HOÁ RA LÀ NGÀI

“Các ông hoảng sợ.”

Trong “When All Hell Breaks Loose”, tạm dịch, “Khi Tất Cả Đổ Vỡ”, Steven J. Lawson viết: “Có thể bạn đang ở trong một cơn bão. Chúa có mục đích khi dẫn bạn vào đó. Hãy hướng mắt về Ngài!”

Kính thưa Anh Chị em,

“Các ông hoảng sợ.”  Giữa ‘biển trong đêm’, khi tất cả đổ vỡ, các môn đệ chao đảo không chỉ bởi bão tố, nhưng trước một sự hiện diện chưa được nhận biết.  Chỉ khi Chúa Giêsu cất tiếng, họ mới chợt hiểu: ‘hoá ra là Ngài.’

Vậy điều gì đã xảy ra với các môn đệ?  Giữa ‘biển trong đêm’, gió nổi sóng gào, thuyền chao đảo; họ bị cuốn vào chính những gì đang đổ vỡ trước mắt.  Khi mọi sự dồn dập, họ quay khỏi Thầy để chống chọi giữa những hỗn mang.  Chính trong khoảnh khắc ấy, khi nỗi kinh hoàng chiếm trọn tâm hồn, họ không còn nhận ra ai đang đến gần; đến nỗi, như các Tin Mừng khác kể lại, họ tưởng chỉ là một bóng ma.  Họ không chỉ không nhận ra Ngài, họ còn đặt tên sai cho Ngài.  “Chúng ta chỉ thấy điều mình đã sẵn sàng để thấy!” – Walter Lippmann.

Chính lúc ấy, Chúa Giêsu cất tiếng: “Thầy đây mà, đừng sợ!”  Trong nguyên ngữ Gioan, egō eimi – “Ta là”; công thức mặc khải vang vọng từ Xuất Hành, nơi Thiên Chúa tiết lộ danh tính, và trong truyền thống Latinh được diễn đạt là Ego sum.  Đó không chỉ là lời nhận diện, nhưng là một sự hiện diện tự xưng, không cần được chứng minh; không chỉ là lời trấn an, nhưng là một mặc khải: Ngài tự nói ra căn tính của mình.  Từ đó, nỗi sợ bắt đầu tan biến, không phải vì bão đã yên, nhưng vì họ nhận ra ai đang ở trước mặt.  Điều họ tưởng là đe dọa ‘hoá ra là Ngài’ – Thầy của mình.

Đó cũng là trải nghiệm vượt những ‘biển trong đêm’ của Hội Thánh sơ khai.  Khi các tín hữu bắt đầu kêu trách nhau, khi sự kỳ thị xé rách cộng đoàn; chính trong những đổ vỡ ấy, họ không dừng lại nơi xung đột, nhưng quay về với Chúa Phục Sinh.  Từ đó, các phó tế đầu tiên được thiết lập, trật tự dần được tái ổn định, giông bão lắng xuống – bài đọc một.  Điều đã xảy ra với họ cũng là điều xảy ra nơi chúng ta: không phải vì không có sóng gió, nhưng vì biết quay về với Chúa trong nguyện cầu.  “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Chính Chúa Giêsu đã đi qua những ‘biển trong đêm’: cám dỗ, rình rập, và cuối cùng là thập giá.  Nhưng trong tất cả, Ngài không quay khỏi Cha; Ngài nhận ra Cha ngay giữa bóng tối và trao phó chính mình: “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha.”  Đó cũng là nơi đời sống chúng ta chạm tới: không phải khi sóng gió qua đi, nhưng ngay giữa những điều chưa sáng tỏ.  Không phải vì chúng ta giữ được mình, nhưng vì có một tương quan giữ chúng ta lại; để giữa những ‘biển trong đêm,’ chúng ta không còn bị cuốn đi, nhưng dần nhận ra một sự hiện diện không hề xa – ‘hoá ra là Ngài’, “Đấng gần chúng ta hơn chính chúng ta gần mình!” – Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi mọi sự xem ra đổ vỡ, xin cho con đừng gọi Ngài bằng một cái tên sai!”  Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

NHỮNG NGƯỜI BẠN ĐỒNG HÀNH TRONG ĐỨC TIN

Cách đây một thời gian, tờ The Wall Street Journal có một bài viết về một số các chuyên gia trẻ thành công và họ đang quay trở lại nhà thờ sau một thời gian xa cách.

Bài báo mở đầu bằng việc ghi nhận rằng trong quá khứ, những người đã ngừng đi nhà thờ thì họ thường không cảm thấy cần quay lại cho đến khi lập gia đình, sinh con, hoặc gặp một biến cố lớn trong đời.

Ngày nay, những người đang ở đỉnh cao sự nghiệp và thành công lại có cái nhìn khác về tôn giáo.  Họ từng nghĩ rằng thành công sẽ mang lại hạnh phúc.  Nhưng thay vào đó, họ lại cảm thấy trống rỗng.

Một số đề cập đến sự thành công của họ như thế này: “Người ta đã đặt chân lên mặt trăng, rồi tự hỏi: ‘Chỉ có thế thôi sao?  Phải còn điều gì hơn thế này chứ!’”

Một ví dụ cụ thể là Mary Kay, giám đốc một công ty sản xuất phim ở Hollywood.  Cô từ bỏ Giáo Hội khi rời xa gia đình.  Cô tự thuyết phục mình rằng tôn giáo không còn phù hợp nữa.  Nhưng khi sự thành công đến, nó không mang lại cảm giác như cô mong đợi.  Nó để lại một khoảng trống; một điều gì đó thiếu vắng.

Lúc đầu, cô cố lấp đầy khoảng trống ấy bằng cách tham dự các buổi thuyết giảng của những “đạo sĩ” thời đại mới và lấy các lớp ở trường đại học về nhiều chủ đề tâm linh.  Nhưng sự trống rỗng ấy vẫn còn.

Rồi một ngày kia, cuối cùng cô cũng phải thành thật nhìn nhận rằng mình đã xa rời đức tin.  Cô không còn bước đi với Chúa Giêsu nữa.

Nhưng việc quay trở lại Giáo Hội thì không dễ dàng.  Cô nói rằng chỉ sau khi xin Chúa tha thứ vì đã rời xa Người, cô mới cảm thấy bình an để trở lại nhà thờ.

Bài báo của tờ The Wall Street Journal còn đưa ra nhiều ví dụ khác về những người thành công mà họ đã quay trở lại đức tin vì những lý do tương tự.  (“Can You Go Back?” của Lisa Miller, đăng trên The Wall Street Journal, ngày 10 tháng 4 năm 1998)

Câu chuyện của các chuyên gia trẻ thành công này thì tương tự với câu chuyện của hai môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay.

Họ cũng đã từng bước đi với Chúa Giêsu.  Họ cũng đã từng trò chuyện với Người.  Họ cũng đã từng tin rằng Người được Thiên Chúa sai đến để thiết lập Nước Trời.

Rồi biến cố Thứ Sáu Tuần Thánh xảy đến!  Tất cả niềm hy vọng và niềm vui của họ tan vỡ thành muôn mảnh.  Thất vọng, họ rời bỏ Chúa Giêsu và đi theo con đường riêng của mình.

Chính trong bối cảnh ấy, họ gặp một “người lạ” trên đường đi Em-mau.

Họ lắng nghe người ấy, như trước đây họ từng lắng nghe Chúa Giêsu.  Họ cùng đi với người ấy, như trước đây họ từng đi với Người.  Họ nhìn người ấy bẻ bánh, như trước đây họ từng thấy Chúa làm điều đó.

“Người lạ” ấy thì không xa lạ chút nào.  Thật kỳ diệu, đó chính là Chúa Giêsu.  Người không chết; Người đã sống lại và đang sống.

Điều gì đó tương tự cũng đã xảy ra với các chuyên gia thành công được diễn tả trong bài báo.

Đã có lúc họ lắng nghe những lời của Chúa Giêsu trong Phụng Vụ Lời Chúa, như chúng ta đang làm bây giờ.

Và đã có lúc họ nhìn thấy Chúa Giêsu bẻ bánh trong Phụng Vụ Thánh Thể – như chúng ta sẽ làm trong ít phút nữa.

Nói cách khác, đã có lúc họ cũng bước đi với Chúa và tràn đầy hy vọng và niềm vui.

Rồi đến một ngày bi thảm, vì một lý do nào đó, mọi hy vọng và ước mơ của họ bị tan vỡ thành hàng ngàn mẩu nhỏ.

Chán nản, họ cũng rời bỏ Chúa và đi theo con đường riêng.

Và điều này khiến mỗi người chúng ta hôm nay, đang hiện diện trong nhà thờ này, phải suy nghĩ lại.

Câu chuyện của các chuyên gia thành công, và của các môn đệ Em-mau, không khác mấy so với câu chuyện của chính chúng ta.

Đã có lúc trong cuộc đời chúng ta – có thể là nhiều lần – mối tương quan của chúng ta với Chúa Giêsu bị tan vỡ thành hàng ngàn mẩu nhỏ.

Có thể chúng ta cũng đã ngừng bước đi với Người trong một thời gian.

Nhưng đến một ngày đầy ân sủng, chúng ta gặp một người – một người bạn, một người phối ngẫu, hoặc ngay cả một người xa lạ.

Và qua gương sáng của người đó, Chúa Giêsu lại nói với chúng ta – như Người đã nói với hai môn đệ Em-mau.

Và chính nhờ gương sáng ấy, chúng ta trở lại nhà thờ, mắt chúng ta được mở ra, và chúng ta nhận ra Chúa một lần nữa, trong việc bẻ bánh.

Tin Mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta rằng có rất nhiều người – giống như hai môn đệ Em-mau và các chuyên gia trẻ thành công ngày nay – họ đang cảm nghiệm sự trống rỗng dù họ thành công.

Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy trở nên cho họ như “người lạ” trong Tin Mừng đã trở nên cho hai môn đệ.

Và ở đây, chúng ta cần nhớ một điều rất quan trọng:

Nếu hôm nay, qua chúng ta, Chúa Giêsu muốn nói với những ai không còn bước đi với Người nữa, điều đó không nhất thiết qua lời nói, nhưng qua tình yêu, lòng nhân hậu và sự tha thứ của chúng ta.

