NGỌN LỬA TÌNH YÊU

Tại một khu phố cổ Ấn Độ, trên đường cũng như trong nhà thường không có đèn.  Giữa những khu phố như thế, thỉnh thoảng người ta thấy mọc lên một ngôi đền Ấn Giáo.  Dĩ nhiên, trong những ngôi đền như thế, ánh sáng cũng không được đốt lên thường xuyên.

Từ trên nóc đền thờ cũng như dọc theo bốn bức tường, họ treo những chiếc lồng đèn.  Khoảng trống trong những chiếc lồng đèn ấy vừa vặn để cho vào một chiếc đèn dầu.

Bình thường ngôi đền thờ vắng lạnh vì tăm tối.  Nhưng cứ mỗi sáng sớm, khi các tín hữu dùng đèn dầu soi đường để đi qua các khu phố đến đền thờ cầu nguyện, họ cũng mang chính những ngọn đèn ấy và đặt vào trong những chiếc lồng đèn trong đền thờ.  Thành ra, khi mỗi tín hữu đặt ngọn đèn của mình vào trong các lồng đèn, thì ngôi đền thờ bỗng sáng rực lên một cách lạ kỳ.

*************************

“Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên” (Lc 12,49).  Đó là tâm nguyện của Đức Giêsu và cũng là trách nhiệm của mỗi người tín hữu chúng ta:  Thế giới này là một ngôi đền thờ rộng lớn mà mỗi tín hữu phải đặt vào đó ngọn lửa tình yêu, để thế giới này bừng sáng lên tình anh em một nhà.

Ngọn lửa mà Đức Giêsu đã ném vào thế giới này, chính là ngọn lửa tình yêu vẫn bừng cháy trong trái tim Người; là ngọn lửa phục sinh đã bừng lên trong tâm hồn người tín hữu giữa đêm tăm tối, cùng là ngọn lửa Thánh Thần đã bừng sáng trí khôn các tông đồ ngày lễ Ngũ Tuần.

Nếu con người cần cơm bánh để sống còn, thì họ cũng cần tình thương để tồn tại.

Nếu con người cần áo quần để che thân, thì họ cũng cần tình thương để sưởi ấm.

Nếu lòng hai môn đệ Emmau đã bừng cháy lên khi nghe Lời Chúa, thì nhân loại sao chẳng rực sáng lên khi nghe lời yêu thương của Người?

Lời yêu thương đã được viết lên trên cây thập giá, trong cuộc khổ nạn đau thương, đó chính là phép rửa mà Đức Giêsu phải chịu, để ném lửa yêu thương vào trần gian.

Như Thiên Chúa Giavê đã hiện ra với Mô-sê nơi bụi gai cháy sáng và kêu gọi ông đi chu toàn sứ mạng, nay Người cũng sai chúng ta đi loan báo sứ điệp yêu thương cho trần thế.

Như Đức Giêsu đã đẩy lui bóng tối tử thần bằng ánh sáng Phục Sinh và sai các môn đệ đi loan báo tin vui, nay Người cũng mời gọi chúng ta hãy xua tan bóng tối của bất công, hận thù, nghèo đói với ánh sáng của tình thương cứu độ.

Như Thánh Thần đã ngự xuống trên các tông đồ dưới hình lưỡi lửa để biến họ thành chứng nhân Nước Trời, nay Người cũng muốn chúng ta mang ngọn lửa tình yêu, thanh luyện và sưởi ấm các tâm hồn.

Mahatma Gandhi, vị thánh của Ấn Độ đã nhận định rất sâu sắc về ngọn lửa tình yêu này như sau:  “Một vật cứng rắn đến đâu, cũng sẽ tan chảy trong lửa tình yêu.  Nếu vật ấy không tan chảy, chính vì ngọn lửa không đủ mạnh.”

*************************

Lạy Chúa, xin đốt lên trong chúng con ngọn lửa từ trái tim yêu thương của Chúa, để chúng con soi sáng những ai còn ngồi trong tối tăm, sưởi ấm những kẻ đang lạnh lùng, thanh luyện những cõi lòng chai đá, để khắp nơi trên trái đất này tràn đầy ánh lửa tình yêu Chúa.

Thiên Phúc

NGƯỜI THIÊN THAI GIỮA TRẦN AI

Theo thị kiến của thánh nữ Catherina Emmerich về cái chết của Mẹ Ma-ri-a thì Mẹ mất vào khoảng 80 tuổi đời.  Các Thánh Tông Ðồ lo liệu táng xác Mẹ vào một hang mộ.  Thánh Tô-ma khi ấy đang đi công tác rao giảng Tin Mừng ở Ấn độ trở về chậm mất mấy ngày.  Trong cơn đau đớn của người con bị mất Mẹ mà ông hết dạ kính yêu, ông đòi phải mở hầm mộ ra cho ông được nhìn lại Mẹ của ông lần cuối để ông đành lòng cam chịu ý nghĩ người Mẹ muôn vàn yêu quý đã thực sự qua đời. Các Thánh Tông Ðồ đành phải lăn tảng đá bít kín ngôi mộ của Mẹ Ma-ri-a theo sự đòi hỏi đáng thương của Thánh Tô-ma.

Và người ta thấy ngôi mộ trống trơn.  Không còn di hài của Mẹ ở trong đó nữa, không còn dấu vết hình hài người Mẹ cao cả đã từng nửa thế kỷ sống bên cạnh những người con Tông Ðồ, trong ánh nắng hồng của miền Ga-li-lê hay trong ánh nến biếc của Giáo hội sơ khai giữa những đêm nguyện cầu. Vậy mà phút chốc người ta không còn tìm thấy Mẹ đâu nữa, phần mộ thế gian không cất giữ được tấm hình hài thiêng liêng của Mẹ.  Mẹ đã thực sự đi vào không gian tâm tưởng hoài niệm của các con Mẹ.

Trong cuộc đời của chúng ta cũng thường chứng nghiệm được điều này:  là khi một người thân yêu của ta đã mất đi, chính lúc ấy ta thực sự biết rằng người đó đang sống hơn bao giờ hết trong lòng ta, và luôn luôn gần gũi bên ta mãi mãi.

************************

Tuy nhiên Ðức Mẹ không chỉ bất diệt trong tâm hồn thánh Tô-ma và các Thánh Tông Ðồ khi họ không còn thấy lại thân xác của Mẹ trong mồ nữa, mà từ đó Mẹ Ma-ri-a đã hiện ra khắp nơi trên trái đất, từ phương Ðông cho đến phương Tây, từ phương Nam cho chí phương Bắc, Mẹ không để cho con cái loài người của Mẹ lâm cảnh bơ vơ côi cút.  Từ hai ngàn năm nay, cách riêng trong thế kỷ hai mươi, Mẹ đã hiện ra đến 300 nơi chốn trên toàn thế giới.

Từ Lourdes đến Fatima Bồ-đào-nha năm 1916-1917, là trọng tâm của Sứ Ðiệp kêu gọi Ăn năn hối cải.  Lần chuỗi Mân Côi.  Ðền tạ Thánh Thể.  Sống khiết tịnh.

Trong khi nhân loại đang trên bờ vực tự hủy diệt vì muôn ngàn tội lỗi, Mẹ đã cho biết trước Thế Chiến Thứ I sẽ kết thúc và kế tiếp Thế Chiến thứ II sắp xảy ra vô cùng thảm khốc và ngày 13.7.1917 Mẹ hứa cùng 3 em bé Jacintha, Lucia và Francisco ở Fatima “Ta sẽ cho nước Nga được trở lại”, kèm theo nhiều phép lạ cả thể.

Mẹ cũng đã hiện ra liên tiếp nhiều nơi khác để loan báo cùng một sứ điệp mang lại sự hòa giải cho loài người.  Ðã biết bao lần Mẹ đã xoay chiều hướng đi của lịch sử nhân loại qua những sự can thiệp bất ngờ của Ðức Mẹ trong kế đồ mưu sự hòa bình cho thế giới.

Sứ điệp yêu thương của Mẹ trải dài thiên thu nhật nguyệt.  Riêng ở Việt Nam chúng ta có Ðức Mẹ Trà Kiệu, Ðức Mẹ La Vang 1798.  Mẹ hiện ra trong cơn cấm cách bắt đạo thời triều Nguyễn, để cứu các tín đồ Thiên Chúa giáo và ban nhiều phép lạ cứu giúp hơn hai trăm năm nay cho cả người ngoại đạo.

************************

Như vậy, chỉ trong khoảnh khắc sự kiện thân xác của Ðức Mẹ không còn được trông thấy trong mộ phần thế gian được sáng tỏ đến thiên thu.  Thiên Chúa muốn cho toàn thể con cái loài người trên hoàn vũ đều được chiêm ngưỡng sức sống cứu độ trên dung nhan yêu kiều diễm lệ của Mẹ Người, có nghĩa là sau cuộc sống trần gian “Ðức Ma-ri-a được Thiên Chúa đem lên Trời cả hồn lẫn xác.”

Giáo hội La Mã ngày 15.8 năm 650 đã chính thức cử hành Ðại Lễ mừng Kính “Ðức Mẹ Hồn Xác lên trời”.  Năm 1950, Ðức Giáo Hoàng Pio XII trong Ðịnh Tín Vô Ngộ đã xác nhận:

“Ta xác nhận, tuyên bố và định tín rằng đây là một Tín điều do Thiên Chúa mạc khải, là Mẹ Thiên Chúa vô nhiễm, Ðức Ma-ri-a trọn đời đồng trinh, sau khi kết thúc cuộc sống của người trên dương thế, đã được đem cả hồn xác lên hưởng vinh quang Thiên Quốc.”

Ðược giữ gìn tinh sạch khỏi mọi vết nguyên tội và sau khi đã hoàn tất cuộc đời trần thế, Ðức Nữ Trinh Vô Nhiễm đã được đưa lên hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác, và được Thiên Chúa tôn vinh làm nữ vương Vũ trụ, để nên giống Con Ngài trọn vẹn hơn, là Chúa các Chúa, Ðấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết.

Với hình ảnh Người Mẹ đi về không ngớt từ hai ngàn năm nay, Mẹ Ma-ri-a đã cùng với thế giới ẩn tàng trong một chân lý duy nhất:  Con người phải thực hiện sự sống toàn diện của nó và chỉ có thể an trú trong cõi vô cùng.

Mẹ không ngớt kêu xin người tội lỗi ăn năn trở lại, bởi vì trong tội lỗi con người đã tự mình đứng về phía hữu hạn, chống lại cõi vô hạn vốn là nguyên ủy của chính bản thân mình.  Bởi cho cuộc đời như bóng câu qua cửa sổ, con người từ khi sinh ra luôn thấy khát khao vẻ đẹp và nguồn vui, nhưng có sống muôn triệu năm con người vẫn thường thấy mình thiếu thốn.  Những lạc thú trong đời tự nó không có gì nhiều, chỉ do lòng ham muốn của ta biến đổi nó thành ảo tượng.  Do đó con người luôn tự biết mình cần một cái gì rộng lớn hơn, bởi sống mãi cùng sự kém cỏi hơn mình là một điều đau khổ sâu xa.  Giữa cuộc đời này cưu mang nơi nó cùng lúc sự chết và sự sống, sự ác và sự thiện, bóng tối và ánh sáng, những điều cực tiểu và cực đại, ti tiện và cao quý, tủi nhục và vinh quang, đau khổ và phúc lạc, Thiên Chúa đã ban cho nhân loại mẫu người thiên thai là Mẹ Ma-ri-a, để dạy cho ta biết thương yêu, biết cho đi hết cái tôi phàm trần dòn mỏng của mình, bởi tự kỷ chúng ta không được hoàn bị, chúng ta còn phải tiến đến sinh thành.  Nếu cứ phải lặp đi lặp lại hằng hà sa số những kiếp làm người trần ai, hẳn ta phải tưởng tượng ra cái vô cùng tận kinh hoàng của luân hồi địa ngục.

Mẹ Ma-ri-a là người nữ đầu tiên của loài người đã thưa “Xin Vâng” cùng Thiên Chúa.  Mẹ nhận lãnh công việc của Thiên Chúa, với sứ mạng làm Mẹ Chúa Giê-su, ngay khi tại thế, Mẹ chính là Ơn Cứu Rỗi.  Thiên Chúa ngụ trong Mẹ, và Mẹ đã ở trong Người.  Ðể xóa bỏ thân phận ngục tù thế gian cho chúng ta, Mẹ đã từ khước bản thân mình, phó thác trọn vẹn, với ý chí mãnh liệt dấn thân giữa trần thế, nhưng với bản ngã thần linh.  Thật vậy, cái gọi là tri thức của con người không bao giờ có thể chiếm hữu được cái hữu thể vô hạn của chúng ta, vốn không thể mãn nguyện trong biên giới của tự nhiên, và phải cảm nhận được cái vô cùng mà ta biết rằng không bao giờ ta nắm bắt được bao lâu ta còn ở trong trần thế.

Vậy mà lạ thay, đó mới thật sự là hạnh phúc!  Ðó là một cái gì lớn hơn, cái mà mình không bao giờ mong có được, một mối mơ không bao giờ mất, bởi trong thân phận làm người, chúng ta đã từng có được gì đâu.

Ngày 15.8 Lễ Ðức Mẹ Lên Trời Hồn Xác chính là ngày đại lễ ước mơ của mỗi người chúng ta, bởi chúng ta được thông phần ơn cứu chuộc và thánh hóa cùng Ðức Mẹ.  Sứ điệp của Mẹ từ hai ngàn năm nay là chiếc tàu Nô-ê của chúng ta.  Cho nên để đón nhận nước Thiên Chúa ngay giữa trần gian này ngõ hầu chuẩn bị ngày Chúa quang lâm, chúng ta hãy nên như trẻ thơ chỉ biết yêu mến và cậy trông vào Mẹ, xin Mẹ dạy ta hai tiếng “Xin Vâng”, vượt thoát mọi lý lẽ, mọi hoàn cảnh thế gian.  Lời Kinh Mai Khôi vang lên qua bao thế kỷ, lan tỏa khắp mọi không gian, cho tất cả hiện tại trở thành vĩnh hằng, chúng ta đi theo Ðấng đã “Xin Vâng”, Ngôi Lời ở trên môi, nào có xa vời, vốn không hề nơi đâu khác.

Chúng ta chiêm ngắm đường đi nẻo về của Người Mẹ tôn nghiêm và vĩnh cửu, Người Mẹ đẹp tuyệt trần, lồng lộng cao sang trên đường mây cánh gió.  Mắt Mẹ dịu dàng tĩnh hư âu yếm, trong đáy mắt u hoài thiên thu thần thoại, tàng ẩn nơi chốn được ban tặng trọn vẹn yêu thương viên mãn.

Với mầu nhiệm Ðức Mẹ lên trời hồn xác, tôi xác tín được rằng Thiên Chúa không hề phân ly với sáng tạo của mình.

Lược trích từ Maria Martin Thanh Sâm – Vietcatholic.net

SAI LẦM CỦA NGƯỜI THẦU KHOÁN

Một người cha đến dự phiên họp giữa thầy cô và phụ huynh trong một trường trung học ở Chicago. Trong lúc nói chuyện với thầy giáo, người cha đã bật khóc nức nở.  Sau khi lấy lại bình tĩnh, người cha xin lỗi và nói: “Con tôi không còn sống chung với tôi nữa.  Nhưng tôi vẫn yêu thương cháu và tôi muốn biết việc học hành của cháu như thế nào.”

Sau đó ít lâu người cha cho biết thêm là vợ ông và bốn đứa con đã không còn sống bên ông nữa. Ông là một nhà thầu khoán xây cất thành công và rất bận rộn với công việc, nhiều khi ông phải làm việc đến 14, 15 giờ một ngày. Đương nhiên, với sự bận rộn của công việc như vậy, ông ít gặp gia đình vợ con, và dần dà ông càng xa vợ con hơn.

Một thời gian sau đó, người cha nói lên một điều thật buồn thảm :”Tôi muốn mua cho vợ con tôi những gì mà tôi hằng mơ ước mua cho họ.  Nhưng rồi tôi quá bận tâm làm ăn đến độ tôi quên đi điều mà gia đình tôi cần đến nhất:  đó là một người cha, một người chồng luôn có mặt trong gia đình hằng đêm để yêu thương và nâng đỡ vợ con.”

* * * * *

Bạn thân mến,  chúng ta có thể quá bận tâm làm việc đến độ quên đi lý do tại sao chúng ta làm việc. Chúng ta có thể quá bận tâm đến đời sống đến độ quên đi mục đích của đời sống.  Chúng ta có thể quá bận tâm theo đuổi những gì có thể mua được bằng tiền bạc mà quên đi những gì tiền bạc không thể mua được.

Ngày nay chúng ta sống trong một thế giới thật khác biệt. Thật dễ để đánh mất sự quân bình trong thế giới ngày nay. Thật dễ để đánh mất cái nhìn xa trông rộng. Thật dễ để xáo trộn những gì là ưu tiên. Thật dễ để đánh mất khả năng nhận ra những gì cần làm và tại sao chúng ta làm công việc ấy.

Trong thế chiến thứ hai, một người lính trẻ trấn đóng ở hòn đảo Saipan thuộc Nam Thái Bình Dương cho biết trong thời gian nghỉ ngơi, anh và bạn hữu đến bơi ở một bờ biển vắng vẻ kín đáo ngay ở mé hòn đảo.  Đó là một nơi thật đẹp có núi đá bao quanh.

Khi đến nơi, họ thấy nước thật trong đến nỗi có thể nhìn thấy cá bơi lội sâu dưới nước cả 10 feet. Tuy nhiên, sau khi họ bơi lội chừng một tiếng đồng hồ, nước trở nên đục ngầu vì cát bị khuấy động, họ không còn nhìn thấy được dưới đáy dù chỉ cách có một feet.  Nhưng ngày hôm sau, khi họ trở lại, cát đã lắng đọng, nước lại trong trẻo như trước.

Tâm trí chúng ta cũng như vũng nước đó. Nó cũng có thể vẩn đục vì những biến động trong cuộc sống hằng ngày khiến chúng ta không còn nhìn thấy rõ ràng. Chúng ta mất khả năng nhìn thấy mọi sự:  quan điểm của chúng ta trở nên mù mờ; những ưu tiên của chúng ta trở nên hỗn độn; sự quân bình của chúng ta đã bị mất.

Khi điều này xảy ra, việc chúng ta cần làm là tạm ngừng tất cả và để nước đục của tâm trí trở nên trong trẻo lại.  Chúng ta cần ngồi dưới chân Đức Giêsu trong sự thinh lặng cầu nguyện. Chúng ta cần để Người dạy chúng ta biết điều gì là quan trọng và điều gì là không đáng kể.

Điều này nêu lên một câu hỏi: Nếu chúng ta quá bận rộn đến độ mất cả thói quen cầu nguyện thì sao? Nếu chúng ta không biết thinh lặng cầu nguyện dưới chân Đức Giêsu thì sao?  Chúng ta có thể làm gì để biết cách cầu nguyện?

Thật may mắn là chúng ta có thể thi hành vài điều gì đó. Và chúng ta có thể bắt đầu ngay vào tối hôm nay. Chúng ta có thể áp dụng phương pháp cầu nguyện thật đơn giản, nó đã từng giúp đỡ nhiều người như chúng ta để thực tập thói quen cầu nguyện và biết được nghệ thuật cầu nguyện: Việc cầu nguyện đơn giản đó là:

Mỗi đêm trước khi đi ngủ, chúng ta cần dành ra ba phút để làm ba điều:

– Thứ nhất, hãy thinh lặng và nhớ lại những gì đã xảy ra trong ngày. Chúng ta nhớ đến các điều tốt đẹp khiến chúng ta vui sướng, thí dụ như nhận được thư của người thân yêu . Sau đó, chúng ta thành thật nói với Đức Giêsu về điều đó, và hãy cảm tạ Đức Giêsu vì lá thư ấy.

– Trong phút thứ hai, hãy nhớ đến những gì xảy ra trong ngày. Nhưng lần này hãy nhớ đến điều không tốt, điều làm chúng ta hối hận, thí dụ như la hét cha mẹ, vợ chồng hay con cái.  Chúng ta nói với Đức Giêsu về khuyết điểm này và xin ơn tha thứ và chữa lành.

– Sau cùng, trong phút thứ ba, Hãy nhìn đến ngày hôm sau, nghĩ đến một vài điều quan trọng phải làm, thí dụ như việc nói chuyện ôn hòa với cha mẹ, vợ chồng hay con cái… Chúng ta nói với Đức Giêsu về điều đó và xin Người soi sáng, thêm sức mạnh để chúng ta có thể thi hành một cách tốt đẹp.

Phương cách cầu nguyện đơn giản này đã giúp nhiều người tìm được thói quen cầu nguyện và học được nghệ thuật cầu nguyện.  Điểm tuyệt vời của phương cách cầu nguyện này là không những giúp chúng ta có quan hệ tốt với nhau trong đời sống thực tế  hằng ngày mà còn giúp chúng ta có liên kết chặt chẽ với Đức Giêsu.

* * * * *

Lạy Chúa,
Xin giúp chúng con đừng quá bận tâm đến đời sống mà quên đi lý do tại sao Ngài đã ban sự sống cho chúng con.
Xin giữ chúng con đừng quá bận tâm đến đời sống mà quên đi mục đích của nó.
Xin giữ chúng con đừng quá theo đuổi những gì mà tiền bạc có thể mua được rồi quên đi những gì tiền bạc không thể mua được.  Amen

LM. Mark Link, S.J.

CHIẾC ÁO TỪ NHÂN

Marie Paranov, một bá tước phu nhân người Nga, đang trên đường đi Menton, bên Ðức để chữa bệnh lao phổi.  Ngồi một mình trong toa xe lửa bà cảm thấy cô đơn lạc lõng.  Người lão bộc Ivan cùng đi, chỉ đến toa của bà thăm hỏi và chờ lệnh của bà ở mỗi lần xe ngừng lại tại trạm nghỉ mà thôi.

Ðêm xuống dần trong khi tàu vẫn chạy nhanh, phu nhân cảm thấy khó ngủ nên bà mở ví ra trút hết những đồng tiền vàng trên lòng bàn tay và bắt đầu đếm, vì chồng bà đã cho bà một số tiền để hộ thân. Bỗng, bà cảm thấy một luồng gió lạnh tạt vào.  Ngẩng lên, bà bắt gặp một người đàn ông cao lớn, ăn mặc chỉnh tề lịch sự và bị thương ở tay đi vào toa xe của bà.  Ông ta đóng cửa lại và nhìn bà với đôi mắt đen nhánh.  Bà run sợ quá đến nỗi những đồng tiền vàng rơi xuống sàn tàu.  Người lạ mặt nhìn những đồng tiền vàng ấy và cúi xuống nhặt lên.  Thừa cơ hội, bá tước phu nhân đứng dậy chạy ra phía cửa sổ định nhảy xuống tàu.  Biết ý định của bà, ông ta nắm giữ bà lại và xin bà ngồi xuống rồi nói:

– Thưa bà, hãy nghe tôi. Tôi không phải là tên gian phi, tôi nhặt tiền này để trả lại cho bà.  Tôi sẽ chết nếu bà không giúp tôi qua khỏi biên giới.  Khoảng một giờ sau tôi phải có mặt ở trạm cuối cùng của nước Nga, mười phút sau đó tôi phải có mặt ở một nước khác.  Nếu bà không cứu giúp tôi, tôi sẽ bị bắt, tôi không thể giải thích tại sao, nhưng xin bà hãy tin tôi.  Tôi không sát nhân, không trộm cắp, không làm điều gì sai quấy.  Tôi lấy danh dự thề với bà, xin bà hãy cứu giúp tôi.

Bà bá tước phu nhân lặng thinh, lấy lại bình tĩnh dần dần, còn ông ta thì ngồi bất động mắt nhìn về phía trước.  Thỉnh thoảng, bà liếc nhìn ông thật nhanh.  Tàu lướt chạy nhanh trong đêm tối rồi dừng lại ở một trạm nghỉ.  Người nô bộc Ivan đến cửa toa để nhận lệnh của bà.  Bà nhìn người bạn đồng hành xa lạ rồi nói với lão nô bộc:

– Ivan, ta không cần ngươi theo ta đến Menton nữa, hãy lấy tiền này mà mua vé trở lại Saint Petersburg. Cảm ơn lão đã giúp ta, hãy cho ta cái áo khoác, cái mũ và cái giấy thông hành của lão.

Người nô bộc không hiểu chuyện gì đã xảy ra.  Nhưng theo lệnh của chủ, ông lột mũ, cởi áo khoác và trao giấy thông hành cho bà rồi ra đi.  Bá tước phu nhân nói với người khách lạ:

– Hãy mặc áo, đội mũ vào. Bây giờ ông là Ivan, người nô bộc của tôi.  Tôi chỉ cần điều kiện duy nhất là việc gì tôi làm cho ông, ông không được nói gì cả.  Tôi không muốn bất cứ điều gì ngay cả khi ông chỉ nói với tôi một tiếng cám ơn.

Người khách lạ gật đầu, không nói một câu, im lặng làm theo ý bà.  Chẳng bao lâu, tàu dừng lại lần nữa, nhiều cảnh sát đi vào toa. Bá tước phu nhân kiêu hãnh nói với họ:

– Tôi là bá tước phu nhân Paranov ở Saint Petersburg, và đây là người đầy tớ Ivan của tôi.

Bà đưa cho viên sĩ quan coi giấy thông hành.  Xem xong, họ trả lại bà.  Trong đêm đó, hai người đều im lặng.  Sáng hôm sau, tàu ngừng tại Menton.  Ðây là trạm cuối cùng. Hai người chào từ giã nhau mà không nói với nhau một lời.

**********************

Tất cả những diễn biến trong chuyến tàu đêm ấy đã phát xuất từ trái tim đầy từ bi và nhân hậu của bá tước phu nhân.  Chiếc áo khoác của người nô bộc Ivan đã trở thành chiếc áo từ nhân khoác lên một người cần lòng bao dung cứu giúp.  Chiếc áo từ nhân ấy đã trở thành chiếc áo an toàn cho một người cần vượt biên giới.  Trước một người van nài lòng thương xót, chiếc áo nô bộc đã trở thành chiếc áo từ nhân.

Biết bao nhiêu người chung quanh chúng ta đang cần một chiếc áo từ nhân để mong được sự an toàn trong cuộc sống, vượt qua biên giới sự xấu để trở thành một người tốt.  Thế giới chúng ta đang sống là một thế giới duy vật và thực nghiệm, mọi sự đều phải được kiểm chứng rõ ràng, dùng kiến thức để suy luận, dùng máy móc để phân định, dùng phán đoán của đám đông để kết luận, nhưng chỉ có tình người mới đo được chiều sâu và hiểu được hành động và ngôn ngữ của yêu thương.

Trong cái nhìn đức tin của kitô giáo, mỗi người sinh ra trên cõi đời này là một giá trị độc nhất, bởi vì mỗi người đều mang lấy hình ảnh của Thiên Chúa.  Giàu sang, nghèo hèn, thông minh hay ngu đần dốt nát, tất cả mọi người đều bình đẳng trong phẩm giá và nguyên vị khác biệt bất khả xâm phạm.  Một con người dù có lầm lỗi bất toàn về thể xác cũng như tinh thần thì từ thâm sâu của cõi lòng họ vẫn còn ấp ủ một dấu tích tốt lành.  Hãy trao tặng nhau những chiếc áo từ nhân, càng trao ban chúng ta càng lớn lên trong nhân cách.  Thiên Chúa yêu thương đã bao phủ trên chúng ta biết bao nhiêu chiếc áo từ nhân của Ngài.  Hãy nghĩ đến những hồng ân đó mà sẵn sàng trao ban một nhân ái, một ánh mắt cảm thông, một cử chỉ tha thứ, một lời nói xây dựng, một trang viết kính trọng.

**********************

Lạy Chúa, xin giúp mỗi người chúng con luôn mau mắn khoác chiếc áo từ nhân cho những người gần chúng con nhất từ trong gia đình, nơi trường học, tại công sở, nơi phố phường, chốn công viên.  Nhờ đó, chúng con sẽ có một thái độ, một cái nhìn khác về đạo đức và luân lý hợp với lẽ đạo làm người như Ðức cố hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã nói: “Khi con sống trọn đạo làm người, là con sống trọn đạo Chúa”.  Amen!

R. Veritas

TIN LÀ SỐNG

“Các con hãy thắt lưng, hãy cầm đèn cháy sáng trong tay” (Lc 12:35).

Bản thống kê mới nhất của Liên Hiệp Quốc cho hay cứ trung bình mỗi ngày trên thế giới có khoảng 270 ngàn người chết: chết vì bệnh tật, bom đạn, hoạn nạn, thiên tai… Có lắm người chết vì bị hạ sát, nhưng cũng không thiếu người chết vì tự sát.  Có nhiều kẻ chết do người khác gây ra như vụ nổ bom toà đại sứ Mỹ ở Nairobi, Kenya, vụ tàn sát tập thể tại Nam Tư, song cũng không thiếu kẻ chết vì tai hoạ thiên nhiên như lũ lụt tại Trung quốc, sóng thần tại New Guinea, đất động tại Ấn độ.

Mỗi ngày có 270 ngàn người chết.  Như thế mỗi giờ có trên 10 ngàn người, và mỗi phút có gần 200 người phải rời khỏi thế gian.  Nhưng thử hỏi: “Rời thế gian để đi đâu?”  Đi vào cõi nửa thực nửa hư như người Do thái hằng quan niệm?  Đi vào cõi thinh không hư vô, hoặc đi đầu thai ở một kiếp khác? Hay chết là hết?

***************************

Nếu nói chết rồi sẽ đi đầu thai kiếp khác thì e rằng người ta chẳng cần phải quan tâm lo lắng về đời sống ăn ngay ở lành làm gì.  Vì có kẻ cho rằng: “Tại sao không ăn chơi hưởng thụ cho thoải mái để bù lấp những ngày cơ cực.  Nếu không may sau này có bị đầu thai làm kiếp trâu bò lừa ngựa, thì cũng không thành vấn đề, bởi vì hiện nay cũng từng phải vất vả quần quật, ‘cày bừa’ tối ngày nên có kinh nghiệm rồi.”  Có người còn tâm sự: Ở Việt nam còn được sinh ra trong tuổi con rồng, con gà hay con rắn…, chứ qua bên Mỹ, dường như ai cũng cầm tinh giống nhau: tinh con trâu.  Vì ai cũng phải đi cày tối ngày.  Thế nên nếu có đầu thai làm kiếp trâu bò, tưởng cũng không đáng ngại ngùng.

Thành ra nếu chết rồi đi đầu thai kiếp khác thì không công bằng và đáp ứng xứng hợp với nhân phẩm cao cả của con người chút nào. Với lại thú vật thì đâu có tri thức để phân biệt đúng sai, lành dữ, và như thế làm sao chúng có dịp chọn lựa hay từ khước, lập công hay phạm tội?  Làm sao có cơ may để đi đến một kiếp tốt hơn hay xấu hơn?

Còn nếu nói chết là hết thì càng bất công và xúc phạm đến phẩm giá con người cách khủng khiếp. Chính chủ nghĩa vô thần, những triết thuyết cộng sản và chủ nghĩa hưởng thụ đã đưa con người đến với khái niệm chết là hết đầy bất nhân kia.

Nếu chết là tận tuyệt thì tội tình chi người ta phải hy sinh hãm mình, ăn ngay ở lành, quảng đại tha thứ, hay từ tâm nhân ái?  Nếu chết là hết thì dại gì người ta phải dấn thân tu hành, đi lễ giữ luật cho vất vả?

Nếu chết là hết thì đúng là con người đang sống trước một ngõ cụt vô cùng bất công. Bởi vì rồi đây người lành kẻ ác cũng như nhau, người dấn thân phục vụ yêu thương nhân loại cũng chẳng hơn gì kẻ gây tang thương khốn khổ cho bao người.

Nếu chết là hết thì tôi phải tỉnh thức làm chi, ngày Chúa đến hay không nào có quan hệ gì.

Nhưng không. Ngàn lần không! Chết không phải là hết.  Niềm tin Kitô giáo xác quyết chết là bước vào một cuộc sống mới và đời đời.  Trong cuộc sống đó tôi sẽ khổ đau ngàn thu hay hạnh phúc đời đời tùy thuộc vào cung cách sống niềm tin hiện nay của tôi.  Như thế tôi cần phải tự vấn: niềm tin của mình đang ngủ vùi, chìm đắm, hay tỉnh thức hoạt động?  Nó đang sống hay đã chết tiệt rồi?

***************************

Cách đây không lâu, trên chương trình truyền hình Public Eye có trình chiếu một vụ xử án rất cảm động.  Số là cách đây 19 năm, một tài xế xe truck say rượu đã gây ra tai nạn và làm cho em bé tên Joseph V. mới được một tuổi phải mang thương tật suốt đời. Suốt 19 năm qua, bé Joe, nay là một thanh niên 20 tuổi, đã phải sống trong cay đắng tủi hờn.  Đi đâu cũng bị kinh tởm ruồng rẫy.  Gia đình cũng đã phải chia sẻ nỗi đau khổ không kém.

Mới đây, người tài xế, sau thời gian dài lẩn trốn, đã bị bắt lại và đem ra xét xử.  Tại toà, trước khi vị chánh án buộc tội, các nạn nhân và những người liên hệ được phép tiến lên phát biểu cảm tưởng, trong đó có anh Joe.  Nhiều tâm tư – căm thù, uất hận, thương cảm – đã được phát biểu, nhưng có ba tâm tư đã làm cho tôi khó quên.

Người bố của anh Joe tiến lên trước toà và nói: “Trong suốt 19 năm qua, tôi không biết nên cầu cho con tôi sống hay xin cho nó chết.  Cầu cho sống thì quả là đau khổ cho nó quá, bởi vì sau khi tại nạn xảy ra hai cánh tay con tôi bị cắt cụt, chỉ có khúc xương và cục thịt lủng lẳng ở hai đầu cánh tay. Gương mặt bị phỏng nặng và biến dạng.  Môi cũng như mí mắt không còn nữa.  Da thì chảy ra nên không còn hình thù của một gương mặt con người, đến nỗi các đứa bé khác khi nhìn vào thì tưởng là nó đeo mặt nạ.  Bước đến đâu con tôi cũng bị kinh tởm hất hủi.  Cho nên tôi không biết có nên cầu cho nó sống không.  Còn cầu cho chết thì tôi không thể, vì tôi là người tin Chúa, nên tôi không thể cầu cho ai chết được hết”.

Đến phiên người mẹ của Joe bước lên trước máy vi âm.  Bà nói: “Trong suốt 19 năm qua tôi đã phải đau cái nỗi đau của con tôi.  Ví dụ lúc được 5 tuổi Joe hỏi tôi: “Mẹ ơi khi nào thì các ngón tay của con không mọc ra hả mẹ?”  Hay lúc được 8 tuổi, bé đã thắc mắc: “Mẹ ơi, sao da của con không được trơn như của mẹ hay của mấy em vậy?’”  Người mẹ vừa thổn thức vừa nói tiếp:  “Tôi không biết phải trả lời thế nào chỉ biết ôm lấy con tôi mà khóc, mà thương nó thôi.”

Cuối cùng anh Joe cũng tiến lên để nói những lời có tính cách quyết định cho bản án.  Anh hướng về phía người tài xế và nhẹ nhàng nói: “Thưa ông, nếu không có đức tin thì có lẽ tôi đã kết thúc đời mình từ lâu rồi.  Đời tôi sẽ bị kết thúc bởi sự chối từ kinh tởm của người khác, hoặc khi tôi chợt nhìn vào trong gương và thấy được nét mặt kinh khủng của mình.  Nhưng tôi không muốn hủy diệt đời mình trong sự thù hận ghen ghét.  Tôi không thù ông, không giận ông và cũng không kết án ông.  Tôi chỉ xin nói với ông một điều cuối cùng này:  bất cứ chuyện gì có xảy đến thì cũng hãy biết rằng ơn phúc của Thượng đế vẫn hằng tràn đầy trên chúng ta, vì Ngài yêu thương chúng ta.”

***************************

Tôi tự hỏi: Do đâu mà một chàng thanh niên đầy bất hạnh lại có thể nói lên được những lời đầy khích lệ, yêu thương và tha thứ như vậy?  Nhờ đâu mà cha mẹ anh Joe có thể can đảm cảm thông và gánh vác nổi đau khổ của đời mình và đời con như vậy?  Tựa vào đâu mà họ có được sức mạnh để yêu thương và duy trì sự sống chứ không tận diệt hay khước từ như vậy?

Câu trả lời duy nhất chính là nhờ vào đức tin – một đức tin tỉnh thức và sống động, một đức tin được tôi luyện qua năm tháng và những bước thăng trầm trong cuộc đời.  Những câu nói của ba con người trên kia đã xác quyết điều đó.

Thế giới, gia đình và lương tâm của nhiều người đang ngủ vùi trong hận thù, chôn sâu trong chiến tranh, sa đoạ trong các đam mê hưởng thụ trần tục.  Chính vì sự hưởng thụ thiếu ý thức và vô trách nhiệm của người tài xế kia đã gây nên bao khổ đau cho người khác, nhưng chính nhờ niềm tin vào chân lý yêu thương mà người ta đã tồn tại để xoa dịu bao nhiêu u sầu và đem lại hạnh phúc cho nhiều tâm hồn.

Hạnh phúc và sự sống phát xuất từ niềm tin tỉnh thức như vậy chắc chắn không bị chấm dứt với cái chết, không bị đi vào hư không trống rỗng, cũng chẳng phải đầu thai kiếp này hay kiếp khác, nhưng sẽ tồn tại đến muôn đời trong tình yêu của Thiên Chúa.

Lm Bùi Quang Tuấn CSSR

***************************

Lạy Chúa, con tin Thiên Chúa tạo dựng nên muôn loài muôn vật.  Con tin Đức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa đã đến thế gian để cứu chuộc tội lỗi con.  Con tin Chúa Thánh Thần vẫn âm thầm làm việc để giúp con mở lòng đón nhận Lời Chúa.  Con tin có đời sau và tin Con Người sẽ đến vào giờ phút bất ngờ nhất.  Xin cho con biết sống và làm chứng cho niềm tin đó.  Amen!

ĐÔI MẮT

“Mắt em là một dòng sông
Thuyền ta bơi lặng trong dòng mắt em”

(Lưu Trọng Lư)

Mắt là cảm hứng cho thi sĩ.  Nhạc sĩ cũng viết thành cung đàn.  Mắt là hồn cho thơ, là sóng cho nhạc.  Có người nhìn đôi mắt như mùa thu.  Có người nhìn đôi mắt như dòng sông.  Trong văn chương, nghệ thuật, cảm hứng về mắt bao giờ cũng là đôi mắt đẹp.

Trái lại, khi Phúc Âm nói về mắt lại nói đôi mắt mù!

Mắt nhìn được ngoại vật, nhưng nó không nhìn được chính nó.  Có phải đấy là điều để nhắc nhở tôi:  Tôi có thể nhìn thấy nhiều thứ, nhưng sự hiểu biết quan trọng nhất là biết chính mình thì tôi lại u mê?

Mắt là để nhìn.  Đấy là bản tính của mắt.  Cũng như ánh sáng là để soi tan bóng tối.  Mắt không cần trang điểm, mắt vẫn nhìn thấy.  Mắt không cần tô hồng, mắt vẫn là mắt.  Khi người ta trang điểm cho mắt, lúc đó, mục đích không phải là để nhìn mà là để mắt được nhìn.  Có khi người ta chỉ vì quá muốn mắt được nhìn, nên mắt đã không nhìn được.

Mắt là để nhìn.  Nhưng cái nhìn của mắt không như chiếc máy chụp hình.  Mắt nhìn để nói.  Mắt nhìn để hiểu. Mắt nhìn để thông cảm. Mắt nhìn để chê bai. Nhưng để hiểu, để rung cảm, để giận ghét, để yêu thương lại là phạm vi của tâm hồn.  Mắt thơ ngây.  Mắt bao giờ cũng đáng yêu.  Tự bản tính của mắt, mắt bao giờ cũng vô hồn.  Tâm hồn là người có trách nhiệm.  Vì thế, người ta không nói kẻ có đôi mắt đẹp thì tâm hồn đẹp.  Nhưng là kẻ có tâm hồn đẹp thì bao giờ cũng có đôi mắt trong.  Đôi mắt của trẻ thơ đã nói lên điều đó.

Nhiều người đã sa ngã vì những đôi mắt biết dỗi hờn.  Nhiều kẻ đã say những cặp mắt biết liếc nhìn quyến rũ.  Sở dĩ có những đôi mắt ấy vì phải có người yêu những vẻ đẹp đó nên mới có kẻ làm khí giới tấn công.  Và, nếu những xao xuyến rung động, những tình yêu chỉ vì đôi mắt ấy thì cũng giống như Eva, chỉ nhìn thấy màu hồng của vỏ trái táo chứ không thấy bóng sâu ở trong.

Người có đôi mắt đẹp là người không đánh lừa kẻ khác bằng đôi mắt của mình.  Kẻ có đôi mắt đẹp cũng không để mình bị đánh lừa bằng đôi mắt người khác.  Mắt đẹp là mắt nhận ra giá trị thật và chỉ ngắm nhìn những giá trị đó.

Trong cuộc sống gia đình, nhiều đôi mắt không nhìn ra nét đẹp nơi người yêu mình.  Nhưng lại thấy vẻ đẹp nơi người yêu của kẻ khác.  Thấy thèm muốn nhưng không thấy giới hạn.  Nhiều đôi mắt chẳng nhận ra đâu là hạnh phúc mình phải đem đến cho người bạn đời.  Nhưng lại nhìn ra những nhu cầu của mình bắt tha nhân mang tới.  Thấy đòi hỏi nhưng không thấy bổn phận.

Mắt giữ vai trò quan trọng trong lịch sử cứu rỗi của loài người.  Ngay những chương đầu của sách Khải Nguyên đã nói về mắt:

Rắn đã nói với người đàn bà: Chẳng chết chóc gì đâu!  Quả Thiên Chúa biết, ngày nào các người ăn nó, mắt các ngươi sẽ mở ra, và các ngươi sẽ nên như Thiên Chúa, biết cả tốt xấu.  Và người đàn bà đã nhìn: quả là cây ăn phải ngon.

Sau khi nhìn rồi, Kinh Thánh kể tiếp cái nhìn của Eva:  “Mà nhìn thì đã sướng mắt. Nó đáng quý thực, cái cây ấy để được tinh khôn. Và bà đã ăn”.  Sau khi ăn rồi, Kinh Thánh kết luận về đôi mắt của cả hai người như sau: “Và mắt cả hai người đã mở ra. Và chúng biết là chúng trần truồng (Kn 3:4-7)”

Đoạn Kinh Thánh nói về lịch sử sa ngã của loài người đã đề cập đến mắt qua ba tiến trình:

Rắn hứa là mắt của Adong và Eva sẽ mở ra.

Eva đã nhìn vào trái táo và thấy sướng mắt.

Mắt hai người đã mở ra và thấy mình trần truồng.

Rắn hứa là mắt hai ngưới sẽ mở ra để nhìn thấy mọi sự như Thiên Chúa.  Nhưng mắt đức tin của cả hai đã nhắm lại nên không nhìn thấy điều mình muốn nhìn sẽ đem lại đổ vỡ cho cuộc đời.  Họ đang thấy chung quanh họ là mùa hoa nở rộ, là những đồi cỏ bình yên, là những giải nắng hiền, dòng suối êm. Nhưng chỉ nhìn như Thiên Chúa, nên cỏ bình yên thành cỏ dại, suối hiền cạn khô, nắng thành vất vả, hoa thôi lên màu.

Chỉ vì muốn nhìn những điều không thể nhìn được nên mắt họ chẳng còn nhìn thấy những điều họ đã thấy nữa.

Mà nhìn thì đã sướng mắt”.  Đó là tâm trạng của Eva.  Cái nhìn ấy phải là đắm đuối.  Bằng cái nhìn “sướng mắt” ấy mà tội lỗi đã vào thế gian.  Qua một cái nhìn mà hạnh phúc thành rách nát.  Lịch sử vũ trụ thay đổi. Tang thương.

Lời hứa của rắn đã hiệu nghiệm.  Mắt của hai người đã mở ra.  Nhưng không phải mở ra để nhìn thấy vẻ đẹp mà để nhìn thấy mình trần truồng. Trần truồng là biểu tượng của hèn hạ, của nghèo đói, của nhục nhằn.  “Mắt hai người đã mở ra”. Câu Kinh Thánh thật ngắn ngủi, nhưng sự tinh tế và đau thương nằm ở đó.  “Mắt hai người đã mở ra”.  Nhưng đồng thời cũng là giây phút đóng lại.  Mở mắt để thấy trước mặt là tan tác, chia phôi.  Mở mắt để thấy trước mặt là hệ luy.  Mở mắt để thấy mình trơ trụi.  Mở mắt để biết rằng mình không còn thấy những gì mình muốn thấy.

Adong-Eva đã mở mắt. Nhưng họ lẩn trốn không dám nhìn Chúa.  Cả hai đã mở mắt.  Nhưng để tìm lá che thân, không dám nhìn nhau.  Như thế, mở mắt có ích gì?  Có những mở mắt nguy hiểm.  Có những mở mắt gieo khổ ải.  Không nhìn những điều phải nhìn là thiệt thòi.  Nhìn những điều không nên nhìn cũng là mất mát như thế.  Khởi đầu của lịch sử nhân loại đã không  phải là lịch sử có đôi mắt thơ mộng, mà là đôi mắt mù loà.

Rồi sự mù lòa ấy chảy dọc theo thời gian.  Chúa Kitô đã đến trong Tân Ước để hàn gắn sự mù lòa xảy ra những trang đầu của Cựu Ước đó.  Chúa không bao giờ từ chối chữa người mù.  Trong cuộc đời rao giảng tin mừng, nếu có người mù kêu xin là Chúa động lòng xót thương và chữa họ ngay.   Sự mù lòa nói đến trong Tân Ước đã có nguyên do từ sự mù lòa khởi nguyên ngay ở vườn địa đàng.  Chúa đến để chữa vết thương kéo dài từ biến cố đó.  Đặt những phép lạ Chúa chữa người mù trong Tân Ước với bối cảnh mù lòa khởi nguyên của Adam-Eva ta mới thấy ý nghĩa sâu xa vì sao Chúa đã đến trong thế gian.  Và nếu ý thức được rằng, từ bắt đầu, dòng suối đã mù lòa thì nước suối làm sao trong, ta sẽ nhận ra một ý nghĩa khác, đó là phải chấp nhận rằng mình mù lòa, và cần Chúa chữa sự mù lòa ấy.

Phúc Âm thánh Gio-an có thuật lại phép lạ của Chúa chữa một người mù.  Đặc biệt Gio-an kể rõ chi tiết là “mù từ lúc mới sinh”.  Các Phúc Âm khác chỉ nói chữa người mù, không nói chi tiết mù như thế nào. Vì sao Thánh Gio-an lại nhấn mạnh điểm đó?  Phải chăng “mù từ lúc mới sinh” là mù từ thuở xa xưa lắm rồi.  Là mù từ thuở địa đàng.  Là mù gốc rễ trong tâm hồn tôi.  “Từ trong tà ác tôi đã sinh ra” (Tv 51:7)

Một chi tiết quan trọng khác mà Thánh Gio-an đã nói đến là Chúa chữa người mù “từ thuở mới sinh” trong ngày “sabath”.  Ngày sabath là ngày không được phép làm gì cả.  Đây là luật rất ngặt của người Do Thái.  Chính vì thế Chúa đã bị kết án.  Có phải Chúa đã chữa người mù, cho dù là ngày sabath vì mù lòa là một bất hạnh ghê gớm, một thiệt thòi nguy hiểm?  Chúa không thể chấp nhận mù!  Như vậy, chẳng có lý do nào Chúa lại chậm trễ chữa sự mù lòa của tâm hồn tôi.  Sứ mạng của Chúa là: “Người đã sai Lời Người đến chữa họ, và giật sinh mạng họ ra khỏi mồ chôn” (Tv. 107:20)

Trong câu chuyện chữa người mù, ta thấy sự khác biệt tàn nhẫn giữa đôi mắt người mù và đôi mắt của các thầy Pharisêu.  Đôi mắt thân xác của người này mù, nhưng mắt tâm hồn ông lại sáng. Ông nhận ra Chúa là người có thể chữa cho ông, nên ông đã đến suối Siloam rửa mắt như lời Chúa dạy.  Các thầy biệt phái đã có đôi mắt không mù lòa, nhưng đôi mắt tâm hồn đã chết.  Họ đã nói với người mù về Chúa như sau: “ Chúng ta biết tên đó là một người tội lỗi” (Gn 9:24)

Không có sự tăm tối nào lại mù lòa hơn sự mù lòa của những đôi mắt sáng ấy.  Bởi đó, thấy mặt trời vẫn có thể là sống trong bóng đêm. Trong bất hạnh của thân xác vẫn có thể nhìn ra chân lý.  Điều ấy nói cho tôi biết trong đau khổ tật nguyền, hạnh phúc vẫn có thể nở hoa, kết trái xum xuê.  Trong những hiểu biết trần thế. Biết đâu là một cõi lòng khô héo ân sủng thiêng liêng. Rồi, vì thế, đằng sau những đôi mắt đẹp, có thể là một màn đêm lạnh lẽo, một tâm hồn trống trải, buồn tênh.

Đôi mắt dễ thương chỉ có nơi tâm hồn duyên dáng. Lo trang điểm cho đôi mắt mà không làm đẹp tâm hồn là chỉ muốn người ta nhìn mắt mình, chứ mắt mình không nhìn được điều phải nhìn.  Có người tốn rất nhiều tiền để làm đẹp mắt, nhưng tiếc xót gởi một thùng quà cho bạn bè thân nhân nghèo khó ở bên nhà.  Ngại ngùng bỏ ra tiền để sửa chữa một ngôi thánh đường đang sụp đổ. Quá muốn mắt mình được nhìn nên đã không nhìn thấy điều Chúa muốn họ thấy.

Toàn thân mày, mày sinh ra trong bóng tối, mà mày lại làm thầy dạy chúng ta ư!”  Sau khi mắng người mù thư thế, Pharisêu trục xuất ông (Gn. 9:34).  Người mù đã bị đuổi ra khỏi hội đường vì dám chấp nhận Chúa là Thầy chữa cho mình.  Chúa đã hỏi người mù : “Còn ngươi, ngươi có tin vào con người không?” Ông ta đáp lại: “Lạy Ngài, tôi tin” (Gn 9:35-38).  Như vậy, để nhìn thấy Chúa, ông đã phải trả một giá đắt.  Những đôi mắt dám nhìn sự thật nhiều khi là những đôi mắt ướm lệ.

Phúc Âm thánh Mác-cô cũng nói về mắt. Người mù lên tiếng: “Lạy thầy, xin cho tôi thấy được”. Đức Kitô bảo hắn: “Hãy đi! Lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi”.  Rồi, dòng chữ cuối cùng nói về đôi mắt đó là dòng chữ đẹp bát ngát của một bầu trời mới, một tâm hồn vô cùng thênh thang:

Lập tức hắn đã thấy được.  Và theo Ngài lên đường (Mc. 10:52)

Người mù đã không trở về để lập nghiệp làm ăn, nhưng lên đường theo Chúa.  Lúc này là lúc Chúa đang trên đường về Jerusalem để chịu chết. Ông đã thấy gì mà dám lên đường theo một kẻ sắp bị đóng đinh?

Nói về đôi mắt, Chúa quở trách rằng: “Họ nghe mà không hiểu, nhìn mà không thấy.  Tâm hồn họ ra chai đá rồi ” (Mt. 13:14).  Như vậy, Chúa xác định tâm hồn có trách nhiệm về cái nhìn.

Hôm nay, không thiếu bao tiếng khóc.  Có tiếng khóc âm thầm.  Có tiếng khóc lo âu.  Tiếng khóc nghèo đói. Tiếng khóc lạc lõng trong cuộc sống.  Tiếng khóc lặng lẽ của cõi lòng chán chường.  Tiếng khóc che kín bằng tiếng cười ở giữa đám đông.  Nước mắt ở khắp nơi.

Biết bao tâm hồn chỉ vì nghèo đói mà sống mất phẩm giá con người.  Những người mẹ bên Phi Châu ngồi khóc vì đói, vì đôi vú không còn sữa cho con.  Những đôi mắt trẻ thơ ruồi bu quanh. Đấy là hình ảnh Chúa Kitô.  Ngài đang lang thang và chẳng có ai nhìn.

Có đôi mắt liếc nhìn quyến rũ.
Có đôi mắt trang điểm.
Có đôi mắt rình mò.
Có đôi mắt để chọn quần áo.
Có đôi mắt để đếm tiền.
Có đôi mắt để nhìn người yêu.

Những tiếng khóc đau khổ vẫn không ai muốn nghe.  Những nghèo đói vẫn không ai muốn nhìn.  Có phải chỉ có đôi mắt đức tin mới nhìn thấy Chúa Kitô đang nghèo, đang túng thiếu.  Chia cái nghèo, chia cái túng thiếu, chỉ có đôi mắt tình thương mới dám nhìn.

Hai ngàn năm trước Chúa đã than thở: “Họ nghe mà không hiểu, nhìn mà không thấy vì tâm hồn họ ra chai đá rồi” (Mt. 13:14). Hôm nay, nếu mắt không nhìn những điều phải nhìn. Nhìn mà không thấy những điều phải thấy. Thấy mà chẳng hiểu những điều phải hiểu thì Chúa cũng chỉ biết than thở như hai nghìn năm xưa: Vì tâm hồn họ ra chai đá rồi.

Lm. Nguyễn Tầm Thường, S.J.

TRÚNG SỐ

“Trúng số có thể là một tai họa”.  Đó là khẳng định của tuần báo Newsweek số ra tuần cuối tháng 6/95.

Tuần báo ghi lại vận may của hai người đàn ông cùng làm chủ một tiệm sản xuất kiếng tên là Mc. Gardner 33 tuổi và Paul Madison 41 tuổi.  Trong cuộc xổ số toàn quốc lần này, hai người đã trúng được 11 triệu bảng Anh.  Nhưng tai họa cũng bắt đầu từ đó.

Người đàn ông tên là Mc. Gardner đã trở thành mũi dùi của tất cả những tờ báo lá cải xuất bản tại Anh Quốc.  Chỉ ba ngày sau khi thần tài gõ cửa, tất cả mọi người dân Anh đều biết rằng Mc. Gardner là một người đàn ông không ra gì.

Trang bìa của bất cứ tờ báo lá cải nào cũng có in hình của ông, bên trong ông được mô tả như một người đàn ông nghiện ngập, vũ phu, vô trách nhiệm, ba lần ly dị.  Người vợ thứ ba tố cáo ông bỏ bê đứa con trai hai tuổi của họ, và thề sẽ đòi cho hết số tiền ông vừa trúng số.  Người mẹ nuôi của ông thì mách rằng ông đã ăn cắp nữ trang của bà, và luôn luôn đòi tiền để ăn xài.  Bà còn nguyền rủa rằng:  “Tôi hy vọng là hắn sẽ uống rượu cho đến chết thì thôi”.

Hiện nay, trong tổng số 44 triệu người Anh thì có 30 triệu người mua vé số mỗi tuần.  Một nhà tâm lý trị liệu tại Anh Quốc đã nói:  “Chúng ta đang trở thành một dân tộc bài bạc”.

Một cuộc thăm dò tại London cho biết Thomas Bryant 51 tuổi đã tự tử vì nghĩ rằng mình đã mất 2 triệu bảng Anh chỉ vì không tiếp tục mua vé số.  Thật ra, ông ta đọc lầm số.  Vé số mà ông hằng đeo đuổi trúng có 27 bảng Anh mà thôi.

Và như ông Mc. Gardner đã khám phá:  đôi khi trúng số cũng có nghĩa là thua lỗ thực sự.

*********************************

Kinh nghiệm cho thấy đồng tiền không do mồ hôi nước mắt làm ra lắm khi chỉ là một tai họa.  Tục ngữ có câu:  “Của cải làm ra cất ở trên gác, của cải đánh bạc để ở ngoài sân, của cải gian lận đem ra ngoài ngõ”.

Có nhiều người trúng số tiêu xài hoang phí để rồi cuối cùng tan gia bại sản và thân tàn ma dại.  Thật ra, cái chân lý ngàn đời vẫn luôn chiếu sáng trước mắt mọi người:  sự giàu sang không đương nhiên mang lại hạnh phúc cho con người.

Tiền của chỉ lợi ích cho con người khi nó là một phương tiện.  Bao lâu nó trở thành chủ nhân thống trị và sai khiến con người, thì dĩ nhiên, cái thân phận nô lệ mà con người tự trói buộc vào sẽ không bao giờ làm cho con người được hạnh phúc.

Có thể con người được thỏa mãn vì được ăn ngon, ở nhà đẹp, có xe mới v.v…. Nhưng chắc chắn, thỏa mãn vẫn chưa được hạnh phúc.  Thỏa mãn đó rồi lại ham muốn đó.  Càng có nhiều thì càng hưởng thụ nhiều, càng hưởng thụ thì càng ham muốn thêm mà thôi.

“Sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian”.  Chỗ đứng ấy luôn mời gọi người tín hữu xác định lại cuộc sống của mình trong tương quan với của cải trần thế.  Không thể sống mà không màng đến của cải, không thể sống mà không có phương tiện để sống.  Nhưng phải sống như thế nào để không làm nô lệ cho của cải vật chất.

Đó cũng là lẽ khôn ngoan của Tin Mừng:  “Được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống thì người ta nào có lợi gì?” (Mc 8,36).  Có tất cả mà không biết được bí quyết của hạnh phúc đích thực quả là một điều khốn khổ nhất trong kiếp người.

*********************************

Lạy Chúa, Chúa dạy chúng con rằng:  “Cho thì có phúc hơn nhận lãnh”.  Xin cho con luôn ý thức được niềm hạnh phúc đích thực là trao ban.  Trong tất cả mọi sự, xin cho con biết tìm kiếm niềm hạnh phúc của việc trao ban ấy.

Thiên Phúc

BẢO HIỂM LINH HỒN

“Những của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai?” (Lc 12:20)

Nasruddin đang bò gối trên thảm cỏ trước nhà, hình như đang tìm kiếm vật gì.  Người hàng xóm của anh ta thấy thế bèn cất tiếng:

– Này Nasruddin, anh đang tìm gì vậy?

– Tôi tìm chiếc chìa khoá. Nasruddin trả lời.

– Thế là người hàng xóm liền tỏ lòng hào hiệp. Anh cùng bò gối trên sân để tìm chiếc chìa khoá cho Nasruddin.  Sau một hồi lâu tìm kiếm mà không được, anh hàng xóm ngước mắt lên hỏi:

– Mà Nasruddin nè, anh làm rơi chiếc chìa khóa ở chỗ nào vậy?

– À, tôi làm rớt ở trong nhà.
Nghe câu trả lời, người hàng xóm ngẩn ra vì tức:

– Rơi ở trong nhà… nhưng tại sao anh lại tìm ở đây?
Nasruddin tỉnh bơ đáp lại:

– Bởi vì ở ngoài này sáng hơn, còn trong kia tối quá.

****************************

Thế đấy! Ở trên đời có không ít người đi tìm hạnh phúc, nhưng lại chẳng tìm đúng nơi.  Cũng có lắm kẻ đã đến đúng nơi rồi nhưng lại không biết mình nên tìm thứ gì.

Có nhiều người tầm sư học đạo mà tìm mãi không ra, nhưng cũng có lắm kẻ đang ở trong chính đạo, nhưng lại cứ kiếm những thứ gì đâu!  Có bao giờ bạn đặt câu hỏi với chính mình: “Tôi đã thuộc về chính đạo chưa?  Nếu rồi, thì nơi đó tôi đang muốn điều chi?”

Đặt câu hỏi như vậy là để xác định cho mình một mục tiêu, nếu chưa có.   Hỏi như thế cũng là để chỉnh đốn hướng đi, nếu như mình đang bước không đúng với tinh thần của đạo.

Khi yêu quí thứ gì thì người ta đâu muốn bị mất mát hư hao.  Cho nên nếu có phương cách để bảo vệ, tất họ sẽ không ngần ngại thi hành.  Đây là tâm lý chung mà nhiều kẻ nhờ biết khai thác và kinh doanh đã trở nên giàu to.  Bao dịch vụ hay công ty mang danh bảo hiểm – insurance – đã xuất hiện để bồi hoàn cho những mất mát hay hư hao đó.

Kết quả là nhiều thứ bảo hiểm xuất hiện:  nhà cửa, xe cộ, vật dụng, công việc, sức khoẻ, nhân thọ.  Thậm chí còn có bảo hiểm cho cả chó mèo, chim chóc trong nhà.

Không có thứ bảo hiểm nào lại không liên quan đến sự sống người ta.  Tôi mua bảo hiểm cho chiếc xe, cái nhà, cửa tiệm, bức tranh, chiếc nhẫn kim cương… là vì những thứ đó có dính dáng đến cuộc sống của tôi phần nào.

Nhưng thử hỏi có mấy thứ bảo hiểm người ta đang có mà lại không đụng đến đồng tiền?  Phải nói rằng trong thực tế, thứ nào cũng cần có tiền mới mua được.  Thành ra để bảo hiểm cho thứ này vật kia, tôi phải nai lưng ra kiếm tiền; để bảo vệ sự sống, tôi phải lo lắng vất vả thức khuya dậy sớm cày thêm tí “job” để có tiền đóng bảo hiểm.  Rốt cuộc, tôi đã tiêu hao sự sống để bảo vệ sự sống.  Trực tiếp giữ gìn sự sống thân xác trong khi đã gián tiếp đánh mất nó.  Mà nhiều khi lại đánh mất trong hãnh diện và tự hào mới khốn chứ!

Quả là phù vân tiếp nối phù vân, hư không trên các sự hư không.

Nếu không thoát được bao sự hư không phù phiếm đó thì tôi sẽ chẳng khác chi gì “người phú hộ giàu có” trong Tin mừng của thánh Luca: gặp năm được mùa, lúc thóc dư tràn, người phú hộ không biết để đâu cho hết.  Sau nhiều hôm trằn trọc băn khoăn, cuối cùng ông tìm được một kế: phá quách các kho nhỏ, đóng một kho thật lớn để chất tất cả tài sản thóc gạo vào đó.  Thế rồi, khi mọi sự hoàn tất, được bảo đảm bởi một kho lẫm chắc chắn, ông phú hộ mới nói với linh hồn: “Hãy ăn đi, uống đi, hãy nếm cho thoả thích mùi đời đi, hỡi linh hồn của ta.”

Nhưng bất thần có tiếng Chúa phán: “Đồ ngốc,ngay đêm nay người ta sẽ đòi lại hồn ngươi, thế thì những của ngươi tích trữ kia sẽ để lại cho ai đây?” (Lc 12:16-21)

Mới đọc qua dụ ngôn, không ít người thắc mắc : một kẻ làm ăn cần cù, có lẽ không gian dối lừa gạt bóc lột ai, nhưng sao lại bì kết án “đồ ngốc” nặng nề như vậy?  Thế nhưng, suy nghĩ một chút người ta sẽ phải công nhận người giàu có kia đã phạm phải ba lỗi lầm chứng tỏ ông ta ngốc thật.

Lỗi lầm thứ nhất: ông tưởng của cải vật chất là yếu tố căn bản có thể mang lại sự sống cho linh hồn, một hữu thể vô vật chất.  Ông ngây ngô khi nói với linh hồn mình hãy cứ ăn uống những thứ mà ông thu tích được kia.

Lỗi lầm thứ hai: ông phá được các kho lẫm ích kỷ nhỏ nhoi của mình để rồi xây lại một cái khác to lớn hơn.
Phải chăng trong thực tế cũng có không ít người phá được hầu bao của mình để dâng cho Chúa một chút tiền công đức thì lại cứ muốn tên tuổi được khắc ghi trên bia đồng hay bia đá, hoặc có những người vừa thoát được cái thế giới thầm lặng khép kín của mình để ra đóng góp cho cộng đoàn tha nhân thì lại xây ngay một cái kho khác lớn hơn: cái kho của tự cao tự phụ – “mọi người phải biết đến phần đóng góp của tôi, nếu không thì tôi rút lui.”

Đó không phải là nẻo đường chân chính của Phúc âm.  Trái lại, theo tinh thần Kitô giáo, phá kho là để trao ban cho người chứ không phải xây lên kho khác để rồi lại tích lũy cho mình.

Điều lầm lẫn thứ ba của người phú hộ là chỉ biết hướng về những sự dưới đất, những chuyện thế gian, những phạm vi thân xác, và thiếu quan tâm đến những thiêng liêng hay cuộc sống mai sau.          

“Người ta sẽ đòi linh hồn ngươi.”  Câu nói này đã bộc lộ một chân lý:  Đến giờ chết thân xác sẽ tiêu tan, trở về với cát bụi, chẳng ai còn tha thiết với nó.  Những gì sẽ được đem đi chính là linh hồn. Cho nên thật là khờ dại khi chỉ tích trữ, trang điểm, vỗ béo cho thân xác mà quên mất hay coi nhẹ việc tô điểm hoặc bảo hiểm cho linh hồn.

“Người ngốc” được nói đến trong Phúc âm là kẻ chỉ biết có hiện tại, tìm kiếm và hưởng thụ những giá trị hữu hình.

Người khôn ngoan chính là người sống trong hiện tại nhưng biết hướng về tương lai, ở trong thế giới hữu hình nhưng luôn chuẩn bị cho mình những giá trị và tài sản vô hình thiêng liêng.

Người khôn ngoan “khi còn sống trên địa cầu biết kiềm chế các chi thể là sự gian dâm, ô uế, dục tình, đam mê xấu xa và hà tiện, tức là những sự thờ quấy… (cùng với) nóng giận, gắt gỏng, thâm độc, chửi rửa, thô tục” (Col 3:5,8).

Người khôn ngoan là người biết rằng không có gì quí bằng linh hồn, không có gì quan trọng cho bằng sự sống mai sau với Đức Kitô.  Từ chỗ nhận biết này người khôn ngoan sẽ lo việc bảo hiểm linh hồn của mình nhiệt thành hơn.
Có rất nhiều phương cách để giúp bảo hiểm linh hồn, nhưng có một phương cách mà ai chịu khó đầu tư cũng đều nắm chắc phần thắng.  Đó là cầu nguyện.  Thánh Anphongsô từng khẳng định: “Ai cầu nguyện nhất định được rỗi linh hồn.”  Bởi vì qua cầu nguyện, người ta sẽ vững bước trên con đường tiến về Thiên Chúa.

Lm Bùi Quang Tuấn, DCCT – Vietcatholic.net

***************************

Lạy Chúa xin mở mắt con để biết hướng về những gì hữu ích cho linh hồn mình, cho đời sống vĩnh cửu mai sau.  Xin đừng để của cải vật chất đời này làm u mê bước chân người lữ hành.  Lạy Chúa, xin dạy bảo con trước khi quá muộn màng, xin đừng để ai trong chúng con phải hư mất như người phú hộ trong bài Tin Mừng hôm nay, Amen!

NHỮNG CÁI CHẾT TRONG CUỘC SỐNG

Người ta thường có một thái độ rất mông lung trước cái chết.  Một đàng người ta không muốn nhắc đến nó, vì sợ rằng sẽ có điều không may xảy đến, nhưng đàng khác, người ta lại rất tò mò về nó, muốn tìm hiểu và khám phá nó.  Dù sao đi nữa, dù có muốn hay không, chúng ta đều biết rằng một ngày nào đó mình sẽ phải đối diện với cái chết.  Cái chết trở thành một phần của sự sống, của thân phận thụ tạo.  Nó là điểm chấm hết cho một cuộc hành trình.  “Cái chết” là một từ ngữ buồn bã.  Nó làm tắt đi tất cả nguồn sức sống, sinh lực.  Nó đưa ta về với vùng trời u ám mà chẳng ai muốn vào.  Tuy nhiên, giữa cuộc sống này, “cái chết” lại mang rất nhiều màu sắc.  Nói cách khác, có rất nhiều loại “chết”, trong đó, có cái làm ta buồn, nhưng cũng có cái làm cho ta được trở nên giá trị hơn.

Kiểu chết mà ta nghĩ đến đầu tiên là cái chết sinh học.  Cái chết này mang đến cho người ta sự tang thương chia cắt.  Bản thân người chết lẫn người thân của họ đều phải đối diện với sự tang tóc, đau buồn.  Cái chết này làm người ta đặt dấu hỏi về ý nghĩa của sự hiện hữu trên đời.  Có đó rồi mất đó.  Từ bụng mẹ chui ra rồi trở về lòng đất.  Có một thời ta đã không hiện hữu, rồi sau một thời gian ngắn được hít thở chút không khí, ta lại trở về với cái “không hiện hữu”.  Ta có thể còn tồn tại không ký ức, trong nỗi nhớ, nơi kỷ niệm, nhưng ta giờ đây chẳng còn là gì nữa.  Một thoáng mây bay, một kiếp hoa dại.  Cái chết này cho thấy sự mỏng dòn, yếu đuối của bản thân.  Nó đập tan tất cả mọi tham vọng, ngạo nghễ.  Nó sẽ ập đến bất cứ lúc nào nó muốn, không phân biệt thanh xuân hay tuổi già; giàu sang hay nghèo khổ; thông minh hay ngu dốt; khoẻ mạnh hay bệnh tật…  Nó là kẻ thù đáng sợ nhất của con người và mãi mãi, con người chẳng bao giờ có thể chiến thắng được nó.  Còn mang thân xác này, là còn phải đối diện với nó vào một khoảnh khắc nào đó ta chẳng hay.

Cái chết thứ hai là kiểu chết về tinh thần.  Cái chết này không làm cho người ta tắt thở, không đưa người ta vào lòng đất, nhưng đục khoét con người và làm cho con người “sống không bằng chết.”  Đó là khi người ta mất hết nhuệ khí, chẳng còn hy vọng.  Người ta chỉ có đó, hít thở không khí, chứ chẳng hề “sống” thật sự.  Từng ngày tháng dài trôi qua một cách vật vã.  Người ta không thấy được ý nghĩa của cuộc sống, không biết mình hiện hữu để làm gì, không biết tại sao mình lại được sinh ra trên đời, và đặc biệt, họ không thấy mình được yêu thương.  Họ chẳng biết yêu là gì.  Không được sưởi ấm và che chở bởi tình cảm nhân sinh.  Họ chỉ sống bằng một thân xác chơ vơ, ngày ngày kiếm sống như bao loài động vật khác.  Họ bị cô lập hoặc tự mình cô lập trong thế giới này.  Họ nhốt mình trong quá khứ buồn, trong những ký ức xa xưa, đến nỗi chẳng còn một ý chí thúc đẩy họ vươn tới, hướng về tương lai phía trước.

Cái chết thứ ba mang tính luân lý và tôn giáo.  Đó là cái chết của người không còn sống theo tiếng lương tâm ngay lành mách bảo.  Họ chẳng còn ý thức gì về sự chính trực, sự công bằng, về đạo đức.  Họ phạm tội này đến tội khác nhưng cứ xem đó như là niềm hãnh diện của mình, chứ không ý thức rằng, cứ mỗi lần phạm tội là họ tự chà đạp nhân phẩm của mình, làm cho sự hiện hữu của mình mất đi ý nghĩa.  Cứ để ý mà coi, người ta càng sống trong tội, càng cảm thấy bất an, sợ sệt.  Còn người nào càng tích trữ nhân đức cho mình thì càng sống cách an nhiên, tự tại, vui sướng.  Khi người ta thấy hạnh phúc, là khi sự sống trong họ trở nên trào tràn, họ thấy mình sung mãn năng lượng để vui hưởng cuộc sống.  Người nào không đặt đời mình trên nền tảng các nhân đức thì sẽ thấy những gì mình làm chẳng có giá trị tốt đẹp nào cả.  Càng sống trong đầm lầy của tội, người ta càng tự thấy mình dần chết đi.  Chính họ, chứ không phải ai khác, kết án mình và huỷ hoại sự sống của mình.

Cái chết cuối cùng đáng được nhắc tới lại có âm vị khác hẳn.  Nó là cái chết mà ai ôm ấp nó thì trở thành anh hùng và sống mãi trong trái tim của mọi người.  Người ta thường gọi cái chết thứ tư này bằng hai chữ rất thân thương: hy sinh.  Hy sinh là tiêu hao đi, là chịu thiệt thòi (vốn dĩ là những điều chẳng ai muốn), nhưng người ta chấp nhận nó vì một mục đích cao cả, và người ta chỉ có thể đón nhận nó bằng lực đẩy của tình yêu.  Phải, cái gì gắn liền với tình yêu thì luôn cao đẹp.  Điều kỳ lạ là, cứ mỗi lần người ta “chết” theo kiểu này, người ta lại càng cảm thấy như mình đang sống và sống cách sung mãn hơn, đến nỗi có thể nói như thế này: muốn sống thì phải biết hy sinh, phải biết chết đi để được sống.  Sống giữa đời, nếu không có những kiểu “chết” này thì cũng sẽ chẳng còn ý nghĩa gì nữa.  Cuộc sống của chúng ta có trở nên đẹp, chính là nhờ cái chết này.  Dù là nhỏ nhoi, dù là ít ỏi, nhưng mỗi lần ta hy sinh lợi ích của mình cho người khác, sự mất mát đó lại trổ sinh hoa trái, sự sống trong ta lại trở nên dồi dào và ta cảm thấy có một niềm vui thiêng liêng nào đó tràn ngập tâm hồn không sao diễn tả nổi.

Chúng ta sẽ là “người” hơn khi biết hy sinh cho nhau.  Đó không chỉ là bí quyết của cuộc sống mà còn là ơn gọi, là sứ mạng, là mệnh lệnh của Tạo Hoá dành cho chúng ta.  Khi ta tự nguyện thực hành những hy sinh trong cuộc sống, sự sống của ta trở nên đong đầy, đến nỗi, cả khi phải đối diện với cái chết sinh học, ta chẳng còn cảm thấy sợ hãi nữa; ta sẽ thấy mình được đong đầy bởi tình yêu nên cũng không còn cái chết tinh thần; và nhờ tích góp nhiều nhân đức, ta cũng thoát khỏi cái chết luân lý.  Một chút hy sinh ở đời này là góp phần dựng xây hạnh phúc ở đời sau.  Hay đúng hơn, ngay khi ta biết hành động với tình yêu trong những sự hy sinh nhỏ bé, chính là ta đã nếm được sự viên mãn của tâm hồn rồi.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

HÃY CHO NHAU NỤ CƯỜI

Có lần mẹ Têrêsa thành Calcutta kể lại câu chuyện như sau:

Nhiều người đến thăm tôi tại Calcutta và trước khi ra về thường ngỏ ý với tôi: “Xin cho chúng tôi một lời khuyên để chúng tôi sống tốt đẹp hơn”.

Tôi liền bảo họ: “Quí vị hãy về và hãy ban tặng cho nhau những nụ cười. Một nụ cười cho vợ của ông.  Một nụ cười cho chồng của bà.  Một nụ cười cho con cái của ông bà.  Hãy cười tươi với tất cả mọi người, bất luận người đó là ai.  Với những nụ cười tươi như thế quí vị sẽ lớn lên trong tình yêu hỗ tương.”

Nghe vậy một người trong nhóm hỏi tôi:

– Bà có lập gia đình không?

Tôi gật đầu và nói:

– Ðôi khi tôi cũng cảm thấy khó nở một nụ cười với vị hôn phu của tôi.

Và mẹ Têrêsa kết luận:

– Ðúng thế, Chúa Giêsu có thể đòi hỏi rất nhiều.  Và chính khi Ngài đòi hỏi như thế thì không gì đẹp cho bằng nở một nụ cười thật tươi với Ngài.

* * * * *

Bạn thân mến! Các sách Phúc Âm không ghi lại một nụ cười nào của Chúa Giêsu mà chỉ đôi ba lần nhắc đến những thổn thức và tiếng khóc nức nở của Ngài.  Vậy mà cả cuộc đời, những lời rao giảng, những việc làm và nhất là cái chết của Ngài được gọi là Tin Mừng !!!

Chúa Giêsu mang đến cho con người một Tin Mừng, bởi vì qua cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của mình, Ngài đã mang đến cho mọi người con đường hy vọng.  Ðau khổ và sự chết đã bị khắc phục, bởi vì hy vọng, niềm vui, sự sống đã bừng dậy từ đau khổ và sự chết của Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu chính là nụ cười của Thiên Chúa gửi tặng chúng ta.  Trong Ngài con người tìm được ý nghĩa của cuộc sống, ngay cả khi gặp thất bại, khổ đau.  Trong Ngài con người tìm được niềm vui, ngay cả khi thua thiệt mất mát.  Trong Ngài, con người tiếp tục hy vọng, ngay cả giữa những giờ phút tăm tối nhất của cuộc đời.

Nụ cười lôi cuốn nụ cười.  Chúa Giêsu đang chờ đợi nơi con người một nụ cười đáp từ:

  • Cười vui với Ngài là biết đón nhận từng phút giây trong cuộc sống và mọi biến cố với tất cả tin yêu, hy vọng và phó thác.
  • Cười vui với Ngài là luôn sẵn sàng nhận ra Ngài với khuôn mặt của mỗi người anh em.
  • Cười vui với Ngài cũng có nghĩa là biết trao ban một ánh mắt cảm thông, một nụ cười thân thiện, một lời nói ủi an tha thứ với tất cả mọi người.

(R. Veritas)

* * * * *

Lạy Chúa! Nụ cười không mất tiền mua, không phải vất vả cực nhọc để đi xa mang về … Nụ cười thật dễ dàng để xuất hiện trên môi miệng và trên khuôn mặt nhưng sao con lại thấy thật khó khăn vất vả để trao tặng nụ cười trên khuôn mặt của con cho những người xung quanh …Con đã thay thế nụ cười bằng những cái nhăn mặt méo mó, bằng  những ánh mắt giận dữ, bằng những cái lắc đầu xua tay và đôi khi bằng những lời nói làm đau lòng người khác.  Xin cho con luôn ý thức rằng : mỗi khi con mang nụ cười đến cho những người xung quanh chính là lúc con dâng lên Thiên Chúa  tình yêu và nụ cười, sức sống và hy vọng của đời con . Amen