VĨNH BIỆT

zzNghe từ “vĩnh biệt” tự nhiên lòng chúng ta chùng xuống.  Sao mà thấy xa vời và não lòng quá.  Lời vĩnh biệt làm cho lòng xôn sao rụng rời.  Một bước hẫng mất mát.  Sự hiện diện bị cắt đứt.  Không còn gặp nhau nữa.  Ra đi mãi mãi ngàn thu.  Không phải một Thu mà ngàn Thu.  Mỗi độ Thu về, lá cây đổi màu vàng úa và rụng xuống.  Cảnh Thu thật buồn.  Từng chiếc, từng chiếc lá khô héo và rụng bay theo chiều gió.  Lá Thu rơi vĩnh biệt.  Từ những lá già đến những lá non mới trổ đều lần lượt ra đi để cành cây trơ trụi.  Không có lúc khởi đầu thì cũng chẳng có kết thúc  Không có sinh thì không có tử.  Không có lúc chào đời thì không có lúc lìa đời.  Không có mối liên hệ thì cũng chẳng có giây phút vĩnh biệt.  Liên hệ càng sâu đậm, sự chia ly càng buồn đau.  Sự vĩnh biệt chia cách nào mà con tim không rướm máu.

Sinh ra là sự khởi đầu.  Chết là đến cùng đích.  Sống là cuộc lữ hành.  Lữ hành trần thế làm cho chúng ta đi từ trạng thái này đến trạng thái khác.  Từ non nớt đến trưởng thành.  Từ dại khờ đến sự hiểu biết. Từ yếu đuối đến mạnh sức.  Từ sự cô đơn đến tình yêu nồng ấm.  Từ vui mừng đến lòng biết ơn.  Từ khổ đau đến sự cảm thương và từ sợ hãi đến niềm tin.  Niềm tin vào Chúa Kitô đã chết và đã sống lại. Chúa Kitô sống lại là niềm xác tín và là hy vọng của chúng ta.

Chúng ta đang sống nhưng chúng ta không hiểu về mầu nhiệm của sự sống.  Hết sống là đi vào cõi chết.  Sách Giảng Viên nói rằng có sự ấn định thời gian cho mọi sự: Một thời để chào đời, một thời để lìa thế; một thời để trồng cây, một thời để nhổ cây; một thời để giết chết, một thời để chữa lành; một thời để phá đổ, một thời để xây dựng; một thời để khóc lóc, một thời để vui cười; một thời để than van, một thời để múa nhảy (Gv 3,2-4).  Trong cuộc lữ hành dưới thế, mọi người đều trải qua những phát triển căn bản như nhau.  Rồi từng người cũng từ từ tách ra khỏi cuộc đồng hành.  Giống như khi chúng ta bước lên chuyến tàu và mỗi người xuống một trạm khác nhau.  Ai cũng phải xuống trạm.  Trạm cuộc đời cũng thế, không ai có thể bỏ cái trạm sau cùng là sự chết.

Có biết bao người khắc khoải đi tìm ý nghĩa của sự chết.  Nhiều người không biết rằng sau khi chết, số mệnh mỗi người sẽ ra sao?  Chết có phải là hết không?  Nếu không, chúng ta sẽ đi về đâu?  Trải dài suy tư mọi thời để tìm giải đáp, con người vẫn còn bị bế tắc trước mầu nhiệm của sự chết.  Văn minh khoa học giúp con người nghiên cứu học hỏi về sự sống để giúp giữ gìn sức khoẻ và chữa lành những bệnh tật, nhưng khi đã tắt thở thì con người đành bó tay.  Khoa học chỉ có thể trả lời cho vấn đề sự sống, sự chết về khía cạnh thực nghiệm và thể chất.  Mầu nhiệm của sự chết vẫn là một điều bí ẩn của niềm tin.

Ai trong chúng ta cũng có một chút kinh nghiệm về sự chết mòn.  Sự chết của một tế bào, của một sợi tóc rụng xuống và sự chết dần chết mòn của trí khôn quên xót và xác thân hao gầy, đuối sức mỗi ngày. Nhưng không một ai có thể chia sẻ kinh nghiệm của cái chết hoàn toàn khi đã tắt thở lìa đời.  Một khắc giây cách biệt muôn đời giữa sự sống và sự chết.  Hai thế giới sống chết tách biệt ngàn trùng.  Không có chiếc cầu nối liên hệ.  Chết là chấm dứt và là vĩnh biệt.  Đứng trước cái chết của người thân, chúng ta mới thực sự cảm thấy sự mất mát, đau lòng, tiếc nuối và thương nhớ là dường nào.

Hy vọng là nguồn sống của mỗi người chúng ta.  Những người thân thuộc trong gia đình, anh chị em bạn bè và ân nhân tạo thành mỗi liên hệ gần.  Càng gần thì càng thân.  Thân thuộc thì không muốn chia lìa xa cách.  Chúng ta chỉ muốn nói lời tạm biệt, hẹn gặp lại và mong có dịp lại cùng xum họp.  Đâu ai muốn cắt bỏ đoạn tuyệt và nhất là nói lời vĩnh biệt.  Vĩnh biệt như một bước hẫng.  Thôi, người thân đã ra đi và ra đi mãi mãi.  Kể từ nay chúng ta không gặp nhau, thấy nhau hay truyện trò với nhau được nữa.  Chấm hết rồi.

Biết rằng không sớm thì muộn, ai ai cũng phải ra đi.  Có những người ra đi để lại muôn ngàn nhớ thương.  Có những người ra đi đã gây sự sầu héo, đơn côi giá lạnh và héo hon cho mảnh hồn còn lại. Sự ra đi đơn côi làm cho nhiều người lo lắng sợ hãi.  Trong niềm tin của Kitô hữu, chúng ta tin tưởng rằng chết không phải là hết.  Chết chỉ là qua đời.  Chết là ra đi vào một thế giới khác.  Chết là quy tiên. Chết là tạ thế.  Chết là sự tách biệt giữa linh hồn và thể xác. Mỗi người bước vào đời một mình và cũng sẽ ra đi một mình.  Cuộc ra đi rất xa không ngày trở lại.  Chết là ra đi về nhà Cha.  Muốn hưởng hạnh phúc vĩnh cửu phải bước qua cửa ngõ của sự chết.  Nói chung, ai cũng sợ phải chết.  Cho dù chúng ta tin rằng có chết đi mới được lên thiên đàng nhưng chẳng ai muốn chết sớm.  Yêu mến thiên đàng nhưng chúng ta vẫn muốn sống.

Mỗi lần đi cầu nguyện viếng xác, nhìn xác không hồn nằm đó lạnh lẽo.  Của cải trần gian trở thành vô nghĩa.  Tình đời bon chen xuôi ngược, giờ đây chỉ có hai bàn tay trắng lạnh cóng.  Sau ít ngày, thân xác sẽ tiêu tan và trở về cát bụi.  Người ra đi là đi vào giấc ngủ ngàn thu.  Họ không còn vấn vương bụi trần.  Họ vào đời với hay bàn tay trắng và cũng ra đi thanh thản chẳng mang theo chi.  Người chết ra đi vĩnh biệt nhưng người sống vẫn tiếp tục cuộc sống với bao thăng trầm.  Chúng ta biết rằng cho dù có mặt của chúng ta hay không, tàu vẫn chạy chuyến đi chuyến về mỗi ngày.  Mặt trời vẫn vươn lên mỗi buổi sáng và lặn xuống khi chiều về.  Xã hội và môi trường chung quanh cứ tiếp tục vận hành.

Trong niềm tin Kitô giáo, chúng ta được ngụp lặn trong tình yêu của Thiên Chúa.  Dù sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa.  Chúa tạo dựng con người có hồn có xác giống hình ảnh của Chúa.  Thiên Chúa ban cho con người có tình yêu liên đới để con người được sống trong tình yêu và chết trong tình yêu.  Chính Đấng làm chủ sự sống đã hiến mình trên thập giá để diệt trừ sự chết.  Sự chết không còn làm chủ được Người nữa như hạt lúa mì bị chôn vùi và hư nát rồi mới sinh bông hạt.  Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác (Ga 12,24).  Chúa Kitô chịu chết để đem lại sự sống cho con người.  Chúa Giêsu phán: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống.  Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống” (Ga 11,25).

Như vậy, đối diện với sự chết chúng ta không còn phải quá sợ hãi.  Sự chết là cửa dẫn chúng ta vào sự sống đời đời.  Chúng ta đã có Chúa Giêsu dẫn đường về quê trời.  Chính Chúa Giêsu đã hứa: Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em (Ga 14,2).  Tin lời Chúa hứa, chúng ta vững bước trong mọi hoàn cảnh dù sống dù chết.  Sau khi lìa cõi trần, chúng ta sẽ được diện kiến với chính là Đấng mà chúng ta tôn thờ. Ngài sẽ đón nhận chúng ta vào nhà Cha trên trời.

Nhớ rằng hành trang về nhà Cha không phải là vàng bạc châu báu ở đời, cũng không là danh vọng trần thế mà là bảo chứng của tình yêu.  Bao nhiêu yêu thương chúng ta đã chia sẻ; bao nhiêu việc lành và phúc đức đã thực hiện; khi trở về cõi phúc, chúng ta phải chuẩn bị món quá quý báu dâng Chúa; Chúa không nhận của cải vật chất nhưng Chúa sẽ đón nhận một tâm hồn khắc khoải yêu thương.  Chúa sẽ lấp đầy tình yêu trong trái tim rộng mở.  Vui sướng biết bao khi được Chúa lại đến đón chúng ta về: Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó (Ga 14,3).

Tháng Các Linh Hồn là thời gian giúp chúng ta suy nghĩ về chính cuộc đời của mình.  Cầu nguyện cho các linh hồn là chúng ta đang cầu nguyện cho chính chúng ta. Rồi một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ tới đích cùng của cuộc đời.  Ngày đó đến bất chợt như chớp sáng loè từ chân trời này đến chân trời kia. Chúng ta không biết chính xác ngày giờ.  Cách tốt nhất là chúng ta luôn trong tư thế chuẩn bị dầu đèn sẵn sàng.  Ngày đó chắc chắn sẽ đến và sẽ là ngày vui mừng xum họp. Niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh là nguồn hy vọng duy nhất của cuộc lữ hành trần thế này.  Chúa Kitô là Chúa của sự sống.  Nước của Chúa là nước của kẻ sống.  Chúng ta sẽ gặp nhau lại trong Nước của Chúa, nơi đó sẽ không còn khóc lóc, than van, sợ hãi, đau khổ và chia ly.  Nước Chúa là nơi xum họp trong an vui hạnh phúc.  Nơi đó không có từ ngữ Vĩnh Biệt mà là yêu thương hợp nhất.

Lạy Chúa, con suy tư về sự chết nhưng con vẫn sợ chết.  Con muốn được tham dự bàn tiệc Nước Trời nhưng con không muốn dứt tiệc tùng nơi trần thế.  Con muốn lên thiên đàng nhưng con lại cứ bám víu của cải trần gian.  Con muốn làm điều tốt nhưng con lại cứ sa vào dịp tội.  Cuộc lữ hành trần thế còn nhiều chông gai và thử thách.  Chúng con vẫn tiếp tục được sống.  Sự sống là quà tặng Chúa ban. Thiên Chúa có quyền quyết định số phận của mỗi người.  Sự sống dài hay ngắn hoàn toàn nằm trong sự quan phòng của Thiên Chúa.  Chúng con xin vâng ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Chúng con chỉ biết dâng lời cảm tạ và ngợi khen Chúa đã cho chúng con sống ngày hôm nay trọn vẹn trong tình yêu của Chúa.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

SUY TƯ THÁNG MƯỜI MỘT

zzTháng Mân Côi qua, Tháng Cầu Hồn đến.  Đến hẹn lại lên…

Tháng Cầu Hồn là Tháng Mười Một, tháng dành riêng cầu cho các linh hồn, nhưng không chỉ cầu nguyện cho những người đã vào cõi vĩnh hằng mà còn là lời nhắc nhở chính mình “là bụi tro và chắc chắn sẽ trở về bụi tro” – dù trẻ hay già, dù giàu hay nghèo, dù sang hay hèn, dù quyền thế hay cô thân, dù tài hoa hay bình thường, dù xinh đẹp hay xấu xí, dù bề trên hay bề dưới… Đó là định-luật-muôn-thuở!

Vẫn biết “sinh ký, tử quy” (sống là GỬI, chết là VỀ).  Có ai lại không muốn “về” sau những ngày “lưu vong”?  Nhưng có lẽ nhiều người vẫn ngần ngại khi đến lúc “lên đường về quê”.  Đó là lẽ thường tình của nhân sinh.

Cố Ns. Trịnh Công Sơn đã trăn trở: “Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi để một mai tôi về làm cát bụi?”  Và hạt đó cũng có lúc thấy “mệt nhoài”, khó hiểu, vì không biết “tiếng động nào gõ nhịp trong tôi”.

Bất kỳ ai cũng một lần đối diện Tử thần, dù đang ở độ tuổi nào, có sinh ắt có tử, có khởi đầu thì cũng có kết thúc.  Tháng Mười Một không chỉ cầu cho các linh hồn mà còn mời gọi chúng ta suy tư về sự chết, nhìn lại thân phận bất túc, nhỏ bé, yếu đuối và mỏng dòn của mình để nỗ lực “hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện”, không được quên “mình là cát bụi và sẽ trở về cát bụi”.

Cuộc sống không nên tính bằng chiều dài mà bằng chiều sâu và chiều rộng.  Có cái chết vô ích và có cái chết ý nghĩa.  Có người chết trẻ mà được khâm phục và nhớ mãi, nhưng có người chết già mà không được ai quan tâm hoặc nhắc đến.

Têrêsa Hài Đồng Giêsu chỉ sống 24 tuổi.  Lm. Maximillien Kolbe đã sẵn sàng chết thay một bạn tù ở Đức, vì ngài thương anh ta còn vợ con.  Chính cựu tù nhân đó đã đến dự lễ phong thánh cho ngài do ĐGH Gioan Phaolô II cử hành.  Chiara Luce Badona chỉ sống 19 năm (1971-1990) nhưng đã sống trọn Ý Chúa, ĐGH Bênêđictô XVI đã tôn phong chân phước cho Chiara ngày 25-9-2010.  Đức Kitô đã xác định: “Không tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến mạng sống mình vì bạn hữu” (Ga 15,13).

Trần gian cho đó là ngu dại, là điên khùng, là thua thiệt.  Nhưng chính Đức Giêsu đã tiên phong nêu gương khi thực hiện như vậy.  Với con người là ngu xuẩn thì với Thiên Chúa lại là khôn ngoan.

Thánh Phaolô xác định: “Chết là giải thoát, là một mối lợi” (Pl 1,21).  Có sống tốt thì cái chết mới thực sự lợi ích.  Nói dễ, làm khó.  Sống tốt không chỉ là tránh điều ác mà còn phải tích cực làm điều thiện.  Thật không hề đơn giản!  Trong thư gởi cho cha, thiên tài âm nhạc Mozart đã viết: “Con không bao giờ đi ngủ mà không nghĩ rằng có thể con không còn thấy ngày mai nữa.  Sự chết là mục đích thực sự của đời sống.  Từ vài năm qua, con đã quen với người bạn tuyệt vời đó.  Hình ảnh người bạn đó không làm con sợ mà còn cảm thấy người bạn đó hiền lành và cởi mở”.

Là con người, có lẽ ai cũng từng hơn một lần khắc khoải về thân phận mình.  Thánh Augustinô có kinh nghiệm: “Hồn con luôn bồi hồi xao xuyến cho đến khi được an nghỉ trong Chúa”.  Thánh Catharine so sánh: “Đời sống là cây cầu, hãy đi qua chứ đừng dừng lại trên đó”.  Cuộc đời là tạm bợ, Nước Trời mới là Quê Thật của những ai theo Chúa, thuộc về Chúa và hành động đúng Ý Chúa.  Quả thật:  Bỏ Ngài thì con biết theo ai?  Vì không có Ngài thì con không làm được gì!

Cụ thi hào Nguyễn Du viết trong Truyện Kiều: “Bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao”.  Đó cũng là trăn trở về thân phận con người, người Công giáo nhìn nhận đó là Thánh Ý Chúa.  Khó là chúng ta có can đảm vui nhận hay không.

Trong Kinh Hoà Bình, Thánh Phanxicô Assisi nhận định: “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.  Chết không là thua thiệt, chết không là hết, mà chết chỉ là chấm dứt cuộc đời dương thế để chuyển bước vào cuộc sống vĩnh hằng, tận hưởng hạnh phúc vĩnh cửu, chiêm ngưỡng Tôn Nhan Thiên Chúa và thuộc về Ngài vĩnh viễn.

Lạy Thiên Chúa Phục Sinh, xin xót thương cho các linh hồn về hưởng Tôn Nhan Chúa muôn đời, xin cho chúng con thêm vững mạnh ba đức đối thần (Tin, Cậy, Mến) và phát triển các đức đối nhân (yêu thương, nhịn nhục, chịu luỵ, đại lượng, nhân hậu, cảm thông, tha thứ, chia sẻ,…) để sống trọn Thiên Ý theo lệnh Ngài truyền dạy phải “sống hoàn thiện” (Mt 5,48).  Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con.  Amen!

Thom. Aq. Trầm Thiên Thu

 

ÁNH MẮT THIÊN CHÚA

Người làm sao chiêm bao làm vậy.  Tâm hồn thế nào sẽ bộc lộ ra trong ánh mắt thế ấy.  Hôm nay, Chúa Giêsu ngồi trước cửa đền thờ Giêrusalem quan sát những người bỏ tiền vào hòm dâng cúng trong đền thờ.  Người đã thấy. Và đã phán đoán. Qua cách quan sát và phán đoán ta có thể thấy được tâm hồn của Người.

***

Chúa quan tâm tới những người bé nhỏ. Hàng hàng lớp lớp người tiến đến dâng cúng. Tin Mừng thuật lại: “Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà góa nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng bạc Rôma”. Thật lạ lùng. Biết bao nhiêu người Chúa chẳng quan tâm, chỉ quan tâm tới một người bé nhỏ nhất. Chúa chỉ quan tâm tới một người nghèo nhất. Một bà góa. Bà góa này chắc chắn phải gầy gò bé nhỏ, ăn mặc rất đơn sơ. Nhưng Chúa đã chú ý đến bà. Người ta bảo tìm gì gặp nấy. Chúa yêu thương những người bé nhỏ, nên quan tâm tới người bé nhỏ và chỉ nhìn thấy những người bé nhỏ. Ánh mắt quan tâm nên nhìn thấy rõ, dù người đó bé nhỏ, lạc giữa đám đông. Ánh mắt yêu thương nên thấy người đó thật đẹp dù ăn mặc rất đơn sơ, hình dáng rất tiều tụy. Quả thật trái tim Chúa nhân hiền như người mục tử tốt lành, bỏ chín mươi chín con chiên béo tốt để đi tìm một con chiên lạc còm cõi. Như người phụ nữ đốt đèn tìm một đồng tiền nhỏ bé rơi trong góc nhà.

Chúa nhìn bên trong tâm hồn. Biết bao người giàu sang béo imgrestốt quần là áo lụa, nhưng Chúa không nhìn.  Chúa chỉ nhìn người phụ nữ nghèo nàn, gầy gò, rách rưới.  Biết bao người dâng cúng tiền rừng bạc biển mà Chúa chẳng khen. Chúa chỉ khen người phụ nữ bỏ vào thùng tiền hai đồng xu nhỏ. Không những khen mà Chúa còn cho rằng bà này bỏ nhiều hơn những người khác. Thì ra Chúa đánh giá không dựa theo khối lượng nhưng dựa theo chất lượng. Chúa không nhìn bề ngoài nhưng nhìn vào tấm lòng. Chúa cho biết tại sao Chúa khen bà: “Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống”.  Chúa đã nhìn thấu tâm hồn của bà.  Một tâm hồn thiết tha yêu mến Chúa và với công việc nhà Chúa. Chúa đã thấy tấm lòng của bà. Một tấm lòng quảng đại dám cho đi tất cả những gì cần thiết cho đời sống của mình.

Lời Chúa hôm nay vừa cảnh tỉnh tôi vừa dạy dỗ tôi về cách sống đạo và về cách nhìn người.

Về cách nhìn người, Chúa dạy tôi đừng chạy theo những người giàu sang phú quý quyền cao chức trọng, nhưng hãy biết chú ý tới những người bé nhỏ nghèo hèn trong xã hội. Đừng xét đoán người theo hình dáng bề ngoài, theo y phục hay theo tiền của. Hãy biết nhìn bên trong tâm hồn con người. Có những người có địa vị cao nhưng tâm hồn lại thấp hèn. Có những người nghèo hèn nhưng tâm hồn rất cao thượng. Có những người giàu có nhưng rất bủn xỉn. Có những người nghèo khó nhưng rất quảng đại.

Vì thế trong đời sống đạo, Chúa dạy tôi đừng giả hình vì Chúa nhìn thấu rõ tâm hồn. Tôi có thể lừa dối người khác, nhưng không thể lừa dối Chúa. Đừng khoe khoang kiêu ngạo vì Chúa chỉ yêu thích tâm hồn bé nhỏ khiêm nhường. Đừng tìm chỗ đứng trong xã hội, trước mặt người đời, nhưng hãy tìm chỗ đứng trong lòng Thiên Chúa.

***

Lạy Chúa, xin dạy con biết noi gương bà góa nghèo, biết sống đơn sơ chân thật, nhưng luôn quảng đại với Chúa và với anh em. Amen.

TGM. Ngô Quang Kiệt

 

PHÔI PHA  

zzÔm lòng đêm / nhìn vầng trăng mới về / nhớ chân giang hồ / ôi phù du / từng tuổi xuân đã già / một ngày kia đến bờ / đời người như gió qua.

Không còn ai / đường về ôi quá dài / những đêm xa người / chén rượu cay / một đời tôi uống hoài / trả lại từng tin vui / cho nhân gian chờ đợi.

Về ngồi trong những ngày / nhìn từng hôm nắng ngời / nhìn từng khi mưa bay / có những ai xa đời quay về lại / về lại nơi cuối trời / làm mây trôi.

Thôi về đi / đường trần đâu có gì / tóc xanh mấy mùa / có nhiều khi / từ vườn khuya bước về / bàn chân ai rất nhẹ / tựa hồn những năm xưa.

            Trịnh Công Sơn

******************************************************

“Ôm lòng đêm, nhìn vầng trăng mới về… ” Giọng ca trầm bổng của Nguyên Khang cất lên nhè nhẹ trong đêm khuya thanh vắng như ru hồn người vào cõi cô tịch với chị Hằng.  Điệu nhạc da diết quyện với những ẩn chứa sâu lắng trong từng ca từ “Phôi Pha” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn làm thổn thức cõi lòng ai, như thức tỉnh người nghe về với một thực tại phũ phàng của“từng tuổi xuân đã già”, khi bên mình “không còn ai”.  Theo phóng sự trong ngày lễ an táng ông, nhạc phẩm “Phôi Pha” là một trong những bản tình ca được viết năm 1956, khi nhạc sĩ mới 17 tuổi.  Ông đã thưởng thức “chén rượu cay, một đời tôi uống hoài” khi chưa đủ tuổi để uống rượu, đã ý thức sẽ có ngày phải “trả lại từng tin vui, cho nhân gian chờ đợi” khi chưa bắt đầu sự nghiệp, đã suy tư về “từng tuổi xuân đã già” ngay khi còn rất trẻ, gẫm suy về sự chết ngay khi còn sống “một ngày kia đến bờ, đời người như gió qua”.  Một cuộc đời luôn suy tư thao thức về thân phận con người.

Với “Chén rượu cay, một đời tôi uống hoài” nhạc sĩ họ Trịnh như đã chấp nhận chén rượu cay đời mình, không trách móc than phiền, cũng chẳng hận đời oán người.  Mượn ánh trăng, lời nhạc nửa thực nửa ảo để trang trải tâm sự một cõi lòng u uất cô đơn một mình bên ly rượu.  Dù cay, dù một mình nhưng vẫn phải uống, uống hoài, uống mãi, uống đến giọt cuối cùng.  Trong kiếp làm người, dù muốn dù không, rồi ai cũng phải cạn ly rượu cuộc đời của mình.  Con Một Thiên Chúa trong thân phận thấp hèn của con người, cũng phải uống cạn chén rượu cay phần mình.  Rượu nào cay hơn?  Chén nào đắng hơn?  Thế gian này không ly rượu nào có thể cay hơn, đắng hơn chén rượu mà Con Một Thiên Chúa đã uống.  Chưa uống mà đã đổ mồ hôi máu.  Mới nhìn chén rượu cay mà đã ba lần cất tiếng van xin Cha cất cho chén đắng đó!  Môi chưa nhấp ly mà tâm hồn đã cảm thấy buồn rầu xao xuyến, một nỗi buồn đến chết người!  Rồi Ngài cũng đã uống cạn chén đắng trong vâng lời, trong yêu thương những kẻ đã trao chén rượu cay.  Từ từ uống một mình, cô đơn bên cạnh những môn đệ yêu dấu đang vô tư ngủ say sưa. (x Mt 26, 36-46 và Lc 22, 44).

Rồi tôi cũng sẽ phải cạn ly rượu đời mình thôi, chưa đến giọt cuối cùng đâu.  Chẳng ai biết trước giọt cuối cùng trong chén rượu đó sẽ có vị như thế nào?  Nhưng tôi tin rằng, nếu có người bạn tri kỷ Giêsu cùng nâng ly, rượu của tôi sẽ vơi bớt vị cay, từng giọt rượu trong ly sẽ được thánh hóa để mang một màu sắc khác, thấm đẫm hương vị thiêng liêng.  Nếu biết uống cùng ai, hẳn sẽ không còn tiếng than ai oán “chén rượu cay, một đời tôi uống hoài” và chén đắng của Giêsu ngày xưa không trở nên vô ích.

Trong nỗi buồn quay quắt của “những đêm xa người” bên “chén rượu cay, một đời tôi uống hoài”, đôi mắt tâm hồn của nhạc sĩ họ Trịnh như được mở ra để thấy rõ sự vô nghĩa của những gì một đời mê mải kiếm tìm.  Những tin vui của thời xuân xanh: thành công, nhà lầu, xe hơi, sự nổi tiếng, chinh phục, chiếm đoạt, bằng cấp, chức tước, v.v…  tất cả nay xin “trả lại từng tin vui, cho nhân gian chờ đợi”  Một thời để góp nhặt, một thời để trả lại!  Điểm lạ nơi ông là mới 17 tuổi, chưa ky cóp được gì, chưa bắt đầu bon chen với đời mà đã ý thức là sẽ có ngày phải “trả lại từng tin vui, cho nhân gian chờ đợi”.  Vì ông biết cần gì nữa đâu khi “một ngày kia đến bờ”, mang gì theo đâu “đời người như gió qua!”

“Thôi về đi, đường trần đâu có gì”, cung nhạc bỗng trầm xuống, lời nhạc tha thiết xuống nước như một lời năn nỉ thuyết phục ai đó hãy quay về.  Về đi, đường trần có gì vui đâu.  Có chăng cũng chỉ là những cuộc vui tạm bợ chóng qua thôi mà!  Về đi, trước khi quá muộn màng.  Đường trần có vui thì đến lúc nào đó cũng “không còn ai”.  Về đi, trước khi thấy “đường về ôi quá dài”.  Về đi, mà ai cần phải về?  Tác giả mời gọi người tình xưa trở về với mình, hay là một lời mời gọi chính mình trở về với cái nội tại của mình?  Về đi, tiếng nài nỉ như níu kéo bước chân giang hồ, nhưng về đâu?  Về với ai?  Về để làm gì?

“Về lại nơi cuối trời, làm mây trôi” ư?  Nghe thật thơ, thật lãng mạn nhưng mây làm gì có bến đỗ?  Rồi lại tiếp tục một kiếp lãng du khác, tiếp tục lang thang trôi dạt trên bầu trời bao la không nơi đến, không chỗ về.  Rồi trong kiếp mây trôi đó, lại cháy lên một niềm khát khao được trở về một lần nữa.  Bỗng dưng tôi thấy mình thật hạnh phúc vì biết nơi mình sẽ về, vòng tay nào đang chờ đợi tôi nơi cuối trời.  Thì ra khát khao được Về là khát vọng của kiếp nhân sinh cho dù là ai, niềm tin nào, ở đâu.  Ai về với ai, không quan trọng cho bằng vẫn là một cuộc trở về!  Một thời để đi hoang, một thời để quay về.  Về lại nơi tôi xuất phát, về lại với Đấng đã tạo dựng nên tôi, Đấng đã vì tôi uống cạn chén đắng.

“Thôi về đi!” dù chưa biết nơi để về thì hãy về lại với chính mình, về với tiếng gọi rất khẽ trong sâu thẳm tâm hồn, về lại với mái ấm, với bổn phận của người với người.  Về với ai đó đang chờ đợi bước chân tôi.  Về, đôi khi chỉ đơn giản để “nhìn từng hôm nắng ngời, nhìn từng khi mưa bay”, thế thôi, nhưng cũng cần lắm những cuộc trở về.  “Thôi về đi, tóc xanh mấy mùa” đâu mãi xanh hoài!  Về để thấy chén rượu cuộc đời vơi bớt vị cay, để thấy đường đi không quá dài!

Chúa ơi, thật không dễ để làm một cuộc trở về, đôi khi chân đã cất bước nhưng lòng vấn vương “nhớ chân giang hồ”, nếu không có ơn Chúa đổ xuống, chẳng ai có thể quay về.  Xin tiếp tục tuôn đổ mưa hồng ân xuống trên thế nhân, để từng người chúng con đủ can đảm trở về.  Về với Chúa và về với nhau trước khi trở về với lòng đất mẹ.

Lang Thang Chiều Tím

Lập Thu 2012

LUẬT TỐI THƯỢNG

zzKhông có dân tộc nào say mê luật như dân tộc Do Thái.  Người Do Thái đặt ra đủ các thứ luật.  Họ giữ luật cặn kẽ chi li.  Họ học luật ngay từ khi còn nhỏ.  Họ đeo cả lề luật trên trán, trên tay.  Nhưng vì quá say mê luật nên họ bị luẩn quẩn trong một mớ bòng bong, không còn biết giữ luật thế nào cho đúng, không còn biết đâu là luật quan trọng đâu là luật bình thường.  Hôm nay, nhân một thắc mắc rất hợp lý, Chúa Giêsu đã giải thích cho họ những điểm then chốt trong lề luật.  Đó là:

Thiên Chúa là độc nhất vô song.  Đây là một chân lý nhưng nhiều khi bị lãng quên.  Thiên Chúa là chủ tể muôn loài.  Ngài là Đấng duy nhất cao cả.  Không ai có thể sánh bằng.  Ngài dựng nên muôn loài muôn vật.  Ngài là nguồn mạch sự sống của muôn loài muôn vật.  Ngài là mục đích của muôn loài muôn vật.  Vũ trụ chỉ tồn tại trong Ngài.  Vì thế ta phải yêu mến Ngài trên hết mọi sự.

Yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự.  Tuy nhiên Chúa là chúa tể mọi loài.  Quyền uy vô song tuyệt đối.  Nhưng Ngài là Thiên Chúa rất mực yêu thương.  Ngài ban cho ta sự sống.  Ngài nhận ta làm con của Ngài.  Ngài cai quản vũ trụ không bằng quyền uy nhưng bằng tình thương.  Ngài là người cha luôn yêu thương con cái.  Ngài mong muốn ta đáp lại bằng tình yêu mến Ngài.  Yêu mến Thiên Chúa không những là điều công bằng và hợp tình hợp lý, mà còn đem lại cho ta sự sống và hạnh phúc.  Xa lìa Thiên Chúa đưa ta đến diệt vong vì mất sự sống và mất hạnh phúc.  Nhưng con người yếu hèn, lại bị ma quỉ cám dỗ, nên thường lãng quên Thiên Chúa, coi thường Thiên Chúa và phản bội tình yêu của Ngài.

Yêu tha nhân như chính mình.  Thiên Chúa là Đấng vô hình vô ảnh ta không thấy được.  Ta nói yêu mến Thiên Chúa, điều đó khó mà kiểm chứng được.  Nên Thiên Chúa đã ràng buộc điều răn mến Chúa vào điều răn yêu người.  Yêu Chúa thì phải yêu tha nhân.  Yêu tha nhân là bằng chứng yêu mến Chúa. Còn hơn thế nữa, yêu tha nhân chính là yêu Chúa.  Vì Chúa đã tự đồng hóa với con người, với những người bé nhỏ nhất trong xã hội.  Điều này chính Chúa Giêsu đã công khai minh định: “Ta bảo thật, mỗi lần các ngươi giúp đỡ một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”.  Thành ra hai giới răn chỉ là một.  Đó chỉ là hai khía cạnh của cùng một giới răn.

Qua lời dạy hôm nay Chúa muốn cho ta hiểu rằng tình yêu là quan trọng nhất.  Tình yêu là giới răn đứng hàng đầu trong các giới răn.  Mọi lề luật đều phải hướng đến tình yêu.  Ai chu toàn tình yêu là chu toàn lề luật.  Như câu kết của kinh Mười điều răn:  Mười điều răn ấy tóm về hai điều này mà nhớ: Trước kính mến một Thiên Chúa trên hết mọi sự.  Sau lại yêu người như mình ta vậy.

Qua lời dạy hôm nay Chúa muốn cho ta hiểu rằng lề luật của Chúa thật nhẹ nhàng vì lề luật chính là tình yêu.  Nếu yêu mến Chúa và yêu mến anh em, ta sẽ thấy việc giữ luật không còn gì khó khăn nữa. Tình yêu sẽ làm cho ta cảm nếm sự ngọt ngào trong việc tuân giữ lề luật.  Như lời Chúa mời gọi: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.  Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.  Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng”.

Qua lời dạy hôm nay Chúa muốn giúp ta xây dựng một thế giới mới chan chứa tình người.  Thế giới còn chiến tranh, xã hội còn nhiều bất công vì con người chưa tuân giữ luật Chúa.  Nếu mọi người biết yêu mến Chúa và yêu mến nhau, thế giới sẽ tươi đẹp, cuộc sống sẽ hạnh phúc.

Lạy Chúa, xin dạy con biết yêu mến Chúa

ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

LỄ GIÁNG SINH CỦA LÒNG TÔI

Mỗi năm vào ngày 25 tháng 12, ngày lễ Chúa Giáng Sinh, ngày con Thiên Chúa xuống thế làm người, ngày đất trời giao hòa, ngày ân sủng trao ban, ngày bình an tuôn đổ… Ngày ấy muôn dân muôn nước hân hoan vui mừng, nhà nhà rộn rã tiếng cười, người người nhẩy mừng vui tươi.

zzChúa ơi! Hôm nay sau khi lãnh nhận Bí tích Hòa giải, con ngồi đây thật lâu vì cảm nhận một niềm vui dịu ngọt, một niềm cảm mến sâu xa. Và con biết, lúc này đây, lễ Chúa Giáng Sinh cũng đang đến trong lòng con. Con không phải đợi một năm một lần vào ngày 25 tháng 12 mới được hưởng niềm vui ngày lễ Chúa Giáng Sinh, nhưng mỗi lần con lãnh nhận Bí tích Hòa giải, là mỗi lần Chúa lại giáng sinh trong lòng con.  

Làm sao con thấu hiểu cho hết mầu nhiệm Chúa giáng sinh trong lòng con hôm nay, vì mắt con không nhìn thấy, và tay con không đụng chạm được, nhưng con tin Chúa đang ở trong con, vì Chúa mang đến cho con niềm vui ơn tha thứ, mang niềm cảm mến sâu xa, và mang ân phúc yêu thương an bình.

Chúa ơi!  Xin ở lại với con…Ở lại trong con luôn mãi Chúa nhé!

Chúa đến và ở lại trong tôi vì Chúa thương tôi, và vì Chúa muốn tôi yêu và được yêu. Yêu thương là lời mời gọi vang vọng từ trời cao, từ thuở con người mới được tạo dựng, và tiếp tục vang vọng cho đến ngàn sau.  Yêu thương bắt nguồn từ Thiên Chúa, lan tỏa trong đất trời để đến với muôn người muôn vật.

Yêu thương là quên mình, là tha thứ không ngừng, là cho đi luôn mãi. “Yêu thương cho đi, yêu thương đầy.  Yêu thương giữ lại, yêu thương mất.

Có yêu thương là có Thiên Chúa. Nếu không biết yêu thương, là không biết đến Thiên Chúa, không phải là môn đệ Đức Giêsu, không mang dấu ấn của người Kitô, không có bình an hạnh phúc trong cuộc sống hôm nay, và không có phần thưởng nơi cõi trường sinh vĩnh phúc trong cuộc sống mai sau.

Chúa ơi! Trong giây phút thinh lặng thánh thiêng này, con ngồi đây ngước nhìn lên Chúa, con nghe như có tiếng thì thầm bên tai: “Ta khát”. Phải chăng đó là tiếng Chúa nói với con? Phải chăng Chúa khát tình con cho Chúa? Chúa khát yêu thương đáp trả của con?

Tình con cho Chúa sẽ không trọn vẹn, một khi lòng con còn dính bén tội lỗi, còn vấn vương bụi trần. Yêu thương đáp trả của con sẽ chẳng là gì để dâng Chúa, một khi con yêu người hơn yêu Chúa, yêu đời quên tình Chúa, để rồi con quay mặt bước đi trước tiếng Chúa kêu mời.

Chúa ơi! Chúa biết con yếu đuối và dễ phạm tội biết bao! Chúa cũng biết nỗi sợ zzhãi luôn đè nặng lòng con, luôn trói buộc con, ngăn cản con, không cho con đến gần bên Chúa.

Nhưng hôm nay, sau khi lãnh nhận Bí tích Hòa giải, con biết Chúa đã đến giáng sinh trong lòng con, ở lại trong con để cùng con sống kiếp con người, để biến đổi con, giúp con trở nên mạnh mẽ hơn, cương quyết hơn trước những đam mê yếu đuối trong cuộc sống, giúp con quyết tâm hơn trước những níu kéo mời gọi của tội lỗi.

 Chúa ơi! Xin đừng để con sa chước cám dỗ. Xin cứu chữa con cho khỏi mọi sự dữ. 

Đã bao nhiêu lần Chúa đến bên tôi mà tôi hững hờ, không hề quan tâm để ý ! Đã bao nhiêu lần Chúa giáng sinh trong lòng tôi mà tôi không hay biết ! Đã bao nhiêu lần Chúa ở trong tôi mà tôi không nhận ra ! Nếu không nhận ra Chúa ở trong tôi, thì làm sao tôi có thể nhận ra Chúa ở trong người khác ? Làm sao tôi có thể nhìn thấy Chúa nơi người anh chị em của tôi ?

Chúa ở trong tôi, Chúa ở trong em, Chúa ở trong anh trong chị, và Chúa ở trong hết mọi người”.  Một khi nhận biết được điều này, sẽ giúp tôi sống hòa thuận yêu thương hơn, biết chấp nhận và tôn trọng người xung quanh hơn. Vì thật khó có thể súc phạm người anh chị em của tôi, một khi tôi nhận biết Thiên Chúa Tình Yêu cũng đang sống trong người ấy, cũng giáng sinh trong người ấy, và cũng cùng người ấy bôn ba trên mọi nẻo đường đời để sống trọn kếp con người.

Chúa ơi! Xin mở mắt con, để con được thấy:
Thấy tình Chúa thương con,
Thấy Chúa cao cả, thấy con mọn hèn,
Thấy Chúa bước đi bên con trên mọi nẻo đường đời,
Thấy Chúa luôn bao bọc che chở cho con,
Thấy Chúa ở trong con, và ở trong hết mọi người.  Amen. 

Linh Xuân Thôn

PHẤN ĐẤU VÌ MỘT CUỘC SỐNG CAO ĐẸP

zzLễ Các Thánh là một lễ trọng.  Hôm nay khi tham dự thánh lễ trọng thể, chắc chắn ta có những cảm nghiệm thiêng liêng sâu sắc.  Xin tạm diễn tả trong mấy nét sau đây.

Trước hết là cảm nghiệm về niềm vui.  Thánh lễ hôm nay diễn ra trong bầu khí hân hoan.  Hân hoan với những bài ca du dương.  Hân hoan với những lễ nghi long trọng.  Hân hoan vì sự tham dự đông đảo của mọi thành phần Dân Chúa thuộc đủ mọi phẩm trật trong Hội Thánh.  Nhưng hân hoan nhất là vì có sự hiện diện tuy vô hình nhưng lại rất mãnh liệt của cộng đoàn chư thánh, một cộng đoàn đông đảo không thể đếm được như bài sách Khải huyền diễn tả, một cộng đoàn cao quí trong những tà áo trắng dài và trong niềm hạnh phúc vô biên.  Mà các thánh không phải là những người xa lạ.  Các thánh gần gũi chúng ta về đức tin và đức mến.   Gần gũi chúng ta về thân phận con người.  Và nhất là gần gũi với ta về dòng giống, huyết thống, gia tộc.  Thật vậy trong vô vàn vô số các thánh, có cả những người thân yêu của chúng ta.  Thật là một thánh lễ đem lại niềm vui lớn lao cho tâm hồn con người.

Kế tiếp là cảm nghiệm về niềm hy vọng.  Các thánh đem lại cho ta niềm hy vọng.  Trong số các thánh có ông bà cha mẹ anh chị em ruột thịt của chúng ta.  Điều đó làm cho ta hy vọng sẽ được sum họp với các ngài trên thiên đàng.  Trong số các thánh có những vị xưa kia đã lầm lỗi như thánh Phêrô, thánh Phaolô, thánh Mađalêna, thánh Augustinô, có cả người trộm lành nữa.  Điều đó làm ta hy vọng, tuy tội lỗi, ta cũng sẽ được nên thánh như các ngài.  Nhưng hy vọng nhất là lời thánh Gioan trong bài sách thánh thứ hai hôm nay nói rằng chúng ta là con Thiên Chúa và sẽ nên giống Chúa Kitô.  Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng ta sẽ được nên thánh, còn hơn thế nữa, nên giống Thiên Chúa và hưởng hạnh phúc với Chúa.  Thật là một niềm hy vọng lớn lao vượt quá trí tưởng tượng của chúng ta.

Từ đó ta cảm nghiệm về một niềm tự hào.  Tự hào vì ta là dòng dõi các thánh.  Hơn thế nữa, ta là dòng dõi Thiên Chúa, là con Thiên Chúa.  Tự hào vì một định mệnh cao quí.  Cuộc sống ta không phải chỉ bó hẹp trong không gian hữu hạn bất toàn này, nhưng sẽ tiếp tục trên quê trời vô biên vĩnh cửu.  Tự hào vì một phẩm giá cao quí.  Ta không phải bị kết án tàn lụi đi như cỏ cây súc vật, nhưng sẽ triển nở, sẽ được nâng lên ngang hàng với các bậc thần thánh, sẽ được hưởng sự sống của Thiên Chúa.

 

Tất cả những cảm nghiệm đó khơi dậy trong ta một niềm hăng hái phấn đấu.  Tuy nhiên để đạt tới hạnh phúc và phẩm giá cao quí đó, ta phải phấn đấu ngay ở đời này.  Cuộc phấn đấu để chiến thắng.  Không phải chiến thắng người khác nhưng chiến thắng chính mình.  Lịch trình phấn đấu được chính Chúa Giêsu đề ra trong bài Tám Mối Phúc.  Ta phải chiến đấu chống lại  thói tham lam để đạt tới sự siêu thoát, chiến đấu chống lại lòng độc ác để có tâm hồn hiền lành, chiến đấu chống lại nếp sống buông thả để khao khát vươn lên thánh thiện, chống đấu chống lại thói dửng dưng vô cảm để rèn luyện một trái tim biết thương cảm, chiến đấu chống lại lối sống sa đọa để tâm hồn được thanh sạch trong trắng, chiến đấu chống lại chiến tranh chia rẽ bất hòa để xây dựng hòa bình hòa giải, chiến đấu đến sẵn sàng hy sinh tính mạng vì Nước Trời.  Khi chiến đấu như thế, ta sẽ thanh luyện chính bản thân, như các thánh giặt áo linh hồn nên trắng như tuyết qua những khổ đau lớn lao.  Khi chiến đấu như thế ta góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp văn minh và phát triển vững bền.  Khi chiến đấu như thế ta sẽ đạt tới lời Chúa hứa và phần thưởng dành cho ta trên trời thật lớn lao.

Lạy Các Thánh xin cầu cho chúng con được noi gương các ngài.  Amen!

TGM Ngô Quang Kiệt

TRÊN ĐÁ NÀY…

zzBlog WGPSG (3-5-2012) – Chuyện kể rằng, hai người bạn đi cùng nhau trong một chuyến hành trình dài ngày.  Họ vượt qua bao địa hình hiểm trở: Núi cao, sông sâu, băng giá, cát nóng.

Trong chuyến đi đó, biết bao biến cố đã xảy ra: Vui có, buồn cũng chẳng thiếu.

Hôm nọ, chẳng may hai người xảy ra xích mích với nhau, người cao lớn hơn đã bạt tai người kia một cái tóe lửa.  Người bị tát lẳng lặng tìm một bãi cát ghi vội lên đó dòng chữ: “Hôm nay, người bạn của tôi đã xúc phạm nặng nề đến tôi bằng cái tát đau điếng!”

Họ tiếp tục lên đường, bầu khí có vẻ căng thẳng, tiếng cười tiếng trò chuyện thưa dần, giảm hẳn, rồi tắt lịm!  Mỗi người như đang gắng lê lết cho hết cuộc hành trình, giờ trở nên dài đằng đẵng, với tâm trạng nặng trĩu đè lên mỗi người.

Nắng chói chang, người mệt lả, họng khát cháy, chợt người có vóc dáng nhỏ bé nọ tìm thấy một con suối, anh ta lao vội xuống thỏa chí vùng vẫy, bơi lội.

Không may anh bị chuột rút, tứ chi rồi cả cơ thể cứng đờ, đau đớn và dòng suối đang chảy xiết đã lôi anh ngày càng xa bờ, anh chìm dần xuống.  Ngay lúc đó, người bạn đồng hành lao nhanh xuống, dùng tất cả sức lực của mình chống chọi với dòng nước suối cuồn cuộn chảy để lôi người bạn từng chút một, từng bước một về phía bờ.

Trải qua những phút giây vật lộn với dòng nước, cả hai cũng vào bờ an toàn nhưng đã kiệt sức, nên nằm lăn ra ngủ mê mệt.

Người bạn bị nạn tỉnh lại trước.  Anh tìm đến một tảng đá to, và hì hục đục đẽo lên phiến đá dòng chữ thật lớn: “Hôm nay, người bạn của tôi đã cứu sống tôi!”

Sau một giấc ngủ dài, người kia cũng đã thức dậy.  Anh thật ngạc nhiên trước phiến đá được khắc chữ lên đó.  Anh đã hỏi bạn mình: “Tại sao khi tôi tát anh, anh ghi lên cát, còn hôm nay anh lại dành nhiều công sức để đục chữ lên phiến đá?”

Người kia mỉm cười, trả lời: “Những điều buồn anh gây ra cho tôi, tôi muốn ghi lên cát, để gió giúp tôi xóa đi thật dễ dàng những dấu ấn không vui đó.  Nhưng khi tôi nhận được sự giúp đỡ của anh, ơn cứu mạng của anh, việc làm tốt đẹp của anh, tôi muốn nhờ đá ghi khắc mãi niềm hạnh phúc đó, cũng như tôi ghi khắc vào tim mình những điều tốt đẹp mà anh làm cho tôi!  Cám ơn anh thật nhiều!”

Và tiếng cười lại vang lên suốt chặng đường còn lại!

****************************************

Có nhiều mối tương quan: Tương quan nội tại “ta với ta”, tương quan hàng ngang “tôi và chúng ta”, tương quan chiều dọc “tôi và Chúa tôi”.

Mối quan hệ nào cũng có lúc ngọt ngào, dễ thương với những điều hay nghĩa cử đẹp người ta trao cho nhau, nhưng cũng có khi sóng gió nổi lên cản trở mối giao hảo tốt đẹp sẵn có.

Thiết lập được các tương quan thì không khó lắm, nhưng phát triển và bảo vệ các tương quan đó mỗi ngày thêm tốt đẹp thì chẳng dễ chút nào.

Một trong những nguyên nhân khiến các mối tương quan gặp trục trặc hoặc bền vững, đó là do chất liệu người ta chọn để ghi khắc các biến cố vui buồn trong đời mình: Cát hay đá.

Đối với những phiền muộn do tha nhân hoặc chính bản thân gây ra, nếu ta chọn khắc sâu vào “đá – cõi lòng, tâm trí ta” thì chắc chắn các mối tương quan sẽ “xuống cấp”.

Ta sẽ không thể tha thứ cho chính bản thân về những khiếm khuyết, lỗi lầm trong quá khứ của ta; nhịp sống sẽ bị chính ta làm cho trì trệ, nặng nề và không thể tươi sáng hơn bởi quá khứ bất toàn của bản thân buộc trói.  Như thế, ta cũng không tin tưởng vào tình yêu của Thiên Chúa luôn thứ tha, đổi mới và có năng lực giúp ta vượt qua lỗi lầm, vượt lên yếu đuối của bản thân.

Ta cũng dễ nổi nóng hơn với bạn bè, chỉ một xích mích nhỏ cũng kéo bè kết cánh mà đánh hội đồng nhau, rồi quay phim và tung hê lên mạng, hỉ hả với nỗi đau của người khác.  Bạo lực và đau khổ chồng chất, bất hạnh và buồn sầu lê thê!

Ta dễ dàng quy trách và kết tội cho người bạn đời của mình, rồi mau chóng đưa nhau ra tòa ly dị: “Đường ai nấy đi, tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi”, gia đình tan nát, con cái phải bơ vơ, mồ côi khi cha mẹ đang còn sống.

Thậm chí ta còn kêu trách Thiên Chúa về bao bất hạnh và nỗi buồn mình gặp phải, mà quên rằng, từng giây từng phút, ta đang hưởng biết bao ơn lành của Ngài: Không khí trong lành nuôi dưỡng ta trong mỗi nhịp hô hấp, thở ra hít vào; ngọn gió mát giữa trưa hè oi ả; dòng nước ngọt lịm khi cơn khát cháy khô miệng đang dày vò ta,… và bao hồng ân khác giữa đời thường mà mình chưa ý thức đủ, không thấy, không biết khắc ghi vào “đá”?

Xin hãy ghi tạc trên Đá những hồng ân mà Chúa không ngừng ban cho ta.  Xin hãy tạc vào lòng của Đá những niềm vui, hạnh phúc, những gặp gỡ thân thương mà ta từng trải nghiệm, từng nhận được nơi người khác, và cả những gì tốt đẹp ta sẽ nhận được trong tương lai nữa!  Tạc vào Đá để Đá sống mãi mãi cùng lòng tri ân và cảm mến!

Và, ta cũng hãy biết ghi lên cát những tổn thương, bất hạnh, hờn tủi, ganh tỵ, ích kỷ, những gì là không tốt chẳng đẹp mà ta đã nhận từ nơi người khác!  Vâng, ghi trên cát, để gió cuốn đi, gió cuốn đi!

Bí quyết hạnh phúc phải chăng là ghi lên mặt cát những phiền muộn, và khắc sâu vào đá những vui tươi của chúng ta?

Ghi khắc hồng ân trên đá cũng là xây dựng cuộc đời mình trên đá tảng bền vững và chân thật là chính Thầy Giêsu, bởi Thầy là đá tảng góc tường!

Xây dựng, khắc ghi đời ta trên Đá Tảng Giêsu thì hạnh phúc mới trường tồn, vì Thầy là Alpha và Omega, là khởi thủy và tận cùng của toàn thể vũ trụ mà!

Chiên Già

 

zzTin Mừng Chúa Nhật hôm nay nhắc đến một người mù. Mắt anh bị mù, nhưng anh nhìn thấy nhiều điều mà người khác không thấy. Anh thấy Đức Giêsu là Con Vua Đavít là Đấng Messia, là Đấng Kitô Cứu Thế (Mc.10:47). Anh thấy quyền năng của Đức Giêsu có thể giúp đỡ anh một cái gì khác hơn là vật chất, tiền bạc. Anh thấy tình trạng khốn khổ mù lòa của mình. Anh mù thấy được nhiều cái mà người sáng mắt không thấy.

Tiếng kêu của anh “Lạy Thầy, xin cho con được thấy” (Mc.10:51) là một tiếng kêu của lòng tin. Tất cả sức mạnh của anh nằm ở tiếng kêu, tiếng kêu thống thiết bi ai của một người đau khổ, nhưng cũng là tiếng kêu đầy tin tưởng, hy vọng. Tiếng kêu báo hiệu một sự hiện diện, một cầu cứu. Nhiều người muốn bịt miệng anh, nhưng anh chẳng sợ gì đe dọa. Càng bị đe dọa, anh càng gào to hơn nhiều. Cuối cùng tiếng của anh đã đến tai Ðức Giêsu. Ngài dừng lại và sai người đi gọi anh. Khi biết mình được gọi, anh vội vã và vui sướng vất bỏ cái áo choàng vướng víu, nhẩy cẫng lên mà đến với Ðức Giêsu. Anh đi như một người đã sáng mắt, bởi thực ra con mắt tâm hồn của anh đã sáng rồi. Lời cầu của anh được Đức Giêsu đáp ứng: “Lòng tin của anh cứu chữa anh”. (Mc.10:52)

Khi được khỏi mù lòa, lòng tin của anh thêm vững mạnh. Anh thấy lại mặt trời, anh gặp Ðấng cho anh ánh sáng. Không ngồi ở vệ đường nữa, anh đứng lên đi theo Ðức Giêsu. (Mc.10:52) vì Ngài chính là ánh sáng cho đời anh. Ngài sẽ dẫn đường anh đi. Đi đến sự thật và đến sự sống.

Mời bạn cùng với tôi, chúng ta hãy đi vào lòng mình để nhận ra những bóng tối đã che phủ đời ta. Ta có tìm thấy Chúa là ánh sáng cho đời ta không? Chắc hẳn đời sống của tôi có nhiều bóng tối vì tôi chưa tin tưởng hoàn toàn vào Chúa. Đời sống tôi bế tắc vì tôi chưa đặt trọn niềm hy vọng vào Chúa. Đời tôi mệt mỏi chán chường vì tôi chưa yêu mến Chúa hết lòng. Hãy tin tưởng vào Chúa. Ánh sáng đức tin sẽ chiếu soi đường đời tôi đi. Hãy hy vọng vào Chúa. Niềm hy vọng là ánh sáng ấm áp cho cuộc đời. Hãy yêu mến Chúa. Tình yêu Chúa là ánh sáng hướng dẫn mọi tư tưởng, lời nói và việc làm của tôi. Hãy noi gương anh mù thành Giêricô: “Bỏ tất cả mà theo Chúa”. Sống bên Chúa đời tôi sẽ ngập tràn ánh sáng và niềm vui.

***

Lạy Chúa! Như người mù ngồi bên vệ đường, xin Chúa dủ lòng thương, cho con được thấy:

Cho con được thấy bản thân của con với những yếu đuối và khuyết điểm, những giả hình và che đậy. Cho con được thấy Chúa hiện diện bên con, cho ánh sáng Chúa chiếu soi vào bóng tối của đời con.

Xin mở mắt con, để con biết nhìn ngắm những cảnh đẹp thiên nhiên, những kỳ công do tay Chúa tạo dựng trong vũ trụ, trời đất, vạn vật

Xin mở mắt con, để con thấy những anh em nghèo đói, ốm đau, bệnh tật quanh con, để con biết yêu thương, nâng đỡ và chia sẻ.

Xin mở mắt con, để con thấy cái tốt nơi người khác, thấy những việc tốt lành anh em đã làm cho con trong cuộc sống hôm nay.

Xin cho cuộc đời của con luôn phản chiếu ánh sáng của Chúa, vì Chúa là Sự Sáng, là Tình Yêu, là Chân Lý và là Sự Sống đời đời của con. Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas

 

NGỌN NẾN

zzCó một người rất nghèo, chuyên làm nến và bán nến.  Tuy nhiên chẳng mấy ai mua nến cả.  Ông cũng ít giao thiệp nên càng ngày càng sống khép kín với mọi người.  Cứ mỗi buổi tối ông đóng cửa, tắt đèn, tự giam mình trong nhà và than thầm về số phận.

Dần dần ông đi tới tuyệt vọng.  Ông nghĩ rằng, ông nên kết liễu đời mình là hơn cả.  Một buổi tối, ông quyết định thực hiện suy nghĩ đó.  Đột nhiên có tiếng nói:

– Ông làm nến, sao không tự thắp cho mình một ngọn nến…

Nghe giọng nói không biết từ đâu, ông hoảng sợ:

– Ai đó…

– Ta là một vị thần.  Nếu ngươi muốn, ta có thể thắp sáng ngọn nến hy vọng cho ngươi. Ngọn nến ấy có thể đem lại hạnh phúc cho ngươi đó.

Ông lưỡng lự và cuối cùng thì ông ta cũng đồng ý. Ông cảm thấy yêu đời hơn. Suốt ngày ông chỉ chăm chút cho ngọn nến đó cháy sáng mãi. Tuy nhiên, ngọn nến cũng tàn dần theo quy luật tất yếu.  Ngày một ngày hai, niềm tin yêu cuộc sống của ông lụi dần, rồi một ngày hoàn toàn ông cảm thấy chán đời và mệt mỏi vì phải sống như thế này.  Ông lại tự giam mình trong nhà, khóc lóc.  Dĩ nhiên, vị thần giấu mặt kia lại cất tiếng nói:

– Ngươi khóc lóc điều gì?  Ngươi đã không dùng ngọn nến đó để thắp sáng những ngọn nến khác trong ngươi.  Đó là lỗi của nhà ngươi.

**********************

Thiên Chúa đã yêu thương con người biết dường nào.  Người đã cất công lấy bùn đất nắn gọt, chau chuốt tạo thành con người theo như khuôn mẫu của Người.  Qua một buổi chiều và một buổi sáng lao động cật lực, Thiên Chúa đã thổi hơi vào tác phẩm tuyệt vời nhất Người vừa tạo dựng, lúc ấy con người mới nhận được sinh khí của Thiên Chúa, và trở thành con người có xương có thịt và có hồn (St 2,7), một sinh linh sống động hơn tất cả những loại thụ tạo khác.  Thiên Chúa đặt tên người nam là Ađam, và Ađam đặt tên bạn mình là Evà.  Thiên Chúa còn ban cho con người có quyền tự do.  Người đã để con người sống trong vườn Eđen, nơi đó Người đã cho ông bà được toàn quyền trên mọi loài Người tạo dựng, chỉ một điều Người muốn ông bà phải tuân giữ, đó chính là Người trồng một cây mà trái nó ông bà không bao giờ được ăn (St 2,17).  Đây là khoảng thời gian hạnh phúc nhất nơi con người.  Vì nơi đây Thiên Chúa thường hiện diện để chuyện trò với con người, một nguồn ân sủng, tràn đầy hạnh phúc của Thiên Chúa luôn bao trùm nơi ông bà, vì ngày đó nguyên tổ chưa vương vấn hình ảnh xấu xa của tội lỗi.

Hạnh phúc từ hai ông bà nguyên tổ đã bị vụt tắt sau khi giơ tay hái trái Thiên Chúa đã cấm, đã phạm sai lầm khi nghe lời dụ dỗ ngon ngọt của Satan (St 3,6-7).  Tội bất tuân không vâng lời đã đưa con người đến sự chết, hậu quả của sự bất tuân đã đưa con người phải xa cách Thiên Chúa (St 3,23), khi ma quỷ đã len lỏi vào cuộc sống con người, nó đã làm cho con người thêm tội lỗi khác. Đọc tiếp sách Sáng Thế, hai người con của Ađam và Evà là Cain và Abel.  Cain vì ghen ghét với em mình, nên đã ra tay sát hại Abel (St 4,8).  Tội là thế đó.  Thế nhưng, ngay sau khi ông bà phạm tội; Thiên Chúa không để con người chết trong tình trạng tội lỗi, Người đã hứa ban cho con người một Đấng Cứu Thế để chuộc lại tội đó.

Đấng Cứu Thế đã đến, Người đã lấy chính máu của Người để rửa sạch mọi vết nhơ của tội nguyên tổ.  Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa mà tôi được hạnh phúc trở thành con cái của Chúa ngay từ những ngày đầu đời, qua Bí tích Rửa Tội, tôi đã được lớn lên qua thời gian, được học tập giáo lý qua từng giai đoạn của cuộc đời, từ lớp vỡ lòng để lãnh nhận bí tích Giải tội và Mình Thánh Chúa, tiếp đến được lãnh nhận Bí tích Thêm Sức và các lớp Giáo lý để Rước Lễ trọng Thể (bao đồng), được hạnh phúc tiếp tục giáo huấn nơi môi trường giáo dục Công Giáo…   Những Hồng Ân Chúa đã ban cho tôi cách riêng.  Thế nhưng tôi đã biết dùng những ân sủng đó để chia sẻ với những người chung quanh với tôi, với những người họ chưa biết Chúa chưa?  Hay cũng như người bán nến đã được vị thần thắp cho ngọn nến, và ông đã cảm thấy hạnh phúc tìm được sự an bình trong cuộc sống.  Nhưng ông lại không biết lấy ngọn lửa mà ông đã nhận được để thắp sáng cho những cây nến khác, để rồi ngọn nến được vị thần thắp sáng cũng tàn lụi theo quy luật tự nhiên.  Niềm tin Chúa ban cho tôi, tôi đã nhân rộng ra thêm được bao nhiêu, hay vẫn chỉ là phép tính nhân, một nhân một bằng một.  Như nén bạc nhận của ông chủ bị chôn vùi không sinh lợi thêm được tí gì (Mt 25,18).

Lạy Chúa, xin hãy giúp con biết dùng những ân sủng mà con hạnh phúc được tiếp nhận, để như người gieo giống, đem những hạt giống ấy gieo vào những nơi chưa nhận ra được Đức Kitô. Cho con là ngọn nến cháy sáng để con biết châm vào những tim nến vẫn chưa được thắp sáng.  Xin đừng để ngọn nến của con trước khi tắt, mà những cây nến khác chưa được thắp vẫn đang chờ đợi để được ngọn nến sáng châm thắp lên.  Như Thánh Giacôbê đã viết: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17).  Xin cho con biết dùng chính đời sống của con để làm chứng nhân cho Chúa, đem Chúa đến với người chưa biết Chúa.  Amen!                  

Pet. PBH