SƯ TỬ CÓ ÐÔI CÁNH

Khách du lịch đến thưởng ngoạn Venice, một thành phố mơ mộng nằm trên sông nước và được làm tăng thêm vẻ đẹp bằng những công trình kiến trúc độc đáo cũng như bằng những tác phẩm nghệ thuật thời danh nằm ở mạn đông bắc Italia, không thể bỏ qua công trường Marcô, công trình mang tên của vị thánh bổn mạng của thành phố Venice và cũng là vị thánh Giáo hội mừng kính hôm nay.

Trên con đường tiến gần đến công trường Marcô, du khách nhìn thấy một con sư tử có đôi cánh đứng sừng sững trên một ngọn tháp cao.  Hình sư tử này nhắc đến sự nghiệp viết sách Phúc Âm đầu tiên của thánh Marcô, như chứng từ của sử gia Papias, sinh sống vào cuối thế kỷ thứ hai viết như sau:

“Marcô, người thông ngôn của Phêrô, đã viết ra đúng những gì nhớ được, tuy không theo thứ tự, về những điều Ðức Kitô đã nói và đã làm.  Marcô không trực tiếp nghe Chúa giảng, cũng không phải là môn đệ của Ngài.  Nhưng ông đã tháp tùng Phêrô, người đã giảng dạy theo những gì ông cảm thấy cần thiết, chứ không phải chủ tâm thuật lại lời Chúa một cách có hệ thống.”

Marcô là người thông ngôn và lãnh trách nhiệm chép lại những lời Phêrô giảng, vì thế không lạ gì ở cuối bức thư thứ nhất, Phêrô gọi ông là “Marcô, người con của tôi.”

Ngoài sự gần gũi với thánh Phêrô, Marcô cũng tiếp xúc lân cận với Phaolô, bắt đầu vào lần gặp gỡ đầu tiên vào năm 44, khi Phaolô và Barnaba đưa về Giêrusalem số tiền cộng đoàn Antiokia quyên được để trợ giúp cộng đoàn Mẹ.  Khi trở về, Barnaba đem theo Marcô, là cháu của ông.

Sau đó, trong khi đồng hành với Phaolô và Barnaba để hoạt động truyền giáo ở đảo Cypre, vì một sự bất đồng ý kiến nào đó, Marcô đã bỏ về Giêrusalem.  Vì lý do này, trong chuyến truyền giáo thứ hai, Phaolô đã nhất quyết không cho Marcô theo, mặc dù Barnaba tha thiết yêu cầu.  Sự kiện này đã gây đổ vỡ đến sự cộng tác giữa Phaolô và Barnaba.

Nhưng trong những ngày cuối đời, khi chờ đợi ngày hành quyết, Phaolô đã viết thư nhắn với Timôthê: “Hãy đem cả Marcô đến nữa, vì tôi cần sự giúp đỡ của anh ấy lắm.”  Bạn bè người ta muốn gặp trong những ngày cuối đời phải là những người đồng sinh đồng tử!

Những chi tiết khác nhau đó của cuộc đời của thánh Marcô không lấy gì làm chắc.  Có tài liệu cho là thánh nhân chết tự nhiên.  Tài liệu khác lại cho là thánh nhân được phúc tử đạo.  Vương cung thánh đường tại công trường Marcô ở Venice tự hào là còn giữ lại hài cốt của Ngài.

Trong cuộc sống, Marcô đã chu toàn bổn phận mà mọi người Kitô được kêu gọi phải thực thi: Ðó là rao giảng Tin Mừng và làm chứng về Ðức Kitô.  Marcô đã thực hiện công việc này đặc biệt qua công tác viết sách Phúc Âm, những người Kitô khác qua kịch nghệ, âm nhạc, thơ phú hay qua việc dạy đạo cho con em quanh bàn ăn của gia đình hoặc qua cuộc sống chứng tá trong những sinh hoạt và nếp sống hằng ngày.

Trích trong ‘Lẽ Sống’ – Radio Veritas Asia

CỬA CHUỒNG Ở ÐÂU?

“Hình ảnh mục tử nhân lành làm nổi bật mối tương giao và sự hiến thân của Chúa Giêsu cho mỗi người chúng ta.”

Vào thời Chúa Giêsu, khi màn đêm buông xuống, các mục tử lùa đàn chiên của họ vào chuồng.  Nếu ở gần làng, họ sẽ lùa chúng vào cái chuồng công cộng, còn nếu ở xa làng, thì họ sẽ lùa chúng vào một cái chuồng ở ngoài đồng hoặc đôi khi trong một cái hang.  Các mục tử làm thế là để che chở bầy chiên khỏi sương đêm lạnh lẽo và khỏi lũ thú rừng.  Trong bài Phúc âm hôm nay Chúa Giêsu ám chỉ đến cả hai loại chuồng trên.

Phần đầu bài Phúc âm, Người ám chỉ đến loại chuồng làng công cộng, đặc biệt nhắc đến lúc sáng sớm, khi người mục tử đến chuồng làng công cộng nhận bầy của mình để dẫn chúng đi ăn cỏ suốt ngày, Chúa Giêsu nói: “Người giữ cửa sẽ mở cửa cho anh ta; chiên anh sẽ nghe tiếng anh khi anh gọi tên từng con một và dẫn chúng ra.  Khi mang chúng ra rồi, anh đi phía trước, lũ chiên đi theo anh vì chúng nhận biết giọng nói của anh”

Phần sau của bài Phúc âm, Chúa Giêsu ám chỉ đến loại chuồng ở ngoài đồng đặc biệt Người nói đến lối vào chật hẹp trong chuồng mà bầy chiên phải đi qua.  Chúa Giêsu nói: “Ta là cửa chuồng chiên… Ai bước qua Ta mà vào thì sẽ được cứu: người ấy sẽ vào, và ra, rồi tìm được đồng cỏ.”  Trong cuốn sách nhan đề The Holy Land (đất thánh).  John Kellman mô tả một cái chuồng chiên ngoài đồng như sau: nó có một bức tường bằng đá chung quanh cao khoảng bốn bộ (cỡ 1m4) và một lối vào.  Kellman kể rằng ngày nọ một du khách Thánh Ðịa đã trông thấy một cái chuồng chiên ngoài đồng gần Hebron.  Anh du khách hỏi người mục tử đang ngồi cạnh đó: “Cửa chuồng của anh ở đâu?  Người mục tử liền đáp: “Tôi chính là cửa chuồng.”  Ðoạn người mục tử kể cho du khách nghe anh ta nằm chặn ngang lối vào chật hẹp đó.  Không có chú chiên nào có thể bỏ chuồng đi ra, và cũng chẳng có con thú rừng nào có thể đi vào mà không bước qua mình anh ta.

Có hai điều nổi bật trong câu chuyện dễ thương này.  Thứ nhất là tính cách duy nhất ngày càng tăng lên giữa người mục tử và bầy súc vật của anh.  Phần lớn đàn chiên được nuôi để lấy len.  Một mục tử phải hiện diện với bầy chiên của mình 365 ngày một năm, và thường là đủ 24 giờ một ngày.  Người mục tử phải biết rõ chiên mình đến mức phải biết con nào có móng mềm, con nào đau vì ăn bậy, con nào hay bỏ bầy chạy rông…  Thứ hai là sự hiến thân sâu sắc của người mục tử cho bầy chiên, thậm chí liều mạng sống cho chúng.

Chính trong bối cảnh này, chúng ta có thể hiểu rõ hơn điều Chúa Giêsu mường tượng trong tâm trí khi Người nói: “Ta là mục tử nhân lành” (Ga 10: 11).  Chúa Giêsu muốn nói rằng, mối tương giao và sự hiến thân của Người cho chúng ta tương tự như mối tương giao và sự hiến thân của người mục tử cho bầy chiên mình.  Giống như người mục tử, Chúa Giêsu luôn hiện diện với chúng ta 365 ngày mỗi năm, 24 giờ mỗi ngày.  Người đã từng nói với các môn đệ: “Ta sẽ luôn ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28: 20).

Giống như người mục tử, Chúa Giêsu cũng biết rõ mỗi người chúng ta một cách thân mật sâu xa.  Người biết ai trong chúng ta yếu kém về đức tin, ai trong chúng ta thường dễ ngã lòng, ai trong chúng ta thường hay bỏ bầy đi rông.  Chúa Giêsu không bao giờ bỏ rơi chúng ta.  Người luôn luôn ở đó để giúp đỡ chúng ta.  Và nếu lỡ chúng ta bỏ bầy đi rông thì Người sẽ bỏ lại 99 con chiên để đi kiếm chúng ta.  Ðiều Thiên Chúa nói với dân riêng Người qua miệng tiên tri Isaia, cũng chính là điều Chúa Giêsu đích thân nói với mỗi người chúng ta : “Ðừng sợ, Ta gọi ngươi bằng tên…  Ngươi rất quí báu đối với Ta…  Ðừng sợ!  Này đây Ta ở với ngươi” (Isaia 43: 1, 4-5).

