SỐ KHÔNG TRÊN BẢNG ĐEN

zzCó một lần trong cuộc họp của khối học vụ, hiệu trưởng viết lên bảng đen một số không (0), và hỏi các thầy cô giáo hiện diện, đây là ký hiệu gì ?

Thầy giáo Anh văn nói: “Là chữ O, chữ cái của Anh văn”.

Thầy giáo số học nói: “Là số 0 của chữ số Ả Rập”.

Thầy giáo quốc văn nói: “Là một dấu chấm câu”.

Thầy giáo hóa học nói: “Là ký hiệu “ô xy” của nguyên tố căn bản”.

Thấy dạy môn gia chánh nói: “Là giống như cái bánh”.

Thầy dạy âm nhạc nói: “Là dấu ngừng trong dấu nhạc”.

******************************

Một linh mục giảng hay là khi ngài –  cũng với một bài Phúc Âm trong thánh lễ – khiến cho các thành phần tín hữu tham dự đều hiểu và dễ dàng áp dụng Lời Chúa vào trong hoàn cảnh nghề nghiệp của mình:

– Các cụ già hiểu và sống Lời Chúa với tuổi già.

– Các thanh niên nam nữ hiểu và sống Lời Chúa với hoàn cảnh của mình.

– Các trẻ em hiểu và sống Lời Chúa với lứa tuổi của mình.

– Các bác sĩ, thầy giáo, các công nhân lao động, các chị em buôn bán ngoài chợ.v.v… cũng thấy Lời Chúa đang nói với mình trong thánh lễ…

Đó chính là sự thành công của các linh mục, bởi vì các ngài đã biết cách làm cho Lời Chúa không những trở thành món ăn hợp khẩu của mọi thành phần dân Chúa, mà còn biến Lời Chúa thành tấm gương soi sáng nghề nghiệp hoàn cảnh của tín hữu.

Chỉ một số không (0) mà các thầy giáo đều thấy được nó có liên quan đến nghề nghiệp của mình, thì đúng là số không kỳ diệu.

Lời Chúa làm cho người Ki-tô hữu nên thánh, không phải trong nghề nghiệp của người khác, mà nên thánh ngay trong chính nghề nghiệp và bổn phận của chính mình, đó chính là điều kỳ diệu vĩ đại của Lời Chúa, cũng như qua cách suy tư và cách thực hành Lời Chúa của các linh mục vậy.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

 

GHẾ

“Ghế” tượng trưng cho địa vị, quyền lực và quyền lợi, nên ghế là nỗi ước mơ và yêu thích của nhiều người: Ghế trưởng phòng, ghế giám đốc, ghế đại biểu… Tất cả công sức và nỗ lực của con người đều dồn vào việc có một ghế, sau đó là giữ ghế, hay tìm cách lên ghế tốt hơn, cao hơn.  Ngay cả những người theo Chúa, phụng sự Chúa, cũng ước mơ và yêu thích những chiếc ghế danh dự.

zzTin Mừng Chúa Nhật hôm nay tường thuật hai môn đệ Gioan và Giacôbê không ngần ngại xin Đức Giêsu điều mà các ông có lẽ đã mơ ước từ lâu. Trong vương quốc của Ngài, các ông muốn được ngồi chiếc ghế cao nhất, quyền uy nhất.  Họ lên tiếng xin Đức Giêsu: “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy“. (Mc.10:37)

Khi nghe lời cầu xin này, các môn đệ còn lại lấy làm chướng tai, đã tỏ thái độ bực tức khó chịu, vì họ cũng ước mơ chiếc ghế cao nhất, họ cũng có tâm trạng giống nhau, nhưng chưa dám nói ra, chưa dám xin Chúa mà thôi.

Đức Giêsu kéo hai ông ra khỏi tham vọng và đam mê con người, để đưa họ trở về với thực tại. Họ muốn được chung phần với Ngài trong vinh quang, nhưng họ có dám chia phần với Ngài trong đau khổ hay không? Uống chung chén đắng Thầy sắp uống, chịu chung phép Rửa Thầy sắp chịu, là chấp nhận bị dìm sâu xuống dòng nước khổ đau.

Thật ra được ngồi hai bên tả hữu Thầy đâu phải là phần thưởng để trả công cho người bền chí. Trung tín theo Chúa đến cùng đã là phần thưởng rồi. Theo Chúa không phải để trông chờ một chỗ cao nhất; đẹp nhất, nhưng mong được ban thưởng một nơi có Chúa,  gần bên Chúa.

Trong cuộc sống hôm nay, tự bản chất, con người có ước muốn làm lớn, muốn ở trên kẻ khác, muốn thống trị người khác. Xã hội chúng ta đang sống lại khuyến khích và khơi dậy ước muốn đó.  Xã hội sùng bái những người đứng đầu, kính trọng những kẻ giàu nhất, quyền uy nhất, thông minh nhất; chiều chuộng những người đẹp nhất, mạnh nhất, thành công nhất.  Cái nhất đó đôi khi lại là cái mà người ta làm bằng mọi cách, bằng mọi gía để đạt được nó.

Người đứng đầu, người làm lớn, người có quyền thường hay có thái độ thống trị, áp đặt, hống hách. Chức vụ và quyền lực trở thành phương tiện để phục vụ chính bản thân họ. Đó là lối lãnh đạo của người đời.  Hôm nay, Đức Giêsu đề xướng một lối lãnh đạo mới trong nước Chúa: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em. Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. (Mc.10:43)

Đức Giêsu mời gọi ta thay đổi, không phải chỉ là đổi ngôi, đổi ghế, mà là đổi lòng, đổi trí. Hãy vất bỏ những tham vọng ăn trên ngồi trước. Hãy mang vào lòng tinh thần yêu thương phục vụ.

Phục vụ là tóm kết toàn bộ cuộc đời Đức Giêsu. Ngài đến trần gian để phục vụ, sống như người phục vụ, và chết như dấu chứng của phục vụ trong yêu thương.

***

Lạy Chúa!  Xin cho con biết noi gương bắt chước Chúa, không ham danh lợi địa vị cho mình, nhưng luôn biết dấn thân phục vụ anh em, như Chúa đã phục vụ và hy sinh cho con. Amen

(Tổng hợp từ R. Veritas)

NGƯỜI CÔNG GIÁO KHÔNG NÊN GIỮ ĐẠO

Tựa đề “người công giáo không nên giữ đạo” hẳn làm cho nhiều độc giả giật mình.  Một câu như thế xuất hiện trên bất cứ một tờ báo nào thì còn có thể chấp nhận được, chứ trên một tờ báo Công giáo thì quả là một lời “phản động“.  Đúng là một lời phản động, theo nghĩa là đi ngược lại với nếp nghĩ của rất nhiều người.  Thế thì cần phải minh xác về vấn đề từ ngữ.  Khi nói về đời sống đức tin của mình, người công giáo Việt Nam có bốn cách nói: Theo đạo, giữ đạo, sống đạo, và ít khi gặp hơn, “đi đạo“.

Theo đạo.

