến huynh đệ tương tàn.

Mối bận tâm lớn của chị trong giai đoạn này là canh tân Giáo hội.  Bằng những bức thư, chị thúc giục các cấp lãnh đạo trong Giáo hội, hãy canh tân Giáo hội bằng việc trở về với tinh thần Phúc âm.  Việc canh tân là trách nhiệm của các vị chủ chăn, các tín hữu được mời gọi tham gia qua lời cầu nguyện, canh thức và sám hối.  Thực ra chương trình canh tân được thực hiện sau khi chị qua đời.

Vào năm 1376, theo yêu cầu của nhà cầm quyền Florence, chị Catarina đến Avignon nơi Đức Giáo hoàng Grêgôriô XI đang cư trú, để hòa giải giữa dân thành Florence với Tòa Thánh.  Với lời khẩn nài của chị, Đức Giáo hoàng lên đường về Roma vào ngày 13-09-1376.  Tuy nhiên, nỗi vui của chị kéo dài không được bao lâu, ngày 27-03-1378 Đức Giáo hoàng Giêgôriô XI băng hà, Đức Urbanô VI được bầu kế vị.  Với tính tình cứng cỏi và nghiêm nghị, ngài đã làm tổn thương nhiều người, chúng ta biết được điều đó qua lá thư chị Catarina đã gởi cho Đức Giáo hoàng, chị viết như sau: “Xin cha hãy hành động với trái tim nhân từ và an bình, vì tình yêu Chúa Giêsu, hãy kiềm chế những phản ứng mau lẹ phát xuất từ bản tính tự nhiên.  Thiên Chúa đã ban cho cha một trái tim lớn lao; con nài xin cha hãy hành động để nó trở nên tràn đầy siêu nhiên, nhiệt thành với sự thánh thiện và cải tổ Giáo hội, cha cũng có thể có một trái tim mạnh mẽ, dựa trên sự khiêm tốn đích thực.”  Chính vì thế, chưa được sáu tháng, các Hồng Y người Pháp đã họp nhau bầu một Giáo hoàng khác tên là Clémentê VII người Pháp, trú tại Avignon.  Nhưng về phần mình, chị Catarina hết sức bảo vệ Đức Urbanô VI.  Đây là khởi điểm cho cuộc đại ly giáo đã phân đôi Giáo hội Tây phương và gây chia rẽ giữa các quốc gia, thành phố, giáo phận, dòng tu, và ngay cả trong gia đình.  Chị đau lòng vì cuộc ly giáo này và đã tìm mọi cách khôi phục sự hiệp nhất cho Giáo hội.  Kể từ giai đoạn này, các bức thư của chị là những sứ điệp tha thiết kêu gọi sự đoàn kết trong Kitô giáo.

IV.  Giai đoạn cuối đời

Sau những năm tháng làm việc không ngơi nghỉ vì lòng yêu mến Chúa và Giáo hội, chị Catarina đã trải qua những ngày tháng cuối cùng tại Roma.  Chị trải qua cơn hấp hối nhiệm mầu kéo dài gần ba tháng, có thể nói, đây là cuộc tử đạo mà chị hằng ước ao.  Trước khi lìa đời, chị đã có những lời huấn dụ với gia đình thiêng liêng của chị: “Các con hãy cầu nguyện không ngừng và sống khiêm tốn.  Hãy tránh đoán xét người khác hay thậm chí tranh luận về hành vi của họ.  Hãy luôn tin tưởng và cậy trông nơi Chúa, và yêu thương nhau, để các con có thể thực sự là con cái thân yêu của Giáo hội.  Trước mặt Chúa, các con hãy dâng hiến nước mắt và những lời cầu nguyện sốt sắng cho Giáo hội của Người.”  Còn đối với người mẹ dấu yêu, chị xin bà chúc lành, và theo ước muốn của bà, chị chúc lành lại cho bà.  Chị cũng cầu nguyện cho Giáo hội, cho tất cả mọi người.  Lời cầu nguyện cuối cùng của chị thật tràn đầy yêu thương: “Lạy Chúa hằng sống, xin đón nhận cuộc sống con như tấm bánh trong thân thể mầu nhiệm Ngài là Giáo hội.  Con không có gì để hiến dâng ngoài những gì Chúa ban cho con, vì thế, xin hãy nhận lấy trái tim con và in dấu nó trên gương mặt hiền thê của Ngài là Giáo hội.”

