ĐỒNG XU QUẢNG ĐẠI

Chúng ta thường nghe câu “Của cho không bằng cách cho”.  Giá trị của quà tặng không phải ở nơi món quà mà ở tấm lòng của người tặng quà.  Quà tặng quý giá nhứt là những món quà “dốc túi”, là những món quà mà người tặng phải chắt bóp hy sinh.

Hai đồng tiền kẽm của bà góa nào có đáng gì so với những nén bạc dâng cúng của người thừa tiền lắm bạc.  Dưới con mắt người đời, hai đồng xu của bà góa chỉ để cho ăn mày.  Ai lại dâng cúng số tiền ít ỏi như thế.  Vậy mà Chúa Giêsu lại khen bà.  Tại sao vậy?  Vì đây là một bà góa nghèo.  Không chỉ nghèo, nhưng là nghèo lắm lắm, nói theo kiểu Việt Nam là nghèo “rớt mồng tơi, rơi lá hẹ”.  Nghèo đến mức cả gia sản của bà chỉ có “hai đồng tiền kẽm (lepta), trị giá một phần tư đồng xu Rôma,” (Mc 12:42) chưa đủ để mua một con chim sẻ (theo Mt 10:29, 2 con chim sẻ bán một xu Rôma).

Thế nhưng bà đã dâng cúng tất cả vào hòm tiền của Đền Thờ.  Bà không cho đi phần dư giả, nhưng cho đi tất cả những gì bà đang cần để sống, để nuôi thân. (Mc 12:44). Khi dâng cúng hai đồng xu cuối cùng, không biết bà có nghĩ đến bữa ăn tới không nhỉ?  Mặc kệ, bà cho đi đến đồng cuối cùng; bà “xả láng” hết với Chúa.  Bà cho Chúa không chỉ tài sản của bà, mà chính là toàn thể cuộc sống của bà.

************************

Ở vùng Bình Phước Lộc Ninh cũng có một người dám sống xả láng hết với Chúa.  Đó là một tu sĩ phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số, được họ ưu ái gọi là “Bố Tân”.  “Bố” Tân nói ít nhưng làm nhiều.  Ông rất thương các anh chị em người sắc tộc.  Có bao nhiêu tiền, bao nhiêu gạo, ai xin ông đều cho hết.  Châm ngôn của ông là “Cho đến đồng bạc cuối cùng”.  Mỗi lần có được tí viện trợ nào là chỉ vài hôm sau, tất cả đều được chia cho những người nghèo khổ bất hạnh.  Có lần tôi hỏi ông sao không để dành một ít những tặng phẩm phòng khi đau yếu, thì ông cười xoà: “Để Chúa lo! Mình tính không bằng Trời tính.  Người Kinh mình mà nghèo thì còn biết xoay sở, chứ đồng bào sắc tộc mà nghèo thì còn khổ hơn người Kinh gấp trăm lần.”

Tôi thật cảm phục tấm gương quảng đại của một người đã gần 60 tuổi mà còn dám đi xe máy vượt cả trăm cây số đường rừng để đến ủy lạo và thăm viếng những gia đình người sắc tộc cùng khổ ở những vùng xa xôi hẻo lánh, không có phương tiện đi lại.  Bố Tân chia sẻ với tôi rằng tuy nghèo, nhưng họ rất quảng đại.  Cả nhà nhiều khi có một lon gạo, nấu một bữa ăn không đủ, nhưng ai đi qua cũng kêu vào ăn cho vui.  Ăn một hai muỗng cơm, dù không no, nhưng vẫn thấy ấm áp tình người.

************************

Nghe những chuyện này tôi thấy hình như người nghèo quảng đại hơn tôi nhiều.  Có lẽ vì họ sống thiếu thốn đã quen, nên dễ thông cảm với hoàn cảnh của người khác, sẵn sàng mở rộng vòng tay với người khác.  Còn tôi, tôi tính hơn tính thiệt nhiều quá.  Làm gì nhiều khi cũng đắn đo.  Đôi lúc tôi so đo tính toán ngay cả với Thiên Chúa.  Tôi đi nhà thờ, dự lễ, làm chuyện bác ái, chẳng qua cũng để mua bảo hiểm vào Nước Trời.  Tôi chỉ dám cho Chúa, cho người khác, những phần dư thừa, chứ chưa bao giờ dám cho Chúa, cho người khác, cái gì cần thiết cho cuộc sống của tôi.

Có nhiều cách trao ban.  Tôi có thể trao ban cách miễn cưỡng, để khỏi bị làm phiền hay vì chu toàn bổn phận.  Tôi có thể trao ban cách nhiệt tình, nhưng để khoe khoang hay để được khen tặng.  Hoặc là tôi có thể trao ban cách hy sinh quảng đại, vì tôi thật sự mến Chúa yêu người.  Tình yêu thật thì không so đo tính toán, không lo hơn thiệt, lo được mất.  Khi tôi trao ban với lòng hy sinh quảng đại là lúc tôi sống giới luật yêu thương một cách trọn vẹn.  Khi tôi trao ban với lòng yêu mến, là lúc tôi cho đi chính mình, chứ không phải chỉ cho đi những gì mình sở hữu.

Lời Chúa hôm nay xoáy mạnh vào một điểm, Chúa đánh giá cao tấm lòng của chúng ta hơn là những gì chúng ta có thể làm cho Chúa hay cho người khác.

Lời Chúa mời gọi bạn và tôi, chúng ta cùng xét lại cách sống của mình, bạn nhé.  Chúng ta trao ban vì bất đắc dĩ, vì bổn phận, vì mưu tìm tư lợi, hay là vì chúng ta yêu mến?  Thông thường người khác đánh giá lòng tốt của chúng ta qua những cử chỉ bề ngoài.  Nhưng Chúa nhìn chúng ta từ phiá bên trong.  Chúa biết chúng ta làm vì mục đích gì.  Và Chúa thấu hiểu những công khó, những vất vả lao nhọc của chúng ta, khi chúng ta dám trao ban vì yêu mến.

Lối sống hy sinh quảng đại là lối sống của Tin Mừng.  Chính Chúa Giêsu đã làm gương cho chúng ta bằng chính cuộc sống của Ngài. Ngài luôn trao ban tất cả, trao ban cho đến giọt máu cuối cùng trên thập giá.  Chúng ta cần cầu xin Chúa ban ơn để chúng ta có thể trở nên giống Ngài mỗi ngày một hơn.

Anton-Bảo Lộc

************************

Lạy Chúa,

Xin dạy con biết sống quảng đại,
biết phụng sự Chúa như Chúa đáng được phụng sự,
biết cho đi mà không tính toán,
biết chiến đấu mà không ngại thương tích,
biết lao nhọc mà không tìm an nghỉ,
biết dốc sức mà không đòi thưởng công
và không tìm gì khác ngoài việc chu toàn ý Chúa.  Amen.

Kinh Quảng Đại của thánh Inhã Loyola

THƯA THẦY! CON PHẢI THEO AI?

Một khách hành hương, sau những ngày thinh lặng tĩnh tâm tại tu viện, ông đến nói với vị Minh Sư rằng:

– “Thưa Thầy ! Con muốn “theo thầy” để tu tập, xin thầy nhận con làm học trò của thầy”

Vị Minh Sư đáp lại rằng: “Này bạn! Bạn có thể sống với tôi, nhưng bạn đừng bao giờ trở thành người theo tôi.”

– “Thưa thầy ! Như vậy, con sẽ theo ai? ”

– “Bạn không theo ai hết… Ngày nào bạn theo một ai đó thì bạn không còn theo Chân Lý nữa.”