Bài Phúc âm hôm nay đặc biệt thích hợp cho ngày các bà mẹ.  Giống như người mục tử, giống như Chúa Giêsu, một bà mẹ luôn có mối tương giao gần gũi sâu sắc với bầy con hoặc gia đình mình.

Không có gì mà bà mẹ không làm để bảo vệ cho bầy con khỏi cơn nguy hiểm.  Và bà sẵn sàng đi đến bất cứ nơi nào để tìm kiếm đứa con lầm đường lạc lối.  Tình yêu của một bà mẹ dành cho gia đình vẫn hoạt động ngay cả khi tự thân bà không thể bảo vệ cho bầy con của bà nữa.

Có câu chuyện thật dễ thương trong cuốn tự thuật của Jimmy Cagney, nam diễn viên nổi tiếng ở HollyWood.  Câu chuyện xảy ra vào thời tuổi trẻ của Cagney khi mẹ ông đang nằm trên giường chờ chết.  Chung quanh giường có bốn cậu con trai đều mang tên Cagney và cô em gái duy nhất của họ là Jeannie.  Vì bị nhồi máu cơ tim, bà Cagney không nói được nữa.  Sau khi lần lượt bá cổ cả năm đứa con, bà liền giơ cánh tay phải, cánh tay duy nhất còn hoạt động đựơc lên.  Jimmy mô tả những gì xảy ra sau đó:

“Mẹ tôi dùng ngón tay chỉ Harry rồi chỉ vào ngón trỏ của bàn tay vô dụng của bà, sau đó chỉ tôi rồi chỉ vào ngón giữa, rồi chỉ Eddie rồi chỉ vào ngón áp út, chỉ Bill rồi chỉ vào ngón út, chỉ Jeannien rồi chỉ vào ngón cái.  Ðoạn bà cầm ngón cái để vào giữa lòng bàn tay, rồi áp chặt ngón cái dưới bốn ngón kia tụm lại. Sau đó bà dùng bàn tay còn khỏe vỗ nhẹ lên nắm đấm bàn tay trái” (James Cagney).

Jimmy nói rằng cử chỉ của mẹ ông thật tuyệt vời.  Mọi người đều biết ý nghĩa của cử chỉ ấy, tức bốn anh em có bổn phận che chở cho bé Jeannie sau khi mẹ họ qua đời.   Đó là một cử chỉ đẹp và đầy ý nghĩa mà không lời nào có thể diễn tả hay hơn.

Tôi vui mừng vì chúng ta có ngày dành riêng cho các bà mẹ để nhắc nhở chúng ta về bản chất của người mẹ và để nhắc nhở các bà mẹ về sứ vụ mà Chúa kêu gọi họ.

Tôi vui mừng vì ngày các bà mẹ trùng hợp với Chúa nhật hôm nay với những lời Chúa Giêsu nói về người mục tử.  Bởi vì sự thân mật và sự hiến thân trọn vẹn của một bà mẹ cho gia đình mình là một phản ảnh hoàn hảo sự thân mật và hiến thân trọn vẹn của người mục tử cho bầy súc vật của anh.  Và hơn tất cả, tình thân và sự hiến thân cho gia đình của một bà mẹ phản ảnh hoàn hảo tình thân mà Chúa Giêsu dành cho chúng ta.

Vì thế, chúng ta hãy hân hoan vui mừng và cầu xin cho ngày hôm nay sẽ kéo các thành viên trong gia đình gần lại với nhau hơn, đồng thời quí chuộng lẫn nhau hơn, đặc biệt đối với bà mẹ của họ.

Lm. Mark Link, S.J.

TRỞ THÀNH MỘT NHÀ THẦN BÍ THỰC HÀNH

Tôi có dạy một khóa học về nhà thần bí nổi tiếng Thánh Gioan Thánh Giá.  Vì đây không phải là khóa học bắt buộc đối với bất kỳ học viên nào, tôi thường bắt đầu buổi học đầu tiên bằng cách hỏi mỗi học viên tại sao họ lại quan tâm đến khóa học này.  Các câu trả lời rất đa dạng: “Tôi tham gia khóa học này vì cha linh hướng của tôi bảo tôi tham gia.”  “Tôi luôn tò mò về thần bí học.”  “Tôi học bất cứ môn nào được dạy vào tối thứ Ba!”  Tuy nhiên, một tối nọ, một phụ nữ đã đưa ra câu trả lời này: “Tôi tham gia khóa học này vì tôi là một nhà thần bí thực hành.”

Điều đó khiến một số người ngạc nhiên.  Thật sao?  Một nhà thần bí thực hành sao?

Liệu ai đó có thể là một nhà thần bí thực hành không?

Điều đó phụ thuộc vào cách bạn hiểu về trải nghiệm thần bí.  Nếu bạn đánh đồng trải nghiệm thần bí với những điều phi thường, với những hiện tượng siêu nhiên (những thị kiến, những trạng thái xuất thần, những trạng thái ý thức thay đổi hoàn toàn, hoặc sự xuất hiện kỳ diệu của Chúa Giêsu, Đức Mẹ Maria, một thiên thần hay một vị thánh) thì bạn không thể là một nhà thần bí thực hành.  Mặc dù những hiện tượng phi thường như vậy thực chất có thể là trải nghiệm thần bí (và thực sự đánh dấu trải nghiệm của một số nhà thần bí cổ điển), nhưng trải nghiệm thần bí bình thường không được đặc trưng bởi bất kỳ hiện tượng tôn giáo ngoại thường nào.  Thật vậy, nó thường nghi ngờ bất cứ điều gì phi thường và yêu cầu phải được phân định một cách kỹ lưỡng hơn.

Trải nghiệm thần bí bình thường, hầu hết các nhà thần bí, không dựa trên điều phi thường.  Ngược lại, nó dựa trên chính nền tảng của sự bình thường.  Điều này có nghĩa là gì?

Một nhà thần bí đương đại nổi tiếng, Ruth Burrows, nữ tu dòng Cát Minh người Anh, định nghĩa trải nghiệm thần bí như sau.  Trải nghiệm thần bí là được Chúa chạm đến theo một cách vượt quá những gì chúng ta có thể diễn đạt, hình dung, hoặc thậm chí cảm nhận một cách có ý thức.  Đó là điều chúng ta biết nhiều hơn là nghĩ.

Về bản chất, một Thiên Chúa không thể diễn tả được chạm đến chúng ta theo một cách không thể diễn tả được; một Thiên Chúa vượt ra ngoài khái niệm, chạm đến chúng ta theo một cách không thể diễn tả thành lời; một Thiên Chúa vượt ra ngoài ngôn ngữ chạm đến chúng ta theo một cách không bao giờ có thể diễn tả đầy đủ thành lời; và một Thiên Chúa, nguồn gốc của mọi sự sống, chạm đến chính nguồn gốc của sự sống, để chúng ta biết, một cách trực giác, cả bản thân mình lẫn cách mình đứng trước Thiên Chúa.

Điều này nghe có vẻ khá trừu tượng, nhưng không phải thế như Ruth Burrows giải thích khi dùng câu chuyện của chính bà.

Trong cuốn tự truyện của mình, Trước Thiên Chúa Hằng Sống, Ruth Burrows (mất năm 2023) chia sẻ câu chuyện về việc, ngay khi bà hoàn thành chương trình giáo dục cơ bản và lên kế hoạch cho việc học đại học, một trải nghiệm thần bí đã tác động và thay đổi cuộc đời bà một cách triệt để.

Vào thời điểm đó trong cuộc đời, bà không thực sự nghiêm túc với đức tin của mình.  Việc thực hành đức tin của bà mang tính học thuộc lòng hơn là sốt sắng, nhưng bà đã tham gia một khóa tĩnh tâm với một số phụ nữ trẻ khác cùng tuổi.  Một trong những điều bà được yêu cầu làm trong khóa tĩnh tâm đó là ngồi trong nhà nguyện im lặng một giờ đồng hồ nhiều lần mỗi ngày.  Những giờ im lặng đó khiến bà mệt mỏi và bà sợ hãi.

Tuy nhiên, một ngày nọ, trong một trong những giờ phút ấy, khi ngồi im lặng, bà đã có (sau này bà gọi là) một trải nghiệm thần bí.  Không có những thị kiến siêu nhiên, không có sự xuất thần, không có sự xuất hiện của thiên thần, mà chỉ có một khoảnh khắc sáng suốt phi thường, đầy ân sủng; một khoảnh khắc mà lần đầu tiên bà hiểu rõ bản thân mình, vượt ra ngoài những gì bà có thể nghĩ, diễn đạt thành khái niệm, hay diễn đạt thành lời.  Đó là khoảnh khắc mà bà được lột bỏ mọi sự giả tạo, lột bỏ mọi hệ tư tưởng, lột bỏ mọi hình ảnh tự thân giả tạo, lột bỏ mọi dáng vẻ đối với người khác, trần trụi về mặt cảm xúc và đạo đức, bà chỉ biết – biết mình là ai và mình đứng trước Chúa và mọi người như thế nào.

