CHẾT VÀ SỐNG LẠI 

Đức Giê-su đã chết và đã sống lại!  Đó là khẳng định của Ki-tô giáo từ hai mươi thế kỷ nay.  Đó cũng là cốt lõi lời rao giảng của Giáo hội Ki-tô, ngay từ những ngày đầu.

Trước hết, chúng ta phải xác định: Chúa Giê-su đã chết trên cây thập giá.  Bởi lẽ nếu Người không chết, thì không thể nói đến sống lại.  Một người được coi là “sống lại” tức là người trước đó đã chết thực sự.  Trong lịch sử, cũng đã có những lập luận cho rằng Đức Giê-su chỉ chết lâm sàng mà không chết thật, sau đó Người hồi sinh.  Cả bốn tác giả Phúc âm đều khẳng định: Đức Giê-su đã chết khi còn bị treo trên thập giá, và đã được an táng trong mồ.

Đức Giê-su là Con Thiên Chúa nhập thể làm người.  Người cũng là Thiên Chúa quyền năng.  Vì thế thân xác của Người không bị chi phối theo quy luật vật lý thông thường, và việc Người từ cõi chết sống lại cũng không phải là bất khả thi.  Các tông đồ đều làm chứng, Chúa Giê-su đã sống lại.  Phê-rô vốn là một người dân chài đơn sơ ít học, nhưng đã trở nên can đảm lạ thường.  Trước Công nghị Do Thái, ông dõng dạc khẳng định: Đức Giê-su là Đấng Thiên sai mà Thiên Chúa của Tổ phụ chúng ta đã hứa.  Người đã bị chính quý vị hành hạ, đóng đinh và giết chết.  Thiên Chúa đã làm cho Người phục sinh, như lời Thánh Kinh, và chúng tôi xin làm chứng về điều ấy.  Trước đó, ông cũng công khai giảng dạy trước cử tọa đông đảo khách hành hương về Giê-su-sa-lem nhân ngày lễ Ngũ Tuần.  Bài giảng của ông đầy lửa và Thần Khí, nên đã có ba ngàn người xin theo Đạo.

Ngay từ thời sơ khai, Giáo hội Ki-tô đã suy tư về cái chết và sống lại của Chúa Giê-su với lăng kính phụng vụ.  Cái chết của Chúa Giê-su đích thực là một hy tế, nhằm tôn vinh Thiên Chúa.  Trên cây thập giá, Đức Giê-su dâng hiến chính thân mình làm của lễ, thay cho những của lễ cũ được quy định bởi Luật Môi-sen, như chiên, cừu, mỡ động vật, máu bò…  Tác giả thư gửi người Híp-ri đã nêu rõ: “Máu các con bò, con dê không thể nào xóa được tội lỗi.  Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Ki-tô nói: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể.  Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội.  Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây.  Con đến để thực thi ý Ngài” (Hr 10,4-7).  Như thế, theo Giáo lý Ki-tô giáo, kể từ cái chết của Chúa Giê-su, nhân loại không cần các hy lễ xưa nữa.  Hy lễ xưa chỉ là hình bóng, nay thực tại đã đến rồi thì hình bóng trở nên lỗi thời và phải nhường bước.  Vì vậy, mà trong bài Ca Thánh Thể (Tantum ergo) chúng ta hát: “hy lễ xưa nhường cho hy lễ mới”; hay bản dịch khác: “Phụng vụ xưa phải được thay, này đây nghi lễ mới”.

Về điều này, Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo viết: “Cái chết của Đức Ki-tô đồng thời vừa là hy lễ Vượt qua, mang lại ơn cứu chuộc tối hậu cho loài người, nhờ Con Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, vừa là hy lễ của Giao ước mới, cho con người lại được hiệp thông với Thiên Chúa, khi giao hòa con người với Thiên Chúa nhờ máu đổ ra cho muôn người được tha tội” (số 613).