Anh chị “theo đạo nào“?  Tôi “theo đạo” công giáo.  Đối với nhiều người công giáo, cụm từ “theo đạo” có nghĩa là mình đã chịu phép rửa.  Vì đạo công giáo được chúng ta xem là đạo mặc khải, nghĩa là do chính Thiên Chúa nói cho chúng ta biết, nên đó là đạo trên hết các đạo, nếu không phải là Đạo duy nhất.  Và cũng vì thế mà khi nghe một người không công giáo đón nhận đức tin, ta bảo rằng người ấy “trở lại Đạo“.  Thực ra, trong ngôn ngữ Việt Nam, chữ “đạo” rộng nghĩa hơn nhiều, và người đầu tiên nói đến Đạo, không phải là Chúa Kitô, mà là Lão Tử, “giáo chủ” của Đạo giáo.  Chúng ta nói đến nhiều đạo khác nữa: đạo Phật, đạo Lão, Đạo Khổng, đạo ông bà, ấy là chưa nói đến đạo làm người, đạo làm vợ làm chồng, đạo làm con…  Nếu chúng ta gọi đời sống đức tin của mình là “theo đạo” thì hẳn không sai, nhưng rất bó hẹp: Đón nhận đức tin công giáo không chỉ nhằm cho ta có một cái đạo hầu sống cho hợp với luân lý làm người.  Do đó,người công giáo theo đạo mà thôi thì chưa đủ.

Giữ đạo.

Khi đã có “đạo công giáo” rồi, thì người tín hữu “giữ đạo“.  Cụm từ giữ đạo cũng có nhiều cách hiểu.  Cách thứ nhất là “giữ” luật đạo.  Nói một cách nôm na là giữ “Mười điều răn Đức Chúa Trời, Sáu điều răn Hội Thánh cùng các điều khác Hội Thánh dạy“.  Cụ thể là đi xem lễ, ít nhất là mỗi tuần một lần; xưng tội mỗi năm ít là một lần; chịu Mình Thánh Chúa Giêsu trong Mùa Phục Sinh, v.v… Ngoài ra, đối với những người “đàng hoàng” hơn thì đọc kinh sáng tối, và nếu “ngon” hơn nữa thì hằng ngày đọc kinh phụng vụ và một đoạn phúc âm.  Ngoài ra, “giữ” đạo còn một cách hiểu thứ hai, ấy là “giữ” làm sao cho Đạo công giáo (và người công giáo) không bị ai chạm đến.  Giữ đạo theo kiểu các lãnh đạo quốc gia nói đến việc “giữ nước” hay “bảo vệ tổ quốc“.  Người công giáo “giữ đạo” theo nghĩa là “bảo vệ” tôn giáo mình, bảo vệ người công giáo, bảo vệ học thuyết công giáo, bảo vệ nhà thờ và đất đai thuộc sở hữu Giáo Hội công giáo.  Tóm lại, giữ đạo theo cách xem tất cả những gì và những ai không công giáo là “kẻ thù” hay “lạc đạo” mà mình phải “dụ địch” theo tinh thần bác ái để cho họ “trở lại“.  Và nếu không thể được, thì phê phán họ, chỉ trích họ, đồng thời củng cố lực lượng của “phe ta” để khỏi bị “kẻ thù” lấn lướt.  Giữ đạo như là giữ một thành trì, tay cầm súng, với tinh thần căng thẳng của một “chiến sĩ” luôn xem người lạ là “kẻ thù“, và sẵn sàng nổ súng.

Sống đạo.

Vì chữ “giữ đạo” có một nghĩa như trên, nghĩa là khá tiêu cực, nên những thập niên vừa qua, người công giáo dùng chữ “sống đạo” thay cho chữ “giữ đạo“.  Sống đạo là đối chiếu đời mình với lời Chúa, làm thế nào để cho toàn bộ cuộc sống phù hợp với Phúc Âm.  Đấy là lý tưởng.  Nhưng trong thực tế, “sống đạo” cũng có khuynh hướng trở thành “giữ đạo” trong cuộc sống, nghĩa là làm “các việc đạo đức” như xem lễ, đọc kinh, xưng tội rồi chấm hết.  Cao lắm là làm thêm vài việc bác ái và tông đồ.  Tóm lại, đối với một số giáo dân chúng ta, sống đạo nhiều khi có nghĩa là dành ra một số thì giờ (tối đa là 1 phần 10, và bình thường là 1 phần trăm thời zzgian trong tuần) để làm các việc đạo đức ấy, phần còn lại là đời sống cơm áo gạo tiền, nghĩa là chẳng ăn nhập gì đến đạo cả.  Nếu sống đạo như thế thì vẫn có cái gì đó chưa ổn.

Đi đạo.

Có lẽ cụm từ súc tích nhất, mà ông cha ta đã dùng từ lâu nhưng hiện nay ít khi người công giáo dùng, ấy là “đi đạo“.  Chúa Kitô là Đường, là Đạo, và trọn cuộc đời của người công giáo là phải đi trên Con Đường đó.  Điều này đòi hỏi Kitô hữu phải ở trên Đường, ở trong Chúa Kitô đã đi; phải “bước đi trong ánh sáng như chính Người ở trong Ánh Sáng… Ai bảo rằng mình ở trong Người, thì phải bước đi như chính Người đã bước đi” (1Ga 1, 7).  Chúa Giêsu đã sống cuộc sống “Đạo làm Con” của mình bằng cách kết hiệp với Cha trong mọi nơi mọi lúc: “Tôi và Chúa Cha là một”  (Ga 10, 30).  Ngài từng lên nơi thanh vắng mà cầu nguyện, thậm chí có lần thức trắng đêm lên núi mà cầu nguyện (xem Lc 6, 12), Ngài cũng “xem lễ” tại hội đường vào ngày hưu lễ (xem Lc 4, 16), Ngài cũng rao giảng rất nhiều lần về Nước Trời và con đường về Vương Quốc, nhưng tuyệt đại đa số thời gian của Ngài là “bước đi trong ánh sáng” đến với tha nhân, nhất là những người bất hạnh: người đui, người què, người bệnh, người tội lỗi; và đường đi tuyệt đỉnh của Ngài là con đường thánh giá để chết đi không có một mảnh áo che thân, trong tinh thần hoàn toàn tự hủy.  Rốt cục, Chúa Giêsu không “giữ đạo” mà cũng chẳng “sống đạo” mà Ngài “Đi Đạo“.  Hơn thế nữa, Ngài chính là Đạo, nghĩa là Con Đường.  Đi Đạo là như thế đó.  Đi Đạo là trở nên “trọn lành như Cha anh em là Đấng trọn lành”  (Mt 5, 48).  Đi Đạo là “trở nên một” với Chúa Kitô 24 giờ một ngày, và từ đó “truyền đạo” của Ngài, nghĩa là truyền cho mọi người chung quanh cảm nhận được thế nào là Tình Yêu, và Tình Yêu chính là Thiên Chúa.

Vì thế, người công giáo không nên giữ đạo.  Hay nói cho đúng hơn, người công giáo không được phép chỉ “giữ đạo” mà thôi – dù với cái nghĩa tích cực nhất là giữ các lề luật Giáo Hội – mà phải Đi Đạo, nghĩa là đi theo con đường tự hủy của Chúa Kitô để nên thánh như Ngài là Đấng Thánh.  Và nếu chúng ta tiếp tục bảo rằng mình theo đạo, giữ đạo, sống đạo, thì tự thâm sâu ta cũng phải hiểu những hạn từ ấy theo nghĩa là “đi đạo“.

