CÓ LỜI THIÊN CHÚA PHÁN

Mỗi lần mùa Vọng đến, ta lại gặp Gioan. Một cuộc sinh ra kỳ lạ, một lối sống khác thường.

zzHoang địa là nơi vắng người, trơ trụi, thiếu sự sống. Nhưng chính ở đó mà Gioan đã lớn lên và trưởng thành, trong sự gặp gỡ thâm sâu với Thiên Chúa.

Càng lúc ông càng ý thức về sứ mạng của mình, nhưng ông đã kiên nhẫn chờ đợi nhiều năm tháng, cho đến ngày ông nghe thấy Thiên Chúa ngỏ lời với ông. Lời của Ngài đưa ông ra khỏi hoang địa để đến với mọi người trong vùng ven sông Giođan.

Lời Chúa ông nghe nay trở thành Lời Chúa ông công bố. Tiếng Chúa gọi ông nay trở thành tiếng ông mời gọi mọi người.

Gioan là vị ngôn sứ cho dân tộc ông sau gần năm thế kỷ vắng bóng ngôn sứ. Ông sống trong dòng lịch sử của đạo lẫn đời: Một hoàng đế Tibêriô, hai thượng tế Khanna và Caipha, một Philatô tham lam, tàn bạo, tổng trấn vùng Giuđê, một Hêrôđê, tiểu vương vùng Galilê, kẻ sẽ giết ông sau này. Gioan đón nhận toàn bộ dòng lịch sử ấy.

Lịch sử dân tộc là nơi diễn ra lịch sử cứu độ. Gioan biết mình là Tiền Hô cho Đấng Cứu Thế, và ông cố làm tròn sứ mạng của mình trước lịch sử. Gioan mời dân chúng sám hối. Không thể tiếp tục sống như xưa nữa. Đã đến lúc phải đổi đời, đổi lối nhìn, đổi lối nghĩ.

Ông kêu gọi cả nước hãy sửa sang đường sá, để đón lấy Vua Mêsia, đấng ông không dám cởi dây giày. Đường quan trọng là đường đi vào cõi lòng.

Có bao lối nghĩ quanh co, bao tính toán lệch lạc. Có những lũng sâu tăm tối, thiếu vắng ánh sáng tình yêu. Có những núi đồi ngạo nghễ của tự kiêu, tự mãn.  Có những chỗ mấp mô, lồi lõm giữa người với người. Phải sửa cho thẳng, lấp cho đầy, uốn cho ngay. Phải san cho phẳng, bạt cho thấp…

Sám hối là dọn con đường của lòng mình và mời mọi người cùng dọn các con đường thành đại lộ. Điều đó chẳng dễ dàng chút nào, và thường gây đau đớn.

Vấn đề không phải chỉ là đi xưng tội qua loa, nhưng là dẹp bỏ những chướng ngại trong tâm hồn, để Chúa có thể dễ dàng đến và ở lại.

Gioan đã là ngôn sứ chuẩn bị cho Chúa đến lần đầu. Chúng ta phải là ngôn sứ chuẩn bị cho Ngài đến lần cuối.

Làm ngôn sứ cho dân tộc mình, cho thời đại mình: đó là ơn gọi của mọi Kitô hữu chẳng trừ một ai. Cần cất tiếng hô bằng lời nói và bằng cuộc sống.

Ơn cứu độ đã đến từ hai mươi thế kỷ nay, nhưng vẫn thiếu những con đường phẳng phiu, ngay thẳng, để Thiên Chúa có thể đến gặp con người.

Xin Thánh Thần giúp chúng ta xây dựng những con đường mới trên những nẻo đường quen thuộc của nhân loại.

***

Lạy Chúa Giêsu! Sám hối không phải là điều dễ dàng, bởi lẽ con không đủ khiêm tốn để nhận mình lầm lỗi.Con ngỡ ngàng khi thấy Chúa là Đấng vô tội mà lại đứng chung với các tội nhân, chờ Gioan ban phép Rửa.

Chúa đã muốn nên bạn đồng hành với phận người mỏng dòn yếu đuối của con; xin cho con biết thường xuyên điều chỉnh lối nghĩ và lối sống của mình, tỉnh táo để khỏi rơi vào ảo tưởng, thành thật để khỏi tự dối mình.

Ước gì Chúa ban cho con ơn hoán cải, dám đi đến những hành động cụ thể, và chấp nhận những cắt tỉa đớn đau. Nhưng xin đừng quên ban cho con niềm vui của Giakêu, hạnh phúc vì được tự do và được yêu mến. Amen

(Trích trong “Manna”)

 

HỌC HỎI GƯƠNG SÁNG MẸ MARIA

zzMột ngày kia trên thiên đàng, người ta thấy thánh Phêrô chạy đến với Chúa Giêsu và thưa với Người rằng kẻ nào đó đã làm ra thêm chiếc chìa khóa lậu để mở cánh cửa thiên đàng, vì thế có rất nhiều linh hồn vào thiên đàng cách bất hợp pháp.  Do đó rất nhiều linh hồn chưa được đề nghị nhưng đã xoay xở tìm cách lẻn vào thiên đàng rồi.  Chúa Giêsu đáp:

–  Đúng thế, đó là vấn đề nghiêm trọng.

Thánh Phêrô nói tiếp:

– Con nghe rằng có lẽ có những người đang bán chiếc chìa khóa lậu đó cho những linh hồn chưa được vào thiên đàng.

Chúa Giêsu quyết định:

– Chúng ta phải bắt cho được tên thủ phạm ấy.

Thánh Phêrô hỏi Chúa:

– Vậy chúng ta phải làm sao bây giờ?

Chúa Giêsu trả lời:

– Bây giờ, con hãy gỡ triều thiên ra và hoá trang giả làm một linh hồn tội lỗi nhuốc nhơ rồi đến đứng trước cửa van xin cho được vào thiên đàng.  Ta chắc rằng thế nào cũng có người đưa chìa khoá đến bán cho con, thế là con có thể bắt tại trận kẻ đã dám lấy chìa khóa thiên đàng để làm thêm những chiếc chìa khoá lậu.

Rất lấy làm phấn khởi và chắc bẩm là mình sẽ tóm được tên thủ phạm ngay tại trận, thánh Phêrô đã hoá trang và thực hiện giống như kế hoạch đã định. Khi thánh Phêrô đang đứng trước cửa và nài xin thống thiết để được vào thiên đàng, thì có một người đến vỗ vai thánh Phêrô và nói:

– Hỡi tội nhân, có phải ngươi muốn vào thiên đàng không?

Thánh Phêrô mau mắn trả lời:

– Dạ, đúng ạ!

Người ấy bảo:

– Vậy, ngươi hãy cầm lấy chiếc chià khoá này rồi mở cửa thiên đàng mà vào.

Lập tức, thánh Phêrô quay lại và reo lên:

– A, đúng là mi rồi, ta sẽ bắt mi và mi sẽ bị phạt vì….

Nhưng thánh Phêrô chưa kịp nói hết, thì cũng là lúc ngài nhận ra người đưa chìa khóa cho ngài chính là Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu.

*********************************

Câu chuyện tưởng tượng trên đây muốn diễn tả chức năng và vai trò của Mẹ Maria trong cuộc đời chúng ta và trong chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa.  Mẹ là Đấng trung gian, là máng xối truyền thông ơn thánh xuống cho nhân loại.  Cũng như xưa, Mẹ đã âm thầm hiện diện và cộng tác vào chương trình cứu rỗi của Chúa Giêsu, thì ngày nay, Mẹ vẫn còn tiếp tục sứ mạng của Mẹ là đem mọi người đến với Chúa để hưởng ơn cứu độ của Người.