Thánh Au-gút-ti-nô đã diễn tả rất sinh động và sâu sắc: “Người (Đức Giê-su) không có gì ở nơi mình để chết vì chúng ta, nếu Người đã không nhận lấy xác phàm phải chết của chúng ta.  Như thế, Đấng bất tử đã có thể chết.  Như thế, Người đã muốn ban sự sống cho loài người phải chết: vì chưng với những gì chúng ta có xưa, chúng ta không thể sống; cũng như với những gì là của Người trước kia, Người không thể chết” (Bài đọc II, Kinh Sách thứ Hai Tuần Thánh).  Thánh nhân muốn diễn tả: chết là bản tính của con người.  Con Thiên Chúa vốn không bao giờ chết, nhưng vì yêu thương nhân loại, nên đã mang lấy xác thịt để có thể chết.

Khi suy tư về cái chết và sự phục sinh của Đức Giê-su, Ki-tô hữu được mời gọi nhận ra cái chết và sống lại của Người nơi chính bản thân mình.  Thánh Phao-lô quảng diễn: “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” ( 2 Cr 4,10).  Thật là một điều kỳ lạ!  Chấp nhận chết với Chúa, thì có sự sống của Người nơi bản thân.  Khước từ chết với Người, sẽ không được chung phần vinh quang với Người.  Thực ra, nơi con người của chúng ta, sự chết và sự sống luôn hòa quyện đan xen.  Mỗi ngày chúng ta chết đi cho tội lỗi, ích kỷ, gian trá và những điều nhỏ nhen, thì niềm vui, sự an bình và lòng quảng đại lại được sinh ra và lớn lên trong chính tâm hồn và cuộc đời chúng ta.  Lời mời gọi sống lại với Chúa luôn vang lên trong cuộc đời của Ki-tô hữu chúng ta. “Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự.”  Đó là những cố gắng nỗ lực của một cuộc đời đã sang trang, muốn chuyển hướng định mệnh tương lai, không còn hướng xuống đất, nhưng hướng lên trời.

Nếu cái chết của Chúa Giê-su là một hy tế, thì cuộc sống của Ki-tô hữu cũng là một lễ dâng.  Thánh Phao-lô ngỏ lời với các tín hữu Rô-ma: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy ​hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa.  Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12,1).  Vâng, chính những cố gắng hy sinh, những thiện chí và quảng đại, những trách nhiệm của chúng ta đối với tha nhân, với môi trường, với công ích… đều là những của lễ đẹp lòng Chúa, nếu chúng được thực hiện với tâm tình vâng phục của Đức Giê-su.  Đó là cách thức thờ phượng mà Chúa muốn nơi chúng ta.

Trong cuộc sống hôm nay, cái chết vẫn luôn ám ảnh và hành hạ chúng ta.  Đó không chỉ là cái chết thể lý, mà còn là cái chết tinh thần, cái chết thiêng liêng.  Khi tuyên xưng: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, và sự sống đời sau,” Ki-tô hữu vừa xác tín vào sự sống lại của ngày tận thể, vừa khẳng định: hôm nay, ở đây, trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta có thể sống lại thực sự với Đức Ki-tô, nếu chúng ta cùng chết với Người.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TÌNH YÊU MẠNH HƠN CÁI CHẾT

Một trong những điều xem ra ngược đời nhất, là giữa tình yêu và cái chết có sự liên lạc chặt chẽ.  Kể cũng lạ kỳ: tình yêu là một giá trị tích cực, một khía cạnh phong phú của cuộc đời, là cao điểm của sự sống, thì tại sao khi nói tới tình yêu, người ta lại liên tưởng đến sự chết, là một mãnh lực phá hoại và dìm sự sống xuống đáy sâu?  Quả thật, một chân lý càng sâu sắc, thì càng có vẻ nghịch lý và không ngớt làm cho người ta bỡ ngỡ.  Tình yêu càng ở cao độ, càng có những đòi hỏi gắt gao và hầu như đặt con người trong thế chiến đấu: chiến đấu để loại trừ các chướng ngại, chiến đấu để đạt tới đối tượng của lòng mình.  Nhưng vì là một cuộc chiến đấu cam go, nguy hiểm, nên thường kết thúc bằng cái chết.  Do đó mà có những cái chết vì yêu: chết vì tình không được toại nguyện; chết vì muốn chung thủy với tình yêu; chết vì thương yêu quá đỗi.  Nhưng vì sao lại nói; Tình yêu mạnh hơn cái chết?