Chị qua đời vào ngày 29-04-1380, tròn 33 tuổi.  Người ta mai táng và tôn kính thi hài chị tại bàn thờ chính của nhà thờ Santa Maria sopra Minerva, Roma.  Riêng đầu của chị Catarina được rước về Siena với sự hiện diện của bà Lapa.  Ngày 29-06-1461, Đức Piô II phong thánh cho chị Catarina Siena.  Ngày 13-04-1866, Đức Piô IX đặt chị làm bổn mạng của Roma.  Ngày 18-06-1939, Đức Piô XII tôn phong chị làm bổn mạng nước Ý cùng với thánh Phanxicô.  Ngày 04-10-1970, Đức Phaolô VI tặng tước hiệu “tiến sĩ Giáo hội” cho chị Catarina, một tuần sau thánh Têrêxa Avila.  Ngày 01-10-1999, Đức Gioan Phaolô II ban tự sắc tôn vinh Catarina cùng với thánh Brigida và thánh Têrêxa Bênêdicta Thánh Giá làm bổn mạng Âu Châu.  Trải qua 6 thế kỷ, chị Catarina vẫn được nhắc đến qua các tước hiệu trên, chứng minh điều Chúa hứa với Catarina “Nếu con không quên Ta thì Ta sẽ không bao giờ quên con” đã thành sự thật.

Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh, OP

SƯ TỬ CÓ ÐÔI CÁNH

Khách du lịch đến thưởng ngoạn Venice, một thành phố mơ mộng nằm trên sông nước và được làm tăng thêm vẻ đẹp bằng những công trình kiến trúc độc đáo cũng như bằng những tác phẩm nghệ thuật thời danh nằm ở mạn đông bắc Italia, không thể bỏ qua công trường Marcô, công trình mang tên của vị thánh bổn mạng của thành phố Venice và cũng là vị thánh Giáo hội mừng kính hôm nay.

Trên con đường tiến gần đến công trường Marcô, du khách nhìn thấy một con sư tử có đôi cánh đứng sừng sững trên một ngọn tháp cao.  Hình sư tử này nhắc đến sự nghiệp viết sách Phúc Âm đầu tiên của thánh Marcô, như chứng từ của sử gia Papias, sinh sống vào cuối thế kỷ thứ hai viết như sau:

“Marcô, người thông ngôn của Phêrô, đã viết ra đúng những gì nhớ được, tuy không theo thứ tự, về những điều Ðức Kitô đã nói và đã làm.  Marcô không trực tiếp nghe Chúa giảng, cũng không phải là môn đệ của Ngài.  Nhưng ông đã tháp tùng Phêrô, người đã giảng dạy theo những gì ông cảm thấy cần thiết, chứ không phải chủ tâm thuật lại lời Chúa một cách có hệ thống.”

Marcô là người thông ngôn và lãnh trách nhiệm chép lại những lời Phêrô giảng, vì thế không lạ gì ở cuối bức thư thứ nhất, Phêrô gọi ông là “Marcô, người con của tôi.”

Ngoài sự gần gũi với thánh Phêrô, Marcô cũng tiếp xúc lân cận với Phaolô, bắt đầu vào lần gặp gỡ đầu tiên vào năm 44, khi Phaolô và Barnaba đưa về Giêrusalem số tiền cộng đoàn Antiokia quyên được để trợ giúp cộng đoàn Mẹ.  Khi trở về, Barnaba đem theo Marcô, là cháu của ông.

Sau đó, trong khi đồng hành với Phaolô và Barnaba để hoạt động truyền giáo ở đảo Cypre, vì một sự bất đồng ý kiến nào đó, Marcô đã bỏ về Giêrusalem.  Vì lý do này, trong chuyến truyền giáo thứ hai, Phaolô đã nhất quyết không cho Marcô theo, mặc dù Barnaba tha thiết yêu cầu.  Sự kiện này đã gây đổ vỡ đến sự cộng tác giữa Phaolô và Barnaba.

Nhưng trong những ngày cuối đời, khi chờ đợi ngày hành quyết, Phaolô đã viết thư nhắn với Timôthê: “Hãy đem cả Marcô đến nữa, vì tôi cần sự giúp đỡ của anh ấy lắm.”  Bạn bè người ta muốn gặp trong những ngày cuối đời phải là những người đồng sinh đồng tử!

