TÔI LÀ TẤM BÁNH

Ăn thịt và uống máu người mình yêu là điều khủng khiếp chẳng ai dám nghĩ tới. Nhưng Ðức Giêsu lại muốn nuôi cả nhân loại bằng Thịt và Máu Ngài. Và thực sự Ngài đã nuôi ta bằng cái chết trên thập giá, ở đó Ngài đã hy sinh Máu Thịt mình.  Ðúng hơn, Ngài nuôi  ta bằng sự sống của Ngài: Sự sống được trao đi qua cái chết tự nguyện, và sự sống được lấy lại qua sự phục sinh vinh hiển.

Ðức Giêsu ban cho ta Tấm Bánh (Ga.6:51). Ngài còn tự nhận mình là Tấm Bánh (Ga.6:48). Tấm Bánh có sự sống và Tấm Bánh ban sự sống. “Tôi là Tấm Bánh”, đó là định nghĩa của Ðức Giêsu về mình.  Ðịnh nghĩa này có làm ta ngạc nhiên không?  Bánh là cái gì ăn được và đem lại sự sống.  Bánh không sống cho chính mình, nhưng cho người khác.  Chấp nhận mình là bánh, có nghĩa là chấp nhận mất đi chính mình, mà chỉ khi mất đi chính mình như thế, bánh mới thật sự là bánh, mình mới thật sự là mình.

zzThật ra bánh vẫn hiện diện và nên một với người ăn.  Ðức Giêsu là Tấm Bánh đặc biệt. Khi ta ăn Tấm Bánh, Ngài biến thành ta, và Ngài biến ta thành Ngài.  Một sự ở lại hai chiều, một sự hiệp thông sâu thẳm.

Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy ” (Ga.6: 56).  Rước lễ là đón lấy sự sống, là chấp nhận sống nhờ.  Ðức Giêsu sống nhờ Chúa Cha và ta sống nhờ Ðức Giêsu (Ga.6:57).  Như cành nho sống nhờ thân cây nho, ta cũng sống nhờ Đức Giêsu.

Như một lời mời gọi tha thiết của Chúa Giêsu. Ngày nay, người ta rước lễ nhiều hơn trước. Phải chăng rước lễ là sự kết hợp nhiệm mầu và là cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu.  Nhưng tiếc thay, lắm khi cuộc gặp gỡ này khá vội vã, sự kết hợp này qúa mỏng manh, thiếu chuẩn bị và cũng thiếu đối thoại thân tình.

Tôi lên rước lễ chỉ vì mọi người trong hàng ghế đã lên rước lễ. Tôi lên rước lễ chỉ vì muốn tỏ vẻ đạo đức, thánh thiện.  Phút thinh lặng tạ ơn sau rước lễ cũng bị cắt ngắn. Tôi phải ra về ngay vì phải lấy xe, vì phải về cho kịp công việc, vì nhà thờ phải dọn dẹp và đóng cửa… Rốt cuộc chẳng có cuộc gặp gỡ nào xảy ra trong tôi, chẳng có cuộc đối thoại thân tình nào được thực hiện giữa tôi với Ngài, nên tôi vẫn cứ là tôi như trước. Chính vì thế rước lễ chẳng gây được âm vang nào nơi tôi, chẳng biến đổi cuộc đời tôi. Nó trở thành một thói quen, một nghi thức thuần tuý.

Chỉ ai biết ăn, biết thưởng thức và nghiền ngẫm, người ấy mới gặp được sự sống và gặp được Giêsu.

***

 Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa đến với con dưới dạng tấm bánh nhỏ bé bình thường. Tấm bánh chẳng biết nói gì, chỉ biết lặng lẽ chờ đợi. Tấm bánh hiện diện là để phục vụ cho con người. Tấm bánh quá đỗi mong manh, có thể bị ẩm mốc hư hại,
và có thể tan vỡ rất mau sau khi được trao đi cho người ta nhận lãnh.

Lạy Chúa Giêsu!. Nhờ ăn tấm bánh của Chúa, xin cho con biết đơn sơ, khiêm hạ để mang Tấm Bánh đến với anh chị em của con. Xin cho con cũng được trở nên tấm bánh, biết bẻ ra và trao ban đến mọi người. Amen.

(Tổng hợp từ R. Veritas)

MẸ TỪ BIỆT CÕI THẾ

zzBa ngày trước khi Mẹ từ trần, các Tông Đồ và Môn Đệ đã tụ họp đông đủ tại Jêrusalem trong mái ấm nhà Tiệc Ly.  Thánh Phêrô đến trước nhất, đến Phaolô rồi đến các Tông Đồ khác.  Mẹ tiếp đón các Ngài bằng một tình thương hiền ái, Mẹ xin các vị ban phép lành trong xúc động.  Mẹ từ giã từng Môn Đệ, từng Tông Đồ và chung tất cả những người tham dự, rồi Mẹ đứng lên và nói với các Tông Đồ rằng:

Hỡi các con yêu dấu, các con là Thầy của Mẹ, Mẹ thiết tha yêu thương các con trong Con Chí Thánh của Mẹ.  Theo ý Người, Mẹ sắp sửa về trời, nhưng ở đó, Mẹ hứa sẽ ấp ủ các con trong Trái Tim Mẹ như một người Mẹ.  Xin các con hãy cố gắng làm vinh danh Chúa và truyền bá đức tin.  Các con hãy giữ lời Con Chí Thánh Mẹ, hãy tưởng niệm cuộc sống và cái chết của Người, hãy thực hành giáo lý của Người, hãy yêu mến Giáo Hội.  Các con hãy yêu thương nhau trong mối dây Đức Ai hòa thuận. Còn con, hỡi Phêrô, Mẹ xin trao phó cho con Gioan và tất cả mọi người.”

Lời đó như mũi tên lửa xuyên cắm vào tâm hồn mỗi người hiện diện.  Ai cũng tê tái đau khổ trào lệ xuống tay Mẹ yêu dấu của mình.  Một lúc sau Mẹ khuyên mọi người im lặng cầu nguyện với Mẹ.  Nhà Tiệc Ly ngập đầy hương thơm thiên quốc.  Một ánh sáng chói lọi từ nhà phát ra, ai ai cũng nhìn thấy.  Mẹ cúi mình trên chiếc sạp gỗ nhỏ, chắp tay lại, mắt nhìn cắm vào Chúa Giêsu, Trái Tim Mẹ cháy bừng lên trong tình yêu mến Chúa.  Các Thiên Thần hát lên những bản tình ca diễm lệ.  Mẹ thốt lên lời cuối cùng của Chúa Giêsu trên cây Thánh Giá “Con phó Linh Hồn con trong tay Cha.”

Mẹ nhắm mắt, tắt thở.  Mẹ đã tắt thở vì tình yêu Chúa mãnh liệt, không còn phép lạ nào ngăn cản nữa, nên đã phá vỡ những ràng buộc của thân xác, chứ không phải một suy nhược bệnh tật hay tai nạn nào. Mẹ sống nhờ phép lạ.  Phép lạ ngừng, Mẹ đi vào cõi chết !