Khoảnh khắc thần bí của bà là một khoảnh khắc hoàn toàn chân thành, một khoảnh khắc không che phủ, như gốc Latinh của từ này gợi ý (sine- without và cere-wax).  Giống như tất cả những nhà thần bí, bà đã phải vật lộn để diễn tả thành lời một điều gì đó phần lớn không thể diễn tả được, nhưng lại in dấu ấn lên tâm hồn bà theo một cách đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời bà.

Với định nghĩa về thần bí học như vậy, tất cả chúng ta đều được mời gọi trở thành những nhà thần bí thực hành, nghĩa là, tất cả chúng ta đều được mời gọi trong sự tĩnh lặng của trái tim, hoặc có lẽ trong trải nghiệm được nâng lên về mặt tâm hồn hoặc bị nghiền nát về mặt tâm hồn, để đứng hoặc quỳ gối trước Chúa với sự chân thành tuyệt đối, không chút giả tạo, trần trụi về mặt đạo đức, lột bỏ mọi sự giả tạo, lột bỏ mọi điều giả dối, để ngay lúc đó, chúng ta có thể biết chân tướng mình là ai và mình đứng trước Chúa, trước tha nhân, và trước chính con người thật của mình như thế nào.  Chúng ta cần cầu nguyện cho sự sáng suốt đó và thể hiện rõ ràng ý định đó trong lời cầu nguyện.

Vậy chúng ta làm điều đó bằng cách nào?  Chúng ta làm điều đó bằng cách cố gắng hết sức trong lời cầu nguyện để tập trung vào sự chân thành và sự trần trụi của tâm hồn, bằng cách cầu xin Chúa nhìn thấu tất cả những gì giả dối trong chúng ta để chúng ta có thể biết Chúa biết đến mình như thế nào.

Trong lời cầu nguyện của mình, Dag Hammarskjöld thường cầu xin Chúa: “Xin cho con có được sự sáng suốt để phản chiếu cuộc sống và khuôn đúc nó trong trái tim thanh khiết, và có được sự tự vấn có ý thức để đưa con vào con đường phản chiếu sự vĩ đại của cuộc sống.”  Cầu xin điều đó trong lời cầu nguyện chính là trở thành một nhà thần bí thực hành.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

HOÁ RA LÀ NGÀI

“Các ông hoảng sợ.”

Trong “When All Hell Breaks Loose”, tạm dịch, “Khi Tất Cả Đổ Vỡ”, Steven J. Lawson viết: “Có thể bạn đang ở trong một cơn bão. Chúa có mục đích khi dẫn bạn vào đó. Hãy hướng mắt về Ngài!”

Kính thưa Anh Chị em,

“Các ông hoảng sợ.”  Giữa ‘biển trong đêm’, khi tất cả đổ vỡ, các môn đệ chao đảo không chỉ bởi bão tố, nhưng trước một sự hiện diện chưa được nhận biết.  Chỉ khi Chúa Giêsu cất tiếng, họ mới chợt hiểu: ‘hoá ra là Ngài.’

Vậy điều gì đã xảy ra với các môn đệ?  Giữa ‘biển trong đêm’, gió nổi sóng gào, thuyền chao đảo; họ bị cuốn vào chính những gì đang đổ vỡ trước mắt.  Khi mọi sự dồn dập, họ quay khỏi Thầy để chống chọi giữa những hỗn mang.  Chính trong khoảnh khắc ấy, khi nỗi kinh hoàng chiếm trọn tâm hồn, họ không còn nhận ra ai đang đến gần; đến nỗi, như các Tin Mừng khác kể lại, họ tưởng chỉ là một bóng ma.  Họ không chỉ không nhận ra Ngài, họ còn đặt tên sai cho Ngài.  “Chúng ta chỉ thấy điều mình đã sẵn sàng để thấy!” – Walter Lippmann.

Chính lúc ấy, Chúa Giêsu cất tiếng: “Thầy đây mà, đừng sợ!”  Trong nguyên ngữ Gioan, egō eimi – “Ta là”; công thức mặc khải vang vọng từ Xuất Hành, nơi Thiên Chúa tiết lộ danh tính, và trong truyền thống Latinh được diễn đạt là Ego sum.  Đó không chỉ là lời nhận diện, nhưng là một sự hiện diện tự xưng, không cần được chứng minh; không chỉ là lời trấn an, nhưng là một mặc khải: Ngài tự nói ra căn tính của mình.  Từ đó, nỗi sợ bắt đầu tan biến, không phải vì bão đã yên, nhưng vì họ nhận ra ai đang ở trước mặt.  Điều họ tưởng là đe dọa ‘hoá ra là Ngài’ – Thầy của mình.

Đó cũng là trải nghiệm vượt những ‘biển trong đêm’ của Hội Thánh sơ khai.  Khi các tín hữu bắt đầu kêu trách nhau, khi sự kỳ thị xé rách cộng đoàn; chính trong những đổ vỡ ấy, họ không dừng lại nơi xung đột, nhưng quay về với Chúa Phục Sinh.  Từ đó, các phó tế đầu tiên được thiết lập, trật tự dần được tái ổn định, giông bão lắng xuống – bài đọc một.  Điều đã xảy ra với họ cũng là điều xảy ra nơi chúng ta: không phải vì không có sóng gió, nhưng vì biết quay về với Chúa trong nguyện cầu.  “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Chính Chúa Giêsu đã đi qua những ‘biển trong đêm’: cám dỗ, rình rập, và cuối cùng là thập giá.  Nhưng trong tất cả, Ngài không quay khỏi Cha; Ngài nhận ra Cha ngay giữa bóng tối và trao phó chính mình: “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha.”  Đó cũng là nơi đời sống chúng ta chạm tới: không phải khi sóng gió qua đi, nhưng ngay giữa những điều chưa sáng tỏ.  Không phải vì chúng ta giữ được mình, nhưng vì có một tương quan giữ chúng ta lại; để giữa những ‘biển trong đêm,’ chúng ta không còn bị cuốn đi, nhưng dần nhận ra một sự hiện diện không hề xa – ‘hoá ra là Ngài’, “Đấng gần chúng ta hơn chính chúng ta gần mình!” – Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi mọi sự xem ra đổ vỡ, xin cho con đừng gọi Ngài bằng một cái tên sai!”  Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

NHỮNG NGƯỜI BẠN ĐỒNG HÀNH TRONG ĐỨC TIN

Cách đây một thời gian, tờ The Wall Street Journal có một bài viết về một số các chuyên gia trẻ thành công và họ đang quay trở lại nhà thờ sau một thời gian xa cách.

Bài báo mở đầu bằng việc ghi nhận rằng trong quá khứ, những người đã ngừng đi nhà thờ thì họ thường không cảm thấy cần quay lại cho đến khi lập gia đình, sinh con, hoặc gặp một biến cố lớn trong đời.

Ngày nay, những người đang ở đỉnh cao sự nghiệp và thành công lại có cái nhìn khác về tôn giáo.  Họ từng nghĩ rằng thành công sẽ mang lại hạnh phúc.  Nhưng thay vào đó, họ lại cảm thấy trống rỗng.

Một số đề cập đến sự thành công của họ như thế này: “Người ta đã đặt chân lên mặt trăng, rồi tự hỏi: ‘Chỉ có thế thôi sao?  Phải còn điều gì hơn thế này chứ!’”

Một ví dụ cụ thể là Mary Kay, giám đốc một công ty sản xuất phim ở Hollywood.  Cô từ bỏ Giáo Hội khi rời xa gia đình.  Cô tự thuyết phục mình rằng tôn giáo không còn phù hợp nữa.  Nhưng khi sự thành công đến, nó không mang lại cảm giác như cô mong đợi.  Nó để lại một khoảng trống; một điều gì đó thiếu vắng.

Lúc đầu, cô cố lấp đầy khoảng trống ấy bằng cách tham dự các buổi thuyết giảng của những “đạo sĩ” thời đại mới và lấy các lớp ở trường đại học về nhiều chủ đề tâm linh.  Nhưng sự trống rỗng ấy vẫn còn.

Rồi một ngày kia, cuối cùng cô cũng phải thành thật nhìn nhận rằng mình đã xa rời đức tin.  Cô không còn bước đi với Chúa Giêsu nữa.