( Anthony de Mello – trích trong The Song Of Bird)

* * * * *

Qúy vị và các bạn thân mến, Trong xã hội mà chúng ta đang sống, con người đã tự tạo cho mình qúa nhiều thần tượng, đã nhận qúa nhiều người làm lý tưởng, làm mẫu mực để sống, để noi theo. Nào là ca sĩ hoặc diễn viên điện ảnh nổi tiếng, nào là nhà thể thao tài ba, nào là nhà cách mạng xuất chúng ..v..v… Con người đã ao ước được trở nên giống họ trong phong cách ăn mặc đi đứng, trong lối sống hằng ngày và ngay cả trong cách suy nghĩ nữa … Con người đã thần thánh hóa họ, nhiều khi đã đặt họ ngang hàng với thần thánh trong khi họ chỉ là một con người, một tạo vật .

Nếu chúng ta lấy tạo vật làm thần tượng, làm lý tưởng và làm mẫu mực cho cuộc sống là chúng ta đã tự hạ thấp phẩm giá con người của mình, là chúng ta đã không nhận ra hoặc quên đi một Đấng vì yêu thương đã tự hy sinh thân phận của mình là Đấng Tạo Hóa để trở thành tạo vật như con người, mang thân phận mỏng dòn như con người, sống kiếp con người để mang con người về với chân lý vĩnh phúc đời đời.  Đấng ấy phải là lý tưởng của cuộc sống chúng ta, phải là mẫu mực cho đời sống chúng ta noi theo… Đấng ấy chính là Chúa Giêsu Kitô, ngài là chân lý, là đường và là sự thật cho cuộc lữ hành trần gian này của mỗi người chúng ta.

Để trả lời Philatô khi ông tra hỏi Ngài, Chúa Giêsu đã quả quyết về sứ mệnh của chính mình: “Tôi đã sinh ra và đến trong thế gian vì mục đích này. Ðó là để làm chứng cho chân lý. Ai đứng về phía chân lý thì nghe tiếng tôi” (Ga.18:37).

Tiếng của Chúa, Lời của Chúa là chân lý ngàn đời không thay đổi. Chân lý ấy là ánh sáng, là hy vọng và là con đường dẫn đến trường sinh vĩnh phúc cho những ai lắng nghe và mang ra thực hành.

Lời Chúa được ghi lại trong Kinh Thánh, chứa đựng những chân lý cứu độ mà Thiên Chúa muốn truyền đạt cho con người. Chúa mạc khải những chân lý đôi khi vượt trên sự hiểu biết tự nhiên của chúng ta. Chúng ta dễ dàng rơi vào nỗi cô đơn lạc lõng. Chính vì điều này mà người Kitô đôi khi phải đi ngược dòng đời.  Đôi khi điều người đời cho là bất bình thường, lại là cái bình thường đối với người Kitô. Ðiều người đời cho là yếu nhược, đôi khi lại là sức mạnh của người Kitô. Ðiều người đời cho là điên dại, có khi lại là lẽ khôn ngoan của người Kitô.

* * * * *

Lạy Chúa Giêsu, Lời Ngài là chân lý, là ánh sáng soi dẫn đường đời con đi. Lời Ngài là sức sống, là hạnh phúc, là chứa chan hy vọng cho cuộc đời.  Xin cho con biết lắng nghe và mang Lời Ngài ra thực hành . Amen

VỚI CẢ TÂM TRÍ BẠN

Một người mẹ nói với cô con gái nhỏ của bà về tình yêu Thiên Chúa.  Cô bé bối rối: “Mẹ ơi, làm sao con có thể yêu Chúa?  Con chưa bao giờ thấy Người.” Ít ngày sau cô bé nhận được một bưu kiện, trong đó có một cuốn sách hình rất đẹp, trên trang bìa cuốn sách đề hàng chữ: “Tặng Maria thân yêu, Dì Rosa” (Bé Maria chưa bao giờ gặp dì Rosa và họ sống xa nhau hàng ngàn cây số).  Khi Maria nhìn những bức hình đẹp trong cuốn sách, em nói với mẹ: “Mẹ ơi, con yêu dì Rosa qúa! Dì cho con cuốn sách đẹp này!” Người mẹ phản đối: “Nhưng con chưa bao giờ thấy dì Rosa mà.” Maria trả lời: “Con biết, nhưng con yêu dì, vì dì gởi cho con cuốn sách đẹp này”.

*************************

Nhiều người trong chúng ta có thể thắc mắc: “Làm sao chúng ta có thể yêu Chúa nếu chưa bao giờ chúng ta thấy Người?” Tất cả chúng ta đã nhận quà của Chúa, những món quà này dẫn chúng ta yêu Đấng đã gởi tới.

Dĩ nhiên một cách nào đó, chúng ta có thể thấy được Thiên Chúa trong hình dạng của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Thiên Chúa làm người.  Hôm nay nói lại cho chúng ta rằng: chúng ta phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa chúng ta hết lòng, hết trí khôn, hết linh hồn và hết sức lực. Sẽ giúp chúng ta hiểu và giữ luật này nếu hôm nay chúng ta chỉ nhìn một góc cạnh của giới răn: “Yêu Chúa.. với tất cả tâm trí.”

Để yêu ai, trước tiên chúng ta phải biết người ấy.  Để biết ai, chúng ta phải dùng tâm trí.  Làm sao chúng ta có thể biết Chúa?

Làm sao tôi biết một người trong các bạn?  Tôi phải nói với bạn là lắng nghe khi bạn nói.  Đối với Chúa, chúng ta gọi là CẦU NGUYỆN Bạn hãy gọi như thế nếu bạn muốn.  Chúng ta không thể biết Chúa, trừ khi chúng ta nói với Người.  Đó là lý do tại sao Giáo hội kêu gọi chúng ta cầu nguyện với Chúa, ít nhất là sớm mai và chiều tối.  Đó là lý do bạn và tôi cầu nguyện với Chúa bất cứ lúc nào trong kinh nhật tụng, và nhất là trong thánh lễ.

Chúng ta biết một người do công việc họ làm hoặc họ là thợ mộc, là hoạ sĩ biếm hoạ hay một đầu bếp.

Chúng ta biết Chúa qua những việc Chúa đã làm cỏ cây, chim chóc, gió mây, sao trời… Nói với chúng ta về Chúa. Tất cả những cái đó đòi hỏi chúng ta phải sử dụng lý trí.

Muốn hiểu biết một người, chúng ta cố gắng gặp người đó càng nhiều càng hay. Chúng ta gặp Chúa trong mỗi ngày, trong mỗi cuộc sống chung quanh, nhất là chúng ta gặp Chúa trong Giáo hội, trong Thánh lễ, rước lễ và các Bí tích.

Chúng ta cũng biết một người do những điều một người khác biết về người đó nói với chúng ta. Linh mục của bạn, Ngài đã dùng nhiều thì giờ học hỏi về Chúa, nói về Chúa.  Các ngài có thể nói nhiều về Cha trên trời, về Thiên Chúa làm người, về Chúa Thánh Thần cho bạn.  Cha mẹ nói cho chúng ta về Chúa. Thực sự các ngài là thầy tốt nhất nói về Chúa. Giáo lý viên. Báo chí, tạp chí và sách vở công giáo nói với chúng ta nhiều sự thật về Chúa.

Sử dụng lý trí để tìm hiểu, mọi cái về Chúa. Như thế bạn yêu Chúa với tất cả lý trí của bạn.

Gm. Arthur Tonne – trích nguoitinhuu

*************************

Lạy Thiên Chúa Tình Yêu, con không thể yêu mến Ngài hết lòng, hết sức, hết trí khôn nếu không có sự ban ơn giúp sức của chính Chúa.  Xin dạy cho con từng bước, từng bước yêu mến Ngài từ từ theo khả năng hạn hẹp của con.  Xin cho con biết tìm đến với Ngài qua cầu nguyện, qua các phép bí tích và lòng ham muốn học hỏi về Chúa để  yêu mến Ngài nhiều hơn.  Xin cho con đừng dừng lại nơi những món quà con nhận lãnh mỗi ngày mà tìm đến với người trao ban món quà đó.   Amen!