Linh Hồn nguyên tuyền của Mẹ từ giã Thân Xác Trinh Vẹn của Mẹ, và ngay lúc đó, Mẹ được tôn lên ngai trong một vinh quang khôn tả.  Tại nhà Tiệc Ly, mọi người nghe được tiếng nhạc thiên quốc xa dần trong không gian.  Đoàn Thần Thánh tháp tùng đã đi theo Chúa Giêsu và Mẹ lên trời.

Thân xác Mẹ là Cung Thánh của Thiên Chúa ngự trị, mặc một vẻ lộng lẫy chói ngời, và tỏa hương thơm thánh thoát.  Các Tông Đồ buồn nhưng thanh thoát hân hoan trước những việc lạ lùng vô song ấy.  Tất cả đều như ngây ngất một lúc dài, rồi mới bắt đầu hát lên được bài thánh ca mừng Mẹ.

Mẹ qua đời vào ngày thứ Sáu, lúc 3 giờ chiều, ngày 13 tháng 8 năm 55 sau Chúa Giáng Sinh.  Năm ấy Mẹ được 70 tuổi kém 16 ngày.

Các Tông đồ lấy áo quan đem vào bên giường Mẹ, hai Ngài kính cẩn nương thi thể Mẹ đặt vào áo quan.  Ánh ngời chói giảm đi mãi cho tới lúc mọi người nhìn thấy gương mặt Mẹ và đôi tay.  Các Tông Đồ khiêng Xác Thánh Mẹ qua phố Jêrusalem đến mồ.  Có hàng ngàn hàng vạn các Thiên Thần từ trời xuống đưa xác Mẹ.  Thánh Phêrô và Gioan đặt xác Mẹ vào trong mồ, với niềm tin kính và dễ dàng như khi đặt vào áo quan.  Các Ngài lăn tảng đá lớn lấp cửa mồ theo phong tục.  Lễ an táng xong,

Các Thánh trở về trời, nhưng các Thiên Thần hầu cận vẫn còn ở lại tiếp tục tấu nhạc cho tới khi dân chúng giải tán hết.

MẸ VINH QUANG HỒN XÁC VỀ TRỜI

Linh hồn rất Thánh Mẹ đã hưởng phúc trên Thiên Đàng 3 ngày, Thiên Chúa tỏ cho các Thần Thánh biết quyết định hằng hữu của Ngài, là phục sinh cho Xác Thể đáng kính của Mẹ.  Tới lúc đó, Chúa Giêsu từ trời đem linh hồn Mẹ xuống mồ thánh của Mẹ, giữa muôn vàn Thiên Thần, Các Thánh, các Tổ Phụ và các Tiên Tri. Đến mồ thánh, Chúa phán :

Mẹ của Cha đã được dựng thai Vô Nhiễm, Cha đã mặc lấy nhân tính từ nơi bản thể Vô Nhiễm ấy.  Thể Xác Cha là Thể Xác của Mẹ.  Mẹ cũng đã đồng công vào mọi công trình cứu chuộc của Cha, nên Cha phải phục sinh cho Mẹ để Mẹ nên giống Cha mọi sự .”

Toàn thể Các Thánh đều ca tụng, tán dương trước lời công bố của Chúa Giêsu.  Tức thì linh hồn vinh hiển của Mẹ vào lại thân xác đồng trinh của Mẹ, trả lại sự sống và tất cả mỹ lệ cho thân xác ấy mà không hề chạm đến tảng đá che cửa mồ.  Hôm đó là ngày Chúa Nhật 15 tháng 8, liền sau nửa đêm Xác Thánh Mẹ ở trong mồ 30 giờ, như Xác Thánh của Chúa.

Một cuộc cung nghinh trang trọng đầy hoan lạc không thể tả được, giữa các Thần Thánh rước Mẹ về Thiên Đàng cả hồn lẫn thể xác.  Chúa Cha ra tiếp đón Mẹ với một cuộc tiếp đón thỏa lòng nhất. Chúa Cha phán “Con yêu dấu, Con hãy lên hưởng vinh quang hơn hết các thụ tạo”  Mẹ chìm ngập trong đại dương vô cùng của Thần Tính Thiên Chúa.  Chúa Cha lại phán : “Maria nữ tỳ của Chúng Ta, Con đã làm cho Chúng Ta thỏa lòng.  Con có toàn quyền trên Vương Quốc Chúng Ta, và được tôn phong làm Chủ Mẫu, làm Nữ Vương độc nhất của Thiên Quốc

Ba Ngôi Thiên Chúa đặt trên đầu Mẹ một Vương Miện Vinh Quang cực kỳ lộng lẫy, rạng chiếu luồng sáng tuyệt kỳ.  Cùng lúc ấy từ ngai Chúa phán ra : “Hỡi người Con chí ái, Vương Quốc của Ta là Vương Quốc của Con, Con là Chủ Mẫu, là Nữ Vương các loài thụ tạo.  Từ ngai cao cả này Con sẽ thống trị toàn thể thụ tạo, hỏa ngục, trần gian và thiên đàng.  Mọi loài đều phải phục tùng Con.  Chúng Ta trao ủy cho Con quyền bính Thần Linh của Chúng Ta, để Con nâng đỡ, bảo trợ và làm Mẹ hết mọi người công chính và là Mẹ Giáo Hội chiến đấu trần gian .”

Trong lúc ở Thiên Đàng xẩy ra sự kiện vinh quang đó, thì ở trần gian, nơi phần mộ của Mẹ. Thánh Phêrô và Gioan nhận thấy tiếng nhạc Thần Trời đã ngưng, nhờ ánh sáng Thánh Linh soi dẫn, các Ngài kết luận :

Mẹ đã phục sinh và lên trời cả hồn cả xác .”

Tảng đá che lấp cửa mồ được cất ra, mọi người chỉ còn thấy trong mồ chiếc áo còn nguyên trạng thái khi liệm.  Thánh Phêrô nâng chiếc áo lên rồi quỳ xuống, tỏ lòng tôn kính tin phục Mẹ đã phục sinh và lên Trời.

Trích Truyện Cuộc Đời Của Đức Mẹ do Tác giả Thánh nữ Maria Agrêđa tường thuật

 

TU TẠI GIA

“Thứ nhất thời tu tại gia
Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu… dòng” (2)
(Mượn ý  Ca dao)

Có ba người cùng tôn giáo, một là nhà truyền giáo, một là tài xế lái xe đò và một nông dân có vợ và 10 con.  Ba người đều thâm niên 40 năm chức nghiệp, đã qua đời trùng hợp cùng giờ, cùng một ngày và cùng được lên trình diện Chúa để xin vào thiên đàng. Ba người cùng tới cửa một lúc nên Thánh Phê-rô mới nói: Các anh đều đến cùng một lúc, hãy tự nhường nhịn nhau, vậy anh nào muốn vào trước?

Nhà Truyền Giáo nói: “Hai anh dành cho tôi vào trước được không?”  Bác tài và anh nông dân kính nể vị lãnh đạo tinh thần, chẳc hẳn người có nhiều công lao, nên đồng thanh cất tiếng cùng một lúc: “chúng tôi xin nhường ngài vào trước.”