Với sự tinh tế vốn có của một người nữ, Mẹ Maria luôn mau mắn nhìn ra ý định của Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh và hiển nhiên, ngày nay Mẹ cũng nhìn được những nhu cầu của mỗi người chúng ta.  Những ai thành tâm đến với Mẹ, Mẹ luôn giúp họ nhận ra ý định yêu thương của Thiên Chúa trong cuộc đời của mỗi người.  Vậy, mỗi người chúng ta hãy học nơi Mẹ một trong những đức tính của Mẹ là sự tinh tế.

Người tinh tế là người nhận ra những nhu cầu và ước muốn cũng như tâm tình thầm kín của người khác trước khi họ nói ra thành lời và có thể chẳng bao giờ họ dám nói ra cho người khác biết. Do vậy, nét tinh tế là đức tính rất đáng được trân trọng vì nó chỉ có nơi những con người có tâm hồn quảng đại.  Và cũng chỉ có những con người có tâm hồn quảng đại mới có được sự tinh tế để có thể quan tâm tới người khác trong những hoàn cảnh và nhu cầu cụ thể của họ một cách chân tình, cùng cố gắng đáp ứng bằng hết khả năng của mình.

Chúng ta hãy nỗ lực để học hỏi gương sáng của Mẹ Maria trong sự tinh tế của Mẹ.  Cách cụ thể, mỗi ngày chúng ta hãy để ra một vài phút để tập lắng nghe tiếng lòng của anh chị em, để chúng ta có thể cảm thông và chia sẻ với anh chị em một cách sâu xa.  Có nghĩa là chúng ta đang nỗ lực để sống cùng, sống với và sống cho anh chị em.  Đó là bước đầu để chúng ta thăng tiến trong tình yêu, tình yêu với Thiên Chúa và với mọi người.

*********************************

Lạy Chúa, nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria, xin ban cho chúng con một tâm hồn nhạy cảm và rộng mở để luôn sẵn sàng yêu thương và đón nhận mọi người trong hoàn cảnh cụ thể của họ, nhờ đó chúng con có thể kiến tạo một cộng đoàn yêu thương nơi chúng con đang sống, là dấu chỉ Nước Thiên Chúa mai sau.  Amen!

R. Veritas

MÙA VỌNG VÀ NGỌN NẾN CHÁY SÁNG

zzTrong đời sống xưa nay thường có những biến cố khủng hoảng xảy ra, như khủng hoảng kinh tế tài chính, khủng hoảng về đời sống văn hóa xã hội, khủng hoảng về nghề nghiệp công ăn việc làm, khủng hoảng việc học hành, khủng hoảng về niềm tin nếp sống đạo đức…

Mỗi khi biến cố khủng hoảng xảy ra, con người đều cố gắng tìm phương cách sửa chữa điều chỉnh tìm lối thoát ra khỏi con đường đó, mong sao đưa đời sống vào con đường bình an trở lại.  Đó là điều cần thiết phải làm.

Còn trong khủng hoảng về niềm tin nếp sống đạo đức thì làm sao?

Trong đời sống đạo giáo niềm tin của đạo Công Giáo hằng năm có hai thời điểm để mỗi người tín hữu nhìn lại đời sống tâm linh của mình với Chúa và với tha nhân, giúp nhìn ra lỗi lầm, khủng hoảng của mình thế nào mà điều chỉnh sửa chữa lại cho ngay đúng.  Đó là Mùa Vọng và Mùa Chay.

Mùa Vọng là thời gian chuẩn bị, kéo dài bốn tuần lễ, tâm hồn đón mừng lễ Chúa giáng sinh làm người ngày 25 tháng 12 hằng năm.

Theo tập tục xưa nay trong Giáo Hội, mùa này là mùa ăn năn thống hối những lỗi lầm đã vấp phạm và xin ơn tha thứ của Chúa.  Vì thế, phẩm phục lễ nghi trong mùa Vọng mang mầu tím, nói lên ý nghĩa thống hối.

Bốn tuần lễ mùa Vọng là những mốc chặng đường nhắc nhớ đến 4000 năm nhân loại trông chờ mong đấng Cứu Thế đến trần gian.

Ngày nay ở những xứ nước bên Âu Châu, có tập tục văn hóa vào mùa Vọng họ bện đan một vòng tròn bằng cành lá cây thông còn tươi xanh, chung quanh có bốn cây nến hoặc mầu trắng hoặc mầu đỏ hoặc mầu tím tùy nơi, dựng treo trên cung thánh hay tại phòng khách ở nhà riêng.

Vòng tròn bện bằng những cành nhánh lá thông mầu xanh nói lên ý nghĩa sự sống niềm hy vọng Thiên Chúa mang đến cho trần gian.

Nhiều những cành lá thông nhỏ được đan bện liền vào nhau nói lên ý nghĩa cùng chung hợp gắn bó lại làm nên một vòng tròn.  Điều này làm nhớ lại lời suy niệm của Tôi tớ Chúa, Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận:

“Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài.
Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống.
Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp.
Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh.
Đường hy vọng do mỗi chấm hy vọng.
Đời hy vọng do mỗi phút hy vọng.”
(Đường Hy vọng số 978)

Vòng tròn không có khởi đầu và không có tận cùng cũng diễn tả về Thiên Chúa, Đấng không có khởi đầu và không có tận cùng.

Bốn cây nến được lần lượt thắp sáng trong bốn tuần lễ muốn nói lên ý nghĩa: Nước Thiên Chúa cũng triển nở lần lượt như bốn cây nến được thắp lên cho tới ngày lễ Chúa Giêsu giáng sinh, Đấng là ánh sáng trần gian.  Ánh sáng bốn cây nến toả ra bốn phương trời đất trong công trình sáng tạo của Thiên Chúa.

Cây nến là hình ảnh Chúa Giêsu, Đấng là ánh sáng trần gian (Gioan 8,12).

Khi cây nến được đốt lên cũng cắt nghĩa về hình ảnh Chúa Giêsu.  Chất sáp làm nên cây nến là hình ảnh thân xác con người của Chúa Giêsu.  Thân xác con người được Thiên Chúa dựng nên có khởi đầu, có phát triển, có những yếu đuối bệnh tật giới hạn và sau cùng có ngày cùng tận.  Chúa Giêsu xuống trần gian làm người, hy sinh sống cuộc sống của con người như chất sáp bị cháy hao mòn thiêu huỷ.

Còn ngọn lửa đốt sáng cây nến là hình ảnh bản tính Thiên Chúa của Chúa Giêsu.  Chúa Giêsu là Thiên Chúa và cũng là người, nên ngài có hai bản tính: Thiên Chúa và con người.

Ngọn lửa đốt cháy chất sáp và tỏa ra ánh sáng hơi ấm tình yêu cho mọi người.

Bốn cây nến chung quanh “Vòng Mùa Vọng” mang bốn sứ điệp.

  • Cây nến thứ nhất chiếu ánh sáng Hoà bình cho những tâm hồn có lòng khoan dung nhân ái.
  • Cây nến thứ hai mang ánh sáng Niềm Tin cho những tâm hồn khao khát tìm về với Chúa là cội nguồn của đời sống.
  • Cây nến thứ ba chiếu toả hơi ấm Tình Yêu cho những tâm hồn tìm sống tình liên đới với người khác.
  • Cây nến thứ tư mang niềm Hy Vọng cho những tâm hồn cần niềm vui phấn khởi.

Bốn Cây Nến Mùa Vọng loan báo sứ mạng của Chúa Giêsu xuống trần gian làm người với và cho con người.

Lm. Đaminh Nguyễn ngọc Long

****************************************

Lạy Chúa, mùa Giáng Sinh lại về.  Tuy rằng con không lầm lẫn Chúa với ông già Noel để xin qùa, nhưng con cũng có một danh sách này xin Chúa ban cho con.

Con ao ước:

  •  Có trọn một ngày để tĩnh tâm, suy niệm về Mầu Nhiệm Chúa nhập thể làm người vì yêu thương con.
  •  Tìm được 15 phút thinh lặng mỗi ngày để dọn lòng mừng đón Chúa.
  • Tìm được dịp đến với Bí Tích Hòa Giải để được xứng đáng đón nhận Chúa.
  • Một dịp để con giúp đỡ người nghèo khổ
  • Thêm nhiều thời giờ sống cho gia đình con
  • Trở nên nhỏ bé để Chúa lớn lên trong con
  • Tìm mọi cách xa lánh những quảng cáo thương mại làm con lo ra, quên chú tâm vào Chúa.

TỈNH THỨC VÀ CẦU NGUYỆN

Mùa Vọng là mùa chờ đón Chúa đến. Chúa sẽ đến nhưng ta không chắc gặp được Người. Vì Người đến rất bất ngờ và rất âm thầm.  Muốn gặp được Chúa ta phải tỉnh thức.

zzTỉnh thức có nghĩa là đừng mê ngủ. Chúa thường hay đến vào ban đêm, nghĩa là vào lúc ta không ngờ.  Ðời sống có những bóng đêm ru ta ngủ say mê khiến ta không gặp được Người.  Có những bóng đêm của tội lỗi giam cầm hồn ta trong giấc ngủ bạc nhược khiến ta không còn đủ sức thoát ra. Tội lỗi lôi kéo tội lỗi. Tội lỗi chồng chất giống như những tảng đá gìm ta xuống vực sâu vô tận.  Có những bóng đêm của danh vọng ru hồn ta ngủ quên trên vinh quang chói lọi.  Vinh quang giống như ngọn đèn đốt cháy biết bao đời thiêu thân.  Có những bóng đêm của xác thịt cuốn hồn ta vào giấc mộng lạc thú.  Lạc thú giống như chiếc lưới rất mềm mại, rất nhẹ nhàng, nhưng rất hiểm độc.  Linh hồn đã sa vào khó có thể thoát ra.  Có những bóng đêm của thói ích kỷ chỉ biết sống cho bản thân mình.  Ích kỷ giống như một hang sâu, càng đi vào càng thấy tối tăm.  Có những bóng đêm của tiền tài bao phủ ta trong giấc mộng giàu sang phú quí.  Chìm đắm trong giấc mộng, ta sẽ chẳng nghe được bước chân của Chúa đi qua.

Tỉnh thức cũng có nghĩa là tỉnh táo phân định.  Chúa đến rất âm thầm và rất bé nhỏ. Người không đến với cờ quạt trống phách tưng bừng, nhưng đến trong âm thầm lặng lẽ. Người không đến trong uy nghi lẫm liệt của những vị vương đế, nhưng Người đến trong hiền lành khiêm nhường như một người phục vụ. Người không mặc gấm vóc lụa là, nhưng đơn sơ trong y phục dân dã.  Người không đến như vị quan toà nghiêm khắc, nhưng như một người cha nhân hậu, một người bạn dễ thương dễ mến.  Người đang đến qua những con người hiền lành bé nhỏ quanh ta.  Người đang đến trong những con người khốn khổ túng cùng.  Người đang đến qua những khuôn mặt xanh xao hốc hác.  Người đang đến trong những tấm thân gầy guộc.  Người lẫn vào giữa đám đông vô danh.  Người chìm mất trong số những kẻ bị loại ra ngoài lề xã hội.  Người ẩn mình giữa đám người ăn xin đang lê bước khắp các nẻo đường cát bụi.  Người đang rét run với cặp mắt ngơ ngác thất thần ở giữa những nạn nhân bão lụt.  Phải tỉnh táo lắm ta mới nhận ra Người.  Phải tỉnh thức lắm ta mới gặp được Người.

Tỉnh thức không có nghĩa là cứ ngồi đó mà chờ đợi. Tỉnh thức là bắt tay vào hành động.  Chúa như ông chủ đi vắng.  Người cho ta được toàn quyền khi Người vắng nhà.  Người giao trách nhiệm cho ta trông coi gia đình ta, giáo xứ ta, địa phương ta, đất nước ta và cả thế giới nơi ta đang sống. Ta được tự do hành động. Ta có trách nhiệm làm cho gia đình, xứ đạo, địa phương, đất nước, và cả thế giới được phát triển về mọi mặt.  Vì thế, tỉnh thức là nhìn thấy những nhu cầu của anh em, và đáp ứng những nhu cầu đó. Tỉnh thức là nhìn thấy ý Chúa trong những trào lưu thời đại. Tỉnh thức là nhận biết Chúa hành động trong những tâm hồn thiện chí thuộc các niềm tin, mầu da, quan điểm khác nhau để biết cộng tác trong việc xây dựng xã hội. Tỉnh thức là dấn thân hy sinh phục vụ anh em trong quên mình.

Ngay từ đầu mùa Vọng, Chúa mời gọi ta hãy tỉnh thức.  Hãy bước ra khỏi giấc ngủ miệt mài, lười biếng.  Hãy đoạn tuyệt với những giấc mộng phù hoa.  Hãy thôi đuổi theo những đam mê dục vọng.  Hãy nói không với những đồng tiền bất chính.

Hãy tỉnh táo phân định để nhận ra dung mạo thực sự của Ðức Kitô.  Ðừng chạy theo những khuôn mặt mang dáng vẻ cao sang quyền quý. Ðừng chạy theo những khuôn mặt nặng về quyền lực.  Ðừng chạy theo những lời hứa hẹn giàu sang.  Dung mạo đích thực của Ðức Kitô là nghèo hèn, là khiêm nhường, là bé nhỏ.

Hãy tỉnh thức để làm việc không ngừng, để quên mình, hy sinh phục vụ cho lợi ích của đồng loại.

Như thế, tỉnh thức không phải là việc dễ dàng. Tự sức ta sẽ khó mà tỉnh thức. Nên ta phải tha thiết cầu nguyện xin ơn Chúa trợ giúp.  Có ơn Chúa thúc đẩy, ta mới có thể dứt bỏ con đường tội lỗi xưa cũ.  Có ơn Chúa soi sáng, ta mới đủ tỉnh táo nhận ra dung mạo đích thực của Ðức Giêsu.  Có ơn Chúa trợ giúp, ta mới đủ hăng hái ra đi phục vụ trong quên mình.

***

Lạy Chúa, xin giữ hồn xác con luôn tỉnh thức để con nhận biết Chúa đang đến với con trong cuộc sống hằng ngày. Amen.

TGM. Ngô Quang Kiệt

BỨC HỌA “ÁNH SÁNG THẾ GIAN”

Tại nhà thờ Chánh toà Thánh Phaolô ở Luân Đôn thủ đô Anh quốc có treo một bức họa rất nổi tiếng.

zzTrên bức họa có hình Chúa Giêsu đứng ngoài một cánh cửa với cây lá trường xuân che phủ kín mặt tường quanh cửa, trên cánh cửa không có ổ khóa, cũng không có quả nắm ở ngoài.  Nhìn bức họa, chúng ta có thể hiểu ngay là Chúa đứng ngoài cửa, Ngài gõ cửa và đứng chờ cho tới khi có ai ra mở cửa cho Chúa vào, ngoài ra không còn cách nào khác có thể đẩy cửa bước vào.  Bức họa đó mang tên là:  Ánh Sáng Thế Gian.

Những ai có dịp đến Luân đôn đều ghé qua và có thể cảm thấy bầu khí nặng nề, ẩm thấp ở trong nhà thờ hoà nhịp với cảnh thương mại sầm uất, náo nhiệt giữa thành phố đông nghẹt người đi lại ấy.  Dĩ nhiên trong bầu khi dày đặc bụi bặm đó với thời gian, bức họa ngày càng trở nên dơ bẩn.  Cha sở nhà thờ Chánh tòa có gọi thợ đến để sửa lại bức họa qúy giá ấy.  Việc trước tiên phải làm là tháo gỡ những khung gỗ quanh bức họa.  Bất ngờ họ đã khám phá ra một điều mà từ trước tới giờ chưa ai nhận thấy: dưới bức họa ấy, người họa sĩ đã ghi thêm hàng chữ:  “Lạy Chúa, xin thứ lỗi cho con, vì con đã bắt Chúa phải đứng chờ quá lâu”.  Qủa thực, từ bao năm qua, khung gỗ đã che mất hàng chữ đó, vì thế, ý nghĩa cũng như giá trị tinh thần của bức họa cũng không tránh khỏi sự mất mát lớn.

Hàng chữ trên đây nói lên tinh thần đau xót của họa sĩ vì đã để cho Chúa Giêsu đứng chờ quá lâu trước khi ông quyết định mở cửa tâm hồn đón nhận Ngài bước vào trong đời sống của ông.

************************************

Có lẽ các bạn cũng có dịp nghe biết đến bức họa nói trên, nhưng hàng chữ viết ẩn giấu dưới khung ảnh lại rất ít được biết tới.  Hàng chữ viết của họa sĩ là phản ánh sứ điệp của Phúc âm:  Nay là ngày hồng phúc, đây là ngày cứu độ, là thời gian quyết liệt, hãy quyết định đi, đừng chần chờ vô ích, đừng quá đắn đo do dự nữa.  Nhưng đó là quyết định gì?  Là quyết định mở cửa cho Chúa vào, hơn thế nữa, không chỉ là một cánh cửa mà thôi, nhưng là mở tất cả những cánh cửa trong đời sống chúng ta.  Cánh cửa của quá khứ, của hiện tại và cánh cửa hướng nhìn về tuơng lai.

Cánh cửa thứ nhất là cánh cửa chôn giấu cuộc đời trong quá khứ, tức là biết can đảm nhìn nhận những gì đã qua không thể lấy lại được nữa, những vui sướng, đau buồn, chúng ta hãy cảm nhận nó, gói gém tất cả, trao phó cho Chúa, đừng bận tâm làm cản trở bước đi tới của chúng ta.  Chìa khoá của quá khứ được gọi là tha thứ.  Thật vậy, trong đời sống mỗi người có biết bao điều xảy ra ngoài ý muốn mà chúng ta không thể thay đổi được, cũng không thể xóa bỏ hay trốn tránh được.  Chẳng hạn như cái chết, những đổ vỡ trong gia đình, những sự bất trung thất tín, những phản bội v.v…  Dầu muốn dầu không, sự việc đã rồi nhưng vẫn còn đó, vẫn ăn sâu và đè nặng tâm hồn, vì thế, phương pháp duy nhất là tha thứ.

Quyết định mở cửa quãng đường quá khứ cho Chúa Giêsu là đến với Ngài, đến với tất cả cái ba lô nặng trĩu trên vai, là hiến dâng cho Ngài, là cầu xin tha thứ: ơn tha thứ cho chính bản thân và cho tất cả những ai làm phiền đến ta.  Than thân trách phận chỉ là đều vô ích.  Trái lại, nếu chúng ta quyết định và dứt khoát dâng hiến cho Ngài, tất cả mọi sự sẽ tiêu tan và sẽ được biến đổi trong biển cả tình thương bất tận của Ngài.  Chúa Giêsu, Ngài vẫn tiếp tục gõ cửa và vẫn kiên nhẫn đứng chờ ở ngoài.

************************************

Lạy Chúa, xin ban cho con ơn can đảm để con dứt khoát bắt đầu, cởi bỏ gánh nặng của quá khứ đang đóng kín lòng con và dạy con rộng mở cửa lòng cho Chúa vào, vì chỉ nơi Chúa mới có ơn tha thứ và ơn an bình thực sự.  Amen!

R. Veritas

LÁ THƯ CUỐI CÙNG CỦA NGƯỜI LÁI XE TẢI

Một lần trên xa lộ, tôi thấy một nhóm cảnh sát hoàng gia Canada và vài người công nhân đang tháo gỡ phần còn lại của một chiếc xe tải bị mắc kẹt bên vách đá.  Tôi đậu xe lại, nhập vào nhóm tài xế xe tải đang lặng lẽ quan sát đội công nhân.

Một cảnh sát bước lại chỗ chúng tôi chậm rãi nói: “Rất tiếc, người tài xế đã chết khi chúng tôi phát hiện ra anh ta.  Có lẽ anh ấy bị lạc tay lái trong lúc trời có bão tuyết hai ngày trước đây.  Thật khó để nhận ra người bị nạn nếu chúng tôi không may mắn thấy ánh nắng phản chiếu từ kính chiếu hậu”.  Viên cảnh sát lắc đầu buồn bã, rút trong túi áo khoác một lá thư: “Đây này, các anh nên đọc cái này. Tôi đoán anh ấy đã sống được khoảng hai giờ trước khi chết vì lạnh”.

Tôi chưa bao giờ thấy cảnh sát khóc.  Tôi nghĩ họ đã thấy quá nhiều cái chết và chứng kiến nhiều cảnh tượng hãi hùng nên họ không còn cảm giác gì trước những việc tương tự.  Nhưng viên cảnh sát ấy đã lau nước mắt và đưa tôi lá thư.  Đọc thư, tôi cũng như những người tài xế khác, không nói lời nào, chỉ lặng lẽ giấu những giọt nước mắt, trở về xe của mình.

Những từ ngữ trong thư như nung cháy tôi.  Và sau nhiều năm, nó vẫn còn khắc sâu trong trí nhớ, như thể tôi đang cầm nó trước mặt.  Tôi muốn chia sẻ lá thư đó với bạn, bạn bè của bạn và gia đình của họ.

zzThư của Bill, tháng 12 năm 2000

“Vợ yêu quý của anh,

Đây là lá thư mà không người đàn ông nào muốn viết.  Nhưng anh cũng đủ may mắn khi có một ít thời gian nói lên những gì anh đã quên nói nhiều lần trước đây.

Anh yêu em, em yêu ạ.  Em đã từng nói đùa rằng anh yêu chiếc xe tải còn hơn cả yêu em bởi vì anh dành nhiều thời gian cho nó quá!  Anh yêu cái khối sắt này vì nó cần cho chúng ta.  Nó chứng kiến anh vượt qua những nơi khó khăn, những giờ khó nhọc.  Anh đã có thể luôn kỳ vọng vào nó trên những chuyến hàng xa và nó luôn mau chóng giúp anh hoàn thành công việc.  Nó không bao giờ làm anh thất vọng.  Nhưng em có biết rằng anh yêu em cũng bởi những lý do đó.  Em cũng đã chứng kiến anh vượt qua những thời khắc khó khăn.

Anh nhớ anh đã than phiền về chiếc xe cũ kỹ vậy mà anh không nhớ em cũng từng than thở khi mệt mỏi trở về nhà.  Anh quá lo nghĩ đến những rắc rối của mình đến nỗi không nghĩ gì đến em.  Anh nghĩ về những thứ em đã phải từ bỏ vì anh: quần áo, du lịch, tiệc tùng, bạn bè…  Em đã không bao giờ trách móc và vì lý do nào đó anh đã không bao giờ nhớ cám ơn em.  Khi anh ngồi uống cà phê với bạn bè, anh luôn nói về chiếc xe và những khoảng tiền sửa chữa nó.  Anh nghĩ anh đã quên mất em là người bạn đời của anh.

Sự hy sinh và phấn đấu của em cũng nhiều như việc anh cố gắng để có được một chiếc xe mới.  Anh rất hãnh diện về chiếc xe này và anh cũng rất hãnh diện về em.  Nhưng anh chưa bao giờ nói với em điều đó.  Anh cho đó là điều dĩ nhiên em đã biết.  Nhưng nếu anh dành nhiều thời gian với em thay vì để chùi rửa, lau bóng chiếc xe thì anh đã có thể nói những lời thật lòng mình với em.

Nhiều năm tháng qua, trong những lần rong ruổi trên đường, anh biết những lời cầu nguyện của em luôn theo anh.  Nhưng lần này những lời đó không đủ.  Anh đang đau quá.  Anh đang trên chặng đường cuối cùng.  Và anh muốn nói lên những điều mà lẽ ra anh phải nói nhiều lần trước đây.  Những điều bị lãng quên vì anh quá quan tâm đến chiếc xe và công việc.

Anh đang nghĩ đến những ngày kỷ niệm của hai đứa hay ngày sinh nhật đã bỏ lỡ, cả những vở kịch, những trận đấu hockey của các con mà em phải tham dự một mình vì anh đang đâu đó trên đường.  Anh đang nghĩ về những đêm em cô đơn và nghĩ đến anh đang ở đâu, công việc như thế nào.  Anh đang nghĩ về những lúc anh muốn gọi cho em chỉ để nói lời chúc ngủ ngon nhưng vì lý do gì đó lại tiếp tục chạy xe.  Anh nghĩ về những giây phút thanh thản, yên lành khi nghĩ đến em cùng các con.  Những bữa cơm gia đình em dành nhiều thời gian để chuẩn bị và tìm nhiều lý do để giải thích với các con vì sao anh không ăn cùng. (Vì anh đang bận thay dầu cho xe, anh đang bận sửa xe, anh đang ngủ vì buổi sáng anh phải đi sớm,…).  Luôn luôn có một lý do nào đó!  Khi chúng ta lấy nhau, em không biết thay bóng đèn, nhưng chỉ hai năm sau em đã có thể sửa lò sưởi những khi trời bão trong khi anh đang chờ dỡ hàng ở Florida.

Anh đã phạm nhiều sai lầm trong đời nhưng nếu nói anh chỉ có một lần quyết định đúng, anh nghĩ đó là khi anh hỏi cưới em.

Cơ thể anh đang đau.  Nhưng tim anh thì đau hơn nhiều.  Em không có mặt lúc anh ra đi, lần đầu tiên từ khi chúng ta có nhau.  Anh thật sự thấy cô đơn và sợ hãi.  Anh cần em nhiều lắm và anh biết đã quá trễ rồi.  Anh nghĩ thật là tức cười, bây giờ tình yêu của anh thì đang ở xa anh ngàn dặm còn khối sắt vô tri đã sai khiến cuộc sống của anh nhiều năm nay thì đang ở đây.  Nhưng anh cảm thấy em đang ở cạnh.  Anh có thể cảm nhận tình yêu của em, trông thấy khuôn mặt em.  Em đẹp lắm, có biết không? Anh nghĩ gần đây anh không nói với em điều đó dù em vẫn rất xinh đẹp.

Hãy nói với các con rằng anh yêu chúng rất nhiều . Anh sợ phải ra đi quá nhưng giờ phút đó đã đến rồi em yêu ạ. Anh yêu em rất nhiều.  Hãy nhớ chăm sóc bản thân và luôn nhớ rằng anh đã yêu em nhiều hơn bất cứ cái gì trên đời.  Anh chỉ quên không nói với em điều đó mà thôi.

Anh yêu em!
Bill.”

“…Nếu bạn đang chờ đến ngày mai, tại sao lại không thực hiện mọi thứ ngay trong ngày hôm nay?  Bởi nếu ngày mai không bao giờ tới, bạn sẽ phải hối tiếc rất nhiều vì đã không dành những giây phút hiếm hoi còn lại để sẻ chia một nụ cười, một cái ôm…

…Hãy giữ những người mà bạn thật sự yêu thương trong vòng tay của mình, thì thầm vào tai họ, nói với họ rằng bạn yêu thương họ nhiều như thế nào…”

Thụy Khanh dịch
(Theo Chicken Soup Daily).

 

ĐỨNG VỀ PHÍA SỰ THẬT

zzMừng lễ Đức Giêsu Kitô là Vua vũ trụ hôm nay, Giáo hội mời gọi ta ngắm nhìn trái đất, nơi Thiên Chúa đã tạo dựng cho con người và vì con người, nơi Thiên Chúa đã đem lòng yêu thương và ban ơn cứu chuộc. Nơi đây Con Thiên Chúa đã ghi dấu chân mình, đã mặc lấy thân phận con người, sống như con người, và chết cho con người được sống.

Hôm nay trái đất này là nơi sinh sống của hơn 6 tỉ người. Trái đất này sẽ đi về đâu? Lịch sử này sẽ đi về đâu? Tất cả sẽ được hội tụ và biến đổi nơi Đức Kitô, để rồi Ngài sẽ dâng lại tất cả cho Thiên Chúa Cha.

Tin mừng Chúa nhật hôm nay đưa ta về khung cảnh xét xử Chúa Giêsu trong dinh philatô, nơi một kẻ tội lỗi lại xét xử một đấng Thánh, một con người hèn mọn lại xét xử một Thiên Chúa tối cao, và một tạo vật bé nhỏ lại đi xét xử một đấng tạo hóa quyền năng vô biên.

Trong cuộc xét xử này, Đức Giêsu không nói rõ mình là vua, cũng không chịu để dân chúng tôn vinh mình là vua, nhưng Ngài lại nói nhiều về Nước của Ngài. “Nước tôi không thuộc về thế gian này.” (Ga.18:36)

Nước đó, Philatô chẳng có gì phải sợ.  Một nước không có quân đội để chiến đấu, không có lãnh thổ trên bản đồ, không thuộc về thế gian. Nhưng Nước đó lại rộng lớn vô biên và có những công dân thực sự.  Bất cứ ai đứng về phiá sự thật thì thuộc về Nước này. “Tôi đã sinh ra và đã đến trong thế gian vì điều này: Đó là để làm chứng cho sự thật.“. (Ga.18:37)

Họ bắt gặp sự thật nơi lời chứng của Đức Giêsu. Họ đã nghe tiếng Ngài và theo Ngài tiến bước. Có những người chưa biết Đức Giêsu, nhưng đã ở rất gần Ngài.

Nước của Vua Giêsu là Nước của sự thật. Sống theo sự thật chẳng bao giờ dễ dàng. Kẻ trung thực thường thua thiệt, lại bị coi là dại dột. Sự dối trá nhiều khi được coi là khôn ngoan. Người ta dối trá một cách trơn tru, không chút áy náy.

“Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Chúng ta không nghe được tiếng Chúa, chỉ vì ta sợ sự thật, sợ nói thật, sợ sống thật, như Philatô muốn giữ ghế ngồi hơn là cứu người vô tội.

Lương tâm bị băng hoại, lòng tin vào nhau bị đổ vỡ. Cuối cùng chính chúng ta là nạn nhân của mình, của một thế giới xây dựng trên những đồ giả.

Mừng lễ Đức Giêsu Kitô là Vua vũ trụ, ta đặt mình trước một thế giới bề bộn bao vấn đề: ô nhiễm môi trường, tăng dân số, aids, thất nghiệp, ma tuý, mafia, tham nhũng, nghèo đói, lạc hậu, bất công… Thế lực của sự dữ và tội ác có vẻ thắng thế, ích kỷ, hận thù, bạo lực tung hoành khắp nơi. Chúng ta không chỉ cầu xin cho Nước Chúa mau đến, mà còn đưa tinh thần Đức Kitô vào mọi cơ cấu trần gian: Chính trị, xã hội, nghệ thuật, giáo dục, thể thao, giải trí…

Càng làm cho sự thật và tình yêu thắng thế thì Nước Chúa càng lớn dần lên cho đến lúc thành tựu viên mãn vào ngày tận thế.

***

Mừng lễ Chúa Giêsu Kitô Vua vũ trụ hôm nay, ước chi ta biết xóa bỏ những thần tượng giả mạo, ước chi ta chọn Ngài làm vua của lòng mình, để Ngài chiếm hữu từng khoảng khắc cuộc đời ta, và ngự trị trong cõi lòng ta luôn mãi. Amen

(Trích trong ‘Manna’)

TÂM TÌNH BIẾT ƠN

zzCám ơn Người luôn nhớ đến con
Cho con biến đổi từ thân xác
Cho con niềm trung trinh tín thác
Dù biết tình con đã nhạt nhòa.

Cám ơn Người vẫn chưa quên
Một gã phong cùi mất tuổi tên
Mất luôn tất cả tình xưa cũ
Đời con phiêu bạt sống bên đường.

* * * * *

Bạn thân mến! Hơn hai ngàn năm trước đây, tôi đã sinh ra và lớn lên trong vùng Samari bên miền đất Do Thái ngày nay.  Từ ngày khôn lớn, vì cuộc sống lam lũ nghèo đói, tôi đã phải bôn ba vất vả hàng ngày để kiếm sống, và cũng từ ngày đó, tôi đã mang trong người căn bệnh hiểm nghèo: Bệnh phong cùi.  Ngày tháng trôi qua, căn bệnh không có thuốc chữa này đã lấy đi những ngón tay ngón chân của tôi, nó cũng làm cho khuôn mặt của tôi biến đổi thành dị hợm khó coi.

Vào thời đó, luật lệ và quan niệm của con người cho rằng người mắc bệnh phong là người tội lỗi, là hiện thân của hình phạt mà Thiên Chúa đã giáng xuống. Người mắc bệnh phong cũng bị thân nhân và người đời ruồng bỏ, bị gạt ra khỏi cộng đoàn xã hội.  Hàng rào ngăn cách bởi luật lệ ngăn cấm tôi không được tiếp xúc với những người không mắc bệnh.  Chính vì điều này mà những người mắc bệnh phong như tôi đã phải liên kết với nhau để nâng đỡ nhau, sống quây quần bên nhau làm thành một xã hội của những người phong cùi.

Một ngày kia, tôi nhìn thấy Giêsu trên đường đi. Tôi đã nghe người ta nói nhiều về Giêsu, về quyền năng mà Giêsu đã chữa lành cho các bệnh nhân, về tình yêu thương an ủi nâng đỡ mà Giêsu đã trao ban cho nhiều người, đặc biệt là những người nghèo khó và cùng khốn như tôi. Khi nhìn thấy Giêsu trên đường đi, nỗi vui mừng đã tràn ngập lòng tôi, với niềm tin tưởng dâng cao, tôi tự nhủ:

– Phen này chắn hẳn tôi sẽ được cứu, sẽ được chữa lành !!!

Nhưng luật lệ đã ngăn cấm không cho phép tôi đến gần Giêsu.  Biết làm sao đây?  Tôi cùng với những người bạn cùi, chúng tôi phải đứng xa xa và mạnh dạn cất tiếng kêu xin lòng thương xót của Giêsu:

– Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương xót chúng tôi (Lc.17:13)

Giêsu đã vượt qua luật lệ, Ngài đã phá tan bức tường ngăn cách kỳ thị, Giêsu đã đến đứng bên cạnh tôi.  Trước mặt tôi là một Giêsu với gương mặt phúc hậu, với đôi mắt rưng rưng ngấn lệ …Giêsu giơ tay đụng đến thân xác tàn tạ bệnh hoạn của mỗi người chúng tôi.  Cuối cùng Ngài lên tiếng nói :

– “Hãy đi trình diện với các Tư Tế” (Lc.17:14)

Tôi giơ bàn tay lên cao để nhìn.  Bàn tay vẫn như cũ, ngón tay vẫn còn bị mất, vết thương lở lói với máu mủ vẫn còn nguyên vẹn.  Căn bệnh vẫn còn đó trên thân xác này, thế mà Giêsu lại bảo tôi đi trình diện với các tư tế để được khám xét, để được chứng thực là đã sạch bệnh.  Lạ quá nhỉ?  Tôi hoang mang phân vân không biết phải làm gì. Chẳng lẽ tôi không được Giêsu chữa lành hay sao?  Ngài không nghe tiếng tôi van xin; không dủ lòng thương xót cho con người cùng khốn của tôi hay sao?  Nhưng với niềm tin tưởng phó thác nhỏ bé trong tôi, tôi bước đi và làm theo lời Ngài chỉ dạy.  Nhưng lạ thay, trên đường đi đến trình diện các tư tế, tất cả mười người chúng tôi đều được khỏi bệnh.  Niềm vui mừng hân hoan trào dâng trong lòng tôi. Giêsu đã nghe tiếng tôi nài xin.  Ngài đã dủ lòng thương tôi, đã chữa lành cho tôi. Giờ đây tôi mới hiểu ra là Ngài muốn có sự cộng tác của tôi để việc cứu chữa mà Ngài thực hiện nơi tôi trở nên trọn vẹn hơn, hoàn hảo hơn và nhiều ý nghĩa hơn… Giêsu ơi! Tình thương của Ngài sao quá bao la!!!

Trước khi gặp Giêsu, tôi là một gã phong cùi bị xã hội và con người coi là phường tội lỗi, bị thân nhân và người đời xa lánh ruồng bỏ, phải sống lang thang vất vưởng đầu đường xó chợ. Sau khi gặp Giêsu, tôi được chữa lành và được biến đổi thành một con người mới, được hòa nhập vào cộng đoàn xã hội, không còn bị khinh chê, bị thân nhân và người đời ruồng bỏ nữa. Giêsu đã cải hóa con người tôi, Ngài đã làm tất cả những điều này vì yêu thương tôi.  Lòng biết ơn đã thôi thúc tôi quay về với Đấng đã cứu chữa tôi.  Tôi phải trở về gặp Ngài, xấp mình dưới chân Ngài để nói lời tạ ơn, để thấy mình được bao bọc bởi tình yêu thương, và cũng để làm mọi sự để đáp lại tình yêu đó.

Gặp lại Giêsu, Ngài trao cho tôi ánh mắt yêu thương trìu mến.  Ngài ân cần nhỏ nhẹ lên tiếng nói với tôi:

–  “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?” (Lc.17:17-18)

Chín người kia đâu?  Họ đi đâu rồi?  Họ là những người Do Thái mà!  Họ là người “trong đạo” và là người dân được Thiên Chúa tuyển chọn.  Ấy vậy mà họ không nhìn ra quyền năng Thiên Chúa đã làm trên cuộc sống và thân xác của họ hay sao?

Chín người kia đâu?  Họ đã cùng tôi đi chung một đoạn đường dài trong những năm tháng đắng cay cuộc đời, họ đã cùng tôi chia sẻ tấm áo miếng cơm trong cuộc sống đầu đường xó chợ, và mới vài giờ trước đây, họ đã đi chung một con đường với tôi để đến trình diện các tư tế.   Nay được khỏi bệnh, có lẽ họ không còn tiếp tục sống chung với tôi, chia sẻ vui buồn sướng khổ với tôi như trước nữa.  Họ tách riêng ra và không thể cùng tôi đi chung một con đường.  Họ đã bị ngăn cản bởi hàng rào ngăn cách của kỳ thị “trong đạo-ngoại đạo” gây ra. Họ được giải thoát khỏi bệnh tật nhưng họ lại bị nô lệ vào luật lệ và quan niệm khắt khe của người đời.

Chín người kia đâu?  Tôi không biết giờ này họ ở đâu, nhưng tôi biết chắc chắn một điều là họ đã được khỏi bệnh như tôi, và họ đã quên người đã làm cho họ khỏi bệnh.  Chắc hẳn họ đã có lòng tin nên được khỏi bệnh, nhưng họ lại thiếu lòng biết ơn cần thiết của một con người.  Họ đã khỏi bệnh phần xác nhưng căn bệnh hiểm nghèo trong tâm hồn của họ vẫn còn cần được cứu chữa.

Trong sự kính trọng và vâng phục, tôi xấp mình dưới chân Giêsu để nói lên tâm tình tạ ơn.  Ngay lúc đó, Giêsu đã cúi xuống và nâng tôi lên. Ngài nói nhỏ vào tai tôi:

– “Ðứng dậy về đi ! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh”. (Lc.17:19)

Tôi đứng dậy bước đi nhưng lòng còn mang nặng ơn nghĩa với Giêsu. Chân tôi bước đi nhưng lòng trí và ánh mắt của tôi cứ hướng về Giêsu. Tiếng Ngài cứ vang vọng trong tâm trí của tôi “ về đi…về đi ”. Ngài muốn tôi về với cuộc sống bình thường ngày xưa, về với gia đình làng xóm, về với cộng đoàn xã hội… “ về đi ” để làm chứng cho Ngài, để nói về Ngài cho những người xung quanh tôi, để rao truyền Tin Mừng và ân sủng mà Ngài đã trao ban cho tôi hôm nay. Tôi vừa bước đi vừa nói với Ngài trong thinh lặng: ”Vâng lời Ngài, con đi về…Nhưng Giêsu ơi! xin ở cùng con luôn mãi…” 

* * * * *

Lạy Chúa! Xin cho con luôn ý thức để nhận ra những hồng ân mà Chúa đã ban cho con từng giây từng phút, để con cũng biết dâng lời cảm tạ từng phút từng giây.  Xin cho con biết cảm nhận tình thương, sự hy sinh và cử chỉ yêu thương của những người chung quanh, để con biết đáp trả bằng chính tình yêu chân thành và sự hy sinh của con.  Xin cho con luôn sống tâm tình biết ơn; biết ơn Chúa và biết ơn người, để cuộc đời con luôn là một bài trường ca tri ân cảm mến.  Amen.

Linh Xuân Thôn

MẸ CHỈ CẦN DUY NHẤT MỘT THÁNH LỄ

zzNgày 3-2-1944, một cụ bà gần 80 tuổi qua đời.  Cụ bà đó không ai khác là thân mẫu tôi.

Tôi lặng lẽ chiêm ngắm gương mặt Mẹ dịu hiền nơi nhà nguyện nghĩa trang, trước khi hạ huyệt.  Trong tâm tình con thảo và nhất là, trong tư cách Linh Mục, tôi thì thầm với Mẹ: “Mẹ à, từ ngày có trí khôn đến giờ, con chưa bao giờ thấy Mẹ lỗi phạm nặng nề một luật nào của Chúa!

Và tôi hồi tưởng những chặng đường qua của cuộc đời Mẹ.

Mẹ tôi có một đời sống thật gương mẫu.  Sở dĩ tôi được làm Linh Mục phần lớn là nhờ công lao của Mẹ hiền.

Mỗi ngày, Mẹ tôi tham dự Thánh Lễ rước lễ, kể cả vào những năm cuối đời, tuổi đã cao.  Khi đi cũng như lúc về, Mẹ tôi đều cầm tràng hạt trong tay.  Mỗi khi rỗi rảnh, Mẹ thường lần hạt, đọc kinh Mân Côi.  Mẹ tôi rất có lòng bác ái, thương người đến độ mất một con mắt, chỉ vì liều mạng cứu sống một người đàn bà nghèo.  Chưa hết.  Mẹ tôi luôn chấp nhận thánh ý Thiên Chúa.  Ngày thân phụ tôi qua đời, Mẹ tôi hỏi: “Trong lúc này đây, Mẹ có thể than thở gì với Đức Chúa GIÊSU để làm đẹp lòng Ngài?”  Tôi trả lời: “Mẹ cứ lập đi lập lại câu: Lạy Chúa, xin cho thánh ý Chúa được thực hiện.

Trên giường bệnh, Mẹ tôi lãnh các Bí Tích sau cùng với Đức Tin sâu xa.

Mấy giờ trước khi tắt thở, Mẹ tôi đau đớn vô cùng.  Nhưng Mẹ không ngừng lập đi lập lại: “Lạy Đức Chúa GIÊSU, con muốn xin Chúa giảm cơn đau cho con.  Tuy nhiên, con không dám áp đặt ý con trên thánh ý Chúa.  Trái lại, xin cho thánh ý Chúa được thể hiện.

Với lời sau cùng này, Mẹ tôi – người phụ nữ đã cưu mang, sinh hạ và dưỡng dục tôi nên người – trút hơi thở cuối cùng.  Sau khi Mẹ tôi qua đời, ai ai cũng nức lời khen ngợi Mẹ, người đàn bà đức hạnh.  Tuy nhiên, tôi không để ý đến lời ca tụng của người đời cho bằng nghĩ đến sự phán xét công minh của Thiên Chúa.  Do đó, tôi làm nhiều việc lành, sốt sắng dâng Thánh Lễ và không ngừng cầu nguyện cho Linh Hồn Mẹ sớm tận hưởng Thánh Nhan Thiên Chúa.

Ngoài ra, mỗi khi có dịp giảng, tôi đều nhắn nhủ các tín hữu Công Giáo hãy năng nhớ giúp đỡ các Linh Hồn nơi Lửa Luyện Ngục.  Giúp đỡ bằng nhiều cách: tham dự Thánh Lễ, rước lễ và làm việc lành phước đức, bố thí giúp đỡ người nghèo.

Thiên Chúa Nhân Lành cho phép Mẹ hiện về với tôi.

Đúng hai năm rưỡi sau khi qua đời, Mẹ tôi bỗng xuất hiện trong phòng, dưới hình dạng con người.  Mẹ trông thật buồn bã.  Mẹ tôi nói: “Các con đã bỏ quên Mẹ trong Luyện Ngục!

Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Ủa, cho tới bây giờ mà Mẹ còn ở trong Luyện Ngục hay sao?

Mẹ tôi đáp:Đúng thế! Mẹ vẫn còn ở trong Luyện Ngục.  Bóng tối vây phủ Linh Hồn Mẹ, khiến Mẹ không thể trông thấy Ánh Sáng là Thiên Chúa… Mẹ đang ở ngưỡng cửa Thiên Đàng, gần nơi an vui vĩnh cửu và Mẹ nồng nhiệt ước muốn được vào, nhưng Mẹ không thể nào vào được! Không biết bao nhiêu lần Mẹ tự nhủ: Nếu các con biết mình đang bị dằn vặt khốn khổ khôn lường, hẳn là chúng đã cấp tốc ra tay cứu giúp mình!

Tôi hỏi tiếp: “Sao trước đây Mẹ không hiện về báo cho chúng con biết?

Mẹ tôi buồn bã trả lời: “Mẹ đâu có được phép!

Tôi lại hỏi: “Mẹ vẫn chưa được trông thấy Thiên Chúa sao?

Mẹ tôi giải thích: “Khi vừa tắt thở, Mẹ đã được trông thấy Chúa nhưng chưa được trông thấy trọn Ánh Sáng Vinh Quang của Chúa.

Tôi hỏi tiếp: “Chúng con có thể làm được gì để giúp Mẹ ra ngay khỏi Luyện Ngục?

Mẹ tôi nói: Mẹ chỉ cần duy nhất một Thánh Lễ.  Chúa cho phép Mẹ hiện về để xin con điều đó.

Tôi không quên dặn dò Mẹ: “Khi nào được vào Thiên Đàng, Mẹ nhớ hiện về ngay báo tin cho con biết.

Mẹ tôi trả lời: “Nếu Chúa cho phép Mẹ hiện về…  Ôi Ánh Sáng thật tuyệt đẹp!

Vừa nói Mẹ tôi vừa biến mất.

Chúng tôi dâng 2 Thánh Lễ cầu cho Linh Hồn Mẹ.

Một ngày sau, Mẹ tôi hiện về nói: “Mẹ đã được vào Thiên Đàng rồi!

Chứng từ của Cha Giuseppe Tomaselli, người Ý, Dòng Don Bosco.

… “Từ vực thẳm, con kêu lên Ngài, lạy Chúa, muôn lạy Chúa, xin Ngài nghe tiếng con.  Dám xin Ngài lắng tai để ý nghe lời con tha thiết nguyện cầu.  Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng? Nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ để chúng con biết kính sợ Ngài.  Mong đợi Chúa, con hết lòng mong đợi, cậy trông ở lời Người.  Hồn con trông chờ Chúa, hơn lính canh mong đợi hừng đông.  Hơn lính canh mong đợi hừng đông, trông cậy Chúa đi, Israel hỡi, bởi Chúa luôn từ ái một niềm, ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa. Chính Người sẽ cứu chuộc Israel cho thoát khỏi tội khiên muôn vàn” (Thánh Vịnh 130).

(”L’Aldilà .. Stupenda realtà”, Editrice Comunità, 1992, trang 265-266)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt (Đài Vatican02/11/2009)

 

PHÁN XÉT CHUNG

Khi còn ở tập viện, một hôm thánh Louis Gonzaga đang chơi với các bạn thì một người bạn hỏi ngài rằng: “Giả sử ngày mai là ngày tận thế, mọi người sẽ phải chết, bạn sẽ làm gì hôm nay?”. Thánh Louis dừng lại một chút rồi mỉm cười trả lời: “Tôi sẽ tiếp tục chơi”.

***

Bạn thân mến! Tin Mừng Chúa nhật hôm nay cũng tường thuật về ngày tận thế, ngày tất cả mọi người đều phải chết.  Ngàyzzđó là ngày phán xét chung, ngày Chúa ngự đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết, ngày đó linh hồn ta sẽ lộ hết chân tướng, không có gì có thể che dấu được.

Bấy giờ Con Người sẽ ngự đến, đầy uy nghi và cao cả, để xét xử muôn dân. Đó là một vài nét chấm phá về ngày phán xét chung.

Nhiều người ngày nay lo sợ về ngày tận thế. Bởi vì có nhiều dấu hiệu giống như những điều đã được tiên báo trong các sách Tin Mừng. Chẳng hạn như loạn lạc chiến tranh, tình trạng hỗn độn, nạn đói kém, các dịch bệnh, động đất và việc xuất hiện các ngôn sứ giả (Mt 24:4…)

Là người Kitô, sự kiện tận thế không phải là sự hủy diệt trái đất, nhưng là việc Chúa Giêsu đến lần thứ hai. Đó là lúc kẻ chết sống lại và mọi người đều phải đối diện trước mặt Thiên Chúa để chịu xét xử về công trạng của mình trong cuộc sống và những việc mình đã làm .

Đó sẽ là ngày của sự công bình và sự thật: “Những kẻ khôn ngoan sẽ chiếu sáng như ánh quang của bầu trời… Những kẻ công chính sẽ chiếu sáng như các vì sao…”. Đó sẽ là ngày phán xét: Kẻ lành sẽ được thưởng, kẻ thất trung sẽ bị loại trừ. Lòng mỗi người, mà Thiên Chúa thấu suốt, sẽ được phơi bày ra. Những kẻ đã sống vì Thiên Chúa sẽ được dẫn tới bên Ngài; Những kẻ chối từ Ngài sẽ bị ruồng bỏ.

Lời Chúa trong Tin Mừng Chúa nhật hôm nay mời gọi ta quan tâm đến thời khắc ta sẽ phải gặp Chúa, phải đối diện với Chúa vào giây phút cuối của cuộc đời. Liệu vào lúc ấy, ta có đến với Chúa bằng đôi tay chất đầy công nghiệp là những hành động bác ái yêu thương hay không?  Nếu như phải tính sổ cuộc đời với Chúa, thì ta đã sử dụng những nén bạc Ngài trao gởi như thế nào?

Vì thế, ta đừng lo lắng chuyện tận thế, nhưng hãy quan tâm đến việc ta có còn tin tưởng và cậy trông vào Đức Kitô hay không? Ta có sống yêu thương như Tin Mừng Chúa Kitô mời gọi hay không?  Vấn đề là ở chỗ này:  Ngày phán xét, ta chỉ bị hỏi một câu thôi: “Con đã làm gì cho những anh chị em nhỏ mọn nhất của Ta?”

***

Lạy Chúa, xin cho con sống mỗi ngày như là ngày sau hết của đời con. Amen