Những chi tiết khác nhau đó của cuộc đời của thánh Marcô không lấy gì làm chắc.  Có tài liệu cho là thánh nhân chết tự nhiên.  Tài liệu khác lại cho là thánh nhân được phúc tử đạo.  Vương cung thánh đường tại công trường Marcô ở Venice tự hào là còn giữ lại hài cốt của Ngài.

Trong cuộc sống, Marcô đã chu toàn bổn phận mà mọi người Kitô được kêu gọi phải thực thi: Ðó là rao giảng Tin Mừng và làm chứng về Ðức Kitô.  Marcô đã thực hiện công việc này đặc biệt qua công tác viết sách Phúc Âm, những người Kitô khác qua kịch nghệ, âm nhạc, thơ phú hay qua việc dạy đạo cho con em quanh bàn ăn của gia đình hoặc qua cuộc sống chứng tá trong những sinh hoạt và nếp sống hằng ngày.

Trích trong ‘Lẽ Sống’ – Radio Veritas Asia

CỬA CHUỒNG Ở ÐÂU?

“Hình ảnh mục tử nhân lành làm nổi bật mối tương giao và sự hiến thân của Chúa Giêsu cho mỗi người chúng ta.”

Vào thời Chúa Giêsu, khi màn đêm buông xuống, các mục tử lùa đàn chiên của họ vào chuồng.  Nếu ở gần làng, họ sẽ lùa chúng vào cái chuồng công cộng, còn nếu ở xa làng, thì họ sẽ lùa chúng vào một cái chuồng ở ngoài đồng hoặc đôi khi trong một cái hang.  Các mục tử làm thế là để che chở bầy chiên khỏi sương đêm lạnh lẽo và khỏi lũ thú rừng.  Trong bài Phúc âm hôm nay Chúa Giêsu ám chỉ đến cả hai loại chuồng trên.

Phần đầu bài Phúc âm, Người ám chỉ đến loại chuồng làng công cộng, đặc biệt nhắc đến lúc sáng sớm, khi người mục tử đến chuồng làng công cộng nhận bầy của mình để dẫn chúng đi ăn cỏ suốt ngày, Chúa Giêsu nói: “Người giữ cửa sẽ mở cửa cho anh ta; chiên anh sẽ nghe tiếng anh khi anh gọi tên từng con một và dẫn chúng ra.  Khi mang chúng ra rồi, anh đi phía trước, lũ chiên đi theo anh vì chúng nhận biết giọng nói của anh”

Phần sau của bài Phúc âm, Chúa Giêsu ám chỉ đến loại chuồng ở ngoài đồng đặc biệt Người nói đến lối vào chật hẹp trong chuồng mà bầy chiên phải đi qua.  Chúa Giêsu nói: “Ta là cửa chuồng chiên… Ai bước qua Ta mà vào thì sẽ được cứu: người ấy sẽ vào, và ra, rồi tìm được đồng cỏ.”  Trong cuốn sách nhan đề The Holy Land (đất thánh).  John Kellman mô tả một cái chuồng chiên ngoài đồng như sau: nó có một bức tường bằng đá chung quanh cao khoảng bốn bộ (cỡ 1m4) và một lối vào.  Kellman kể rằng ngày nọ một du khách Thánh Ðịa đã trông thấy một cái chuồng chiên ngoài đồng gần Hebron.  Anh du khách hỏi người mục tử đang ngồi cạnh đó: “Cửa chuồng của anh ở đâu?  Người mục tử liền đáp: “Tôi chính là cửa chuồng.”  Ðoạn người mục tử kể cho du khách nghe anh ta nằm chặn ngang lối vào chật hẹp đó.  Không có chú chiên nào có thể bỏ chuồng đi ra, và cũng chẳng có con thú rừng nào có thể đi vào mà không bước qua mình anh ta.

Có hai điều nổi bật trong câu chuyện dễ thương này.  Thứ nhất là tính cách duy nhất ngày càng tăng lên giữa người mục tử và bầy súc vật của anh.  Phần lớn đàn chiên được nuôi để lấy len.  Một mục tử phải hiện diện với bầy chiên của mình 365 ngày một năm, và thường là đủ 24 giờ một ngày.  Người mục tử phải biết rõ chiên mình đến mức phải biết con nào có móng mềm, con nào đau vì ăn bậy, con nào hay bỏ bầy chạy rông…  Thứ hai là sự hiến thân sâu sắc của người mục tử cho bầy chiên, thậm chí liều mạng sống cho chúng.