Nhà truyền giáo rất lấy làm hãnh diện thấy mình được nhường, cúi đầu chào thánh Phê-rô và chững chạc tiến vào cửa Thiên Cung quỳ trước Thiên Nhan tâu:

–  Tấu lạy Chúa, con là nhà truyền giáo làm việc thay thế các Tông Đồ, suốt 40 năm chuyên lo rao giảng Lời Chúa nhân từ cho giáo dân, xin cho con được vào Thiên Đàng trước.

Chúa ngắm Nhà Truyền Giáo một cách rất trừu mến, xuất khẩu thành thơ, Ngài phán:

Bốn mươi năm dạy dỗ Lời Cha
Con giảng giáo dân ngủ gật gà
Đâu hiểu Phúc Âm mà áp dụng
Ra ngoài tạm nghỉ, đợi chờ ta.

Nhà truyền giáo lủi thủi lui ra, bác tài xế nói với anh nông dân: “Chú nhường cho tớ vào trước nhé vì tớ thường chở chú đi đây đi đó.”  Anh nông dân gật đầu chấp nhận vào sau chót.

Bác tài nhanh nhảu cũng cúi đầu chào thánh Phê-rô, rồi tiến vào cửa Thiên Cung quỳ xuống, ngẩng mặt lên chiêm ngưỡng Chúa và tâu:

–  Tấu lạy Chúa: Con làm tài xế lái xe đò, suốt 40 năm con phục vụ đồng bào, chuyên chở vợ đi thăm chồng, con đi thăm cha, đem tình thương yêu đến với mọi người. Thỉnh xin Chúa cho con được vào Thiên Đàng sớm.

Chúa nhìn anh tài xế, Ngài mỉm cười:  “Ừ, kể ra con cũng có nhiều công to đáng được thưởng, tuy nhiên con tạm ra ngoài nghỉ, chờ Cha xem kỹ lại một số hồ sơ vừa trình lên thưa con, kiện tụng vì bị thương dập mũi, trầy trán. . . gì đó mà Cha chưa kịp xem hết;” cũng xuất khẩu thành thơ, Ngài phán:

Xe đò chuyên chở khách đi xa
Thăm viếng chồng, cha cũng tuyệt mà
Đáng thưởng Thiên Đàng nhờ lái giỏi!
Mỗi lần con thắng….. chúng kêu Ta!”

Bác tài xế cũng chưa được vào, phải lui ra và ngồi chờ.

Đến lượt anh nông dân, anh rụt rè sợ sệt vì nghĩ bụng hai người có công lớn như vậy mà chưa được vào.  Còn mình chỉ có cày sâu cuốc bẫm trồng trọt để nuôi vợ, nuôi con, đâu có công lao gì… làm sao vào nổi Thiên Đàng, nên rất hồi hộp lo âu!  Anh trịnh trọng cúi đầu chào thánh Phê-rô và nhỏ nhẹ thưa; “Bẩm ngài, con được phép vào chưa?” Thánh Phê-rô gật đầu và  nói:

– Con hãy vào trình diện Chúa đi.

Anh nông dân rụt rè tiến vào, còn cách cửa thiên cung cả trăm bộ anh đã qùy xuống và di chuyển bằng hai đầu gối, gần đến cửa anh cúi rạp đầu khúm núm tâu:

–  Bẩm lạy Cha nhân từ, con là một nông dân dốt nát, nghèo hèn, bốn mươi năm chỉ biết cày sâu cuốc bẫm, trồng trọt để nuôi vợ và 10 đứa con, bữa tối còn phải phụ bà xã rửa chén, cuối tuần còn phải lau nhà nữa.  Xin Cha rộng lòng thương cho con được nương náu dưới mái nhà yêu mến của Cha là sung sướng lắm rồi.  Con xin tình nguyện làm bất cứ việc gì con cũng xin vâng theo…!

Chúa nhìn anh nông dân trừu mến Ngài phán:

Con quả thực có công lớn, vì:
Làm chồng chiều vợ tuyệt vời thay
Nhịn nhục khôn ngoan đáng bậc thày!
Chỉ bốn mươi năm con chịu… nổi
Thiên Đàng, Cha thưởng bước vô ngay.

Qua câu chuyện dí dỏm trên, cho phép ta suy luận.  Bất cứ ở trong địa vị nào dù quan trọng hay không quan trọng, mỗi người chúng ta đều là một Tông Đồ của Thiên Chúa.  Sự khiêm tốn hoàn thành sứ vụ của mình, không phân biệt dù lớn hay nhỏ đều có là giá trị, chứ không phải giá trị ở chức vụ. “… sau khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy zznói: Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi chỉ làm việc bổn phận đấy thôi. ( Lc 17,10)

Chúng ta có yêu thương nhau, chúng ta mới biết nhường nhịn nhau.  Vì có “khôn ngoan” mới biết nhịn nhục.  Vì sự nhịn nhục và tha thứ sẽ làm cho tình yêu được bền vững, gia đình hòa thuận, mà gia đình chính là nền tảng của xã hội; là một giáo xứ nhỏ trong những giáo xứ của Giáo Hội.  Quả thực xứng đáng là bậc thày vậy!

Cảm  Tác

Thiên Đàng, nhà của Chúa Trời
Là nơi quê thật tuyệt vời, Ngài ban
Cho ai trách nhiệm chu toàn
Yêu thương chân lý, khôn ngoan thực hành.
Bần cùng hay bậc trâm anh
Tề gia khéo léo, mới rành trị dân.
Trần gian Thiên Ý vâng tuân
Đời đời hạnh phúc hồng ân chan hòa.
Ngày về Thiên Quốc hoan ca
Thiên Thần mở cửa, Chúa Cha chúc lành.

Hoài Việt Nguyễn Vĩnh Tường – trích trong Thiên Nga Thoát Nam

TÔI LÀ BÁNH TRƯỜNG SINH

Một ngôn sứ dũng cảm như Êlia trên núi Các-men cũng có lúc chán nản, thất vọng, chỉ muốn xin được chết.  Giữa sa mạc, Êlia nằm ngủ dưới gốc cây. Ông không còn đủ sức tiếp tục cuộc hành trình.  Một thiên thần đã đem đến cho ông bánh và nước, nhờ đó ông có sức đi đến núi của Thiên Chúa.

Người Kitô cũng phải đi ngang qua sa mạc cuộc đời, với bao thách đố, ngờ vực, hiểm nguy… Chúng ta cần được dưỡng nuôi, nâng đỡ, để có sức đi hết cuộc hành trình về quê thật.  Có thiên thần nào hiện ra đem bánh cho ta không? Có thứ manna nào từ trời rơi xuống không?

Thiên Chúa Cha muốn ban cho ta tấm bánh từ trời, đó là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa (Ga.6:32-33).

ZZĐức Giêsu là Tấm Bánh Cha ban cho nhân loại, và chính Ngài cũng muốn tặng bản thân mình cho ta: “Tôi là Bánh trường sinh” (Ga.6:49). “Tôi là Bánh hằng sống từ trời xuống” (Ga.6:42).

Khi nói đến Bánh hằng sống, Bánh trường sinh, chúng ta thường nghĩ ngay đến bí tích Thánh Thể và ít khi nghĩ đến Tấm Bánh Lời Chúa.