Trần Duy Nhiên

KHO TÀNG TRÊN TRỜI

Theo tạp chí uy tín Forbes vừa công bố liên tục trong suốt 25 năm qua.  Danh sách 1226 tỷ phú đến từ 58 quốc gia và vùng lãnh thổ là những người giàu có nhất hành tinh năm 2012.  Từ con số 140 ban đầu, danh sách năm nay đã ghi nhận mức kỷ lục với con số 1.226 tỷ phú được thống kê với tổng tài sản lên tới 4.600 tỷ USD.  Người giàu nhất thế giới là ông trùm viễn thông Mexico Carlos Slim tiếp tục dẫn đầu với giá trị tổng tài sản 69 tỷ USD.  Hai vị trí tiếp theo thuộc về Bill Gates và Warren Buffett.  Qua thống kê cho thấy, người giàu có ngày càng tăng lên với con số là 1.226 tỷ phú.

zzSự khát khao và mong muốn được giàu có nơi mỗi con người chẳng bao giờ ngừng.  Điều này đúng với tự nhiên bản chất con người.  Nhưng, đối với chàng thanh niên giàu có ngày xưa trong Tin mừng thì khác với những người giàu có ngày hôm nay, là anh ta lại muốn đi gặp Chúa Giêsu và hỏi Ngài: “Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp”.  Chúa Giêsu chỉ cho anh ta một cách là: “Anh hãy đi bán hết của cải tài sản đem cho người nghèo, anh sẽ được kho tàng trên trời, rồi đi theo Ta”.  Thật, Ngài đưa ra một quy luật quá khó cho anh chàng giàu có này.  Thế là anh ta buồn rầu và bỏ đi, vì anh có nhiều của cải.  Làm sao anh ta có thể bỏ được khi anh ta đang có tiền bạc tỷ, nhà cao cửa rộng, và được nhiều người cung phụng!  Anh ta chẳng dại gì chịu thua lỗ, vì là nhà kinh tế thì đầu óc phải tính sao cho có lợi chứ!  Cho nên, anh ta bỏ đi và quay trở về với thế giới tiền bạc của anh ta.  Với mục đích và ước muốn của người giàu có này, anh ta không chỉ mong muốn được sự sống đời này mà là cả sự sống đời sau nữa, nhưng anh ta đã thất bại vì không thể vượt qua được sức mạnh và quyến rũ của đồng tiền và của cải.

Mặc dù, anh ta là người giữ luật và sống đạo rất chặt chẽ, anh ta không làm hại ai, không tham lam của ai, không phê bình chỉ trích ai, không ngoại tình lăng nhăng, nhưng thờ cha kính rất mẫu mực.  Tất cả mọi việc anh ta giữ rất tốt.  Và chúng ta cho đó là tiêu chí và đáng noi theo. Nhưng, với những hình thức giữ đạo của anh ta chỉ là những hình thức bên ngoài, chưa thực sự là sống đạo với yêu thương và chia sẻ.  Chính câu hỏi của anh ta và câu trả lời của Chúa Giêsu cho thấy rõ con người thật của anh ta.  Sau đó, Chúa Giêsu cũng dùng hình ảnh đó để nói với các môn đệ: “Những người giàu có thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!”  Khi nghe Chúa Giêsu nói điều này, thì không chỉ các môn đệ sững sờ, ngạc nhiên mà ngay cả chúng ta và các nhà tỷ phú hôm nay sẽ nghĩ gì?  Điều này có vẻ trái ngược với ước muốn và tham vọng của con người trong thời đại này.  Khi người ta đang từng ngày từng giờ để chạy theo và tìm kiếm cho thật nhiều tiền, để được vinh thăng cuộc đời.

Ngay cả thánh Phê-rô cũng phải lên tiếng rằng: “Thầy coi, chúng con đã bỏ mọi sự để đi theo Thầy!”  Phêrô phản ứng vì sợ mình không được cứu độ, không được sự sống đời đời.  Thế thì, con người ngày nay có còn khát khao muốn được Thiên Chúa cứu độ như thánh Phê-rô nói: “Chúng con bỏ hết mọi sự để đi theo Thầy” hay “Bỏ Thầy con biết theo ai?”  Có lẽ, chúng ta cần có những giây phút thinh lặng để hỏi lại chính mình.  Chúng ta đã bỏ gì và đang mang gì để đi theo Chúa.  Sau khi lìa khỏi đời này, mỗi người chúng ta có được mang gì theo không?  Người đời thường bảo nhau:  Có nhiều thứ để chúng ta chọn lựa, nhiều nơi để chúng ta đi, nhưng chỉ có một nơi dành chung cho tất cả mọi người là đi vào nghĩa trang và nằm dưới mấm mộ.  Ngày hôm nay, người ta có hàng tỷ trong tay, nhưng ngày mai trong tay chẳng nắm được gì, chẳng mang theo được gì, khi nhắm mắt xuôi tay và lìa đời.  Chỉ còn lại một chút tình, một chút nghĩa, một chút cử chỉ bác ái yêu thương đọng lại trong những người thân, những người chúng ta yêu thương, quý trọng và chăm sóc khi còn sống.  Tất cả là của Chúa, là của Đấng sáng tạo.  Ngày nay, chúng ta có thể chọn lựa rất nhiều thứ, nhưng khi nhắm mắt lìa đời chúng ta không có quyền để chọn lựa cho số phận của mình.

Nếu Lời Chúa hôm nay đối nghịch với ý tưởng và suy nghĩ của con người, nhưng chính là chân lý mà Thiên Chúa đã mạc khải cho nhân loại, đó là quy luật sống cho những ai tin vào Ngài, tin vào sự sống vĩnh củu.  Nơi đó của cải sẽ không bị mục nát hay bị hư mất.  Tuy nhiên, chúng ta cũng cần chú ý thêm về ý nghĩa của sự giàu và nghèo của Tin mừng.  Chúa Giêsu không bảo các con cứ sống nghèo túng và đau khổ cho đến chết thì sẽ được cứu độ, là lên thiêng đàng, nhưng cái nghèo ở đây chính là sống tinh thần nghèo khó.  Tinh thần nghèo khó nơi Mẹ Maria là khiêm nhường, bác ái, đơn sơ và khó nghèo.  Và khi chúng ta với sống tinh thần nghèo khó là lúc chúng ta biết yêu thương, chia sẻ và cảm thông với anh em của mình.  Sự quan tâm yêu thương giúp đỡ, chính là giới răn của Chúa “kính Chúa yêu người”.  Chúa Giê-su không bảo anh thanh niên giàu có bán hết của cải để kinh doanh đầu tư tích lũy, mà là đem cho người nghèo.  Trong khi đó, anh chàng thanh niên kia chỉ muốn giàu có và tích lũy nhiều thêm của cải cho bản thân.  Phải chăng hình ảnh chàng thanh niên giàu có trong Tin mừng hôm nay chính là biểu tượng và hình ảnh của nhiều người trong chúng ta!.

Để kết thúc bài suy niệm hôm nay, chúng ta cần đến trở lại với những lời chỉ dẫn của sách Khôn ngoan đã viết:

“Tôi coi của cải chẳng là gì so với Đức khôn ngoan.
Đối với tôi, trân châu bảo ngọc chẳng sánh được với Đức khôn ngoan,
vì vàng trên cả thế giới, so với Đức khôn ngoan cũng chỉ là cát bụi,
và bạc so với Đức khôn ngoan cũng kể như bùn đất…”

Lạy Chúa, xin cho chúng con đức khôn ngoan của Chúa, để chúng con biết chọn lựa những giá trị đích thực trong sống tại thế này, là tìm kiếm Nước Trời.