Chính trong bối cảnh này, chúng ta có thể hiểu rõ hơn điều Chúa Giêsu mường tượng trong tâm trí khi Người nói: “Ta là mục tử nhân lành” (Ga 10: 11).  Chúa Giêsu muốn nói rằng, mối tương giao và sự hiến thân của Người cho chúng ta tương tự như mối tương giao và sự hiến thân của người mục tử cho bầy chiên mình.  Giống như người mục tử, Chúa Giêsu luôn hiện diện với chúng ta 365 ngày mỗi năm, 24 giờ mỗi ngày.  Người đã từng nói với các môn đệ: “Ta sẽ luôn ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28: 20).

Giống như người mục tử, Chúa Giêsu cũng biết rõ mỗi người chúng ta một cách thân mật sâu xa.  Người biết ai trong chúng ta yếu kém về đức tin, ai trong chúng ta thường dễ ngã lòng, ai trong chúng ta thường hay bỏ bầy đi rông.  Chúa Giêsu không bao giờ bỏ rơi chúng ta.  Người luôn luôn ở đó để giúp đỡ chúng ta.  Và nếu lỡ chúng ta bỏ bầy đi rông thì Người sẽ bỏ lại 99 con chiên để đi kiếm chúng ta.  Ðiều Thiên Chúa nói với dân riêng Người qua miệng tiên tri Isaia, cũng chính là điều Chúa Giêsu đích thân nói với mỗi người chúng ta : “Ðừng sợ, Ta gọi ngươi bằng tên…  Ngươi rất quí báu đối với Ta…  Ðừng sợ!  Này đây Ta ở với ngươi” (Isaia 43: 1, 4-5).

Bài Phúc âm hôm nay đặc biệt thích hợp cho ngày các bà mẹ.  Giống như người mục tử, giống như Chúa Giêsu, một bà mẹ luôn có mối tương giao gần gũi sâu sắc với bầy con hoặc gia đình mình.

Không có gì mà bà mẹ không làm để bảo vệ cho bầy con khỏi cơn nguy hiểm.  Và bà sẵn sàng đi đến bất cứ nơi nào để tìm kiếm đứa con lầm đường lạc lối.  Tình yêu của một bà mẹ dành cho gia đình vẫn hoạt động ngay cả khi tự thân bà không thể bảo vệ cho bầy con của bà nữa.

Có câu chuyện thật dễ thương trong cuốn tự thuật của Jimmy Cagney, nam diễn viên nổi tiếng ở HollyWood.  Câu chuyện xảy ra vào thời tuổi trẻ của Cagney khi mẹ ông đang nằm trên giường chờ chết.  Chung quanh giường có bốn cậu con trai đều mang tên Cagney và cô em gái duy nhất của họ là Jeannie.  Vì bị nhồi máu cơ tim, bà Cagney không nói được nữa.  Sau khi lần lượt bá cổ cả năm đứa con, bà liền giơ cánh tay phải, cánh tay duy nhất còn hoạt động đựơc lên.  Jimmy mô tả những gì xảy ra sau đó:

“Mẹ tôi dùng ngón tay chỉ Harry rồi chỉ vào ngón trỏ của bàn tay vô dụng của bà, sau đó chỉ tôi rồi chỉ vào ngón giữa, rồi chỉ Eddie rồi chỉ vào ngón áp út, chỉ Bill rồi chỉ vào ngón út, chỉ Jeannien rồi chỉ vào ngón cái.  Ðoạn bà cầm ngón cái để vào giữa lòng bàn tay, rồi áp chặt ngón cái dưới bốn ngón kia tụm lại. Sau đó bà dùng bàn tay còn khỏe vỗ nhẹ lên nắm đấm bàn tay trái” (James Cagney).

Jimmy nói rằng cử chỉ của mẹ ông thật tuyệt vời.  Mọi người đều biết ý nghĩa của cử chỉ ấy, tức bốn anh em có bổn phận che chở cho bé Jeannie sau khi mẹ họ qua đời.   Đó là một cử chỉ đẹp và đầy ý nghĩa mà không lời nào có thể diễn tả hay hơn.

Tôi vui mừng vì chúng ta có ngày dành riêng cho các bà mẹ để nhắc nhở chúng ta về bản chất của người mẹ và để nhắc nhở các bà mẹ về sứ vụ mà Chúa kêu gọi họ.