Mỗi thánh lễ là một bữa tiệc. Chúng ta được mời đến dự bàn tiệc Lời Chúa trước khi dự bàn tiệc Thánh Thể. Cả hai đều là lương thực cần thiết cho tín hữu.

Công đồng Vaticanô (PV 7) khẳng định rằng khi chúng ta nghe đọc Lời Chúa trong Phụng Vụ thì Chúa Giêsu “hiện diện trong Lời của Người, vì chính Người nói khi ta đọc Kinh Thánh trong Giáo Hội”.  Như thế Chúa Giêsu vẫn loan báo Tin Mừng trong từng thánh lễ (PV 33). Ngài vẫn trao cho ta Tấm Bánh là Lời của Ngài.

Con người sống đâu chỉ nhờ cơm bánh vật chất, mà còn nhờ mọi Lời do miệng Thiên Chúa phán ra.  Đức Giêsu là “Lời” của Thiên Chúa. “Thầy có những Lời ban sự sống đời đời” (Ga 6,68).

Lời Chúa là thức ăn khó nuốt. Cuốn Tân Ước tôi cầm trên tay là một bản văn cổ, thuộc nền văn hóa xứ Pa-lét-tin cách đây hơn 2000 năm. Phải học hỏi, đào sâu mới hiểu đúng và hiểu đủ.

Lời Chúa mời gọi tôi ra khỏi chính mình, bỏ lại những tính toán khôn ngoan và hợp lý của lẽ thường tình. Tiếng Chúa đụng đến con người tôi, ở đây, bây giờ, và mời tôi dấn thân vào một cuộc mạo hiểm. Nhưng Lời Chúa sẽ là tấm bánh thơm ngon nếu tôi biết lắng nghe và đem ra thực hành.  Càng sống Lời Chúa, tôi càng gặp được ánh sáng và sức mạnh, nhất là được hiệp thông với con người Đức Giêsu.

Hãy hưởng dùng Tấm Bánh Chúa trao cho bạn, và hãy chia sẻ cho nhau kho tàng Lời Chúa.

***

Lạy Chúa là Cha yêu thương!  Xin cảm tạ Cha đã ban cho con chính Con Một yêu quý của Cha làm Bánh Trường Sinh nuôi dưỡng và dẫn đưa con vào sự sống đời đời. Amen

(Trích trong “Manna”)

 

TẠI SAO CHÚNG TA KHÔNG CẦU NGUYỆN?

zzĐặc ân lớn nhất con người được ban là sức mạnh của sự cầu nguyện.

Vậy, tại sao chúng ta không cầu nguyện?

Có quyền được nói với Đấng thống trị hoàn vũ.

Vậy, tại sao chúng ta không cầu nguyện?

Khả năng mạnh mẽ nhất con người có thể sử dụng là lời nguyện cầu.

Vậy, tại sao chúng ta không cầu nguyện?

Niềm khao khát lớn lao nhất trong tim Chúa là nói chuyện với con cái Ngài.

Vậy, tại sao chúng ta không cầu nguyện?

Không có gì là không thể đối với những người cầu nguyện.

Vậy, tại sao chúng ta không cầu nguyện?

Không ai ngần ngại cầu nguyện cho chính mình.

Vậy, tại sao chúng ta không cầu nguyện?

Mọi lỗi đều được tha, mọi tì ố đều được rửa sạch, mọi tội đều giảm nhẹ nếu chúng ta cầu nguyện.

Vậy, tại sao chúng ta không cầu nguyện?

Địa ngục bị đẩy lùi, Satan phải trốn chạy khi con người cầu nguyện.

Vậy, tại sao chúng ta không cầu nguyện?

Đấng Xức Dầu sẽ đến, núi sẽ di chuyển, vực sâu sẽ bằng phẳng, những dòng sông sẽ chảy, những bất dụng sẽ nên hữu dụng, điều không thể sẽ thành có thể, những giấc mơ biến thành hiện thực đối với những ai biết nguyện cầu.

Vậy, tại sao chúng ta không cầu nguyện?

Đức Giêsu dạy chúng ta phải luôn cầu nguyện.

Vậy, tại sao chúng ta không cầu nguyện?

Thánh Phaolô khuyên dạy chúng ta cầu nguyện không ngơi nghỉ.

Vậy, tại sao chúng ta không cầu nguyện?

Sự giàu có của nước Trời sẽ đổ xuống cho những ai cầu khẩn Danh Ngài.

Vậy, tại sao chúng ta không cầu nguyện?

Mọi người đều có thể cầu nguyện, già, trẻ, lớn, bé, giàu, nghèo, mạnh, yếu, tội nhân, tù nhân, bất kỳ quốc gia nào, ngôn ngữ nào, tất cả đều có thể cầu nguyện.

Vậy, tại sao chúng ta không cầu nguyện?

Trần Thị Kim Danh chuyển dịch – Then Why Don’t We Pray

 

THẾ NÀO LÀ CẦU NGUYỆN?

zzCầu nguyện là lắng tai nghe tiếng Chúa nói với ta
Cầu nguyện là tiếp nhận những gì Chúa muốn ban cho
Cầu nguyện là đón nhận ơn tha thứ từ nơi Chúa
Cầu nguyện là quy hướng về Chúa mọi việc ta làm
Cầu nguyện là để Chúa chiếm ngự linh hồn mình

Cầu nguyện là tưởng nghĩ đến Chúa với tâm tình thân mật thiết tha
Cầu nguyện là tìm hiểu rằng ta được Chúa thương yêu giữ gìn coi sóc
Cầu nguyện là liên lạc với Chúa như với người thân mến yêu thương
Cầu nguyện là để mình chìm đắm trong Chúa; là biển cả yêu thương

Cầu nguyện là đi vào cảnh thinh lặng
Cầu nguyện là mến thương trò chuyện với Chúa
Cầu nguyện chỉ là việc hiệp nhất với Thiên Chúa
Cầu nguyện là tin rằng Thiên Chúa luôn luôn có lý
Cầu nguyện là gỡ tấm màn để nhìn thấy dung nhan Thiên Chúa

Cầu nguyện là sẵn sàng để Chúa có thể nói với ta những gì Người muốn nói
Cầu nguyện là phó thác để Chúa có thể làm ở trong ta những gì Người muốn làm
Cầu nguyện là tiến lại gần Chúa, để thấy rằng Chúa tuy xa song lại rất gần gũi
Cầu nguyện là đi sâu vào tâm hồn Đấng mình gọi là Cha, mặc dù mình tội lỗi bất xứng
Cầu nguyện là hướng mình về Chúa như hướng về mặt trời để được Người sưởi ấm tâm hồn

Cầu nguyện là xác tín rằng Thiên Chúa biết rõ hơn chúng ta những gì ta cần
Cầu nguyện là tìm cách hòa đồng ước muốn của mình với Thánh ý Chúa
Cầu nguyện là tin rằng Chúa không ngừng chăm nom săn sóc và phù trợ ta
Cầu nguyện là tin rằng có Chúa Quan Phòng, đếm từng sợi tóc trên đầu ta
Cầu nguyện là ngừng bước, là suy tư, là sắp xếp giờ giấc và việc làm theo ý Chúa