Lm. John Nguyễn, Utica, New York.

 

BUỒN

zzTin Mừng Chúa Nhật hôm nay tường thuật về hai cái buồn: Một cái buồn của Đức Giêsu và một cái buồn của anh nhà giàu.  Đức Giêsu buồn vì người Ngài yêu mến đã từ chối lời mời gọi của Ngài, buồn vì người mà Chúa yêu thương lại gắn bó với tiền bạc nhiều hơn là gắn bó với Chúa, đã chọn của cải vật chất hơn là chọn Chúa.  Anh nhà giàu buồn vì có sự rạn nứt nơi bản thân.  Anh đã đi tìm gặp Chúa, đã thao thức tìm kiếm “một cuộc sống vĩnh cửu đời đời”, nhưng anh đã bị tiền bạc vật chất trói buộc; anh đã từ chối lời mời gọi của Chúa, đã cúi mặt bước đi với đầy phiền muộn.

Thầy Giêsu đòi anh từ bỏ tiền bạc của cải, điều mà anh đã thu góp và gắn bó trong bao nhiêu năm, điều mà anh yêu mến nhất và muốn giữ lại nhiều nhất. Tiền bạc là chỗ dựa của đời anh, anh sẵn sàng làm mọi điều Thầy đòi hỏi, trừ việc từ bỏ chỗ dựa này.

Không biết anh có nhìn thấy “con người thật” của mình không? Có thấy mình đang bị của cải trói buộc? Có thấy mình đang làm nô lệ cho tiền bạc vật chất? Tiếc thay anh không đủ quyết tâm và nỗ lực để ra khỏi sự trói buộc này, anh cũng không có đủ can đảm để cởi bỏ sự nô lệ với tiền bạc vật chất, dù anh vẫn khát khao sự sống vĩnh cửu đời đời.

Cái buồn của anh, đôi khi cũng là của bạn và tôi hôm nay. Ai trong chúng ta cũng từng bị giằng co giữa ước mơ lý tưởng và níu kéo ràng buộc của tiền bạc vật chất. Của cải vật chất có sức hấp dẫn mãnh liệt. Ta làm chủ nó hôm nay, nhưng nếu không cương quyết và sáng suốt, ngày mai nó sẽ làm chủ ta và trở thành xương thành thịt của ta, mà ta không thể thể dứt bỏ.

Không chắc anh nhà giàu có bị luận phạt hay không, nhưng chắc chắn anh ta khó có được cuộc sống hạnh phúc. Hạnh phúc chỉ đến với người dám sống và làm theo lời mời gọi của Chúa.

Vào thời Đức Giêsu, giàu có được coi là một phúc lành. Vậy mà Ngài lại coi giàu có là một cản trở nguy hiểm.  “Người giàu có khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!” (Mc.10:23). Nếu ta biết bỏ tất cả những gì cản trở để đến với Chúa, ta sẽ đạt được chính Chúa.  Được Chúa là được tất cả. Có Chúa là có tất cả. Vì Chúa là hạnh phúc viên mãn.  Được Chúa rồi ta sẽ không còn khao khát gì khác nữa.

Chính vì thế, khi thánh Phêrô hỏi Chúa: “Chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Chúa, chúng con sẽ được gì?” (Mc.10:28). Chúa đã trả lời: “Ai bỏ mọi sự mà theo Ta, sẽ được gấp trăm, và được sự sống vĩnh cửu.” (Mc.10:30).

Lắm tiền nhiều của sẽ làm con người có ảo tưởng là mình giỏi, mình thành công, mình cao sang quan trọng…Nó làm con người trở nên kiêu căng, khép kín trước Thiên Chúa, không cần Thiên Chúa, và hay nhẫn tâm chà đạp lên quyền lợi phúc lộc của người anh em. Tệ nạn tham nhũng hối lộ và cường quyền áp bức ở Châu Á ngày nay là một thí dụ về sự nguy hiểm của tiền bạc.

Theo Đức Giêsu, đôi khi ta phải chấp nhận tay trắng, chịu bấp bênh thua thiệt. Nhưng đừng quên theo Ngài cũng là trở nên giàu có.  Không phải sự giàu có do ích kỷ giữ lại, nhưng là sự giàu có do mở ra và trao tặng.  Không phải sự giàu có do tìm kiếm chiếm đoạt, nhưng là sự giàu có đến như một quà tặng biếu không.

Người khôn ngoan thì phải biết nhìn xa trông rộng.  Biết bỏ những mối lợi trước mắt để tìm kiếm những giá trị vĩnh cửu.  Như thế yêu mến Chúa là chìa khóa của sự khôn ngoan. Chọn Chúa là chọn giá trị tuyệt đối, vĩnh cửu không gì có thể so sánh được.

Theo Đức Giêsu, ta sẽ được lại cả những điều đã mất. Và cái được quan trọng nhất là được chính Đức Giêsu (Pl.3:8).

***

Lạy Chúa! Xin cho con đừng quay lưng trước lời mời gọi của Chúa, đừng ngoảnh mặt để tránh cái nhìn yêu thương Chúa dành cho con.

Xin dạy con biết yêu mến Chúa trên hết mọi sự. Vì Chúa là hạnh phúc và là cùng đích của đời con. Amen.

(Tổng hợp từ R. Veritas)

KHÔNG AI SUNG SƯỚNG CẢ!

Có một câu chuyện ngụ ngôn khiến người ta phải suy gẫm:

zzHai vợ chồng nhà nọ nuôi một con trâu và một con chó. Con chó được ở trong nhà còn con trâu phải ở riêng ngoài chuồng.  Mỗi ngày trâu ra đồng cày bừa từ sáng sớm đến chạng vạng tối mới về, còn chó chỉ việc nằm ở cổng rào canh chừng cửa.

Một hôm nọ trâu đi làm về, thấy chó nằm trước cửa nhà phe phẩy cái đuôi trông thật sướng, đang lúc mệt nhoài nó nổi cáu bảo:

–  Không có ai sung sướng bằng mày, chỉ ăn rồi nằm. Thật là đồ vô tích sự!

Con chó nghe con trâu hậm hực nặng nhẹ mình thì buồn bã trong lòng, nghĩ trâu tuy to xác nhưng không có trí.  Nó bèn nói với trâu:

–  Anh trâu không hiểu đâu, tôi nào có sung sướng như anh tưởng. Anh tuy làm lụng nặng nhọc ngoài đồng nhưng có giờ có giấc, sáng ra đồng, chiều lại về, tối còn được nghỉ ngơi, cứ lăn ra mà ngủ. Còn tôi, tuy nằm canh cửa giữ nhà trông có vẻ nhàn hạ hơn anh, nhưng thật sự thì mệt cầm canh đâu có ai biết.  Nằm lim dim mà lòng không yên, phải để tâm canh giữ cửa nhà, không dám lơ là công việc.  Nếu ngủ quên hoặc bất cẩn để xảy ra mất trộm thì tôi khó mà sống được.  Đêm đêm trong khi mọi người ngon giấc, tôi có được nghỉ ngơi đâu, tôi phải lắng tai nghe ngóng, đưa mắt nhìn trông, hễ nghe có động tĩnh gì thì phải sủa to để cảnh báo.  Lúc chủ nhà vui thì tôi còn được ăn no, chứ khi họ có chuyện buồn bực trong lòng thì bỏ mặc tôi đói khát, không ai để mắt quan tâm.  Những lúc sân si nổi lên họ còn trút giận lên đầu tôi không thương tiếc, họ đánh họ đá, xua đuổi, chửi mắng tôi.  Mỗi khi bạn bè, người thân của họ đến chơi mà tôi không biết, tôi sủa tôi vồ thì họ đánh tôi, chửi tôi là đồ ngu.  Bạn bè họ đến chơi thì không sao, còn bạn bè tôi đến chơi thì bị họ đuổi đi, ném đá đến toạc đầu đổ máu.   Ngẫm lại coi, anh và tôi ai sướng hơn ai chứ?