Tôi vui mừng vì ngày các bà mẹ trùng hợp với Chúa nhật hôm nay với những lời Chúa Giêsu nói về người mục tử.  Bởi vì sự thân mật và sự hiến thân trọn vẹn của một bà mẹ cho gia đình mình là một phản ảnh hoàn hảo sự thân mật và hiến thân trọn vẹn của người mục tử cho bầy súc vật của anh.  Và hơn tất cả, tình thân và sự hiến thân cho gia đình của một bà mẹ phản ảnh hoàn hảo tình thân mà Chúa Giêsu dành cho chúng ta.

Vì thế, chúng ta hãy hân hoan vui mừng và cầu xin cho ngày hôm nay sẽ kéo các thành viên trong gia đình gần lại với nhau hơn, đồng thời quí chuộng lẫn nhau hơn, đặc biệt đối với bà mẹ của họ.

Lm. Mark Link, S.J.

TRỞ THÀNH MỘT NHÀ THẦN BÍ THỰC HÀNH

Tôi có dạy một khóa học về nhà thần bí nổi tiếng Thánh Gioan Thánh Giá.  Vì đây không phải là khóa học bắt buộc đối với bất kỳ học viên nào, tôi thường bắt đầu buổi học đầu tiên bằng cách hỏi mỗi học viên tại sao họ lại quan tâm đến khóa học này.  Các câu trả lời rất đa dạng: “Tôi tham gia khóa học này vì cha linh hướng của tôi bảo tôi tham gia.”  “Tôi luôn tò mò về thần bí học.”  “Tôi học bất cứ môn nào được dạy vào tối thứ Ba!”  Tuy nhiên, một tối nọ, một phụ nữ đã đưa ra câu trả lời này: “Tôi tham gia khóa học này vì tôi là một nhà thần bí thực hành.”

Điều đó khiến một số người ngạc nhiên.  Thật sao?  Một nhà thần bí thực hành sao?

Liệu ai đó có thể là một nhà thần bí thực hành không?

Điều đó phụ thuộc vào cách bạn hiểu về trải nghiệm thần bí.  Nếu bạn đánh đồng trải nghiệm thần bí với những điều phi thường, với những hiện tượng siêu nhiên (những thị kiến, những trạng thái xuất thần, những trạng thái ý thức thay đổi hoàn toàn, hoặc sự xuất hiện kỳ diệu của Chúa Giêsu, Đức Mẹ Maria, một thiên thần hay một vị thánh) thì bạn không thể là một nhà thần bí thực hành.  Mặc dù những hiện tượng phi thường như vậy thực chất có thể là trải nghiệm thần bí (và thực sự đánh dấu trải nghiệm của một số nhà thần bí cổ điển), nhưng trải nghiệm thần bí bình thường không được đặc trưng bởi bất kỳ hiện tượng tôn giáo ngoại thường nào.  Thật vậy, nó thường nghi ngờ bất cứ điều gì phi thường và yêu cầu phải được phân định một cách kỹ lưỡng hơn.

Trải nghiệm thần bí bình thường, hầu hết các nhà thần bí, không dựa trên điều phi thường.  Ngược lại, nó dựa trên chính nền tảng của sự bình thường.  Điều này có nghĩa là gì?

Một nhà thần bí đương đại nổi tiếng, Ruth Burrows, nữ tu dòng Cát Minh người Anh, định nghĩa trải nghiệm thần bí như sau.  Trải nghiệm thần bí là được Chúa chạm đến theo một cách vượt quá những gì chúng ta có thể diễn đạt, hình dung, hoặc thậm chí cảm nhận một cách có ý thức.  Đó là điều chúng ta biết nhiều hơn là nghĩ.

Về bản chất, một Thiên Chúa không thể diễn tả được chạm đến chúng ta theo một cách không thể diễn tả được; một Thiên Chúa vượt ra ngoài khái niệm, chạm đến chúng ta theo một cách không thể diễn tả thành lời; một Thiên Chúa vượt ra ngoài ngôn ngữ chạm đến chúng ta theo một cách không bao giờ có thể diễn tả đầy đủ thành lời; và một Thiên Chúa, nguồn gốc của mọi sự sống, chạm đến chính nguồn gốc của sự sống, để chúng ta biết, một cách trực giác, cả bản thân mình lẫn cách mình đứng trước Thiên Chúa.