Nhưng việc quay trở lại Giáo Hội thì không dễ dàng.  Cô nói rằng chỉ sau khi xin Chúa tha thứ vì đã rời xa Người, cô mới cảm thấy bình an để trở lại nhà thờ.

Bài báo của tờ The Wall Street Journal còn đưa ra nhiều ví dụ khác về những người thành công mà họ đã quay trở lại đức tin vì những lý do tương tự.  (“Can You Go Back?” của Lisa Miller, đăng trên The Wall Street Journal, ngày 10 tháng 4 năm 1998)

Câu chuyện của các chuyên gia trẻ thành công này thì tương tự với câu chuyện của hai môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay.

Họ cũng đã từng bước đi với Chúa Giêsu.  Họ cũng đã từng trò chuyện với Người.  Họ cũng đã từng tin rằng Người được Thiên Chúa sai đến để thiết lập Nước Trời.

Rồi biến cố Thứ Sáu Tuần Thánh xảy đến!  Tất cả niềm hy vọng và niềm vui của họ tan vỡ thành muôn mảnh.  Thất vọng, họ rời bỏ Chúa Giêsu và đi theo con đường riêng của mình.

Chính trong bối cảnh ấy, họ gặp một “người lạ” trên đường đi Em-mau.

Họ lắng nghe người ấy, như trước đây họ từng lắng nghe Chúa Giêsu.  Họ cùng đi với người ấy, như trước đây họ từng đi với Người.  Họ nhìn người ấy bẻ bánh, như trước đây họ từng thấy Chúa làm điều đó.

“Người lạ” ấy thì không xa lạ chút nào.  Thật kỳ diệu, đó chính là Chúa Giêsu.  Người không chết; Người đã sống lại và đang sống.

Điều gì đó tương tự cũng đã xảy ra với các chuyên gia thành công được diễn tả trong bài báo.

Đã có lúc họ lắng nghe những lời của Chúa Giêsu trong Phụng Vụ Lời Chúa, như chúng ta đang làm bây giờ.

Và đã có lúc họ nhìn thấy Chúa Giêsu bẻ bánh trong Phụng Vụ Thánh Thể – như chúng ta sẽ làm trong ít phút nữa.

Nói cách khác, đã có lúc họ cũng bước đi với Chúa và tràn đầy hy vọng và niềm vui.

Rồi đến một ngày bi thảm, vì một lý do nào đó, mọi hy vọng và ước mơ của họ bị tan vỡ thành hàng ngàn mẩu nhỏ.

Chán nản, họ cũng rời bỏ Chúa và đi theo con đường riêng.

Và điều này khiến mỗi người chúng ta hôm nay, đang hiện diện trong nhà thờ này, phải suy nghĩ lại.

Câu chuyện của các chuyên gia thành công, và của các môn đệ Em-mau, không khác mấy so với câu chuyện của chính chúng ta.

Đã có lúc trong cuộc đời chúng ta – có thể là nhiều lần – mối tương quan của chúng ta với Chúa Giêsu bị tan vỡ thành hàng ngàn mẩu nhỏ.

Có thể chúng ta cũng đã ngừng bước đi với Người trong một thời gian.

Nhưng đến một ngày đầy ân sủng, chúng ta gặp một người – một người bạn, một người phối ngẫu, hoặc ngay cả một người xa lạ.

Và qua gương sáng của người đó, Chúa Giêsu lại nói với chúng ta – như Người đã nói với hai môn đệ Em-mau.

Và chính nhờ gương sáng ấy, chúng ta trở lại nhà thờ, mắt chúng ta được mở ra, và chúng ta nhận ra Chúa một lần nữa, trong việc bẻ bánh.

Tin Mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta rằng có rất nhiều người – giống như hai môn đệ Em-mau và các chuyên gia trẻ thành công ngày nay – họ đang cảm nghiệm sự trống rỗng dù họ thành công.

Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy trở nên cho họ như “người lạ” trong Tin Mừng đã trở nên cho hai môn đệ.

Và ở đây, chúng ta cần nhớ một điều rất quan trọng:

Nếu hôm nay, qua chúng ta, Chúa Giêsu muốn nói với những ai không còn bước đi với Người nữa, điều đó không nhất thiết qua lời nói, nhưng qua tình yêu, lòng nhân hậu và sự tha thứ của chúng ta.

Vì trong thế giới đầy hoài nghi này, người ta không chủ yếu tìm kiếm lời nói, nhưng lòng trắc ẩn, sự lưu tâm, lòng tốt và sự tha thứ.  Lời nói có thể đến sau.

Chúng ta hãy kết thúc bằng lời cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin mở lòng chúng con theo một phương cách
để qua chúng con Chúa có thể nói với người thời đại hôm nay,
nhất là với những ai đang thất vọng.

Xin làm chúng con ngạc nhiên,
như Chúa đã làm cho hai môn đệ Em-mau.
Xin lại đồng hành với chúng con, như Chúa đã đồng hành với họ.
Xin giải thích Kinh Thánh cho chúng con, như Chúa đã làm cho họ.

Xin đến nhà chúng con và dùng bữa với chúng con, như Chúa đã làm với họ.
Xin cầm lấy tấm bánh của chúng con trong đôi tay Ngài.
Xin Ngài chúc lành, bẻ ra và chia sẻ tấm bánh ấy.

Xin chữa lành chúng con khỏi sự mù lòa
mà nó khiến chúng con không nhận ra Chúa,
trong việc bẻ bánh
. M.L.

Lm. Mark Link S.J.

ĐỪNG KEO KIỆT VỚI LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

Chẳng bao lâu sau khi chịu chức linh mục, trong lúc đi làm mục vụ thay tại một giáo xứ, tôi có dịp ở cùng một vị linh mục già đức độ.  Ngài đã ngoài tám mươi, mắt gần như mù lòa, nhưng lại là người được rất nhiều người tìm đến xin lời khuyên và kính trọng.  Một tối nọ, khi chỉ có hai người, tôi đã hỏi ngài một câu: “Nếu được sống lại đời linh mục một lần nữa, cha có thay đổi điều gì không?”

Từ một con người đầy chính trực như ngài, tôi vốn đinh ninh rằng ngài sẽ chẳng có gì phải hối tiếc.  Vì vậy, câu trả lời của ngài làm tôi vô cùng ngạc nhiên.  Ngài bảo có, ngài có một nỗi hối tiếc rất lớn: “Nếu được làm lại đời linh mục, lần tới tôi sẽ bao dung với mọi người hơn.  Tôi sẽ không quá bủn xỉn với lòng thương xót của Chúa, với các bí tích và sự tha thứ.  Anh thấy đó, điều được nhồi nhét vào đầu tôi hồi ở chủng viện là câu: Sự thật sẽ giải phóng anh em.  Thế nên, tôi tin rằng trách nhiệm của mình là luôn đưa ra những thách đố khó khăn, và điều đó cũng có cái tốt.  Nhưng tôi e rằng mình đã quá khắt khe với mọi người.  Họ đã đủ đau khổ rồi, không cần tôi và Giáo hội phải chất thêm gánh nặng lên vai họ nữa.  Lẽ ra tôi nên dám mạo hiểm vào lòng thương xót của Chúa hơn nữa!”

Điều này làm tôi sững sờ, vì chỉ chưa đầy một năm trước đó, khi tôi thi vấn đáp cuối kỳ ở chủng viện, một trong những linh mục giám khảo đã cảnh báo tôi thế này: “Hãy cẩn thận, đừng bao giờ để cảm xúc xen vào.  Đừng có mềm yếu, như vậy là sai.  Hãy nhớ rằng, dù có khắc nghiệt đến đâu, chính sự thật mới giải phóng con người!”  Đó dường như là một lời khuyên chí lý cho một linh mục trẻ.

Thế nhưng, sau năm mươi năm thi hành tác vụ, tôi lại nghiêng về lời khuyên của vị linh mục già kia hơn: Chúng ta cần dám mạo hiểm hơn với lòng thương xót của Thiên Chúa.  Vị trí của công lý và sự thật không bao giờ được phép phớt lờ, nhưng chúng ta phải dám để cho lòng thương xót vô biên, không bờ bến, không điều kiện và không đòi hỏi công trạng của Chúa được tuôn trào tự do hơn.  Lòng thương xót của Chúa luôn sẵn có như một vòi nước gần nhất, và vì thế, giống như ngôn sứ Isaiah, chúng ta phải loan báo một lòng thương xót không hề dán nhãn giá: Đến đây, hãy đến mà không cần tiền bạc, không cần đức hạnh, hãy đến uống thỏa thuê lòng thương xót của Chúa! (Isaiah 55:1)

Điều gì đang kìm hãm chúng ta?  Tại sao chúng ta lại ngần ngại khi loan báo lòng thương xót vô tận, hào phóng và không phân biệt của Ngài?

Một phần động cơ của chúng ta là tốt, thậm chí là cao quý.  Sự quan tâm đến sự thật, công lý, tính chính thống, đạo đức chuẩn mực, hình thức công khai hay việc chuẩn bị bí tích kỹ lưỡng không phải là không quan trọng.  Tình yêu cần được định hướng bởi sự thật, cũng như sự thật phải được điều hòa bởi tình yêu.

Nhưng đôi khi động cơ của chúng ta lại kém cao quý hơn, và sự ngần ngại đó nảy sinh từ sự rụt rè, sợ hãi, chủ nghĩa lề luật, sự tự mãn kiểu những người biệt phái, và một hiểu biết nghèo nàn về Thiên Chúa.  Thế là, chúng ta quyết không để bất kỳ một “ân sủng rẻ tiền” nào được ban phát dưới sự canh chừng của mình!

Khi làm như vậy, tôi e rằng chúng ta đang đi lạc đường, chưa làm tròn vai trò của người mục tử nhân lành, và không cùng nhịp đập với Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã nhập thể để bày tỏ.  Lòng thương xót của Thiên Chúa, như Đức Giêsu mặc khải, ôm ấp tất cả không phân biệt ai, giống như ánh mặt trời chiếu soi đồng đều trên người tốt cũng như kẻ xấu, người xứng đáng cũng như kẻ không xứng đáng, người trong đạo cũng như kẻ ngoài đời.

Một trong những thấu thị thực sự gây chấn động mà Đức Giêsu mang lại cho chúng ta là: lòng thương xót của Thiên Chúa không thể không đến với tất cả mọi người.  Nó luôn miễn phí, không do công trạng, không điều kiện, mang tính phổ quát, vượt lên trên mọi tôn giáo, phong tục, luật lệ, đảng phái chính trị, các chương trình bắt buộc, ý thức hệ, và thậm chí vượt lên trên cả chính tội lỗi.

Về phần mình, đặc biệt là những người làm cha mẹ, những người làm mục vụ, thầy cô giáo, giáo lý viên và những người đi trước, chúng ta phải dám loan báo đặc tính hào phóng của lòng thương xót Chúa.  Chúng ta không được ban phát lòng thương xót của Chúa như thể nó là của riêng mình để ban ơn; không được phân phát sự tha thứ của Chúa như thể đó là một món hàng có hạn; không được đặt điều kiện cho tình yêu của Chúa như thể Chúa cần được bảo vệ; hay ngăn chặn con đường đến với Chúa như thể chúng ta là người giữ cổng thiên đàng.  Chúng ta không phải là người giữ cổng.  Nếu chúng ta trói buộc lòng thương xót của Chúa vào sự rụt rè và sợ hãi của chính mình, chúng ta đang giới hạn nó trong tầm vóc nhỏ bé của tâm trí mình.  Đó là một sai lầm.

Thật thú vị khi để ý trong các sách Tin Mừng rằng các tông đồ – dĩ nhiên là với ý tốt – thường cố gắng ngăn cản một số người đến gần Đức Giêsu vì cho rằng họ không xứng đáng, hoặc họ là sự xúc phạm đến sự thánh thiện của Ngài, hay bằng cách nào đó sẽ làm vấy bẩn sự thanh sạch của Ngài.  Thế là họ cố đuổi trẻ em, những người hành nghề mại dâm, những người thu thuế, những tội nhân khét tiếng và đủ mọi thành phần chưa được khai tâm đi.  Nhưng lần nào Đức Giêsu cũng bác bỏ những nỗ lực đó bằng những lời đại ý rằng: “Cứ để họ đến với Ta.  Ta muốn họ đến.”

Mọi chuyện vẫn không thay đổi.  Theo năm tháng, chúng ta – những người đầy thiện chí – vì những lý do y hệt như các tông đồ, vẫn tiếp tục cố gắng giữ một số cá nhân và nhóm người tránh xa lòng thương xót của Chúa vốn luôn sẵn có trong Lời Chúa, Bí tích và Cộng đoàn.  Ngày xưa Đức Giêsu đã dàn xếp được mọi chuyện; tôi tin rằng ngày nay Ngài cũng làm được.  Thiên Chúa không cần chúng ta làm người gác cổng.

Điều Thiên Chúa muốn là tất cả mọi người, bất kể tuổi tác, tôn giáo, văn hóa, sự yếu đuối cá nhân hay việc thiếu thực hành đạo đức, hãy đến với nguồn nước vô tận của lòng thương xót thần linh.

Nhà tự nhiên học nổi tiếng John Muir từng thách thức các Kitô hữu bằng những lời này: Tại sao các Kitô hữu lại ngần ngại để các loài vật bước chân vào cái thiên đàng bủn xỉn của họ đến thế?

Tôi e rằng, chúng ta cũng đang bủn xỉn với lòng thương xót hào phóng của Thiên Chúa như vậy.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

KHÔNG TIN – VẪN ĐƯỢC SAI

“Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng.”

“Đức tin không phải là kết quả của suy nghĩ, nhưng là kết quả của một cuộc gặp gỡ!” – Bênêđictô XVI

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không khen ngợi một niềm tin vững vàng rằng Thầy đã sống lại, nhưng là những lời khiển trách vì các môn đệ không tin và cứng lòng.  Đức tin không đến từ suy nghĩ, nhưng từ gặp gỡ; và ‘dù không tin,’ họ ‘vẫn được sai’ – một nghịch lý khó chấp nhận.

Marcô đã tài tình tóm tắt các lần hiện ra của Chúa Phục Sinh; tuy nhiên, qua đó, việc các môn đệ “không tin” không chỉ là một phản ứng tâm lý, nhưng là việc họ không nhận ra Đấng đã tỏ mình; không phải vì thiếu chứng từ, nhưng vì lòng chưa mở ra.  Vì thế, điều Chúa Giêsu khiển trách không chỉ là sự nghi ngờ, nhưng là một sự “chậm mở” trước một thực tại mang tính quyết định đã xảy đến; và đó cũng là điều có thể xảy ra nơi chúng ta.  Đôi khi, không phải vì thiếu ánh sáng, nhưng vì chúng ta chưa sẵn sàng để thấy.

Vậy mà, Chúa Giêsu không dừng lại ở việc họ không tin, Ngài lập tức sai các ông đi.   Incredulitas không loại trừ missio, nhưng mở ra chính sứ vụ; không phải khi họ đã hoàn toàn tin, nhưng ngay khi họ còn đang trên đường đến với đức tin.  Và cũng chính nơi đó, chúng ta nhận ra mình: Chúa không đợi đến khi chúng ta vững vàng rồi mới sai đi, nhưng ngay trong những chần chừ và nghi hoặc, lời sai đi vẫn không ngừng vang lên – ‘không tin – vẫn được sai!’  “Thiên Chúa không chọn người xứng đáng, nhưng làm cho người được chọn trở nên xứng đáng!” – Phanxicô.

Vì thế, điều xảy ra nơi các tông đồ không dừng lại ở kinh nghiệm riêng, nhưng trở thành lời chứng: “Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra” – bài đọc một.  Đức tin – một khi phát sinh từ một cuộc gặp gỡ – không thể khép kín, nhưng tự nó mở ra thành sứ vụ.  Đức Phanxicô nhấn mạnh: đức tin hoặc mang chiều kích truyền giáo, hoặc không còn là đức tin; không phải để giữ cho mình, nhưng để trao ban, không chỉ bằng lời nói, nhưng bằng chính đời sống.  Và khi đó, điều đã thấy không thể giữ lại, điều đã tin không thể không nói ra.

Anh Chị em,

Nơi Đức Giêsu Kitô, đức tin không còn là một tiến trình phải đi tới, nhưng là một tương quan được sống trọn vẹn.  Ngài tin Cha một cách tuyệt đối, không chỉ trong vinh quang, nhưng cả trong khổ đau; ngay tại vườn Dầu, khi mọi sự dường như sụp đổ, Ngài vẫn thưa: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha.”  Vì thế, nơi Ngài, không có khoảng cách giữa tin và được sai; chính trong sự phó thác trọn vẹn ấy, sứ vụ đạt tới cùng đích và trở thành ơn cứu độ.  Và cũng từ đó, chúng ta nhận ra rằng, đức tin không lớn lên khi mọi sự rõ ràng, nhưng khi dám phó thác, ngay trong những điều mình chưa hiểu.  “Để đạt tới điều ngươi không biết, ngươi phải đi qua con đường ngươi không biết!” – Gioan Thánh Giá.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Giêsu, dù lòng con chưa vững, xin vẫn cứ sai con.  Xin cho con biết yêu mến việc gặp Chúa mỗi ngày, để không giữ lại điều đã thấy, và không nín lặng điều đã tin!”  Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

CUỘC SÁNG TẠO MỚI

Ngày thứ nhất của nhân loại cũ

Từ khởi thuỷ, sau khi dựng nên trời đất muôn vật, Thiên Chúa lấy bùn đất dựng nên Ađam.  Mới đầu thân thể ông chỉ là một khối đất bất động, không hề có dấu hiệu của sự sống.

Thế rồi, Thiên Chúa thổi hơi vào lỗ mũi Ađam (St 2,7), tức thì Ađam bắt đầu mở mắt, cựa mình và vươn vai chỗi dậy thành một con người đầy sức sống và được trở thành thuỷ tổ loài người đông đảo trên khắp trái đất.

Đó là ngày thứ nhất của lịch sử loài người, ngày khai sinh nhân loại cũ, khởi đi từ con người đầu tiên được Thiên Chúa tạo dựng, thông ban sự sống và những phẩm tính cao đẹp của Ngài.

Tiếc thay, con người tuyệt vời được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh Ngài lại lâm vào vòng sa đọa, đánh mất phẩm chất cao đẹp mà Thiên Chúa đã phú cho và phải mang lấy án phạt đời đời nên Thiên Chúa phải thực hiện kế hoạch kiến tạo một nhân loại mới.

Ngày thứ nhất của nhân loại mới

Thế rồi, “vào ngày thứ nhất trong tuần – và cũng là ngày thứ nhất trong lịch sử nhân loại mới – nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái.  Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Chúc anh em được bình an!” (Ga 20, 19-22)

Kế đó, như thời khởi thuỷ, Thiên Chúa thổi hơi vào lỗ mũi Ađam để thông truyền sự sống cho ông, thì nay Chúa Giêsu cũng thổi hơi trên các tông đồ đang co cụm như những xác không hồn để thông ban Chúa Thánh Thần cho họ: “Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20, 22)

Thế là từ đây, các tông đồ bắt đầu đón nhận sức sống mới, các ông được hồi sinh, được trở nên can đảm mạnh mẽ, thoát ra khỏi căn phòng đóng kín như hầm mộ u tối chôn vùi các ông suốt mấy tuần qua để ra đi khắp các nẻo đường, hô vang Tin Mừng cứu độ.

Đó là ngày thứ nhất trong tuần đồng thời cũng là ngày thứ nhất trong lịch sử của nhân loại mới.

Ngày thứ nhất trong cuộc đời người môn đệ

Vậy mà cho đến hôm nay, sau hơn hai ngàn năm Chúa Giêsu khai sinh nhân loại mới, vẫn còn trong ta sự ương ngạnh của Ađam, muốn sống theo dục vọng của mình bất chấp lời giáo huấn của Thiên Chúa.  Vẫn còn trong ta tính ù lì khiếp nhược của các tông đồ sau biến cố Thầy Giêsu thụ nạn, tự giam mình trong phòng kín như mộ địa tối tăm.  Vẫn còn trong ta con người ích kỷ chỉ biết sống cho mình, cho gia đình mình mà chưa mở ra với tha nhân và lối xóm.

Thế nên, hơn lúc nào hết, chúng ta cần Chúa Giêsu hiện đến thổi hơi truyền ban Thần Khí cho chúng ta như Ngài đã thực hiện cho các tông đồ xưa, để chúng ta được hồi sinh, được vượt ra khỏi ngục tù do lòng tham lam ích kỷ dựng nên, thoát ra khỏi mộ địa do chính sự hèn yếu của chúng ta vây bọc.

Và nhờ đó, ngày thứ nhất trong cuộc đời người môn đệ được khai mở trong ta.

Lm Ignatiô Trần Ngà

CHẾT VÀ SỐNG LẠI 

Đức Giê-su đã chết và đã sống lại!  Đó là khẳng định của Ki-tô giáo từ hai mươi thế kỷ nay.  Đó cũng là cốt lõi lời rao giảng của Giáo hội Ki-tô, ngay từ những ngày đầu.

Trước hết, chúng ta phải xác định: Chúa Giê-su đã chết trên cây thập giá.  Bởi lẽ nếu Người không chết, thì không thể nói đến sống lại.  Một người được coi là “sống lại” tức là người trước đó đã chết thực sự.  Trong lịch sử, cũng đã có những lập luận cho rằng Đức Giê-su chỉ chết lâm sàng mà không chết thật, sau đó Người hồi sinh.  Cả bốn tác giả Phúc âm đều khẳng định: Đức Giê-su đã chết khi còn bị treo trên thập giá, và đã được an táng trong mồ.

Đức Giê-su là Con Thiên Chúa nhập thể làm người.  Người cũng là Thiên Chúa quyền năng.  Vì thế thân xác của Người không bị chi phối theo quy luật vật lý thông thường, và việc Người từ cõi chết sống lại cũng không phải là bất khả thi.  Các tông đồ đều làm chứng, Chúa Giê-su đã sống lại.  Phê-rô vốn là một người dân chài đơn sơ ít học, nhưng đã trở nên can đảm lạ thường.  Trước Công nghị Do Thái, ông dõng dạc khẳng định: Đức Giê-su là Đấng Thiên sai mà Thiên Chúa của Tổ phụ chúng ta đã hứa.  Người đã bị chính quý vị hành hạ, đóng đinh và giết chết.  Thiên Chúa đã làm cho Người phục sinh, như lời Thánh Kinh, và chúng tôi xin làm chứng về điều ấy.  Trước đó, ông cũng công khai giảng dạy trước cử tọa đông đảo khách hành hương về Giê-su-sa-lem nhân ngày lễ Ngũ Tuần.  Bài giảng của ông đầy lửa và Thần Khí, nên đã có ba ngàn người xin theo Đạo.

Ngay từ thời sơ khai, Giáo hội Ki-tô đã suy tư về cái chết và sống lại của Chúa Giê-su với lăng kính phụng vụ.  Cái chết của Chúa Giê-su đích thực là một hy tế, nhằm tôn vinh Thiên Chúa.  Trên cây thập giá, Đức Giê-su dâng hiến chính thân mình làm của lễ, thay cho những của lễ cũ được quy định bởi Luật Môi-sen, như chiên, cừu, mỡ động vật, máu bò…  Tác giả thư gửi người Híp-ri đã nêu rõ: “Máu các con bò, con dê không thể nào xóa được tội lỗi.  Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Ki-tô nói: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể.  Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội.  Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây.  Con đến để thực thi ý Ngài” (Hr 10,4-7).  Như thế, theo Giáo lý Ki-tô giáo, kể từ cái chết của Chúa Giê-su, nhân loại không cần các hy lễ xưa nữa.  Hy lễ xưa chỉ là hình bóng, nay thực tại đã đến rồi thì hình bóng trở nên lỗi thời và phải nhường bước.  Vì vậy, mà trong bài Ca Thánh Thể (Tantum ergo) chúng ta hát: “hy lễ xưa nhường cho hy lễ mới”; hay bản dịch khác: “Phụng vụ xưa phải được thay, này đây nghi lễ mới”.

Về điều này, Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo viết: “Cái chết của Đức Ki-tô đồng thời vừa là hy lễ Vượt qua, mang lại ơn cứu chuộc tối hậu cho loài người, nhờ Con Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, vừa là hy lễ của Giao ước mới, cho con người lại được hiệp thông với Thiên Chúa, khi giao hòa con người với Thiên Chúa nhờ máu đổ ra cho muôn người được tha tội” (số 613).

Thánh Au-gút-ti-nô đã diễn tả rất sinh động và sâu sắc: “Người (Đức Giê-su) không có gì ở nơi mình để chết vì chúng ta, nếu Người đã không nhận lấy xác phàm phải chết của chúng ta.  Như thế, Đấng bất tử đã có thể chết.  Như thế, Người đã muốn ban sự sống cho loài người phải chết: vì chưng với những gì chúng ta có xưa, chúng ta không thể sống; cũng như với những gì là của Người trước kia, Người không thể chết” (Bài đọc II, Kinh Sách thứ Hai Tuần Thánh).  Thánh nhân muốn diễn tả: chết là bản tính của con người.  Con Thiên Chúa vốn không bao giờ chết, nhưng vì yêu thương nhân loại, nên đã mang lấy xác thịt để có thể chết.

Khi suy tư về cái chết và sự phục sinh của Đức Giê-su, Ki-tô hữu được mời gọi nhận ra cái chết và sống lại của Người nơi chính bản thân mình.  Thánh Phao-lô quảng diễn: “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” ( 2 Cr 4,10).  Thật là một điều kỳ lạ!  Chấp nhận chết với Chúa, thì có sự sống của Người nơi bản thân.  Khước từ chết với Người, sẽ không được chung phần vinh quang với Người.  Thực ra, nơi con người của chúng ta, sự chết và sự sống luôn hòa quyện đan xen.  Mỗi ngày chúng ta chết đi cho tội lỗi, ích kỷ, gian trá và những điều nhỏ nhen, thì niềm vui, sự an bình và lòng quảng đại lại được sinh ra và lớn lên trong chính tâm hồn và cuộc đời chúng ta.  Lời mời gọi sống lại với Chúa luôn vang lên trong cuộc đời của Ki-tô hữu chúng ta. “Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự.”  Đó là những cố gắng nỗ lực của một cuộc đời đã sang trang, muốn chuyển hướng định mệnh tương lai, không còn hướng xuống đất, nhưng hướng lên trời.

Nếu cái chết của Chúa Giê-su là một hy tế, thì cuộc sống của Ki-tô hữu cũng là một lễ dâng.  Thánh Phao-lô ngỏ lời với các tín hữu Rô-ma: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy ​hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa.  Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12,1).  Vâng, chính những cố gắng hy sinh, những thiện chí và quảng đại, những trách nhiệm của chúng ta đối với tha nhân, với môi trường, với công ích… đều là những của lễ đẹp lòng Chúa, nếu chúng được thực hiện với tâm tình vâng phục của Đức Giê-su.  Đó là cách thức thờ phượng mà Chúa muốn nơi chúng ta.

Trong cuộc sống hôm nay, cái chết vẫn luôn ám ảnh và hành hạ chúng ta.  Đó không chỉ là cái chết thể lý, mà còn là cái chết tinh thần, cái chết thiêng liêng.  Khi tuyên xưng: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, và sự sống đời sau,” Ki-tô hữu vừa xác tín vào sự sống lại của ngày tận thể, vừa khẳng định: hôm nay, ở đây, trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta có thể sống lại thực sự với Đức Ki-tô, nếu chúng ta cùng chết với Người.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TÌNH YÊU MẠNH HƠN CÁI CHẾT

Một trong những điều xem ra ngược đời nhất, là giữa tình yêu và cái chết có sự liên lạc chặt chẽ.  Kể cũng lạ kỳ: tình yêu là một giá trị tích cực, một khía cạnh phong phú của cuộc đời, là cao điểm của sự sống, thì tại sao khi nói tới tình yêu, người ta lại liên tưởng đến sự chết, là một mãnh lực phá hoại và dìm sự sống xuống đáy sâu?  Quả thật, một chân lý càng sâu sắc, thì càng có vẻ nghịch lý và không ngớt làm cho người ta bỡ ngỡ.  Tình yêu càng ở cao độ, càng có những đòi hỏi gắt gao và hầu như đặt con người trong thế chiến đấu: chiến đấu để loại trừ các chướng ngại, chiến đấu để đạt tới đối tượng của lòng mình.  Nhưng vì là một cuộc chiến đấu cam go, nguy hiểm, nên thường kết thúc bằng cái chết.  Do đó mà có những cái chết vì yêu: chết vì tình không được toại nguyện; chết vì muốn chung thủy với tình yêu; chết vì thương yêu quá đỗi.  Nhưng vì sao lại nói; Tình yêu mạnh hơn cái chết?

1. Chết và mãnh lực của tội

Chúng ta suy niệm về tình yêu và cái chết trong bối cảnh phụng vụ ngày thứ Sáu Tuần Thánh.  Ngày ấy, bóng Thập giá bao trùm lên khắp mặt địa cầu.  Một xác người treo trên cây gỗ.  Những giọt máu từ các vết thương loang lỗ chảy thấm xuống lòng đất.  Uy tín Con Thiên Chúa bị chôn vùi trong ô nhục.  Đó là một cái chết quá ư bi thảm!  Nhưng vì sao Người phải chết như thế?

Phải chăng vì ông Giêsu đã xách động quần chúng nổi loạn (Lc 23,2-5)?  Vì ông đã có ý tưởng phá hủy Đền thờ Giêrusalem (Mc 14,58; Mt 26,61)?  Vì ông đã phạm thượng khi tự xưng là Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa (Mt 26,65; Mc 14,64; Lc 22,71; Gn 19,7)?  Hoặc vì các kỳ lão ghen tương (Mc 15,10) và sợ dân chúng bỏ họ đi theo ông (Lc 22,2) hay vì môn đệ Giuđa muốn bán Thầy mình (Mc 14,10; Mt 26,14; Lc 22,3)?  Xét về các lý do chính trị, xã hội, chính Philatô xác nhận: ông Giêsu đã không làm điều gì đáng chết (Lc 22,14-23; Gn 19,4); và lời tự thú của Giuđa cũng chứng minh cho sự vô tội của Người : “Tôi đã nhúng tay vào một cuộc đổ máu oan uổng” (Mt 27,4).

Tất cả các hành vi phản bội, hận thù, ghen tương, cáo gian, bỏ vạ, hèn nhát, sợ sệt kia đều là những khía cạnh của tội một mãnh lực làm cho lòng người ra tối tăm và bị kiềm chế trong vòng nô lệ.  Đức Giêsu chính là Người Đầy Tớ Đau Khổ của Giavê (Is 52,13-53,12) và chỉ là nạn nhân vô tội của tội ác loài người.

Muốn hiểu đúng ý nghĩa cái chết trên Thập giá cũng như toàn bộ mầu nhiệm Đức Kitô, ta phải chọn cái nhìn thần học, nghĩa là nhìn như Thiên Chúa nhìn vào công việc Người làm.  Nhãn quan đó cho ta thấy: Đức Kitô đã chịu chết vì tội thế gian.  Người vô tội, đã tình nguyện trở thành tội vì ta và gánh chịu hậu quả của tội là cái chết trên Thập giá (2C 5,21).  Thánh Phaolô mô tả tội như một mãnh lực độc hại, chỉ tổ gây ra chết chóc (Rm 6,23; 1C 15,55).  Với cái chết như khí giới nguy hiểm ấy tội đã thống trị loài người (Rm 5,12-21; 6,20-23).

Theo quan niệm Thánh Kinh, tội là hành động phản bội Giao ước tình yêu, và như thế cắt đứt mạch sống nối liền chúng ta với trái tim Thiên Chúa.  Tội gây ra chết chóc toàn diện và vĩnh viễn cho loài người, nếu Thiên Chúa không tự động tái lập sự sống.  Người Do Thái trong Cựu Ước đã ý thức được điều đó.  Họ biết rằng tội và sự chết là những thực tại hệ trọng đến nỗi không thể dùng các lý lẽ thuần túy nhân bản để giải thích hết được.  Họ thoáng thấy: có bàn tay hắc ám của một mãnh lực ma quái nào đó đã nhúng vào và gây nên cơ sự ấy.  Sách Khôn ngoan viết: “Vì quỷ dữ ghen tương, nên sự chết đã đột nhập vào thế gian” (Kn 2,24).  Sự chết đây không phải là cái chết thể lý thuộc bản tính tự nhiên của con người như một tạo vật làm bằng bụi tro và sẽ trở về tro bụi (Kn 8,19), nhưng là chết trong tâm hồn, chết vĩnh cửu, mà cái chết thể lý từ nay chỉ là một hình ảnh.  Theo thánh Gioan, con rắn trong vườn Địa đàng chính là hiện thân của Satan, “đứa mê hoặc thiên hạ” (Kh 12,9; 20,2).  Còn theo thánh Phaolô, chính tội loài người phạm từ nguyên thủy dưới ảnh hưởng độc hại của Satan đã mở cửa cho sự chết đột nhập vào đời và dìm tất cả trong bóng tối tử thần (Rm 5,12-21).  Như một phản ứng dây chuyền, một khi tội xuất hiện, thì càng ngày càng chồng chất dồn dập và gieo rắc sự chết khắp nơi.  Tội mạnh như thác lũ và cái chết là bằng chứng chiến thắng của nó.  Nhưng hỏi rằng: Tội có thẳng nổi tình yêu ?

2. Sức mạnh sáng tạo của tình yêu

Tình yêu luôn sáng tạo và tìm ra được nhiều cách biểu hiện, lắm khi cũng bất ngờ.  Để thắng tội kiêu căng, Đức Kitô đã chọn sống khiêm hạ và tự hư-vô-hóa (Ph 2,6).  Để thắng tội tham lam hưởng thụ, Người đã chọn sống khó nghèo (2C 8,9).  Để thắng tính háo danh trần tục, Người đã như điên rồ chọn cái chết ô nhục trên Thập giá (1C 1 ,23).  Thiên Chúa hành động cách ngược đời, và vì Người là tình yêu, nên tình yêu thắng được tội và mạnh hơn cả cái chết.

Tình yêu bao hàm chiến đấu.  Chiến đấu đòi phải có năng lực.  Quả thật, Nước Trời chỉ dành riêng cho những người mạnh (Mt 11,12) và chính Tin Mừng là một sức mạnh giải phóng (Rm 1,16).  Thiên Chúa là Đấng dũng mạnh, vì Người đầy lòng yêu thương.  Cái chết trên Thập giá của Đức Kitô là một cái chết tự nguyện vì tình yêu: Người yêu mến Chúa Cha và yêu thương chúng ta.  Người chết vì vâng lời Chúa Cha để chuộc tội nhân loại.

