MẸ MÂN CÔI – MẸ CHIẾN THẮNG

zzLễ Đức Mẹ Mân Côi gợi nhớ về một trận chiến.  Năm 1571, trước sức mạnh đe dọa của Hồi Giáo trên phần đất nước Ý, Đức Giáo Hoàng Piô V đã kêu gọi con cái mình chung sức bảo vệ.  Các vua chúa Công Giáo Châu Âu đáp lời.  Đạo binh Thánh Giá lên đường ra tiền tuyến.  Hậu phương yểm trợ bằng Kinh Mân Côi.  Ngày 7 tháng 10, kết thúc binh lửa ở vịnh Lépante, với phần thắng nghiêng về phía Công Giáo.  Người ta mở lễ ăn mừng.  Mẹ Mân Côi từ đó có thêm danh hiệu là Mẹ Chiến Thắng.

Ngày nay, cuộc chiến mang màu tôn giáo ấy đã lùi xa vào dĩ vãng.  Đạo binh Thánh Giá cũng chẳng còn.  Nhưng vẫn còn đó danh hiệu Mẹ Chiến Thắng.  Vì thế, vấn đề không phải là mặc cảm để mà nhức nhối, hoặc háo thắng với nhiều hời hợt, mà chính là bình tĩnh chiêm ngắm chân dung Đức Maria Chiến Thắng đã được ghi dấu hiền hòa qua Kinh Mân Côi.

1) Mẹ chiến thắng trên chính phận mình.

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”.  Lời thiên sứ truyền tin ngày nào được đưa vào phần đầu của Kinh Kính Mừng như muốn làm nổi bật lên sáng kiến của Thiên Chúa đã thương chuẩn bị Mẹ từ thuở ban sơ cho mầu nhiệm Con Chúa làm người.  Điều này thật quan trọng và chính yếu.  Nhưng ở phần chìm của Kinh Kính Mừng, như bài Phúc Âm ghi lại, là một thái độ đáp ứng không kém quan trọng của Đức Maria đối với thánh ý Chúa.  Phần chìm ấy là tiếng “Xin Vâng”.

“Xin Vâng” là tiếng nói của một tâm hồn rộng mở vốn đã quen tìm trong suy niệm tiếng nói muôn thuở của Thiên Chúa.  “Xin Vâng” là tiếng vắn gọn như phản ứng xuất thần, mà thực ra là cả một tiến trình đòi hỏi hy sinh chính bản thân mình để đánh đổi.  “Xin Vâng” là tiếng một lần dâng lên sẽ không bao giờ rút lại, một lần đoan hứa sẽ có giá trị suốt đời, một lần cúi đầu đáp tiếng là sẽ cúi đầu chấp nhận tất cả, cho dẫu đó là bất trắc của dịp Giáng Sinh, hay là lưỡi gươm của ngày Dâng Con, hoặc là đắng cay nghiệt ngã nhất của chiều Tử Nạn.  “Xin Vâng” là tiếng hiền hòa của người khiêm nhường, chỉ dám nhận mình là tôi tớ, nhưng lại là tiếng vinh quang đưa người khiêm nhường ấy bước lên thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa.

Rõ ràng tiếng “Xin Vâng” đã thay đổi phận đời Đức Maria.  Và ở đây, xin được gọi đó là một chiến thắng: Chiến thắng của thánh ý Chúa trên cuộc đời Đức Maria đã trở nên chiến thắng của Đức Maria trên chính số phận đời thường của mình.

Vì thế, hôm nay, nếu đọc lên kinh “Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, thì hãy vui mừng thêm nữa để nhận ra rằng ơn phúc của Thiên Chúa dẫu đã tiềm ẩn nơi Đức Maria, nhưng chỉ thực sự tỏ hiện qua tiếng “Xin Vâng”, để nhớ mãi hình ảnh Đức Mẹ chiến thắng trên chính phận mình.

2) Mẹ chiến thắng trên mỗi phận người.

“Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội”.  Phần sau của Kinh Kính Mừng là lời cầu nguyện xem ra độc lập với phần trước, mà thực ra chỉ là một tâm tình duy nhất.  Nếu phần trước là lời kính mừng Đức Mẹ Chiến Thắng trên chính phận mình để trở nên “Đức Mẹ Chúa Trời”, thì phần sau là lời kính mừng Đức Mẹ Chiến Thắng trên mỗi phận người tín hữu, qua mẫu gương trinh trong thánh đức.  Do đó, danh hiệu “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời” chính là lời kính mừng trang trọng và cao quý Giáo Hội dành cho Đức Maria.  Đó cũng là chiến thắng chung cuộc Đức Maria đã đạt được trong đời mình.

Nhưng chiến thắng vinh quang ấy chẳng những không đẩy Đức Mẹ lên cao để xa cách cuộc đời dương thế, mà ngược lại, còn đem Mẹ đến gần gũi nhân loại hơn cả bao giờ.  Vì thế, không lạ gì khi kính mừng Đức Mẹ trong vinh quang, tín hữu bỗng dưng nghĩ về đời mình, không phải để xót xa phận mình tội lỗi cho bằng cảm nhận mối tương quan “Mẹ Thiên Chúa – Mẹ Giáo Hội” một cách chân tình với lòng trông cậy.

Bên kia lời “cầu cho chúng con là kẻ có tội” là cả một tình mẫu tử thiêng liêng.  Là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ có dư thánh đức để mà chiến thắng tội lỗi, nhưng là Mẹ Giáo Hội, Mẹ vẫn liên hệ với đời tín hữu như là phần đời của Mẹ.  Nếu tín hữu nhận mình là kẻ có tội mà vẫn dám cầu xin “Thánh Maria”, và nếu ngước trông lên Mẹ thánh đức mà vẫn không ngại trình bày cuộc đời tội lụy, thì đó là vì đã tín nhiệm và cậy trông vào tấm lòng người mẹ.

Mẹ đã chiến thắng phận mình, Mẹ cũng sẽ chiến thắng trên mỗi phận người tín hữu bằng cách khơi lên sự thánh thiện cho lui xa dần những phần tội lụy.

3) Mẹ Chiến Thắng – Mẹ Mân Côi

Phác vẽ chân dung Đức Mẹ Chiến Thắng qua Kinh Mân Côi như trên, thiết tưởng cũng một phần nào đó khơi lối đi vào ngày lễ hôm nay, đồng thời muốn xác tín về vị trí Đức Maria trong mầu nhiệm Hội Thánh, và nhắc nhở gián tiếp về vai trò của Kinh Mân Côi trong đời sống mọi kẻ tin.

Mừng lễ Mẹ Mân Côi không còn là mừng về một chiến thắng quân sự nào, mà chính là mừng về một chiến thắng còn lớn lao và cốt thiết hơn ở trong tấm lòng của Đức Maria và ở trong nỗi lòng của mỗi người con của Mẹ.  Đó là chiến thắng của ơn thánh trên tội lỗi, để gợi mở những chiến thắng khác của những điều thiện hảo tốt lành trong đời sống mọi người.  Mừng lễ Mẹ Mân Côi cũng không chỉ mừng cho Mẹ mà thực ra là mừng cho mọi kẻ tin, bởi lẽ Đức Mẹ trong mầu nhiệm Giáo Hội chính là kẻ đi trước bước lên chiến thắng và vì thế, trong Chúa Kitô, Mẹ trở thành Đấng che chở cầu bầu, phù trợ cho mọi tín hữu biết cậy nhờ Mẹ khi khao khát chiến thắng của ơn cứu độ trên chính phận mình.