Điều này nghe có vẻ khá trừu tượng, nhưng không phải thế như Ruth Burrows giải thích khi dùng câu chuyện của chính bà.

Trong cuốn tự truyện của mình, Trước Thiên Chúa Hằng Sống, Ruth Burrows (mất năm 2023) chia sẻ câu chuyện về việc, ngay khi bà hoàn thành chương trình giáo dục cơ bản và lên kế hoạch cho việc học đại học, một trải nghiệm thần bí đã tác động và thay đổi cuộc đời bà một cách triệt để.

Vào thời điểm đó trong cuộc đời, bà không thực sự nghiêm túc với đức tin của mình.  Việc thực hành đức tin của bà mang tính học thuộc lòng hơn là sốt sắng, nhưng bà đã tham gia một khóa tĩnh tâm với một số phụ nữ trẻ khác cùng tuổi.  Một trong những điều bà được yêu cầu làm trong khóa tĩnh tâm đó là ngồi trong nhà nguyện im lặng một giờ đồng hồ nhiều lần mỗi ngày.  Những giờ im lặng đó khiến bà mệt mỏi và bà sợ hãi.

Tuy nhiên, một ngày nọ, trong một trong những giờ phút ấy, khi ngồi im lặng, bà đã có (sau này bà gọi là) một trải nghiệm thần bí.  Không có những thị kiến siêu nhiên, không có sự xuất thần, không có sự xuất hiện của thiên thần, mà chỉ có một khoảnh khắc sáng suốt phi thường, đầy ân sủng; một khoảnh khắc mà lần đầu tiên bà hiểu rõ bản thân mình, vượt ra ngoài những gì bà có thể nghĩ, diễn đạt thành khái niệm, hay diễn đạt thành lời.  Đó là khoảnh khắc mà bà được lột bỏ mọi sự giả tạo, lột bỏ mọi hệ tư tưởng, lột bỏ mọi hình ảnh tự thân giả tạo, lột bỏ mọi dáng vẻ đối với người khác, trần trụi về mặt cảm xúc và đạo đức, bà chỉ biết – biết mình là ai và mình đứng trước Chúa và mọi người như thế nào.

Khoảnh khắc thần bí của bà là một khoảnh khắc hoàn toàn chân thành, một khoảnh khắc không che phủ, như gốc Latinh của từ này gợi ý (sine- without và cere-wax).  Giống như tất cả những nhà thần bí, bà đã phải vật lộn để diễn tả thành lời một điều gì đó phần lớn không thể diễn tả được, nhưng lại in dấu ấn lên tâm hồn bà theo một cách đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời bà.

Với định nghĩa về thần bí học như vậy, tất cả chúng ta đều được mời gọi trở thành những nhà thần bí thực hành, nghĩa là, tất cả chúng ta đều được mời gọi trong sự tĩnh lặng của trái tim, hoặc có lẽ trong trải nghiệm được nâng lên về mặt tâm hồn hoặc bị nghiền nát về mặt tâm hồn, để đứng hoặc quỳ gối trước Chúa với sự chân thành tuyệt đối, không chút giả tạo, trần trụi về mặt đạo đức, lột bỏ mọi sự giả tạo, lột bỏ mọi điều giả dối, để ngay lúc đó, chúng ta có thể biết chân tướng mình là ai và mình đứng trước Chúa, trước tha nhân, và trước chính con người thật của mình như thế nào.  Chúng ta cần cầu nguyện cho sự sáng suốt đó và thể hiện rõ ràng ý định đó trong lời cầu nguyện.

Vậy chúng ta làm điều đó bằng cách nào?  Chúng ta làm điều đó bằng cách cố gắng hết sức trong lời cầu nguyện để tập trung vào sự chân thành và sự trần trụi của tâm hồn, bằng cách cầu xin Chúa nhìn thấu tất cả những gì giả dối trong chúng ta để chúng ta có thể biết Chúa biết đến mình như thế nào.

Trong lời cầu nguyện của mình, Dag Hammarskjöld thường cầu xin Chúa: “Xin cho con có được sự sáng suốt để phản chiếu cuộc sống và khuôn đúc nó trong trái tim thanh khiết, và có được sự tự vấn có ý thức để đưa con vào con đường phản chiếu sự vĩ đại của cuộc sống.”  Cầu xin điều đó trong lời cầu nguyện chính là trở thành một nhà thần bí thực hành.

Rev. Ron Rolheiser, OMI