GỞI VẬT LIỆU XÂY NHÀ TRÊN TRỜI

Theo một câu chuyện cổ tích Tây phương, có một người đàn bà giàu có nọ rất hãnh diện về căn nhà sang trọng và ngôi vườn xinh đẹp của mình, nói cho cùng đây là loại người chỉ biết có của cải vật chất, nhưng ngôi vườn của bà có xinh đẹp là nhờ bàn tay săn sóc của một cụ già người làm vườn của bà.

Cụ già này có một cái nhìn hoàn toàn khác biệt với người chủ của mình, tuy nghèo hèn nhưng cụ luôn cảm thấy hạnh phúc khi chiêm ngắm cảnh vật xung quanh.  Từ cánh hoa cụ săn sóc nâng niu cho đến con chim hót mỗi buổi sáng và những đám mây trời bay lượn trên không trung, tất cả đều là một thế giới kỳ diệu và cụ cảm thấy hân hoan vì được chiêm ngắm mỗi ngày.  Từ mái tranh xiêu vẹo của mình cụ luôn đưa tay giúp đỡ mỗi khi có ai cần nhờ đến.

Thế rồi người đàn bà qua đời, cuộc sống bên kia cõi chết xem chừng cũng tiếp tục cuộc sống trần gian.  Người đàn bà bị đưa vào một mái nhà tranh đổ nát, bà giận dữ nói với người hướng dẫn:

– Phải chăng mi không làm một lầm lẫn, suốt đời tôi chỉ quen sống trong một căn nhà sang trọng với ít nhất là 16 phòng, làm sao tôi có thể sống trong căn nhà tồi tàn này cho được?

Và bà chỉ tay vào một ngôi nhà sang trọng, người đàn bà như sáng mắt lên:

– Ngôi nhà này hẳn là của tôi?

Người hướng dẫn trả lời:

– Rất tiếc chúng tôi đang chuẩn bị ngôi nhà này để đón người làm vườn của bà.

Người đàn bà ngạc nhiên đến sửng sốt:

– Người làm vườn của tôi ư? Lão ta chỉ quen sống trong một căn nhà mà thôi, ngôi nhà sang trọng này là của tôi mới phải.

Lúc bấy giờ người hướng dẫn giải thích:

– Thưa bà, chúng tôi không thể sắp xếp cách khác được, ở đây chúng tôi chỉ xây nhà bằng chính những vật liệu gởi lên từ trần gian, người làm vườn của bà luôn gởi đến những vật qúy giá nhất để xây căn nhà này, còn bà, bà chỉ gởi đến những vật phế thải làm sao chúng tôi có thể xây cho bà một căn nhà sang trọng được.

*********************************

Qúy vị và các bạn thân mến,

Mừng lễ các Thánh hôm nay có lẽ Giáo Hội không có ý mời gọi chúng ta tưởng tượng ra thêm một thiên đình chật ních các vị thánh hoặc bổ túc danh sách các vị thánh vô danh mà đúng hơn là kêu gọi chúng ta ý thức về sự thánh thiện mà mỗi người chúng ta được mời gọi tham dự vào.  Trong các thư của Thánh Phaolô, Ngài không ngần ngại gọi các tín hữu là những vị thánh.

Thật thế, qua phép rửa và Thánh Thần, người tín hữu được tham dự vào sự thánh thiện của Thiên Chúa, kể từ thời Công đồng Vatican II, sự thánh thiện không còn được xem là một đặc ân hay độc quyền của một số người nào đó mà là ơn gọi của mỗi người tín hữu Kitô chúng ta.  Chúa Giêsu đã tóm tắt ơn gọi đó bằng một mệnh lệnh:  “Các con hãy nên trọn lành như Cha các con ở trên trời”. Hãy nên trọn lành như Cha trên trời là gì nếu không phải là sống yêu thương bởi vì Thiên Chúa là tình yêu.  Nói như Thánh Phaolô:  “Tất cả mọi sự trên đời này đều sẽ qua đi duy chỉ có TÌNH YÊU là tồn tại mãi mãi”.  Một nghĩa cử yêu thương là một bước tiến vào sự sống vĩnh cửu.  Một hành động quảng đại hy sinh quên mình là một viên gạch dành để xây lâu đài cuộc sống mai sau.

*********************************

Lạy Cha, con xin cảm tạ Cha đã ban cho chúng con mẫu mực của sự thánh thiện là Đức Giêsu, Con Cha, Đấng là đuốc sáng cho chúng con.  Xin ban cho chúng con sức mạnh của Thánh Thần tình yêu, để cùng với các thánh, chúng con noi gương Đức Kitô trong mọi hành động lời nói và mọi quan hệ của chúng con, ngay từ cuộc sống này chúng con xây dựng được một thế giới công bằng, huynh đệ và yêu thương nhau hơn.  Amen!

R. Veritas

CHUYỆN CỦA ANH

Anh lớn hơn Nó đến 10 tuổi, khi Nó lớn lên thì Anh đã lớn rồi, Nó chẳng biết nhiều về tuổi thơ của anh, chỉ biết rằng anh là anh lớn trong nhà nên thiệt thòi hơn Nó rất nhiều.  Ngày ấy đất nước còn khó khăn, cánh cửa đại học không mỉm cười với anh, học hết 12 là anh phải bương chải với đời để phụ cha mẹ nuôi em ăn học, anh làm hết nghề này đến nghề khác, vất vả lắm… nhưng anh em nhà Nó sống vô tâm với nhau, chẳng hề quan tâm xem cuộc sống của nhau thế nào, vì thế Nó chẳng biết gì về chuyện của anh.

Cho đến một ngày kia, Nó thấy anh đưa bạn gái về nhà ra mắt cha mẹ và tính chuyện hỏi cưới gì đó.  Chị ấy là người làm chung hãng với anh, chắc quen nhau lâu rồi mà Nó không biết.  Đùng một cái nghe nói chuyện hỏi cưới, Nó ngỡ ngàng, một cảm giác mất mát… Trước giờ anh chị em Nó vẫn đùa với nhau:  không ai được lập gia đình trước, chờ đến năm 2000, khi Nó ra trường, sẽ làm đám cưới tập thể cho sáu cặp luôn một lúc… thế mà bây giờ, hổng lẽ anh lại không giữ lời???  Ghét!  Nó quyết tâm phá cho biết.  Ngày ra mắt chị với gia đình, mẹ làm cơm đãi chị, chị cũng lăng xăng xuống bếp phụ mẹ, chị tình cờ nói với Nó câu gì đó làm Nó không hài lòng, Nó bực mình, quăng đồ đó, không thèm phụ mẹ nữa, bỏ vào phòng, đóng cửa lại, bỏ cả bữa cơm của gia đình, ai bảo gì Nó cũng không chịu ra, mẹ vào năn nỉ, Nó bảo:  Nó ghét chị kia… !!! Làm cả nhà mất vui.

Sau ngày đó, chẳng biết anh chị có chuyện gì với nhau không mà thấy anh có vẻ trầm tư, anh không đi làm một tuần.  Sau này Nó mới được nghe kể lại về chuyện của anh:

Thời anh còn học trung học, anh có quen với một chị trong lớp, hai người chơi với nhau dễ thương lắm, chị T lo cho anh đủ thứ, tập của anh thấy toàn chữ của chị T, hai anh chị cũng sinh hoạt chung một giáo xứ, chị bên ca đoàn, anh bên lễ sinh, chơi với nhau cũng khá lâu, cũng thương nhau… Rồi cuộc sống đẩy anh ra đời, đến khi anh làm chung với chị L, anh bận rộn với công việc ở chỗ làm nhiều hơn ở nhà, thời gian về giáo xứ cũng vơi dần, phần vì công việc, phần cũng do chị L không thích lắm vì chị không cùng tôn giáo nên chẳng hiểu những việc anh làm.  Thương chị L, anh cũng không nói gì, cho đến khi hai bên tính đến chuyện hôn nhân, cha mẹ anh cũng đã sang nhà chị L để nói chuyện định ngày hỏi cưới.  Chẳng biết lý do gì làm anh cảm thấy bất an.  Anh quyết định nghỉ làm một tuần, để lấy thời gian suy nghĩ cho chín chắn.  Anh cho Chúa một tuần để hỏi Chúa một số việc về cuộc đời anh, trong đó có cả… chuyện hôn nhân.  Trong tuần đó, anh không liên lạc với chị L, ngày nào anh cũng đến nhà thờ, rồi còn đến nhà thờ Fatima để cầu nguyện thêm với Đức Mẹ để xin thấy được ý Chúa.