Vì trong thế giới đầy hoài nghi này, người ta không chủ yếu tìm kiếm lời nói, nhưng lòng trắc ẩn, sự lưu tâm, lòng tốt và sự tha thứ.  Lời nói có thể đến sau.

Chúng ta hãy kết thúc bằng lời cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin mở lòng chúng con theo một phương cách
để qua chúng con Chúa có thể nói với người thời đại hôm nay,
nhất là với những ai đang thất vọng.

Xin làm chúng con ngạc nhiên,
như Chúa đã làm cho hai môn đệ Em-mau.
Xin lại đồng hành với chúng con, như Chúa đã đồng hành với họ.
Xin giải thích Kinh Thánh cho chúng con, như Chúa đã làm cho họ.

Xin đến nhà chúng con và dùng bữa với chúng con, như Chúa đã làm với họ.
Xin cầm lấy tấm bánh của chúng con trong đôi tay Ngài.
Xin Ngài chúc lành, bẻ ra và chia sẻ tấm bánh ấy.

Xin chữa lành chúng con khỏi sự mù lòa
mà nó khiến chúng con không nhận ra Chúa,
trong việc bẻ bánh
. M.L.

Lm. Mark Link S.J.

ĐỪNG KEO KIỆT VỚI LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

Chẳng bao lâu sau khi chịu chức linh mục, trong lúc đi làm mục vụ thay tại một giáo xứ, tôi có dịp ở cùng một vị linh mục già đức độ.  Ngài đã ngoài tám mươi, mắt gần như mù lòa, nhưng lại là người được rất nhiều người tìm đến xin lời khuyên và kính trọng.  Một tối nọ, khi chỉ có hai người, tôi đã hỏi ngài một câu: “Nếu được sống lại đời linh mục một lần nữa, cha có thay đổi điều gì không?”

Từ một con người đầy chính trực như ngài, tôi vốn đinh ninh rằng ngài sẽ chẳng có gì phải hối tiếc.  Vì vậy, câu trả lời của ngài làm tôi vô cùng ngạc nhiên.  Ngài bảo có, ngài có một nỗi hối tiếc rất lớn: “Nếu được làm lại đời linh mục, lần tới tôi sẽ bao dung với mọi người hơn.  Tôi sẽ không quá bủn xỉn với lòng thương xót của Chúa, với các bí tích và sự tha thứ.  Anh thấy đó, điều được nhồi nhét vào đầu tôi hồi ở chủng viện là câu: Sự thật sẽ giải phóng anh em.  Thế nên, tôi tin rằng trách nhiệm của mình là luôn đưa ra những thách đố khó khăn, và điều đó cũng có cái tốt.  Nhưng tôi e rằng mình đã quá khắt khe với mọi người.  Họ đã đủ đau khổ rồi, không cần tôi và Giáo hội phải chất thêm gánh nặng lên vai họ nữa.  Lẽ ra tôi nên dám mạo hiểm vào lòng thương xót của Chúa hơn nữa!”

Điều này làm tôi sững sờ, vì chỉ chưa đầy một năm trước đó, khi tôi thi vấn đáp cuối kỳ ở chủng viện, một trong những linh mục giám khảo đã cảnh báo tôi thế này: “Hãy cẩn thận, đừng bao giờ để cảm xúc xen vào.  Đừng có mềm yếu, như vậy là sai.  Hãy nhớ rằng, dù có khắc nghiệt đến đâu, chính sự thật mới giải phóng con người!”  Đó dường như là một lời khuyên chí lý cho một linh mục trẻ.

Thế nhưng, sau năm mươi năm thi hành tác vụ, tôi lại nghiêng về lời khuyên của vị linh mục già kia hơn: Chúng ta cần dám mạo hiểm hơn với lòng thương xót của Thiên Chúa.  Vị trí của công lý và sự thật không bao giờ được phép phớt lờ, nhưng chúng ta phải dám để cho lòng thương xót vô biên, không bờ bến, không điều kiện và không đòi hỏi công trạng của Chúa được tuôn trào tự do hơn.  Lòng thương xót của Chúa luôn sẵn có như một vòi nước gần nhất, và vì thế, giống như ngôn sứ Isaiah, chúng ta phải loan báo một lòng thương xót không hề dán nhãn giá: Đến đây, hãy đến mà không cần tiền bạc, không cần đức hạnh, hãy đến uống thỏa thuê lòng thương xót của Chúa! (Isaiah 55:1)

Điều gì đang kìm hãm chúng ta?  Tại sao chúng ta lại ngần ngại khi loan báo lòng thương xót vô tận, hào phóng và không phân biệt của Ngài?

Một phần động cơ của chúng ta là tốt, thậm chí là cao quý.  Sự quan tâm đến sự thật, công lý, tính chính thống, đạo đức chuẩn mực, hình thức công khai hay việc chuẩn bị bí tích kỹ lưỡng không phải là không quan trọng.  Tình yêu cần được định hướng bởi sự thật, cũng như sự thật phải được điều hòa bởi tình yêu.

Nhưng đôi khi động cơ của chúng ta lại kém cao quý hơn, và sự ngần ngại đó nảy sinh từ sự rụt rè, sợ hãi, chủ nghĩa lề luật, sự tự mãn kiểu những người biệt phái, và một hiểu biết nghèo nàn về Thiên Chúa.  Thế là, chúng ta quyết không để bất kỳ một “ân sủng rẻ tiền” nào được ban phát dưới sự canh chừng của mình!

Khi làm như vậy, tôi e rằng chúng ta đang đi lạc đường, chưa làm tròn vai trò của người mục tử nhân lành, và không cùng nhịp đập với Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã nhập thể để bày tỏ.  Lòng thương xót của Thiên Chúa, như Đức Giêsu mặc khải, ôm ấp tất cả không phân biệt ai, giống như ánh mặt trời chiếu soi đồng đều trên người tốt cũng như kẻ xấu, người xứng đáng cũng như kẻ không xứng đáng, người trong đạo cũng như kẻ ngoài đời.

Một trong những thấu thị thực sự gây chấn động mà Đức Giêsu mang lại cho chúng ta là: lòng thương xót của Thiên Chúa không thể không đến với tất cả mọi người.  Nó luôn miễn phí, không do công trạng, không điều kiện, mang tính phổ quát, vượt lên trên mọi tôn giáo, phong tục, luật lệ, đảng phái chính trị, các chương trình bắt buộc, ý thức hệ, và thậm chí vượt lên trên cả chính tội lỗi.

Về phần mình, đặc biệt là những người làm cha mẹ, những người làm mục vụ, thầy cô giáo, giáo lý viên và những người đi trước, chúng ta phải dám loan báo đặc tính hào phóng của lòng thương xót Chúa.  Chúng ta không được ban phát lòng thương xót của Chúa như thể nó là của riêng mình để ban ơn; không được phân phát sự tha thứ của Chúa như thể đó là một món hàng có hạn; không được đặt điều kiện cho tình yêu của Chúa như thể Chúa cần được bảo vệ; hay ngăn chặn con đường đến với Chúa như thể chúng ta là người giữ cổng thiên đàng.  Chúng ta không phải là người giữ cổng.  Nếu chúng ta trói buộc lòng thương xót của Chúa vào sự rụt rè và sợ hãi của chính mình, chúng ta đang giới hạn nó trong tầm vóc nhỏ bé của tâm trí mình.  Đó là một sai lầm.

Thật thú vị khi để ý trong các sách Tin Mừng rằng các tông đồ – dĩ nhiên là với ý tốt – thường cố gắng ngăn cản một số người đến gần Đức Giêsu vì cho rằng họ không xứng đáng, hoặc họ là sự xúc phạm đến sự thánh thiện của Ngài, hay bằng cách nào đó sẽ làm vấy bẩn sự thanh sạch của Ngài.  Thế là họ cố đuổi trẻ em, những người hành nghề mại dâm, những người thu thuế, những tội nhân khét tiếng và đủ mọi thành phần chưa được khai tâm đi.  Nhưng lần nào Đức Giêsu cũng bác bỏ những nỗ lực đó bằng những lời đại ý rằng: “Cứ để họ đến với Ta.  Ta muốn họ đến.”

Mọi chuyện vẫn không thay đổi.  Theo năm tháng, chúng ta – những người đầy thiện chí – vì những lý do y hệt như các tông đồ, vẫn tiếp tục cố gắng giữ một số cá nhân và nhóm người tránh xa lòng thương xót của Chúa vốn luôn sẵn có trong Lời Chúa, Bí tích và Cộng đoàn.  Ngày xưa Đức Giêsu đã dàn xếp được mọi chuyện; tôi tin rằng ngày nay Ngài cũng làm được.  Thiên Chúa không cần chúng ta làm người gác cổng.

Điều Thiên Chúa muốn là tất cả mọi người, bất kể tuổi tác, tôn giáo, văn hóa, sự yếu đuối cá nhân hay việc thiếu thực hành đạo đức, hãy đến với nguồn nước vô tận của lòng thương xót thần linh.

Nhà tự nhiên học nổi tiếng John Muir từng thách thức các Kitô hữu bằng những lời này: Tại sao các Kitô hữu lại ngần ngại để các loài vật bước chân vào cái thiên đàng bủn xỉn của họ đến thế?

Tôi e rằng, chúng ta cũng đang bủn xỉn với lòng thương xót hào phóng của Thiên Chúa như vậy.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

KHÔNG TIN – VẪN ĐƯỢC SAI

“Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng.”

“Đức tin không phải là kết quả của suy nghĩ, nhưng là kết quả của một cuộc gặp gỡ!” – Bênêđictô XVI

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không khen ngợi một niềm tin vững vàng rằng Thầy đã sống lại, nhưng là những lời khiển trách vì các môn đệ không tin và cứng lòng.  Đức tin không đến từ suy nghĩ, nhưng từ gặp gỡ; và ‘dù không tin,’ họ ‘vẫn được sai’ – một nghịch lý khó chấp nhận.

Marcô đã tài tình tóm tắt các lần hiện ra của Chúa Phục Sinh; tuy nhiên, qua đó, việc các môn đệ “không tin” không chỉ là một phản ứng tâm lý, nhưng là việc họ không nhận ra Đấng đã tỏ mình; không phải vì thiếu chứng từ, nhưng vì lòng chưa mở ra.  Vì thế, điều Chúa Giêsu khiển trách không chỉ là sự nghi ngờ, nhưng là một sự “chậm mở” trước một thực tại mang tính quyết định đã xảy đến; và đó cũng là điều có thể xảy ra nơi chúng ta.  Đôi khi, không phải vì thiếu ánh sáng, nhưng vì chúng ta chưa sẵn sàng để thấy.

Vậy mà, Chúa Giêsu không dừng lại ở việc họ không tin, Ngài lập tức sai các ông đi.   Incredulitas không loại trừ missio, nhưng mở ra chính sứ vụ; không phải khi họ đã hoàn toàn tin, nhưng ngay khi họ còn đang trên đường đến với đức tin.  Và cũng chính nơi đó, chúng ta nhận ra mình: Chúa không đợi đến khi chúng ta vững vàng rồi mới sai đi, nhưng ngay trong những chần chừ và nghi hoặc, lời sai đi vẫn không ngừng vang lên – ‘không tin – vẫn được sai!’  “Thiên Chúa không chọn người xứng đáng, nhưng làm cho người được chọn trở nên xứng đáng!” – Phanxicô.

Vì thế, điều xảy ra nơi các tông đồ không dừng lại ở kinh nghiệm riêng, nhưng trở thành lời chứng: “Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra” – bài đọc một.  Đức tin – một khi phát sinh từ một cuộc gặp gỡ – không thể khép kín, nhưng tự nó mở ra thành sứ vụ.  Đức Phanxicô nhấn mạnh: đức tin hoặc mang chiều kích truyền giáo, hoặc không còn là đức tin; không phải để giữ cho mình, nhưng để trao ban, không chỉ bằng lời nói, nhưng bằng chính đời sống.  Và khi đó, điều đã thấy không thể giữ lại, điều đã tin không thể không nói ra.

Anh Chị em,

Nơi Đức Giêsu Kitô, đức tin không còn là một tiến trình phải đi tới, nhưng là một tương quan được sống trọn vẹn.  Ngài tin Cha một cách tuyệt đối, không chỉ trong vinh quang, nhưng cả trong khổ đau; ngay tại vườn Dầu, khi mọi sự dường như sụp đổ, Ngài vẫn thưa: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha.”  Vì thế, nơi Ngài, không có khoảng cách giữa tin và được sai; chính trong sự phó thác trọn vẹn ấy, sứ vụ đạt tới cùng đích và trở thành ơn cứu độ.  Và cũng từ đó, chúng ta nhận ra rằng, đức tin không lớn lên khi mọi sự rõ ràng, nhưng khi dám phó thác, ngay trong những điều mình chưa hiểu.  “Để đạt tới điều ngươi không biết, ngươi phải đi qua con đường ngươi không biết!” – Gioan Thánh Giá.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Giêsu, dù lòng con chưa vững, xin vẫn cứ sai con.  Xin cho con biết yêu mến việc gặp Chúa mỗi ngày, để không giữ lại điều đã thấy, và không nín lặng điều đã tin!”  Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

CUỘC SÁNG TẠO MỚI

Ngày thứ nhất của nhân loại cũ

Từ khởi thuỷ, sau khi dựng nên trời đất muôn vật, Thiên Chúa lấy bùn đất dựng nên Ađam.  Mới đầu thân thể ông chỉ là một khối đất bất động, không hề có dấu hiệu của sự sống.

Thế rồi, Thiên Chúa thổi hơi vào lỗ mũi Ađam (St 2,7), tức thì Ađam bắt đầu mở mắt, cựa mình và vươn vai chỗi dậy thành một con người đầy sức sống và được trở thành thuỷ tổ loài người đông đảo trên khắp trái đất.

Đó là ngày thứ nhất của lịch sử loài người, ngày khai sinh nhân loại cũ, khởi đi từ con người đầu tiên được Thiên Chúa tạo dựng, thông ban sự sống và những phẩm tính cao đẹp của Ngài.

Tiếc thay, con người tuyệt vời được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh Ngài lại lâm vào vòng sa đọa, đánh mất phẩm chất cao đẹp mà Thiên Chúa đã phú cho và phải mang lấy án phạt đời đời nên Thiên Chúa phải thực hiện kế hoạch kiến tạo một nhân loại mới.

Ngày thứ nhất của nhân loại mới

Thế rồi, “vào ngày thứ nhất trong tuần – và cũng là ngày thứ nhất trong lịch sử nhân loại mới – nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái.  Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Chúc anh em được bình an!” (Ga 20, 19-22)

Kế đó, như thời khởi thuỷ, Thiên Chúa thổi hơi vào lỗ mũi Ađam để thông truyền sự sống cho ông, thì nay Chúa Giêsu cũng thổi hơi trên các tông đồ đang co cụm như những xác không hồn để thông ban Chúa Thánh Thần cho họ: “Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20, 22)

Thế là từ đây, các tông đồ bắt đầu đón nhận sức sống mới, các ông được hồi sinh, được trở nên can đảm mạnh mẽ, thoát ra khỏi căn phòng đóng kín như hầm mộ u tối chôn vùi các ông suốt mấy tuần qua để ra đi khắp các nẻo đường, hô vang Tin Mừng cứu độ.

Đó là ngày thứ nhất trong tuần đồng thời cũng là ngày thứ nhất trong lịch sử của nhân loại mới.

Ngày thứ nhất trong cuộc đời người môn đệ

Vậy mà cho đến hôm nay, sau hơn hai ngàn năm Chúa Giêsu khai sinh nhân loại mới, vẫn còn trong ta sự ương ngạnh của Ađam, muốn sống theo dục vọng của mình bất chấp lời giáo huấn của Thiên Chúa.  Vẫn còn trong ta tính ù lì khiếp nhược của các tông đồ sau biến cố Thầy Giêsu thụ nạn, tự giam mình trong phòng kín như mộ địa tối tăm.  Vẫn còn trong ta con người ích kỷ chỉ biết sống cho mình, cho gia đình mình mà chưa mở ra với tha nhân và lối xóm.

Thế nên, hơn lúc nào hết, chúng ta cần Chúa Giêsu hiện đến thổi hơi truyền ban Thần Khí cho chúng ta như Ngài đã thực hiện cho các tông đồ xưa, để chúng ta được hồi sinh, được vượt ra khỏi ngục tù do lòng tham lam ích kỷ dựng nên, thoát ra khỏi mộ địa do chính sự hèn yếu của chúng ta vây bọc.

Và nhờ đó, ngày thứ nhất trong cuộc đời người môn đệ được khai mở trong ta.

Lm Ignatiô Trần Ngà

CHẾT VÀ SỐNG LẠI 

Đức Giê-su đã chết và đã sống lại!  Đó là khẳng định của Ki-tô giáo từ hai mươi thế kỷ nay.  Đó cũng là cốt lõi lời rao giảng của Giáo hội Ki-tô, ngay từ những ngày đầu.

Trước hết, chúng ta phải xác định: Chúa Giê-su đã chết trên cây thập giá.  Bởi lẽ nếu Người không chết, thì không thể nói đến sống lại.  Một người được coi là “sống lại” tức là người trước đó đã chết thực sự.  Trong lịch sử, cũng đã có những lập luận cho rằng Đức Giê-su chỉ chết lâm sàng mà không chết thật, sau đó Người hồi sinh.  Cả bốn tác giả Phúc âm đều khẳng định: Đức Giê-su đã chết khi còn bị treo trên thập giá, và đã được an táng trong mồ.

Đức Giê-su là Con Thiên Chúa nhập thể làm người.  Người cũng là Thiên Chúa quyền năng.  Vì thế thân xác của Người không bị chi phối theo quy luật vật lý thông thường, và việc Người từ cõi chết sống lại cũng không phải là bất khả thi.  Các tông đồ đều làm chứng, Chúa Giê-su đã sống lại.  Phê-rô vốn là một người dân chài đơn sơ ít học, nhưng đã trở nên can đảm lạ thường.  Trước Công nghị Do Thái, ông dõng dạc khẳng định: Đức Giê-su là Đấng Thiên sai mà Thiên Chúa của Tổ phụ chúng ta đã hứa.  Người đã bị chính quý vị hành hạ, đóng đinh và giết chết.  Thiên Chúa đã làm cho Người phục sinh, như lời Thánh Kinh, và chúng tôi xin làm chứng về điều ấy.  Trước đó, ông cũng công khai giảng dạy trước cử tọa đông đảo khách hành hương về Giê-su-sa-lem nhân ngày lễ Ngũ Tuần.  Bài giảng của ông đầy lửa và Thần Khí, nên đã có ba ngàn người xin theo Đạo.

Ngay từ thời sơ khai, Giáo hội Ki-tô đã suy tư về cái chết và sống lại của Chúa Giê-su với lăng kính phụng vụ.  Cái chết của Chúa Giê-su đích thực là một hy tế, nhằm tôn vinh Thiên Chúa.  Trên cây thập giá, Đức Giê-su dâng hiến chính thân mình làm của lễ, thay cho những của lễ cũ được quy định bởi Luật Môi-sen, như chiên, cừu, mỡ động vật, máu bò…  Tác giả thư gửi người Híp-ri đã nêu rõ: “Máu các con bò, con dê không thể nào xóa được tội lỗi.  Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Ki-tô nói: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể.  Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội.  Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây.  Con đến để thực thi ý Ngài” (Hr 10,4-7).  Như thế, theo Giáo lý Ki-tô giáo, kể từ cái chết của Chúa Giê-su, nhân loại không cần các hy lễ xưa nữa.  Hy lễ xưa chỉ là hình bóng, nay thực tại đã đến rồi thì hình bóng trở nên lỗi thời và phải nhường bước.  Vì vậy, mà trong bài Ca Thánh Thể (Tantum ergo) chúng ta hát: “hy lễ xưa nhường cho hy lễ mới”; hay bản dịch khác: “Phụng vụ xưa phải được thay, này đây nghi lễ mới”.