Và mừng lễ Mẹ Mân Côi hôm nay chính là khẳng định mối liên hệ sâu bền giữa hai danh hiệu “Mẹ Mân Côi – Mẹ Chiến Thắng”, để thấy được rằng muốn có chiến thắng không thể xao lãng lần hạt Mân Côi; và nếu yêu mến lần hạt Mân Côi, sẽ có ngày bước vào chiến thắng.  Kinh Mân Côi là một vũ khí, nhưng là vũ khí hòa bình luôn đem lại hiệu quả tích cực.  Ai yếu đuối, Kinh Mân Côi đem cho sức mạnh; ai tội lỗi, Kinh Mân Côi dắt về ơn thánh; ai bất hạnh, Kinh Mân Côi giúp bình tĩnh tìm ra hướng lối vươn lên; ai khô khan, Kinh Mân Côi giúp khám phá ra những ánh lửa vẫn còn ẩn giấu trong những đám tro tưởng như nguội lạnh.  Chỉ vì một lẽ, trong Kinh Mân Côi là hiện diện của Đức Mẹ Chiến Thắng.

Có một truyện kể lâu lắm rồi: Hai thôn đạo tranh chấp nhau về một mảnh đất giáp ranh mà thôn nào cũng nhận là của mình.  Chiến tranh lạnh, chiến tranh nóng nổ ra.  Khối kẻ u đầu sứt trán.  Cuối cùng cha xứ phải giải hòa và đem miếng đất giáp ranh ấy vào làm của chung gọi là “đất Đức Bà”, đồng thời cho dựng một tượng đài Đức Mẹ ở đấy.  Hết tranh chấp, thôn trên thôn dưới mỗi tối quây quần lần hạt vui vẻ.  Người ta gọi đó là đài Đức Mẹ Hòa Bình, nhưng cha xứ lại rất tâm đắc, đó là đài Đức Mẹ Chiến Thắng, thắng chia rẽ, thắng hận thù, thắng tội lỗi.

Lạy Đức Mẹ Chiến Thắng, xin cầu cho chúng con. Amen.

ĐGM Vũ Duy Thống (trích trong “Với Cả Tâm Tình”)

 

ĐƯỜNG NÊN THÁNH CỦA TÊRÊSA HÀI ĐỒNG GIÊSU

Ngày xưa còn bé, lúc vào Tiểu Chủng Viện, người ta đã trao đến tôi cuốn “Một tâm hồn” của thánh Têrêsa như là cuốn sách phải đọc, để học đời sống thiêng liêng.  Thú thực, trong mắt nhìn của tôi lúc ấy, cuốn “Một tâm hồn” quả là một cuốn truyện vui với những trò chơi truyệt vời.  Từ truyện chui qua bụng ngựa đến truyện ngắm mãi không chán ống kính vạn hoa, từ truyện nhìn trời buổi tối bỗng thấy sao kết tên mình, đến truyện nhìn đất lượm lên một cọng rác cũng vòi Chúa giải thoát cho một linh hồn.  Tất cả đều là truyện vui của một cô bé ưa được nuông chiều.

Nhưng lớn lên, tôi mới ngộ ra rằng: đàng sau những trò tưởng là trẻ con “mít ướt” ấy lại là cả một tâm tình tự nhiên của trực giác tuổi thơ, cộng thêm những thao thức vươn lên của ước mơ xuân trẻ, và đi đi về về trên nẻo đường vừa thơ vừa trẻ ấy là nhấp nhô những cây Thánh giá của hy sinh đong đầy hy vọng.  Đó là đường nên thánh của Têrêsa.

  1. Đường nên thánh của Têrêsa được dệt bằng những tâm tình tự nhiên tuổi thơ.

zzNgười ta vẫn quen gọi đây là “đường thơ ấu thiêng liêng,” nghĩa là đường nên thánh khởi đi từ những tâm tình tuổi nhỏ.  Rất đẹp và rất thơ.  Một phương cách tuy không mới tuyệt đối, vì Chúa Giêsu đã gợi lên từ xưa:“Ai không nên như trẻ nhỏ sẽ chẳng được vào Nước Trời,” nhưng chính Têrêsa đã đem đến cho phương cách này một nét hấp dẫn mới và một độ rộng mới phù hợp trong tầm  với của mọi người, dù là giáo sĩ hay tu sĩ hoặc giáo dân, dù là trí thức bụng đầy chữ nghĩa hay là bình dân ít học.  Hết thảy đều có thể sử dụng phương cách này hoặc đi trên con đường này.  Người Mỹ gọi xa lộ của họ là freeway nghĩa là đường tự do ra vào, không phải thuê bao, không cân mua vé.  Đường thơ ấu thiêng liêng cũng thế, là freeway mở ra cho hết mọi người.

“Nên như trẻ nhỏ” là phương cách của Phúc Âm, nhưng nên như thế nào lại là điều thuộc về phong cách của Têrêsa.  Thật vậy, qua truyện “Một tâm hồn,” thánh nữ đã vận dụng rất tự nhiên mọi biến cố xảy đến trong đời để, phải nói là, nũng nịu và vòi vĩnh Chúa dẫn mình trên đường nên thánh.

Ai trong chúng ta cũng biết tình yêu là điều đáng giá nhất trên đời, và chẳng cần ai bảo ai người ta vẫn cứ thi nhau làm những việc càng lớn càng tốt để diễn tả tình yêu ấy. “Yêu nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua.”  Có biết đâu tình yêu xét cho cùng lại là điều thuộc về trật tự của tấm lòng, thế nên, khi có tấm lòng lớn thì dù việc làm có khiêm tốn đến đâu đi nữa, cũng vẫn là một tình yêu đầy đặn vuông tròn.  Nhất là khi tấm lòng ấy xin dành cho Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót.  Đó là nét đầu tiên của đường thơ ấu Têrêsa.

  1. Đường nên thánh của Têrêsa cũng được ghi dấu bằng những ước mơ tươi trẻ.

Nếu “giống như trẻ thơ,” Têrêsa đã tham lam ôm lấy mọi biến cố trong đời, dù vui hay buồn dù lớn hay bé dù hữu ý hay vô tình dù được người khác biết đến hay không, để làm thành vốn liếng sinh lời trong tình yêu Chúa thì độ bền của nẻo đường thiêng liêng ấy lại ngày từng ngày làm bằng những thao thức rất trẻ trung táo bạo.

Trẻ trung ở chỗ thánh nữ luôn bị thiêu đốt bởi những ước mơ, nói theo kiểu Sea Games, là mơ “cao hơn xa hơn và nhanh hơn” trên đường thánh đức.  Có lần Têrêsa muốn yêu Chúa thật nhiều như chưa bao giờ Chúa được yêu như thế.  Lần khác thánh nữ lại muốn lên đường truyền giáo thật dài như đường đi của loài người mọi thời gom góp lại.

Táo bạo ở chỗ thánh nữ dù sống trong một đan viện kín cổng cao tường, như Đan Viện Cát Minh Sàigòn đây, ngài cũng không chịu dừng lại đôi cánh ước mơ, mà còn vươn lên những đỉnh cao thao thức, như khi một mình dưới ánh sáng Lời Chúa trong thư thứ nhất Côrintô chương 12, Têrêsa đã reo lên vì khám phá ra rằng: từ nay trong Giáo Hội mình sẽ là trái tim, trong trái tim mình sẽ là tình yêu, và trong tình yêu mình được ở trong lòng Thiên Chúa là Cha.

Thế đó, ước mơ trẻ trung và táo bạo, như con ốc nhỏ mơ uống cả đại dương tình thương Thiên Chúa, để dù phận ốc phải chôn vùi ở đáy sâu thầm lặng, cũng vẫn hiên ngang có Chúa gần kề, và dù có phải chết trong kiếp người đi nữa, cũng vẫn tin yêu phó thác, vì như Têrêsa đã quả quyết lúc lâm chung: “Tôi không chết, nhưng tôi đi vào cõi sống”.

  1. Đường nên thánh của Têrêsa còn là đường ngả nghiêng bóng cây Thánh giá.

Đẹp như tuổi thơ, đẹp như ước mơ, nhưng trên nẻo thiêng liêng ấy, Têrêsa đã gặp không ít khó khăn.  Có điều là ngài chủ động tiếp nhận như Thánh giá gieo mầm cứu độ.

Chín tháng đầu tiên trong Nhà kín Lisieux, Têrêsa cảm nghiệm thật nhanh hương vị Thánh giá, tức là cái giá phải trả cho sự thánh đức.  Đó là những muộn phiền về gia cảnh cha già neo đơn (nhớ nhà); đó cũng là những chịu đựng trước ánh nhìn của người khác, và đó còn là những vật lộn với chính bản thân khi phải trút bỏ tất cả để thích ứng được với cuộc sống chung.  Về giai đoạn này, Têrêsa tâm sự là ngài đã gặp nhiều gai nhọn hơn hoa hồng.  Ngài viết: “Đau khổ dang tay đón tôi và tôi đã gieo mình vào khổ đau với lòng yêu mến.”

Nhưng Thánh giá thường xuyên hơn cả trong suốt chín năm tu trì của ngài chính là những nỗi đau âm ỉ trong tâm hồn kìa, như thấy mình bất toàn kiểu Phêrô “Tinh thần thì mau lẹ nhưng xác thịt lại yếu đuối,” như thấy mình bị bỏ rơi không niềm an ủi kiểu “con tim vô tình,” như thấy mình bị mỏi mệt nản lòng kiểu “hai môn đệ trên đường Emmaus.”  Song cũng khởi đi từ những Thánh giá trong lòng vốn nhiều thao thức ấy, thánh nữ khám phá ra tâm tình phó thác làm thành ý tưởng chủ đạo giúp ngài nên thánh, đó là “muốn những gì Chúa muốn”.

Đã đành, ai cũng có thể gặp đau khổ cách này cách khác, nhưng biết đón nhận đau khổ theo phong cách Têrêsa bằng niềm đam mê dâng hiến nguyện cầu truyền giáo, thì quả là đã nhận lấy Thánh giá một cách hiệu quả nhất.  Đó là đường Thánh giá của hy sinh và cũng là đường Thánh giá của hy vọng.

Tóm lại, đường nên thánh của Têrêsa là một tâm tình tuổi thơ, là một ước mơ xuân trẻ, và cũng là chia sẻ tình yêu Thánh giá.  Đó là trực giác một thời, nhưng cũng là bền bỉ một đời, và trên hết là hồng ân Thiên Chúa.  Nẻo đường ấy rất thênh thang hôm nay được đặt vào tầm tay của mọi người.

Sống tâm tình con thảo trước Chúa là Cha yêu thương gần gũi, để reo vui trước thành công, cảm thông khi thất bại và quảng đạo dâng hiến chẳng tiếc với Chúa bất cứ sự gì.  Đó là khởi đầu tập đi trên đường thơ ấu.  Vẫn biết rằng “dòng đời không êm ái như dòng sông,” như dòng tu, nhưng đẩy ước mơ lên những đỉnh cao lành thánh như góp phần hy sinh cầu nguyện cho thế giới hoà bình hơn, cho người người thương yêu hơn, cho thị trường công bình hơn, cho chân lý toả sáng hơn, cho mình cho gia đình cho cộng đoàn được nên thánh hơn.  Đó cũng là những bước chân âm thầm trên đường thơ ấu.  Và với tình yêu phó thác sẵn sàng đón nhận tất cả như hồng ân, cho dẫu là hồng ân vinh quang hay Thánh giá, thể xác hay tâm hồn, cá nhân hay Giáo Hội, đó chính là tuyệt chiêu trẻ trung trên đường thơ ấu Têrêsa.

Đường nên thánh của Têrêsa như chiếc “thang máy tình yêu” rộng mở.  Ai vào, thang sẽ tự động nâng lên.  Vấn đề là ta có thích bước vào hay không?  Câu trả lời xin dành cho riêng từng người hôm nay.  Còn bây giờ là chứng từ của cô Linsay Younce người đóng vai chính trong một cuốn phim mới về thánh Têrêsa thành Lisieux.  Cô đã trở lại đạo sau khi cuốn phim được hoàn thành.  Được hỏi: điều gì hấp dẫn nhất nơi Têrêsa?  Cô trả lời: việc nên thánh ở ngay trong tầm tay của mọi người.  Mong rằng đó cũng là điều hấp dẫn chúng ta.

Vũ Duy Thống, Gm

 

LÀM CỚ SA NGÃ

Chúng ta sống trong một thế giới có nhiều gương xấu. Gương xấu lan nhanh nhờ các phương tiện truyền thông, tạo nên một bầu khí ô nhiễm thấm vào buồng phổi. Ngay trong Hội Thánh cũng có kẻ gây gương xấu, khiến cho đức tin một số người gặp khủng hoảng. Đức Giêsu tỏ thái độ không khoan nhượng đối với kẻ này: “… thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn.”

Có thể chúng ta đã ít nhiều gây gương xấu. Cha mẹ làm ăn bất chính khiến con cái mất niềm tin. Nhà tu hành mê say vật chất khiến tín hữu thất vọng. Những phe phái chia rẽ khiến giới trẻ nghi ngờ tình yêu.

Có biết bao duyên cớ đẩy đưa một người sa ngã. Nhiều khi chúng ta, vì vô tình hay thiếu khôn ngoan, không biết hạn chế tự do của mình, nên đã làm tổn thương lương tâm của những người yếu đuối.

Tôi có thể gây dịp tội khiến anh em tôi sa ngã, nhưng chính thân xác tôi lại có thể là dịp tội cho tôi.

Đức Giêsu đòi ta chặt tay, chặt chân, móc mắt, nếu những bộ phận đó làm ta phạm tội. Hội Thánh không bao giờ hiểu đòi hỏi này theo nghĩa đen (nếu thế thì khó mà có một Kitô hữu lành lặn!). Nhưng chúng ta lại không được coi thường tính chất mạnh mẽ và quyết liệt của đòi buộc này.

Chẳng ai trong chúng ta ngạc nhiên nếu thấy có người dám chịu cắt bỏ một phần thân thể hầu cứu lấy sinh mạng của mình. Người khôn là người dám từ bỏ một điều quý để giữ lại một điều quý hơn.

Chỉ ai coi cuộc sống vĩnh cửu là điều quý nhất, người ấy mới dám hy sinh mắt và tay chân, những gì vốn là tốt, nhưng nay lại thành vật cản trở. Có bao điều thiết thân, gắn liền với đời ta, nhưng nay đã trở thành vật cản trở. Cả những điều ấy, ta cũng phải cắt đứt, đoạn tuyệt.

Chấp nhận đoạn tuyệt là chấp nhận đớn đau. Bỏ một tật xấu, một thói quen, một kế hoạch có khi còn đau hơn móc mắt hay chặt tay. Nếu chúng ta can đảm thắng vượt nỗi đau, chúng ta sẽ được tự do thanh thoát.

Nếu cần một cuộc giải phẫu cho linh hồn. Giải phẫu không phải chỉ là cắt bỏ, mà còn là thay thế: Thay ước muốn nơi trái tim, thay lối nghĩ nơi bộ óc, thay cái nhìn nơi đôi mắt, thay cách hành động nơi tay.

Đức Giêsu đưa ra những đòi hỏi tận căn. Để vươn tới Tuyệt Đối thì cần hy sinh cái tương đối. Ước gì chúng ta ra khỏi thái độ lấp lửng, nửa vời, và dứt khoát chọn Thiên Chúa là Tuyệt Đối.

***

Lạy Chúa Giêsu,

ZZChúa thích lấy đi những gì con cậy dựa để con thực sự tựa nương vào một mình Chúa.

Chúa muốn cắt tỉa con khỏi những cái rườm rà để cây đời con sinh thêm hoa trái.

Chúa cương quyết chinh phục con cho đến khi con thuộc trọn về Chúa.

Xin cho con dám ra khỏi mình, ra khỏi những bận tâm và tính toán khôn ngoan để sống theo những đòi hỏi bất ngờ của Chúa, dù phải chịu mất mát và thua thiệt. Amen.

(Trích trong ‘Manna’)

 

ĐỪNG XÉT ĐOÁN

Vừa nhận được điện thoại, bác sĩ vội vã tới bệnh viện.  Ông khoác vội trang phục phẫu thuật và tiến ngay tới phòng mổ.  Lúc đó, người cha của cậu bé sắp sửa phẫu thuật đang ngồi đợi tại cửa phòng.  Vừa nhìn thấy bóng bác sĩ, người cha nói ngay : “Tại sao giờ này ông mới đến?

Ông không hay biết con trai tôi rất nguy kịch sao?  Thực lòng ông có trách nhiệm nghề nghiệp không vậy?”

Bác sĩ điềm tĩnh trả lời : “Thật xin lỗi, lúc này không phải ca tôi trực nên tôi không có mặt tại bệnh viện.  Thế nhưng vừa nhận được điện báo tôi đến ngay đây… Và lúc này tôi muốn tịnh tâm một chút để chuẩn bị phẫu thuật”.

Người cha giận dữ: “Tịnh tâm à?  Giả như con của ông đang nằm trong phòng cấp cứu thì ông có tịnh tâm được không?  Nếu như con trai ông sắp chết, ông sẽ làm gì?”

Vị bác sĩ lại mỉm cười trả lời: “Tôi sẽ nói điều mà ông Gióp đã nói trong zzKinh Thánh: ‘Thân trần truồng sinh từ bụi đất, tôi sẽ trở về bụi đất thân trần truồng.  Chúa đã sinh ra, Chúa lại lấy đi, xin chúc tụng Chúa”.  Nhưng bác sĩ không có khả năng giữ lại mạng sống.  Ông hãy đi và cầu nguyện cho con trai ông.  Chúng ta sẽ nỗ lực hết mình và cậy trông vào ân sủng Thiên Chúa”.

“Khuyên lơn người khác khi mà bản thân mình chẳng dính dáng gì xem ra quá dễ dàng”.  Người cha phàn nàn.

Cửa phòng phẫu thuật đóng lại.  Vị bác sĩ miệt mài vài giờ liền trong phòng mổ.  Và ông rời khỏi phòng phẫu thuật trong niềm hạnh phúc: “Cảm tạ Chúa.  Con trai ông đã được cứu.  Nếu muốn biết thêm chi tiết, hãy hỏi cô ý tá vừa giúp tôi”.  Không chờ câu trả lời của người cha, vị bác sĩ tiến thẳng và rời khỏi bệnh viện.

Ngay khi nhìn thấy dáng dấp cô y tá xuất hiện, người cha nói ngay :

“Loại người gì mà lại cao ngạo đến như thế kia chứ!  Thậm chí ông ta không thèm dành vài giây trả lời cho tôi biết hiện trạng con trai tôi”.

Cô y tá cúi xuống, tuôn trào nước mắt, trong xúc động, cô chậm rãi trả lời: “Con trai duy nhất của bác ấy mới qua đời hôm qua do một tai nạn.  Hôm nay bác ấy đang lo tang sự cho cậu.  Thế nhưng vừa nhận được điện báo bác ấy tới  ngay để cứu con trai ông.  Bây giờ thì bác ấy trở về tiếp tục lo hậu sự cho đứa con yêu quý của mình”.

Đừng kết án ai.  Vì bạn không biết cuộc sống của họ thế nào cũng như điều gì đang diễn ra trong tâm hồn họ và những gì họ đang phải nỗ lực vượt qua.

Jac. Thế Hanh, OP

VỊ TỔNG THỐNG TRUNG THỰC

Tổng thống Abraham Lincoln đã từng được biết đến như là một “Tổng thống trung thực”, ông cũng được nhìn nhận như là một con người luôn yêu thích sự thật.

Ngày kia, một vị khách đến thăm viếng nhà ông, người này có thói quen xấu là không biết giữ lời hứa.

Ông ta muốn bế một cháu bé là một trong những đứa con của Tổng Thống, nên đã vỗ về cháu bằng cách hứa sẽ cho cháu sợi dây chuyền mà ông đang đeo và chiếc đồng hồ của ông.

Cháu bé vui mừng leo lên lòng ông.  Cuối cùng, khi người khách đó đứng lên ra về, Tổng Thống Lincoln đã nói với ông ta:

–  Ông có định giữ lời hứa của ông đối với con trai tôi không?

Vị khách hỏi:

–  Thưa Tổng Thống, lời hứa gì ạ?

–  Ông nói rằng ông sẽ cho cháu bé sợi dây chuyền này.

–  Nhưng đây không chỉ là một sợi dây chuyền có giá trị, mà còn là một món đồ vật gia bảo của tôi nữa.

Tổng Thống Lincoln nói nghiêm nghị:

–  Ông hãy cứ đưa cho cháu bé đi. Tôi không muốn cho cháu nghĩ rằng tôi đã đón tiếp một người không hề quan tâm gì đến lời nói của mình.

Người khách đó đỏ mặt lên, lặng lẽ cởi sợi dây chuyền ra, đưa cho cháu bé, và ra về với một bài học mà chắc chắn ông ta không thể nào quên được.

(3000 Illutrations)

************************

Một lời nói cũng như một hành động sẽ để lại một dấu ấn, đặc biệt lời nói hành động ấy nói với giới thiếu nhi lại cần sự tế nhị hơn, vì trong bất cứ lời nói cử chỉ nào của người lớn luôn ẩn chứa trong lòng các em sự tin tưởng.  Đừng nghĩ rằng nó là bé, là con nít, người lớn muốn hứa, muốn nói sao cũng được.

Ngay từ khi biết con trẻ biết nhận thức, chúng đã được cha mẹ, thầy cô dạy phải thật thà trung thực.  Em nào cũng ngoan ngoãn vâng lời, và được cha mẹ khen thưởng sau mỗi lần biểu hiện một hành động thật thà.  Cho đến một ngày vì mê chơi, chạy đùa chơi ú tim trong nhà vướng vào dây điện chiếc TV rớt xuống bể tan tành, em sợ lắm nhưng vẫn can đảm thành thật thú lỗi, tưởng là sau khi thú lỗi sẽ được cha mẹ tha thứ, nhưng lại không đúng như em nghĩ, và hậu quả là đón nhận sự nóng giận của ông bố cho một trận đòn chí tử.  Từ ngày đó nét đẹp ngoan ngoãn về sự thành thật không còn mạnh dạn như ngày trước nữa.  Mỗi khi làm lỗi em tìm đủ mọi cách để chống chế, để thoát khỏi sự nóng giận của cha mẹ.  Nhân câu chuyện trên xin được nêu vài cảm nhận giữa sinh hoạt đời thường, để mong sao người lớn chúng ta sẽ mãi là tấm gương sáng cho con cái, cho đàn em.

Người lớn đừng để con trẻ nghĩ nó bị lừa dối khi:

  • Người lớn hứa thưởng cho nó rồi người lớn chẳng bao giờ thưởng.
  • Người lớn dạy nó không bao giờ được chửi thề, nhưng rồi người lớn cứ mở miệng là có câu “đệm mạnh”.
  • Người lớn nhắc nó sáng nào cũng phải dậy đi lễ, nhưng người lớn thì cứ an giấc trong chăn ấm.
  • Người lớn bắt con phải học kinh, học giáo lý cho thuộc, nhưng ôi người lớn chẳng biết, chẳng hiểu.
  • Người lớn dạy con phải ngăn nắp trật tự, nhưng người lớn về đến nhà là bừa bộn trăm thứ.
  • Người lớn dạy con phải hiếu thảo, nhưng người lớn mở miệng nói với ông bà chúng chẳng ra gì.
  • Người lớn dạy con phải ăn nói nhẹ nhàng, nhưng người lớn mở miệng ra là quát tháo.
  • Còn biết bao những cái khác người lớn bắt chúng phải nghe, phải làm, mà chính người lớn chẳng bao giờ giữ. Ôi cứ như những tấm gương ấy thì thử hỏi tương lai của những mầm non mai sau của Giáo Hội cũng như Xã Hội mai này sẽ đi đến đâu?

zzHình ảnh trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đã yêu thương các em nhỏ như thế nào?  Khi những người lớn mang các trẻ em đến với Chúa để Ngài chúc phúc, các tông đồ đã la rầy chúng, nhưng chính Chúa lại ôm chúng vào lòng và nói: “Hãy để chúng đến với Ta, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời thuộc về những ai giống như chúng” (Mt.19. 15).  Chúa yêu thương, trìu mến chúng biết dường nào.  Bởi trẻ em là những tâm hồn đơn sơ, trinh trắng.  Mong rằng người lớn xin đừng vì đôi khi vô tình vô ý, đã để lại những tấm gương mù, qua hành động, lời nói nhuộm vào tâm hồn các em những vết nhơ, như vị khách ở trên đã không giữ được sự trung thực trong lời hứa của ông, hoặc thái độ của ông bố vì sự thành thật của con mà phải lãnh trận đòn chí tử, và đã vô tình làm cho con mất đi sự trung thực trong cuộc sống.

Chúa Giêsu đã nói lên sự trung thực, dạy chúng ta đừng mưu mô gian dối.  Chúa Giêsu đã nói : “Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc nhỏ thì cũng bất lương trong việc lớn”(Lc 16,10).  Chúa Giêsu muốn nhắc nhở chúng ta đừng xem thường những việc nhỏ.  Việc tuy nhỏ nhưng lại ảnh hưởng đến việc lớn, nhiều khi việc nhỏ lại làm nên thành công của việc lớn lao.

Abraham Lincoln đã để lại cho tôi một bài học về sự trung thực.  Ước mong xin Chúa sẽ ban cho con luôn biết trung thực trong cuộc sống, cũng như cho con biết trân trọng những điều trung thực của những người khác.  Vì tôn trọng sự trung thực đó chính là thước đo nhân cách của con người.  Amen!

Pet. PBH

PHỤC VỤ MỌI NGƯỜI

Tin Mừng Chúa nhật hôm nay kể lại chuyện Đức Giêsu và các môn đệ đi về thành Caphanaum, trên đường đi các ông cãi vã tranh giành nhau xem ai là người lớn nhất trong nước Trời.  Khi thấy các môn đệ có dấu hiệu ham hố chức quyền, cạnh tranh ngôi thứ, Đức Giêsu đã chỉ dạy cho các ông biết tinh thần mới mà người môn đệ trong Nước Thiên Chúa phải có. Đó là:“Ai muốn làm đầu, thì phải làm người sau hết, và làm tôi tớ mọi người”.(Mc.9:35)

Đây thật là một cuộc cách mạng.  Vị trí trong xã hội bị đảo lộn. Người đứng
đầu không còn phải để ra lệnh, nhưng để phục vụ.  Người làm lớn không còn ăn trên ngồi trốc, nhưng chọn chỗ hèn mọn nhất.  Người bé nhỏ nhất trở nên người lớn nhất.  Người yếu đuối nhất trở nên người được trọng vọng nhất.

Đây là một cuộc cách mạng không đổ máu. Vì người đứng đầu trở thành người phục vụ không phải vì ép buộc nhưng do tự nguyện. Vì người làm lớn xuống chỗ hèn mọn nhất không buồn sầu nhưng trong niềm vui.  Thế giới biến đổi không do những tranh giành quyền lợi, nhưng do người có quyền tự nguyện từ bỏ đặc quyền đặc lợi.

Với lời dạy dỗ ấy, Đức Giêsu đã mở ra một nền văn minh mới.  Trong nền văn minh mới này, người ta không còn nhìn nhau như những đối thủ phải loại trừ trong cuộc cạnh tranh. Người ta nhìn nhau như những người anh em phải yêu thương nâng đỡ.  Sẽ không còn tranh giành.  Sẽ không còn xâu xé, chà đạp nhau.  Sẽ chỉ có yêu thương.  Sẽ chỉ có quan tâm nâng đỡ.  Người mạnh sẽ quan tâm dắt dìu người yếu.  Người lớn sẽ cúi xuống bồng bế người bé.  Chức quyền là để phục vụ lợi ích của mọi người.  Địa vị chỉ là sự phân công hợp lý.  Mỗi người một việc vì lợi ích của tập thể.

Để làm gương cho ta, chính Đức Giêsu đã tự hạ mình trước.  Không ở đâu chúng ta tìm được gương mẫu phục vụ như Đức Giêsu. Ngài đã khẳng định: “Ta đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt.20:28).

Là Thiên Chúa, nhưng Người đã tự nguyện trở nên người phàm. Là Đấng cầm quyền, nhưng Người đã tự nguyện vâng lời.  Là thầy nhưng Người đã tự nguyện phục vụ môn đệ. Là người lãnh đạo, nhưng Đức Giêsu không đòi hỏi đặc quyền đặc lợi, trái lại Người sẵn sàng hiến mạng sống để cứu chuộc nhân loại.

Người đã hóa thân làm một con người bé nhỏ, nghèo túng, hèn yếu nhất.  Để từ nay, ai đón tiếp một người bé nhỏ nhất là đón tiếp chính Người.  Ai giúp đỡ một người yếu hèn nhất là giúp đỡ chính Người.  Ai yêu mến một người nghèo túng nhất là yêu mến chính Người.

Với sự hạ mình của Người, số phận con người từ nay thay đổi tận gốc rễ. Người bé nhỏ trở thành đối tượng được quan tâm phục vụ.  Người yếu đuối được nâng niu chăm sóc.  Người nghèo hèn được kính trọng yêu thương.

Từ nay, nhân loại đi vào một nền văn minh mới, nền văn minh của tình thương.  Nhân loại không còn tranh chấp nhau, nhưng trở nên anh em đoàn kết thương yêu nhau. Sức khỏe, của cải, chức quyền không phải là những phương tiện để chà đạp, nhưng là những phương tiện phục vụ.  Lãnh đạo không còn là một quyền lợi, nhưng trở thành một nhiệm vụ nặng nề vì phải quan tâm phục vụ mọi người.

Suy gẫm Lời Chúa dạy hôm nay hẳn phải khiến ta giật mình lo lắng. Không những ta không đi vào con đường Chúa đã vạch ra, mà rất nhiều khi còn chống lại Lời Chúa dạy bảo. Ta vẫn nuôi những tham vọng thống trị người khác. Ta vẫn muốn chiếm giữ những địa vị quan trọng.  Ta vẫn coi thường những người bé nhỏ, hèn yếu.

Hôm nay Chúa mời gọi ta hãy trở lại con đường của Chúa.  Hãy tự nguyện zztrở thành người bé nhỏ khiêm nhường.  Hãy biết nâng dậy những số phận hẩm hiu.  Hãy biết kính trọng những mảnh đời nghiệt ngã.  Hãy góp phần xây dựng nền văn minh mới, trong đó những người yếu đuối như phụ nữ và trẻ em phải được quan tâm và kính trọng.

***

Lạy Chúa, ai trong chúng con cũng có một chút ham mê địa vị, chức quyền.  Nếu Chúa xếp đặt cho chúng con một chức vụ nào đó, xin cũng ban cho chúng con một ơn này, là “chức vụ càng cao, chúng con càng biết khiêm tốn phục vụ anh em nhiều hơn”. Amen!

(Trích trong “Manna”)

 

TỪ KHỔ GIÁ ĐẾN ÁNH SÁNG VINH QUANG

Cách đây bảy tháng, tôi nhận được một cuộc điện thoại xin tôi hiến máu cho một em bé sắp mổ tim.  Lưỡng lự vì lúc ấy sắp đến Tết âm lịch, tôi sợ không đủ sức khỏe tận hưởng ngày nghỉ Tết.  Dường như có một sức mạnh vô hình đã giúp tôi sắp xếp một cuộc hẹn để hiến máu.  Tuy nhiên vì sức khỏe em bé không đủ tốt, nên các bác sĩ dời ngày mổ sau Tết.  Nằm trong phòng lấy máu gần hai tiếng đồng hồ, đây là lần đầu tiên trong đời tôi hiến máu và cũng là lần đầu tiên tôi hiến tiểu cầu.  Chính vì hiến tiểu cầu nên thiết bị y khoa cần thời gian để lọc tiểu cầu khỏi máu và trả máu về cơ thể tôi.  Tôi ước mong tiểu cầu của mình sẽ giúp ích cho em bé.  Ngày qua ngày, niềm hy vọng của gia đình em bé ngày một lụi tàn vì trong khoảng bảy tháng vừa qua, em bé ba tuổi phải mổ bốn lần.  Em xanh xao, gầy guộc và hốc hác mỗi ngày một nhiều.  Cuối cùng, Chúa đã xướng danh em và em Sylvester đã đáp lời vào cuối tháng tám năm 2012.  Hôm nay, tôi muốn cùng em Sylvester và quý độc giả tôn vinh Đức Kitô chịu đóng đinh, và cùng Người, chúng ta chiêm ngắm dung nhan phục sinh vinh hiển.

Ấn tượng sâu sắc trong tôi về em là tuổi em quá nhỏ để phải nhịn đói hơn mười bốn tiếng đồng hồ trước lúc lên bàn mổ.  Tôi xót xa.  Em và gia đình hy vọng rằng chịu đựng cái đói, sự đau đớn thể xác một khoảng thời gian vắn vỏi để được sức khỏe dài lâu.  Rõ ràng, đứng trước sự lựa chọn, ai trong chúng ta cũng lưỡng lự và suy nghĩ.  Chọn cái này phải chấp nhận hy sinh cái kia.  Em Sylvester chọn sức khỏe cường tráng phải vật lộn với ca mổ tim.  Trong đời, hơn một lần, tôi và mọi người phải đưa ra một quyết định dứt khoát, có thể khi chọn ngành nghề để học, lựa chọn công ăn việc làm, khi chọn bạn đời trong hôn nhân hoặc quyết tâm chọn lựa lối sống triệt để ba lời khuyên Phúc Âm… Khi đưa ra quyết định cuối cùng của sự chọn lựa, chúng ta mơ ước sự bình an, hạnh phúc.  Đôi khi phải chấp nhận đau khổ trong sự lựa chọn để mong mỏi một tương lai an vui.

Ở đỉnh cao của nỗi khổ đau, chúng ta mong muốn phép lạ xảy đến hầu xua tan bóng đêm đau khổ.  Ở tận cùng của hố thất vọng, mong đợi ngón tay Thiên Chúa búng một phát để chúng ta bay vút lên thật cao.  Kinh nghiệm cuộc đời cho thấy: Dường như Thiên Chúa lo lắng nhiều chuyện quá, cho nên Người bỏ quên chúng ta trong hoàn cảnh đau thương.  Cũng chính kinh nghiệm cuộc đời dạy rằng: đau thương vẫn mang đến một giá trị tốt để chúng ta nhìn ra giới hạn của kiếp người.  Nhiều ý kiến cho rằng điều khôn ngoan trong lúc đối chọi với căn bệnh tim là gia đình em Sylvester nên tìm kiếm các lương y giỏi, giàu kinh nghiệm, không nên “mê tín” nơi kinh nguyện giáo đường.  Miệng đời được dịp gièm pha khi đứng trước sự ra đi của em về cõi vĩnh hằng. Nhưng ở đây, tôi lại khám phá ra hình ảnh Đức Giêsu chịu đóng đinh trong biến cố đau buồn của gia đình em Sylvester.

Trên núi Sọ, một vì Thiên Chúa làm người chịu đau khổ treo trên Thánh giá.  Nhiều người, có lẽ cả Giuđa Iscariot, nghĩ rằng Đức Giêsu sẽ biến hóa huy hoàng để bứt Mình khỏi thập tự.  Cuối cùng, vị Thiên Chúa làm người chịu chết đau thương.  Phải chăng chính Đức Giêsu cũng cảm nghiệm Thiên Chúa đang bỏ rơi mình (x.Mc 15,34)?  Lẽ nào chúng ta đặt dấu chấm hết ở thập giá Đức Giêsu?  Điều này chẳng khác nào như lời của Thánh Phaolô “nếu Đức Kitô không trỗi dậy thì lòng tin của anh em là hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em.  Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Kitô cũng bị tiêu vong.  Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người” (1Cr 15,17-19).  Chẳng lẽ, các chứng nhân Kitô giáo chịu bỏ mạng chứ không bỏ đạo trở thành những người đần độn à?  Tôi mời quí vị độc giả đọc lại vài dữ kiện Kinh Thánh để tiếp tục suy tư.

Trước hết, các vị Tông Đồ vốn là những người nhát đảm trốn kín trong nhà tiệc ly sau biến cố thập giá của Đức Giêsu (x.Ga 20,19.26), vì lý do gì lại trở nên mạnh mẽ làm chứng cho Chúa Kitô trước mặt toàn dân (x.Cv 2,5-36…) và vua chúa quan quyền (x.Cv 4,1-22…)?  Các ông đã từng sợ bị liên lụy vì nghĩa thiết với Đức Giêsu nên chạy trốn quân lính trong vườn Cây Dầu (x.Mc 14,50) và đứng phía xa xa trong lúc xét xử (x.Lc 22,54. 23,49).  Các ông đã từng sợ các luật sĩ, biệt phái mở rộng vụ án của Đức Giêsu nên khóa chặt cửa và chỉ dám rón rén lưới cá đêm hôm (x.Ga 21,2-14).  Quả thực, Chúa Giêsu Kitô, Đấng chịu treo trên thập giá, đã trỗi dậy từ cõi chết và hiện ra với các Tông Đồ, chính Đấng ấy ban sức mạnh của Chúa Thánh Thần (x.Ga 16,5-15;20,22; Cv 2,1-4) nên các chứng nhân Kitô hữu trở nên mạnh mẽ bảo vệ chân lý mà họ được mặc khải.  Chính nhờ đau khổ thập giá, Đức Kitô đã chết nay trỗi dậy, hứa hẹn sự phục sinh của người Kitô trong ngày Quang Lâm.

Kiếp người rất ngắn ngủi còn ý định của Thiên Chúa lại trải rất dài.  Do đó nhiều khi tưởng chừng Thiên Chúa bận rộn nên bỏ rơi chúng ta, hóa ra Thiên Chúa đang giúp chúng ta lột xác để đẹp hơn.  Hạt giống phải chết đi, mới trổ sinh bông hạt (x.Ga 12,24).  Đến đây, tôi mới thấm thía xác tín của Thánh Phaolô: “Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đức Kitô chịu đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận và dân ngoại cho là điên rồ.  Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng ấy là Đức Kitô, là sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa.  Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1Cr 1,22-25).

ZZChiêm ngắm Đức Giêsu chịu treo trên thập giá, chúng ta nhìn thấy hình ảnh đau thương của Chúa Cứu Thế.  Người chọn lựa đường cứu độ theo cách của Người.  Cho đến bây giờ, chúng ta vẫn mang ít nhiều tâm tình thương cảm Đức Giêsu bị đau khổ, nhục nhã, đáng thương…  Tình cảm này đúng, nhưng chưa đủ.  Bởi vì chúng ta quên rằng Thiên Chúa không dừng lại ở thị giác và cảm giác này.  Người dùng hình ảnh thập giá để làm chìa khóa mở ra cánh cửa phục sinh.  Suy tôn Thánh Giá Chúa không phải là hành động tôn vinh một xác chết rũ rượi, nhưng là tôn vinh chính thân xác bị treo tòng teng ấy đã phục sinh và đang hiện diện trong nhịp thở của chúng ta. “Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá.  Tôi sống nhưng không còn phải là tôi mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,19b-20a).  Ướm mọi biến cố vui, buồn, sướng, khổ của chúng ta sát với cuộc sống của Chúa là chìa khóa giúp ta mở ra cánh cửa hạnh phúc, bình an.  Ước gì, cùng với lời tuyên xưng của Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Galat, tôi cũng như mọi người thở cùng một nhịp với nhịp thở của Đức Kitô là đầu và Giáo Hội là thân mình.  Khi ấy, hơi thở của chúng ta trong môi trường sống sẽ làm cho những người xung quanh nhận ra chính chúng ta “được hưởng niềm vui của Chúa” (Ga 15,11).

Lg.hungson@gmail.com

ANH EM BẢO THÀY LÀ AI?

Anh là ai?  Tôi là ai?  Chúng ta được sinh ra trong thế gian này để làm gì?  Rồi chúng ta sẽ đi về đâu?  Với trải nghiệm cuộc sống ở đời, cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn đã viết trong ca khúc “ Một cõi đi về”:

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi.
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt
Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Dọi suốt trăm năm một cõi đi về.

Với những triết lý của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn, chúng ta thấy cuộc đời này cứ loanh quanh, luẩn quẩn, rồi chẳng biết nơi đâu là chốn quê nhà, đi mà chẳng biết đâu là đích điểm của cuộc đời. Thật là vô nghĩa.  Với giới hạn của thân phận con người thì chúng ta vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng về sự sống mai sau sẽ như thế nào.  Chúng ta sẽ đi về đâu?  Chính vì lẽ đó, trong trang Tin mừng hôm nay, câu hỏi của Chúa Giê-su sẽ là câu trả lời cho chúng ta về những điều vô nghĩa đó, khi Chúa Giê-su hỏi: “Anh em bảo Thầy là ai?” Thì thánh Phê-rô đã trả lời: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”.  Còn chúng ta thì sao?  Chúa Giê-su cũng đang hỏi chúng ta, Ngài cần câu trả lời của mỗi người chúng ta, và cho những ai đang còn hoài nghi về Thiên Chúa, thì thánh Phê-rô và các tông đồ là chứng nhân sống động về Thiên Chúa.  Trong khi đó có kẻ bảo Thiên Chúa đã chết, và không có Thiên Chúa hiện hữu trong thế giới này.  Khi con người sống trong một thế giới khoa học thực tiễn và thực dụng, họ cho là Thiên Chúa vắng bóng.  Hơn nữa, những điều Chúa nói thì họ cho là đi ngược lại với những gì con người đang sống, và hành động.  Trong khi đó, Chúa Giê-su lại nói: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo;  ai cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mạng sống mình vì Ta và vì Tin mừng thì sẽ được cứu sống”.

Rõ ràng, Chúa Giê-su nói ngược lại với những suy nghĩ con người trong thời đại này, vì chẳng ai muốn thua thiệt và mất mạng sống mình cả.  Người đời bảo: “Thật thà thường thua thiệt, lắc léo lại lên lương”.  Chẳng ai muốn mình thua thiệt, chẳng ai chịu mình là người thua kém hơn người khác, ngược lại, có kẻ còn tự cho mình là người có quyền trên người khác để lên án và kết tội người khác, chà đạp lên nhau một cách bất công.

Thế thì, điều Chúa Giê-su công bố trong Tin mừng hôm nay có còn giá trị và ảnh hưởng gì với đời sống của chúng ta hôm nay không?  Có lẽ, chúng ta cần nhìn lại bối cảnh của Tin mừng hôm nay. Khi Chúa Giê-su nói với các tông đồ và dân chúng đi theo Ngài: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta”.  Trong lúc Chúa Giê-su sắp bước vào cuộc thương khó và thi hành thánh ý của Thiên Chúa Cha, Ngài thực hiện công trình cứu độ của Thiên Chúa qua cái chết trên thập giá đã được mạc khải trong Kinh Thánh.  Có lẽ, các tông đồ và dân chúng sẽ ngạc nhiên trước những lời lẽ bi thương, đau khổ và chết chóc này, chẳng ai muốn nghe, nhưng đây lại là một chân lý được mạc khải cho nhân loại về sự phục sinh và ơn cứu độ và sự sống vĩnh cửu của con người.

Nếu cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn vẫn chưa tìm ra nơi nào là chốn quê nhà, thì hôm nay Chúa Giê-su chỉ cho chúng ta con đường về quê hương đích thực chính là nơi Ngài. “Ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời”.  Chúa zzGiê-su là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống cho chúng ta.  Như lời thánh Phê-rô đã tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

Ước gì, chúng ta cũng biết tuyên xưng như lời thánh Phê-rô, để mỗi ngày chúng ta đi theo Chúa, chúng ta biết chọn cho mình hướng đi và hướng sống với những điều xác tín trong niềm tin vào sự phục sinh của Chúa Kitô, vì nơi Ngài là nguồn suối yêu thương và sự sống vĩnh cửu.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết tìm kiếm Chúa là nguồn hạnh phúc đích thực trong từng phút giây đời sống của chúng con.  Xin cho tay của chúng con biết mở rộng và tim của chúng con biết khát khao tình yêu Thiên Chúa.

Lm. John Nguyễn, New York.

 

THẦY LÀ ĐẤNG KITÔ

– Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. (Mc.8:30).

Bạn thân mến! Trên đây là lời tuyên xưng đức tin của Phêrô đối với Chúa Giêsu. Và đây cũng là lời tuyên xưng hùng hồn nhất, sâu sắc nhất và trang trọng nhất.

Tin Mừng Chúa nhật hôm nay tường thuật rằng: Thầy trò Đức Giêsu đi bên nhau, nói chuyện tâm tình bên nhau, Ngài tế nhị dẫn dắt và nhắc nhở các môn đệ bằng những câu hỏi để gây ý thức nơi các ông. Trước hết Ngài nói: “Người ta nghĩ Thầy là ai?” (Mc.8:28). Và dần dần Ngài dẫn đưa các ông đến câu hỏi quan trọng nhất, xác tín nhất: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? ” (Mc.8:29)

Đức Giêsu có thể tự giới thiệu về mình, tự nói lên căn tính của mình. Nhưng Ngài đã không làm thế.  Ngài muốn người môn đệ phải tự khám phá ra Ngài, Ngài muốn lời tuyên xưng của người môn đệ phải phát xuất từ nỗ lực tìm hiểu và cảm nghiệm chân thực trong cuộc sống sinh hoạt với Ngài.

Là môn đệ Đức Kitô, mỗi người chúng ta phải trực tiếp trả lời câu hỏi này bằng đức tin của chính mình.  Người môn đệ phải biết căn tính của thầy mình, phải biết mình đang theo ai và người mình theo từ đâu đến.  Có như thế, người môn đệ mới có thể đi sâu vào trong tình thân mật với thầy mình, mới tin tưởng những điều thầy mình dạy, mới can đảm thi hành những giáo huấn mà thày mình đã trao ban.

Phêrô đã trả lời câu hỏi này cho phần của ông: “Thầy là đấng Kitô, Con Thiên Chúa Hằng sống”. Còn bạn và tôi, chúng ta trả lời câu hỏi này ra sao?  Nếu Đức Giêsu đến và hỏi tôi và bạn hôm nay “Thày là ai”, tôi sẽ trả lời Ngài ra sao? Nếu người ta hỏi tôi “Đức Giêsu là ai”, tôi sẽ giải thích cho họ như thế nào về thầy mình?

Được biết Đức Giêsu, được nói về Đức Giêsu, được làm chứng cho Đức Giêsu, được tuyên xưng niềm tin của mình vào Đức Giêsu … Đó là một ân phúc, ân phúc từ trời cao đổ xuống cho những người luôn vững lòng tin tưởng vào Đức Giêsu, vì “không phải phàm nhân mạc khải cho điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.”

***

Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theozz(Mc.8:34)

Lạy Chúa, xin ban ơn giúp sức cho con, để con biết từ bỏ mình, vác thập giá mình mà bước đi theo Chúa. Amen.

(Tổng hợp từ  R. Veritas)

CHA MIKE (Father Mike)

zzCha Mike Judge là một trong những người “Lính Cứu Hỏa” đã hy sinh mạng sống trong cuộc khủng bố 9/11/2001. Trong hơn 10 năm qua, đã có nhiều bài báo và cuốn sách viết khá đầy đủ về cuộc sống của Cha.  Sau đây chúng tôi xin tóm lược một số điểm chính.

Những người lính cứu hỏa và những người quen biết Cha thường gọi Cha một cách thân mật là “Cha Mike” hay “Cha Mychal.”

Cha Mike sinh ngày 11 tháng 5 năm 1933.  Ngày sinh nhật của Cha vào đời sống cũng trùng với ngày sinh nhật của Cha vào nước Trời: ngày 11/9/2001.  Cha sinh ra ở Brooklyn (New York) với tên đầy đủ là Robert Emmet Judge.  Cha sinh ra vào thời kỳ “Đại Suy Thóai” (Great Depression), gia đình phải sống trong hoàn cảnh rất nghèo khó.  Suốt đời của Cha phải sống giữa những người nghèo khó mà Cha rất quý mến và yêu thương phục vụ họ.  Khi còn nhỏ, dù trong túi chỉ có một đồng “quarter” cha vẫn lấy để tặng người ngồi ăn xin bên vệ đường.

Ba của Cha Mike chết khi Cha mới có 6 tuổi.  Ông cụ chết sau những ngày bịnh hoạn lâu dài.  Cuộc đời nghèo khó, bây giờ lại nghèo khó hơn.  Có thời gian Cha phải đi đánh giầy ở ngoài đường phố.  Tuy nhiên Cha vẫn cố gắng để đi học và cố gắng sống đời sống đạo đức.  Sau đó, Cha cảm thấy được ơn Chúa gọi “đi tu”.  Sau khi cầu nguyện và bàn hỏi với Cha Linh Hướng, Cha đã quyết định xin vào dòng Phanxicô khó nghèo lúc 15 tuổi (năm 1948) và sau một thời gian dài học hỏi và tu luyện, Cha đã được chịu chức Linh Mục vào ngày  25/2/1961, lúc 28 tuổi.

Sau khi chịu chức Linh Mục Cha đã được chỉ định giữ nhiều chức vụ khác nhau ở vùng New York.  Dù ở chức vụ nào, Cha Mike cũng cố gắng noi gương Chúa Giêsu qua cuộc đời Thánh Phanxicô khó nghèo, dấn thân chu toàn nhiệm vụ, hăng say giúp đỡ những người nghèo khó, không nhà cửa, nghiện ngập, bịnh hoạn, những di dân mới đến Hoa Kỳ.  Ngoài ra Cha vẫn dành nhiều thời giờ để cầu nguyện và thánh hóa bản thân; vì thế những người được tiếp xúc với Cha, cảm thấy như được tiếp xúc với một con người khiêm tốn, đạo đức và rất dễ thương,và họ thường coi Cha Mike như một “vị thánh sống.”

Năm 1992 Cha Mike được chỉ định làm Tuyên Úy cho Nha Cứu Hỏa New York.  Từ đó Cha đã dành nhiều thời giờ để đến với những người lính cứu hỏa và gia đình họ, không phải chỉ như một vị Tuyên Úy; nhưng còn như người bạn và ân nhân của họ; giúp đỡ họ bất cứ lúc nào khi cần đến với tất cả tình yêu thương.  Sáng ngày 11/9/2001 (vào khoảng gần 10g00), ngay khi  những chiếc máy bay đâm vào tòa Tháp Đôi, Cha đã cùng những người lính cứu hỏa chạy vào tòa nhà đang cháy và sắp sụp đổ, để cứu các nạn nhân và ban “phép Xức Dầu Thánh và các nghi thức cuối cùng” cho những người Công Giáo đang hấp hối.  Khi Cha đang vội vàng chạy vào Tòa Tháp Đôi, ông Thị Trưởng New York (lúc đó là Rudy Giuliani) nhìn thấy Cha, vội vàng kêu to: “Cha Mike, xin Cha cầu nguyện cho chúng con với!” Cha trả lời : “Có chứ, tôi vẫn hằng cầu nguyện cho quý vị…” Cha Mike chạy vào Tòa Tháp Đôi được một lúc lâu, thì Cha đi ra; nhưng Cha không còn đi bằng đôi chân của mình nữa;  những người lính cứu hỏa đã khiêng Cha ra; vì Cha không còn sống nữa…  Những viên đá đã đổ xuống và đập vào đầu của Cha, và Cha đã hy sinh mạng sống khi thi hành chức vụ Linh Mục của mình.  Vì quá gấp rút không thể kiếm ngay được một Linh Mục để ban các phép cuối cùng cho Cha, chính những người lính cứu hỏa đã quỳ xuống để cầu nguyện cho Cha.”

Thánh lễ an táng để cầu nguyện cho Cha Mike được tổ chức vào ngày 15/9/2001, tại Thánh Đường Thánh Phanxicô vùng Manhattan.  Chính Đức Hồng Y Eward Egan chủ tế với nhiều linh mục đồng tế, hơn 3,000 người dự Lễ, trong đó có nhiều viên chức cao cấp chính phủ, kể cả cựu Tổng thống Bill Clinton, và những người lính cứu hỏa thân yêu của Cha.  Nhiều người đã khóc thương Cha Mike và coi Ngài như “vị Thánh ngày 9/11” và nhắc lại lời nói của Ông thị trưởng New York lúc đó (Rudy Giuliani) “Xin Cha về với Chúa,  cầu nguyện cho chúng con với…”

Lạy Chúa nhân từ, “xin cho Linh hồn Cha Mike được nghĩ yên muôn đời và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên Linh Hồn ấy.”

Và xin Chúa ban ơn thánh hóa các chủ chăn và các Linh Mục của Chúa, cho các Ngài, “sau khi đã mặc lấy Chúa, nên giống Chúa mọi đàng, bởi noi gương các nhân đức đấng tôn thờ của Chúa…. Nhân danh Chúa và nhờ các Linh Mục của Chúa, xin Chúa lại đi qua giữa thế gian mà giảng dạy, mà tha thứ, mà yên ủi, mà tế lễ, mà nối lại mối dây của tình yêu Thiên Chúa kết hợp với loài người.  Amen”

KINH CẦU CHO CÁC LINH MỤC và CÁC CHỦNG SINH

Lạy Chúa Giêsu, ngày xưa khi nhìn đám đông dân chúng, Chúa đã chạnh lòng thương, vì họ như đàn chiên bơ vơ không có người chăn dắt.  Ngày nay, đoàn dân Chúa cũng đang khao khát nghe lời Chúa, và lãnh nhận các Bí Tích; nhưng số Linh Mục thật ít ỏi.  Xin Chúa đoái thương cho chúng con có nhiều Linh Mục, và cho các Linh Mục của chúng con đầy tinh thần khiêm nhường và quảng đại, sẵn sàng hy sinh tất cả vì đoàn chiên của Chúa, và vì vô số những người còn chưa được biết Chúa.  Xin cho các Ngài ngày càng trở nên giống Chúa hơn, để nơi các Ngài, chúng con được nhìn thấy chính Chúa đang ở với chúng con.

Xin Chúa thương ban cho có nhiều tâm hồn thanh thiếu niên quảng đại dấn thân làm Linh Mục, và xin Chúa tạo điều kiện thuận lợi, để các chủng sinh ấy sớm trở thành những Linh Mục thánh thiện, có lòng nhiệt thành, và nhiều khả năng để tiếp nối công cuộc của Chúa ở giữa trần gian.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã hứa:  “Ai xin sẽ cho, ai tìm sẽ gặp, ai gõ cửa sẽ mở cho”, thì đây là lời cầu xin tha thiết nhất của chúng con.  Xin Chúa hãy đoái thương thực hiện để làm vinh danh Thiên Chúa Cha.  Amen!

LM Anphong Trần Đức Phương sưu tầm