Sau một tuần, anh thấy như được Chúa soi sáng rất nhiều vấn đề, anh quyết định hoãn lại chuyện hôn nhân để lấy thêm thời gian, quyết định quay trở lại việc tông đồ nơi giáo xứ mà anh đã bỏ bấy lâu nay, và vài quyết định gì nữa cho cá nhân anh.  Chính quyết định của anh đã làm cho chị L giận hờn và đòi chia tay…  Không ngờ, một chuyện tình lại kết thúc vội vã như thế!  Anh buồn lắm, nhưng thấy bình an vì đã làm theo ý Chúa.  Quay trở lại với gia đình, với việc tông đồ và những tương quan trong giáo xứ, anh thấy vui và lòng nhẹ nhàng thư thái dù cuộc sống vẫn còn đó với những khó khăn. Ai cũng mừng vì sự trở lại của anh, trong đó, có lẽ mừng nhất là chị T.  Sau này chơi lại với chị, anh mới được biết trong suốt thời gian qua, chị T vẫn âm thầm cầu nguyện cho anh, mỗi tối đều dành hai kinh cho sự trở lại của anh, không phải trở lại với chị nhưng là để anh trở lại với Chúa, và chị đã kiên trì đều đặn như thế trong suốt bốn năm… cho đến khi anh thật sự trở lại.  Anh rất khâm phục tấm lòng và tình thương của chị T dành cho anh, rồi anh quay lại với chị T.  Thời gian bên nhau chẳng được bao lâu thì chị lại theo gia đình xuất ngoại… hai anh chị vẫn giữ liên lạc với nhau dù xa cách nửa vòng trái đất (ngày đó chỉ có viết thư và gọi điện thoại, chứ chưa có chat và e-mail như bây giờ).  Nghe nói đâu chị cũng đặt vấn đề bảo lãnh anh sang, nhưng anh không muốn sang đó, chị thì không thể quay về… Cuối cùng, hai anh chị quyết định: sẽ mãi là bạn!

Với quyết định đó, cả hai cùng buồn… Anh hứa sẽ trả cho chị đúng bốn năm mà chị đã kiên nhẫn cầu nguyện cho anh bằng cách: anh sẽ dành đúng bốn năm để làm theo ước nguyện của chị:  toàn tâm phục vụ các sinh hoạt trong giáo xứ, sẽ không quen ai trong thời gian này mà chỉ lo phục vụ Chúa. Và anh đã làm được chuyện đó.  Còn chị, sau một thời gian, nghe tin đám hỏi của chị, chị đã chọn ngay ngày sinh nhật của anh để làm đám hỏi, rồi đúng một năm sau, cũng ngay ngày sinh nhật của anh, là ngày đám cưới.  Chị đã có một gia đình hạnh phúc… Và họ… vẫn là bạn nhau.

Trả cho chị đúng bốn năm mà anh hứa, anh cũng bắt đầu nghĩ đến tương lai của mình, cũng để ý người này người kia, nhưng dường như sự lựa chọn của anh sao quá khó khăn, hay tại duyên số mà mãi chẳng thấy ai tiến tới được với ai.  Thấy anh buồn buồn, Nó thấy cũng tội nghiệp.  Lần đó, Nó đi Linh Thao với đám bạn sinh viên, hỏi bâng quơ xem anh muốn đi không, ai ngờ đang buồn đời, anh đi thật.  Nó giật mình, vì anh đã … “quá đát” rồi, đâu còn tuổi sinh viên nữa, mà cũng lỡ rủ rồi, nói lại sao được…  Cuối cùng Nó cũng ráng xin Thầy phụ trách để anh được tham gia, may mà Thầy đồng ý.  Sau lần Linh Thao ấy, bỗng thấy anh trầm ngâm nhiều hơn, rồi có lần, lần đầu tiên Nó thấy anh khóc, anh nói : “Chả biết Chúa muốn gì nữa, ý Chúa nhiệm mầu quá !!!”  Nghe xong, Nó cũng chẳng hiểu gì luôn…

Rồi Nó là người đầu tiên rời gia đình.  Gia đình Nó đã quen lối sống “mạnh ai nấy sống, việc ai nấy làm”.  Nên việc Nó rời gia đình cũng chẳng quan trọng gì, chẳng ai hỏi thăm Nó sống ra sao?  Nó cũng chẳng hỏi thăm gì gia đình cả, mấy dịp lễ Tết về nhà gặp nhau ăn uống nói chuyện bâng quơ vui vẻ rồi Nó lại đi…

Hai năm sau, anh báo tin cho Nó là anh vào một nhà dòng kia, nghe tên lạ lắm.  Anh nói: “anh có đến một vài nhà dòng để hỏi, nhưng anh đã lớn tuổi và cũng chẳng có bằng cấp gì nên chẳng đâu nhận anh, và đây chính là “lỗ chó” Chúa dành cho anh sau khi các cánh cửa đều đóng…”

Giờ thì Nó đã hiểu “ý Chúa nhiệm mầu” là thế nào!  Đúng là mầu nhiệm thật.  Chỉ có Chúa mới có thể nghĩ ra và làm được những chuyện như thế…

Sau nhiều năm sống trong nhà dòng ấy, đến nay anh vẫn thấy “happy” với ơn Chúa dù hành trình của anh đầy chông gai… Chẳng biết nơi nửa vòng trái đất kia, chị T có còn dành hai kinh mỗi tối để cầu nguyện cho anh nữa không, nhưng Nó, Nó quyết thay chị, dành một kinh mỗi tối để cầu nguyện cho ơn gọi của anh…

Tuyệt vời thay, huyền nhiệm một ơn gọi…!!!

Sưu tầm

NGÀY VÀ ĐÊM

Sư phụ hỏi các học trò của mình:

– Chúng con có biết khi nào đêm chấm dứt và lúc nào ngày bắt đầu?

Một người học trò nhanh nhảu thưa:

– Thưa thầy, đó là lúc ta thấy một con vật từ đàng xa và phân biệt được nó là con bê hay con lừa.

Một người học trò khác, sau một  lúc suy tư, cũng xin góp ý:

– Thưa thầy, khi nào ta nhìn thấy người bộ hành và phân biệt được là thù hay bạn.

Nhiều câu trả lời khác cũng được đưa ra nhưng dường như vị sư phụ không có một chút hài lòng. Cuối cùng cả đám nhao nhao xin thầy giải thích. Sau phút trầm ngâm như muốn thấm sâu giòng tư tưởng, vị sư phụ lên tiếng:

– Khi nào các con nhìn vào tha nhân và nhận ra đó chính là anh chị em mình thì đêm đã tàn và ngày đã tới.

* * * * *

Các con phải sẵn sàng” (Mt 24:44) vì “đêm sắp tàn, ngày gần đến” (Rm 13:12). “Hãy bước đi trong ánh sáng của Chúa” (Is 2:5).

Đó là lời mời gọi cấp thiết khởi đầu cho một năm phụng vụ mới. Thế là một mùa Vọng lại về. Bao tâm hồn lại nao nức chuẩn bị cho ngày lễ Giáng sinh sắp đến.

Đêm sắp tàn, ngày gần tới” rồi sao? Nhưng khi nào là đêm và lúc nào là ngày? Làm sao biết được ranh giới giữa ngày và đêm.

Thế ra không phải việc “phân biệt” con vật này hay con vật kia hoặc người này hay người nọ, nhưng là “nhận ra” tha nhân là anh chị em mình, mới làm cho bóng tối tan đi và ánh sáng toả rạng.

Đêm đen sẽ mãi thống trị tâm hồn nếu đời tôi cứ đắm chìm trong hiềm khích, hận thù, bất công, chia rẽ, vô luân, lừa dối. Còn khi để cho yêu thương dẫn lối cuộc sống, ngày mới cuộc đời đã bắt đầu lên ngôi, nhờ ánh quang soi tỏ mọi lối đường.

Nỗi khát mong đợi chờ cho ánh sáng tình yêu thống trị địa cầu đã bắt đầu thành sự khi Đức Giêsu là “Mặt Trời Công Chính” bừng lên và cũng là “Hoàng tử Bình An” ngự đến.

Ấy thế mà dường như nỗi khát mong đợi chờ ấy vẫn không ngừng lập đi lập lại. Phải chăng vì tâm hồn nhân thế cứ bị bóng đêm của thế gian đe dọa chiếm đoạt, nên ước nguyện ánh sáng chân lý chiếu soi vẫn mãi là đặc tính của mùa Vọng hằng năm?

Ngày xưa, theo truyền thuyết của dân Rôma, tối 24 tháng 12 là ngày sinh của thần mặt trời, để rồi sáng hôm sau vị thần đó vươn mình đứng lên mang lại ánh sáng và sự sống cho nhân gian. Thế nên, khắp cùng đế quốc, người ta mừng lễ Natalis Solis Invicti vào ngày đông chí, tức là ngày 25 tháng 12, khởi đầu thời kỳ thần ánh sáng thắng vượt tối tăm, bước qua giai đoạn ngày dài hơn đêm.

Vào năm 336, Đức Giáo Hoàng Jules I đã ấn định ngày đông chí như ngày kỷ niệm Đức Giêsu – “Mặt Trời Công Chính” – đã giáng sinh cho nhân loại. Thế là ngày lễ ngoại giáo đã được Kitô hoá. Nét truyền thuyết và thần thoại được thay bằng tính chất xác thực của biến cố Nhập thể.

Từ đó trở đi, cứ mỗi lần sắp đến 25 tháng 12, giáo dân khắp nơi nô nức chuẩn bị tâm hồn cho ngày đại lễ Giáng Sinh. Họ không ngừng ăn chay hãm mình, quảng đại thứ tha, đổi mới đời sống, chờ mừng ngày Chúa ngự đến. Dần dần những việc làm đó trở thành “đặc tính căn bản” của mùa Vọng, mùa trông mong ngày sinh nhật Đấng Cứu thế.

Đã bao mùa Giáng sinh trôi qua, nhưng có lẽ “đặc tính căn bản” của mùa Vọng đó đã phai mờ trong lòng nhiều người. Khi xưa, Giáo hội đã Kitô hóa ngày lễ ngoại giáo thành lễ Giáng sinh để hướng con người đến với nguồn sáng và nguồn sống đích thực. Còn hôm nay, không chừng tôi lại đang tục hóa ngày lễ thiêng liêng kia để rồi lòng mình cứ mãi lắng lo trong bao sự đời.

Ngày xưa mùa Vọng đã trở nên lời nhắc nhở canh tân lối sống, sửa sang tâm hồn, dọn lòng mừng Chúa đến. Còn hôm nay, không chừng tôi chỉ nghĩ đến trang hoàng nhà cửa, giăng thêm đèn màu, mua sắm quà cáp chuẩn bị cho những cuộc liên hoan say sưa, cuồng loạn, có khi… còn tội lỗi nữa.

Một lần nữa, lời nhắn nhủ trong thơ của Thánh Phaolô lại thức tỉnh hồn tôi: “Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Hãy từ bỏ những hành vi ám muội và mang khí giới ánh sáng. Hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày, không ăn uống say sưa, không chơi bời dâm đãng, không tranh chấp ganh tị. Nhưng hãy mặc lấy Chúa Kitô, và chớ lo lắng thoả mãn các dục vọng xác thịt”. (Rm 13:12-14)

Thực hành lời khuyên nhủ trên là khởi sự Kitô hoá cuộc đời, là sống trọn vẹn hơn ý nghĩa của mùa Vọng năm nay, và chắc chắn, là bắt đầu cảm nếm niềm vui nhiệm mầu sâu lắng trong lễ Giáng sinh sắp đến.

LM. Bùi Quang Tuấn, CSsR

* * * * *

Lạy Cha, xin cho con biết sống yêu thương, quên mình,  biết cảm thông với những đau khổ và  yếu đuối của tha nhân, để con biết ra tay cứu giúp, biết tha thứ đỡ nâng.  Con nghĩ đó là cách sống trọn vẹn để đón chờ Đức Giê-su. Xin cho con thực hiện được những điều ấy, để “ngày ấy” Cha đến, Cha sẽ hài lòng về con và ngày ấy cũng sẽ là ngày hạnh phúc nhất của đời con. Amen.

SỐNG CHO NƯỚC TRỜI

Một cụ già đã sống đến 82 tuổi, đến khi thấy mình không còn sống thêm được bao lâu nữa, cụ dặn con cháu hãy khắc vào tấm bia trên ngôi mộ mình một hàng chữ: “NƠI AN NGHỈ CỦA MỘT NGƯỜI VỪA TRÒN 80 CỘNG VỚI 2 TUỔI ÐỜI THẬT SỰ”

Ai cũng thắc mắc vì sao lại ghi lạ lùng như thế, cụ mới thuật lại rằng:

“Tôi đã trải qua cả một cuộc đời dài suốt 80 năm hoàn toàn xa rời, thậm chí, ngược hẳn với nếp sống Tin Mừng mà Thiên Chúa đã mời gọi.  Bây giờ thì tuổi già đã tràn đến như sóng thủy triều, tôi đã sức tàn lực kiệt, phải ngồi một chỗ, cũng may mà đầu óc tôi còn khá minh mẫn để đơn độc một mình hồi tưởng về dĩ vãng.  Và vào một hôm cách đây hơn 2 năm, tôi đã có cơ may trở về với chính mình và nghiêm túc tự hỏi: Mình đã từ đâu mà đến trong cuộc đời trần gian này ? Rồi mai đây mình sẽ đi về đâu ? Những điều tôi đã làm được trong cả đời sẽ còn lại gì khi tôi nhắm mắt xuôi tay ?

Và thế là từng ngày lặng lẽ trôi qua, đời sống của tôi như khúc phim chiếu chậm đã từ từ hiện ra trong trí nhớ già nua bằng tất cả sự thật của nó. Tôi nhận ra rằng tôi đã phí phạm cả đời mình, nó chỉ còn để lại cho tôi những lỗi lầm với Thiên Chúa và với vợ con, với mọi người chung quanh ! Chính những suy nghĩ này đã đánh động lòng tôi và giúp tôi kịp thời quay về với nếp sống gần gũi với Tin Mừng, một nếp sống chọn lấy niềm Tin, Cậy, Mến đối với Thiên Chúa và tình yêu thương chân thành đối với tha nhân.

Và với tâm tình như thế tôi đã sống đến hôm nay được hơn 2 năm.  Tôi vui mừng thật sự bởi vì 2 năm ấy chính là 2 năm tôi đã sống trọn vẹn cho Nước Trời…”

(Trích NỐI LỬA CHO ÐỜI)

* * * * *

Bạn thân mến, trong những ngày cuối cùng của tháng 11, tháng mà Giáo Hội mời gọi chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn, những người đã sống như chúng ta trên cõi đời này nhưng ra đi trước chúng ta . Xin mời bạn cùng với tôi, chúng  ta cùng suy tư về ý nghĩa và mục đích của cuộc sống này là gì ? Tôi từ đâu đến trong cuộc đời này? Rồi mai đây tôi sẽ đi về đâu ? Những điều tôi đã làm trong cả cuộc đời này sẽ còn lại những gì khi tôi nhắm mắt xuôi tay ? Khi giã từ cõi đời này để ra đi, tôi sẽ mang theo được những gì ? …

* * * * *

Lạy Chúa, đời người thật chóng qua, tựa như cơn gió thoảng, nay còn mai mất … Xin Chúa luôn nhắc nhở con biết ý thức chuẩn bị cho ngày con nhắm mắt xuôi tay từ giã cõi đời này để ra đi … Xin cho con luôn xác tín rằng con sẽ không mang theo được những gì trong cõi đời này ngoại trừ tội lỗi và công phúc . Amen

CÁC ĐẲNG LINH HỒN TRONG LUYỆN NGỤC

Vào năm 1827, tại thủ đô Paris nước Pháp có một thiếu nữ giúp việc nghèo thật nghèo nhưng vô cùng quảng đại.  Cô tên Têrêsa.  Têrêsa có thói quen lành thánh: mỗi tháng xin một thánh lễ cầu cho các đẳng Linh Hồn trong Luyện Ngục.  Nhưng rồi Thiên Chúa thử thách cô bằng một chứng bệnh hiểm nghèo, khiến cô vô cùng đau đớn.  Têrêsa bị mất việc làm và tiêu tán tiền của.  Ngày cảm thấy kha khá, Têrêsa ra khỏi nhà với vỏn vẹn 20 xu trong túi.  Cô rảo qua các khu phố để tìm việc làm.  Khi đi ngang nhà thờ thánh Eustache, Têrêsa ghé vào cầu nguyện.  Bỗng cô sực nhớ ra là tháng ấy, cô chưa xin lễ cho các đẳng Linh Hồn.  Nhưng Têrêsa thoáng chút do dự.  Số tiền 20 xu cũng là lương thực cho cô trong ngày hôm ấy.  Nhưng Têrêsa không do dự lâu.  Cô biết mình phải làm gì.  Bất ngờ một linh mục bước vào nhà thờ, chuẩn bị dâng thánh lễ.  Têrêsa hỏi cha có bằng lòng dành thánh lễ hôm ấy để cầu cho các đẳng Linh Hồn không.  Cha vui vẻ nhận lời với số tiền dâng cúng 20 xu của Têrêsa.  Thánh lễ cầu cho các đẳng Linh Hồn chỉ có vị linh mục chủ tế và một giáo dân tham dự.

Lễ xong, Têrêsa ra khỏi nhà thờ tiếp tục đi lang thang tìm việc làm.  Têrêsa thật sự lo lắng vì đi mãi mà không có hy vọng gì hết.  Bỗng một chàng trai dáng vẽ quí tộc tiến đến gần và hỏi:

– Cô tìm việc làm phải không?

Têrêsa nhanh nhẹn trả lời:

– Thưa ông phải.

Người thanh niên nói tiếp:

– Cô hãy đến đường X nơi nhà số Y, chắc chắn cô sẽ có việc làm và sẽ được hạnh phúc.

Nói xong, chàng trai bỏ đi ngay không đợi nghe lời Têrêsa rối rít cám ơn.  Khi tìm được căn nhà đúng số đã chỉ, Têrêsa thấy một cô giúp việc từ trong nhà đi ra, nét mặt cau có khó chịu.  Têrêsa rụt rè hỏi thăm bà chủ có nhà hay không?  Cô kia đáp lửng lơ:

– Có lẽ có .. có lẽ không .. nhưng có hệ gì, vì đâu có dính dáng gì đến tôi.

Nói xong, cô gái ngoay ngoảy bỏ đi.  Têrêsa run rẩy bấm chuông.  Một tiếng nói dịu dàng bảo vào.  Têrêsa bỗng đối diện với một phụ nữ cao niên quí phái.  Bà nhẹ nhàng bảo Têrêsa hãy trình bày cho bà biết cô muốn gì.  Têrêsa nói nhanh:

– Thưa bà, sáng nay cháu hay tin bà cần một người giúp việc. Cháu xin đến nhận chỗ làm này.  Người ta bảo đảm với cháu là bà sẽ tiếp nhận cháu với lòng nhân hậu.

Bà chủ ngạc nhiên nói với Têrêsa:

– Điều cháu vừa nói thật là lạ. Sáng nay bà chả cần ai hết.  Nhưng cách đây nửa giờ bà vừa đuổi một cô giúp việc vì nó chễnh mãng trong việc làm.  Chuyện này chưa hề có người nào biết, ngoại trừ bà và cô giúp việc.  Vậy thì ai đã chỉ cho cháu đến đây?

Têrêsa đơn sơ trả lời:

– Một thanh niên dáng điệu sang trọng, cháu gặp ngoài đường, đã bảo cháu đến đây.

Bà chủ nhà thử tìm cho biết người thanh niên ấy là ai, nhưng vô hiệu.  Bỗng Têrêsa nhìn lên và trông thấy tấm hình một chàng trai treo trên tường.  Têrêsa mừng rỡ kêu lên:

– Thưa bà, bà không cần phải tìm đâu cho xa. Đây chính là gương mặt người thanh niên đã nói chuyện với cháu.  Chính anh ta đã chỉ đường cho cháu đến đây.

Vừa nghe xong, bà chủ nhà kêu lên một tiếng thất thanh, như muốn ngã xuống bất tỉnh.  Xong, bà bảo Têrêsa tỉ mỉ kể lại cho bà nghe, bắt đầu từ chuyện cô có lòng thương mến các đẳng Linh Hồn, đến Thánh Lễ sáng hôm ấy, rồi chuyện gặp gỡ chàng thanh niên.  Khi Têrêsa chấm dứt, bà chủ âu yếm ôm hôn cô và nói:

– Cháu không phải là đầy tớ giúp việc cho bà, nhưng từ giờ phút này, cháu là con gái bà. Chàng thanh niên mà con trông thấy chính là đứa con trai độc nhất của bà.  Con bà chết cách đây hai năm và ngày hôm nay chính con đã giải thoát nó ra khỏi Lửa Luyện Hình.  Bà chắc chắn như thế.  Bà hết lòng ghi ơn con.  Giờ đây chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện cho tất cả những Linh Hồn còn chịu thanh tẩy trong Lửa Luyện Ngục trước khi được vào hưởng hạnh phúc vĩnh cửu muôn đời.

Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt

TÊN TRỘM VÀ NGƯỜI CHỦNG  SINH

Tập san Catholic Digest có mục thường xuyên được gọi là “The Open Door” (Cửa Rộng Mở). Trong mục này thường có hai hay ba câu chuyện do độc giả gởi đến. Những câu chuyện này kể lại sự hoán cải trở lại đạo Công Giáo của độc giả.

Có một câu chuyện thật cảm động về chàng thành niên lớn lên trong một gia đình Công Giáo, từng tích cực hoạt động trong Giáo Hội, và sau đó gia nhập chủng viện.

Rồi đến những năm đầy xáo trộn thời chiến tranh Việt Nam. Trong thời gian này, ba sinh viên ở một đại học Ohio bị giết trong lúc biểu tình phản đối chiến tranh. Những cuộc dấy loạn về sắc tộc như xé nát nhiều thành phố trong nước Mỹ. Các nhà lãnh đạo quốc gia bị ám sát. Mọi sự bỗng dưng trở nên rời rạc.

Chàng thanh niên này rời chủng viện, tham gia phong trào chống chiến tranh, từ bỏ Giáo Hội, và chế nhạo đức tin mà trước đây anh từng ấp ủ.

Gia đình anh bàng hoàng vì sự thay đổi này. Và khi thái độ của anh ngày càng thù nghịch với tôn giáo, họ đã hoàn toàn tuyệt vọng.

Sau đó là Tuần Thánh và trong Thứ Sáu Tuần Thánh năm 1970, chàng thành niên, lúc ấy 22 tuổi, lái xe ngang qua một nhà thờ Công Giáo. Anh nhận ra tên của cha xứ trên tấm bảng trước nhà thờ. Đó là vị linh mục anh rất kính trọng. Điều gì đó đã thúc đẩy anh dừng xe và đi vào nhà thờ.

Khi bước vào cửa, nghi thức Tôn Kính Thánh Giá bắt đầu. Anh ngồi ở hàng ghế cuối cùng. Anh theo dõi dân chúng xếp hàng lên hôn thánh giá, trong khi ca đoàn hát bài “Were You There When They Crucified My Lord?” (Bạn có ở đó khi họ đóng đinh Chúa không?)

Và rồi điều gì đó thật lạ lùng đã xảy ra. Anh viết:

“Trong con người tôi, điều gì đó đột ngột xảy ra và tôi bắt đầu khóc. Sau khi dằn được xúc động, tôi nhớ lại sự bình an mà từ lâu tôi đã bỏ lại nơi nhà thờ. Đức tin đơn sơ mà giờ đây tôi đang chứng kiến thì dường như có ý nghĩa hơn là điều tôi tuyên xưng. Tôi bước ra khỏi ghế và quỳ xuống hôn Thánh Giá. Vị linh mục nhận ra tôi, ngài đến ôm lấy tôi.”

“Từ ngày đó trở đi,” anh cho biết, “tôi trở nên một người Công Giáo tái sinh.”

Anh kết thúc với nhận xét sau: “Tại sao tôi dừng xe ở nhà thờ đó vào ngày hôm ấy, cho đến giờ tôi vẫn không hiểu, nhưng tôi biết rằng tôi thật sung sướng với các kết quả.”

* * * * *

Tôi thích câu chuyện này vì nó thích hợp với các bài đọc trong ngày lễ “Chúa Giêsu là Vua” hôm nay.

Vì bài Phúc Âm diễn tả một thanh niên vô tôn giáo cách đây hai ngàn năm, Anh là một tên trộm cướp, với đầy giận dữ trong lòng nhưng anh đã hoàn toàn thay đổi cuộc đời vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh đầu tiên ấy.

Và điều thay đổi cuộc đời của người thanh niên này cách đây hơn hai ngàn năm cũng chính là điều thay đổi anh chủng sinh trong câu chuyện trên đây. Đó chính là việc đóng đinh Đức Kitô.

Và điều mà Đức Kitô trên thập giá đã nói với người trộm thì Người cũng nói với anh chủng sinh: “Ta hứa với con là hôm nay con sẽ ở với Ta trên thiên đàng.”

Thật khó có bài đọc nào thích hợp hơn để kết thúc năm phụng vụ. Bài đọc đã tóm lược lý do tại sao Chúa Giêsu đến trong thế gian. Chính là để tha thứ cho tội nhân, như tên trộm – và như anh chủng sinh.

Và điều này đưa chúng ta đến việc áp dụng tất cả những điều này vào thực tế đời sống chúng ta. Đó là:

  •  Điều Chúa Giêsu đã làm cho người trộm lành và anh chủng sinh, Người cũng muốn làm cho mỗi người chúng ta.
  •  Người muốn tha thứ tội lỗi chúng ta, bất kể có to lớn đến đâu và lâu đời đến đâu.
  •  Người muốn nói với chúng ta điều mà Người đã nói với tên trộm và anh chủng sinh:
    Ta hứa với con là hôm nay con sẽ ở với Ta trên thiên đàng.”

Đây là tin mừng khiến chúng ta quy tụ nơi đây để mừng lễ Chúa Kitô Vua.

Đây là tin mừng mà Chúa Giêsu muốn đi vào cuộc đời chúng ta và thi hành cho chúng ta điều mà Người đã làm cho tên trộm và anh chủng sinh.

Đây cũng là tin mừng mà Thánh Phaolô đã diễn tả  trong bài đọc thứ hai của Chúa Nhật hôm nay:

[Thiên Chúa] đã cứu chúng ta khỏi quyền lực tối tăm và đưa chúng ta một cách bình an đến vương quốc của Con yêu dấu của Người, mà nhờ Người chúng ta được tự do, đó là, chúng ta được tha thứ mọi tội lỗi.

LM. Mark Link, S.J.

TẠ ƠN LÀ MỘT TÂM TÌNH

Mỗi mùa Lễ Tạ Ơn, Thanksgiving, người ta hay nhắc đến chuyện người phung cùi trở lại cám ơn Ðức Kitô trong Phúc Âm Luca.

Trên đường lên Jêrusalem, Ðức Giêsu đi ngang qua biên giới giữa hai miền Samaria và Galilêa.  Lúc Người vào một làng kia, thì có mười người phung cùi đón gặp Người.  Họ dừng lại đàng xa, và kêu lớn tiếng:  “Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi.”  Thấy vậy, Ðức Giêsu bảo họ:  “Hãy đi trình diện với các tư tế.”  Ðang khi đi thì họ được sạch.  Một người trong bọn họ thấy mình được khỏi liền quay trở lại lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa.  Anh ta sấp mình dưới chân Ðức Giêsu mà tạ ơn.  Anh ta lại là người Samari.  Ðức Giêsu mới nói: “Không phải cả mười người đều được sạch sao?  Thế thì chín người kia đâu?  Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa mà chỉ có người ngoại bang này?” (Lc. 17: 11-19).

Tôi nghĩ câu chuyện tạ ơn của người phung cùi không dừng lại ở đây.  Không dừng lại ở lời tạ ơn Chúa mà thôi.  Nó gọi ta đến một đường cong sâu hơn và xa xôi hơn.  Tạ ơn là tâm tình đòi hỏi một tấm lòng.  Tâm tình này là bản phiên dịch của một nội tâm.  Chính bản phiên dịch nội tâm này nói trung thực cho ta biết mình là ai.

Tôi muốn nhìn vào nội tâm người phung cùi, để đi tìm chiều kích lời tạ ơn của anh ta với Ðức Kitô. Nó đến từ một đường cong sâu xa nào?

Bối cảnh văn hóa, tôn giáo, lịch sử.

Người Do Thái trong thời Chúa Giêsu không chấp nhận những người phung cùi sống trong làng.  Họ phải sống cô lập ngoài sa mạc, xa xôi ngoài cánh đồng.  Khi gặp Ðức Giêsu, họ cũng đứng “từ đàng xa” chứ không dám lại gần.  Họ bị coi là những kẻ tội lỗi, bị Thiên Chúa giáng án phạt.  Hiểu như thế mới thấy nỗi cô đơn của kẻ mang bệnh tật này.  Trong thời đại ấy, người Do Thái cũng không chấp nhận chung sống với người ngoại giáo.  Họ đối nghịch đến độ thù hận nhau.

Cộng đoàn những người cùi.

Theo mạch văn của đoạn Kinh Thánh, Chúa hỏi: “Còn chín người kia đâu.”  Như vậy chín người kia cộng với anh cùi đến tạ ơn Chúa, tất cả mười người.  Tại sao có mặt người cùi ngoại giáo trong cộng đoàn những người cùi Do Thái?  Tại sao những người cùi Do Thái lại để người cùi xứ Samaria theo mình nhập bọn?  Ðoạn Kinh Thánh trên tường thuật là “một người trong bọn họ.”  Cụm từ “một người trong bọn họ.”  Cho thấy chín người Do Thái Giáo và một người Samaria đã sống chung, đi chung một con đường, là một cộng đoàn.