Cầu nguyện là mở rộng tâm hồn đón nhận Chúa, để Người thông truyền cho ta Tình yêu bao la của Người
Cầu nguyện là để Thánh Thần Chúa đưa mình vươn lên tới Đức Chúa Cha trong Đức Chúa Con
Cầu nguyện là yên lặng nhìn ngắm Chúa, không cầu nói năng, là nói với Chúa bằng ánh mắt và bằng suy tư
Cầu nguyện là tiếng rên xiết lo âu, là lời khẩn cầu ơn cứu trợ, là việc chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chúa
Cầu nguyện là chấp nhận quyền ưu tiên của Thiên Chúa, là nhận Người làm chủ tế đời sống mình
Cầu nguyện là giữ thái độ phó thác của trẻ thơ, biết tin cậy vào sự chăm sóc của Thiên Chúa, là người Cha nhân hậu
Cầu nguyện là thay đổi ý định của mình và tôn trọng ý định của Thiên Chúa
Cầu nguyện là chấp nhận để một “người khác” (và đây là Thiên Chúa) “quấy rầy” mình.

Cầu nguyện là một cử chỉ xác tín rằng:
Thiên Chúa hiện hữu
Thiên Chúa đang nhìn xem ta
Thiên Chúa lắng tai nghe ta
Thiên Chúa trả lời và cứu trợ ta
Thiên Chúa thương ta như Cha thương con

Cầu nguyện là tất cả:
là nghe tiếng Chúa nói
là sẵn sàng làm theo lệnh Người truyền
là ngợi khen, chúc tụng, cầu khẩn
Cầu nguyện là để Chúa cải hóa bản thân ta
Cầu nguyện là nhận thức rằng mình yếu đuối
Cầu nguyện là hành động của trẻ thơ,
biết mình vụng dại
biết mình hèn mọn
biết mình mỏng dòn
nhưng cũng biết rằng Chúa là “Mẹ hiền”
là “Người Cha vô cùng nhân hậu”

Cầu nguyện là thú nhận với Chúa:
tuy con yếu đuối
tuy con tội lỗi
tuy con đầy khuyết điểm,
nhưng vẫn được Chúa thương yêu.

Cầu nguyện đôi khi cũng là lời thú nhận với Chúa:
Con không hiểu việc Chúa làm
Không hiểu tại sao con phải đau khổ
Nhưng con vẫn tin rằng Chúa làm thế, để xảy ra như thế là vì yêu thương con

Cầu nguyện là xin Chúa hãy đến trong ta để hướng dẫn việc ta phấn đấu với ba thù
Cầu nguyện là vặn nút đài cho tâm hồn mình trùng với tần-số của Thiên Chúa
Cầu nguyện là gửi đi một lá thư, một bức điện tín và tin rằng Chúa sẽ nhận được
Cầu nguyện là chăm chú tiếp nhận thư từ điện tín từ trời cao Chúa gửi riêng cho ta
Cầu nguyện là dùng ngôn ngữ của Thiên Chúa, chứ không phải ngôn ngữ của trần gian

Cầu nguyện là chìa khóa mở cửa ban mai, là then cửa cài khi đêm tối đến
Cầu nguyện là thứ võ khí vô song có sức mở rộng Trái Tim Thiên Chúa
Cầu nguyện là mến Chúa khi ăn, khi ngủ, khi sống giữa trần gian
Cầu nguyện là để Thánh Thần Chúa hành động trong ta, để Người uốn nắn tư tưởng và hành động của ta, hầu trở thành “đất sét trong tay người thợ gốm”

Cầu nguyện là để cho “nhựa sống thần linh” lưu chuyển trong ta và làm cho ta được sống.
Cầu nguyện là dành cho Chúa chút thì giờ để Người thực hiện trong ta không ưa nhưng Người lại muốn
Cầu nguyện là bắt nhịp cầu liên lạc với Đấng Vô-hình, mắt ta không nhìn thấy song tâm hồn ta lại cảm thấy đang hiện diện trong mình
Cầu nguyện là một giòng sông tự vẽ cho mình hướng chảy, tự tạo cho mình bề rộng mênh mông và chảy ra biển cả là Thiên Chúa

CẦU NGUYỆN LÀ NHƯ VẬY ĐÓ!

Michel Germain Guillot – NVH chuyển dịch

BÁNH ĐÍCH THỰC

Dân chúng vẫn còn sôi nổi sau phép lạ bánh hoá ra nhiều.

Hôm sau, họ lên thuyền qua bờ bên kia để tìm Đức Giêsu.  Đức Giêsu thấy nỗ lực tìm kiếm của họ.  Ngài biết họ tìm Ngài chỉ vì đã được ăn bánh no nê.  Có lẽ họ hy vọng sẽ được những bữa ăn tương tự… Miếng ăn là nỗi lo của người nghèo vùng Galilê.  Đó cũng là nỗi lo của hàng tỉ người trên thế giới.  Đức Giêsu không trách họ về chuyện này.  Ngài chỉ muốn nâng họ lên cao hơn, bởi lẽ con người không chỉ là thân xác.

ZZDân chúng vất vả tìm chút lương thực mau qua.  Đức Giêsu muốn họ đừng quên thứ lương thực trường tồn nhằm nuôi dưỡng tinh thần và đem lại sự sống vĩnh cửu.

Người dân Galilê chỉ nhớ đến chiếc bánh hôm qua.  Họ bị sa lầy và ngừng lại trong phép lạ.  Họ không thể đi xa hơn, và cũng không mơ ước gì hơn.

Con người hôm nay có nét giống đám đông ngày xưa.  Người nghèo thì bị hút vào công việc lam lũ nhọc nhằn, để thỏa mãn cái đói cấp bách của thân xác.  Người giàu thì mê mải với bao tiện nghi đang mời gọi.  Họ bị ám ảnh và chạy đua với những mặt hàng mới.  Rốt cuộc, kẻ nghèo người giàu đều có nguy cơ như nhau, đó là đánh mất đi cái đói khát tinh thần, mãn nguyện với cái bụng no, hay với thứ nữ trang đắt giá.

Thật ra, cũng khó dập tắt nỗi khát khao về “Tuyệt Đối” mà Thiên Chúa đã đặt rất sâu trong lòng mỗi người.

Mọi thứ thức ăn trần gian, con người không lấy làm no đủ. Người nghèo không chỉ cần cơm bánh, mà còn cần tình thương.  Người giàu dư cơm bánh, nhưng lại cần lẽ sống.  Không thiếu những bạn trẻ nhà giàu, có học, có tương lai, nhưng lại thất vọng chán chường, thậm chí rơi vào trụy lạc.  Họ có tất cả, nhưng vẫn thấy thiếu cái gì đó… Thiếu cái này thì mọi thứ khác trở thành thừa. Có khi sống sa đọa lại là cách họ biểu lộ cơn đói khát về những điều cao cả.

Đức Giêsu khơi dậy những khát khao tốt đẹp đang ngủ quên.  Ngài không cho dân chúng thứ manna từ trời rơi xuống, để mỗi ngày họ phải lượm mà ăn.

Ngài cho họ thứ bánh bởi trời đích thực, bánh ban sự sống đời đời cho toàn thế giới.

Xin cho chúng tôi thứ bánh đó luôn luôn” (Ga.6:34).

Xin ông cho tôi thứ nước ấy” (Ga.4:15).

Con người vẫn đói khát thức ăn tinh thần.  Cơn đói này còn kinh khủng hơn cả cơn đói thân xác.

Hãy đến với Giêsu!  Hãy tin vào Giêsu!  Nếu bạn khao khát Tuyệt Đối thì chỉ Tuyệt Đối mới làm bạn no thỏa. Tuyệt Đối đã hiện diện nơi Đức Giêsu.

Ước chi bạn để cho Ngài nuôi bằng lời giáo huấn, và tin tưởng dấn thân theo Ngài bằng cả cuộc đời.

***

Lạy Chúa,

Những lúc con cảm thấy đói, xin ban cho con một ai đó đang cần của ăn.

Khi con khát, xin gởi đến cho con một ai đó đang cần nước uống.

Khi con lạnh lẽo, xin gởi đến cho con một ai đó đang cần được sưởi ấm.

Khi con bị xúc phạm, xin ban cho con một ai đó đang cần ủi an.

Khi con túng nghèo, xin dẫn đến cho con một người thiếu thốn.

Khi con không có thời giờ, xin ban cho con ai đó để con giúp họ giây lát.

Khi con nản chí, xin gởi đến cho con một người cần khích lệ.

Khi con chỉ biết nghĩ đến mình, xin xoay chuyển tư tưởng con hướng đến tha nhân. Amen

(Trích trong “Manna”)

 

XIN THÊM NIỀM TIN CHO CHÚNG CON

“Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con.”  Đây là lần duy nhất, các tông đồ xin Đức Giêsu một điều như thế.  Tại sao các Tông đồ không xin quyền cao chức trọng, giàu có mà lại xin đức tin?  Đối với các Tông đồ, đức tin là điều quan trọng nhất, không có đức tin, các ông không thể là tông đồ, không hoàn thành sứ mạng.  Bởi lẽ, sứ mạng của các tông đồ là rao truyền cho mọi người biết: Giêsu Nagiaret bị đóng đinh, chết, đã sống lại vì Người là Thiên Chúa.  Điều đó ngược với trí khôn của con người không bao giờ xảy ra trong lịch sử, muốn chấp nhận thì phải có Đức tin.  Đức tin là ân ban của Thiên Chúa.  Dĩ nhiên cũng cần có sự cộng tác của con người.  Tựa như muốn có ánh sáng vào nhà, bạn phải mở cửa, muốn có Đức tin, bạn phải mở cửa lòng mình.  Ơn Chúa được ban nhưng không, nhưng phải cầu xin.  Lời cầu nguyện là cánh cửa của đức tin, phải được mở ra để đón nhận ơn Thiên Chúa.

zzĐể nói về đức tin, Đức Giêsu dùng một kiểu nói của người Palestin, kiểu nói nghịch lý.  Hạt cải là loại nhỏ nhất trong các loại hạt, nó chỉ bằng mũi đinh ghim.  Cây dâu là cây đại cổ thụ sống tới 600 năm, rất khó bật rễ.  Thế mà, Đức Giêsu bảo: “Chỉ cần có đức tin bằng hạt cải, có thể bảo cây dâu bật rễ mọc dưới biển.”

Dĩ nhiên, Đức Giêsu không khuyên ta cầu xin những phép lạ lẫy lừng.  Người không bao giờ dời cây dâu xuống biển.  Nhiều lần Người đã từ chối các dấu chỉ kỳ diệu người Do Thái yêu cầu.  Nhưng bằng hình ảnh hạt cải và cây dâu, cũng như hình ảnh con lạc đà chui qua lỗ kim, Đức Giêsu mạnh mẽ nói với ta, điều con người không thể, đức tin mở cho ta thấy lại dễ dàng với Thiên Chúa.

Chỉ cần một đức tin nhỏ xíu, ta có thể làm được những việc lớn lao cả thể, con người không làm được, bởi ta được tham dự vào sức mạnh của Thiên Chúa.  Thật vậy, ta hãy nhìn xem, chỉ một chút đức tin, bà Sara già nua 90 tuổi, bỗng sinh con hồng hào khỏe mạnh.  Chỉ một chút đức tin, Đavít thắng Gôliát. Chỉ một chút đức tin, Maria một trinh nữ, sinh con.

B. Bessière kể: Tôi biết một người nhờ ngọn cỏ mà sống. Một cô gái đã bị tai ương hoạn nạn đè bẹp cô. Trước mặt cô chỉ là một tương lai xám xịt, dễ chịu nhất đối với cô là được ra đi cho rảnh nợ đời.  Những bước chân vô hồn vô định trên hè phố, đã tình cờ dẫn cô đến một cọng cỏ.  Cọng cỏ xanh non đang cố trổi lên khỏi kẽ nứt bê tông để vươn lên ánh sáng.  Sự sống nhỏ nhoi yếu ớt nhưng xanh tươi có vẻ mạnh hơn cả tấm xi măng nặng nề, đã cho cô một dấu chỉ.  Cô lấy lại can đảm, để đương đầu với những năm tháng lê thê đầy khó khăn.  Hỏi rằng trong số nhan nhản những người qua đường, có bao nhiêu người đã trông thấy cọng cỏ ấy.  Chắc hẳn chỉ có cô là người duy nhất nhận ra từ cọng cỏ ấy một sứ điệp.  Cọng cỏ đã cứu sống cô.

Trong các nhân đức đối thần: Đức tin, đức cậy, đức mến, Thánh Phaolô dậy: đức mến là cao trọng hơn cả, bởi lẽ về thiên đàng, không có đức tin và đức cậy chỉ còn đức mến.  Nhưng trong cuộc sống trần thế, đức tin lại cần thiết, bởi không có đức tin thì không có đức cậy và đức mến.  Đức tin khai mở cho người ta được lãnh các bí tích, là căn cước để vào được Thiên đàng.  Bởi thế, khi ban bí tích rửa tội, linh mục chủ sự hỏi người dự tòng: “Con xin sự gì cùng Hội thánh?”  Người dự tòng thưa: “Con xin đức tin.”  Linh mục hỏi tiếp: “Đức tin sinh ơn ích gì cho con?”  Người dự tòng đáp: “Thưa đức tin đem lại cho con sự sống đời đời.”

Thật may mắn cho ta, được sinh ra trong đức tin từ nhỏ.  Đức tin không phải là tĩnh tại, đức tin cần phát triển.  Để lớn mạnh trong đức tin, người tín hữu cần phải nuôi dưỡng, bằng việc làm, cầu nguyện, học hỏi lời Chúa, đặc biệt với người trí thức trình độ văn hóa và giáo lý phải cân xứng.  Họ phải có khả năng biện bạch đức tin của mình cho người khác, cũng như cho chính mình.  Họ cũng cần có khả năng đó khi mỗi ngày phải chạm trán nhiều hơn với thuyết vô thần và thái độ dửng dưng đối với tôn giáo. Họ buộc lòng phải lý giải niềm tin đối với Thiên Chúa của mình.

Bởi thế, đức tin không chỉ được khẳng định suông, nó đòi lý lẽ.  Đức tin có lý lẽ là một đức tin vững mạnh.  Đức tin đó giúp ta giải đáp những vấn nạn sâu xa nhất của cuộc sống, nó cho ta thấy mọi sự trở thành có ý nghĩa, kể cả đau khổ và cái chết, nó cũng đem lại niềm mơ ước.  Cuộc sống không có mơ ước, khác nào đêm tối không có trăng sao.  Cuộc sống cần hy vọng, ta cần có hy vọng, như cần thức ăn.  Nhưng không thể có hy vọng nếu ta không có niềm tin.  Niềm tin dẫn đến niềm vui.  Phúc cho những ai khám phá ra niềm vui trong niềm tin.  Niềm vui sướng mê li của lòng tin vào Thiên Chúa, sự ngất ngây hướng theo lời mời gọi và nắm chặt bàn tay của Chúa chìa ra khi nhắm mắt lìa đời.

Tuy nhiên, ta đừng mong rằng, đức tin làm sáng tỏ mọi điều.  Ta sống trong một thế giới có biết bao cuộc tìm kiếm hão huyền, nhằm tìm ra mọi lời giải đáp.  Ta có đức tin, không có nghĩa ta hiểu biết mọi điều.  Mà ta cũng không cần biết mọi lời giải đáp.  Một điều cần, ta phải vững niềm tin.  Và như các Tông đồ đã xin: “Lạy Chúa, xin thêm lòng tin cho chúng con!”

Lm. Giuse Nguyễn An Khang

THÁNH INHAXIÔ LOYOLA

zzBị bệnh gan nặng nhưng tâm hồn đầy thanh thản, bình yên, cha thánh I Nhã lìa đời ngày 31 tháng 7 năm 1556 trong căn phòng tĩnh lặng chỉ có chính cha với Thiên Chúa.

Lúc sinh thời, cha I Nhã Loyola tha thiết ước mong đem đến cho mọi người tin mừng về Thiên Chúa và để mọi người nhận biết rằng Thiên Chúa thương con người, đã sai Con Một yêu dấu của Ngài làm người.  Tin Mừng về Chúa Kitô bị đóng đinh chết và sống lại để giải thoát, kêu gọi loài người trở về sự thánh thiện nguyên thủy và mời gọi con người sống mãi với Thiên Chúa.  Giáo Hội cũng chỉ loan báo tin mừng này, nhưng cha I Nhã, dựa vào kinh nghiệm bản thân, có một phương thế đặc biệt để giúp nhiều người nhận thấy Tin Mừng như một kinh nghiệm bản thân.

Chính cha I Nhã có kinh nghiệm nhận thấy Thiên Chúa một cách sống động, thân tình, không thể nghi ngờ được.  Kinh nghiệm của cha I Nhã không phải là hình ảnh Chúa hiện ra, hoặc nước mắt sốt sắng hay là một cảm giác lạ lùng khác mà là kinh nghiệm nhận thấy Thiên Chúa hiện diện một cách yên lặng và thật gần gũi.  Một kinh nghiệm khác hẳn với lối suy tư và lý thuyết sâu xa về Thiên Chúa.  Cũng khác với lòng hăng hái dấn thân làm việc tông đồ, kinh nghiệm của cha là một sự gặp gỡ giữa chính mình và Thiên Chúa, trong sâu xa thanh tịnh của cõi lòng, nơi chúng ta cảm thấy bình an, vui sướng, tràn đầy sức sống và tình yêu, là kinh nghiệm gặp Thiên Chúa và bắt đầu từ bỏ chính mình để nhường chỗ cho Thánh Ý và Tình Yêu của Ngài.

Kinh nghiệm này của thánh I Nhã bắt nguồn từ một vết thương ngài bị nơi đầu gối trong một cuộc chiến xảy ra ở thành Pamplona vào năm 1521 giữa quân Pháp và quân Tây Ban Nha.  Lúc ấy, I Nhã là một sĩ quan rất trẻ và anh dũng của hoàng đế Tây Ban Nha.  I Nhã đã đôn đốc, nâng đỡ tích cực tinh thần binh sĩ của mình, một lực lượng bé nhỏ, để kháng cự và đương đầu với quân Pháp đang bủa kín, bao vây thành.  Bị thương nặng, I Nhã trở về Loyola, nơi mà 30 năm trước, I Nhã, con út của một đại chủ vùng Loyola (miền bắc Tây Ban Nha) chào đời.  Trong suốt 6 tháng trời dưỡng thương, I Nhã rất yếu, thập tử nhất sinh nhiều lần.  Trôi theo tháng ngày dưỡng bệnh, các kế hoạch cũ của I Nhã bắt đầu lung lay.  I Nhã là một chàng thanh niên hào hoa, khoáng đạt, tràn tinh thần hiệp sĩ, đầy tham vọng.  Mặc dù song thân muốn I Nhã trở thành linh mục nhưng I Nhã lại có kế hoạch khác: tham vọng của I Nhã lớn lắm: I Nhã thích ăn chơi hơn là đọc kinh, lãnh nhận các bí tích hoặc tuân giữ các giới răn của Chúa.

Ở Loyola và Manresa, năm 1521 và 1522, I Nhã bắt đầu kết thân với Thiên Chúa.  Tình thân mới đã mở mắt I Nhã và, nhờ kinh nghiệm nội tâm, I Nhã bắt đầu hiểu giá trị của các bí tích, lòng sùng kính Ðức Mẹ, mục đích các diều răn Thiên Chúa.  Ngay từ bước đầu trên đường về nhà CHA, Chúa Giêsu là hình ảnh vẹn toàn của Chúa CHA đã giúp I Nhã hiểu tình yêu Thiên Chúa dành cho thế gian và chính mình.  Suốt cuộc sống, cha I Nhã luôn luôn biết tìm hiểu và cảm mến Thiên Chúa mênh mông, bao la qua cử chỉ nho nhỏ, đơn sơ trong cuộc sống Chúa Giêsu.  I Nhã tìm thấy Thiên Chúa bằng cách tìm hiểu và thương mến bước theo chân Chúa Giêsu Nazareth, con của Mẹ Maria.  Ðức Mẹ dẫn I Nhã đến với Chúa Giêsu.  Ðể kết thân với Chúa Giêsu cũng như mỗi lần muốn đạt tới một ơn tối quan trọng (ba lời tâm sự trong Tuần 1, lời tâm sự Hai Cờ Hiệu…) cha I Nhã đã khẩn cầu với Ðức Mẹ trước.

Năm 1524, I Nhã ngồi chung lớp với các trẻ em để học La ngữ và can đảm bắt đầu bước trên đường trở thành linh mục.  Muốn có một căn bản vững chắc về thần học, I Nhã sang Ba-Lê là trung tâm văn hoá nổi danh nhất Âu Châu thời ấy và học đến năm 1535, I Nhã tốt nghiệp hai cấp bằng cử nhân triết học và cao học thần học.  Sau một năm chuẩn bị sốt sắng, ngài thụ phong linh mục và làm lễ mở tay năm 1536.  Cha I Nhã xác tín rằng mọi người đều có thể gặp Thiên Chúa một cách thân tình.  Cha dùng các khoá cấm phòng theo phương pháp Linh Thao để hướng dẫn các vị giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân nam nữ.  Trong các khoá Linh Thao, cha giúp họ mở lòng lắng nghe tiếng nói của Thiên Chúa.  Trong Linh Thao, họ trở về với Thiên Chúa và bắt đầu bước theo Chúa Giêsu như người bạn đường chí ái.

Trong số các thầy cùng học tại đại học Ba-Lê, có một nhóm nhỏ dấn thân theo cha I Nhã.  Năm năm sau, nhóm này thành lập dòng Tên (dòng Chúa Giêsu).  Người thanh niên hiệp sĩ, tự ái cao ngạo I Nhã xưa, nay bắt đầu theo chân Thầy, nghèo và khiêm nhường.  Dòng của cha I Nhã cũng theo nếp sống nghèo, khiêm nhường, xa quyền thế ngoài đời và quyền thế trong Giáo Hội.  Sinh ra trong một gia đình giàu có, quý phái, quen biết với nhiều người có địa vị cao sang, cha I Nhã có thể được phong chức cao trong Giáo Hội, nhưng ngài không bị ảnh hưởng của quyền thế cao trọng, chức bậc giàu sang lôi cuốn. Cha luôn luôn theo Chúa Giêsu: nghèo và khiêm nhường.  Ðây là một nét của dòng Tên, hiện tại xem ra hơi thiếu.  Có rất nhiều hình thức quyền thế: tiền bạc, bằng cấp cao, thế lực chính trị, ảnh hưởng. .. Chúng ta dễ bị tham quyền và lấy cớ cần một chút phương tiện và quyền thế mới để có thể rao giảng Tin Mừng.  Trong khi Chúa Giêsu chỉ xử dụng quyền của sự thật và tình thương, và đã cứu chuộc chúng ta nhờ sự yếu đuối của thập giá.

Cha I Nhã kính nể và thương mến Hội Thánh.  Ngài luôn luôn phục vụ và bênh vực Hội Thánh, nhất là trong thời các giáo phái Tin Lành cảm thấy bất mãn và tách khỏi Giáo Hội Công Giáo.  Năm 1540, Ðức Giáo Hoàng Phaolô III chuẩn nhận dòng Tên để phục vụ Giáo Hội dưới quyền chỉ huy của Ðức Thánh Cha.  Cha I Nhã luôn luôn muốn phục vụ và sống trong lòng Giáo Hội (xem các nguyên tắc sống trong lòng Giáo Hội) nhưng cha không chịu nịnh bợ những người cầm quyền trong Giáo Hội.  Cha phục vụ và thương mến Giáo Hội được Chúa Giêsu lựa chọn và sai đi để mang Tin Mừng cứu rỗi đến mọi người.  Ðối với cha I Nhã, các giáo dân, cũng như chủ chiên là nhiệm thể của Chúa Giêsu và Chúa Giêsu là đầu.  Như thánh Phaolô, cha I Nhã tin rằng Giáo Hội, nhờ Chúa Thánh Thần, là cô dâu duyên dáng, tinh tuyền, chung thủy của Chúa Giêsu.

Vì mến Giáo Hội và mong Giáo Hội chu toàn sứ mệnh đem Tin Mừng đến với nhân loại, cha I Nhã luôn luôn mang tinh thần canh tân đến các cộng đoàn.  Cha bị nhiều linh mục và giáo sĩ nhìn với cặp mắt nghi ngờ, ghen ghét.  Cha bị đại diện của Giáo Hội bắt giam tù ở Alcala và Salamanca.  Tại La Mã cha cũng bị vài giáo phẩm cao cấp ghét thậm tệ.  Trong tinh thần canh tân, cha I Nhã có nhiều sáng kiến mới.  Cha luôn luôn muốn đáp ứng những nhu cầu cấp bách của đồng loại: năm 1538 cha mở phòng ăn tại La Mã cho hàng trăm người nghèo ăn mỗi ngày để thoát nạn đói.  Mở một cư xá đặc biệt để đón nhận các cô gái hoang đàng, muốn trở về xây dựng lại cuộc sống.  Cha mở lớp huấn nghệ ngay trong thành phố và giúp họ chuẩn bị trở về với đời để trở nên người đàng hoàng hữu ích.  Cha mở cư xá cho người Do Thái và Hồi Giáo muốn học đạo Công Giáo.

Cha I Nhã có tinh thần uyển chuyển, đầy óc sáng tạo để đáp ứng với nhu cầu mới, đồng thời ngài có một tinh thần sâu xa, vững chắc: nuôi dưỡng phát triển đời sống nội tâm; xét mình, nguyện ngắm Kinh Thánh, sùng kính Ðức Mẹ, vâng phục Ðức Giáo Hoàng, có tinh thần khó nghèo, lòng khiêm nhường. Trên hết, ngài muốn là bạn đồng hành của Chúa Giêsu, phục vụ Chúa và đáp lại các nhu cầu tinh thần của tha nhân. (Trích ĐH 7-8/ 1984)

LM Julian Élizaldé Thành, SJ

NƯƠNG TỰA

Một buổi chiều vàng trong khu vườn sau nhà, chuyện xảy ra là: Gió hôn hoa, hoa hôn gió, cùng vui đùa múa hát, rồi chúng cảm ơn nhau thắm thiết.  Cô bướm vàng nghe thấy dịu dàng hỏi:

–  Giữa hai bạn, ai chịu ơn ai?

Hoa cười thật tươi, chỉ tay vào gió và nói:

–  Nhờ gió mà hương thơm của tôi đến được với mọi người.

Gió cũng lên tiếng:

–  Còn tôi, nhờ có hoa nên đã thành ngọn gió thơm.

(Sưu tầm)

***

zzChúa ơi! Như hoa nhờ gió và như gió nhờ hoa… Con cũng phải trông nhờ cậy dựa vào những người xung quanh.  Con không thể sống lẻ loi một mình trong cuộc đời này, và con càng không thể trở nên “thánh” một mình.

Cám ơn Chúa vì biết bao người, biết bao việc tốt lành Chúa đã gởi đến cho con trong cuộc sống:

…cho con sự sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, cho con tình yêu thương bao bọc của anh chị em trong gia đình.

…cho con “hơi ấm” của người bạn đời, cho con “vòng tay ôm” của những đứa con trong gia đình. Nhờ đó con có những chuỗi ngày hạnh phúc, êm ấm và bình an.

…cho con sự hướng dẫn từ  thầy cô, cho con sự khuyến khích nâng đỡ của bạn bè, cho con những vị linh mục; nữ tu để giúp con trong đời sống thiêng liêng.

Và quan trọng hơn cả…Chúa đã cho con chính Chúa, để con có nơi chốn nương tựa trong cuộc sống này…để con có đích điểm trở về trong cuộc sống mai sau.

Chúa ơi! Xin tạ ơn Chúa đến muôn muôn đời, Amen.

Linh Xuân Thôn