Con trâu nghe nói mới hiểu tình cảm của con chó, nghĩ mà thương nên an ủi:

–  Đúng là mày cũng không sung sướng gì. Tao với mày ở chung nhà mà chưa một lần trò chuyện với nhau nên không hiểu nhau.  Bây giờ tao đã hiểu nỗi khổ của mày, mày cho tao xin lỗi. Nghe mày nói tao mới biết cả hai chúng ta đều khổ cả.

Đang nói con trâu bỗng nghe tiếng chim ríu rít trên cành cây cao, nó nhìn lên rồi than thở:

–  Bọn chim trời cá nước sung sướng làm sao! Chúng có thể tự do tự tại bên ngoài, không bị ai giam cầm quản thúc, không phải làm việc nặng nhọc vất vả, không phải chịu nỗi khổ của kiếp tôi đòi.  Giá mà chúng ta có được cuộc sống vui vẻ như thế.

Khi ấy một chú chim nghe thấy lời trâu, bèn đáp lên lưng trâu nói:

–  Anh trâu ơi, anh không biết đâu, tôi cũng không sung sướng hơn các anh đâu. Tuy loài chim chúng tôi không phải giữ nhà, không phải đi cày ruộng, không phải chịu cảnh tù túng bó buộc, nhưng chúng tôi cũng có nỗi khổ của mình.  Hiểm họa luôn rình rập chúng tôi, những kẻ thợ săn có thể bắn chết chúng tôi bất cứ lúc nào.  Tổ của chúng tôi làm khó khăn vất vả biết bao, chưa chắc ở được lâu vì sự phá hại của con người.  Trứng chúng tôi sinh ra chưa kịp nở con thì đã bị con người lấy mất.  Loài người biết thương con của mình nhưng nào biết thương con của kẻ khác.  Các anh chỉ bị hành hạ, còn tôi bị cướp đi mạng sống của mình, chết rồi còn bị nhổ lông, xẻ thịt,nấu nướng, thân thể không vẹn toàn.  Loài người ỷ mạnh hiếp yếu, nào biết tôn trọng sự sống muôn loài.  Các anh có cái khổ của các anh, chúng tôi cũng có cái khổ của chúng tôi, không có ai sung sướng cả.

Bày cá đang ở dưới mé nước nghe trâu nói mình sướng cũng không đồng tình:

–  Còn loài cá chúng tôi cũng không sung sướng đâu. Nhà cá chúng tôi thường bị loài người đánh bắt, mỗi lần bị sát hại chết đến cả bầy đàn.  Không nơi nào là nơi để chúng tôi yên tâm mà sống, đâu đâu cũng có lưới bủa câu giăng, đâu đâu cũng có bàn tay con người truy bắt.

Trâu nghe chim và cá nói thì ngao ngán thở dài não nuột:

–  Hóa ra tụi mày cũng khổ. Hiểu biết của tao hạn hẹp quá nên không biết còn nhiều nỗi khổ trên đời này.

Nói như thế rồi trâu buồn bã đi vào chuồng, nó nằm mông lung suy nghĩ về thân phận của nó và bạn bè.  Nó nghĩ, loài nào cũng bị con người hiếp đáp, làm hại.  Cuộc đời thật bất công, loài người đối xử tệ bạc với các loài khác mà lại được sung sướng, không phải chịu sự khổ sở nào.

Đang lúc đó bỗng trâu nghe tiếng quăng bát ném đĩa trong nhà vọng ra.  Nó lắng tai nghe kỹ mới biết ông bà chủ đang gây gổ.  Tiếng ông chủ gào lên:

zz–  Sao tôi khổ đến thế này, không bằng con trâu con chó nữa! Con trâu đi cày còn được nghỉ, còn tôi suốt tháng quanh năm phải bận bịu với nhà cửa, vợ con, cơm áo gạo tiền, làm quần quật đêm ngày không lúc nào rảnh rỗi.  Tôi khổ sở như vậy là vì ai?  Vậy mà bà vẫn không để cho tôi yên, hễ thấy mặt là hạch sách, càm ràm, đay nghiến.  Vừa phải thôi, làm quá tôi cho cả nhà ra chuồng trâu mà ở!

Nghe chủ nhà nói thế trâu bỗng giật mình, bất giác than rằng:

 Hóa ra sống ở trên đời đâu có ai không khổ!

Trong chúng ta, mỗi người có một hoàn cảnh, xuất thân, có một hoàn cảnh sống, có thể là vui, có thể là khổ, nhìn chung là như thế, song nếu xét cho kỹ thì không ai hoàn toàn hạnh phúc, chỉ khác nhau là ít, nhiều những nỗi vui, khổ mà thôi.  Khổ và vui đan xen, chồng chéo nhau như một mạng lưới vô hình giăng bủa cuộc đời chúng ta, không một ai thoát cả.  Người trẻ có những cái khổ của người trẻ, người già có những cái khổ của người già, người giàu có cái khổ của người giàu, người nghèo có cái khổ của người nghèo.  Dù trong hoàn cảnh nào cũng có những điều không như ý, cũng có những nỗi khổ thân, khổ tâm, hoặc cả thân tâm đều khổ.  Có ai không lo lắng, không hối tiếc, không trông mong, hy vọng điều gì?  Có ai chưa bao giờ buồn phiền, thất vọng, hay bất mãn, chán nản?  Có ai hoàn toàn khỏe khoắn, thoải mái cả về thể xác lẫn tinh thần?  Chắc chắn là không có ai!

“Tất cả những ai đang vất vả mang gáng nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.  Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.  Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.  Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.”  (Mt 11:28-30)

Sưu tầm

BẢN CHẤT KINH MÂN CÔI

zzCăn cứ vào bản chất, Kinh Mân Côi là một kinh có giá trị tuyệt đỉnh, vượt trên tất cả mọi kinh nguyện khác, xét về ba phương diện sáng tác, diễn xuất và nội dung như sau:

Về phương diện sáng tác:  Hai kinh chính họp lại thành Kinh Mân Côi, đó là Kinh Lạy Cha và Kinh Kính Mừng.  Ngoài Kinh Lạy Cha là kinh chính Chúa Giêsu dạy, Kinh Kính Mừng – kinh nòng cốt và kinh chính yếu của Kinh Mân Côi, là lời ngợi khen của Chúa Cha nói với Mẹ qua sứ thần Gabriel và của Chúa Thánh Thần nói với Mẹ qua bà thánh Isave (Lc 1,41-42).  Kinh Thánh Maria, phần cuối của Kinh Kính Mừng, là lời tuyên nhận của Chúa Giêsu nói với Mẹ qua Giáo Hội, Nhiệm Thể của Người, qua Công đồng chung Êphêsô năm 431.