Chuyện này dường như cũng không xa lạ giữa hoàn cảnh xã hội hôm nay.  Trong những hành trình gian khổ, dường như người ta vượt qua mọi biên giới để sống với nhau.  Có những tình nghĩa vợ chồng, khi nghèo khó, họ sống đời đùm bọc nhau.  Cùng nhau đẩy chiếc xe đạp chở ngô khoai.  Cùng nhau chèo một con đò, buôn thúng bán bưng nuôi con.  Rồi có thể họ mất nhau khi mỗi người có một địa vị, một công ty riêng.  Lúc lâm nạn, người ta vượt qua biên giới chủng tộc, tôn giáo, để cứu nhau. Rồi người ta xây nên những thành trì, những bức tường tôn giáo khi người ta có đền thờ riêng.

Tại sao trong cộng đoàn mười người cùi này lại có một người ngoại giáo.  Tại sao họ chung sống với nhau?

Khổ đau dường như có một giá trị rất sâu trong câu chuyện này.  Rất nhiều trường hợp, khi hết yếu đuối, hết nghèo khó, họ xa nhau.  Trên đường đi tạ ơn này, chín người kia đi về một phía, người Samaria đi về một phía.  Không còn một cộng đoàn những người cùi khác tôn giáo.

Với chín người cùi, họ có thể liên kết lại để cô lập người cùi Samaria.  Nhưng ở đây, họ chung sống, chấp nhận người cùi khác tôn giáo này.  Dường như trong cô đơn tận cùng vì bị xã hội chối bỏ, họ được đốt cháy hết những địa vị, tên gọi, và khi được bóc trần đến phẩm giá sau cùng, họ thấy họ giống nhau ở một tên gọi duy nhất là làm người.

Giá trị cùng đích sau hết vẫn là: Làm người.

Dường như tôn giáo cũng rất cần luôn luôn được thanh tẩy để khỏi bám bụi.  Những giá trị ngoài nhân đức như đền thờ, tổ chức, ảnh hưởng, rất có thể đưa con người xa cách nhau.

Mọi tôn giáo đều tìm cách dạy con người ý nghĩa của cô đơn, đau khổ.  Nhưng ý nghĩa đẹp nhất của đau khổ và cô đơn lại là vượt qua mọi tôn giáo để đùm bọc nhau cho con người bớt cô đơn và đỡ khổ đau.

Rồi tình yêu cũng thế.  Tình yêu cũng cần thanh tẩy.  Những giá trị ngoài nhân đức như nhan sắc, địa vị, vàng bạc, rất có thể sẽ đưa con người xa cách nhau.  Trong đời sống, ai cũng cần chịu ơn nhau.

Phải nghèo một chút để biết xin.

Phải yếu một chút để biết nương tựa.

Nhìn lại, người cùi xứ Samaria, trong “bọn họ”, anh ta là thiểu số, anh chỉ có một thân, một mình.

Tôi nghĩ anh ta trở lại tạ ơn Thiên Chúa vì đời anh quen tâm tình tạ ơn rồi.  Ngay những ngày sống chung với chín người kia, biết mình thiểu số mà được chấp nhận, anh ta đã sống lòng biết ơn đó.  Tạ ơn là một bản phiên dịch nội tâm của anh.

Câu chuyện cộng đoàn mười người cùi được chữa lành rất đẹp vì họ đã sống với nhau.  Nếu sau khi được chữa lành, tất cả đều trở lại tạ ơn Thiên Chúa thì câu chuyện kết thúc quá lý tưởng.  Tại sao chín người kia không trở lại?

Rất có thể chín người kia không quen tâm tình tạ ơn.  Rất có thể họ chấp nhận người cùi Samaria như là cho ơn hơn là lãnh nhận.

*********************

Tôi thụ phong linh mục năm 1989.  Cũng năm này tôi được gởi qua trại Palawan, Philippines giúp đồng bào tỵ nạn.  Những ngày đó, chúng tôi đã có những kỷ niệm đẹp, tôi đã viết bài “Palawan Mùa Phật Ðản”, năm 1992, đăng trong báo Ðường Sống.

Năm 1995 tôi rời trại tỵ nạn.  Tôi xa khúc đường trong trại, một bên có hương trầm nhà Chùa, một bên có tiếng chuông nhà Chúa.  Rồi một hôm, mười năm sau, kỷ niệm lại về như nghe tiếng mõ tụng kinh quen thuộc ngày nào đó, bên Chùa.  Ðó là vào ngày 28 tháng 12 năm 2004.  Sau lễ Giáng Sinh, tôi đang giúp tĩnh tâm cho cộng đoàn các Sơ Ðaminh Việt Nam ở Houston.  Tôi nhận được một lời nhắn trong chiếc phôn cầm tay:

Dạ, kính linh mục Nguyễn Trọng Tước.

Ðây tôi là Thích Thông Ðạt từ San Jose gọi chúc mừng trong mùa Giáng Sinh với New Year.  Chúc mừng linh mục dồi dào sức khỏe.  Happy Merry Christmas.  Happy New Year.  Dạ, kính linh mục.  Khi nhận được message xin cho gặp số phôn 408-926-1998.  Kính chúc mừng linh mục trong mùa Chúa Giáng Sinh cũng như đầu năm mới.

Kính linh mục.

Tôi hết sức ngạc nhiên.  Một Thầy bên Chùa đã mười năm xa cách.  Từ ngày Thầy rời trại tỵ nạn Palawan, bằng ấy năm không hề gặp lại nhau.  Mười năm không liên lạc.  Bỗng dưng Thầy tìm phôn gọi tôi, vì Thầy muốn chúc mừng ngày Chúa Giáng Sinh.  Những kỷ niệm xa xưa.

Kính Thầy Thông Ðạt,

Những ngày ở trại tỵ nan, những ngày ấy chúng ta có nhiều kỷ niệm quá nhỉ.  Vào mùa Phật Ðản và Giáng Sinh, năm nào chúng ta cũng có những món nợ.  Chúng ta cho nhau mượn cái trống, mấy sợi giây đèn.  Các em Thiếu Nhi cho nhau mượn mấy mét vải, cái đầu lân để làm văn nghệ.  Chúng ta đã nợ nhau tình thương mến.

Thời gian đã xa xôi quá, như đang xóa nhòa dần đi.  Bỗng dưng mười năm sau, Thầy tìm điện thoại, gọi chúc mừng ngày Chúa Giáng Sinh.  Mười năm là thời gian dài lắm đó Thầy ạ.  Thế là tôi lại “nợ” Thầy.

Thánh Phaolô đã căn dặn các tín hữu của ngài: “Các con hãy nợ nhau tình thương mến” (Rom. 13: 8).  Bây giờ chúng ta đã xa những ngày tỵ nạn cho nhau mượn cái bát, tô cơm.  Thầy Thông Ðạt có thể nay đã có chùa riêng, có đoàn Phật Tử đông đảo.  Chả ai phải mượn ai.  Chùa của Thầy chăng rợp hoa đèn ngày lễ.  Chả ai cần ai.  Thầy gọi điện không là để mượn gì cả, cũng chẳng hỏi tôi có mượn cái đầu múa lân không, chỉ để chúc mừng ngày Chúa Giáng Sinh.  Thầy gọi điện vì nhớ về khung trời tỵ nạn có những kỷ niệm bên bờ đời sống.  Tình thương mến.

Có những cặp vợ chồng nay mỗi người là một giám đốc.  Chẳng ai phải nhờ ai.  Có những anh em, không ai phải cậy ai.  Xa những ngày nghèo túng rồi.  Không ai phải dựa ai.  Ðầy đủ.  Mà sao cứ như có nỗi vắng trong lòng.

Hay là người ta thiếu nhau món nợ tình thương mến?

Lm Nguyễn Tầm Thường, S.J.
Trích tập suy niệm Ðường Ði Một Mình