Về điều này, Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo viết: “Cái chết của Đức Ki-tô đồng thời vừa là hy lễ Vượt qua, mang lại ơn cứu chuộc tối hậu cho loài người, nhờ Con Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, vừa là hy lễ của Giao ước mới, cho con người lại được hiệp thông với Thiên Chúa, khi giao hòa con người với Thiên Chúa nhờ máu đổ ra cho muôn người được tha tội” (số 613).

Thánh Au-gút-ti-nô đã diễn tả rất sinh động và sâu sắc: “Người (Đức Giê-su) không có gì ở nơi mình để chết vì chúng ta, nếu Người đã không nhận lấy xác phàm phải chết của chúng ta.  Như thế, Đấng bất tử đã có thể chết.  Như thế, Người đã muốn ban sự sống cho loài người phải chết: vì chưng với những gì chúng ta có xưa, chúng ta không thể sống; cũng như với những gì là của Người trước kia, Người không thể chết” (Bài đọc II, Kinh Sách thứ Hai Tuần Thánh).  Thánh nhân muốn diễn tả: chết là bản tính của con người.  Con Thiên Chúa vốn không bao giờ chết, nhưng vì yêu thương nhân loại, nên đã mang lấy xác thịt để có thể chết.

Khi suy tư về cái chết và sự phục sinh của Đức Giê-su, Ki-tô hữu được mời gọi nhận ra cái chết và sống lại của Người nơi chính bản thân mình.  Thánh Phao-lô quảng diễn: “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” ( 2 Cr 4,10).  Thật là một điều kỳ lạ!  Chấp nhận chết với Chúa, thì có sự sống của Người nơi bản thân.  Khước từ chết với Người, sẽ không được chung phần vinh quang với Người.  Thực ra, nơi con người của chúng ta, sự chết và sự sống luôn hòa quyện đan xen.  Mỗi ngày chúng ta chết đi cho tội lỗi, ích kỷ, gian trá và những điều nhỏ nhen, thì niềm vui, sự an bình và lòng quảng đại lại được sinh ra và lớn lên trong chính tâm hồn và cuộc đời chúng ta.  Lời mời gọi sống lại với Chúa luôn vang lên trong cuộc đời của Ki-tô hữu chúng ta. “Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự.”  Đó là những cố gắng nỗ lực của một cuộc đời đã sang trang, muốn chuyển hướng định mệnh tương lai, không còn hướng xuống đất, nhưng hướng lên trời.

Nếu cái chết của Chúa Giê-su là một hy tế, thì cuộc sống của Ki-tô hữu cũng là một lễ dâng.  Thánh Phao-lô ngỏ lời với các tín hữu Rô-ma: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy ​hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa.  Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12,1).  Vâng, chính những cố gắng hy sinh, những thiện chí và quảng đại, những trách nhiệm của chúng ta đối với tha nhân, với môi trường, với công ích… đều là những của lễ đẹp lòng Chúa, nếu chúng được thực hiện với tâm tình vâng phục của Đức Giê-su.  Đó là cách thức thờ phượng mà Chúa muốn nơi chúng ta.

Trong cuộc sống hôm nay, cái chết vẫn luôn ám ảnh và hành hạ chúng ta.  Đó không chỉ là cái chết thể lý, mà còn là cái chết tinh thần, cái chết thiêng liêng.  Khi tuyên xưng: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, và sự sống đời sau,” Ki-tô hữu vừa xác tín vào sự sống lại của ngày tận thể, vừa khẳng định: hôm nay, ở đây, trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta có thể sống lại thực sự với Đức Ki-tô, nếu chúng ta cùng chết với Người.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TÌNH YÊU MẠNH HƠN CÁI CHẾT

Một trong những điều xem ra ngược đời nhất, là giữa tình yêu và cái chết có sự liên lạc chặt chẽ.  Kể cũng lạ kỳ: tình yêu là một giá trị tích cực, một khía cạnh phong phú của cuộc đời, là cao điểm của sự sống, thì tại sao khi nói tới tình yêu, người ta lại liên tưởng đến sự chết, là một mãnh lực phá hoại và dìm sự sống xuống đáy sâu?  Quả thật, một chân lý càng sâu sắc, thì càng có vẻ nghịch lý và không ngớt làm cho người ta bỡ ngỡ.  Tình yêu càng ở cao độ, càng có những đòi hỏi gắt gao và hầu như đặt con người trong thế chiến đấu: chiến đấu để loại trừ các chướng ngại, chiến đấu để đạt tới đối tượng của lòng mình.  Nhưng vì là một cuộc chiến đấu cam go, nguy hiểm, nên thường kết thúc bằng cái chết.  Do đó mà có những cái chết vì yêu: chết vì tình không được toại nguyện; chết vì muốn chung thủy với tình yêu; chết vì thương yêu quá đỗi.  Nhưng vì sao lại nói; Tình yêu mạnh hơn cái chết?

1. Chết và mãnh lực của tội

Chúng ta suy niệm về tình yêu và cái chết trong bối cảnh phụng vụ ngày thứ Sáu Tuần Thánh.  Ngày ấy, bóng Thập giá bao trùm lên khắp mặt địa cầu.  Một xác người treo trên cây gỗ.  Những giọt máu từ các vết thương loang lỗ chảy thấm xuống lòng đất.  Uy tín Con Thiên Chúa bị chôn vùi trong ô nhục.  Đó là một cái chết quá ư bi thảm!  Nhưng vì sao Người phải chết như thế?

Phải chăng vì ông Giêsu đã xách động quần chúng nổi loạn (Lc 23,2-5)?  Vì ông đã có ý tưởng phá hủy Đền thờ Giêrusalem (Mc 14,58; Mt 26,61)?  Vì ông đã phạm thượng khi tự xưng là Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa (Mt 26,65; Mc 14,64; Lc 22,71; Gn 19,7)?  Hoặc vì các kỳ lão ghen tương (Mc 15,10) và sợ dân chúng bỏ họ đi theo ông (Lc 22,2) hay vì môn đệ Giuđa muốn bán Thầy mình (Mc 14,10; Mt 26,14; Lc 22,3)?  Xét về các lý do chính trị, xã hội, chính Philatô xác nhận: ông Giêsu đã không làm điều gì đáng chết (Lc 22,14-23; Gn 19,4); và lời tự thú của Giuđa cũng chứng minh cho sự vô tội của Người : “Tôi đã nhúng tay vào một cuộc đổ máu oan uổng” (Mt 27,4).

Tất cả các hành vi phản bội, hận thù, ghen tương, cáo gian, bỏ vạ, hèn nhát, sợ sệt kia đều là những khía cạnh của tội một mãnh lực làm cho lòng người ra tối tăm và bị kiềm chế trong vòng nô lệ.  Đức Giêsu chính là Người Đầy Tớ Đau Khổ của Giavê (Is 52,13-53,12) và chỉ là nạn nhân vô tội của tội ác loài người.

Muốn hiểu đúng ý nghĩa cái chết trên Thập giá cũng như toàn bộ mầu nhiệm Đức Kitô, ta phải chọn cái nhìn thần học, nghĩa là nhìn như Thiên Chúa nhìn vào công việc Người làm.  Nhãn quan đó cho ta thấy: Đức Kitô đã chịu chết vì tội thế gian.  Người vô tội, đã tình nguyện trở thành tội vì ta và gánh chịu hậu quả của tội là cái chết trên Thập giá (2C 5,21).  Thánh Phaolô mô tả tội như một mãnh lực độc hại, chỉ tổ gây ra chết chóc (Rm 6,23; 1C 15,55).  Với cái chết như khí giới nguy hiểm ấy tội đã thống trị loài người (Rm 5,12-21; 6,20-23).

Theo quan niệm Thánh Kinh, tội là hành động phản bội Giao ước tình yêu, và như thế cắt đứt mạch sống nối liền chúng ta với trái tim Thiên Chúa.  Tội gây ra chết chóc toàn diện và vĩnh viễn cho loài người, nếu Thiên Chúa không tự động tái lập sự sống.  Người Do Thái trong Cựu Ước đã ý thức được điều đó.  Họ biết rằng tội và sự chết là những thực tại hệ trọng đến nỗi không thể dùng các lý lẽ thuần túy nhân bản để giải thích hết được.  Họ thoáng thấy: có bàn tay hắc ám của một mãnh lực ma quái nào đó đã nhúng vào và gây nên cơ sự ấy.  Sách Khôn ngoan viết: “Vì quỷ dữ ghen tương, nên sự chết đã đột nhập vào thế gian” (Kn 2,24).  Sự chết đây không phải là cái chết thể lý thuộc bản tính tự nhiên của con người như một tạo vật làm bằng bụi tro và sẽ trở về tro bụi (Kn 8,19), nhưng là chết trong tâm hồn, chết vĩnh cửu, mà cái chết thể lý từ nay chỉ là một hình ảnh.  Theo thánh Gioan, con rắn trong vườn Địa đàng chính là hiện thân của Satan, “đứa mê hoặc thiên hạ” (Kh 12,9; 20,2).  Còn theo thánh Phaolô, chính tội loài người phạm từ nguyên thủy dưới ảnh hưởng độc hại của Satan đã mở cửa cho sự chết đột nhập vào đời và dìm tất cả trong bóng tối tử thần (Rm 5,12-21).  Như một phản ứng dây chuyền, một khi tội xuất hiện, thì càng ngày càng chồng chất dồn dập và gieo rắc sự chết khắp nơi.  Tội mạnh như thác lũ và cái chết là bằng chứng chiến thắng của nó.  Nhưng hỏi rằng: Tội có thẳng nổi tình yêu ?

2. Sức mạnh sáng tạo của tình yêu

Tình yêu luôn sáng tạo và tìm ra được nhiều cách biểu hiện, lắm khi cũng bất ngờ.  Để thắng tội kiêu căng, Đức Kitô đã chọn sống khiêm hạ và tự hư-vô-hóa (Ph 2,6).  Để thắng tội tham lam hưởng thụ, Người đã chọn sống khó nghèo (2C 8,9).  Để thắng tính háo danh trần tục, Người đã như điên rồ chọn cái chết ô nhục trên Thập giá (1C 1 ,23).  Thiên Chúa hành động cách ngược đời, và vì Người là tình yêu, nên tình yêu thắng được tội và mạnh hơn cả cái chết.

Tình yêu bao hàm chiến đấu.  Chiến đấu đòi phải có năng lực.  Quả thật, Nước Trời chỉ dành riêng cho những người mạnh (Mt 11,12) và chính Tin Mừng là một sức mạnh giải phóng (Rm 1,16).  Thiên Chúa là Đấng dũng mạnh, vì Người đầy lòng yêu thương.  Cái chết trên Thập giá của Đức Kitô là một cái chết tự nguyện vì tình yêu: Người yêu mến Chúa Cha và yêu thương chúng ta.  Người chết vì vâng lời Chúa Cha để chuộc tội nhân loại.

Đàng sau cây Thập giá xảy ra một cuộc chiến đấu vô hình giành quyền sống chết giữa tình yêu và tội ác.  Một chiến thuật đánh đổi rất ngược đời đã bẻ gãy mũi nhọn của tội và vô-hiệu-hóa sức tàn phá của nó.  Thân xác Đức Kitô đã chết lạnh, và trở thành bất động trên cây gỗ.  Về mặt nhân loại, Người đã thua.  Người đã thực nghiệm trong chính bản thân mình sự bất lực tột độ, sự yếu nhược tận cùng của thân phận làm người là cái chết thể lý.  Mãnh lực tối đa của tội là gây ra cảnh chết: cái chết vĩnh cửu của tâm hồn, mà cái chết trong thời gian của thân xác là một hình ảnh.  Chúa Kitô vô tội không thể trải qua cái chết vĩnh cửu của tâm hồn.  Nhưng Người có thể dùng cái chết của thể xác mình thay cho cái chết vĩnh cửu của tâm hồn ta.  Người chết thay cho ta là như thế – cuộc đánh đổ ấy chỉ có thể thực hiện bởi vị Thiên-Chúa-làm-người, vì mầu nhiệm Đức Kitô thuộc cơ cấu bí tích, trong đó yếu tố nhân loại hữu hình là dấu chỉ và khí cụ của yếu tố thần linh vô hình (Vat II, GH 8).  Người chết về thể xác trong thời gian, để ta khỏi chết về tâm hồn trong vĩnh cửu.  “Người mặc lấy bản tính nhân loại từ nơi lòng Mẹ Maria, để giải thoát loài người khỏi tội lỗi nhờ các mầu nhiệm của thân xác Người” (Vat II, GH 55), nhất là nhờ mầu nhiệm cái chết của Người trên Thập giá.

Người đã bị sức mạnh của tội đẩy lui đến tận cùng: Người chịu chết trong thể xác, vì yêu ta.  Chính Người thực hiện điều Người đã nói: không thể yêu hơn là yêu đến chết vì yêu (Gn 15,13).  Chịu đựng được tột mức như thế không phải là bất lực, nhưng là dấu hiệu nói lên sức mạnh vô biên.  Tình yêu có bị giết cũng vẫn không chết.  Còn tội chỉ gây ra được cái chết là hết sức mình: đó là cái chết vĩnh cửu của tâm hồn ta, từ nay được đánh đổi với cái chết thể xác trên Thập giá của Con Thiên Chúa.  Nơi đây, tội bị mãnh lực vô biên của tình yêu giết chết và tiêu diệt tận căn.  “Tội bị kết án nơi thân xác Đức Kitô” trên cây gỗ (Rm 8,3).

Chính tình yêu  được chứng minh bởi ý chí tự nguyện chịu chết vì vâng lời Chúa Cha là sức mạnh làm cho thân xác Đức Giêsu sống lại vinh hiển, nghĩa là biến hình (Mc 9,1-9) từ trạng thái thân xác thường tình bị chi phối bởi các định luật thể lý, đến trạng thái thân xác sáng láng sống theo định luật của Thần Khí tự do.  Xuyên qua cái chết tự nguyện vì tình yêu, Đức Giêsu đã vượt từ thân phận tôi đòi của kiếp người trần thế đến thiên chức Chúa Tể được siêu thăng để bá chủ muôn loài, hầu làm rạng rỡ Chúa Cha (Ph 2,7-11).  “Vượt qua,” theo thần học thánh Gioan, có nghĩa là “trở về với Chúa Cha” (Gn 13,1).  Chính sức mạnh tình yêu, sức mạnh của Thần Khí Chúa Kitô và Chúa Cha, đã tái sinh tâm hồn ta qua bí tích Thánh Tẩy.  Cũng chính sức mạnh tình yêu ấy đang tiếp tục biến đổi tâm hồn ta nhờ Thánh Thể và lời tha tội, và sẽ biến hình cả thân xác ta khi ta sống lại trong ngày sau hết.

Tình yêu mạnh hơn cái chết, vì tình yêu tiêu diệt được?  Tội là căn nguyên sinh ra nó.  Hỡi tử thần, chiến thắng của ngươi đâu?  Nọc độc ngươi còn đâu? (1C 15,55).

3. Suy Tôn Thánh Giá

Ngày thứ Sáu Tuần Thánh, trên Núi Sọ, bóng Thập giá bao trùm lên khắp mặt địa cầu.  Một xác người treo trên cây gỗ…

Thập giá ô nhục đã trở nên Thánh giá vinh quang, ngai tòa vương quyền tình yêu, vì con người treo trên cây gỗ ấy là Con Thiên Chúa, tự nguyện chịu chết vì vâng lời Chúa Cha để chuộc tội thiên hạ.  Vinh quang Thiên Chúa biểu hiện trong tình yêu.  Ách thống trị của tình yêu luôn êm ái nhẹ nhàng (Mt 11,30).

Nhưng tình yêu của Chúa Kitô mạnh mẽ hơn cái chết, vì tình yêu đã thắng được tội ác.  Tình yêu ấy có tham vọng chinh phục lòng mọi người để lấp đầy bằng sự sống mới: sự sống bởi Thần Khí tự do, là Đấng biến đổi chúng ta thành con cái Chúa Cha.  Vì thế Thập giá ô nhục đã trở nên cây ban sự sống.

Thập giá ô nhục cũng đã trở nên ngai tòa phán xét: “Tội đã bị kết án nơi thân xác Đức Kitô.”  Tòa án thế gian đã phán xét Người và lên án tử cho Người; nhưng chính khi chịu đóng đinh trên Thập giá, Người, vô tội, đã lên án tội ác thế gian.  Song là một bản án khoan hồng, tha bổng cho những người sám hối ăn năn.  Người vừa phán xét, vừa cầu ân cho những kẻ phạm tội giết Người, mà không biết mình giết Con Thiên Chúa (Lc 23,34).  Từ nay Thập giá đã dựng lên giữa lịch sử loài người để trở thành phương tiện thánh hóa và cứu độ.  Ai ngước mắt nhìn lên thánh giá Đức Kitô mà tin nhận Người là Chúa Cứu thế, thì sự sống vĩnh cửu sẽ chảy tràn vào lòng họ.  Chính Thái độ đối với thập giá đã định đoạt số mệnh mọi người.

Trong lịch sử nhân loại chỉ có một người – mà người ấy lại chính là Con Thiên Chúa – đã chịu chết ô nhục trên thập giá vì yêu thương.  Tình yêu ngược đời ấy đã đảo ngược thế sự: từ nay mọi tủi nhục, uất ức, mọi chết chóc oan uổng, mọi thua thiệt đắng cay không còn vĩnh viễn luống công một cách phi lý vì lúc mà lý trí loài người không hiểu nổi nữa, thì chính Thiên Chúa tìm ra được một sáng kiến lạ lùng: thâu dụng những cái nghịch lý ấy vào kế hoạch cứu thế của Người.  Thập giá Đức Kitô là điểm quy tụ và siêu thăng tất cả mọi tủi nhục uất ức, mọi thua thiệt oan uổng của loài người, nhất là của những người không nói lên được với ai tiếng nói và nỗi lòng mình, lại cũng chẳng được ai hiểu biết, để làm nên sự thành công tối hậu, sau cái vẻ thất bại trước mắt, và đem lại vinh dự vinh hiển cho họ.  Bởi vì sức mạnh của Thiên Chúa tự biểu dương ra trong cảnh bất lực; khôn ngoan của Thiên Chúa thích khoác chiếc áo điên rồ.  Nhưng trong sự điên rồ, có tiềm ẩn một triết lý sâu xa; triết lý của tình yêu cứu độ được viết ra trên Thập giá.

Mọi người mang dấu Thánh giá trong lòng đều là chủ thể của Chúa Cứu thế.  Họ làm thành dân Thiên Chúa, quy tụ trong Giáo hội.  Họ xây dựng Nước Trời giữa lòng thế giới bằng cách làm cho tình yêu thống trị khắp hoàn vũ.  Từ trên Núi Sọ ngày thứ Sáu Tuần Thánh, bóng Thập giá bao trùm lên mặt địa cầu, để quy tụ mọi con cái Thiên Chúa đang tản mắc khắp nơi (Gn 12,51-52).  Thập giá Chúa Kitô là trung tâm điểm của lịch sử cứu độ, nhờ tình yêu đã thắng vượt cái chết.

Tình yêu mạnh hơn cái chết, vì Thập giá Chúa Kitô đã toàn thắng tội lỗi.

Ðức Cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

ĐỂ XEM TRỜI GIẢI NGHĨA TÌNH YÊU

Anh chị em thân mến,

Con người thời nào cũng đi tìm tình yêu.  Người ta nói nhiều về tình yêu, viết nhiều về tình yêu, hát nhiều về tình yêu.  Người ta dành những ngày đặc biệt cho tình yêu.  Thế nhưng, càng sống, người ta càng thấy một điều rất thật: nói về tình yêu thì dễ, nhưng hiểu cho đúng tình yêu lại rất khó.  Ai cũng muốn được yêu, nhưng không phải ai cũng biết yêu thế nào cho đúng.  Ai cũng thích nghe những lời ngọt ngào, nhưng không phải ai cũng đủ sức đi đến tận cùng của hy sinh, của tha thứ, của trao ban.

Bởi thế, nếu hôm nay có ai hỏi chúng ta: Tình yêu thật là gì?  Yêu cho đúng nghĩa là gì?  Có lẽ không nơi nào trả lời sâu bằng phụng vụ Thứ Năm Tuần Thánh.

Nhà thơ Xuân Diệu có một câu rất đẹp: “Và để xem Trời giải nghĩa tình yêu.”

Tối nay, chúng ta đến đây, không chỉ để tham dự một nghi thức phụng vụ long trọng.  Chúng ta đến đây để xem Trời giải nghĩa tình yêu.  Bởi vì chỉ có Thiên Chúa là Tình Yêu, nên chỉ có Ngài mới có thể nói cho con người biết: yêu là gì.

1. Tình yêu thật không phải là giữ lại, nhưng là trao ban

Bài đọc thứ nhất đưa chúng ta trở về đêm Vượt Qua đầu tiên của dân Israel nơi đất Ai Cập.  Đó là một đêm rất đặc biệt, một đêm đầy khẩn trương, một đêm không thể quên.  Mỗi gia đình phải sát tế một con chiên, lấy máu bôi lên khung cửa.  Và chính nhờ máu ấy mà dân Chúa được cứu thoát khỏi tai ương, khỏi án phạt, khỏi kiếp nô lệ, để bước vào con đường tự do.

Nhưng câu chuyện ấy không chỉ là một biến cố lịch sử của dân Do Thái.  Đó còn là một hình bóng, một lời báo trước về một cuộc Vượt Qua lớn lao hơn, sâu xa hơn, cứu độ hơn.

Con chiên năm xưa chính là hình bóng của Đức Giêsu Kitô, Chiên Vượt Qua mới.  Nếu ngày xưa dân được cứu nhờ máu chiên, thì hôm nay nhân loại được cứu nhờ Máu của Con Thiên Chúa.

Và  trong bài đọc II, nói về bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã làm một điều không ai có thể tưởng tượng nổi: Ngài không chỉ nói về tình yêu.  Ngài không chỉ dạy phải yêu thương.  Ngài biến chính mình thành của ăn cho nhân loại.

“Này là Mình Thầy… Này là Chén Máu Thầy…”

Chưa bao giờ tình yêu đi xa đến thế.  Chưa bao giờ tình yêu hạ mình đến thế.  Chưa bao giờ Thiên Chúa ở gần con người đến thế.  Ngài không cho chúng ta một món quà bên ngoài Ngài.  Ngài cho chính bản thân Ngài.

Đó là định nghĩa đầu tiên và sâu nhất của tình yêu theo kiểu của Thiên Chúa: Tình yêu là trao ban chính mình, chính mạng sống của mình.

2. Nhưng tình yêu ấy không chỉ dừng lại trên bàn thờ, mà phải đi xuống tận đôi chân

Thế nhưng, nếu tình yêu chỉ dừng lại nơi bàn tiệc, thì vẫn chưa đủ.

Điều rất lạ là trong khi các Tin Mừng Nhất Lãm kể rất rõ việc Chúa Giêsu cầm bánh, cầm chén và lập Bí tích Thánh Thể, còn trong Tin Mừng Gioan lại không kể lại lời truyền phép.  Thay vào đó, thánh Gioan dẫn chúng ta đến một hình ảnh khác: Chúa Giêsu cúi xuống rửa chân cho các môn đệ.

Một hình ảnh vừa đẹp, vừa lạ, vừa gây ngỡ ngàng.  Bởi vì Đấng đang quỳ xuống đó không phải là một người đầy tớ.  Đó là Thầy, là Chúa, là Con Thiên Chúa.

Đôi tay đã dựng nên vũ trụ, giờ đây lại cầm lấy chân bụi đất của con người.  Đấng mà thiên thần thờ lạy, giờ đây lại quỳ xuống trước những con người yếu đuối, đầy giới hạn, thậm chí có kẻ sắp phản bội Ngài.

Tại sao Chúa lại làm như thế?

Bởi vì Chúa muốn cho các môn đệ hiểu một điều mà nếu chỉ nghe bằng tai thì chưa đủ, nhưng phải nhìn bằng mắt và cảm bằng tim: Ai đón nhận Thánh Thể, thì phải sống tinh thần của Thánh Thể.  Ai ăn Mình Chúa, thì phải biết sống như Chúa.

Mà sống như Chúa là gì?  Là biết cúi xuống. – Là biết phục vụ. – Là biết nhẫn nại. – Là biết chịu đựng nhau. – Là biết tha thứ – Là biết yêu nhau đến cùng.

Theo cách nghĩ của thế gian, cao là để được phục vụ.  Có quyền là để người khác nể mình.  Có vị trí là để người khác nghe mình.

Nhưng nơi Chúa Giêsu, mọi sự bị đảo ngược hoàn toàn: Theo Chúa, cao là để cúi xuống sâu hơn, có quyền có địa vị là để phục vụ nhiều hơn, yêu không phải là được nhận, mà là dám cho đi, dám hạ mình, dám mang lấy phần nặng của người khác.

Có lẽ đây là chỗ khó nhất của tình yêu.  Bởi vì nói yêu thì dễ, nhưng cúi xuống vì người mình yêu thì không dễ chút nào.

Cho nên, nếu tối nay Chúa chỉ lập Bí tích Thánh Thể mà không rửa chân cho các môn đệ, thì chúng ta vẫn có thể hiểu sai về tình yêu.  Chúng ta có thể nghĩ rằng yêu Chúa chỉ là chuyện của bàn thờ, chuyện của nhà thờ, chuyện của kinh nguyện.  Nhưng Chúa Giêsu muốn kéo tình yêu ấy xuống sàn nhà của đời thường, xuống chậu nước của phục vụ, xuống những tương quan cụ thể giữa người với người.

3. Thứ Năm Tuần Thánh là hành trình từ bàn tiệc đến chậu nước

Vì thế, Thứ Năm Tuần Thánh không chỉ là ngày Chúa lập Bí tích Thánh Thể.  Mà còn là ngày Chúa dạy chúng ta cách sống Bí tích Thánh Thể.

Có thể nói thật ngắn mà rất trúng như thế này:

Bí tích Thánh Thể được cử hành trong nhà thờ – còn việc rửa chân phải được thực hiện trong cuộc sống.

Bí tích Thánh Thể diễn ra trên bàn thờ –  còn việc rửa chân phải diễn ra trong gia đình, trong cộng đoàn, trong giáo xứ, trong từng tương quan mỗi ngày.

Bí tích Thánh Thể đưa ta đến với Chúa – còn việc rửa chân đưa ta đến với anh em.

Bí tích Thánh Thể dạy ta thưa với Chúa: “Con yêu mến Chúa” – còn việc rửa chân buộc ta chứng minh: “Con thật sự yêu người bên cạnh con.”

Cho nên, sống Thứ Năm Tuần Thánh là bước vào một hành trình rất rõ:

Từ bàn tiệc đến chậu nước. – Từ Thánh Thể đến bác ái.  Từ hiệp lễ đến hiến thân.

4. Và đây là lời mời gọi rất thật cho gia đình, cộng đoàn, giáo xứ của chúng ta

Tối nay, Chúa không mời chúng ta làm điều gì xa vời.  Ngài chỉ mời chúng ta bắt đầu từ những điều rất gần.

Rửa chân hôm nay không chỉ là nghi thức, mà là một lối sống.

Rửa chân là khi vợ chồng biết nhịn nhau một chút.  Rửa chân là khi cha mẹ biết lắng nghe con cái.  Rửa chân là khi con cái biết hiếu thảo với cha mẹ.  Rửa chân là khi anh chị em trong cộng đoàn biết bớt xét đoán, bớt làm đau nhau bằng lời nói và thái độ.

Có những người đi lễ rất đều, đọc kinh rất chăm, nhưng lại không sống hòa thuận được với những người xung quanh mình.

Cho nên, điều Hội Thánh cần hôm nay không phải chỉ là thêm nghi thức, mà là thêm tình yêu được sống thật.

Không phải chỉ cần những người giỏi nói về Chúa, mà cần những người để người khác có thể chạm được Chúa nơi cách sống của mình.

Ước gì mỗi lần tham dự Thánh Lễ, chúng ta không chỉ biết rước Chúa vào lòng, mà còn biết mang trái tim của Chúa vào cuộc sống.

Để rồi gia đình chúng ta sẽ bớt lạnh hơn, cộng đoàn chúng ta sẽ bớt tổn thương nhau hơn, giáo xứ chúng ta sẽ dịu dàng hơn, và đời sống chúng ta sẽ trở thành một lời chứng sống động rằng: Ở đây, người ta không chỉ nói về tình yêu, mà người ta đang sống tình yêu của Chúa.  Amen.

Lm Giuse Hồ Ngọc Vũ

THINH LẶNG LÀ MỘT CÂU TRẢ LỜI

Cuộc sống con người đôi lúc quá hối hả, ồn ào và bận rộn với mọi nhu cầu của cơm-áo-gạo-tiền và nhiều thứ khác, nên lắm lúc người ta chẳng còn giờ để lặng, để lắng và để nghe tiếng lòng mình.  Lắng nghe để thẩm, để thấu và để đi vào chiều sâu nội tâm của cõi lòng.  Lặng để chìm sâu vào và để tìm ra ý nghĩa hiện hữu của thân phận con người.  Người ta thường đòi hỏi mình phải được nói, được bày tỏ và được nói nhiều hơn để nghe.

Ta đòi hỏi, nói phải có người đáp, hỏi phải có câu trả lời, phải có phản hồi thì mới thỏa mãn con người bản năng tự nhiên của mình.  Nhiều lúc người ta bị cuộc sống lôi cuốn vào những vòng xoáy của sự hấp dẫn bên ngoài, lao vào những nhộn nhịp của hào nhoáng trước mắt và rồi, khi không đáp ứng được những thỏa mãn đó, người ta dễ mất đi niềm tin vào cuộc sống, đánh mất đi giá trị và ý nghĩa của sự hiện hữu.  Người ta dễ đi vào ngõ cụt và nhìn cuộc đời với cặp mắt tiêu cực, phủ đầy cám dỗ và không lối thoát.

Khác với con người, Thiên Chúa là Đấng yêu thích sự cô tịch và Ngài lại nói trong sự thinh lặng.  Sau những lần bận rộn với sứ vụ của mình, Đức Giêsu thường lui vào trong cô tịch, lên núi một mình để thầm thì, chuyện trò, để nguyện cầu cùng Thiên Chúa Cha.  Chính nơi sự thinh lặng đó, Ngài thường được kết hiệp một cách sâu xa với Chúa Cha và học lấy thánh ý Cha cho sứ mạng của mình.

Với thân phận con người yếu đuối và đầy những lo toan, đôi lúc ta muốn chìm vào thinh lặng đôi chút, nhưng bên trong ta, tâm hồn ta còn đầy những vướng mắc, đầy những sóng gió đang vô vập bởi những lo lắng và hoang mang, của những sợ hãi và vô vọng.  Ta chưa thể lặng để lắng được, sóng gió trong cõi lòng ta vẫn còn cuồn cuộn của lối sống tìm kiếm để lấp đầy cho bản năng, tâm hồn ta vẫn còn ồn ào với những toan tính của cuộc sống tạm bợ này, khiến sóng lòng vẫn chưa thể ngưng và lặng được.

Hãy cùng Giêsu trong chiều thứ Sáu Tuần Thánh này, đi vào một chiều sâu cô tịch và lặng chìm với Ngài trên đỉnh đồi Canvê hoang vu.  Lặng với Ngài để chiêm ngắm tình yêu và khám phá cùng đích của phận người là gì.  Dưới chân Thập Giá, hãy ghì chặt lấy chân Chúa Giêsu đang rỉ từng giọt máu, để kiếm tìm câu trả lời cho chính mình.  Ngài vẫn ghim chặt thân mình trên thập giá trong một sự tĩnh lặng tưởng chừng như vô vọng, nhưng kỳ thực “THINH LẶNG LÀ MỘT CÂU TRẢ LỜI” vĩ đại nhất của Thiên Chúa.

Thiên Chúa nơi Đức Giêsu trên đồi Gôngôtha ấy, Ngài vẫn thinh lặng đến tột cùng, tưởng chừng như hoàn toàn bất lực trước sự dữ.  Trên đồi hiu mông quạnh đó, không một tiếng than khóc ỉ ôi thương tiếc Con Thiên Chúa vô tội, nhưng là sự thinh lặng đến nghẹt thở của sự vô ơn và trở mặt của con người.

Nhưng sự thinh lặng của Thiên Chúa đó, không hề mở miệng than trách Thiên Chúa Cha và cũng không hề mở miệng lên án sự bất nhân, bất công và tội lỗi của con người.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để trao ban ơn tha thứ, van nài Chúa Cha tha thứ cho con người “vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34).  Là sự thinh lặng để Thiên Chúa cảm thông, chia sẻ phận người với nhân loại.  Là sự thinh lặng sâu thẳm để từng giọt máu giọt nước từ thánh thể Ngài thấm sâu vào tận cõi lòng của nhân gian, là để gột sạch và tẩy rửa mọi ô nhơ, tội lỗi của con người.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để chạm vào từng nỗi đau, từng vết thương đang rên rỉ than khóc của nhân loại, là để từng giọt nước mắt còn lăn trên gò má Ngài xoa dịu những nóng rát, cồn cào trong cõi lòng con người và để chữa lành những thương đau của kiếp người.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để máu và nước từ cạnh sườn Con Thiên Chúa trào tràn dội xuống và thấm vào lòng nhân loại, để xoa dịu những cơn đói cơn khát đang quằn quại rên siết và để ân sủng Thiên Chúa khỏa lấp sự trống rỗng trong cõi lòng con người.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để trở nên sức mạnh cho ơn cứu độ và để giải thoát con người khỏi cảnh trầm luân của sự chết, mang lại sự sống và hạnh phúc vĩnh cửu cho nhân loại.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để mở ra một cánh cửa mới, một lối đi mới cho con người, là khai thông ngõ cụt cho con người và để con người được tìm đến cùng đích là hạnh phúc cứu độ.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là từ cao trên Thánh Giá Ngài với xuống và đoái trông đến thân phận hèn yếu, tội lỗi của con người.  Là dang cánh tay ôm lấy trọn vẹn kiếp người và để cho con người được đi vào, được nên một và được kết hiệp vào thần tính với Thiên Chúa.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để cho Thiên Chúa có cơ hội và tự do đến với con người, chạm lấy trọn vẹn cùng khổ của con người và để con người được cảm nếm sự êm ái, dịu ngọt của Thiên Chúa.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để con người được lên núi và đi vào cô tịch, thoát ra những ồn ào của thế sự và buông bỏ những thứ không cần thiết, để làm no thỏa cơn đói sự thánh thiện của nhân loại.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là giúp con người lộ rõ được bản chất và sự trần trụi của chính mình, và cảm nhận được lòng thương xót bao la của Thiên Chúa.  Để con người được sống vô biên vô diệt và đạt tới sự tự do bất diệt của chính Thiên Chúa.

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để giao hòa Trời Cao với Đất Thấp, để nối kết lại tương quan giữa Trời với Đất-tương quan bị phá đổ bởi Ađam cũ và nhờ Ađam Mới, kéo Trời Cao xuống gần với Đất hơn, để Trời nhập thể và nhập thế, sống đồng kiếp phàm nhân với con người.

Ngước nhìn thập giá, và Ngài vẫn lặng thinh – đó là câu trả lời cho mỗi chúng ta.  Ngài muốn ta chìm đắm trong cô tịch, cúi sâu lòng mình để khám phá giá trị và ý nghĩa qua từng biến cố của cuộc sống.  Ngài muốn ta học lấy sự thinh lặng và học cách đón nhận mọi sự trong thinh lặng để tìm đến cùng đích của kiếp người.  Bởi thinh lặng không có nghĩa là vô nghĩa, vô vọng; không là thất vọng, thất bại; không là chấm hết, kết thúc; nhưng là câu trả lời mở ra cho ta vô vàn lối thoát, cho ta sức mạnh để lớn lên trong ân sủng với Thiên Chúa.

Trong những nghịch cảnh tưởng chừng như bế tắc nhất, nghiệt ngã nhất, tuyệt vọng nhất mà con người phải đối diện, thì thinh lặng dường như là câu trả lời ý nghĩa hơn cả cho mỗi chúng ta.  Mọi sự rồi sẽ qua đi, chỉ còn lại Chúa đó, Ngài vẫn ở đó và kiên trì chờ đợi ta.  Một Giêsu trần trụi trên thập giá vẫn âm thầm và lặng lẽ tiếp bước trong ta.  Lặng thinh trên thập giá, Đức Giêsu Kitô muốn ta tiếp tục khám phá chính mình, khám phá và cảm nếm sự ngọt ngào, tươi mát hòa lẫn sự bình an sâu thẳm trong thinh lặng.  Ngài mời gọi ta tiếp tục đi tìm ý nghĩa câu trả lời “Thinh Lặng” cả hôm nay, ngày mai và suốt cuộc đời ta.

Cùng với Ngài bước lên đồi Gôngôtha của đời mình trong thinh lặng, để trên đỉnh đồi, ta được Ngài biểu lộ vinh quang phục sinh của Ngài cho cuộc đời ta.

Phaolô Nguyễn Văn Cầu C.P.

NỤ HÔN KHÔNG TÌNH YÊU

Nụ hôn diễn tả tình yêu.
Nụ hôn gửi gắm muôn điều thân thương.

Hôn là một hành động nhằm biểu đạt tình yêu.  Nụ hôn luôn được coi là “biểu tượng đẹp” trong tình cảm của con người.  Chữ hôn được ghép với nhiều chữ khác như hôn nhân, hôn ước, hôn phối, hôn lễ, thành hôn, kết hôn, tái hôn.  Chữ hôn đứng vai chủ động diễn tả hành động yêu thương, cử chỉ trìu mến, tác thành như tân hôn, kết hôn, thành hôn, tái hôn.  Chữ hôn dùng trong trường hợp cử hành các nghi thức mừng vui như hôn lễ, hôn phối, hôn ước.  Và chữ hôn còn dùng diễn tả sự kiện đau buồn, cô đơn như tiêu hôn.

Tân Ước có mô tả về hai nụ hôn khá tương phản.  Một của Giuđa, một của người phụ nữ tội lỗi trong Lc 7, 37.

Trong mái nhà Nagiaret, Mẹ Maria và thánh Giuse chắc chắn đã hôn Chúa Giêsu nhiều lần khi Ngài còn bé thơ, những lúc ẵm bồng âu yếm con trẻ trên tay, nhưng phúc âm đã không nhắc gì đến điều này.  Phúc âm chỉ kể lại có hai lần thôi Đức Giêsu được hôn trong cuộc đời rao giảng công khai.

Cả ba Tin Mừng Nhất Lãm đều nói đến cái hôn của Giuđa (Mt 26, 48-49; Mc 14, 44-45; Lc 22, 47-48).  Nét tinh tế của các tác giả Tin Mừng là ở chỗ này: Các ngài kể rằng Giuđa đã cho đám người đi bắt Đức Giêsu một dấu hiệu: “Tôi hôn ai thì chính là người đó” (Mt 26, 48//Mc Mc 14, 44//Lc 22, 47); chữ “hôn” ở đây là phileô.  “Ngay lúc đó, Giuđa tiến lại gần Đức Giêsu và nói: ‘Rabbi, xin chào Thầy!’, rồi hôn Người” (Mt 26, 49//Mc 14, 45); chữ “hôn” ở đây lại là kataphileô, “hôn thắm thiết, nồng nàn.”  Giuđa đã dùng một cử chỉ để diễn tả “tình yêu thương tha thiết, trọn vẹn,” “cái hôn thắm thiết,” để phản bội Đức Giêsu là Tình Yêu Thiên Chúa nhập thể!  Một trái tim phản bội che giấu hành vi bất lương dưới một cái hôn nồng nàn…

Cái hôn của người phụ nữ vô danh.  Đây là một “người phụ nữ tội lỗi trong thành”, nghĩa là “tội lỗi công khai” (Lc 7, 36-50).  Chị đã “đứng đàng sau, sát chân Đức Giêsu mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người.  Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên” (Lc 7, 38).  Chữ “hôn” ở đây là kataphileô, “hôn thắm thiết.”  Một tâm hồn tội lỗi đến gặp Đức Giêsu để thú nhận tình trạng bất chính của mình cùng với lòng kính trọng và tâm tình biết ơn sâu xa bằng những nụ hôn thắm thiết đặt lên chân Người…(Lm Vũ Phan Long, ofm; kinhthanh.org).

Giuđa hôn má của Thầy, ông đang đứng ở một khoảng cách rất gần trong tương quan với Chúa Giêsu.  Người phụ nữ tội lỗi hôn chân Thầy để biểu lộ lòng sám hối, cô ấy tự đặt mình ở một khoảng cách rất xa trong tâm hồn.

Nụ hôn của môn đệ nộp Thầy và nụ hôn của người đàn bà thống hối biểu tỏ lòng ăn năn.  Cùng một nụ hôn nhưng khác nhau về nội dung.  Hai nụ hôn này không chỉ khác về vị trí mà ánh mắt cũng rất khác lạ.  Kinh Thánh không mô tả thần thái của hai gương mặt này trong khi hôn.  Chỉ có Chúa mới đo được tình yêu của hai nụ hôn này và Ngài hiểu thấu tâm can của mọi hành vi, ngay cả khi hai người ấy chưa hành động.

Giuđa nói với đám người đông đảo mang gươm giáo gậy gộc: “Tôi hôn ai thì đó chính là Người, các anh bắt lấy” (Mt 26, 48).  Cái bi đát của tình yêu là dùng chính cử chỉ âu yếm nhất để phản bội tình yêu.  Nụ hôn của Giuđa đau hơn ngàn cái tát, nhục nhằn hơn dòng nước mắt, quặn thắt hơn vết thương sâu.  Chúa Giêsu ngỡ ngàng trước thái độ của Giuđa nên hỏi: “Giuđa ơi!  Anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao? (Lc 22, 48).  Chúa Giêsu không tưởng tượng được một môn đệ sau ba năm chung sống, bây giờ dùng nụ hôn chỉ điểm cho đám người đến bắt Ngài.  Nếu Giuđa dùng cái tát tai hoặc cú đấm để làm dấu chỉ thì Chúa đỡ đau lòng hơn.  Cái bi đát ở đây là Giuđa dùng chính cái hôn để phản bội tình yêu, dùng chính cái hôn để chà đạp sỉ nhục tình yêu.  Có nhiều cách phản bội, nhưng Giuđa đã chọn cách phản bội đau lòng nhất.

Giuđa đã dùng nụ hôn vốn là “ngôn ngữ yêu thương” để “chỉ điểm” và bán Thầy với giá “ba mươi đồng” (Mt 26, 15; Mt 27, 3.9).  “Ba mươi đồng” chỉ là số tiền nhỏ so với “ba trăm quan tiền” giá chiếc bình bạch ngọc đựng dầu cam tùng hảo hạng (Mc 14, 5; Ga 12, 5) mà người phụ nữ tội lỗi đã đập bể và lấy dầu xức chân Chúa Giêsu tại nhà ông Simon (Mt 26, 6-13; Mc 14, 3-9; Ga 12, 1-8).  Bán Thầy giá “ba mươi đồng” so với bình dầu “ba trăm quan tiền,” nên Giuđa tiếc nuối cho rằng cô kia làm như vậy là hoang phí (Mt 26, 8; Mc 14, 4).  Giuđa không ngay thẳng khi mượn danh người nghèo để trách lòng quảng đại của người phụ nữ: “Phí phạm dầu để làm gì?  Sao không bán để giúp cho người nghèo?”  Thánh Gioan nhận định: “Hắn nói thế không phải vì thương người nghèo đâu, nhưng vì hắn giữ tiền chung, hay bớt xén tiền của anh em.”  Khi lòng người đã không ngay thẳng, không thật thà, thì những hành động hoặc lời nói bên ngoài cũng sẽ không trung thực.

Hai nụ hôn bởi hai con người khác nhau, mang hai tâm tình khác nhau.  Hai nụ hôn bắt nguồn từ hai trái tim: một trái tim chất ngất yêu thương, còn một trái tim lừa lọc, bội phản.  Từ đó, hai trái tim đưa về hai nẻo lối khác nhau: một lối đi về mênh mông thiên đường, còn lối kia dẫn về ngục tù hun hút.

Chúa xét đến tâm tư thầm kín của từng người.  Giuđa đến hôn lên má Thầy, làm dấu hiệu cho người khác đến bắt Thầy.  Còn người phụ nữ tội lỗi đến hôn chân Chúa để tỏ lòng thống hối bên trong, xin ơn làm lại cuộc đời.  Bàn chân nằm ở vị trí thấp nhất.  Chọn chân để hôn nhằm chứng minh tình yêu, lòng khiêm cung, người hôn muốn nói lên sự bất tương xứng trong tình yêu của mình.

Cái hôn của Giuđa chỉ tốt ở bên ngoài, hợp với phong tục tập quán.  Người môn đệ hôn thầy mình đúng luật xã giao và hợp tình nghĩa, nhưng ý hướng bên trong thì thật xấu xa.  Còn nụ hôn của cô ấy bên ngoài không được thích hợp, nhưng bên trong chất chứa những ý hướng tốt đẹp.

Cuộc sống với giá trị bên trong mới đáng kể: nếu thấy một người có những hành động và thái độ xem ra không thích hợp với thói quen xã hội và tôn giáo, chúng ta đừng vội nghi ngờ và lên án.  Họ có thể không được xã hội đồng ý, không được đám đông chấp nhận, nhưng biết đâu trước mặt Chúa họ không có gì phải hổ thẹn và thua kém ai.  Điều mà mỗi người cần lo sợ đề phòng hơn hết là thái độ như Giuđa, dùng cái hôn, dùng việc đạo đức tốt lành bên ngoài để nộp Chúa, bán Chúa.  Đó là trường hợp người ta lợi dụng việc từ thiện việc đạo đức để kiếm tiền, dùng thế giá tôn giáo để xây dựng uy tín riêng mình, viện cớ tôn giáo để bắt nạt kẻ khác.  Nêu ra lý do đạo đức để khoe khoang bôi nhọ, nói xấu người khác….  Thiếu gì những người nhân danh Chúa để loại trừ Chúa và làm hại anh chị em xung quanh.

Nụ hôn Giuđa đã khiến cho cái chết của Chúa Giêsu vốn đã đau đớn lại thêm tê tái hơn.  Nụ hôn của Giuđa để lại một kỷ niệm buồn.  Hơn hai nghìn năm lịch sử vẫn không phai mờ, bởi Giuđa đã hôn Thầy bằng một nụ hôn không chút tình yêu.  Nếu mỗi nụ hôn trao nhau là một đóa hoa hồng, thì nụ hôn không chút tình yêu của Giuđa trở nên vòng gai nhọn trao cho Chúa Giêsu.

Suy ngẫm về nụ hôn không chút tình yêu của Giuđa là dịp cho ta nhìn lại chính mình: Giuđa đã phản bội Chúa bằng môt nụ hôn khéo léo lọc lừa, còn chúng ta thì sao?  Trong lời nói, suy nghĩ và hành động, có khi nào ta phản bội Chúa không?  Trong tương quan với tha nhân nhiều lần ta thiếu vắng tình yêu chăng?

Ngày thành hôn, đôi bạn trẻ thề non hẹn biển, nhưng không chừng ngày nào đó lời thề hứa ấy lại bay theo tiếng gọi của gió ngàn.  Yêu đòi phải hy sinh cho nhau.  Hy sinh là bảo chứng của tình yêu.  Khi chấp nhận đau đớn vì nhau thì tình yêu mới trọn vẹn, nụ hôn trao nhau mới thực sự là bằng chứng của tình yêu.

Linh mục tu sĩ cũng đã có những cái ôm hôn trong ngày khấn dòng hay trong ngày lễ phong chức.  Nghi thức trao hôn bình an của giám mục, của bề trên hay của người anh em cũng bào hàm một lời mời gọi yêu thương và trung thành với những điều đã khấn hứa, đã tuyên thệ.  Thế nhưng lời thế ấy vẫn dang dở đôi lần vì bất trung, tình yêu ấy đã có lúc mai một.

Ba năm theo Chúa, Giuđa luôn đi trong ánh sáng của sự bình an, tình yêu và hy vọng.  Nhưng cuối cuộc đời lại trở nên kẻ tối tăm phản bội.  Cuộc sống của chúng ta luôn có những người thân, những người bạn, những người đồng nghiệp… có ai ngờ được một lúc nào đó cũng là những kẻ phản bội chúng ta.  Thực tế cuộc sống xã hội hôm nay đã cho thấy cảnh gia đình tan nát khi vợ chồng phản bội nhau, con cái dối gạt cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp vì một mối tình, cạnh tranh làm ăn… mà đánh mất tình bạn, tình yêu, đưa đến những thảm họa đau thương.  Chúa Giêsu biết rõ tận tâm can của con người: “kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (Ga 14,18).  Hãy nhớ lời Thánh Phaolô khuyên nhủ: “Ai tưởng mình đang đứng vững thì hãy coi chừng kẻo ngã” (1Cr 10,12).  Và lời Thánh Phêrô căn dặn: “ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5, 8).

Đừng trách Giuđa phản thầy của mình, nếu có trách thì trách ông đã để cho ma quỉ bước vào cuộc đời và dẫn lối đời mình (x. Lc 22,3).  Mà nếu trách như vậy thì thử hỏi ai trong chúng ta không đáng trách!  Ai trong đời cũng có đôi lần để ma quỉ dẫn lối đi về miến u tối của bất trung.

Lạy Chúa, xin dạy con sống trung thành với Chúa và chân thành với anh chị em, luôn biết sống yêu thương với hết mọi người.  Xin dạy con sống quảng đại và luôn là khí cụ bình an của Chúa. Amen!

Lm Giuse Nguyễn Hữu An