Còn lời nào giá trị hơn Lời của Thiên Chúa Ba Ngôi.  Kinh Mân Côi là tổng hợp Lời của Thiên Chúa Ba Ngôi, do đó, đã có một giá trị vô cùng.  Trong một lá thơ đề ngày 04/04/1970, chị Lucia đã viết như sau: “Kinh Mân Côi là kinh nguyện đẹp lòng Thiên Chúa nhất, vì nhờ Kinh Mân Côi, chúng ta chúc tụng Ngài cách tuyệt hảo nhất.”

Về phương diện diễn xuất: Lời Kinh Mân Côi nói chung và Kinh Kính Mừng nói riêng, về nội dung, chẳng những là lời của Thiên Chúa Ba Ngôi, về hình thức, còn là lời mà cả trời đất tuyên tụng và tuyên nhận Mẹ nữa.

* Sứ Thần Gabriel là đại diện của các thần trời, đã chúc tụng khen Mẹ bằng lời của Chúa Cha, Đấng đã sai ngài đến với Mẹ (Lc 1,26): “Kính mừng Maria đầy ơn phúc!  Đức Chúa Trời ở cùng Bà.  Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ” (Lc 1,28).

* Bà Isave là đại diện của các thánh, đã chúc mừng Mẹ bằng lời của Chúa Thánh Thần, Đấng mà bà “được tràn đầy” (Lc 1,41) khi vừa nghe lời Mẹ chào: “Bà có phúc hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ” (Lc 1,42).

* Giáo Hội là đại diện của con cái Thiên Chúa nói riêng và của loài người đã được dựng nên theo hình ảnh Ngài nói chung, đã tuyên nhận Mẹ bằng lời của Chúa Giêsu là Đầu của mình (Ep 1,22): “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi này và trong giờ lâm tử.”

Trong lời kinh Thánh Maria này, Mẹ chẳng những được Giáo Hội, qua con cái mình, trực tiếp tuyên nhận Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, khi họ đọc: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời”, gián tiếp, Mẹ còn được con cái mình tuyên nhận Mẹ là Mẹ Nhân Loại nói chung và Giáo Hội nói riêng, khi đọc: “Cầu cho chúng con”, là Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, khi đọc: “là kẻ có tội”, và là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc, khi đọc: “khi này và trong giờ lâm tử”.

Do đó, còn lời kinh nào giá trị cao cả cho bằng lời kinh mà cả đất trời đồng thanh tuyên xưng và chúc tụng Đấng đã nói tiên tri về chính mình: “Thiên Chúa đã thương đến phận hèn tôi tớ của Ngài; từ nay muôn đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1,48).  Khi đọc Kinh Kính Mừng cũng là Kinh Mân Côi, chính là chúng ta hợp với tất cả trời đất cùng lời Thiên Chúa Ba Ngôi tuyên tụng Mẹ của mình vậy.

Về phương diện nội dung: Vì Kinh Mân Côi là lời Thiên Chúa Ba Ngôi chúc khen Mẹ qua các thụ tạo tốt lành của Ngài, bởi thế, Kinh Mân Côi chứa đựng một ý nghĩa vô cùng sâu xa.  Chính ý nghĩa vô cùng sâu xa này đã làm Kinh Mân Côi có một giá trị khôn sánh.

(Trích từ Chuỗi Mân Côi trong đời sống hằng ngày của tác giả Paula Hoesl do Trầm Tĩnh Nguyện phóng tác)

ĐIỀU GÌ THIÊN CHÚA ĐÃ KẾT HỢP…

zzLời Chúa trong phụng vụ Chúa nhật hôm nay mời gọi ta hướng lòng về cuộc sống hôn nhân vợ chồng.  Mời bạn cùng với tôi, chúng ta hãy lần theo những trang sách Tin Mừng để hiểu biết thêm về ý định của Thiên Chúa trong đời sống hôn nhân của con người.

Trước hết, với bài đọc thứ nhất trích từ sách Sáng Thế Ký cho ta thấy ý muốn của Thiên Chúa khi dựng nên con người có nam có nữ là để họ cùng sống chung với nhau. “Đàn ông ở một mình không tốt” (St.2:18). Và Ngài đã dựng nên người đàn bà. Người đàn bà, trước tiên là hồng ân của Thiên Chúa ban cho người đàn ông. Đây là quà tặng cao qúy nhất mà Thiên Chúa ban tặng cho người đàn ông, sau khi Ngài đã dựng nên cả vũ trụ đặt dưới chân của ông Ađam. Nhưng Ađam vẫn cảm thấy cô đơn, thiếu thốn, cho đến khi Ađam gặp được chiếc xương sườn cụt của mình là Evà, ông đã reo lên: “Đây đúng là xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi” (St.2:23).. Đó là hôn nhân đầu tiên. Từ đó người đàn ông luôn luôn đi tìm chiếc xương sườn đã bị lấy mất, còn người đàn bà luôn luôn luyến tiếc nơi mình đã xuất phát, để rồi hai người gặp được nhau, kết hợp với nhau thành một xương một thịt, một thân một thể.

Trong đoạnTin Mừng, Chúa Giêsu đã thẳng thắn gạt bỏ những dễ dãi do sự cứng lòng của con người để trở về với ý định ban đầu của Thiên Chúa. “. Nhưng lúc khởi đầu cuộc sáng tạo, Thiên Chúa đã dựng nên một người nam và một người nữ(Mc.10:6). Sự gắn bó giữa vợ chồng để trở nên một là do Thiên Chúa thiết lập. “Vì thế người đàn ông sẽ lìa cha mẹ để luyến ái với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt.(Mc.10:7).

Tiếp nối vào đó, trong thư gởi tín hữu Ephêxô, thánh Phaolô còn xác quyết: Sự gắn bó ấy còn là hình ảnh tượng trưng cho sự kết hợp giữa Đức Kitô và Giáo Hội (Ep.5:24).  Một sự kết hợp làm nên cuộc sống mới.  Bởi đó, “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”.(Mc.10:9),  vì phá đổ sự kết hợp này chính là phá đổ công trình của Thiên Chúa, là bôi bác hình ảnh của Thiên Chúa đã có đó trong cuộc sống hôn nhân.

Không phải ngẫu nhiên mà phép lạ đầu tiên Chúa Giêsu đã làm trong một đám cưới tại làng Cana.  Đây là dấu chỉ về sự hiện diện của Nước Trời giữa trần gian, đây cũng  là sự chúc phúc của Thiên Chúa dành cho đời sống hôn nhân vợ chồng của con người.

***

Lạy Chúa! Ngày nay, nhiều gia đình đang đối diện với khủng hoảng trầm trọng. Chồng bỏ vợ, vợ bỏ chồng, con cái thì bơ vơ vất vưởng không người chăm lo săn sóc.  Xin ban ơn giúp sức để vợ chồng biết trung thành và gắn bó kết hợp với nhau trong cuộc sống yêu thương gia đình.

Xin cho hai vợ chồng, mỗi người bớt một chút ích kỷ, thêm một chút khiêm tốn, bớt một chút tự ái, thêm một chút phục vụ, bớt một chút tự do đam mê, thêm một chút hy sinh tha thứ… Nhờ đó họ biết cộng tác với Ơn Chúa trong việc bảo vệ và chăm bón tình yêu gia đình. Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas

THÁNH PHANXICÔ VÀ TÌNH YÊU THẬP GIÁ

Người Kitô hữu trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng có thói quen đi đàng Thánh Giá vào các mùa Phụng vụ trong năm, nhất là Mùa Chay, nhằm suy niệm mầu nhiệm khổ nạn của Chúa Giêsu. Qua việc đạo đức bình dân này, người ta muốn thông phần vào các đau khổ mà Chúa Giêsu xưa đã chịu để cứu chuộc muôn người; đồng thời, họ cũng cảm tạ tình yêu bao la của Thiên Chúa đối với con người.  Và thập giá là bằng chứng của tình yêu cao cả ấy.

zzKinh nghiệm của thánh Phanxicô về tình yêu thập giá Chúa Kitô là một bài học quý giá, giúp chúng ta sống phong phú hơn tâm tình của Mùa Chay thánh và hành trình bước theo Đức Kitô trong cuộc sống lữ hành.

Người ta vẫn thường cho rằng việc sùng kính Thánh Giá qua việc Đi Đàng Thánh Giá bắt nguồn từ thánh Phanxicô Assisi, đã được phong trào Phan Sinh về sau phổ biến rộng rãi và tồn tại đến hôm nay.  Chúng ta không bận tâm đến tính xác thực của nhận định này, nhưng khi chúng ta chiêm ngắm cuộc đời của thánh Phanxicô, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, mầu nhiệm thập giá đã gắn bó thân thiết với ngài trong suốt hành trình hoán cải và bước theo Chúa Kitô.

Thánh giá xuất hiện vào lúc khởi đầu cuộc đời hoán cải của thánh Phanxicô là giấc mơ về những vũ khí in hình thánh giá ở Spô-lê-tô, khi ngài đang trên hành trình tìm mộng công danh như bao chàng trai khác, trong tư cách là một hiệp sĩ.  Kể từ đó, ngài chọn con đường thập giá và nó đã theo ngài dọc suốt cuộc đời.  Vào năm cuối đời, thánh Phanxicô được in năm dấu thánh trên thân thân ngài, ở đỉnh núi Alverna.

Chuyện “Những Bông Hoa Nhỏ” kể lại rằng: “Sáng tinh sương ngày 14 tháng 9 năm 1224, tức là ngày lễ Suy tôn Thánh giá, trên đỉnh Alverna đã xảy ra một phép lạ tân kỳ.  Lúc mặt trời gần dải lên nền trời những tia sáng vàng tươi, Phanxicô quì tựa lưng vào một tảng đá, hướng về phương đông, mắt tuôn đôi hàng lệ, ngài than thở: “Lạy Chúa, trước lúc qua khỏi đời này, con chỉ xin Chúa ban cho con hai ơn: Một là, xin Chúa cho tâm hồn cũng như thể xác con cảm thông hết nỗi đau đến thê thảm Chúa chịu trong giờ tử nạn; hai là, xưa kia khi Chúa tử nạn, Chúa yêu loài người tội lỗi chúng con đến độ nào, thì xin cho lòng con cũng được yêu Chúa đến độ ấy”.  Bỗng vụt như làn chớp, một thiên thần Chí ái tự trời bay xuống.  Sáu cánh chói loà.  Hai cánh phủ đầu, hai cánh dương bay và hai cánh khép che toàn thân. Thiên thần hiện xuống đứng trên phiến đá, rõ hình một người chịu đóng đinh vào thánh giá.  Thiên thần ấy chính là Chúa Giêsu tử nạn, mặc hình người hiện đến với Phanxicô.  Ngài nhìn Phanxicô, đôi mắt như thiết tha, như thiêu cháy cả tâm hồn rồi vụt biến.  Phanxicô quỵ xuống, ngất đi.  Khi bừng tỉnh dậy, ngài thấy tay chân đã bị đinh đóng thâu qua.  Đầu đinh tròn và đen nổi rõ giữa lòng bàn tay và trên mặt bàn chân.  Đinh đóng thâu qua tay chân, mũi đinh quắp lại trên lưng bàn tay và giữa gan bàn chân.  Ngực bên phải, cạnh trái tim, dấu một lưỡi đòng đâm qua còn nguyên nét, máu chảy rìn rịt thấm ướt đến tận lớp áo ngoài”.

Có thể nói, cả cuộc đời thánh Phanxicô cô là một hành trình vác thập giá theo chân Chúa: “Ai muốn theo ta thì phải từ bỏ mình vác thập giá mình mà theo ta”.  Và ngài đã được diễm phúc đón nhận năm dấu thánh như Chúa Giêsu năm xưa, nghĩa là được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô chịu đóng đinh.  Đó chính là đỉnh cao của tình yêu thập giá của thánh nhân với Đức Kitô chịu đóng đinh.

Một sử gia Phan Sinh đã nhận định rất hay về mối tình thập giá của ngài rằng: “Thánh Phanxicô ca ngợi không những cuộc khổ nạn của Chúa với tâm tình tri ân, nhưng là tất cả công trình cứu chuộc của Đức Kitô, trong đó tình yêu của Thiên Chúa đổ xuống trên chúng ta một cách thật rõ ràng.  Đứng trước tình yêu bao la đó của Thiên Chúa, Phanxicô đã đáp trả bằng một tình yêu nóng bỏng và ngọt ngào trong trái tim người”.

Thật vậy, Thánh Giá mà chúng ta tưởng niệm trong phụng vụ, nhất là phụng vụ Mùa Chay như muốn minh chứng một chân lý cao cả: “Vì yêu thương chúng ta, Chúa Kitô đã không ngần ngại một hành vi nào, cho dù phải đổ máu và chết nhục nhã trên thập tự”.  Chính vì thế, tình yêu của Thiên Chúa mới trở nên trọn vẹn đối với chúng ta.  Một tình yêu mà chúng ta không thể hiểu thấu bằng lý trí, nhưng bằng cảm kích của con tim trong đời sống tâm linh.  Điều này đã thể hiện trên cuộc đời và con người của thánh Phanxicô.  Ngài đã hiểu, đã cảm nếm, và đã sống mầu nhiệm Thánh Giá ấy bằng một tình yêu cháy bỏng và thẳm sâu.

Hơn hai ngàn năm qua, người Kitô hữu, môn đệ của Chúa Kitô trong hành trình tiến về vĩnh cửu, không có con đường nào khác con đường thập giá.  Nhưng con đường thập giá là con đường khó đi, gian khổ, khiến cho bao người phải ngập ngừng lui bước.  Đúng vậy! nhưng qua cái chết của Chúa Giêsu, một luồng ánh sáng đã chiếu dọi vào từng nỗi khổ đau của con người và cho đau khổ một ý nghĩa mới: “Vì bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách” (Dt 2, 18).  Thập Giá Chúa sẽ nâng đỡ chúng ta.  Từ nay thập giá không còn là một chướng ngại trong cuộc sống, nhưng là con đường tình yêu dẫn đến sự sống đích thực, nếu chúng ta dám hy sinh, chấp nhận mọi khổ đau trong cuộc sống với tâm tình yêu thương và vâng phục.

Trong hành trình đó, gương của thánh Phanxicô vẫn luôn soi đường chỉ lối cho chúng ta tiếp tục cuộc hành trình,với niền tin yêu hy vọng được trở nên thủy chung với mối tình thập giá Chúa Kitô.

Lạy thánh Phanxicô, xin ngài ghi sâu trong lòng chúng con những nỗi thống khổ của Chúa Giê-su, đặt vào trong sâu thẳm con tim chúng con tình yêu nóng bỏng và ngọt ngào của Đức Kitô, để giúp chúng con yêu mến Ngài hơn, dâng hiến đời sống chúng con cho Ngài và để chúng con được cùng Ngài và anh chị em chúng con dự phần vào tình yêu thập giá của Ngài.

Quang Huyền, OFM

 

THÁNH THIÊN THẦN BẢN MỆNH BẢO VỆ GIỮ GÌN

zzNgược dòng thời gian về tháng 7 năm 1944.  Hồi ấy nước Đức đang tình trạng xôn xao hỗn loạn của thời kỳ gần chấm dứt thế chiến thứ hai.

Quân Đồng Minh đổ bộ lên Normandie (Bắc Pháp) và tìm cách đánh phá, đẩy lui cùng tiêu diệt trọn quân đức quốc xã.  Lúc bấy giờ quân Đức bệ rạc, thất trận nặng nề trên nhiều chiến trường thế giới.

Nơi một làng nhỏ ở Bavière (Nam Đức) dân làng sống cảnh tạm yên.  Trong làng chỉ lơ thơ vài nông trại với ngôi thánh đường nho nhỏ. Người dân vừa làm việc đồng áng, chăn nuôi, nội trợ, vừa thỉnh thoảng ngước mắt nhìn trời.  Họ cẩn thận dò xem có biến động nào, có chiến cơ, trực thăng nào bất ngờ xuất hiện hầu nhanh chóng rút vào nơi trú ẩn.  Từ 4 năm qua, mọi dân làng đều sống cảnh phập phồng lo sợ như thế.

Vào một buổi chiều đẹp trời tháng 7 năm ấy – 1944 – Helga xách bình sữa nhanh nhẹn tiến vào rừng hái trái dại.  Helga là thiếu nữ đồng quê duyên dáng ở tuổi 15.  15 tuổi, nhưng cô có vóc dáng cao lớn đẫy đà như bao thiếu nữ Đức cùng tuổi.  Helga biết rõ khu rừng, thuộc lòng nơi nào có đám phúc-bồn-tử và đám dâu dại mơn mởn, thơm phức!

Cô tiến thẳng đến chỗ quen biết.  Nhưng khi tới nơi Helga bỗng ngỡ ngàng khám phá ra “ai đó” đánh hơi trước, đã nhanh chân tìm đến và hái trọn đám dâu dại ngon lành!  Tuy nhiên, cô thiếu nữ đồng quê tràn đầy niềm vui và nhựa sống, không thất vọng!  Cô biết rõ còn nhiều đám dâu dại khác, cũng thơm ngon.  Chỉ có điều hơi ái ngại là các đám dâu này lại ở tận rừng sâu.

Không ngần ngừ do dự lâu, cô gái nhanh nhẹn tiến thẳng vào rừng…  Đang nhẹ nhàng bước, bỗng Helga nghe có tiếng động đâu đó, không xa.  Cô gái giật mình dừng lại nghe ngóng, xem thử vật gì.  Tiếng động đến gần và một người đàn ông xuất hiện.  Nhìn nét mặt, Helga hiểu ngay ông sẵn sàng làm bất cứ điều ác nào.

Thân mình ốm tong teo trong bộ quần áo cũn cỡn, người đàn ông chòng chọc nhìn cô thiếu nữ. Sau một lúc, ông cất tiếng nói trong thứ ngôn ngữ rừng rú, đầy căm thù và oán hận:

–  Mày phải trả giá thay cho mọi người về tất cả những gì tao phải gánh chịu đau khổ trong bao lâu nay!

Đứng im hãi hùng nghe ông nói, Helga biết rõ mình sẽ không sống sót khi ra khỏi khu rừng.  Cô cũng biết chắc mình sẽ chết như thế nào sau khi phải chịu đủ thứ cực hình ghê tởm nhất.

Ý tưởng duy nhất đến với cô trong lúc này là lời cầu xin tha thiết cô dâng lên Thánh Thiên Thần Bản Mệnh.  Helga thầm thĩ kêu van:

–  Ôi Thánh Thiên Thần Bản Mệnh của con, xin hãy đến, hãy đến cứu giúp con!

Đối diện với người đàn ông, Helga hoàn toàn kinh hãi, đứng im như trời trồng.  Vừa đăm đăm nhìn cô thiếu nữ ông vừa rút con dao găm rồi từ từ tiến đến gần.  Có một lúc, Helga như trông thấy ông tỏ dấu chần chờ, nhưng rồi ông lại tiếp tục, cho đến khi đứng trước mặt cô.  Ông dí con dao vào ngực Helga.  Cô gái vẫn đứng im không nhúc nhích, chờ đợi giây phút bị con dao đâm thẳng vào ngực.

Bỗng, Helga vô cùng ngạc nhiên khi thấy ông hạ giọng, đặt câu hỏi:

– Những người này là ai vậy?  Hãy trả lời, họ là ai?

Helga chỉ ấp úng đáp:

– Tôi không biết! Quả thật, tôi không biết!

Người đàn ông quay lưng, sau khi giơ nắm tay, tỏ dấu đe dọa.  Rồi ông biến mất vào rừng.

Sau khi hoàn hồn, Helga vội vã ra khỏi rừng không còn nghĩ đến chuyện hái dâu dại nữa.  Về đến nhà, Helga vui mừng ôm chầm lấy Mẹ, nức nở khóc.  Cô thiếu nữ biết rõ chính Thánh Thiên Thần Bản Mệnh đã cứu cô.  Tuy nhiên, Thiên Thần Bản Mệnh không đơn độc mà còn mang theo nhiều Thánh Thiên Thần khác, bằng chứng là người đàn ông lúng túng hỏi:

– Những người này là ai vậy?  Hãy trả lời, họ là ai?

Giờ đây, bà Helga là mẹ và là bà ngoại, bà nội rồi.  Nhưng không một ngày qua đi mà bà không nhớ đến và cảm tạ sự trợ giúp của các Thánh Thiên Thần, đã cứu bà thoát hiểm nguy.  Toàn gia đình bà cũng đặc biệt tỏ lòng sùng kính các Thánh Thiên Thần Bản Mệnh.

… “Hỡi ai nương tựa Đấng Tối Cao và núp bóng Đấng Quyền Năng tuyệt đối, hãy thưa với Chúa rằng: “Lạy THIÊN CHÚA, Ngài là nơi con ẩn náu, là đồn lũy chở che, con tin tưởng vào Ngài”. Chính Chúa gìn giữ bạn khỏi lưới kẻ thù giăng, khỏi tai ương tàn khốc.  Chúa phù trì che chở, dưới cánh Người, bạn có chỗ ẩn thân: Lòng Chúa tín trung là khiên che thuẫn đỡ…  Bạn sẽ không gặp điều ác hại, và tai ương không bén mảng tới nhà, bởi chưng Người truyền cho thiên sứ giữ gìn bạn trên khắp nẻo đường, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng cho bạn khỏi vấp chân vào đá.  Bạn có thể giẫm lên hùm thiêng rắn độc, đạp nát đầu sư tử khủng long” (Thánh Vịnh 91,1-4/10-13).

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt