CHÚA ĐÃ CỨU ĐỜI TÔI

Tôi là một người ngoại đạo, bản thân tôi trước nay chỉ biết Chúa qua những bức tượng, tranh ảnh, và những đêm Giáng sinh “ăn theo” với các bạn bè Công giáo.

Cuộc sống cứ lặng lẽ trôi đi, cuộc đời tôi cứ thăng trầm theo từng biến cố của đất nước.  Năm 1989, tôi lập gia đình với người vợ thân yêu  của tôi ngày hôm nay – người đã mang tôi đến với Chúa sau này.  Năm 1994 cả gia đình bên vợ tôi đi xuất cảnh qua Mỹ theo diện HO.  Vì lí do vợ tôi trên 21 tuổi đã lập gia đình nên không được đi cùng với đại gia đình.

Vợ chồng tôi lần lượt có hai đứa con, một trai và một gái rất xinh xắn dễ thương.  Cuộc sống đầy đủ, tinh thần thoải mái, cộng với sự trợ giúp về vật chất cũng như về tinh thần của cả gia đình bên vợ (đang định cư tại tiểu bang VA), làm cho tôi càng ngày càng sa đà vào những cuộc vui với bạn bè cùng nơi làm việc.  Ban đầu chỉ là vui chơi theo từng trận banh trực tiếp cá độ cho vui: chầu ăn sáng, cà phê, dần dần tôi đã trở thành một con nghiện thật sự của môn “TÚC CẦU GIÁO”.

Cũng vì thú đam mê này của tôi, gia đình nhỏ của tôi phải sống trong cảnh từ sung sướng, thoải mái trở nên khó khăn và nợ nần chồng chất.  Vợ tôi phải bán đi căn nhà để trả nợ cho tôi và luôn luôn sống trong cảnh nơm nớp lo sợ nợ đòi.

Đầu năm 2007, trước những khó khăn của gia đình (bố mẹ vợ và các em đã gởi về gần bốn chục ngàn đô la để trả nợ cho tôi) vợ tôi đã đến nhà thờ Phú Trung, đến với giờ chầu Thánh Thể lúc ba giờ chiều mỗi ngày; vợ tôi được gặp các chị em trong Nhóm Kinh thánh cầu nguyện, các chị đã chia sẽ và hướng dẫn vợ tôi tìm đến với Chúa Giê-su, đến với Chúa hầu cứu giúp con người tội lỗi của tôi.

Được sự tác động của vợ tôi, tôi cũng miễn cưỡng đi đến giờ chầu, và đi học lớp mười tám tuần tại nhà thờ Thánh Mẫu; quả thật tôi cũng vẫn chưa cảm nghiệm được có Chúa trong tôi.  Tôi vẫn chưa có sự bình an trong tâm hồn; đến bài số tám trong bài học Chuẩn bị đón nhận Chúa Giê-su, một sự việc đã làm thay đổi  trong tôi và thật sự Chúa đã sờ chạm vào trong con người tôi.  Tối hôm đó hướng dẫn viên là một người trước đây cũng từng là người cờ bạc, số đề… phải bán nhà bán cửa; nhưng anh đã được Chúa cứu chữa từ thể xác đến tâm hồn và đang rao giảng Tin mừng cũng như  làm chứng cho Chúa.

Tôi ngồi dưới lắng nghe và bất chợt tôi như bị thu hút vào từng lời nói của người hướng dẫn, ôi lời Chúa sao tuyệt vời quá, vậy mà mãi  đến hôm nay tôi mới cảm nhận được.

Chúa đã mang đến cho con sự tự tin và bình an trong gia đình con.

Sau buổi học đó, mặc dù còn những lời hăm he hay những lần chủ nợ đến nhà đòi; tôi đều đọc kinh và chúc lành cho những người chủ nợ của tôi và kì diệu thay các chủ nợ đều không nặng nhẹ và vui vẻ cho tôi thời hạn để trả nợ – một điều mà trước đây khi chưa có Chúa tôi không bao giờ được nghe.  Tôi tin tuởng vào quyền năng của Chúa, Chúa giúp tôi bằng cách này hay cách khác sẽ thoát khỏi cảnh này.  Tôi vững tin là như vậy.

Con cảm ơn Chúa đã sờ chạm đến con, đã nghe một người ngoại đạo như con cầu xin ơn cứu độ.  Để hôm nay con có thể tự hào nói rằng, con sẽ mãi mãi là con cái Chúa, con là con chiên lạc đàn đang quay về bên Chúa.

Ngày 2-12-2007 này cả gia đình tôi sẽ được làm phép rửa tội sau khi được học giáo lý.  Tôi sẽ đi loan báo tin mừng và sẽ làm nhân chứng cho Chúa về câu chuyện của tôi, một sự giải thoát tuyệt vời của Chúa.

Đây là những lời chân thật nhất của tôi dù tôi không viết được văn hoa nhưng tôi mong tất cả những ai đang thiếu Đức tin Hãy tin tưởng tuyệt đối vào CHA trên Trời và CHÚA nhân từ của chúng ta.

Trần Ngọc Minh
4-11-2007

CHỜ ĐỢI CHÚA TRONG NIỀM TIN

Bạn có kinh nghiệm động đất bao giờ chưa? Ở những nơi có động đất người ta kinh hãi vô cùng.

Trong một làng kia, khi một trận động đất lớn xảy ra, gây thiệt hại nhiều về nhà cửa và nhân mạng. Có một người đàn bà trong làng vẫn tỏ ra bình thản. Mấy người láng giềng của bà rất ngạc nhiên và hỏi:

– Sao chị có vẻ bình tĩnh như vậy? Chị có bí quyết nào cho chúng tôi biết với. Vì sao chị không lo sợ gì cả?

Bà ấy trả lời:

– Không! Tôi chẳng có bí quyết gì đâu. Tôi chỉ mừng là tôi có Chúa, Ðấng quyền uy có thể làm rung chuyển cả quả đất này.

* * * * *

Bạn thân mến, Trong năm vừa qua, hàng ngàn người đã thiệt mạng bởi những tai ương hoạn nạn xẩy ra đó đây trên thế giới. Có nhiều người cho rằng đây là những dấu hiệu của ngày tận thế sắp xẩy ra trong một ngày gần đây. Vì Chúa đã nói khi ngày tận thế đến, “sẽ có những trận động đất lớn mọi nơi, sẽ có ôn dịch đói khát, những hiện tượng kinh khủng từ trên trời và những điềm lạ cả thể” (Lc 21:11). Điều này khiến cho lòng chúng ta phải băn khoăn và tự vấn, phải chăng ngày tận thế đã đến gần? Nhưng trong thực tế, chúng ta sẽ không bao giờ biết rõ ngày giờ Chúa đến, như Lời Chúa đã phán: “Về ngày giờ ấy không ai biết, kể cả thiên thần trên trời, và cả Con Người nữa, chỉ Thiên Chúa Cha biết” (Mt 24:36)

Nghĩ đến ngày tận thế, nhiều người cảm thấy rùng mình kinh khiếp. Cũng trong đoạn Phúc âm hôm nay, Chúa nói: “Khi anh em nghe có chiến tranh, loạn lạc thì đừng sợ hãi” (Lc 21:9). Chúa luôn luôn biết chúng ta suy tưởng và cảm nghĩ gì; Ngài biết chúng ta đang sống trong tình trạng lo lắng và sợ hãi. Nỗi lo lắng băn khoăn về tương lai là một chuyệt rất tự nhiên. Theo lẽ thường, bất cứ điều gì chúng ta không thể nắm chắc trong tầm tay đều làm cho chúng ta cảm thấy băn khoăn lo lắng. Trong tâm tư chúng ta có thể có những khúc mắc về tương lai như: Tận thế bao giờ đến ? Nếu ngày tận thế đến, tôi có sẵn sàng chưa?…v.v. Chúng ta không nên lo lắng sợ sệt ngày Chúa đến, nhưng ngược lại hãy nên rộng mở cánh cửa tâm hồn để sẵn sàng đón Chúa. Nếu chúng ta sống trong tâm tình phó thác cậy trông vào sự quan phòng của Thiên Chúa thì không có điều gì đáng cho chúng ta phải lo ngại. Quá khứ, hiện tại, và tương lai của chúng ta đều nằm trong vòng tay yêu thương quan phòng của Thiên Chúa.

Lo lắng để dọn mình sẵn sàng cho ngày Chúa đến là điều cần thiết và rất quan trọng; vì Chúa đã nói: “Vậy các ngươi hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày giờ Chủ các ngươi đến. Hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm sẽ vào, hẳn ông đã tỉnh thức và không để chúng đào ngạch khoét vách nhà ông. Vì thế các ngươi cũng vậy, hãy sẵn sàng vì vào chính giờ các ngươi không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24:42-44). Nhưng tại sao chúng ta lại sợ đến ngày tận thế? Phải chăng vì chúng ta đã chưa ý thức sự hiện diện của Chúa trong từng biến cố thường ngày của chúng ta? Mỗi người hãy gắn liền cuộc đời của mình với sức sống thần linh của Thiên Chúa; để qua những biến cố hân hoan vui mừng cũng như buồn phiền đau khổ, chúng ta đều nhìn ra bàn tay yêu thương và quyền năng của Chúa trên cuộc đời chúng ta. Những ai vẫn kết hiệp với Chúa trong cuộc sống hằng ngày cũng sẽ được kết hiệp với Chúa trong ngày Chúa đến. Và Chúa sẽ đến trong vinh quang để đem sức sống của Ngài cho chúng ta như lời Ngài đã phán: “Ta đến để chúng được sống và sống dồi dào.” (Jn 10:10)

Hãy để Chúa dẫn dắt chúng ta trên con đường thánh ý của Ngài. Nếu Chúa cùng đồng hành với chúng ta trên bước đường đời thì dù hôm nay, ngày mai, hoặc năm tới tận thế cũng chẳng sao.

Chúng ta hãy can đảm để sống từng giây phút trong niềm vui và an bình. Hãy phó thác và giữ vững niềm tin nơi Chúa trong mọi biến cố thăng trầm của cuộc sống. Để qua những việc hết sức tầm thường của cuộc sống trần thế, chúng ta sẽ nhìn ra sự cao cả phi thường của Thiên Chúa.

* * * * *

Lạy Chúa, cuộc đời con Chúa đã an bài. Con xin phó thác quá khứ, hiện tại, và tương lai đời con trong ân tình Chúa. Lạy Chúa, Chúa là cùng đích và là tất cả của đời con, xin ban cho con một tấm lòng luôn khát khao yêu mến Chúa. Xin Chúa hãy giữ gìn và ban cho con một tâm hồn trong sạch để bất cứ lúc nào Chúa đến con đều sẵn sàng. Amen

Sr. Vũ Mai Oanh, OP

THOÁT CHẾT

Hôm đó là ngày 30.8.2007.  Tôi đi làm về.  Chiếc xe của tôi chạy bon bon trên quãng đường được cho phép chạy ở tốc độ 50miles/giờ.  Khi chỉ còn cách nhà khoảng 5 phút nữa thình lình tôi thấy đầu óc choáng váng rồi không còn biết và thấy gì.  Tiếp đó tôi nghe tiếng va chạm mạnh giữa chiếc xe của tôi với một vật gì đó.  Lúc này tôi biết tai nạn vừa xảy ra và tôi cũng đoán biết vật mà chiếc xe của tôi vừa đụng chạm là một chiếc xe chạy ngược chiều.  Tôi ngồi bất động nhìn chiếc xe của mình đang lao xuống bờ đường bên tay phải.  Khi chiếc xe đã ngừng lại tôi thấy mình vẫn ngồi an toàn trên ghế. Tôi ngước mắt lên trời cảm tạ Chúa và Đức Mẹ đã cho tôi được bình an.

Ngay lúc đó một người phụ nữ Mỹ mà tôi đoán là bà ta lái xe ngay sau chiếc xe của tôi chạy đến và với vẻ mặt có vẻ lo lắng bà hỏi tôi có sao không.  Tôi cám ơn bà rồi trả lời rằng tôi không sao, chỉ bị rát nơi mặt vì sức bung mạnh của chiếc túi không khí (air bag) đánh vào mặt và bàn chân trái bị đau.  Vừa nói với người phụ nữ Mỹ tôi vừa hơi cúi xuống xem nguyên do nào khiến cho bàn chân trái của tôi bị đau. Nhưng qua ô cửa mà kính đã bị bể nát và bằng một động tác rất nhanh người phụ nữ Mỹ đưa tay ngăn tôi lại rồi đẩy cho người tôi dựa vào thành ghế.  Vừa làm động tác này bà vừa căn dặn tôi phải ngồi yên không được cử động cho đến khi xe cứu thương tới.  Nghe lời bà, tôi ngồi yên không động đậy.

Tựa lưng vào thành ghế tôi nhắm mắt lại và một lần nữa thầm thĩ tạ ơn Chúa và Đức Mẹ đã che chở tôi trong tai nạn vừa qua.  Tự nhiên nước mắt trào ra hai bên khóe mắt.  Tôi không hiểu vì sao nước mắt chảy ra nhưng người phụ nữ Mỹ tưởng tôi khóc vì đang lo nghĩ về điều gì đó.  Bà an ủi tôi rằng mọi sự rồi sẽ OK không cần phải nghĩ ngợi gì.  Người phụ nữ tốt bụng đã có mặt giúp đỡ tôi ngay khi tai nạn vừa xẩy ra cho tới khi có nhân viên cứu thương đến nơi.

Trong thời gian nằm trong xe cứu thương trên đường tới bệnh viện cũng như trong lúc ở trong phòng cấp cứu chờ đợi gặp bác sĩ tôi đã suy nghĩ thật nhiều về biến cố vừa trải qua.  Tôi đã đặt ra nhiều câu hỏi mà không trả lời được.  Nguyên nhân nào làm cho tôi không hay biết gì trong giây lát khiến tai nạn xẩy ra?  Tại sao tôi vẫn được bình an trong một tai nạn như vậy?  Với mức độ hư hại của chiếc xe không ai nghĩ tôi còn sống sót chứ đừng nói đến chuyện được bình an.  Thế mà tôi vẫn được bình an.  Cuối cùng tôi chỉ có thể giải thích rằng Chúa chưa muốn tôi chết.

**********************

Đêm hôm đó nằm trên giường bệnh nhân tôi mơ thấy mình đã chết.  Tôi thấy mình đang nằm trong một quan tài được đặt trong một căn phòng của một nhà quàn nào đó trong thành phố.  Ở đó tôi nghe được những tiếng khóc, nghe được những tiếng thở dài cùng những ngôn từ buồn thảm.  Tôi nhìn thấy những cặp mắt đỏ hoe, đầm đìa nước mắt.  Cũng ở đó tôi còn nghe được những lời kinh sốt sắng để cầu nguyện cho người vừa qua đời.  Trong lúc đó thì linh hồn đã ra đi để đến trình diện trước tòa phán xét.

Trên đường đến tòa phán xét tôi biết rõ sau khi bước ra khỏi tòa phán xét thì linh hồn tôi sẽ đến một trong ba nơi như lời kinh bổn mà tôi đã thuộc nằm lòng ngay từ khi còn bé.  Theo đó thì linh hồn tôi “Hoặc lên Thiên đàng, hoặc xuống Hỏa ngục hay là vào lửa Luyện tội”.  Trong lúc chờ đợi đến phiên mình vào gặp vị thẩm phán, tôi đã tự trấn an để đừng quá lo sợ.

Tôi nhủ thầm rằng suốt một đời theo Chúa và ngày ngày nài nỉ “ Lạy Chúa Giêsu xin tha tội cho chúng con, xin cứu chúng con khỏi sa hỏa ngục…” tôi hy vọng sẽ được Chúa thương xót cho tôi tránh khỏi hỏa ngục nhưng lên thẳng thiên đàng thì tôi không bao giờ dám nghĩ tới.  Vì trước mặt Chúa là đấng toàn thiện, toàn hảo thử hỏi ai là người được coi là tinh tuyền để được vào thẳng nước thiên đàng mà không phải trải qua thời kỳ thanh luyện?  Nói cách khác là đền tội nơi luyện ngục.

Tôi đang suy nghĩ thì có lệnh triệu vào trình diện trước tòa.  Vị chánh thẩm nhân lành nhưng công minh trao cho tôi một cuốn sổ.  Vừa trao cuốn sổ cho tôi Người vừa nói với tôi rằng tất cả công, tội của tôi cũng như thời gian phải ở luyện ngục đều được ghi đầy đủ ở trong đó.  Tôi nhận cuốn sổ bước ra vừa đi tôi vừa mở cuốn sổ.

Tôi xem lướt qua phần ghi công và tôi thật ngạc nhiên vì thấy có những việc rất nhỏ nhặt nhưng đã được ghi ở phần công phúc.  Tôi chưa muốn mở đến phần ghi tội vì nóng lòng muốn biết thời gian tôi phải đền tội ở luyện ngục là bao lâu.  Tôi lật tiếp ít trang nữa và hồi hộp khi nhìn thấy hàng chữ:  THỜI GIAN ĐỀN TỘI Ở LUYỆN NGỤC……

Vừa lúc đó thì có ai đó vỗ vỗ vào vai tôi.  Tôi mở choàng đôi mắt và thấy người y tá đang đứng bên cạnh đầu giường với dụng cụ đo áp huyết.  Người thanh niên trẻ mỉm cười nói xin lỗi đã làm gián đoạn giấc ngủ của tôi nhưng đã đến giờ anh ta phải đo huyết áp cho tôi.  Tôi đưa cánh tay để anh ta làm nhiệm vụ trong lúc đầu óc tôi vẫn còn nghĩ đến giấc mơ.

Khi người y tá đã ra khỏi phòng tôi trở lại với giấc mơ.  Tôi cảm thấy tiếc vì chưa biết được thời gian phải đền tội ở luyện ngục thì người y tá đã đánh thức tôi dậy.  Câu chuyện trong giấc mơ lại được tiếp nối trong thực tại với những suy tư của một người còn đang sống.  Tôi nghĩ đến Luyện ngục.

Theo giáo lý Công giáo thì vào luyện ngục cho dù thời gian là bao lâu cũng có ngày được về Thiên đàng không như hỏa ngục là chốn bị án phạt đời đời không bao giờ được ra khỏi.  Giáo lý cũng dậy rằng từ khi vào luyện ngục thì bản thân các linh hồn không thể làm gì để tự cứu mình.  Nhưng thời gian ở luyện ngục có thể giảm bớt nhờ lời cầu nguyện, thánh lễ hay việc lành phúc đức từ người còn sống.

Những linh hồn ở luyện ngục hoàn toàn trông cậy vào người còn sống.  Nếu người còn sống quan tâm và năng cầu nguyện cho họ thì thời gian thọ hình sẽ được rút ngắn còn nếu người còn sống lơ là với họ thì họ phải chịu hình phạt đúng với thời gian như phán quyết đã định.  Ai đã đọc qua những sách nói về luyện ngục hẳn không khỏi giật mình vì trường hợp các linh hồn phải đền tội mấy chục năm ở luyện ngục không phải là hiếm.  Thậm chí có những linh hồn còn phải đền tội lâu hơn nhiều.

**********************

Sau tai nạn, ngày ngày tôi vẫn lái xe qua lại và nhìn những dấu tích còn sót đọng trên đoạn đường này.  Hôm nay sau gần hai tháng kể từ khi gặp nạn, tôi không còn nhìn thấy dấu tích nào nữa.  Đoạn rào sắt bị sập đã được sửa chữa.  Bỗng dưng nhớ lại chuyện cũ tôi cảm thấy bồi hồi rồi đặt ra cho mình một chữ “Nếu”.

Nếu Chúa định cho tôi chết trong tai nạn ngày hôm đó thì thân xác tôi nay đã nằm yên dưới lòng đất lạnh.  Thân xác tôi giờ đây đang ở trong giai đoạn hư thối để rồi từ tro bụi lại trở về với tro bụi.  Nỗi nhớ thương dành cho tôi có lẽ nay cũng đã vơi bớt và rồi với thời gian, tên tuổi của tôi sẽ dần dần biến mất khỏi ký ức của mọi người.

Tôi không phải là người giàu có, không phải là người học rộng tài cao, không có quyền cao chức trọng trong xã hội….  Nhưng cho dù có thì những thứ ấy cũng chẳng có giá trị gì trong cuộc sống ở thế giới mới.  Tai nạn đã nhắc nhở tôi cuộc sống trần gian chỉ là tạm bợ, chẳng có gì là bền vững.

Đó là nói về phần xác còn phần linh hồn cứ tạm coi giống như giấc mơ thì linh hồn tôi đang đền tội ở luyện ngục.  Ở luyện ngục tôi trở thành bất lực không còn có thể làm được gì để giúp mình mà chỉ hoàn toàn trông cậy vào những người còn sống.

Nhưng những người còn sống có sẽ thường xuyên cầu nguyện cho tôi không hay là những lời cầu nguyện của họ sẽ thưa dần theo năm tháng?  Tôi tin là sau thời gian dài chung sống và với tình nghĩa thâm sâu, người bạn đời của tôi chắc chắn sẽ không ngừng cầu nguyện cho tôi.  Còn con cháu? Tôi không hề nghi ngờ lòng hiếu thảo của con cháu nhưng tôi hiểu lối sống trong xã hội ngày nay ở Mỹ.  Với những bận rộn của cuộc sống, nhiều khi người ta còn không có thì giờ để nghĩ đến chính mình thì làm sao có thì giờ để nghĩ đến người khác cho dù là người thân.  Hơn nữa với khuynh hướng giữ đạo ngày càng hời hợt của thời đại hôm nay có mấy ai còn quan tâm và ý thức được sự quan trọng của việc cầu nguyện cho người đã chết.

Tôi không bi quan nhưng quả thật để linh hồn được cứu rỗi, để giảm bớt thời gian đền tội ở luyện ngục.  Nói cách khác để chuẩn bị cho cuộc sống đời sau là việc của chính mình chứ không thể trông cậy vào bất cứ ai.  Chính ở điểm này tôi càng thấy vui mừng và phải cảm tạ Chúa đã cho tôi còn được sống sau tai nạn.

Còn được sống không có nghĩa là sẽ sống mãi.  Lazarô chết bốn ngày được Chúa cho sống lại rồi cũng phải chết.  Còn được sống không phải để kéo dài tuổi thọ, cũng không phải để có thêm thời gian an hưởng tuổi già.  Nhưng Chúa cho tôi còn được sống để tôi có thêm ngày giờ để làm việc lành phúc đức, phụng sự Chúa, làm những việc có ích cho Giáo hội và tha nhân….. trước khi quá trễ.

Lại Thế Lãng
Tháng Các Linh Hồn 2007

NHỚ ĐẾN TÔI

Nhật báo Bild tại thành phố Ham-burg nước Đức, trong số báo ra ngày 3 tháng 10 năm 1996, có đăng tin như sau: Anh Eduardo Sierra, 35 tuổi, người Công Giáo thuộc nước Tây Ban nha, nhân một chuyến du lịch sang nước Thụy Điển đã ghé thăm một nhà thờ bỏ trống thuộc thành phố Stock-holm. Trong đó có đặt một chiếc hộp đựng xương của một người quá cố nào đó.  Anh Eduardo Sierra quyết định cầu nguyện cho linh hồn người quá cố và viết tên cùng địa chỉ vào cuốn sổ đặt trước chiếc hộp với dòng chữ: “Ai cầu nguyện cho người quá cố này xin ghi tên và địa chỉ vào cuốn sổ”.  Thế rồi sau đó hai tuần khi trở lại nước Tây ban Nha, anh Eduardo Sierra đã nhận được lá thư từ nước Thụy Điển báo rằng anh được hưởng trọn vẹn gia tài người đã chết là ông Jens Svenson, một nhà địa ốc 73 tuổi, không có một ai thân thích.  Ông Jens Svenson đã ghi vào bản di chúc của mình rằng: “Bất cứ ai cầu nguyện cho linh hồn tôi thì sẽ được thừa kế tất cả gia tài của tôi”.

Số tiền anh được hưởng tương đương hai triệu Mỹ kim.  Ông Jens Svenson cả một đời làm việc vất vả, dành dụm được một số tiền khá lớn, nhưng khi nằm xuống, ông chẳng mong ước gì hơn là có người nhớ đến và cầu nguyện cho ông .  Thực ra đối với một người đã chết dù 2 triệu Mỹ kim cũng không ích lợi bằng một Thánh Lễ hay một lời cầu nguyện bé nhỏ đơn sơ.

***************************

Có một loài hoa tên là “Forget Me Not”, người biết thưởng thức hoa thì gọi nó là Lưu Ly Thảo”, còn giới bình dân thì đặt tên cho nó là “Đừng Quên Tôi”.  Đừng Quên Tôi là ba chữ tự nhiên được in sâu trong tâm trí con người.  Ai trong chúng ta cũng ao ước người khác nhớ đến mình.

Mẹ sửa soạn đi chợ thì đứa con nói: “Mẹ nhớ mua quà cho con nhé.”  Anh kia mở một bữa nhậu, bạn bè đánh hơi được thì nói ngay: “ông nhớ gọi tôi đấy nhé.”  Chồng đi làm xa thì vợ dặn dò: “Anh nhớ gọi về cho em nhé.”  Vị linh mục sau khi thăm viếng bệnh nhân thì bệnh nhân thường nói: “Cha nhớ cầu nguyện cho con nhé.”

Chúa Giêsu là Thiên Chúa cũng không ngoại lệ.  Trong phần Truyền Phép là phần quan trọng nhất của Thánh Lễ, chúng ta vẫn nghe câu: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”.

Trong bài Phúc âm người trộm lành cũng bộc lộ tâm tình sâu kín nhất của anh ta với Chúa Giêsu: “Lạy Ngài khi nào vào Nước Ngài xin nhớ đến tôi “.

Cuộc sống hằng ngày của chúng ta có biết bao cực nhọc, biết bao trăn trở ưu phiền, thế nhưng khi có người gọi điện thoại đến hỏi thăm, hay chúng ta nhận được một lá thư, một món quà nào đó thì lòng chúng ta cũng nhẹ nhõm đi nhiều.  Tại sao vậy?  Thưa, bởi vì họ nhớ đến tôi nên mới gọi điện thoại cho tôi, họ nhớ đến tôi nên mới viết thư cho tôi, họ nhớ đến tôi nên mới gửi quà cho tôi.  “Nhớ Đến Tôi” là ba chữ chúng ta không muốn biến mất trong cuộc đời mình.  Bởi vì nếu nó biến mất thì cuộc đời chúng ta sẽ rất bất hạnh.

Quí vị có biết thân nhân, ân nhân, bạn bè của quí vị đang nằm trong lòng đất cần điều gì nhất không?  Tôi thiết tưởng họ cần đến lòng Thương Xót của Chúa.  Đó là điều chắc chắn.  Ngoài ra họ mong điều gì nhất không?  Cũng chắc chắn là họ mong chúng ta Nhớ Đến Họ.  Nhưng cái thiệt thòi nhất của họ là gì?  Bị quên lãng.  Thời gian thì đồng loã với Quên Lãng.  Dần dần người chết bị quên lãng.  Bởi vì định luật của cuộc đời vẫn là: “Out of sight, out of mind.”  Việt Nam mình có câu rất sát nghĩa: “Xa mặt cách lòng”.  Đó là điều đau đớn nhất của người đã chết.  Một em bé muốn ăn chỉ cần khóc, một người lớn muốn ăn thì lên tiếng nói.  Còn người đã chết chẳng cần ăn, chẳng cần mặc.  Họ chỉ cần chúng ta nhớ đến và cầu nguyện cho họ thì tội nghiệp họ không nói được, không khóc được, không làm dấu hiệu gì được.  Đó mới là nỗi đau khổ vô cùng.  Vì thế văn sĩ Pháp Jean Couteau nói một câu rất hay: “Đối với những người đã chết thì nấm mồ thực sự của họ không phái ở trong nghĩa trang mà ở trong con tim quên lãng của người còn sống”.

Một ngày nào đó tôi sẽ chết.  Tôi muốn người ta đặt trên quan tài tôi không phải chục bó hồng, không phải mười vòng hoa tươi mát, vì hoa đẹp mấy rồi cũng tàn.  Nhưng tôi muốn người ta rải lên thi thể tôi những bông hoa tưởng nhớ, những nụ hoa cầu nguyện, những chùm hoa Xin Lễ, những bông hoa hy sinh.  Hãy tặng tôi những bông hoa Forget Me Not.

Hãy để hương hoa “Đừng Quên Tôi” còn phảng phất chung quanh tôi.  Tôi cần thứ hoa đó hơn con thơ cần sữa mẹ, hơn thiếu nữ cần tình yêu, hơn khu vườn cần nắng ấm.  “Hãy làm cho người khác điều mà con muốn người khác làm cho con.”  Đó là lời vàng của Chúa Giêsu.  Hãy tưởng nhớ đến những linh hồn thân nhân ân nhân, bạn bè, mồ côi, nếu chúng ta muốn sau này có nhiều người tưởng nhớ đến mình.  Tình nghĩa thì quan trọng hơn bạc tiền.  Đời sau thì giá trị hơn đời này.  Những đồng tiền Xin Lễ cho chúng ta một cảm giác hạnh phúc và ý nghĩa bởi vì thân nhân của chúng ta đã và sẽ còn được tưởng nhớ đến mãi.

“Nhớ Đến Tôi” đó là ba chữ quan trọng không những cho người còn sống mà còn quan trọng hơn nữa cho những người đã ra đi trước chúng ta.  Xin cám ơn quí cha và quí vị đã lắng nghe con nói. Con nói thay cho những người không còn tiếng nói.

Lm. Hữu Độ, CMC

CHÚNG TA SẼ NGHE VÀ NHÌN TRÊN THIÊN ĐÀNG

Ludwig Van Beethoven là một tác giả vĩ đại của mọi thời.  Trong lúc ông vẫn còn đang tạo ra những kiệt tác thì ông cảm thấy mình dần dần mất đi thính giác, ông không còn nghe thấy.  Sau khi ông đã trở thành hoàn toàn điếc, ông sáng tác ra bản giao hưởng số 9.  Ông đã không nghe một nốt nào.  Một số người nào đó nói những thiên tài thì bất tử bởi vì công trình của họ.  Họ tin rằng Beethoven đang sống trong âm nhạc của mình.  Shakespeare thì ở trong vở kịch của mình, và Edison ở trong phát minh của mình.  Beethoven biết tốt hơn.  Khi ông sắp chết, ông nói: “Tôi sẽ nghe nhạc ở trên trời.”  Ông ta nói rất đúng.

Chúng tôi tin rằng Beethoven bây giờ đang nghe, không chỉ nghe những tác phẩm của chính mình, nhưng là âm nhạc của vị thầy vĩ đại là chính Thiên Chúa của ông.  Beethoven đã được đặc ân hiệp nhất với các thiên thần và các thánh để ca bài ca vui mừng vô tận.  Shakespeare biết rằng tất cả những lời trong tác phẩm của ông chỉ là một tiếng vang mờ nhạt với Lời đời đời được nói bởi Cha trong cõi đời đời.  Lời đó chính là Con Thiên Chúa.  Edison liều lĩnh phát minh ra ánh đèn điện nhưng bây giờ ông đã tắm trong ánh sáng rực rỡ của thị kiến vinh phúc.  Bây giờ ông hiểu rằng chân lý trong sách bài đọc từ sách Đanien.  Nền tảng của sách đó là dân Israel đã bị chiếm đóng bởi Syrie, họ cố áp đặt trên người Do Thái một ngôn ngữ ngoại quốc, một nền văn hóa và tôn giáo ngoại quốc.  Nhiều người Do Thái đã chọn lấy cái chết hơn là bị bắt cầm tù.  Tác giả của sách đã hiến tặng môt sứ điệp hy vọng cho những người sống sót bởi tuyên bố: “Người khôn ngoan sẽ chiếu sáng… những người đó sẽ được dẫn tới sự công chính và những người công chính sẽ chiếu sáng như những vì sao mãi mãi.”  Sự phát minh của Edison ngay cả khi nó phát triển nó cũng chỉ là mờ nhạt khi so với ánh sáng của sự sống đời đời, đặc ân lớn lao của Đức Kitô đã ban xuống khi Ngài đến một lần nữa, Ngài đến lần thứ hai khi Ngài Phục Sinh từ cõi chết sống lại.

Shakespeare sẽ không bao giờ tưởng tượng ra cảnh Đức Kitô, Con Thiên Chúa sẽ đến trong đám mây với quyền năng lớn lao và vinh quang, cũng không bao giờ tìm thấy đủ từ ngữ để miêu tả sự kiện ấy.  Và cả chúng ta cũng như thế nữa.  Chúng ta đã hầu như không hiểu lời của những từ ngữ mà trong bài Phúc Âm ngày hôm nay.  Đó là tất cả những gì mà chúng ta muốn trở nên hay cả khi nó xảy ra chỉ có Cha trên trời mới biết được.

Trong lúc chúng ta không giống như những người Israel đang chịu đau khổ trên miền đất của mình bởi sự chiếm đóng của người Syrie.  Chúng ta đang bị bao quanh bởi đạo quân văn hóa của sự chết, đạo quân này gây chiến tranh trên giá trị và nhân phẩm của đời sống con người.  Nó tấn công con người khi họ rất dễ tổn thương: khi chúng bắt đầu đời sống trong dạ mẹ, và khi gần chấm dứt cuộc sống trong tuổi già.  Họ loại bỏ những người hầu như cần tới sự giàu có của quê hương chúng ta để cho họ được sống sót: là những kẻ không nhà, những kẻ đói ăn, những kẻ lãnh trợ cấp, và những dân nhập cư.

Trong lúc chúng ta vẫn trung thành với đức tin Công Giáo và những giáo huấn giá trị của Giáo Hội, chúng ta không phải chết đau khổ; ít nhất cũng là như thế.  Nhưng chúng ta bị nguy hiểm khi cho phép chính mình bị ảnh hưởng một cách tinh tế, bởi những giá trị thế tục như là ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, sự tham lam.  Để kháng cự lại những ảnh hưởng này, chúng ta phải suy niệm về lời hứa sự sống đời đời cho những kẻ còn giữ được lòng trung thành.  Chúng ta sẽ nhớ rằng bí tích Thánh Thể là một lời nài xin và một lời hứa của sự sống đời đời sẽ là động cơ thúc đẩy chúng ta trung thành mãi mãi.  Đức Kitô sẽ làm viên mãn những lời của bài đọc ngày hôm nay: “Những ai được dẫn tới sự công chính sẽ chiếu sáng như những vì sao trên trời.”  Bên cạnh sự chiếu sáng như những vì sao chúng ta sẽ nghe thấy và sẽ nhìn thấy chính Thiên Chúa.

Trích trong “Mở Ra Những Kho Tàng” – Charles E. Miller

CÙNG CHẾT VÀ SỐNG LẠI VỚI ÐỨC KI-TÔ

Ðức Cha Fulton J. Sheen trong tác phẩm “Trên đỉnh cao Thập Giá” đã kể rằng: Sau khi bị Thiên Chúa đuổi ra khỏi Ðịa Ðàng và gánh chịu hình phạt lao dịch, A-đam đã phải vất vả khổ cực tìm kiếm của ăn.

Một lần kia, trên đường ra nương rẫy, A-đam vấp phải thân xác bất động của A-ben. A-đam nâng dậy vác con lên vai đưa về nhà đặt trong vòng tay E-và. Ông Bà lay gọi nhưng A-ben không đáp trả. Trước đây A-ben là đứa con ngoan, lanh lợi, không có trầm lặng như vậy. Ông Bà nâng tay A-ben lên, bàn tay lại rơi xuống đất bất động, trước đây A-ben không hề như thế. Ông Bà nhìn vào đôi mắt của con: lạnh lùng, trắng dã, vô tư một cách bí mật, trước đây đôi mắt của A-ben có vô tình như vậy bao giờ đâu. Ông Bà kinh ngạc, nỗi kinh ngạc tăng dần lên. Thế rồi hai Ông Bà chợt nhớ lời Thiên Chúa: “Ngày nào ngươi ăn trái cây này, ngươi sẽ phải chết”. 

* * * * *

Cái chết của A-ben là cái chết đầu tiên của nhân loại. Khi Nguyên tổ phạm tội, Ðịa Ðàng đã đóng ngõ cài then. Ðau khổ và sự chết đã tràn vào thế giới và chảy dọc theo thời gian.

Thiên Chúa đã sinh ra sự sống, nhưng tội lỗi đã khởi phát ra sự chết. Sống và chết là hai thái cực đối chọi nhau. Sự sống và sự chết là một kỳ công của Thiên Chúa. Con người không thể làm ra được sự sống cũng không tài nào ngăn cản được sự chết. Thế giới càng văn minh thì Tử Thần càng xuất hiện dưới muôn hình vạn trạng khác nhau. Có cái chết êm đềm thư thái, có cái chết đau đớn khốn khổ, muốn chết không được, muốn sống không yên. Càng chạy trốn Tử Thần, thì Tử Thần càng đến gần. Càng tránh đau đớn thì đau đớn càng nhiều.

Ở mọi thời đại, cái chết vẫn là một mầu nhiệm thách thức lý trí con người. Tại sao con người lại phải chết ? chết là gì ? Ðó luôn luôn là những câu hỏi làm xao xuyến tâm não con người trong mọi không gian và thời gian. Sự chết là một đề tài suy niệm phong phú. Mỗi tôn giáo, mỗi con người nhìn và hiểu một cách tuỳ theo quan niệm của mình, tuỳ theo niềm tin, tuỳ theo chọn lựa và thái độ cuộc sống.

Ðối với Ki-tô giáo chúng ta, Thiên Chúa là Chúa của sự sống, ý định của Người là thông ban sự sống chứ không phải sự chết. Vậy sự chết bởi đâu mà có ? Kinh Thánh trả lời rằng: sự chết là hậu quả của tội lỗi ( Rm 5, 12; 6, 23 ). Nhưng Thiên Chúa, “vì quá yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài để những ai tin vào Người Con ấy sẽ không phải chết nhưng được sống muôn đời” ( Ga 3, 16 ) và lời tuyên bố của Chúa Giê-su trước khi làm cho La-da-rô sống lại là một trong những lời kỳ diệu nhất: Thầy là sự sống lại và là sự sống.

Lời mặc khải này có nhiều người tin vào Chúa, nhưng cũng không ít người nghi ngờ, không tin. Bài Phúc Âm hôm nay kể về phái Xa-đốc không tin có sự sống lại, họ đặt ra những vấn nạn vô lý để chất vấn Chúa Giê-su. Họ trích sách Ðệ nhị luật 25, 5 6 để hỏi Người: Nhà kia có 7 anh em trai. Người anh cả cưới vợ rồi chết không con. Theo luật Mô-sê, người em phải lấy chị goá để có con nối dõi, và cả 7 anh em đều chết không con. Khi sống lại, chị goá đó sẽ là vợ của ai ?

Nhưng câu trả lởi của Ðức Giê-su đã vén mở phần nào bức màn đời sau. Ðời sau khác đời này. Người ta không lấy vợ gả chồng, không cần con nối dõi, nhưng sống như các thiên thần, chỉ lo phụng sự và ca ngợi Chúa. Ðời sau không còn bóng dáng của Thần Chết. Con người thoát khỏi quy luật thông thường của lẽ tử sinh. Toàn bộ con người cả xác lẫn hồn được sống lại. Thân xác tuy đã tan thành tro bụi theo thời gian, nhưng sẽ được biến đổi cách kỳ diệu để chung hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với linh hồn. Bởi vì Ðức Chúa là Thiên Chúa của Tổ phụ Áp-ra-ham, Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, đối với Người tất cả đều đang sống.

Qua mầu nhiệm Thương Khó và Phục Sinh sắp tới, Ðức Giê-su sẽ hoàn tất măc khải này. Ðức Giê-su đã chiến thắng sự chết bằng chính cái chết trên Thập Giá và Người đã sống lại để trao ban sự sống mới, sự sống của Ðấng Phục Sinh. Chính bởi sự yêu mến, vâng phục và dâng hiến nên cái chết của Chúa Ki-tô là một sự chiến thắng, bẻ gãy mũi nhọn của thần chết ( 1 Cr 15, 14 ). Thánh Phê-rô đã nói một cách sâu sắc: “Tội lỗi của chúng ta, chính Ðức Ki-tô đã mang vào thân thể, mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết với tội lỗi, chúng ta được sống cuộc đời công chính” ( 1 Pr 2, 24 ).

Vì Ðức Giê-su đã thắng được những xao xuyến, thắng được những tuyệt vọng, nên Người đã biến cái hố thẳm hay biển cả mênh mông ngàn trùng xa cách giữa con người và Thiên Chúa thành biển cả tình thương liên kết hiệp nhất Thiên Chúa và loài người. Ðức Ki-tô đã trở nên con đường giao hoà và Thập Giá Ðức Ki-tô đã trở thành như chiếc thang nối liền trời và đất, kết hợp Thiên Chúa và loài người. Yếu tính sự chết đã được biến đổi. Sự chết không còn là tang tóc nữa mà đã trở thành Lễ Vượt Qua để tiến tới Vinh Quang Thiên Quốc. Từ nay Ðức Giê-su không còn lệ thuộc vào thân xác vật chất nữa, những gì thuộc về thân xác vật chất đều đã chết trên Thập Giá. Chúa Ki-tô đã được Thần Khí hoá ( Rm 8, 11; 1 Pr 3, 18 ), và sự sống của Người thuộc về Thiên Chúa ( Rm 6, 10 )

Niềm tin vào Ðức Giê-su, Ðấng đã chết và sống lại là niềm tin cao cả nhất. Khi trái tim một người Ki-tô hữu ngừng đập thì chuông Nhà Thờ vang lên báo tin cho mọi người biết linh hồn một người đã được Chúa gọi về. Nghe chuông báo tử, mọi người đến tang gia để thăm viếng, phân ưu, đọc kinh cầu nguyện, tham dự nghi thức tẩm liệm, cùng đưa người chết đến Nhà Thờ. Linh cữu được đặt ngay trước Nhà Tạm của Chúa Giê-su. Cây nến Phục Sinh tượng trưng cho sự sống lại của Chúa và của những ai theo Ngài được thắp sáng lên đặt cạnh quan tài. Thánh Lễ được cử hành để hiệp thông cầu nguyện cho người chết, nói lên việc Giáo Hội trân trọng với cả xác chết. Ðại diện cho Giáo Hội là Linh Mục tiễn đưa người quá cố từ Nhà Thờ đến Ðất Thánh, làm phép huyệt để thánh hoá nơi người chết an nghỉ và nói lên niềm hy vọng tuyệt vời: “Chúng ta gởi thân xác người thân yêu ở lại đây, đợi ngày sống lại gặp nhau trên Thiên Ðàng.”

Sự chết và sự sống lại của Chúa Ki-tô không những đã chuộc lại được cho con người những gì nó đã mất vì tội lỗi, nhưng còn là một cuộc sáng tạo, bởi vì nhờ sự chết và sống lại của Người không những là nhịp cầu liên kết giữa Thiên Chúa và con người mà còn thiết lập một tương quan mới, đó là tương quan Cha Con. Nhờ cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Chúa Ki-tô, con người được tha thứ, được gội rửa sạch tội lỗi, khỏi án chết đời đời và trở nên con cái Thiên Chúa. Từ nay con người được gọi Thiên Chúa là Áp-ba, Cha ơi ( Rm 8, 15 ).

Tin và sống trong ân tình của Chúa Ki-tô chính là chiến thắng sự chết, chính là đã mang trong mình mầm sống của sự sống đời đời: “Ai sống và tin vào Thầy thì sẽ không bao giờ chết” ( Ga 11, 26; 1 Ga 3, 14 ). Không bao giờ chết chính là không bao giờ mất sự hiện hữu trong tương quan với Thiên Chúa, không bao giờ mất sự sống trong tương quan ân tình với Người.

* * * * *

Lạy Chúa Giêsu,  khi ra thăm nghĩa địa,  khi vào viếng phòng hài cốt, con hiểu rằng mình phải có lòng tin lớn lao mới dám nghĩ một ngày nào đó những thân xác hư hoại này sẽ sống lại. Con người trở về bụi tro, nhưng bụi tro sẽ trở lại làm người, vì con người sinh ra là để bất tử như Thiên Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, trần gian này quá đẹp khiến con mải mê, quên mình là lữ khách. Thiên đàng lại xa xôi, chẳng có chỗ trong con. Con loay hoay vun quén cho đời sống cá nhân, như thể con sẽ sống mãi trên mặt đất. Xin khơi dậy nơi con niềm khát khao những điều cao cả. Xin đừng để con mãn nguyện với những cái tầm thường. Ước gì Chúa cho con nếm chút vị ngọt của trời cao, khi con quên mình để sống cho anh em trên mặt đất.

Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và chúng con còn khắc khoải mãi cho đến khi được an nghỉ trong Chúa.  Amen

 LM. NGUYỄN HỮU AN

NGƯỜI VỪA CHẾT

(Nén hương lòng dâng người quá cố…)

Mọi người sinh ra từ bụi tro rồi lại trở về tro bụi.  Như mây hợp rồi tan, không một ai có thể thoát khỏi qui luật đơn giản mà nghiệt ngã này.  Mẹ tôi cũng thế, không thể thoát khỏi vòng sinh bệnh lão tử.  Sau gần mười năm trời ốm đau liệt giường, mẹ đã trút hơi thở cuối cùng, linh hồn mẹ lìa khỏi xác.  Mẹ đã nhắm mắt vĩnh viễn từ giã cõi đời này!

Mẹ ra đi, việc đầu tiên là gia đình con cháu họp nhau lại bàn việc lo tang ma cho mẹ.  Mọi người đều đồng thanh nhất trí phải tổ chức đám tang cho thật to, thật linh đình.  Phải sắm cho mẹ cỗ áo quan đẹp nhất, bằng gỗ quí nhất.  Mẹ ơi, liệu mẹ có cảm nghiệm được lòng thảo hiếu của con cháu lúc này, khi mà mẹ chỉ còn là một “xác ma không hồn”?  Xưa mẹ đau ốm, để đỡ phải giặt giũ nhiều, con cháu đã có “sáng kiến” khoác cho mẹ tấm nilon lạnh giá thay cho quần áo vải ấm áp.  Nay mẹ chết, mẹ được nằm trong cỗ áo quan bọc nhung thắm, mẹ có thích không?  Hôm nay, mẹ mất, con cháu kéo đến đông đủ cả, không thiếu một ai, vòng trong vòng ngoài, khóc lóc vật vã thảm thiết, có đứa vì than khóc nhiều quá đến nỗi mất cả tiếng.  Dân làng bảo: “Con cháu có hiếu quá! Có hiếu quá!”  Xưa mẹ đau ốm, con cháu đùn đẩy nhau, đứa nào cũng ngại ngùng khi phải nuôi mẹ.  Thế là chúng phải mở một cuộc họp, rồi bốc thăm, cắt phiên nhau nuôi mẹ.  Có đứa đến phiên nuôi mẹ mà lại bận đi thẩm mỹ viện cả ngày, không nhờ ai được, vẫn lạnh lùng để mẹ nằm đói chỏng chơ.  Kệ mẹ!  Sắc đẹp muôn năm!  Mẹ chết, hai con lợn cũng chết theo, lại còn bao nhiêu là xôi gà, măng miến nữa chứ.  Chả ai tiếc tiền cả.  Ông con trưởng tuyên bố: “Mẹ chết có một lần, phải làm cỗ thật to!”  Vậy mà xưa mẹ đau ốm, có khi mẹ thèm một bát canh cũng không được.  Con cháu bảo: “Cho mẹ ăn ít thôi, cho ăn uống lắm vào, cụ lại ỉa đái nhiều, chỉ tổ khổ công dọn dẹp!”

Và rồi tin báo tử được loan đi đã làm thay đổi cả bầu khí gia đình và thái độ của mọi người đối với mẹ.  Mọi người đến phúng viếng đông quá; dòng người cứ nối đuôi nhau hết đoàn thể này đến hội đoàn kia, ai cũng thành kính đốt nhang vái mẹ.  Mẹ ơi, mẹ bất động nằm đó, mắt nhắm nghiền, mẹ có thấy gì chăng?  Cả đời mẹ gian lao vất vả.  Gần mười năm trời nằm ốm liệt trong nhà, mẹ thèm có người nói chuyện, mà nào có mấy người đến thăm.  Thỉnh thoảng có người đến, nhưng lại nhanh chóng rời khỏi, có lẽ họ không thích thú gì khi ngồi bên người ốm liệt giường, mùi mẽo tanh hôi.  Có người vào thăm mẹ mà cứ nhăn mũi, nhăn mặt lại.  Con nhớ có lần, đứa cháu nội lân la đến vuốt tóc bà và định hôn má bà, thì mẹ nó nhanh tay kéo giật nó lại.  Mẹ nó sa sầm nét mặt, lầm bầm:  “Ngu quá con ạ!  Mày muốn lây bệnh hả?”

Mọi người mang đến phúng viếng mẹ nhiều hoa quá, gần 100 vòng hoa, đủ các loại, đủ kích cỡ to nhỏ, có thể nói là cả một rừng hoa.  Mẹ ơi, mẹ bất động nằm đó, mắt nhắm nghiền, mẹ có thưởng thức được hoa không?  Khi còn sống, mẹ thích hái những đoá hoa dại cài mái tóc; mẹ cùng bạn bè đi hái những đóa hoa dại nhỏ xinh về dâng kính Mẹ Maria.  Thế nhưng, cả đời mẹ quê, chưa ai tặng mẹ một đoá hoa nào.  Mẹ thấy cuộc sống sao cằn khô quá!

Đoàn thể nào đến viếng mẹ cũng có người đại diện đọc điếu văn phân ưu.  Bài điếu văn nào cũng bảy tỏ niềm tiếc thương vô hạn, ca ngợi mẹ hết lời, mong sao giá mà mẹ còn sống.  Mẹ ơi, mẹ bất động nằm đó, mắt nhắm nghiền, mẹ có nghe thấy gì không?  Lúc mẹ còn sống, người khen mẹ nào có mấy ai, chỉ thấy người chê là nhiều.  Cái người đang ao ước mẹ sống lại cũng chính là người xưa đã từng nguyền rủa mẹ, mong cho mẹ sao không chết sớm đi!  Ôi, mẹ cảm thấy mình bị chết ngay khi còn sống bởi sự cay độc của người đời.

Mọi người còn phúng viếng mẹ phong bì nữa chứ.  Cơ man nào là phong bì.  Mẹ ơi, mẹ bất động nằm đó, mắt nhắm nghiền, mẹ có còn tiêu được tiền nữa không?  Xưa mẹ đau ốm, nhà mình nghèo túng, nhưng chẳng có ai giúp đỡ.  Mẹ bảo con liều đi vay xem sao, nhưng ai cũng nói khó khăn, ngại ngần né tránh.  Họ không muốn cho vay vì sợ mình đau ốm thế này lấy gì mà trả.  Mẹ con chỉ còn biết nghẹn ngào nhìn nhau, khóc thương cho thân phận.

Ôi, “nghĩa tử là nghĩa tận” – người ta thường nói thế.  Nhưng tại sao chúng ta không sống tốt với nhau ngay từ khi còn sống mà cứ phải đợi đến khi chết mới đối xử tử tế với nhau?  Sao ta không sống yêu thương, giúp đỡ nhau ngay khi còn sống, nhất là trong những lúc khó khăn, cô đơn, đau ốm mà cứ phải đợi đến khi chết rồi mới đến phúng viếng?  Liệu người đã chết rồi, ta có thực sự yêu họ được nữa hay không?

Xin hãy cho nhau một nụ cười, một lời thăm hỏi, khích lệ động viên.  Hãy sẵn lòng thực thi những nghĩa cử yêu thương cụ thể để giúp nhau ngay khi còn sống.  Chứ đợi đến khi chết rồi thì cả một rừng hoa phúng viếng cùng những điếu văn ca ngợi cũng chẳng có nghĩa gì.

Ước chi, mọi người hãy đối xử tử tế, hãy sống hết mình với nhau như đối xử với NGƯỜI VỪA CHẾT.

Nguyễn Xuân Trường

BÓNG CÂU CỬA SỔ

Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi,
tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,
một cơn gió thoảng là xong,
chốn xưa mình ở cũng không biết mình.  (TV 103, 1516).

Vào ngày 31 tháng giêng năm 2000, một hung tín được loan ra:  chuyến bay 261 của hãng Alaska với 83 hành khách và 5 nhân viên phi hành đoàn, cất cánh từ Mễ Tây Cơ để đi Seattle, tiểu bang Washington, đã rớt xuống Thái Bình Dương, cách Los Angeles chừng 20 dặm đường chim bay. Khoảng 10 xác chết đã được vớt lên, số còn lại đã bị tan nát trong lòng biển cả.  Trong số nạn nhân nầy, có một bé gái thiên thần mới được bốn tháng.  Vì thân mẫu là người gốc Mễ Tây Cơ, cha mẹ đã đưa em về quê ngoại để được rửa tội.

Chỉ trong năm 1999, ba cánh chim sắt đã lao xuống biển cả.  Đêm 16 tháng bảy năm 1999, máy bay do Kennedy, 38 tuổi, con trai duy nhất của cố Tổng Thống John Kennedy, chở vợ là Carolyn Bessette và chị vợ là Lauren Bessette, đi dự lễ cưới cháu mình, đã bị rớt xuống Đại Tây Dương.  Một tuần sau, đoàn cấp cứu đã vớt được các thi hài.

Mấy tháng sau, chiếc máy bay của Ai Cập với trên 200 hành khách, đã rớt xuống Đại Tây Dương và không một xác nào được tìm thấy.

Vào sáng thứ ba (11-09-2001) một đại họa khủng khiếp đã làm chấn động thế giới:  nhóm khủng bố Osama Bin Laden đã cướp giựt bốn máy bay và chỉ trong một giờ đồng hồ đã làm nổ tung hai ngọn tháp chọc trời của Trung Tâm Thương Mại Thế Giới ở NữuƯớc và sau đó đánh sập một cánh của Ngũ Giác Đài ở Hoa Thịnh Đốn.  Tổng số thương vong khoảng trên ba ngàn người, trong số đó không thiếu những chuyên gia lỗi lạc về kinh tế, tài chánh, ngân hàng, kỹ thuật và quân sự…

Trong huấn từ nhân cuộc triều yết chung vào sáng thứ tư (ngày 12-09-2001), Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị đã mô tả đại họa đó là “một ngày đen tối nhất trong lịch sử loài người, một xúc phạm ghê gớm cho phẩm giá con người.”

Tôi mới có dịp nói chuyện với một người bạn rất khỏe mạnh, nhưng ba hôm sau, người bạn đó đã được khâm liệm vì bị ngã gục dưới họng súng tấn công của một địch thủ.

Ngay cả hôm nay đây, biết bao người đang nối tiếp nhau lìa đời bằng sự chết chóc để đi vào nơi vĩnh cửu.  Những trường hợp ra đi vĩnh viễn được nêu ra đây quả rất thông thường, nhưng cũng đủ cho chúng ta hiểu rằng tử thần sẽ đến viếng chúng ta một cách bất ngờ không một lời báo trước.

Khi quan sát một số người đang cuồng nhiệt theo đuổi danh vọng, thú vui hay của cải vật chất thì chúng ta sẽ hết sức ngạc nhiên với ý nghĩ là họ đang sống mà không chút ưu tư về cuộc sống đời đời.  Con người trong thời đại văn minh tiến bộ nầy dường như đang sống theo lý tưởng quá ư trần tục.

Tuy nhiên, sách  GiảngViên đã nói rõ ràng: “Có thời để sinh ra, có thời để lìa đời.” (GV 3: 2).

Kinh Thánh cũng cho biết ông ADong sống đến chín trăm tuổi rồi mới qua đời.  Ông Sết hưởng thọ chín trăm mười hai tuổi rồi từ trần.  Ông Hênóc sống chín trăm lẻ năm tuổi rồi cũng phải từ giã cõi đời. Hơn sáu tỷ người đang sống trên mặt đất hiện nay rồi cũng sẽ ra đi trong vòng một trăm năm nữa, không ai sẽ thấy ánh mặt trời của thế kỷ hai mươi hai.

Trong thư gởi tín hữu DoThái, Thánh Phaolô đã viết:  “Thân phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét.” (DT, 9: 27).

Mặc dầu khoa học đã tiến bộ, sau khi vượt qua giới hạn của không gian địa cầu và đang tiến sâu vào không trung, nhưng trên cương vị con người, chúng ta luôn luôn bị ràng buộc bởi cuộc sống trên mặt đất.  Có rất ít bài giảng luận về sự chết, thiên đàng, hỏa ngục.  Tuy nhiên, chân lý bất biến là tất cả mọi người trên mặt đất đều phải kết thúc bằng sự chết và vấn đề chuẩn bị cho cuộc sống trong đời sau rất là hệ trọng, như lời Thánh Kinh:  “Nếu con luôn luôn suy gẫm về sự chết, sự phán xét, thiên đàng, hỏa ngục thì con sẽ không bao giờ phạm tội.”

Ở Âu Mỹ, có một thành ngữ như sau: “Ở đời nầy, chỉ có hai việc chắc chắn không ai thoát khỏi là sự chết và nộp thuế.”  Chúng ta thường lo lắng dành tiền dể nộp thuế mà quên mất vấn đề quan hệ hơn là sự chết.  Ta cần phải ý thức hơn về việc tử thần đang tiến gần mỗi người chúng ta một cách nhanh chóng.  Lời Chúa đã căn dặn:  “Của Xêda, trả về Xêda; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.” (Mt 22: 21).

Người giàu không thể nhờ tiền bạc xin sửa đổi hình phạt đang chờ đợi mình thành một án treo; người nghèo cũng không thể nói với sự chết cho mình sống thêm một ngày nữa vì nó đã chiếm hữu con người từ lúc mới lọt lòng mẹ cho tới khi đi vào mồ mả.  Sẽ có lúc sau khi mọi người đông đảo họp nhau cầu nguyện thì đã ra về và “còn lại một mình tôi” trong nơi hoang vắng…!

Thánh Giacôbê đã viết: “Anh em không biết cuộc đời mình ngày mai sẽ ra sao.  Thật vậy, anh em chỉ là hơi nước xuất hiện trong giây lát, rồi lại tan biến đi.” (Gc 4: 14).  Như đám sương mù buổi sáng, rất mong manh, bốc thành hơi nước dưới ánh chiều dương rồi biến mất giữa ban ngày, đời người cũng giống như giọt sương mai hiện ra chốc lát rồi lại tan ngay.

Thật vậy, sự sống chẳng khác gì cái thoi dệt cửi:  “Ngày đời tôi thấm thoát hơn cả thoi đưa và chấm dứt, không một tia hy vọng” (Gióp 7: 6).  Một văn sĩ đã viết: “Chỉ khi nào thời gian, với một bàn tay không biết chán, xé hết phân nửa số trang sách của đời mình để nung đốt lò dục vọng, lúc ấy con người mới bắt đầu nhận thấy những trang còn lại của đời sống mình không còn bao nhiêu nữa”.

Tiên tri I-Sai đã suy ngắm: “Lạy Chúa, con như người thợ dệt, đang mải dệt đời mình, bỗng nhiên bị tay Chúa cắt đứt ngay hàng chỉ.” (Is 38: 12).  Sách Biên Niên Sử quyển I cũng viết:  “Ngày đời của chúng con trên mặt đất như bóng câu cửa sổ, không để lại dấu vết.” (1 Sb 29: 15).

Khi William Russel lên đoạn đầu đài, ông đã lấy đồng hồ trong túi áo ra rồi trao cho vị y sĩ săn sóc ông và nói: “Xin ông làm ơn giữ hộ cái đồng hồ nầy vì tôi không cần đến nó nữa.  Bây giờ tôi sắp bước vào cõi đời đời.”

Thánh Gióp cũng đã từng than thở: “Vì tuổi con người đã được Ngài ấn định, sống được bao năm tháng là tùy thuộc ở Ngài.  Ngài định giới hạn rồi, sao có thể vượt qua.” (G 14: 5).

Tác giả ThánhVịnh cũng đã nói: “Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi, tươi thắm như cỏ nội hoa đồng, một cơn gió thoảng là xong, chốn xưa mình ở cũng không biết mình.” (Tv 103: 15,16).

Ngày nầy nối tiếp ngày khác, trôi qua với một tốc độ tăng dần mãi dường như theo nhịp tiến của chúng ta tới tuổi già.  Những ngày của chúng ta trên mặt đất nầy giống hệt kiếp hoa:  “Người phàm nào cũng đều là cỏ, mọi vẻ đẹp của nó như hoa đồng nội.  Cỏ héo, hoa tàn khi thần khí Đức Chúa thổi qua.” (Is 40: 6,7).

Trong những giờ phút cuối cùng đời mình, Cesar Bergia đã nói: “Trong suốt đời sống của tôi, tôi đã tiên liệu mọi sự, trừ sự chết, và bây giờ, ôi! thật khốn nạn cho tôi, tôi phải chết mà không chuẩn bị được gì trước cho sự chết của tôi.”

Một thanh niên mới hai mươi bốn xuân xanh, suốt đời mạnh khỏe, nhưng bất thình lình lâm trọng bệnh.  Trước khi sắp từ giã cõi đời, anh đã rên rỉ, than van và quằn quại trên giường bệnh với những lời gào thét sau dây: “Ôi, tôi đã phung phí những ngày xanh của tôi, tôi đã làm khánh tận đời tôi. Tôi sẽ thưa gì với Đức Chúa, khi tôi phải ứng hầu trước mặt Ngài?”

Thánh Phaolô, trong thư gởi tín hữu Do Thái, đã cảnh cáo:  “Và nếu mọi vi phạm cũng như bất tuân đều bị phạt đích đáng, thì làm sao chúng ta thoát khỏi, nếu chúng ta thờ ơ với ơn cứu độ cao quý như thế?” (Dt 2: 3).

Một văn thi sĩ khuyết danh đã viết những câu sau đây, trong bài thơ ‘Sách Sự Sống’:

“Tôi quì cầu nguyện, nhưng chẳng lâu được; tôi có nhiều việc phải làm.  Tôi phải cấp tốc đi làm vì hóa đơn đòi tiền chồng chất.

Vì vậy, tôi quì gối, đọc vội một kinh và nhảy đứng dậy.  Việc bổn phận Kitô hữu của tôi đã làm xong và tâm hồn tôi thanh thản, bình an.

Suốt ngày tôi không có thời giờ để buông một lời chào hỏi vui vẻ hoặc nói về Chúa Kitô với bạn bè vì sợ họ cười nhạo tôi.

Tôi luôn miệng la lớn:  Không có thời giờ, không có thời giờ, nhiều chuyện phải làm quá! Không có thời giờ để lo cho việc rỗi linh hồn, nhưng cuối cùng giờ chết đã đến.

Tôi trình diện trước mặt Đức Chúa; tôi đứng với đôi mắt cúi xuống, vì Đức Chúa đang cầm trong tay một quyển sách, sách sự sống.

Đức Chúa nhìn vào trong sách và nói: ‘Cha không tìm thấy tên con, vì có lần Cha dự tính viết xuống, nhưng Cha chẳng lúc nào có thời giờ.”

Khi thể xác của chúng ta chết và sự sống của chúng ta ở trên mặt đất nầy chấm dứt, phần linh hồn của chúng ta vẫn tiếp tục sống động trong cõi đời đời.

Victor Hugo, một đại văn hào Pháp đã nói: “Tôi cảm biết có sự sống tương lai trong tôi.”  Cyrus cũng đồng ý kiến: “Tôi không thể nghĩ rằng linh hồn chỉ sống khi còn ở trong một thân thể hay chết.”  Chính Emerson cũng nói: “Bằng chứng hiển nhiên về sự bất diệt của linh hồn là chính nơi sự bất mãn của chúng ta đối với mọi kết luận trái ngược.”  Mark Twain đã viết: “Tôi không bao giờ tìm thấy mảy may sự thật có thể chứng minh về đời sống tương lai, nhưng tôi có khuynh hướng chờ đợi nó.”

Xưa kia Đức Chúa đã phán với vua Hezekiah:  “Hãy lo thu xếp việc nhà, vì ngươi chết, chứ không sống nổi đâu.” (2 V 20: 1).  Do môi miệng của tiên tri Amốt, Đức Chúa cũng tuyên phán cho mọi người: “Ngươi hãy chuẩn bị đi gặp Thiên Chúa của ngươi.” (Am 4: 12).

John Bunyan, tác giả cuốn “Thiên lộ lịch trình”, đã nói lúc ông gần qua đời: “Các bạn đừng than khóc cho tôi, nhưng hãy than khóc cho chính các bạn.  Tôi sẽ về nhà đời đời nơi có Đức Chúa Trời là Cha Đức Giêsu Kitô: Ngài sẽ tiếp rước tôi dù tôi là một tội nhân bởi công lao cứu chuộc của con Ngài.  Tôi tin rằng chúng ta chẳng bao lâu nữa sẽ gặp nhau trên nước sáng láng của Chúa để hát bài ca mới và sống sung sướng trong cõi đời đời.”

Chúng ta hãy lợi dụng những giây phút chóng qua của đời người để chuẩn bị cho cuộc sống đời đời: “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Gio 3: 16).

“Sinh ký tử qui” (sống gởi thác về).  Người có Đức Tin đặt niềm tín thác trọn vẹn nơi Chúa Quan Phòng trong cuộc sống cũng như giờ phút lâm chung, như lời Thánh Phaolô đã nói:  “Vì đối với tôi, sống là Đức Kitô và chết là một mối lợi.” (Pl. 1:21).

Trong tinh thần phó thác tuyệt đối đó, các Anh Chị trong dòng Tiểu Muội và Tiểu Đệ, mỗi ngày đã đọc kinh “Dâng Mình” của Cha Charles de Foucauld như sau:

“Lạy Cha, con phó thác mình con cho Cha.  Xin hãy làm nơi con mọi sự đẹp ý Cha.  Cha làm gì  mặc lòng, con cũng cám ơn Cha.  Con sẵn sàng luôn luôn, con nhận lãnh tất cả, miễn ý Cha được trọn vẹn trong con, trong tất cả loài Cha tạo dựng.  Con chẳng ước muốn chi khác nữa.  Lạy Cha là Chúa Trời con, con phó thác linh hồn con trong tay Cha.  Con dâng linh hồn con cho Cha.  Lạy Cha, với tất cả tình yêu của lòng con, vì con mến Cha và vì mến Cha nên con thấy cần phải hiến thân con, phó trót mình con trong tay Cha, không do dự đắn đo song vô cùng tin cậy, vì Cha là Cha của con.  Amen!”     

Đỗ Tân Hưng

KHIÊM TỐN

Cách đây ít lâu tại Florida, tờ St Petersburg Times (Thời báo St Petersburg) có đăng một câu chuyện thú vị về Don Shula huấn luyện viên đoàn cá heo ở Miami.  Ông đang cùng gia đình nghỉ hè tại một thị trấn nhỏ miền bắc tiểu bang Miami.  Vào một buổi chiều nọ vì trời mưa nên Shula cùng vợ và 5 đứa con quyết định đi xem một xuất phim chiếu tại rạp hát duy nhất của thị trấn.  Khi họ đến thì các ngọn đèn trong rạp vẫn còn mở sáng.  Chỉ có 6 khán giả khác ngoài họ thôi.  Khi Shula và gia đình ông bước vào, tất cả 6 người đó liền đứng dậy vỗ tay.  Shula liền vẫy tay chào lại vừa mỉm cười đáp lễ.  Sau khi ngồi vào chỗ, Shula quay sang bà vợ và nói:

– Chúng ta từ Miami cách xa cả ngàn dặm đến đây thế mà họ tiếp đón anh nồng nhiệt đến thế. Chắc hẳn là đám cá heo được đem trình chiếu trên truyền hình đã lan tận đến cả ngõ ngách này!

Ngay lúc đó có một gã đàn ông tiến đến bắt tay Shula.  Shula tươi cười nói:

– Làm sao bạn nhận biết tôi?

Gã đàn ông trả lời:

– Thưa ông, tôi chả hề biết ông là ai cả, chẳng qua là ngay trước khi ông và gia đình ông bước vào rạp hát, viên quản lý rạp có bảo chúng tôi là nếu không có thêm 4 khán giả nữa thì ông ta không thể chiếu xuất phim này.

********************************

Tôi thích câu chuyện trên vì nó làm sáng tỏ lời huấn dụ trong các bài đọc hôm nay, nghĩa là: sự dấn thân làm Kitô hữu mời gọi chúng ta sống khiêm tốn, mời gọi chúng ta bắt chước kiểu mẫu Kitô hữu nơi con người Don Shula qua câu chuyện nêu trên.  Đây là một người tiếng tăm lan rộng khắp nước không chỉ là một huấn luyện viên xuất sắc, mà còn là một con người tuyệt vời nữa.  Thật là  tự nhiên khi Shula nghĩ rằng gã đàn ông đến bắt tay ông đã nhận biết ông là ai.  Đến khi hay gã ấy chả hề biết ông là ai, thì Shula là người đầu tiên tự chế giễu mình.  Thực thế, ông rất lấy làm vui thú về sự kiện ấy nên ông mới kể chuyện đó với kẻ khác.  Và chỉ có người nào đủ khiêm tốn mới làm được như Shula mà thôi!

Điều đó nêu ra một câu hỏi.  Vậy sự khiêm tốn là gì?  Thế nào mới được gọi là khiêm tốn?  Phải chăng khiêm tốn là tự hạ mình xuống?  Cho rằng mình kém cỏi?  Phủ nhận giá trị thực của mình hay giảm thiểu nó đi?  Không phải thế!  Đức khiêm tốn mang chiều kích sâu xa và tốt đẹp hơn thế nhiều.  Khiêm tốn không phải là ít nghĩ về mình, mà là không nghĩ gì về mình hết.  Trong ý nghĩa sâu xa và tốt đẹp nhất, khiêm tốn tức là làm y hệt Chúa Giêsu, Đấng đã từng nói: “Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng thật lòng” (Mt 11 ; 29). Và “Con người không đến để được phục vụ nhưng để phục vụ” (Mc 10 ; 45)

Như thế, khiêm tốn có nghĩa là bắt chước sống như Chúa Giêsu – sống không cho riêng mình mà là cho kẻ khác.  Khiêm tốn nghĩa là dùng tài năng của mình giống như Chúa Giêsu – để phục vụ không phải cho bản thân và vinh quang riêng mình, mà là cho tha nhân và cho nhu cầu của họ.

********************************

Chúng ta hãy kết thúc bằng cách khẩn khoản suy nghĩ về những lời đầy cảm xúc bàn về đức khiêm nhường trong bài đọc thứ nhất hôm nay:

“Hỡi các con trai và con gái của ta
hãy thi hành công việc của các con một cách khiêm tốn
thì các con sẽ được yêu mến hơn khi các con đem quà tặng cho kẻ khác.
Càng khiêm tốn thì các con càng cao cả, và các con sẽ được Chúa ủng hộ cho.

Trích lược LM. Mark Link S.J

HÔM QUA TÔI ĐÃ KHÓC

Em đến với tôi với một thân thể ốm yếu, mái tóc dài xơ xác, khuôn mặt gầy gò có đôi mắt to, đẹp nhưng chứa đầy sức cam chịu.  Em có cái tên cũng đẹp: Nguyễn thị Thanh Vân. Vừa tròn 30 tuổi, có chồng và một con đều đã chết vì AIDS, em đã bị lây căn bệnh này từ chồng.  Do không hiểu biết, em đã dấu hết mọi người kể cả những người thân trong gia đình.  Bây giờ bệnh đã đi vào giai đoạn cuối, chẳng thể dấu ai được nữa, em để mặc cho người thân muốn làm gì thì làm và người ta đã mách cho em đến với tôi.

Sau nhiều ngày được chúng tôi chăm sóc tận tình, bệnh tình của em đã khá hơn.  Khi sự gần gũi trở nên thân mật, cảm giác an toàn bên chúng tôi, em bắt đầu thổ lộ về cuộc đời của mình.  Lúc chưa lấy chồng, em là một hoa khôi của một xứ đạo vùng ven thành phố.  Em cũng là giáo lý viên và huynh trưởng Thiếu Nhi Thánh Thể của giáo xứ.  Rất nhiều anh chàng xếp rồng xếp rắn trước cửa nhà em.  Cuối cùng, em cũng chọn được người em ưng ý nhất.  Chồng em là con của một ông trùm trong giáo xứ.  Em cho chúng tôi coi những tấm hình sinh hoạt của em hồi còn niên thiếu và hình đám cưới của em.  Chúng tôi ngạc nhiên đến sững sờ vì cô dâu rất đẹp, tựa như các cô người mẫu.  Chú rể cũng rất điển trai, trông thật xứng đôi.  Em say sưa kể về đời mình, cặp mắt sáng long lanh. Tôi yên lặng lắng nghe từng lời em nói.  Cứ thế, ngày lại ngày, tôi nhận thấy rõ nét vui vẻ và tươi tắn hiện trên gương mặt em.  Em không còn cảm thấy cô đơn, lạc lõng nữa.  Tôi biết em đã tìm được sự bình an trong tâm hồn!

Rồi một ngày nọ, bẵng đi mấy tuần, tôi không thấy em tới lấy thuốc để uống.  Nóng ruột, tôi kiếm địa chỉ của em để đến thăm.  Chúng tôi phải vất vả lắm mới kiếm ra được nhà vì nơi ở cũ đã được mẹ em bán đi và chuyển sang ở một vùng xa hơn để tránh sự thị phi của làng xóm.  Chị em dẫn tôi vào chỗ em nằm.  Trong một góc phòng nhỏ hẹp, nhìn thấy em tôi giật bắn cả người, mới có ba tuần lễ không gặp mà thân thể em bây giờ teo tóp lại như một đứa trẻ lên ba, chỉ còn da bọc xương.  Cặp mắt đẹp với hàng lông nheo cong vút ngày nào bây giờ trũng sâu.  Ánh mắt ấy bỗng vụt sáng khi nhìn thấy tôi.  Tôi lại gần cầm lấy bàn tay xương xẩu của em, đưa tay kéo lại mấy sợi tóc loà xoà trước vầng trán nhô ra của khuôn mặt bây giờ trông như cái hộp sọ.  Em níu chặt tay tôi và nghẹn ngào.  Em nói em không muốn chết, tại sao Chúa lại bắt em mang căn bệnh này?  Em khóc lạc cả giọng, khóc trong nỗi tuyệt vọng, đớn đau.  Em đang cố gắng chiến đấu với thần chết.  Muốn giúp em nhưng tôi chẳng thể làm gì được, chỉ biết nhìn em mà hai hàng nước mắt tôi tuôn rơi.  Tôi không thể cầm lòng nổi trước mặt em, tôi khóc thương cho số phận trớ trêu, định mệnh sao quá tàn ác và khắc nghiệt với em.  Tôi liên tưởng đến hình ảnh em vô tư nói cười khi tâm sự với tôi, nhớ đến những tấm hình em là cô dâu xinh tươi, kiêu sa lộng lẫy trong chiếc áo cưới soire tương phản lại hẳn hình hài em trong lúc này, chẳng lẽ số kiếp con người bọt bèo như thế này sao? Chúa có đối xử bất công với em không?  Em cũng như tôi, cũng một thân phận đàn bà mà sao em gặp phải những nghịch cảnh éo le, hà khắc đến như vậy.  Tôi nghĩ số phận của em chắc chắn sẽ khác đi nếu ngày xưa gia đình em đi vượt biên trót lọt, hoặc cuộc đời của em sẽ không đến nỗi khốn khổ như thế này nếu em gặp được người đàn ông khác làm chồng…

* * * * *

Tôi tìm thấy anh trong một cái ống cống nằm trơ trên mặt lộ cạnh bến xe miền Đông.  Anh trốn trong đó để tránh cái nắng gắt của buổi trưa mùa hạ.  Người thân và bạn bè không cho anh ở nhờ dù chỉ là trên cái vỉa hè, vì anh đang bị mắc phải căn bệnh mà ai nghe cũng phải sợ hãi.  Tôi lại gần ống cống, cúi thấp người và gọi anh ra.  Anh ngần ngại vì có lẽ anh chẳng biết tôi là ai, và cũng có thể là do mặc cảm nên không muốn ra.  Tôi phải dùng lời ngọt ngào để “dụ” anh ra.  Một số người ở hai bên đường tò mò tiến lại chỗ chúng tôi và săm soi quan sát anh.  Tôi nghe họ xì xào: “Đáng đời, ăn chơi cho lắm thì bây giờ phải chịu thôi, mấy thứ này giúp làm gì”. Bỏ ngoài tai những lời bình phẩm, tôi tiếp tục thuyết phục anh. Phải tốn rất nhiều… hơi mới “lôi” được anh ra khỏi cái ống cống, tôi mượn một chiếc ghế của quán cà phê ven đường cho anh ngồi, rồi bắt đầu hỏi về “lý lịch” của anh.  Nhưng câu trả lời tôi nhận được là “không”.  Cuối cùng tôi hỏi anh là muốn được giúp gì, lúc này anh mới trả lời là muốn được điều trị bệnh vì cả tuần qua anh bỏ ăn, chỉ uống được nước.  Tôi chẩn đoán sơ bộ biết anh mắc bệnh lao nên thuê một chiếc xe xích lô chở vào bệnh viện lao Hồng Bàng.  Tại đây người ta bắt tôi phải đóng 500.000 đồng mới cho nhập viện và trong khi điều trị tôi phải đóng tiền tiếp tục cho đến khi bệnh nhân xuất viện.  Chúa ơi! biết lấy tiền đâu ra bây giờ?  Việc này làm tôi bối rối, tôi thầm nguyện cầu.  May sao, tôi gặp được một ông bác sĩ người Công giáo, cũng làm việc tại bệnh viện này.  Nghe tôi trình bày, ông bác sĩ nói tôi chịu khó đóng cho anh 500.000 đồng để nhập viện, phần còn lại để ông lo cho.  Tôi mừng húm.  Bây giờ chỉ còn phải lo cái ăn cho anh ấy hàng ngày nữa là xong.  Người ta mách cho tôi biết ở cuối bệnh viện có các Sơ chuyên phục vụ bữa ăn từ thiện.  Tôi xuống tìm gặp các Sơ để “ngoại giao”.  Các Sơ đồng ý, tôi đưa tên tuổi và số phòng nằm của anh cho Sơ.  Thế là xong!  Tôi thở phào. Lúc này, trời đã chập choạng tối, tôi mệt lử cả người nhưng ra về lòng lại thấy nhẹ nhàng, thanh thản…

Cứ vào chiều thứ bảy hàng tuần, chúng tôi thay nhau đến thăm, mua quà bánh và những thứ cần dùng cho anh. Tuần nào vì nhiều công việc chúng tôi không đến được thì anh buồn bã, trông chờ.  Thấm thoát hai tháng trôi qua, anh được xuất viện, sức khoẻ của anh cũng đã được hồi phục.  Tôi đoán anh không dám làm phiền tôi nữa, vì đã lặng lẽ rời bệnh viện mà không hề cho tôi biết.  Một tuần sau, có người phone báo tin cho tôi ở quận Phú Nhuận có một người mắc bệnh AIDS đang nằm trước cửa nhà họ.  Tới nơi, tôi nhận ra là anh.  Thấy tôi, anh đưa mắt nhìn như cầu cứu.  Mới có 1 tuần mà sắc diện anh trông xuống dốc hẳn đi.  Tôi lại phải đi tìm một nơi ở cho anh.  Tôi cùng với mấy nhóm viên thuê cho anh một “túp lều” rộng 9m2 ở mãi tận quận Bình Tân.  Phải đi xa như thế tiền thuê mới rẻ! Lần này chúng tôi phải đi sắm nồi niêu soong chảo, bát đĩa, bếp nấu… và nhiều vật dụng linh tinh để anh tự thân nấu ăn.  Hàng tuần, chúng tôi lặn lội tới nơi ở của anh để đưa thuốc uống điều trị bệnh và đưa tiền cho anh mua thức ăn. Ở đây, xa thành phố ồn ào, cây cỏ nhiều, còn một khoảng trời xanh rộng rãi nên bầu không khí thiên nhiên thật tốt cho người bệnh.  Một buổi chiều nọ, anh ngỏ ý xin thêm tiền nhưng tôi không cho vì nghĩ nếu là tôi thì với số tiền này cũng sống tạm được.  Kể từ lúc đó tôi giúp gì anh nhận nấy và không thấy anh đòi hỏi gì nữa.

Rồi sức khoẻ anh ngày một yếu dần, lúc này anh mới chịu “tiết lộ” về đời tư của mình cho tôi nghe.  Ngày xưa, anh là một trưởng Công an của một phường ở quận BT, anh đã có vợ và 1 con trai 16 tuổi, nhưng vợ con anh đều đã từ bỏ anh lâu lắm rồi.  Anh không dám quay về để xin lỗi và gặp mặt đứa con thân yêu nữa, tài sản của anh có tới 3 căn nhà phố lầu, nhưng đã bay theo những cuộc ăn chơi trác táng của anh hết rồi.  Lúc còn tiền của – xung quanh anh rất nhiều bạn bè, bây giờ thân tàn ma dại chẳng còn một ai thèm ngó tới, nhất là lại mắc thêm căn bệnh này nữa, họ lại càng kinh tởm, xa lánh.  Anh cho biết còn một người anh trai hiện đang làm thiếu tá CSCĐ thành phố và cho tôi số điện thoại của ông anh để tôi liên lạc giúp, nếu anh có mệnh hệ gì (sau này tôi đã bị ông thiếu tá này từ chối thẳng khi nghe nói về anh).  Anh tâm sự với tôi với giọng buồn rầu nhưng bình thản.  Anh cảm ơn tôi và ngỏ ý là rất tiếc không có cơ hội để đền đáp.

Một tuần sau, chúng tôi tới thăm, thấy hai con mắt của anh trũng sâu xuống, tôi hỏi thăm về sức khoẻ thì anh cho biết ba ngày qua anh đi tiêu chảy rất nhiều.  Linh cảm là anh không còn  sống được bao lâu nữa, tôi vội gởi anh về Trung Tâm Mai Hoà là nơi mà các Sơ lo giúp cho những người mắc bệnh AIDS không thân nhân được về với Chúa bình an.  Anh về đây được hai tuần lễ, Sơ Giám Đốc phone cho tôi báo tin sức khoẻ anh rất kém, có lẽ không qua khỏi và anh rất muốn gặp tôi.  Dù bận rộn và xa xôi, sáng hôm sau tôi cũng cố gắng thu xếp công việc tới với anh để thoả ý nguyện của người sắp lìa trần.

Khi tôi bước chân vào tới cửa phòng, tôi thấy anh đang nằm thở thoi thóp, hàm đã cứng không còn nói được gì nữa. Vậy mà không hiểu sao, khi biết tôi có mặt, anh như tỉnh lại. Tôi cầm tay anh hỏi còn nhận ra ai không, anh chớp mắt khẽ gật đầu.  Giữa khoảnh khắc sự sống và cái chết, tôi thầm thì với anh những lời an ủi, khích lệ anh sắp về thiên đàng gặp Chúa là nơi mà anh được hưởng hạnh phúc thực sự.  Cặp mắt nhợt nhạt của anh nhìn tôi chăm chăm, miệng ú ớ muốn nói gì đó, nhưng không ai hiểu được anh muốn nói gì.

Một Sơ đứng bên cạnh hỏi anh còn muốn gặp ai nữa, anh cố gắng phát âm nhưng không được.  Tôi chợt hiểu ra, nên hỏi anh còn muốn gặp đứa con nữa phải không, anh mừng quá chớp mắt.  Nhưng giờ ra đi của anh đã cận kề và tôi cũng chẳng biết con anh ở đâu mà tìm.  Tôi đành phải nói cho anh yên lòng là con anh hiện rất ngoan, học giỏi và đang sống rất tốt với mẹ nó, nếu sau này có cơ hội gặp, tôi hứa sẽ chuyển ý của bố nó đến với nó.  Nghe tôi nói vậy anh nhìn tôi như cảm ơn, tôi hỏi anh còn muốn gì nữa không, anh lắc nhẹ đầu rồi nhắm mắt lại và từ đó không nói gì nữa.

Biết anh chuẩn bị được Chúa rước về, chúng tôi hát nhè nhẹ bài “Trong trái tim Chúa yêu nhân từ” cùng hiệp thông với anh.  Khi chúng tôi kết thúc bài hát là anh trút hơi thở cuối cùng.  Hồn của anh đã bay về với Chúa.  Tôi đưa tay vuốt mắt cho anh lần cuối cùng và thầm nhủ: từ nay tôi sẽ không bao giờ còn gặp anh nữa, không còn phải lo đến chiều thứ bảy đi thăm anh, không còn cơ hội để lo đến miếng ăn, chỗ ở cho anh, tôi sẽ không còn…

Nghĩ đến đây tự dưng nước mắt tôi tuôn trào, tôi khóc ngon lành trước mặt các Sơ ngơ ngác nhìn.  Không ai hiểu được tại sao tôi không thân thích, họ hàng, không bạn bè, không thân cận mà tôi lại khóc thương anh đến thế.  Vâng, đúng như vậy, chỉ có mỗi mình tôi hiểu là tại sao tôi khóc thôi.  Tôi khóc vì hối hận – tại sao tôi lại không đối xử tốt với anh thêm một chút nữa nhỉ?  Nhưng những giọt nước mắt của tôi muộn màng mất rồi vì tôi nhớ đến lúc anh còn sống, còn ăn uống được, anh đã xin tôi thêm tiền và tôi đã keo kiệt mà không cho….

Nguyễn Thị Vinh

(Chị Nguyễn Thị Vinh là trưởng nhóm “Tiếng Vọng” gồm có khoảng 15 anh chị em thiện nguyện đang xả thân phục vụ các bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. Nhóm được linh mục Chánh xứ Nhà thờ Phú Trung, quận Tân Bình, cho sử dụng hai căn phòng nhỏ để làm nơi tham vấn và khám bệnh miễn phí cho các bệnh nhân.  Mọi chia sẻ với chị Vinh, xin liên lạc theo địa chỉ email: echovinh@yahoo.com )