THẬP GIÁ CUỘC ĐỜI

Thập giá là tâm điểm của Phụng vụ Ki-tô giáo, nhất là trong Tuần Thánh.  Hai thanh gỗ, một thanh dọc và một thanh ngang, có điều gì kỳ diệu, mà từ hai ngàn năm nay, các tín hữu tôn kính thờ lạy?  Thực ra, Ki-tô hữu không thờ lạy một cây gỗ, nhưng là thờ lạy Đấng đã chịu treo trên cây gỗ ấy, đó là Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa nhập thể làm người.

Đức Giê-su đã đón nhận thập giá một cách tự do và hoàn toàn vì tình yêu.  Người đã vâng phục Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá.  Thập giá là biểu tượng của sự vâng phục, của tình yêu hy sinh, và cũng là của lòng quảng đại bao dung tha thứ.  Qua thập giá Đức Giê-su, Ki-tô hữu được mời gọi nhận ra thập giá cuộc đời.  Vâng, khi chúng ta khởi đầu hành trình làm người, cũng là lúc chúng ta khởi đầu hành trình thập giá.  Bởi lẽ cuộc sống con người luôn luôn đan quyện những đau khổ và niềm vui, nước mắt và hạnh phúc.  Nhận ra thập giá trong đời mình, và cố gắng vác thập giá với tâm tình của Chúa Giê-su, gánh nặng cuộc đời sẽ bớt chua chát, hạnh phúc sẽ thay thế đau thương.

“Nếu ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình đi và vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). “Vác thập giá” là điều kiện không thể thiếu cho những ai muốn làm môn đệ Chúa Giê-su.  Nơi khác, Chúa khẳng định: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10,38).  Theo giáo huấn của Chúa Giê-su, “vác thập giá” cũng có nghĩa là bỏ mình.  Sự buông bỏ để đón nhận người khác và sống hài hòa với tha nhân luôn đòi hỏi chúng ta phải hy sinh.  Đó không phải là buông bỏ một điều gì ngoài bản thân, mà là buông bỏ chính mình.  Theo tâm lý tự nhiên, con người luôn quy hướng về bản thân, đồng thời cũng muốn (đôi khi là ép buộc) người khác phải quy hướng theo mình.  Từ bỏ bản thân là sống khiêm tốn, không kiêu ngạo và cố chấp.  Từ bỏ bản thân là điều khó nhất trong những thứ có thể từ bỏ, nhưng đó là lại là bằng chứng hùng hồn về tình yêu.  Thánh Tê-rê-xa Hài đồng Giê-su đã viết: “Yêu là cho đi tất cả và cho đi chính mình.”

Nếu không có Chúa Giê-su, thập giá chỉ là cây gỗ vô dụng.  Nhiều người nai lưng vác cái mà mình nghĩ là thập giá, nhưng thực ra lại không phải.  Có thể đó là những điều mà mình cho là “hy sinh,” là “chịu đựng,” nhưng đúng hơn là mình đang bắt người khác phải hy sinh và chịu đựng vì mình.  Có những người thường vô tình hay cố ý tạo ra thập giá cho những người thân rồi bắt họ vác đi.  Trên đường đến núi Can-vê, Chúa Giê-su đã ba lần ngã quỵ.  Ông Si-mon người thành Ky-rê-nê đã vác thập giá đỡ cho Chúa.  Hôm nay Chúa Giê-su đang vác thập giá đi ngang qua cuộc đời chúng ta.  Người hiện thân nơi những người đau khổ cùng cực và những người đói nghèo.  Khi thực hiện những nghĩa cử bác ái, là chúng ta vác đỡ thập giá cho Chúa.

Đối diện với một đám đông ồn ào và hung bạo, Đức Giê-su vác thập giá bước đi trong thinh lặng.  Khi Chúa bị điệu ra trước tòa Phi-la-tô và trên con đường thập giá, chỉ có một số rất ít bênh vực Người.  Phải chăng đó cũng chính là thực trạng thế giới hôm nay.  Trong xã hội tự tin cho là  văn minh và hiện đại này, có bao nhiêu người cảm động trước một con người bị hành hạ bất công, và bị treo trên thập giá?  Tuy vậy, Giáo Hội của Chúa Ki-tô luôn luôn là “số ít còn lại của Ít-ra-en.”  Một Giáo Hội không chạy theo những phong trào và sở thích của số đông, nhưng lắng đọng nội tâm để quy hướng về Chúa, qua đó tìm thấy ý nghĩa của đời mình.  Từ cái chết cô đơn của Đức Giê-su trên cây thập giá, ơn cứu độ tuôn trào đến muôn dân, nhất là đến với những ai tin tưởng và trung tín với Người.  Đấng chịu treo trên thập giá vẫn đang nói với chúng ta: hãy lấy tình yêu đáp lại ghen ghét; lấy tha thứ đáp lại hận thù, vì tình yêu vượt lên tất cả!

Chúa Giê-su đến trần gian không phải để cất đi vĩnh viễn đau khổ và thập giá, nhưng Người đã vác nó trên vai.  Người tin vào Chúa không phải để tránh khỏi đau khổ thập giá, nhưng để có Chúa nâng đỡ và cùng vác với mình.  “Hãy đến với Ta, tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồ dưỡng” (Mt 11,28).  Chúa mời gọi chúng ta đến với Chúa, tức là cậy trông vào sức mạnh thiêng liêng mà Người sẽ ban cho chúng ta.  Nhờ đó, thập giá cuộc đời trở nên nhẹ nhàng và dễ vác hơn.

Thập giá không chỉ là dấu hiệu của khổ đau thất bại, nhưng còn là biểu tượng của niềm hy vọng.  Trên mỗi nấm mộ của người tín hữu, cây thập giá được dựng lên như lời khẳng định: tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.  Thánh Phao-lô đã “đọc” được niềm hy vọng nơi cây thập giá.  Ngài quả quyết: “Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức ​Giê-su Ki-tô, mà là Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá” (1 Cr 2,2).

Hôm nay, chúng ta khai mạc Tuần Thánh.  Trong những ngày sắp tới, chúng ta cùng sống với Đấng Cứu Thế những ngày cuối cùng của Người trong cuộc sống trần gian.  Bài Thương khó như một vở kịch gồm nhiều chương đoạn, diễn tả những cảm xúc khác nhau.  Tấn bi kịch cũng cho chúng ta thấy ai là người trung thành với Chúa, vào những giờ phút sau hết của cuộc đời Người nơi dương thế.  Chúa Giê-su đang vác thập giá đi ngang qua cuộc đời.  Chúng ta hãy nhận ra Người nơi những anh chị em bé mọn và bị quên lãng.

“Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32).  Vâng, thập giá là điểm quy tụ muôn người.  Xin cho nhân loại hôm nay tôn nhận Đấng chịu đóng đinh trên thập giá là Chúa và là Đấng Cứu độ, nhờ đó hòa bình sẽ được thiết lập trên thế giới đầy biến động của chúng ta.  Amen.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

“XIN VÂNG” – SỨ MẠNG TÔNG ĐỒ

Nếu tìm hiểu lịch sử Israel chúng ta sẽ thấy vua Achaz trong bài đọc 1 hôm nay không phải vì khiêm nhượng mà không dám xin Chúa một dấu lạ, nhưng vì ông đã hồ nghi Yahweh Thiên Chúa không đủ quyền năng để bảo toàn đất nước khi nghe quân ngoại bang vây đánh.  Vì thế, thay vì cầu khấn cùng Yahweh, ông đã đi năn nỉ vua Assaria giúp đỡ.  Bài đọc 2 cho chúng ta thấy các của lễ toàn thiêu không phải là điều Thiên Chúa hằng mong đợi nơi con người.  Điều làm Thiên Chúa vui lòng nhất là thi hành ý Ngài.  Và bài Phúc Âm hôm nay nêu lên một mẫu gương sống động của việc thi hành ý Chúa qua tiếng “Xin Vâng” của Mẹ Maria trong biến cố truyền tin mà chúng ta kính nhớ hôm nay.

Tiếng xin vâng của Đức Mẹ, thoạt nghe, chẳng có gì đặc biệt đáng chúng ta phải chú ý.  Nhưng nếu để tâm suy nghĩ và cầu nguyện, chúng ta sẽ thấy được tinh thần hy sinh, lòng bác ái, và đức tin sống động của Mẹ được gói gọn trong hai tiếng xin vâng đó.

Qua tiếng xin vâng, Mẹ Maria sẵn sàng gạt bỏ đi tất cả những gì Mẹ hằng ôm ấp cho riêng mình là sống đời đồng trinh, để chấp nhận cộng tác với Chúa trong việc sinh ra cho nhân loại Đấng Cứu Thế mà ai cũng trông chờ.

Chính vì điểm này mà Chúa đã ban cho Mẹ được cả hai, tức là vừa đồng trinh vừa làm Mẹ Thiên Chúa.  Khi thưa lên tiếng xin vâng, Mẹ Maria hiểu được nhiệm vụ chính yếu của Mẹ là hiến mình làm dụng cụ đem Chúa đến cho nhân loại.  Vì vậy, khi Ngôi Hai Thiên Chúa vừa đầu thai trong cung lòng Mẹ, Mẹ đã “vội vã” lên đường thăm viếng bà Isave.  Không cần phải dài dòng, ai cũng hiểu được mục đích của cuộc viếng thăm này không phải là để Mẹ ca bài Magnificat cho bà Isave và cũng chẳng phải để nghe bà Isave tán tụng Mẹ là người có đức tin mạnh mẽ.  Lý do chính yếu của cuộc viếng thăm này là để Mẹ đem Chúa đến cho gia đình ông Giacaria, đặc biệt là thánh Gioan Tiền Hô, khiến ngài phải nhảy mừng trong lòng bà Isave.

Tiếng xin vâng của Mẹ Maria còn nhắc nhớ chúng ta về đức tin sống động của Mẹ: luôn phó thác mình cho tác động của Chúa Thánh Thần.  Nếu chỉ xin vâng một lần rồi thôi hoặc có thể rút lại được khi hết hứng thì rất dễ, nhưng tiếng xin vâng của Mẹ Maria là tiếng xin vâng liên tục và vĩnh viễn kể từ giây phút truyền tin.  Do đó, nếu không có một đức tin mạnh mẽ và sống động thì Mẹ Maria không thể nào thưa lên được tiếng xin vâng cộng tác vào chương trình cứu chuộc.  Và nếu đức tin đó không được tiếp tục nuôi dưỡng thì Mẹ Maria cũng chẳng tiếp tục sứ mạng cộng tác của Ngài cho đến ngày Mẹ được Chúa cất về trời.  Vì cuộc đời tại thế của Mẹ cũng là một cuộc hành trình đức tin như mỗi người chúng ta ngày nay vậy.  Và mỗi biến cố xảy đến trong cuộc đời là một bước Mẹ tiến cao hơn trong cuộc lữ hành đức tin.  Mỗi một lần như vậy nó đòi buộc một sự tín thác cao độ hơn lần trước, vì như mọi người chúng ta, Mẹ cũng chẳng biết được tương lai ngày mai sẽ ra sao.

Như Mẹ đã cưu mang Chúa trong thân xác qua biến cố truyền tin, mỗi người chúng ta cũng cưu mang Chúa trong tâm hồn kể từ ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội.  Vì thế, biến cố truyền tin mời gọi mỗi người chúng ta hãy xét lại xem cuộc sống Kitô hữu của chúng ta có rập theo khuôn mẫu của Mẹ Maria chưa: luôn tín thác mình cho tác động của Chúa Thánh Thần.  Điều này đòi buộc mỗi người chúng ta phải luôn sẵn sàng để thưa lời xin vâng như Mẹ Maria trong mọi cảnh huống của cuộc sống hằng ngày.  Bao lâu chúng ta chưa thi hành được như vậy thì bấy lâu chúng ta đừng trông mong đem Chúa đến cho người khác.  Vì việc tông đồ đúng nghĩa phải là việc của Thiên Chúa.  Mà bao lâu chúng ta chưa đồng tâm nhất trí với Chúa, chưa sẵn sàng đón nhận tác động của Chúa trong chúng ta thì bấy lâu Chúa và chúng ta không thể nào hoạt động giống nhau được.

Như Mẹ Maria xưa đã đồng ý để Chúa dùng Mẹ như một phương tiện đến với nhân loại thế nào thì nhiệm vụ chính yếu của mỗi người Kitô hữu ngày nay cũng chính là việc sẵn sàng hiến cho Chúa một cơ hội để Ngài tỏ mình ra cho những người chúng ta tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày: một nụ cười thân thiện, một ánh mắt thông cảm, một nghĩa cử bác ái, một sự nhịn nhục kẻ thù… tất cả sẽ là việc tông đồ nếu qua đó mà người ta nhận biết Chúa rõ ràng hơn, yêu mến Chúa sâu đậm hơn, và thương yêu tha nhân chân thật hơn.

Xin Mẹ Maria nâng đỡ phù trì để chúng ta ngày một tiến cao hơn trong cuộc lữ hành đức tin qua việc mở rộng tâm hồn sẵn sàng cộng tác với ơn soi động của Chúa Thánh Thần ngõ hầu Chúa Giêsu có cơ hội tiếp tục sinh xuống tâm hồn những ai chưa nhận biết Chúa.

Sr. Tâm Năng

NƠI TĨNH LẶNG

Nhiều người trong chúng ta cần có thêm thinh lặng trong cuộc sống.  Tôi nói điều này một cách dè dặt, bởi vì vị trí của thinh lặng trong đời ta không phải là điều dễ xác định.

Tĩnh lặng là một thực tại phức tạp; đôi khi chúng ta sợ nó và tìm cách tránh né, nhưng cũng có lúc, khi mệt mỏi và bị kích thích quá mức, chúng ta lại tha thiết khao khát nó.

Nhìn chung, chúng ta có quá ít thinh lặng trong đời mình.  Công việc, điện thoại di động, các cuộc trò chuyện, giải trí, tin tức, những xao lãng và đủ loại bận tâm khác lấp đầy từng phút giây tỉnh thức.

Chúng ta đã quá quen với việc được kích thích bởi lời nói, thông tin và sự phân tâm, đến mức thường cảm thấy lạc lõng và bồn chồn khi ở một mình, không có ai để nói chuyện, không có gì để xem, không có gì để đọc hay làm để chiếm lấy sự chú ý của mình.

Tuy nhiên, không phải tất cả điều này đều xấu.  Trước đây, các tác giả viết về tâm linh thường quá phiến diện trong việc ca ngợi đức tính của sự thinh lặng.  Họ có xu hướng tạo ấn tượng quá đơn giản rằng Thượng đế và chiều sâu tâm linh chỉ được tìm thấy trong sự thinh lặng, như thể những đức tính của công việc thường nhật, trò chuyện, lễ hội, gia đình và cộng đồng đều kém quan trọng hơn về mặt tâm linh.

Khi nói về không gian thinh lặng, các tín ngưỡng tâm linh xưa kia thường trừng phạt người hướng ngoại và quá dễ dãi với người hướng nội.  Nói tóm lại, họ đã không xem xét đầy đủ rằng tất cả chúng ta, cả người hướng ngoại và hướng nội, đều cần đến liệu pháp của đời sống xã hội.  Trong khi chúng ta cần sự thinh lặng để có chiều sâu, chúng ta lại cần sự tương tác với người khác để ổn định tâm trí và giữ gìn sự tỉnh táo.  Một số quá trình tự khám phá bản thân chỉ có thể thực hiện trong thinh lặng, nhưng một số khía cạnh khác của sự tỉnh táo lại phụ thuộc vào sự tương tác với người khác.  Sự thinh lặng cũng có thể là một lối thoát, một sự né tránh quá trình thanh lọc khắc nghiệt thường chỉ có thể xảy ra thông qua thử thách của việc tương tác trong gia đình và cộng đoàn.

Hơn nữa, thinh lặng không phải lúc nào cũng là cách tốt nhất để đối diện với những nỗi đau hay ám ảnh trong lòng.  Xét cho cùng, đó có thể là một dạng tập trung quá mức vào chính mình.  Đôi khi, khi một nỗi đau đang đe dọa sự quân bình nội tâm, điều tốt nhất ta có thể làm không phải là vào nhà nguyện, nhưng là đến rạp hát hoặc dùng bữa với một người bạn.  Sự chuyên tâm vào công việc hay một hình thức giải trí lành mạnh đôi khi lại chính là người bạn cần thiết khi con tim ta đang ngột ngạt.

Có một câu chuyện về triết gia nổi tiếng Hegel.  Ngay sau khi hoàn tất công trình đồ sộ của mình về hiện tượng học của lịch sử, ông nhận ra rằng mình đang bên bờ suy sụp vì cường độ tập trung kéo dài quá lâu.  Ông đã làm gì để thoát khỏi tình trạng ấy?  Đi tĩnh tâm trong thinh lặng ư?  Không.  Ông đi xem nhạc kịch mỗi tối, dùng bữa hằng ngày với bạn bè, và tìm đến đủ mọi hình thức giải trí cho đến khi, sau một thời gian, sự siết chặt nghẹt thở của thế giới nội tâm dần buông lỏng và ánh nắng cùng sự tươi mới của đời sống thường ngày lại bừng lên.  Đôi khi, chính sự xao lãng – chứ không phải thinh lặng – mới là phương thuốc tốt nhất cho chúng ta, kể cả trên bình diện thiêng liêng.

Dẫu vậy, thinh lặng vẫn là điều cần thiết.  Những gì các bậc thầy linh đạo qua mọi thời đại muốn dạy về điều này có thể được tóm gọn trong một câu của Meister Eckhart: Không gì giống ngôn ngữ của Thiên Chúa cho bằng thinh lặng.

Thực chất, Eckhart muốn nói rằng thinh lặng là một lối vào đặc biệt của cõi thần linh.  Bên trong mỗi chúng ta có một khoảng thinh lặng mênh mông đang mời gọi ta bước vào, và có thể giúp ta học ngôn ngữ của trời cao.  Điều đó có nghĩa là gì?

Thinh lặng là một ngôn ngữ sâu xa hơn, bao quát hơn, thấu hiểu hơn, giàu lòng trắc ẩn hơn và vĩnh cửu hơn bất cứ ngôn ngữ nào khác.  Trên thiên đàng, dường như sẽ không còn ngôn ngữ, không còn lời nói.  Thinh lặng sẽ cất tiếng.  Chúng ta sẽ hiểu nhau cách trọn vẹn, thân mật và hân hoan, và nâng đỡ nhau trong tĩnh lặng.  Trớ trêu thay, dù rất quan trọng, lời nói cũng là một phần lý do khiến chúng ta chưa thể làm được điều ấy ngay bây giờ.  Lời nói có thể hiệp nhất, nhưng cũng có thể chia rẽ.  Trong tĩnh lặng, có một sự kết nối sâu xa hơn.

Những người yêu nhau đã biết điều này, cũng như các tín hữu Quaker với phụng vụ cố gắng phản chiếu sự thinh lặng của thiên đàng, và như những ai thực hành cầu nguyện chiêm niệm.  Thánh Gioan Thánh Giá diễn tả điều ấy bằng một câu đầy ẩn ý: “Hãy học để hiểu nhiều hơn bằng cách không hiểu, hơn là bằng cách hiểu.”

Thinh lặng có thể nói lớn hơn và sâu hơn lời nói.  Chúng ta đã trải nghiệm điều này theo nhiều cách khác nhau: khi bị ngăn cách bởi khoảng cách hay cái chết với những người thân yêu, chúng ta vẫn có thể ở với họ trong thinh lặng; khi bị chia rẽ với những người thiện chí vì hiểu lầm, thinh lặng có thể là nơi chúng ta lại có thể ở cùng nhau; khi đứng bất lực trước nỗi đau của người khác, thinh lặng có thể là cách diễn tả sự cảm thông tốt nhất; và khi chúng ta phạm lỗi và không còn lời nào có thể khôi phục sự nguyên vẹn trước đây, thì trong thinh lặng, một Lời sâu xa hơn có thể vang lên, cho ta biết rằng rốt cuộc mọi sự sẽ ổn thỏa, và mọi cách thế hiện hữu sẽ được ổn thỏa.

Không gì giống ngôn ngữ của Thiên Chúa cho bằng thinh lặng.  Đó là ngôn ngữ của thiên đàng, đã sẵn ở sâu thẳm trong ta, đang mời gọi ta bước vào sự thân mật sâu xa hơn với mọi sự – ngay cả khi chúng ta vẫn cần đến “liệu pháp” của đời sống công khai.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

THIÊN CHÚA MỞ HUYỆT MỘ

Trong bất cứ nền văn hóa nào, cái chết luôn là một kinh nghiệm đau thương nhất của kiếp người.  Cái chết chia lìa người thân, chấm dứt mọi kế hoạch và dự tính cho tương lai.  Người đã chết nhanh chóng rơi vào quên lãng, ngay cả đối với những người thân của mình.  Ở mọi thời đại, các nền văn hóa và tín ngưỡng đều tìm kiếm câu trả lời cho ý nghĩa cuộc đời cũng như tương lai con người sau khi đã chết.

Vào thế kỷ thứ Sáu trước Công nguyên, khi dân Do Thái đang bị phát lưu đi đày ở Ba-by-lon, ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã gửi đến cho họ một thông điệp hy vọng: Thiên Chúa sẽ mở nấm huyệt mộ cho dân và đem họ về đất Ít-ra-en, tức là về quê cha đất tổ.  Trong bối cảnh cụ thể của thời lưu đầy, hành động “mở huyệt” của Thiên Chúa có nghĩa là Ngài giải phóng họ khỏi cảnh lưu đày tha hương.  Những người Do Thái khi nghe lời ngôn sứ Ê-dê-ki-en, chắc chắn liên tưởng tới cuộc giải phóng vĩ đại Thiên Chúa đã thực hiện để đưa dân tộc họ ra khỏi Ai-cập, sau hơn bốn trăm năm sống cảnh nô dịch tại xứ người.  Đó cũng sẽ là thời mà Thiên Chúa khôi phục truyền thống huy hoàng đã mất do cuộc lưu đày.

Sự can thiệp của Thiên Chúa không chỉ là giải phóng dân Do Thái khỏi cảnh lưu đày, mà còn đổi mới tâm hồn của họ.  Hãy nghe ngôn sứ nói: “Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh… bấy giờ các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa.”  Nhờ quyền năng của Thiên Chúa, người Do Thái được về lại cố hương, đồng thời cũng được canh tân để mang một tâm hồn mới, dồi dào ân sủng và niềm vui của Thần Khí.  Một dân tộc đã thực sự hồi sinh!

Thiên Chúa, Đấng đã giải phóng dân Do Thái khỏi ách nô lệ Ai Cập, và đã dẫn dân lưu đày từ Ba-by-lon về lại quê hương.  Vị Thiên Chúa ấy đã thực hiện những điều vĩ đại qua Đức Giê-su.  Phép lạ làm cho ông La-da-rô đã chết bốn ngày sống lại đã chứng minh quyền năng của Thiên Chúa.  Nơi Đức Giê-su, những gì các ngôn sứ loan báo trong Cựu ước đã trở thành hiện thực.  Người không chỉ mở huyệt mộ cho một cá nhân là ông La-da-rô, nhưng cho cả nhân loại đang nằm dưới ách của bóng tối tội lỗi và của sự chết.  Hơn nữa, ông La-da-rô được Chúa Giê-su cho sống lại, rồi sau này cũng phải chết.  Nhân loại đang đi trong tối tăm của nấm mồ được Chúa Giê-su cứu rỗi sẽ không phải chết, như lời Chúa nói: “Tôi là sự sống lại và là sự sống.  Ai tin vào tôi, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.  Ai sống và tin vào tôi, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11,25-26).  Những ai tin vào Người, sẽ được hưởng sự sống vĩnh cửu.  Dù sự chết vẫn hiện hữu, dù thân xác vẫn mục nát trong nấm mồ, nhưng những ai tin vào Chúa sẽ được sống lại trong ngày phán xét, và họ sẽ được hưởng sự sống đời đời.

Những lời đối đáp giữa Chúa Giê-su và bà Mác-ta, không đơn thuần chỉ là cuộc đối đáp giữa hai cá nhân, mà là cuộc đối đáp giữa Ki-tô giáo và các nền văn hóa ở mọi thời đại.  Quả vậy, theo quan niệm thông thường, thì một người chết đã được chôn bốn ngày rồi, thì xác bắt đầu phân hủy và rất nặng mùi, không nên mở huyệt ra.  Tuy vậy, đối với quyền năng của Thiên Chúa, La-da-rô vẫn có thể sống lại.  Tin vào Chúa là tin một điều không thể lại trở thành có thể.  Hai mươi thế kỷ đã qua, trong bất kỳ nền văn hóa nào, Giáo Hội Ki-tô luôn khẳng định: Đức Giê-su đã sống lại từ cõi chết, và những ai tin vào Chúa, Người sẽ cho sống lại để hưởng hạnh phúc trường sinh.

Dưới ngòi bút của tác giả Tin Mừng, nhân tính của Chúa Giê-su được diễn tả cách rõ nét.  Người đã rơi lệ trước cái chết của một người bạn.  Người xót xa trước nỗi khổ của tang quyến.  Chúng ta có thể thấy sự cảm thương của Chúa Giê-su ở những nơi khác trong Phúc âm: khi chứng kiến đám tang của người thanh niên, là con duy nhất của một người đàn bà góa (x. Lc 7,11-17); khi thấy nỗi đau của cha mẹ có đứa con gái vừa chết (Mt 9,18-26); và trước đám đông đi theo Người ba ngày trong hoang địa mà không có gì ăn (x. Mt 14,13-21).  Đức Giê-su là Đấng Thiên sai.  Người diễn tả lòng thương xót của Thiên Chúa trong lời giáo huấn, qua các phép lạ và trong mọi hành vi cử chỉ thường ngày.  Đó là hình ảnh một Thiên Chúa cảm thông với nỗi đau của con người, và ra tay cứu giúp họ.

Giữa cuộc sống còn nhiều bon chen lận đận, chúng ta đôi khi bị giam hãm trong những “ngôi mộ” là tính ích kỷ, những đam mê, những hận thù nhỏ nhen toan tính…  Mùa Chay mời gọi chúng ta bước ra khỏi nấm mồ, nhờ quyền năng của Thiên Chúa.  Thánh Phao-lô quảng diễn: con người chúng ta luôn bị xác thịt chi phối.  Để làm đẹp lòng Chúa, chúng ta phải biết làm chủ những ước muốn của chúng ta, và điều khiển chúng theo cách phù hợp với ý Chúa.  Thánh nhân cũng nói đến cái chết thiêng liêng, tức là phạm tội.  Khi phạm tội, là chúng ta chết về phần linh hồn; khi hòa giải với Chúa (qua thiện chí sám hối và Bí tích Hòa Giải), chúng ta được sống lại với Đức Giê-su, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần.

“Từ vực thẳm, con kêu lên Chúa… ” (Đáp ca).  Lời Thánh vịnh nói lên thân phận bi thảm của con người.  Lời ấy cũng diễn tả niềm hy vọng vào lòng từ bi của Chúa.  Chính Người sẽ giải thoát chúng ta và sẽ mở huyệt mộ cho chúng ta.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

SỐNG MÙA CHAY VỚI THÁNH GIUSE

Hàng năm, khi Hội Thánh cử hành mùa Chay, thì cũng là dịp Hội Thánh kính nhớ thánh Giuse, một sự trùng khớp mang nhiều ý nghĩa.  Bởi đối với tôi, trong khi sống mùa Chay, tôi thường suy niệm gương nhân đức của thánh Giuse, từ đó rút ra những bài học nhân đức cần thiết, giúp mình sống mùa Chay tích cực hơn.

Bởi thánh Giuse là đối tượng suy niệm trong mùa Chay, vì thế, tôi thấy việc sống mùa Chay của tôi cụ thể hơn, nhờ nhìn ngắm gương sống động nơi một con người hoàn toàn là người như tôi, nhưng lại vô cùng hoàn hảo.  Với một tấm gương cụ thể và sống động hoàn hảo như thế, sẽ mang lại trong tôi nhiều biến đổi, tạo cho tôi nhiều hiệu quả tích cực là bình an, hăng say dấn thân, chu toàn nhiệm vụ rao giảng trong vui tươi.  Nhất là tôi tự thấy mình giống thánh Giuse hơn.

Hội Thánh thường xuyên đề nghị chúng ta tinh thần ăn chay và sống mùa Chay bằng cầu nguyện, sống bác ái.  Để sống những hành động mà Hội Thánh dạy, mùa Chay năm nay, tôi tiếp tục suy niệm gương nhân đức của thánh Giuse.  Tôi thấy thánh Giuse rất vui lòng đồng hành với tôi.  Người thương tôi, cầu nguyện cho tôi, nâng đỡ tôi và sẵn sàng lôi cuốn tôi đi cùng Người hướng về Chúa.  Những nhân đức của thánh Giuse mà tôi suy niệm trong mùa Chay năm nay cũng chỉ là những điều mà Hội Thánh tuyên dương nơi thánh Giuse từ ngàn xưa.

Cùng Hội Thánh, tôi nhìn ngắm thánh Giuse nơi đoạn Tin Mừng kể lại việc thánh Giuse nhận lời truyền tin của thiên thần Chúa: “Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse.  Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.  Ông Giuse, chồng bà là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: ‘Này ông Giuse, là con cháu Đavid, đừng ngại đón Maria, vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.  Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.  Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia, Thiên Chúa phán qua miệng ngôn sứ: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng taKhi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà…” (Mt 1, 18-25).

1. Thánh Giuse dạy tôi biết cầu nguyện

Kinh nghiệm của Hội Thánh từ xưa tới nay cho thấy, những vị thánh có đời sống thần bí, thường được Chúa mạc khải qua thị kiến, đều là những vị thánh sống đời chiêm niệm, gặp gỡ Chúa hết sức thân mật trong sự cầu nguyện.

Chỉ nguyên việc thánh Giuse được truyền tin và nhiều lần khác được báo mộng, cho phép chúng ta khẳng định rằng, thánh nhân có một đời sống cầu nguyện lớn không thể tả.  Thánh nhân có thể đối thoại với Chúa, lãnh hội ý Chúa trong sự chiêm ngắm nội tâm sâu lắng của mình.

Đặc biệt, nhiều lần Tin Mừng còn chứng minh thánh Giuse yêu chuộng sự thinh lặng.  Trong lúc thiên thần truyền tin, được giải thích cho biết Đức Maria mang thai là do ý muốn của Thiên Chúa và ơn Chúa Thánh Thần, thánh Giuse đã thinh lặng, đón nhận thánh ý của Thiên Chúa.  Thánh Giuse tin tưởng, phó thác và xin vâng để Chúa dẫn dắt mình đi vào quỹ đạo tình yêu và chương trình cứu độ của Chúa, Từ nay, Người đón nhận Mẹ Thiên Chúa làm bạn, Chúa Giêsu làm con của mình.  Để có được một nội tâm thinh lặng, hoàn toàn không gợn, thậm chí không một chút ảnh hưởng bởi những làn sóng xuôi ngược của cuộc đời, thánh Giuse phải là con người của sự gặp gỡ Thiên Chúa hết sức thường xuyên, thân mật và trưởng thành.  Đó chính là đời sống cầu nguyện của thánh Giuse.  Bởi chỉ có những ai ham thích cầu nguyện, và không ngừng cầu nguyện, người đó mới có thể thấy, nhận ra thánh ý Chúa toàn vẹn trong sâu kín của tâm hồn mình.

Sống mùa chay, học lấy tinh thần cầu nguyện của thánh Giuse, chúng ta hãy đi vào thinh lặng để khám phá nội tâm của mình.  Có như thế, chúng ta mới có thể gặp Chúa, lắng nghe tiếng Chúa nói.  Có như thế, chúng ta mới thực sự nhận chân con người của mình: mình đã sống thế nào?  Đã làm hay không làm sự lành hoặc sự xấu nào?  Mình đã yêu Chúa, yêu anh em đến mức độ nào?  Chỉ có thinh lặng nội tâm, cầu nguyện, gặp gỡ Chúa và khám phá chính mình, chúng ta mới mong thực sự sống mùa Chay bằng sự biến đổi chính mình cách hiệu quả nhất, để được trở nên giống Chúa Kitô, nhờ noi gương thánh Giuse.

2. Thánh Giuse dạy tôi sống bác ái

Ngày nhận lãnh Đức Maria về nhà mình, phát hiện Đức Maria đã mang thai “ngoài ý muốn,” theo luật Do Thái, thánh Giuse có quyền tố giác, buộc Đức Maria phải chịu tội vì đã mang thai – một bào thai, cứ nhìn theo phương diện loài người, rõ ràng, vô thừa nhận.  Nhưng “người công chính” Giuse đã không làm điều đó, lại chỉ muốn kín đáo ra đi.

Tôi nhận ra, hành động, cách xử sự của thánh Giuse hoàn toàn là hành động của một người đầy lòng yêu thương.  Chính tình yêu đã nung đốt nơi tâm hồn thánh Giuse nghĩa cử bác ái cao thượng: bỏ qua “tội” quá rõ ràng của Đức Maria.  Chính thánh Giuse đã sống bác ái, vì thế, tâm hồn bác ái ấy làm cho thánh Giuse vượt qua và vượt trên lề luật, điều mà không phải bất cứ ai trong thời thánh nhân có thể có được.  Bởi người ta giữ luật nghiêm nhặt.  Và luật tôn giáo trở thành đời sống tinh thần của con người như máu, như huyết chảy trong lồng ngực.  Nó thấm vào tim óc.  Nó điều khiển mọi hành vi.  Nó chi phối cả đời sống xã hội lẫn cá nhân.  Bởi đó, phải có một trái tim chan chứa yêu thương và bác ái đến vô cùng, mới có thể có hành động, cách cư xử thoát luật cách hết sức tuyệt vời như thánh Giuse.

Sống mùa Chay, Hội Thánh đề cao tinh thần tương trợ, chia sẻ cho nhau.  Bác ái mà Hội Thánh đề nghị không chỉ là lãnh vực vật chất, của cải, mà còn là tương trợ trong tình hiệp nhất, cảm thông, lắng nghe, quan tâm, tìm nâng cao giá trị nhân bản, nhân phẩm và đời sống toàn diện của con người…

Chính Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, trong sứ điệp mùa Chay 2006 đã đòi hỏi như thế: “Nếu chúng ta cổ võ sự phát triển cho đầy đủ, “cái nhìn” của chúng ta trên nhân loại phải được đo lường theo cái nhìn của Chúa Kitô.  Trên thực tế, điều hoàn toàn không được làm, là phân tách sự đáp ứng cho những nhu cầu vật chất và xã hội của dân chúng khỏi sự hoàn thành những ước muốn sâu sắc của lòng họ… Vì lẽ này, sự đóng góp hàng đầu mà Hội Thánh cống hiến cho sự phát triển nhân loại và cho các dân tộc không chỉ chú trọng tới những phương tiện vật chất hay là những giải pháp kỹ thuật.  Nói đúng hơn, sự đóng góp đó bao hàm sự công bố chân lý về Chúa Kitô, Đấng giáo dục các lương tâm và dạy dỗ phẩm giá đích thực của con người và của lao động; điều đó có nghĩa là cổ võ một nền văn hóa thật sự đáp ứng với tất cả những vấn đề của nhân loại…”.  

Như vậy, hiểu được căn tính đích thực của hành vi bác ái là đề cao giá trị con người, thì việc làm bác ái của mỗi người được đòi phải chia sẻ thật lòng bằng cả tâm tư, bằng những nội lực lắng sâu, xuất phát tận trái tim của tâm hồn.  Bác ái ấy đòi ta chấp nhận hao mòn, chấp nhận thiệt thòi, chấp nhận hy sinh bằng tất cả thời gian, sức lực, suy tư, cả đến những mất mát, những gian nan…  Như cây nến, một khi chấp nhận thắp sáng, tỏa sức nóng, sẽ tan dần.  Lòng bác ái đích thực, sẽ làm cho chúng ta bị đánh mất, bị tan chảy thực sự.  Để trang bị cho mình một tâm hồn yêu thương và bác ái, giúp mình sống mùa Chay, ở mức độ cao như thế, ta hãy đến cùng thánh Giuse.  Nơi thánh Giuse, ta học bài học của tình yêu, bác ái và hy sinh lớn lao.

Thú thực, dù luôn tự nhủ rằng, mình cần phải học và chiêm ngắm gương của thánh Giuse để sống mùa Chay, nhưng thực tế, bản thân tôi còn phải cố gắng nhiều.  Tôi rất mong ước trở nên như thánh Giuse. Nhưng giữa sự mong ước và nỗ lực của tôi vẫn còn một khoảng cách mà chính tôi phải cố gắng hơn nữa.  Mùa Chay đã đi gần một phần ba đoạn đường.  Hôm nay, chuẩn bị mừng lễ thánh Giuse, có dịp định tâm lại, đồng thời có dịp học tập gương thánh Giuse, tôi mới hoảng hốt giật mình vì mình còn xa cách ý Chúa muốn quá.  Tôi thành tâm xin Chúa tha thứ cho tôi.  Đồng thời xin Người dạy tôi, ban ơn cho tôi để tôi hoàn thành tốt hơn việc sống mùa chay ở giai đoạn còn lại.  Tôi cũng tha thiết nài xin thánh Giuse, Đấng bảo trợ Con Thiên Chúa làm người, hãy cầu bàu cho tôi, phù giúp tôi sống mùa Chay, nhất là giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ làm Con Thiên Chúa của chính tôi.

Lm. Vũ Xuân Hạnh

BÂY GIỜ TÔI ÐÃ THẤY

Vào thập niên 1960, John Howard Griffin ngụy trang thành một người da đen đi chơi vòng quanh miền Nam.  Ông muốn trực tiếp cảm nghiệm được sự kiện phải làm người da đen trong những năm ầm ĩ về vấn đề chủng tộc này.  Griffin mô tả lại cảm nghiệm của mình trong một cuốn sách nhan đề “Black Like Me” (da đen như tôi).  Cuốn sách này về sau được dựng thành phim.

Tuy nhiên còn một khía cạnh khác trong cuộc đời của John Howard Griffin mà rất ít người biết đến: trong thế chiến thứ hai, John đã bị mù trong một vụ nổ máy bay suốt 12 năm sau đó, ông không trông thấy gì cả.  Một hôm, trong khi bước xuống con phố cạnh nhà bố mẹ ông ở Texas, thình lình John bỗng thấy được “cát đỏ” (red sand) trước mắt ông.  Thị giác của ông đã phục hồi trở lại mà chẳng hề báo trước.  Về sau, một bác sĩ chuyên khoa mắt cắt nghĩa cho ông là vết máu tụ thần kinh thị giác do vụ nổ gây ra được khai thông, vì thế thị giác ông phục hồi trở lại.  Khi bình luận về kinh nghiệm này, Griffin đã kể lại cho một phóng viên báo chí như sau:

“Quí bạn không cảm nghiệm được những gì mà một ông bố cảm nghiệm khi nhìn thấy con cái mình lần đầu tiên đâu.  Cả bố với con đều tuyệt vời hơn tôi nghĩ rất nhiều.”

Giai đoạn bi đát trong đời Griffin giúp anh ta đánh giá sâu sắc hơn câu chuyện của bài Phúc âm hôm nay, nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn cảm giác người mù từ lúc mới sinh khi anh ta được Chúa Giêsu chữa lành thật kỳ kiệu như thế nào.

Tuy nhiên, trong câu chuyện người mù trên còn có một phép lạ thứ hai.  Phép lạ này còn tuyệt diệu hơn: đó là đức tin hay còn gọi là ánh sáng thiêng liêng mà Ðức Giêsu ban cho người mù ấy, chính phép lạ thứ hai này tức ân sủng đức tin đã khiến cho anh quì gối xuống nói với Ðức Giêsu với tư cách là “Chúa.”  Thánh Gioan đã nhấn mạnh phép lạ thứ hai này tức ân sủng đức tin một cách thâm thuý trong bài Phúc âm hôm nay.

Chúng ta hãy xem xét kỹ hơn về điểm này.

Ðiều đầu tiên chúng ta để ý đến trong phép lạ này là phép lạ ấy diễn ra từ từ không xảy ra ngay tức khắc.  Chẳng hạn, phản ứng đầu tiên của anh mù đối với Ðức Giêsu là anh ta xem Ðức Giêsu cũng giống như người bình thường khác.  Vì thế, khi vài người hỏi anh ta về sự lành bệnh của mình, anh liền trả lời: “Cái ông có tên là Giêsu ấy lấy một ít bùn bôi lên mắt tôi và bảo tôi tới hồ Silôê rửa mặt.  Thế là tôi đi và ngay khi rửa xong tôi được trông thấy.”

Ðầu tiên gã mù chỉ coi Ðức Giêsu như một người tuy khá đặc biệt nhưng dầu sao cũng chỉ là một con người.  Thế rồi anh ta bước qua nhận thức thứ hai về Ðức Giêsu khi đám Pharisêu điều tra anh: “Mày bảo ông Giêsu chữa cho mày khỏi mù à!  Vậy mày cho rằng ông ấy là ai?” anh ta liền đáp: “Ông ấy là một ngôn sứ.”  Câu trả lời trên đây chứng tỏ rõ ràng nhận thức của anh mù về Ðức Giêsu đã nhảy vọt một bước vọt khổng lồ về phía trước.  Càng suy nghĩ đến sự kiện xảy ra, gã ta càng xác tín Ðức Giêsu không chỉ là một người như những người khác mà Người còn là một vị ngôn sứ.  Ðiều này dẫn chúng ta đến nhận thức sau cùng của anh mù về Ðức Giêsu.

Cuối ngày anh mù mới được gặp mặt đối mặt với Ðức Giêsu, vì khi anh mù đi rửa mắt ở hồ Silôê về, thì Ðức Giêsu, không còn quanh quẩn đó nữa.  Lúc này, khi gặp lại anh mù, Ðức Giêsu nhìn thẳng vào mắt và nói: “Anh có tin vào CON NGƯỜI không?”  Anh ta trả lời: “Thưa Ngài, xin nói cho tôi biết vị ấy là ai để tôi tin.”  Ðức Giêsu trả lời: “Anh đã thấy vị ấy rồi, vị ấy chính là kẻ hiện đang nói chuyện với anh.”  Anh đáp ngay: “Lạy Chúa, con tin!” vừa nói anh vừa quì gối xuống trước mặt Ðức Giêsu.

Như thế, nhận thức của anh về Chúa Giêsu đã nhảy bước cuối cùng về phía trước.  Anh nhận ra Ðức Giêsu không phải chỉ là một người bình thường hoặc một vị ngôn sứ, mà Người còn là Thiên Chúa, vị Chúa mà “muôn loài trên trời dưới đất, cả trong địa ngục phải quì gối” (Pl 2: 10).  Ân sủng đức tin, hay “ánh sáng tâm linh” mà Ðức Giêsu ban cho anh mù còn kỳ diệu hơn sự phục hồi thị giác cho anh nữa.

Không cần bàn bạc quá nhiều về ân sủng đức tin nơi anh mù nọ, chúng ta nên nhớ lại chúng ta cũng đã nhận được ân sủng đức tin này do Ðức Giêsu ban cho trong bí tích rửa tội.

Trước khi thanh tẩy trong nước rửa tội, chúng ta cũng bị “đui mù tâm linh” như anh mù trong Phúc âm hôm nay.  Nhưng sau khi được rửa tội, Ðức Giêsu trở nên quí báu hơn nhiều đối với chúng ta.  Người trở thành một kẻ hết sức thân mật đối với chúng ta.

Ðiều này dẫn đến điểm tương tự thứ hai giữa chúng ta và anh mù trong Phúc âm hôm nay.  Ngoài việc nhận lãnh ân sủng đức tin, nhận thức của chúng ta về Chúa Giêsu cũng dần dần lớn lên giống như nơi anh mù ấy.  Chẳng hạn khi còn rất bé chúng ta thường mường tượng Ðức Giêsu là một con người phi thường.  Ðến lúc lớn lên.  Nhận thức của chúng ta về Người cũng trưởng thành hơn.  Cuối cùng nhận thức ấy đạt được hình thức viên mãn nhất: chúng ta nhận ra Người đúng như bản chất thực sự về Người, là Con Thiên Chúa.  Ðiều thú vị là khi chúng ta càng học hỏi về Ðức Giêsu thì Người càng trở nên cao cả hơn đối với chúng ta.  Thông thường, có sự kiện đáng buồn trong các mối tương giao khác là càng tìm hiểu về kẻ khác chúng ta càng nhận khiếm khuyết của kẻ ấy.  Nhưng trong trường hợp Ðức Giêsu thì không như thế.  Càng hiểu biết về Người, chúng ta càng thấy Người tuyệt diệu và vinh hiển hơn.

Ðể kết thúc, chúng ta hãy trích lại lời Albert Schweitzer ở cuối cuốn sách của ông nhan đề “The Quest for The Historical Jesus” (Tìm kiếm Chúa Giêsu Lịch sử) Schweitzer từng là nhạc sĩ dương cầm thính phòng ở Âu Châu.  Ông đã từ bỏ nghề nghiệp âm nhạc của mình để trở thành một bác sĩ, và ông đã đến sống ở Phi châu với tư cách một thừa sai.  Schweizer viết: “Chúa Giêsu đến với chúng ta như một người vô danh, chẳng khác nào thưở xưa Người đến với các tông đồ trên bờ biển.  Người nói với chúng ta cũng chính những lời Người đã từng nói với họ: ‘Hãy theo Ta!’  Và bất cứ ai chấp nhận lời mời gọi của Người thì dù họ thông thái hay tầm thường, trẻ trung hoặc già nua, Chúa Giêsu đều mạc khải chính Người cho họ ngay trong những truân chuyên và đau khổ của họ.  Và qua kinh nghiệm riêng của mình, họ sẽ biết được “NGƯỜI là ai?”

Lm. Mark link S.J.

MẦU NHIỆM SỰ CHẾT

Mùa Chay, đặc biệt trong tuần thánh-là đỉnh cao của phụng vụ Ki-tô giáo, chúng ta đặc biệt cử hành cuộc vượt qua của Con Thiên Chúa, tức là mầu nhiệm đau khổ, sự chết và phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô.  Chiều Thứ Sáu tuần thánh là thời khắc tột cùng nhất, đụng chạm đến sự yếu hèn, giới hạn và sự bất lực nhất của Đức Giê-su Ki-tô trong thân phận con người, đó là sự chết.

Triết học về con người coi con người là một huyền nhiệm.  Trong huyền nhiệm đó, sự chết là một huyền nhiệm dường như vẫn chưa ai có thể lý giải cách rốt ráo về ý nghĩa của sự chết.  Sự hiện hữu của con người, Max Scheler đã diễn tả, cuộc đời như một cuộc tiến bước đến cái chết.  Và theo lẽ nhân sinh, đứng trước huyền nhiệm con người thì, sự chết vẫn là một điều gì đó khủng khiếp nhất của thân phận con người, vì nó cắt đứt hết mọi liên lạc giữa người sống và người chết.

Tuy nhiên, với niềm tin Ki-tô giáo, sự chết không đến nỗi bi quan và thất vọng đến thế.  Đức tin Ki-tô giáo dạy rằng, sự chết là cửa ngõ mở ra cho ta một sự sống mới, để đi vào sự sống vĩnh cửu với Thiên Chúa.  Chính Đức Giê-su đã nói: “Ví như hạt lúa mì rơi xuống đất, nếu không chết đi, không thối đi, thì nó sẽ trơ trọi, nhưng nó phải chết đi, phải thối đi, thì nó mới sinh được nhiều bông hạt.”  (x.Ga 12,24) và chính Ngài đã phải chết đi trong thân phận con người rồi mới đạt tới phục sinh vinh quang.

Huyền nhiệm sự chết là hạn từ đã được thánh Ambrôsiô giám mục tiến sĩ Hội Thánh – một giáo phụ thế kỷ thứ 4, sử dụng để diễn tả điều sẽ xảy ra khi chúng ta dám chết đi cho tội lỗi và sống cho Thiên Chúa.  Ngài ám chỉ lời thánh Phaolô Tông đồ đã viết “vì được dìm vào cái chết của Đức Ki-tô, chúng ta cũng được mai táng với Người,” nghĩa là huyền nhiệm sự chết đích thực nhất là khi chúng ta được dìm vào trong bí tích Thánh Tẩy.

Thánh Phanxicô Sale cũng nối tiếp tư tưởng này, ngài cho rằng việc nối kết giữa người được yêu và sự chết làm sao để nên dấu chỉ cao nhất của tình yêu, đó là dám sẵn lòng chết đi cho người khác.  Các thánh tử đạo là dấu chứng cho điều này: sự vĩ đại của tình yêu là trao ban sự sống cho Đức Kitô và tha nhân.

Sau này, Thánh Phaolô Thánh Giá, Đấng sáng lập Dòng Thương Khó Chúa Giêsu, đã nâng mầu nhiệm này lên một tầm cao mới: suốt cuộc đời, ngài luôn chiêm ngắm và suy gẫm về mầu nhiệm sự chết trong sự hiệp thông với Cuộc Thương Khó của Đức Giêsu Kitô, đồng thời nối kết với sự chết và niềm hy vọng của con người vào sự phục sinh của Đức Giê-su Kitô.  Huyền nhiệm sự chết mà thánh nhân ám chỉ là khi ngài nói đến sự dự phần vào sự chết của Đức Giêsu trên thập giá.  Thánh nhân đã đi đến khao khát được ‘đồng hình đồng dạng vào sự chết của Đức Giêsu Ki-tô,’ đến nỗi thánh Phao-lô Thánh Giá đã thốt lên rằng, “Lạy Chúa, con khao khát được chết với sự chết của Chúa trên thập giá, nơi các linh hồn được đắm chìm trong Đấng lang quân của mình, nơi mà Ngài đã nằm trên đồi Canvê xưa.  Các linh hồn chết đi bởi một cái chết đau đớn của thân xác, để họ cùng được sống lại với Ngài, Đấng đã chiến thắng khải hoàn thiên quốc.”

Còn với các tu sĩ của mình, thánh Phao-lô Thánh Giá làm nổi bật lời khấn Dòng về mầu nhiệm sự chết khi nói với họ rằng, “Các con có biết điều gì làm nên ý nghĩa lời khấn dòng chúng ta không?  Nó có nghĩa là, chỉ như sự chết tách biệt linh hồn ra khỏi thể xác; bởi thế, lời khấn dòng là một sự chết huyền nhiệm, bằng việc một tu sĩ phải chết đi tất cả mọi trần tục cùng với một sự từ bỏ hoàn toàn, và khước từ ý riêng của mình, buông đi ý riêng và thánh hiến chính mình cho Thiên Chúa mà tuân theo ý định của Bề Trên.”

Trong cuộc sống con người, sự sinh ra thì có trước sự chết, nhưng trong đời sống nội tâm sâu xa của tinh thần thì ngược lại: mầu nhiệm sự chết có trước mầu nhiệm sinh ra.  Thánh Phaolô Thánh Giá ước mong cha Tô-ma Fossi, một tu sĩ Thương Khó, kinh nghiệm được mầu nhiệm sự chết, nhờ vậy ngài có thể cảm nhận được sự sinh ra.  Nghịch lý của sự chết được thể hiện qua cái chết và phục sinh của Đức Giêsu Kitô.  Các thánh Giáo Phụ thường gọi sự phục sinh là sự tái sinh của Ngài, sự tái sinh của Ngài cho một sự sống mới và sự sống trỗi dậy.

Chiêm ngắm và quảng bá về mầu nhiệm sự chết, đặc biệt là hiệp thông vào sự chết của Đức Giêsu, là một phần linh đạo của Dòng Thương Khó Chúa Giêsu.  Mầu nhiệm sự chết là cách để nối kết với đau khổ và sự chết của chúng ta.  Mầu nhiệm này giúp chúng ta ở lại để lùi vào sự cô tịch nội tâm, nhờ cảm nếm được giá trị của sự chết, nó sẽ mang lại ơn tái sinh trong Đấng Cứu Độ – đó là tất cả niềm hy vọng của chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con học lấy giá trị nơi mầu nhiệm sự chết của Chúa, để từng ngày trong đời sống chúng con, chúng con cũng chết đi con người yếu hèn của mình, ngõ hầu mai sau chúng con cũng hy vọng được thừa hưởng sự sống vĩnh cửu với Chúa trên quê trời bất diệt.  Amen.

Phaolô Nguyễn Văn Cầu, C.P.

NGUỒN SUỐI TRƯỜNG SINH

Nước là sự sống.  Đó là lời quảng cáo rất ấn tượng của một hãng sản xuất nước uống đóng chai.  Quả thực, con người không thể tồn tại nếu không có nước.  Nếu cuộc sống thân xác rất cần đến nước, thì đời sống tâm hồn cũng rất cần đến nước trường sinh.  Đức Ki-tô là Đấng ban cho con người thứ nước này.  Theo giáo huấn của Chúa Giê-su, nước trường sinh là sự sống thiêng liêng mà Thiên Chúa ban, giúp con người được sống đời đời.  Khi khẳng định điều này, đức tin Ki-tô giáo không giới thiệu một thứ bùa ngải mê tín dị đoan nhằm mục đích ma mị con người, nhưng dựa trên chính lời khẳng định của Chúa Giê-su: “Thầy là Đường, Sự Thật, và là Sự Sống.”  Khái niệm “nước” ở đây không chỉ là một khái niệm trừu tượng, nhưng là một lời mời gọi cá nhân rất gần gũi.

Bài đọc I và bài Tin Mừng đều nói về nước.  Nước từ tảng đá trong hành trình sa mạc về đất hứa, và nước do chính Chúa Giê-su giới thiệu.  Người đã khởi đi từ nước vật chất, tức là nước giếng Gia-cóp, để nói về thứ nước thiêng liêng, tức là ân sủng mà người tin Chúa sẽ được lĩnh nhận dồi dào.

Thánh Gio-an là tác giả duy nhất thuật lại việc Chúa Giê-su gặp gỡ và nói chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri-a.  Khi chủ động bắt chuyện với người phụ nữ này, Chúa Giê-su đã phá vỡ những rào cản truyền thống ngăn cách hai sắc tộc, là Do Thái và Sa-ma-ri-a.  Hai dân tộc này mang mối hận thù truyền kiếp từ nhiều thế kỷ.  Qua câu chuyện này, Chúa muốn nói với chúng ta: tất cả mọi người đều là con Thiên Chúa, và nơi thâm sâu của họ đều có những điều tốt lành.  Người phụ nữ Sa-ma-ri-a từ ngỡ ngàng ban đầu, đã tôn nhận Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a, và cuối cùng bà đã trở nên một môn đệ truyền giáo.  Cách trình bày của Tin Mừng đưa chúng ta đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, để rồi sau cùng, người phụ nữ đó quên luôn việc múc nước, bỏ vò lại đó, chạy vào làng nói với mọi người về Chúa Giê-su.  Người phụ nữ và dân thành Sa-ma-ri-a thực sự đã kín múc được nước trường sinh.

Cũng trong tin Mừng thánh Gio-an (Ga 7,37-39), “nước hằng sống” được giải thích là Chúa Thánh Thần – Đấng ban sự sống, đổi mới và thánh hóa con người.  Thánh Thần làm cho tâm hồn “khô cạn” được sống lại, và những rạn nứt được hàn gắn.  Cũng như nước làm cho đất đai màu mỡ, và cây cối sinh hoa kết trái, Chúa Thánh Thần sẽ đem lại cho con người niềm vui và từ đó họ nhiệt tâm làm việc lành.

Người phụ nữ Sa-ma-ri-a đã được hướng dẫn khởi đi từ nước vật lý để tiến dần tới nước thiêng liêng.  Bà đã được Chúa Giê-su chinh phục.  Phần cuối trình thuật, người phụ nữ quên luôn mục đích của mình là đi kín nước giếng.  Chị bỏ vò lại đó, chạy vào thành giới thiệu Chúa Giê-su cho mọi người cùng sắc tộc.  Người phụ nữ này đã được đón nhận nước trường sinh Chúa Giê-su ban tặng.  Chị không còn khát nữa, như lời Chúa nói trước đó: “Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa, và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”

Qua Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta đến với Người, tin vào Người, để đón nhận sự sống mới Người ban cho chúng ta.  Được như thế, chúng ta sẽ cảm nhận niềm vui thiêng liêng và sự bình an nội tâm, và từ con người của mỗi Ki-tô hữu, sẽ tỏa lan hương thơm nhân đức đến môi trường xung quanh.  Thánh Phao-lô diễn tả điều này trong Bài đọc II: “Một khi được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta.”  Vị tông đồ dân ngoại hướng chúng ta đến sự trông cậy và niềm hy vọng nơi quyền năng của Thiên Chúa.  Ngài luôn yêu thương chúng ta, và bằng chứng của tình yêu ấy là việc sai Con Một đến với chúng ta, và ban Thánh Thần để tiếp tục hướng dẫn chúng ta trong mọi hành động.

Trong khi người Do Thái khinh miệt và tách biệt với người Sa-ma-ri-a, Chúa Giê-su lại khẳng định: họ cũng là những mảnh đất tốt để Lời Chúa gieo vào.  Trình thuật cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-su và người phụ nữ đã nói lên điều đó.

Ki-tô hữu là người được nước trường sinh thanh tẩy trong nghi thức gia nhập Đạo, tức là Bí tích Thanh tẩy.  Bí tích Thanh tẩy là nơi hình ảnh “nước trường sinh” trở nên rõ ràng nhất, vì nước là dấu chỉ của sự chết và sự sống.  Khi được dìm vào nước hoặc được đổ nước trên đầu, người lãnh bí tích chết đi cho con người cũ và sống lại trong Đức Ki-tô.  Đây là sự tái sinh thiêng liêng, đúng như lời Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô: “Phải sinh ra bởi nước và Thánh Thần.”

Mùa Chay giúp chúng ta đón nhận ân sủng của Thiên Chúa, như dòng nước trường sinh tưới mát tâm hồn.  Mùa Chay cũng nhắc chúng ta thay đổi quan niệm về tha nhân.  Thông thường, chúng ta hay nhận định người khác theo cái nhìn chủ quan của mình, mà ý kiến chủ quan thì hay lầm lạc vì bị chi phối bởi nhiều điều kiện khác nhau.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

GIẤC MƠ GHẾ

“Họ ưa ngồi chỗ danh dự trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường!”

“Khiêm nhường không chỉ là cúi mắt bước đi… mà là khiêm nhường của Chúa Giêsu kết thúc trên thập giá; đây là quy tắc vàng cho mọi Kitô hữu: kiên trì và hạ mình!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nhắc lại quy tắc vàng: kiên trì và hạ mình.  Những ai thích danh xưng, quên phục vụ đúng nghĩa… cuối cùng, sẽ thấy mình mơ giữa ban ngày những ‘giấc mơ ghế’.

Chúng ta thường mất ngủ chạy theo những lễ nghi, hết sức cho những gì người ta có thể nhìn thấy, tự hào về sự chăm chỉ, nhiệt thành, mà quên nhìn vào trái tim mình.  Trong giáo phận, trong nhóm, trong gia đình hay cộng đoàn, ai cũng muốn được khen, muốn “ghế cao”, coi chức tước, danh xưng như là thước đo giá trị.  Chúng ta có thể giảng dạy, cầu nguyện lớn tiếng, làm mọi điều đúng, nhưng lòng vẫn đau đáu tìm một cái gì đó hơi hướm thế tục; nói rõ ra, tìm kiếm việc được nhìn nhận trong mắt mọi người và nhất là kẻ trên.  Chính trong cuộc đua tội nghiệp đó, chúng ta mất tự do, sĩ diện; và từ đó, ‘giấc mơ ghế’ nảy mầm.

Mùa Chay, mùa “rửa cho sạch, tẩy cho hết, và vứt bỏ tội ác”; mùa “tập làm điều thiện, tìm kiếm lẽ công bình” – bài đọc một.  Vì nếu chúng ta chỉ chăm chú hình thức, tất cả chỉ là rỗng không.  Bởi lẽ, chỉ “Ai sống đời hoàn hảo, Ta cho hưởng ơn  cứu độ Chúa Trời” – Thánh Vịnh đáp ca – không phải hoàn hảo nghi thức, mà hoàn hảo trong lòng; nói cách khác, hạ mình tôn trọng Chúa Kitô trong các “nhà tạm di động” của Ngài thật sự.  “Không có khiêm nhường, không thể có nhân bản!” – John Buchan.

Chúng ta có thể thức trắng vì mục vụ, nhưng cũng có thể mất ngủ vì ghế.  Trái tim bận tìm chỗ nhất không bao giờ tìm thấy bình an, trong khi trái tim biết hạ mình lại sống dồi dào.  Chúa Giêsu mời chúng ta rửa chân cho nhau, trao đời sống, chọn chỗ cuối, vác thập giá, bước theo con đường Ngài đã đi – không mơ ghế, không tìm chỗ đứng, chỉ giữ tình yêu và sự hiệp nhất.  Chỉ trong cầu nguyện, chúng ta mới thấy tất cả danh dự, ghế cao, lời khen… là gió thoảng; và chỉ khi trái tim biết quỳ gối chúng ta mới nhận ra cái gì là giá trị thực.  Khi những giấc mơ ghế nhoà đi, chúng ta mới thấy Chúa và được Chúa nhìn thấy; bấy giờ, ân sủng Ngài mới bắt đầu hành động.

Anh Chị em,

Nhìn lên thập giá, chúng ta thấy Đức Giêsu, Đấng không giữ ghế, không tìm danh xưng, nhưng từ bỏ hết vì chúng ta.  Ngài trao tình yêu không điều kiện, chịu đóng đinh thay nhân loại, hầu chuộc lại chúng ta là những bạn hữu của Ngài.  Vậy, nếu đã đi quá xa, bạn và tôi hãy quay trở lại, học nên giống Ngài, để nhận ra rằng quyền lực lớn nhất không phải ở vị trí cao, mà ở trái tim biết cúi xuống.  “Khiêm nhường nghĩa là nhận ra chúng ta không ở thế gian này để biết mình có thể trở nên quan trọng đến mức nào, mà để thấy mình có thể tạo ra khác biệt đến mức nào trong đời người khác!” – Gordon B. Hinckley.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giúp con từ bỏ mọi khao khát được nhìn nhận, để trái tim con chỉ tìm thấy niềm vui trong phục vụ và hạ mình!”  Amen!

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC

Một vị sư già ngồi bên đường, lặng lẽ trong khoảnh khắc thiền định, đôi mắt nhắm nghiền như đang chìm vào biển sâu của tâm linh, đôi chân khoanh lại, tay đan chéo dưới vạt áo, tưởng như đã quên hết những lo toan của đời thường.  Chính lúc ấy, mạch suy nghĩ của ông bị chột dứt bởi giọng nói khàn khàn, vội vã của một võ sĩ – một người mang trong mình cả vẻ dữ tợn, cả sức mạnh và cả những bão giông nội tâm.  “Thưa sư thầy, sư thầy hãy cho tôi biết, thế nào là thiên đường, thế nào là địa ngục?” – lời nói ấy như bỗng làm rung chuyển không gian tĩnh lặng ấy, đưa cuộc đối thoại giữa ánh sáng và bóng tối ra khỏi giới hạn của sự im lặng.

Vị sư già, với đôi mắt đã qua bao tháng năm tu hành, không vội phản ứng, chỉ từ từ mở đôi mắt ra, trong đó hiện lên nụ cười mỉm đầy trí tuệ và từ bi.  Võ sĩ đứng bên cạnh, tâm hồn rối bời, như đang bị cuốn vào lửa thiêu đốt của sự nóng giận và bất an.  “Anh muốn biết bí mật của thiên đường và địa ngục ư?” – vị sư già nói, giọng nói trầm ấm mà đầy uy quyền, như muốn đưa người nghe lùi lại vài bước để suy ngẫm về chính bản chất của mình.  “Anh là loại người thô tục, tay chân dính đầy bùn bẩn, đầu tóc rối bời, râu ria bẩn thỉu.  Trên kiếm gỉ sét loang lổ, nhìn đã biết là không giữ gìn đàng hoàng.  Người xấu xí như anh, mẹ anh cho anh ăn mặc như một tên hề, anh lại còn đến hỏi tôi bí mật của thiên đường và địa ngục sao?”

Lời nói của vị sư như một chiếc gậy trừng phạt, đánh thức ngay trong lòng võ sĩ cảm giác xấu hổ và bừng dậy một niềm tự nhận thức khắc nghiệt.  Chẳng mấy chốc, võ sĩ hằn học chửi một câu, rồi lấy kiếm “soạt” ra, giơ lên trên đầu vị sư già.  Mặt võ sĩ đỏ bừng, gân trên cổ phồng lên, tất cả vẻ ngoài như đang chuẩn bị cho một trận chiến sinh tử.  Khi mà lưỡi kiếm dường như đã vung xuống, đe dọa cắt đứt dòng thời gian, vị sư già nhẹ nhàng nói: “Đây chính là địa ngục.”  Trong chốc lát ấy, khi mũi kiếm dừng giữa không trung, võ sĩ như bỗng ngỡ ngàng, cảm nhận được sự thay đổi kỳ diệu trong tâm hồn mình, như một tia sáng le lói len qua bầu trời âm u.

Ngay sau đó, vị sư già lại tiếp lời: “Đây chính là thiên đường.”  Lời nói ấy không chỉ đơn thuần là một lời đáp, mà như một chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa của triết lý sống sâu sắc.  Trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, võ sĩ cảm nhận được rằng, thiên đường và địa ngục không phải là những địa danh xa xôi, mà là những trạng thái nội tâm, là sự phản chiếu của suy nghĩ và hành động của mỗi con người.  Mọi ý ác, lời ác, việc ác mà chúng ta để lại, dù nhỏ bé hay lớn lao, đều có thể biến tâm hồn ta trở nên u ám, như lạc vào vực sâu của địa ngục.  Ngược lại, mọi hành động thiện lành, lời nói chan chứa yêu thương, mọi việc làm cao đẹp đều là những viên gạch xây nên thiên đường nội tâm, không chỉ cho chính bản thân ta mà còn cho cả những ai mà ta chạm tới.

Câu chuyện ấy mang đến cho chúng ta một thông điệp nhân văn sâu sắc: thiên đường và địa ngục tồn tại ngay trong trái tim mỗi con người.  Nếu ta để cho cái ác, cho những cám dỗ phù phiếm len lỏi, thì địa ngục sẽ tự mở rộng bên trong ta, biến những suy nghĩ tiêu cực thành rào cản ngăn cách ta với tình yêu thương chân thành.  Ngược lại, nếu mỗi người biết tự chủ, biết nhận thức và lựa chọn sống theo những giá trị đích thực, thì dù cuộc sống có bao nhiêu khó khăn, bao nhiêu cám dỗ ảo mộng, thì trong mỗi chúng ta vẫn có thể tạo dựng nên một thiên đường nhỏ, một vũ trụ của sự bình an, của lòng từ bi và của niềm tin vững chắc vào cái thiện.

Có lẽ, đối thoại với thiên đường và địa ngục không phải là một cuộc chiến đối đầu giữa thiện và ác ở bên ngoài, mà là một hành trình tự khám phá và tự rèn luyện bản thân.  Đó là quá trình con người nhận thức, đánh giá và lựa chọn giữa những gì làm phong phú tâm hồn và những gì lại đẩy ta vào vực thẳm của sự tự hủy.  Khi chúng ta học cách nhận ra, phân biệt được giữa tiếng gọi của cám dỗ và ánh sáng của đức tin, chúng ta chính là dần dần mở ra cánh cửa cho một cuộc sống trọn vẹn hơn, một cuộc sống nơi mỗi suy nghĩ, mỗi hành động đều được thẩm định bởi một trái tim biết yêu thương và biết tha thứ.

Những câu nói của vị sư già đã khắc sâu vào tâm trí người võ sĩ rằng, chỉ có khi nào ta biết từ chối những thứ không tốt, biết giữ gìn nội tâm trong sáng, ta mới có thể sống trong ánh sáng của một thiên đường.  Và thật kỳ diệu biết bao, ngay cả những người vốn dĩ có vẻ ngoài “bẩn thỉu”, dường như cũng có thể tìm thấy con đường dẫn đến sự giải thoát, nếu họ biết lắng nghe tiếng lòng, nếu họ dám đối diện với chính bản thân mình và học cách yêu thương, tha thứ.  Đó chính là bài học nhân sinh sâu sắc, rằng thiên đường hay địa ngục, thiện hay ác, không chỉ là những khái niệm trừu tượng, mà là những lựa chọn sống mỗi ngày, là những hành động nhỏ bé nhưng lại có sức mạnh thay đổi cả cuộc đời.

Có lẽ, mỗi chúng ta nên tự nhủ rằng, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, dù có bao nhiêu thử thách, chỉ cần lòng tin và sự kiên định, chúng ta đều có thể biến chính “địa ngục” của những sai lầm và tội lỗi thành “thiên đường” của sự yêu thương, của sự tự do nội tâm.  Câu chuyện của vị sư già và người võ sĩ không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt một triết lý sống, mà còn như một lời nhắc nhở thiêng liêng rằng, mỗi chúng ta đều có trách nhiệm xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, nơi mà tiếng nói của lòng nhân ái luôn vang vọng, nơi mà mỗi hành động thiện lành được tôn vinh như một viên ngọc quý hiếm giữa dòng chảy của thời gian.

Và cuối cùng, chúng ta hãy nhớ rằng, thiên đường và địa ngục không phải là những nơi chốn xa xôi, mà là những trạng thái tâm hồn – đó là kết quả của những suy nghĩ, của những hành động mà chúng ta lựa chọn mỗi ngày.  Nếu ta biết yêu thương, biết tha thứ và luôn sống chân thành, thì ngay cả trong những khoảnh khắc tối tăm nhất, ta cũng có thể tìm thấy ánh sáng dẫn lối, ta có thể biến chính “địa ngục” của những cám dỗ vào thành “thiên đường” của niềm tin và hạnh phúc.

Lm. Anmai, CSsR