1. Chết và mãnh lực của tội

Chúng ta suy niệm về tình yêu và cái chết trong bối cảnh phụng vụ ngày thứ Sáu Tuần Thánh.  Ngày ấy, bóng Thập giá bao trùm lên khắp mặt địa cầu.  Một xác người treo trên cây gỗ.  Những giọt máu từ các vết thương loang lỗ chảy thấm xuống lòng đất.  Uy tín Con Thiên Chúa bị chôn vùi trong ô nhục.  Đó là một cái chết quá ư bi thảm!  Nhưng vì sao Người phải chết như thế?

Phải chăng vì ông Giêsu đã xách động quần chúng nổi loạn (Lc 23,2-5)?  Vì ông đã có ý tưởng phá hủy Đền thờ Giêrusalem (Mc 14,58; Mt 26,61)?  Vì ông đã phạm thượng khi tự xưng là Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa (Mt 26,65; Mc 14,64; Lc 22,71; Gn 19,7)?  Hoặc vì các kỳ lão ghen tương (Mc 15,10) và sợ dân chúng bỏ họ đi theo ông (Lc 22,2) hay vì môn đệ Giuđa muốn bán Thầy mình (Mc 14,10; Mt 26,14; Lc 22,3)?  Xét về các lý do chính trị, xã hội, chính Philatô xác nhận: ông Giêsu đã không làm điều gì đáng chết (Lc 22,14-23; Gn 19,4); và lời tự thú của Giuđa cũng chứng minh cho sự vô tội của Người : “Tôi đã nhúng tay vào một cuộc đổ máu oan uổng” (Mt 27,4).

Tất cả các hành vi phản bội, hận thù, ghen tương, cáo gian, bỏ vạ, hèn nhát, sợ sệt kia đều là những khía cạnh của tội một mãnh lực làm cho lòng người ra tối tăm và bị kiềm chế trong vòng nô lệ.  Đức Giêsu chính là Người Đầy Tớ Đau Khổ của Giavê (Is 52,13-53,12) và chỉ là nạn nhân vô tội của tội ác loài người.

Muốn hiểu đúng ý nghĩa cái chết trên Thập giá cũng như toàn bộ mầu nhiệm Đức Kitô, ta phải chọn cái nhìn thần học, nghĩa là nhìn như Thiên Chúa nhìn vào công việc Người làm.  Nhãn quan đó cho ta thấy: Đức Kitô đã chịu chết vì tội thế gian.  Người vô tội, đã tình nguyện trở thành tội vì ta và gánh chịu hậu quả của tội là cái chết trên Thập giá (2C 5,21).  Thánh Phaolô mô tả tội như một mãnh lực độc hại, chỉ tổ gây ra chết chóc (Rm 6,23; 1C 15,55).  Với cái chết như khí giới nguy hiểm ấy tội đã thống trị loài người (Rm 5,12-21; 6,20-23).

Theo quan niệm Thánh Kinh, tội là hành động phản bội Giao ước tình yêu, và như thế cắt đứt mạch sống nối liền chúng ta với trái tim Thiên Chúa.  Tội gây ra chết chóc toàn diện và vĩnh viễn cho loài người, nếu Thiên Chúa không tự động tái lập sự sống.  Người Do Thái trong Cựu Ước đã ý thức được điều đó.  Họ biết rằng tội và sự chết là những thực tại hệ trọng đến nỗi không thể dùng các lý lẽ thuần túy nhân bản để giải thích hết được.  Họ thoáng thấy: có bàn tay hắc ám của một mãnh lực ma quái nào đó đã nhúng vào và gây nên cơ sự ấy.  Sách Khôn ngoan viết: “Vì quỷ dữ ghen tương, nên sự chết đã đột nhập vào thế gian” (Kn 2,24).  Sự chết đây không phải là cái chết thể lý thuộc bản tính tự nhiên của con người như một tạo vật làm bằng bụi tro và sẽ trở về tro bụi (Kn 8,19), nhưng là chết trong tâm hồn, chết vĩnh cửu, mà cái chết thể lý từ nay chỉ là một hình ảnh.  Theo thánh Gioan, con rắn trong vườn Địa đàng chính là hiện thân của Satan, “đứa mê hoặc thiên hạ” (Kh 12,9; 20,2).  Còn theo thánh Phaolô, chính tội loài người phạm từ nguyên thủy dưới ảnh hưởng độc hại của Satan đã mở cửa cho sự chết đột nhập vào đời và dìm tất cả trong bóng tối tử thần (Rm 5,12-21).  Như một phản ứng dây chuyền, một khi tội xuất hiện, thì càng ngày càng chồng chất dồn dập và gieo rắc sự chết khắp nơi.  Tội mạnh như thác lũ và cái chết là bằng chứng chiến thắng của nó.  Nhưng hỏi rằng: Tội có thẳng nổi tình yêu ?

2. Sức mạnh sáng tạo của tình yêu

Tình yêu luôn sáng tạo và tìm ra được nhiều cách biểu hiện, lắm khi cũng bất ngờ.  Để thắng tội kiêu căng, Đức Kitô đã chọn sống khiêm hạ và tự hư-vô-hóa (Ph 2,6).  Để thắng tội tham lam hưởng thụ, Người đã chọn sống khó nghèo (2C 8,9).  Để thắng tính háo danh trần tục, Người đã như điên rồ chọn cái chết ô nhục trên Thập giá (1C 1 ,23).  Thiên Chúa hành động cách ngược đời, và vì Người là tình yêu, nên tình yêu thắng được tội và mạnh hơn cả cái chết.

Tình yêu bao hàm chiến đấu.  Chiến đấu đòi phải có năng lực.  Quả thật, Nước Trời chỉ dành riêng cho những người mạnh (Mt 11,12) và chính Tin Mừng là một sức mạnh giải phóng (Rm 1,16).  Thiên Chúa là Đấng dũng mạnh, vì Người đầy lòng yêu thương.  Cái chết trên Thập giá của Đức Kitô là một cái chết tự nguyện vì tình yêu: Người yêu mến Chúa Cha và yêu thương chúng ta.  Người chết vì vâng lời Chúa Cha để chuộc tội nhân loại.

Đàng sau cây Thập giá xảy ra một cuộc chiến đấu vô hình giành quyền sống chết giữa tình yêu và tội ác.  Một chiến thuật đánh đổi rất ngược đời đã bẻ gãy mũi nhọn của tội và vô-hiệu-hóa sức tàn phá của nó.  Thân xác Đức Kitô đã chết lạnh, và trở thành bất động trên cây gỗ.  Về mặt nhân loại, Người đã thua.  Người đã thực nghiệm trong chính bản thân mình sự bất lực tột độ, sự yếu nhược tận cùng của thân phận làm người là cái chết thể lý.  Mãnh lực tối đa của tội là gây ra cảnh chết: cái chết vĩnh cửu của tâm hồn, mà cái chết trong thời gian của thân xác là một hình ảnh.  Chúa Kitô vô tội không thể trải qua cái chết vĩnh cửu của tâm hồn.  Nhưng Người có thể dùng cái chết của thể xác mình thay cho cái chết vĩnh cửu của tâm hồn ta.  Người chết thay cho ta là như thế – cuộc đánh đổ ấy chỉ có thể thực hiện bởi vị Thiên-Chúa-làm-người, vì mầu nhiệm Đức Kitô thuộc cơ cấu bí tích, trong đó yếu tố nhân loại hữu hình là dấu chỉ và khí cụ của yếu tố thần linh vô hình (Vat II, GH 8).  Người chết về thể xác trong thời gian, để ta khỏi chết về tâm hồn trong vĩnh cửu.  “Người mặc lấy bản tính nhân loại từ nơi lòng Mẹ Maria, để giải thoát loài người khỏi tội lỗi nhờ các mầu nhiệm của thân xác Người” (Vat II, GH 55), nhất là nhờ mầu nhiệm cái chết của Người trên Thập giá.

Người đã bị sức mạnh của tội đẩy lui đến tận cùng: Người chịu chết trong thể xác, vì yêu ta.  Chính Người thực hiện điều Người đã nói: không thể yêu hơn là yêu đến chết vì yêu (Gn 15,13).  Chịu đựng được tột mức như thế không phải là bất lực, nhưng là dấu hiệu nói lên sức mạnh vô biên.  Tình yêu có bị giết cũng vẫn không chết.  Còn tội chỉ gây ra được cái chết là hết sức mình: đó là cái chết vĩnh cửu của tâm hồn ta, từ nay được đánh đổi với cái chết thể xác trên Thập giá của Con Thiên Chúa.  Nơi đây, tội bị mãnh lực vô biên của tình yêu giết chết và tiêu diệt tận căn.  “Tội bị kết án nơi thân xác Đức Kitô” trên cây gỗ (Rm 8,3).

Chính tình yêu  được chứng minh bởi ý chí tự nguyện chịu chết vì vâng lời Chúa Cha là sức mạnh làm cho thân xác Đức Giêsu sống lại vinh hiển, nghĩa là biến hình (Mc 9,1-9) từ trạng thái thân xác thường tình bị chi phối bởi các định luật thể lý, đến trạng thái thân xác sáng láng sống theo định luật của Thần Khí tự do.  Xuyên qua cái chết tự nguyện vì tình yêu, Đức Giêsu đã vượt từ thân phận tôi đòi của kiếp người trần thế đến thiên chức Chúa Tể được siêu thăng để bá chủ muôn loài, hầu làm rạng rỡ Chúa Cha (Ph 2,7-11).  “Vượt qua,” theo thần học thánh Gioan, có nghĩa là “trở về với Chúa Cha” (Gn 13,1).  Chính sức mạnh tình yêu, sức mạnh của Thần Khí Chúa Kitô và Chúa Cha, đã tái sinh tâm hồn ta qua bí tích Thánh Tẩy.  Cũng chính sức mạnh tình yêu ấy đang tiếp tục biến đổi tâm hồn ta nhờ Thánh Thể và lời tha tội, và sẽ biến hình cả thân xác ta khi ta sống lại trong ngày sau hết.

Tình yêu mạnh hơn cái chết, vì tình yêu tiêu diệt được?  Tội là căn nguyên sinh ra nó.  Hỡi tử thần, chiến thắng của ngươi đâu?  Nọc độc ngươi còn đâu? (1C 15,55).

3. Suy Tôn Thánh Giá

Ngày thứ Sáu Tuần Thánh, trên Núi Sọ, bóng Thập giá bao trùm lên khắp mặt địa cầu.  Một xác người treo trên cây gỗ…

Thập giá ô nhục đã trở nên Thánh giá vinh quang, ngai tòa vương quyền tình yêu, vì con người treo trên cây gỗ ấy là Con Thiên Chúa, tự nguyện chịu chết vì vâng lời Chúa Cha để chuộc tội thiên hạ.  Vinh quang Thiên Chúa biểu hiện trong tình yêu.  Ách thống trị của tình yêu luôn êm ái nhẹ nhàng (Mt 11,30).

Nhưng tình yêu của Chúa Kitô mạnh mẽ hơn cái chết, vì tình yêu đã thắng được tội ác.  Tình yêu ấy có tham vọng chinh phục lòng mọi người để lấp đầy bằng sự sống mới: sự sống bởi Thần Khí tự do, là Đấng biến đổi chúng ta thành con cái Chúa Cha.  Vì thế Thập giá ô nhục đã trở nên cây ban sự sống.

Thập giá ô nhục cũng đã trở nên ngai tòa phán xét: “Tội đã bị kết án nơi thân xác Đức Kitô.”  Tòa án thế gian đã phán xét Người và lên án tử cho Người; nhưng chính khi chịu đóng đinh trên Thập giá, Người, vô tội, đã lên án tội ác thế gian.  Song là một bản án khoan hồng, tha bổng cho những người sám hối ăn năn.  Người vừa phán xét, vừa cầu ân cho những kẻ phạm tội giết Người, mà không biết mình giết Con Thiên Chúa (Lc 23,34).  Từ nay Thập giá đã dựng lên giữa lịch sử loài người để trở thành phương tiện thánh hóa và cứu độ.  Ai ngước mắt nhìn lên thánh giá Đức Kitô mà tin nhận Người là Chúa Cứu thế, thì sự sống vĩnh cửu sẽ chảy tràn vào lòng họ.  Chính Thái độ đối với thập giá đã định đoạt số mệnh mọi người.

Trong lịch sử nhân loại chỉ có một người – mà người ấy lại chính là Con Thiên Chúa – đã chịu chết ô nhục trên thập giá vì yêu thương.  Tình yêu ngược đời ấy đã đảo ngược thế sự: từ nay mọi tủi nhục, uất ức, mọi chết chóc oan uổng, mọi thua thiệt đắng cay không còn vĩnh viễn luống công một cách phi lý vì lúc mà lý trí loài người không hiểu nổi nữa, thì chính Thiên Chúa tìm ra được một sáng kiến lạ lùng: thâu dụng những cái nghịch lý ấy vào kế hoạch cứu thế của Người.  Thập giá Đức Kitô là điểm quy tụ và siêu thăng tất cả mọi tủi nhục uất ức, mọi thua thiệt oan uổng của loài người, nhất là của những người không nói lên được với ai tiếng nói và nỗi lòng mình, lại cũng chẳng được ai hiểu biết, để làm nên sự thành công tối hậu, sau cái vẻ thất bại trước mắt, và đem lại vinh dự vinh hiển cho họ.  Bởi vì sức mạnh của Thiên Chúa tự biểu dương ra trong cảnh bất lực; khôn ngoan của Thiên Chúa thích khoác chiếc áo điên rồ.  Nhưng trong sự điên rồ, có tiềm ẩn một triết lý sâu xa; triết lý của tình yêu cứu độ được viết ra trên Thập giá.

Mọi người mang dấu Thánh giá trong lòng đều là chủ thể của Chúa Cứu thế.  Họ làm thành dân Thiên Chúa, quy tụ trong Giáo hội.  Họ xây dựng Nước Trời giữa lòng thế giới bằng cách làm cho tình yêu thống trị khắp hoàn vũ.  Từ trên Núi Sọ ngày thứ Sáu Tuần Thánh, bóng Thập giá bao trùm lên mặt địa cầu, để quy tụ mọi con cái Thiên Chúa đang tản mắc khắp nơi (Gn 12,51-52).  Thập giá Chúa Kitô là trung tâm điểm của lịch sử cứu độ, nhờ tình yêu đã thắng vượt cái chết.

Tình yêu mạnh hơn cái chết, vì Thập giá Chúa Kitô đã toàn thắng tội lỗi.

Ðức Cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

ĐỂ XEM TRỜI GIẢI NGHĨA TÌNH YÊU

Anh chị em thân mến,

Con người thời nào cũng đi tìm tình yêu.  Người ta nói nhiều về tình yêu, viết nhiều về tình yêu, hát nhiều về tình yêu.  Người ta dành những ngày đặc biệt cho tình yêu.  Thế nhưng, càng sống, người ta càng thấy một điều rất thật: nói về tình yêu thì dễ, nhưng hiểu cho đúng tình yêu lại rất khó.  Ai cũng muốn được yêu, nhưng không phải ai cũng biết yêu thế nào cho đúng.  Ai cũng thích nghe những lời ngọt ngào, nhưng không phải ai cũng đủ sức đi đến tận cùng của hy sinh, của tha thứ, của trao ban.

Bởi thế, nếu hôm nay có ai hỏi chúng ta: Tình yêu thật là gì?  Yêu cho đúng nghĩa là gì?  Có lẽ không nơi nào trả lời sâu bằng phụng vụ Thứ Năm Tuần Thánh.

Nhà thơ Xuân Diệu có một câu rất đẹp: “Và để xem Trời giải nghĩa tình yêu.”

Tối nay, chúng ta đến đây, không chỉ để tham dự một nghi thức phụng vụ long trọng.  Chúng ta đến đây để xem Trời giải nghĩa tình yêu.  Bởi vì chỉ có Thiên Chúa là Tình Yêu, nên chỉ có Ngài mới có thể nói cho con người biết: yêu là gì.

1. Tình yêu thật không phải là giữ lại, nhưng là trao ban

Bài đọc thứ nhất đưa chúng ta trở về đêm Vượt Qua đầu tiên của dân Israel nơi đất Ai Cập.  Đó là một đêm rất đặc biệt, một đêm đầy khẩn trương, một đêm không thể quên.  Mỗi gia đình phải sát tế một con chiên, lấy máu bôi lên khung cửa.  Và chính nhờ máu ấy mà dân Chúa được cứu thoát khỏi tai ương, khỏi án phạt, khỏi kiếp nô lệ, để bước vào con đường tự do.

Nhưng câu chuyện ấy không chỉ là một biến cố lịch sử của dân Do Thái.  Đó còn là một hình bóng, một lời báo trước về một cuộc Vượt Qua lớn lao hơn, sâu xa hơn, cứu độ hơn.

Con chiên năm xưa chính là hình bóng của Đức Giêsu Kitô, Chiên Vượt Qua mới.  Nếu ngày xưa dân được cứu nhờ máu chiên, thì hôm nay nhân loại được cứu nhờ Máu của Con Thiên Chúa.

Và  trong bài đọc II, nói về bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã làm một điều không ai có thể tưởng tượng nổi: Ngài không chỉ nói về tình yêu.  Ngài không chỉ dạy phải yêu thương.  Ngài biến chính mình thành của ăn cho nhân loại.

“Này là Mình Thầy… Này là Chén Máu Thầy…”

Chưa bao giờ tình yêu đi xa đến thế.  Chưa bao giờ tình yêu hạ mình đến thế.  Chưa bao giờ Thiên Chúa ở gần con người đến thế.  Ngài không cho chúng ta một món quà bên ngoài Ngài.  Ngài cho chính bản thân Ngài.

Đó là định nghĩa đầu tiên và sâu nhất của tình yêu theo kiểu của Thiên Chúa: Tình yêu là trao ban chính mình, chính mạng sống của mình.

2. Nhưng tình yêu ấy không chỉ dừng lại trên bàn thờ, mà phải đi xuống tận đôi chân

Thế nhưng, nếu tình yêu chỉ dừng lại nơi bàn tiệc, thì vẫn chưa đủ.

Điều rất lạ là trong khi các Tin Mừng Nhất Lãm kể rất rõ việc Chúa Giêsu cầm bánh, cầm chén và lập Bí tích Thánh Thể, còn trong Tin Mừng Gioan lại không kể lại lời truyền phép.  Thay vào đó, thánh Gioan dẫn chúng ta đến một hình ảnh khác: Chúa Giêsu cúi xuống rửa chân cho các môn đệ.

Một hình ảnh vừa đẹp, vừa lạ, vừa gây ngỡ ngàng.  Bởi vì Đấng đang quỳ xuống đó không phải là một người đầy tớ.  Đó là Thầy, là Chúa, là Con Thiên Chúa.

Đôi tay đã dựng nên vũ trụ, giờ đây lại cầm lấy chân bụi đất của con người.  Đấng mà thiên thần thờ lạy, giờ đây lại quỳ xuống trước những con người yếu đuối, đầy giới hạn, thậm chí có kẻ sắp phản bội Ngài.

Tại sao Chúa lại làm như thế?

Bởi vì Chúa muốn cho các môn đệ hiểu một điều mà nếu chỉ nghe bằng tai thì chưa đủ, nhưng phải nhìn bằng mắt và cảm bằng tim: Ai đón nhận Thánh Thể, thì phải sống tinh thần của Thánh Thể.  Ai ăn Mình Chúa, thì phải biết sống như Chúa.

Mà sống như Chúa là gì?  Là biết cúi xuống. – Là biết phục vụ. – Là biết nhẫn nại. – Là biết chịu đựng nhau. – Là biết tha thứ – Là biết yêu nhau đến cùng.

Theo cách nghĩ của thế gian, cao là để được phục vụ.  Có quyền là để người khác nể mình.  Có vị trí là để người khác nghe mình.

Nhưng nơi Chúa Giêsu, mọi sự bị đảo ngược hoàn toàn: Theo Chúa, cao là để cúi xuống sâu hơn, có quyền có địa vị là để phục vụ nhiều hơn, yêu không phải là được nhận, mà là dám cho đi, dám hạ mình, dám mang lấy phần nặng của người khác.

Có lẽ đây là chỗ khó nhất của tình yêu.  Bởi vì nói yêu thì dễ, nhưng cúi xuống vì người mình yêu thì không dễ chút nào.

Cho nên, nếu tối nay Chúa chỉ lập Bí tích Thánh Thể mà không rửa chân cho các môn đệ, thì chúng ta vẫn có thể hiểu sai về tình yêu.  Chúng ta có thể nghĩ rằng yêu Chúa chỉ là chuyện của bàn thờ, chuyện của nhà thờ, chuyện của kinh nguyện.  Nhưng Chúa Giêsu muốn kéo tình yêu ấy xuống sàn nhà của đời thường, xuống chậu nước của phục vụ, xuống những tương quan cụ thể giữa người với người.

3. Thứ Năm Tuần Thánh là hành trình từ bàn tiệc đến chậu nước

Vì thế, Thứ Năm Tuần Thánh không chỉ là ngày Chúa lập Bí tích Thánh Thể.  Mà còn là ngày Chúa dạy chúng ta cách sống Bí tích Thánh Thể.

Có thể nói thật ngắn mà rất trúng như thế này:

Bí tích Thánh Thể được cử hành trong nhà thờ – còn việc rửa chân phải được thực hiện trong cuộc sống.

Bí tích Thánh Thể diễn ra trên bàn thờ –  còn việc rửa chân phải diễn ra trong gia đình, trong cộng đoàn, trong giáo xứ, trong từng tương quan mỗi ngày.

Bí tích Thánh Thể đưa ta đến với Chúa – còn việc rửa chân đưa ta đến với anh em.

Bí tích Thánh Thể dạy ta thưa với Chúa: “Con yêu mến Chúa” – còn việc rửa chân buộc ta chứng minh: “Con thật sự yêu người bên cạnh con.”

Cho nên, sống Thứ Năm Tuần Thánh là bước vào một hành trình rất rõ:

Từ bàn tiệc đến chậu nước. – Từ Thánh Thể đến bác ái.  Từ hiệp lễ đến hiến thân.

4. Và đây là lời mời gọi rất thật cho gia đình, cộng đoàn, giáo xứ của chúng ta

Tối nay, Chúa không mời chúng ta làm điều gì xa vời.  Ngài chỉ mời chúng ta bắt đầu từ những điều rất gần.

Rửa chân hôm nay không chỉ là nghi thức, mà là một lối sống.

Rửa chân là khi vợ chồng biết nhịn nhau một chút.  Rửa chân là khi cha mẹ biết lắng nghe con cái.  Rửa chân là khi con cái biết hiếu thảo với cha mẹ.  Rửa chân là khi anh chị em trong cộng đoàn biết bớt xét đoán, bớt làm đau nhau bằng lời nói và thái độ.

Có những người đi lễ rất đều, đọc kinh rất chăm, nhưng lại không sống hòa thuận được với những người xung quanh mình.

Cho nên, điều Hội Thánh cần hôm nay không phải chỉ là thêm nghi thức, mà là thêm tình yêu được sống thật.

Không phải chỉ cần những người giỏi nói về Chúa, mà cần những người để người khác có thể chạm được Chúa nơi cách sống của mình.

Ước gì mỗi lần tham dự Thánh Lễ, chúng ta không chỉ biết rước Chúa vào lòng, mà còn biết mang trái tim của Chúa vào cuộc sống.

Để rồi gia đình chúng ta sẽ bớt lạnh hơn, cộng đoàn chúng ta sẽ bớt tổn thương nhau hơn, giáo xứ chúng ta sẽ dịu dàng hơn, và đời sống chúng ta sẽ trở thành một lời chứng sống động rằng: Ở đây, người ta không chỉ nói về tình yêu, mà người ta đang sống tình yêu của Chúa.  Amen.

Lm Giuse Hồ Ngọc Vũ