Đàng sau cây Thập giá xảy ra một cuộc chiến đấu vô hình giành quyền sống chết giữa tình yêu và tội ác.  Một chiến thuật đánh đổi rất ngược đời đã bẻ gãy mũi nhọn của tội và vô-hiệu-hóa sức tàn phá của nó.  Thân xác Đức Kitô đã chết lạnh, và trở thành bất động trên cây gỗ.  Về mặt nhân loại, Người đã thua.  Người đã thực nghiệm trong chính bản thân mình sự bất lực tột độ, sự yếu nhược tận cùng của thân phận làm người là cái chết thể lý.  Mãnh lực tối đa của tội là gây ra cảnh chết: cái chết vĩnh cửu của tâm hồn, mà cái chết trong thời gian của thân xác là một hình ảnh.  Chúa Kitô vô tội không thể trải qua cái chết vĩnh cửu của tâm hồn.  Nhưng Người có thể dùng cái chết của thể xác mình thay cho cái chết vĩnh cửu của tâm hồn ta.  Người chết thay cho ta là như thế – cuộc đánh đổ ấy chỉ có thể thực hiện bởi vị Thiên-Chúa-làm-người, vì mầu nhiệm Đức Kitô thuộc cơ cấu bí tích, trong đó yếu tố nhân loại hữu hình là dấu chỉ và khí cụ của yếu tố thần linh vô hình (Vat II, GH 8).  Người chết về thể xác trong thời gian, để ta khỏi chết về tâm hồn trong vĩnh cửu.  “Người mặc lấy bản tính nhân loại từ nơi lòng Mẹ Maria, để giải thoát loài người khỏi tội lỗi nhờ các mầu nhiệm của thân xác Người” (Vat II, GH 55), nhất là nhờ mầu nhiệm cái chết của Người trên Thập giá.

Người đã bị sức mạnh của tội đẩy lui đến tận cùng: Người chịu chết trong thể xác, vì yêu ta.  Chính Người thực hiện điều Người đã nói: không thể yêu hơn là yêu đến chết vì yêu (Gn 15,13).  Chịu đựng được tột mức như thế không phải là bất lực, nhưng là dấu hiệu nói lên sức mạnh vô biên.  Tình yêu có bị giết cũng vẫn không chết.  Còn tội chỉ gây ra được cái chết là hết sức mình: đó là cái chết vĩnh cửu của tâm hồn ta, từ nay được đánh đổi với cái chết thể xác trên Thập giá của Con Thiên Chúa.  Nơi đây, tội bị mãnh lực vô biên của tình yêu giết chết và tiêu diệt tận căn.  “Tội bị kết án nơi thân xác Đức Kitô” trên cây gỗ (Rm 8,3).

Chính tình yêu  được chứng minh bởi ý chí tự nguyện chịu chết vì vâng lời Chúa Cha là sức mạnh làm cho thân xác Đức Giêsu sống lại vinh hiển, nghĩa là biến hình (Mc 9,1-9) từ trạng thái thân xác thường tình bị chi phối bởi các định luật thể lý, đến trạng thái thân xác sáng láng sống theo định luật của Thần Khí tự do.  Xuyên qua cái chết tự nguyện vì tình yêu, Đức Giêsu đã vượt từ thân phận tôi đòi của kiếp người trần thế đến thiên chức Chúa Tể được siêu thăng để bá chủ muôn loài, hầu làm rạng rỡ Chúa Cha (Ph 2,7-11).  “Vượt qua,” theo thần học thánh Gioan, có nghĩa là “trở về với Chúa Cha” (Gn 13,1).  Chính sức mạnh tình yêu, sức mạnh của Thần Khí Chúa Kitô và Chúa Cha, đã tái sinh tâm hồn ta qua bí tích Thánh Tẩy.  Cũng chính sức mạnh tình yêu ấy đang tiếp tục biến đổi tâm hồn ta nhờ Thánh Thể và lời tha tội, và sẽ biến hình cả thân xác ta khi ta sống lại trong ngày sau hết.

Tình yêu mạnh hơn cái chết, vì tình yêu tiêu diệt được?  Tội là căn nguyên sinh ra nó.  Hỡi tử thần, chiến thắng của ngươi đâu?  Nọc độc ngươi còn đâu? (1C 15,55).

3. Suy Tôn Thánh Giá

Ngày thứ Sáu Tuần Thánh, trên Núi Sọ, bóng Thập giá bao trùm lên khắp mặt địa cầu.  Một xác người treo trên cây gỗ…

Thập giá ô nhục đã trở nên Thánh giá vinh quang, ngai tòa vương quyền tình yêu, vì con người treo trên cây gỗ ấy là Con Thiên Chúa, tự nguyện chịu chết vì vâng lời Chúa Cha để chuộc tội thiên hạ.  Vinh quang Thiên Chúa biểu hiện trong tình yêu.  Ách thống trị của tình yêu luôn êm ái nhẹ nhàng (Mt 11,30).

Nhưng tình yêu của Chúa Kitô mạnh mẽ hơn cái chết, vì tình yêu đã thắng được tội ác.  Tình yêu ấy có tham vọng chinh phục lòng mọi người để lấp đầy bằng sự sống mới: sự sống bởi Thần Khí tự do, là Đấng biến đổi chúng ta thành con cái Chúa Cha.  Vì thế Thập giá ô nhục đã trở nên cây ban sự sống.

Thập giá ô nhục cũng đã trở nên ngai tòa phán xét: “Tội đã bị kết án nơi thân xác Đức Kitô.”  Tòa án thế gian đã phán xét Người và lên án tử cho Người; nhưng chính khi chịu đóng đinh trên Thập giá, Người, vô tội, đã lên án tội ác thế gian.  Song là một bản án khoan hồng, tha bổng cho những người sám hối ăn năn.  Người vừa phán xét, vừa cầu ân cho những kẻ phạm tội giết Người, mà không biết mình giết Con Thiên Chúa (Lc 23,34).  Từ nay Thập giá đã dựng lên giữa lịch sử loài người để trở thành phương tiện thánh hóa và cứu độ.  Ai ngước mắt nhìn lên thánh giá Đức Kitô mà tin nhận Người là Chúa Cứu thế, thì sự sống vĩnh cửu sẽ chảy tràn vào lòng họ.  Chính Thái độ đối với thập giá đã định đoạt số mệnh mọi người.

Trong lịch sử nhân loại chỉ có một người – mà người ấy lại chính là Con Thiên Chúa – đã chịu chết ô nhục trên thập giá vì yêu thương.  Tình yêu ngược đời ấy đã đảo ngược thế sự: từ nay mọi tủi nhục, uất ức, mọi chết chóc oan uổng, mọi thua thiệt đắng cay không còn vĩnh viễn luống công một cách phi lý vì lúc mà lý trí loài người không hiểu nổi nữa, thì chính Thiên Chúa tìm ra được một sáng kiến lạ lùng: thâu dụng những cái nghịch lý ấy vào kế hoạch cứu thế của Người.  Thập giá Đức Kitô là điểm quy tụ và siêu thăng tất cả mọi tủi nhục uất ức, mọi thua thiệt oan uổng của loài người, nhất là của những người không nói lên được với ai tiếng nói và nỗi lòng mình, lại cũng chẳng được ai hiểu biết, để làm nên sự thành công tối hậu, sau cái vẻ thất bại trước mắt, và đem lại vinh dự vinh hiển cho họ.  Bởi vì sức mạnh của Thiên Chúa tự biểu dương ra trong cảnh bất lực; khôn ngoan của Thiên Chúa thích khoác chiếc áo điên rồ.  Nhưng trong sự điên rồ, có tiềm ẩn một triết lý sâu xa; triết lý của tình yêu cứu độ được viết ra trên Thập giá.

Mọi người mang dấu Thánh giá trong lòng đều là chủ thể của Chúa Cứu thế.  Họ làm thành dân Thiên Chúa, quy tụ trong Giáo hội.  Họ xây dựng Nước Trời giữa lòng thế giới bằng cách làm cho tình yêu thống trị khắp hoàn vũ.  Từ trên Núi Sọ ngày thứ Sáu Tuần Thánh, bóng Thập giá bao trùm lên mặt địa cầu, để quy tụ mọi con cái Thiên Chúa đang tản mắc khắp nơi (Gn 12,51-52).  Thập giá Chúa Kitô là trung tâm điểm của lịch sử cứu độ, nhờ tình yêu đã thắng vượt cái chết.

Tình yêu mạnh hơn cái chết, vì Thập giá Chúa Kitô đã toàn thắng tội lỗi.

Ðức Cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm