NHỮNG CƠN CÁM DỖ

Sau hơn mười mấy năm xa cách, bố con chúng tôi lại được gặp nhau, mừng vui khôn xiết.  Tôi hỏi thăm Bố về những tháng ngày trong trại cải tạo, Bố vui vẻ trả lời những câu thật hồn nhiên dí dỏm: “Như là vào sa mạc và chịu cám dỗ ấy mà con”, “Trại cải tạo hả?  Không, cái túi của số phận”.  Điều thứ nhất, từ “sa mạc” mà tôi ghi nhớ mãi là, ban đầu, Bố không đọc được kinh Lạy Cha vì cứ phải nghe chiếc loa phóng thanh rót vào tai những câu “….khó khăn nào cũng vượt qua, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.  Chỉ ngay hôm sau, Bố có một kinh Lạy Cha mới để đọc và suy niệm: “Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng… khó khăn nào cũng vuợt qua, nước cha trị đến… nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời… kẻ thù nào cũng đánh thắng.”  Điều thứ hai, tôi tâm đắc lắm là câu nói của Bố “Khi đã chấp nhận cái thân phận của mình theo thánh ý Thiên Chúa, thì dù ở trong cái túi của số phận cũng giống như ở trong “đồng cỏ xanh êm vui bên suối thơ” vậy con à”.  Tôi thầm biết ơn những thử thách mà từ nhà đạo gọi là cơn cám dỗ.

Tôi muốn mượn những câu chuyện của Bố tôi, để bắt đầu cho những suy tư Chúa nhật thứ nhất mùa chay nầy..

Tỉnh thức để lựa chọn

Chúa Thánh thần là nguồn mạch sự khôn ngoan; và chỉ có sự khôn ngoan siêu phàm ấy mới giúp tôi tỉnh thức để có sự lựa chọn đúng đắn nhất.  Chúa Thánh Thần luôn hiện diện để hướng dẫn từng quyết định của tôi trong đời, chỉ tiếc là do tôi vô tâm: hoặc phủ nhận sự hiện diện của Ngài, hoặc tự phụ mà không cần đến trợ lực của Ngài.  Thế thì cơn cám dỗ đầu tiên của tôi chính là “cái tôi”- cái tôi lúc nào cũng muốn vượt ra khỏi giới hạn nhỏ bé của mình, cái tôi muốn tự khẳng định mình có đủ quyền năng và tài trí, cái tôi không tôn vinh ai, không khuất phục ai, mà đòi người khác tôn vinh khuất phục mình… Chính vì cái tôi đầy lòng tham lam ấy, mà lòng tôi không còn một chỗ cho Chúa Thánh Thần ngự trị, cho nguồn khôn ngoan siêu việt, tuyệt đối một cơ may tác động.  Và kết quả là, tôi dần lún sâu vào vực mê lầm, dần lao xa thật xa vào con đường cách xa Thiên Chúa.

Chính Chúa Giêsu khi bị cám dỗ về cái ăn, Ngài đã không nói rằng ‘tôi không đói, tôi không cần ăn’- nói theo kiểu nói của cái tôi tự mãn, nhưng Ngài nói: “ Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng còn bởi mọi Lời Thiên Chúa phán ra”.  Có thể hiểu rằng Ngài đang sống được nhờ sức chiến đấu, nhờ sự trợ lực của Thánh Thần, của Thánh Ý Thiên Chúa.

Sự tinh vi của những cơn cám dỗ thời đại

Ở thời đại nào thì mưu cầu tồn tại vẫn luôn là thiết thực.  Cái ăn, cái mặc, cái công danh sự nghiệp, cái vinh hoa phú quí, cái quyền bính hơn người luôn bám đuổi và thôi thúc con người ta khuất phục sự cần thiết của nó.  Hết thời ăn no mặc ấm, đến thời ăn ngon mặc đẹp, rồi đến lúc ăn sang, mặc “mốt”…  Mỗi thời mỗi cách, càng ngày càng tinh vi hơn, cuốn hút con người vào chỗ xác nhận sự cần thiết của các nhu cầu vật chất đến mức không thể không có.  Sự lựa chọn trước những cuốn hút vật chất thời nay càng đòi hỏi sự khôn ngoan tỉnh thức nhiều hơn nữa.  Cái giả và cái thật thời nay giống nhau như đúc: Hạnh phúc giả, hạnh phúc thật; đẹp giả, đẹp thật; giàu có giả, giàu có thật; đạo đức giả, đạo đức thật; nhân ái giả, nhân ái thật….

Thực tế cuộc sống chúng ta cho thấy thời nay con người ta thích cái giả, không phải vì không thích cái thật nhưng vì không tìm được cái thật, không có khát khao đi tìm cái thật, không biết tiêu chuẩn của cái thật, hoặc tự mãn với cái giả hiện có.  Cái giả chính là cơn cám dỗ của thời nay.  Ai cũng lao vào sức cuốn hút của cái giả mà không hề hay biết.  Cơm bánh, bơ sữa, thịt thà, thức ăn bổ dưỡng, đều thật, nhưng lại đang phục vụ cho một cuộc sống giả.  Vì cuộc sống trần gian cũng phải dừng lại theo thời gian.  Sự giàu sang, chút hư danh, tiện nghi và các phương tiện, thấy cũng thật, nhưng đang xây dựng cho một cuộc sống giả.  Và cái hào nhoáng của cuộc sống giả làm cho mắt con người ta không thể nhìn thấy được một cuộc sống thật sau cuộc sống nầy – cuộc sống vĩnh cửu.

Vào sa mạc để kín múc ơn Chúa Thánh Thần

Vào mùa chay, nhận những tàn tro rắc trên đầu để nhớ thân phận nhỏ bé, giới hạn, ngắn ngủi của mình trên một vec-tơ thời gian đang đi về vô cực.  Và hôm nay, cùng với Chúa Giêsu đi vào sa mạc của cõi lòng, để lòng mình trống trải mênh mông đón nhận sương trời là ơn thiêng vô biên chan chứa.  Chính trong sa mạc trầm lắng, mỗi chúng ta sẽ nhận ra thân phận bé nhỏ, cái tôi mỏng dòn của mình, để mà xác nhận cách dứt khoát rằng: tôi cần có Thiên Chúa, cần có sự trợ lực của Chúa Thánh Thần để chiến đấu và chiến thắng.  Những phút giây thinh lặng đầu ngày, hoặc cuối ngày trước khi vào giấc ngủ đã là thật cần thiết cho tôi để tâm trí tôi tan hòa trong tâm trí của Thiên Chúa, thì một lời nguyện tắt trước mỗi lựa chọn, giữa những xô bồ trong ngày càng quan trọng và cần thiết biết bao.  Chính nhờ sự kết hợp khiêm tốn của tôi với ơn Chúa Thánh Thần, tôi mới có thể hóa giải những cơn cám dỗ nghiêng về sự thù hận, đổi thành nghiêng về sự yêu thương, than trách thành chấp nhận, đau khổ thành hạnh phúc, đói thành no, giả thành thật…cái túi của số phận thành cả một đồng xanh thơ mộng êm vui tươi mát… cả việc vận dụng cái khôn ngoan của loài người vào ơn cứu độ cho tôi theo Thánh Ý Thiên Chúa: “ Chúng con nguyện danh Cha cả sáng, khó khăn nào chúng con cũng vượt qua”

Điều trăn trở cuối cùng

Có thể chính tôi trở thành cơn cám dỗ cho người khác, nếu tôi không có một cuộc sống công chính.  Tiền bạc của tôi có thể mua cho người khác một vực sâu hỏa ngục, danh vọng của tôi có thể làm cho người khác điên đảo, quyền bính của tôi có thể đưa đẩy người khác vào chỗ tuyệt vọng, thói xa hoa của tôi là khởi đầu cho những đam mê đua đòi, mỗi lời khen tiếng chê của tôi đều có thể tác động đến cách sống dở-hay, tốt-xấu, tội lỗi-thánh thiện của người khác.  Vậy điều trăn trở của tôi là tôi phải sống công chính.

Lạy Chúa, xin cho mỗi chúng con biết khao khát chính Thiên Chúa là nguồn hạnh phúc thật, để lòng chúng con không còn khao khát điều gì hơn nữa.  Xin sức mạnh Chúa Thánh Thần giúp chúng con khôn ngoan tỉnh thức để lựa chọn những gì thuộc về Thiên Chúa và thuộc về cuộc sống trường sinh.

Cao Huy Hoàng

NHỮNG CƠN CÁM DỖ

zzLời Chúa trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay đưa chúng ta về nguồn cội của thân phận con người, đó là tội lỗi.  Nguyên tổ Adong và Evà đã sa chước cám dỗ, và tội lỗi đã đi vào thế gian.  Đó chính là nguyên nhân của biết bao khốn cực trong cuộc sống nhân loại: “Chỉ vì một người, tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội” (Bài đọc 2 – Rm.5:12-19).

Nhưng Lời Chúa hôm nay không dừng lại ở tội lỗi, mà trình bày cho ta về Ơn Cứu Độ trong Ðức Giêsu Kitô: “… Nhờ một người thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng được Thiên Chúa cho trở nên công chính, nghĩa là được sống đời đời ” (Bài đọc 2 – Rm.5:12-19).

Ðây là một lời khẳng định có liên quan đến tất cả nhân loại : “Tất cả mọi người đều bị chi phối dưới quyền lực của tội lỗi; chỉ có một con đường giải thoát dành cho con người, đó là Ơn Cứu độ trong Ðức Giêsu Kitô”.

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay trình bày cho ta biết: Con đường mà cả nhân loại đã đi và đã thất bại, thì nay chính Ðức Giêsu đã đi lại con đường đó, con đường làm người, chấp nhận mọi hệ lụy của con người; chấp nhận để bị cám dỗ và Ngài đã chiến thắng cám dỗ của Satan.

Khi chấp nhận để Satan cám dỗ, Đức Giêsu đã hạ mình xuống mức sâu thẳm nhất, Ngài đến gần với tội lỗi nhưng không phạm tội. Ngài chấp nhận mọi hệ lụy của con người, nhưng vẫn giữ được bản tính thánh thiêng của Thiên Chúa.

Ngày nay, cám dỗ vẫn còn đầy dẫy, vẫn luôn níu kéo bủa vây con người. Đó là những cám dỗ của nẻo đường Satan, cám dỗ muốn theo cách thức của Satan để giải quyết cuộc đời mình, cám dỗ tìm niềm vui và sự thành đạt của cuộc đời trần thế trong lạc thú, quyền lực và của cải. Giàu sang, quyền lực, khoái lạc vẫn là những cám dỗ muôn thuở cho mọi người, mọi tập thể; đạo cũng như đời.  Cơn cám dỗ lớn nhất là quay vào chính mình, chọn mình thay vì chọn Chúa.

Chấp nhận làm người là chấp nhận bị cám dỗ. Cám dỗ từ bên ngoài, từ quỷ dữ, từ tha nhân… Cám dỗ từ bên trong, từ đòi hỏi của bản năng tự nhiên, của thân xác, từ sự khép kín của trí tuệ và lạnh giá của con tim.  Phận người chênh vênh vì luôn bị cám dỗ, nhưng phận người lại cao cả hào hùng vì con người có thể chiến thắng được cơn cám dỗ bằng hy sinh cầu nguyện và chay tịnh, bằng con đường mà Đức Giêsu đã đi qua và nêu gương cho ta trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay.

Mùa Chay là thời gian thuận tiện để ta nhìn lại những cơn cám dỗ của bản thân mình. Mỗi người có những yếu đuối riêng, mỗi người bị tấn công một kiểu cách khác nhau. Chẳng ai tránh được cám dỗ, thế nên ta phải luôn thành khẩn nài xin Thiên Chúa: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”.

***

Lạy Chúa Giêsu, giàu sang, danh vọng, khoái lạc là những điều hấp dẫn con. Chúng trói buộc con, không cho con có tự do nhìn lên trời cao, để sống cho những giá trị tốt đẹp hơn.

Ước gì những cơn cám dỗ giúp con nhận biết mình yếu đuối, mỏng dòn và cần Chúa ban ơn trợ lực.

Xin cho con biết  tập chiến thắng cơn cám dỗ bằng cầu nguyện, hy sinh và chay tịnh. Xin giúp con tập tránh các dịp tội, biết phản ứng quyết liệt với những cám dỗ như Chúa Giêsu xưa kia: “Xatan! Hãy Xéo đi.” (Mt.4:10).  Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1: St.2:7-9 & 3:1-7  – BĐ2: Rm.5:12-19 – PÂ:Mt.4:1-11)

FATIMA NĂM 1917

Mặt Trời Quay, Một Phép Lạ Vĩ Đại Chưa Từng Xảy Ra Và Không Ai Có Thể Chối Cãi Được!

Chắc hẳn khi nhắc đến tên Fatima, các bạn đã nghe nói đến phép lạ mặt trời quay?

Nhưng các bạn có biết rằng qua cách thức phép lạ xảy ra, thì đây hẳn là một phép lạ vĩ đại nhất chưa từng xảy ra trong lịch sử Giáo Hội?  Hay: Phải chăng đây là một chuyện thêm thắt và bịa đặt thái quá?

Hy vọng qua những dòng sau đây, các bạn sẽ có được sự nhận định chính xác hơn.

Để mọi người tin

Vào ngày 13.10.1917, tại ngọn đồi Cova da Iria ở Fatima, Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, đã hiện ra lần thứ sáu với ba trẻ chăn chiên: Lucia (10 tuổi), Francisco (7 tuổi) và Jacinta (6 tuổi).

Nhưng nhiều người cho rằng việc Đức Mẹ hiện ra chỉ là trò hề, do ba đứa trẻ nhà quê bịa đặt ra để gạt gẫm người khác, hay do thủ đoạn của những người lớn đứng phía sau giật dây để nhắm tới một mục đích chính trị hay kinh tế nào đó.

Chính bà mẹ Lucia cũng hoàn toàn nghi ngờ, đến nỗi bà còn đánh đập con gái mình vì cho rằng Lucia nói dối.

Để đánh tan sự nghi ngờ và bất tín của thiên hạ, nhất là để mọi người tin nhận biến cố Fatima là sự thật, trong lần hiện ra vào ngày 13.07.1917, Vị Thiên Nữ đã hứa là vào ngày 13.10.1917, sẽ có một phép lạ vĩ đại xảy ra trước sự chứng kiến của mọi người.

Lời hứa này còn được Vị Thiên Nữ nhắc lại vào ngày 19.08.1917 và vào ngày 13.09.1917.

Vâng, trong lần hiện ra vào ngày 13.09.1917, sự thông báo của Vị Thiên Nữ về một phép lạ vĩ đại sẽ xảy ra vào ngày 13 tháng 10 tới, cũng được ba trẻ nói cho mọi người hay.  Vì thế, đúng vào ngày đó, đã có khoảng từ 50 đến 70.000 người đã tấp nập đổ xô về Fatima, trong số họ, gồm có đủ mọi hạng người, từ các tín hữu, những người tò mò cho đến cả những người nghi ngờ chống đối.

Nhiều phóng viên của những tờ báo lớn ở Bồ Đào Nha cũng đều có mặt trong lần hiện ra hôm đó.  Nhưng có lẽ những phóng viên này chỉ muốn đến để soạn sửa cho bản tin ăn khách sẽ được đăng ở trang nhất trên các tờ báo của họ trong số ra ngày mai với tít lớn: “Sự thất bại ê chề của hiện tượng Fatima,” hay: “Nhân loại văn minh của thế kỷ XX vẫn còn bị những chuyện hoang đường lừa đảo” kèm theo những bài bình luận đầy giọng mỉa mai châm biếm tôn giáo, nếu như phép lạ đã được loan báo trước, không xảy ra.  Nhưng vào ngày 13.10.1917, mọi sự đã xảy ra hoàn toàn khác với ý nghĩ của những nhà báo này: Phép lạ cả thể đã thực sự xảy ra; mặt trời đã quay cuồng trước sự chứng kiến của tất cả mọi người có mặt hôm đó.

Một vị giáo sư là chứng nhân hiện tượng lạ lùng hôm đó

zzỞ đây, chúng ta hãy nghe tiến sĩ José Maria Proença de Almeida Garrett, giáo sư môn khoa học tự nhiên đại học Coimbra, kể lại những gì ông đã quan sát thấy ở Fatima hôm đó.  Vì ông là một giáo sư, nên lời tường trình của ông rất khả tín và gây được sự chú ý của mọi người:

“Hôm đó, tôi đến nơi vào giữa trưa.  Cơn mưa tầm tã từ buổi sáng sớm chẳng những không ngớt, mà bây giờ còn bị những trận gió dữ dội thổi ào tới tấp như muốn làm tràn ngập cả cảnh vật.  (…) Lúc đó vào khoảng 2 giờ chiều.  Trong vài giây lát trước đó, mặt trời còn bị che khuất sau đám mây dày đặc, bỗng chốc nó chiếu sáng qua đám mây.  Mọi cặp mắt đều hướng nhìn về phía mặt trời như bị một sức mạnh nam châm vô hình nào đó cuốn hút vậy.  Chính tôi cũng nhìn thẳng vào mặt trời.  Nó trông giống như một cái đĩa sáng rực rỡ, chói lọi, nhưng không làm lóa mắt.  (…) Nhưng mặt trời vào lúc bấy giờ không làm lóa mặt, không giống như khi chúng ta nhìn nó bị che khuất sau một đám mây.  Không, bầu trời lúc bấy giờ hoàn toàn trong sáng, chứ không hề có một vẩn mây nào che khuất mặt trời cả; nó xuất hiện rõ ràng giữa bầu trời.  Cái đĩa sáng chói đầy mầu sắc rực rỡ đó không đứng yên, nhưng chuyển động rất nhanh.  Và đó không phải là những tia sáng lung linh phát ra từ các ngôi sao.  Cái đĩa lửa quay tròn với một tốc độ nhanh khủng khiếp, khiến từ đám đông những người có mặt hôm đó, bỗng chốc vang lên những tiếng kêu la sợ hãi thất thanh.  Mặt trời cứ tiếp tục quay tròn như thế cùng với tốc độ nhanh khủng khiếp tương tự, đồng thời nó tách ra khỏi không trung và tiến đến gần mặt đất với mầu đỏ máu, mọi cảnh vật như đang sắp sửa bị nghiền nát dưới độ quay nhanh khủng khiếp của vòng lửa không lồ.  (…) Tất cả những hiện tượng này, tôi đã bình tĩnh quan sát và trình bày ra đây sự nhận xét khách quan của mình, chứ không do bất cứ sự xúc động nào chi phối cả.  Tôi cũng hoàn toàn chờ đợi sự nhận xét và quan điểm của kẻ khác.”[1]

Phải chăng đám đông bị thôi miên?

zzHàng chục ngàn người đều đổ nhìn về phía mặt trời đang quay lộn kỳ lạ.  Về phép lạ mặt trời quay, có lẽ sẽ có người cắt nghĩa ngay rằng vì đã được báo từ trước, và đám đông đã đến Fatima với một tâm trạng quá nóng lòng hồi hộp chờ đợi.  Vì thế, khi có một hiện tượng bất bình thường nào đó nơi mặt trời xảy ra, họ đã vội cho là phép lạ, và rồi sự công nhận đó cứ lan tỏa ra nhanh trong đám đông một cách vô ý thức như một dòng điện vậy, tương tự như phản ứng của các khán giả ngồi xem đá banh trong một sân vận động khi có cầu thủ đá thủng lưới đối phương.

Nhưng sự cắt nghĩa đó sẽ hoàn toàn trở nên buồn cười và không thể đứng vững được khi sự kiện cụ thể xảy ra trong thực tế, đó là người ta có thể quan sát và nhìn thấy được phép lạ mặt trời quay trong chu vi rộng 1550 cây số vuông.

Rất nhiều nhân chứng đã từ xa chứng kiến được phép lạ mặt trời, lại là những người vô tín ngưỡng, những người đã từng phê bình và cười chê những khách đến Fatima hôm đó như những kẻ “nhẹ dạ cả tin.”  Trong số những người quan sát được phép lạ mặt trời từ xa, chứ không có mặt tại Fatima, đã cho ý kiến như sau:

Linh mục Joaquim Lourenco, hiện là nhà giáo luật học của giáo phận Leiria, nhưng vào lúc xảy ra phép lạ, hãy còn là một học trò và cùng người anh và các bạn bè của ngài đang có mặt tại làng Alburitel, cách Fatima vào khoảng 54  km.  Tất cả đều tưởng ngày tận thế đã đến.

Cha Lourenco tường thuật lại như sau: “Tôi nghĩ rằng tôi không đủ khả năng để diễn tả lại những gì chính tôi đã chứng kiến xưa kia.  Tôi nhìn như dán mắt vào mặt trời để quan sát: Mặt trời có màu nhợt, đến nỗi tôi có thể nhìn thẳng vào nó mà không bị đau mắt chút nào cả.  Mặt trời vào lúc bấy giờ trông tựa như một quả bóng bằng tuyết, quay chung quanh cái trục của mình, và bỗng chốc nó như rơi ra khỏi bầu trời, quay lượn ngoằn ngoèo và tiến sát gần mặt đất với vẻ đầy đe dọa.  Vì quá sợ hãi, tôi đã chạy nấp vào phía sau người lớn đang đứng khóc lóc vì tưởng rằng thế giới trong giây lát nữa sẽ bị chấm tận.  Bên ngoài ngôi trường làng của chúng tôi, có một đám đông đang tụ họp lại; còn đám học trò chúng tôi thì xô nhau chạy ra khỏi lớp học và đi xuống đường.  Khi phép lạ bắt đầu xảy ra thì chúng tôi nghe thấy tiếng kêu la của những người đang đứng đầy ngoài đường phía trước cổng trường, đàn ông cũng như đàn bà…

Lúc bấy giờ có một người vô thần, mà cả buổi sáng hôm đó cứ rêu rao lên tiếng chê bai cười nhạo những người tới Fatima là “những kẻ ngu ngốc,” cốt chỉ để xem một đứa bé gái nhà quê.  Nhưng trong suốt lúc xảy ra phép lạ thì ông ta đứng đờ ra như một người bị bất toại cả thân mình và chỉ đưa mắt cắm chặt vào mặt trời.  Ông ta bắt đầu run rẩy cả mình mẩy lẫn chân tay, rồi quỳ xuống trên bùn lầy và giơ hai tay lên trời cầu xin Chúa tha thứ cho mình.”[2]

Một hiện tượng không thể cắt nghĩa được

Qua sự trình bày của tất cả mọi nhân chứng có mắt hôm đó khi xảy ra phép lạ mặt trời quay, người ta có thể nói được rằng phép lạ cả thể đó có bốn đặc điểm khác nhau:

  1. Đám đông đã có thể nhìn thẳng vào một vật sáng chói lọi, mà họ cho là mặt trời, chứ họ không cần phải đeo kính râm hay bất cứ phương tiện bảo vệ mắt nào cả.
  2. Vừng sáng chói lọi đó đã tỏa ra những tia sáng mầu sắc rực rỡ xuống trên mặt đất, đến nỗi mọi cảnh vật đều bị nhuộm mầu hết.
  3. Vừng sáng chói lọi rực rỡ đó rơi xuống trên đám đông.
  4. Chỉ trong vòng mấy phút mà cả vùng đất Fatima đang bùn lầy dơ bẩn, bỗng chốc trở thành khô cứng, và áo quần của đám đông trên dưới 60 ngàn người từng bị cơn mưa cả buổi sáng làm ướt đẫm, cũng hoàn toàn khô ráo bình thường.

Đúng vậy, chỉ trong vòng khoảng 10 phút đồng hồ mà cả mặt đất lầy lội cũng như quần áo ướt át của đám đông bỗng chốc khô ráo hoàn toàn.  Đó quả là một điều đã minh nhiên nói lên rằng ngoài phép lạ siêu nhiên ra, không thể tìm ra được lời giải thích theo phương diện tự nhiên được.

Nỗi lo lắng của Mẹ Maria cho con cái loài người

Nếu thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã từng ước ao là khi được về trên trời, thánh nữ sẽ trở thành tình yêu đầy sáng tạo để cứu giúp mọi người, thì nay Fatima và nhất là phép lạ mặt trời quay, là một bằng chứng hùng hồn của tình yêu đầy sáng tạo của Mẹ Maria đối với con cái loài người chúng ta, dĩ nhiên, trên hết là bằng chứng của tình yêu Thiên Chúa.

Bởi vậy, chúng ta hãy nghiêm chỉnh đón nhận dấu chỉ của sự lo lắng của Mẹ Thiên Chúa; đúng như lời chị Lucia đã cảnh báo: “Fatima luôn luôn mang tính cách thời sự cao điểm của nó.”  Bởi vì, đối với Thiên Chúa, thời giờ là vô tận; nhưng đối với phàm nhân chúng ta, thời giờ luôn có giới hạn của nó.  Và giới hạn đó không ai biết được dài ngắn, lâu mau.  Vì chưa bao giờ có ai biết được mình sẽ được sinh ra lúc nào, và cũng rất ít ai biết được mình sẽ chết lúc nào.  Ngày tận cùng của mỗi người sẽ xảy đến một cách bất chợt, không ngờ trước được, tương tự như một kẻ trộm vậy (x.  Mt 24,37-44).  Do đó, Đức Giêsu đã căn dặn chúng ta: “Các con phải canh chừng, phải tỉnh thức, vì các con không biết khi nào thời ấy đến!” (Mc 13,33).

Nhưng dĩ nhiên, sự tỉnh thức và canh chừng mà Chúa nói đây, không có nghĩa là sự ngồi chờ cách thụ động, vô vi; nhưng là một sự tỉnh thức đầy sáng tạo, nghĩa là một sự tỉnh thức chờ đợi đầy tính năng động mà Mẹ Maria đã chỉ cho chúng ta tại Fatima cách đây đúng 90 năm về trước.  Đó là:

  • Mỗi người phải ăn năn sám hối và cải thiện cuộc sống cá nhân của mình;
  • Hằng ngày hãy siêng năng và sốt sắng lần hạt Mân Côi;
  • Tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ, như Chúa muốn.

Nếu được thế, thế giới sẽ được hòa bình, nhiều dân tộc sẽ tránh khỏi cảnh bị diệt vong và nhiều linh hồn sẽ không bị trầm luân trong hỏa ngục đời đời.

LM Nguyễn Hữu Thy
Nguồn: vietboston.com

Xin xem thêm:  SỨ ĐIỆP FATIMA

SỨ ĐIỆP FATIMA

[1] Trích trong: Fonseca, “Maria spricht zur Welt”, Fatimas Geheimnis und weltgeschichtliche Sendung, Prof. Dr. L.Gonzaga da Fonseca. Paulusverlag Freiburg Schweiz, 98/99.

[2] Trích trong: “Meet the Witnesses”, John Haffert, World Apostolate of Fatima, 64.

TIỂU SỬ THÁNH NỮ FAUSTINA

zzThánh nữ Maria Faustina Kowalska ngày nay được khắp thế giới biết đến với tước hiệu “Tông Đồ Lòng Thương Xót Chúa” là một vị thánh được các nhà thần học kể vào số những nhà thần bí trổi vượt trong Giáo Hội.

Chị là người thứ ba trong số mười người con của một gia đình nông dân nghèo khó nhưng đạo đức tại Glogowiec, một làng quê nằm giữa đất nước Ba Lan.  Khi được rửa tội tại nhà thờ giáo xứ Swinice Warckie lân cận, chị đã được nhận tên “Helena.”  Ngay từ thời thơ ấu, Helena đã nổi bật với đời sống đạo hạnh, yêu thích cầu nguyện, chăm chỉ, vâng lời, và hết lòng thương cảm trước nỗi khổ đau của tha nhân.  Helena được đi học trong thời gian chưa đầy ba năm, và đến năm 14 tuổi, chị đã phải rời bỏ mái ấm gia đình để mưu kế sinh nhai, giúp đỡ cha mẹ bằng công việc phụ giúp việc nhà tại thành phố Aleksandrow và Lodz kế cận.

Khi mới lên bảy tuổi (hai năm trước khi rước lễ lần đầu), Helena đã cảm nhận trong tâm hồn lời mời gọi theo đuổi đời sống tu trì.  Sau đó, chị đã ngỏ ý muốn với cha mẹ, nhưng hai vị đều dứt khoát không đồng ý cho chị vào sống trong tu viện.  Trước hoàn cảnh như thế, Helena đã cố bóp nghẹt lời mời gọi trong tâm hồn.  Tuy nhiên, quá xao xuyến vì một thị kiến về Chúa Kitô tử nạn và những lời trách cứ của Người: “Cha còn phải chịu đựng con cho đến bao giờ, con còn phụ rẫy Cha cho đến bao giờ nữa đây?” (NK 9), Helena bắt đầu tìm cách để xin vào một tu viện.  Chị đã gõ cửa không ít tu viện, nhưng không được nơi nào đón nhận.  Cuối cùng, vào ngày 1 tháng 8 năm 1925, Helena đã được bước qua ngưỡng cửa của dòng Đức Mẹ Nhân Lành ở phố Zytnia tại Warsaw.  Trong Nhật Ký, chị có viết: “Dường như tôi đã bước vào cuộc sống thiên đàng.  Một lời kinh đã trào dâng từ tâm hồn tôi, một lời kinh tạ ơn” (NK 17).

Tuy nhiên, vài tuần lễ sau đó, chị bị cám dỗ mãnh liệt, muốn chuyển sang một dòng khác để có nhiều thời giờ hơn cho việc cầu nguyện.  Chính lúc ấy, Chúa Giêsu đã tỏ cho chị thấy các thương tích và thánh nhan tử nạn của Người và phán: “Chính con gây cho Cha nỗi đau đớn này nếu như con rời bỏ tu viện.  Đây là nơi Cha đã gọi con, chứ không phải một nơi nào khác; và Cha đã dọn sẵn nhiều ơn thánh cho con” (NK 19).

Khi vào dòng, Helena được nhận tên Maria Faustina.  Chị đã sống thời kỳ năm tập tại Cracow, và cũng tại đây, trước sự chứng kiến của đức giám mục Stanislaus Rospond, chị đã tuyên lời khấn tạm lần đầu, và năm năm sau, tuyên giữ trọn đời ba lời khấn thanh tịnh, khó nghèo và vâng phục. Chị được cắt cử làm một số công tác tại các tu viện của dòng; hầu hết thời gian là ở Cracow, Plock, và Vilnius, với các công tác làm bếp, làm vườn, và coi cổng.

Tất cả những cái vẻ bên ngoài ấy không làm hiện lộ một cuộc sống thần hiệp phong phú ngoại thường nơi chị dòng Faustina.  Chị sốt sắng chu toàn các phận sự, trung thành giữ trọn luật dòng, sống đời sống nội tâm và giữ thinh lặng, trong khi đó vẫn sống trong sự tự nhiên, vui tươi, đầy nhân ái và yêu thương người chung quanh một cách vô vị lợi.

Tất cả đời sống của chị được tập trung vào việc liên lỉ cố gắng đạt đến một cuộc kết hiệp ngày càng mật thiết hơn với Thiên Chúa và quên mình cộng tác với Chúa Giêsu trong công cuộc cứu rỗi các linh hồn.  Chị đã viết trong Nhật Ký, “Chúa biết ngay từ những năm đầu tiên, con đã muốn trở nên một vị đại thánh; tức là yêu mến Chúa bằng một tình yêu vĩ đại như chưa từng có linh hồn nào đã yêu mến Chúa như thế” (NK 1372).

Chính quyển Nhật Ký của chị đã cho chúng ta thấy được những chiều sâu trong đời sống thiêng liêng của chị.  Những tư liệu này – nếu được đọc chăm chú – sẽ làm hiện lên một bức tranh diễn tả mối thân tình hợp nhất cao độ giữa linh hồn chị với Thiên Chúa: sự khắng khít lạ lùng giữa Thiên Chúa với linh hồn chị, cũng như những nỗ lực và chiến đấu của chị trên con đường hoàn thiện Kitô Giáo.  Chúa đã ban cho chị nhiều hồng ân phi thường: ơn chiêm niệm, ơn hiểu biết sâu xa về mầu nhiệm Lòng Thương Xót Chúa, các thị kiến, mặc khải, những dấu thánh tiềm ẩn, ơn nói tiên tri, ơn đọc được tâm hồn người khác, và ơn quí trọng bậc nhiệm hôn.  Tuy được hoan hưởng những hồng ân ấy rất dồi dào, nhưng chị đã viết: “Không phải các ân sủng, các mặc khải, các lần ngất trí, hoặc các ân huệ làm cho linh hồn nên hoàn hảo, nhưng chính là sự kết hợp mật thiết giữa linh hồn với Thiên Chúa…  Sự thánh thiện và hoàn hảo của tôi hệ ở việc kết hợp mật thiết giữa ý chí tôi với ý chí Thiên Chúa” (NK 1107).

Nếp sống khổ hạnh và những lần chay tịnh đến kiệt sức ngay cả trước khi vào dòng của chị đã làm suy sụp yếu nhược thể trạng của chị, đến nỗi ngay trong thời gian thỉnh tu, chị đã được đưa đi Skolimow gần Warsaw để phục hồi sức khỏe.  Gần cuối năm đầu tiên trong thời kỳ nhà tập, chị còn phải trải qua những kinh nghiệm thần bí đớn đau lạ thường của giai đoạn vẫn được gọi là đêm tối giác quan, và sau đó là các đau khổ tinh thần và luân lý liên quan đến việc hoàn thành sứ mạng mà chị được nhận lãnh từ Chúa Kitô.  Thánh nữ Faustina đã hy hiến cuộc đời cho các tội nhân, vì thế, chị đã chịu đựng những khổ đau tư bề để trợ giúp các linh hồn.  Trong những năm tháng cuối đời của chị thánh, các đau khổ nội tâm của cái gọi là đêm thụ động của linh hồn và những bệnh nạn phần xác càng trở nên dữ dội hơn nữa.  Căn bệnh lao của chị lan dần, tấn công những lá phổi và phần ruột non.  Vì vậy, hai lần chị đã phải trải qua nhiều tháng điều trị ở bệnh viện phố Pradnik tại Cracow.

Tuy kiệt quệ về thể lý, nhưng chị Faustina đã đạt đến mức trưởng thành sung mãn trong đời sống thiêng liêng.  Chị đã từ giã cõi trần khi chưa trọn 33 tuổi đời, giữa tiếng thơm thánh thiện, và được kết hiệp muôn đời với Thiên Chúa vào ngày 5 tháng 10 năm 1938, sau 13 năm trong cuộc sống tu trì.  Thi hài của chị được an nghỉ tại ngôi mộ chung trong nghĩa trang tu viện tại Cracow-Lagiewniki.  Năm 1966, trong khi thủ tục điều tra tôn phong chân phúc đang được xúc tiến, thi hài nữ tu Faustina đã được cải táng vào nhà nguyện của tu viện.

Chúa Giêsu đã ủy thác cho chị nữ tu đơn sơ, kém học, nhưng can trường và tín thác vô hạn này một sứ mạng cao cả là rao truyền sứ điệp Lòng Thương Xót của Chúa cho thế giới, Người đã phán với chị, “Cha sai con đem tình thương của Cha đến cho toàn thế giới.  Cha không muốn đoán phạt, nhưng muốn chữa lành và ghì chặt nhân loại đau thương vào Trái Tim thương xót của Cha” (NK 1588).  “Con là thư ký của Lòng Thương Xót Cha.  Cha đã tuyển dụng con làm nhiệm vụ ấy trên đời này và ở đời sau” (NK 1605)…  “Nhiệm vụ và công tác suốt đời con là tiếp tục làm cho các linh hồn được biết về Lòng Thương Xót lớn lao của Cha dành cho họ, và kêu gọi họ tín thác vào Lòng Thương Xót vô tận của Cha” (NK 1567).

(Trích Nhật Ký Lòng Thương Xót Chúa)

Nguồn: http://www.xuanha.net/

 

TRO BỤI CUỘC ĐỜI

Cách đây 3 năm, Phân Khoa Xã Hội Học Trường Đại Học Sàigòn trao bằng cử nhân thủ khoa cho sinh viên Nguyễn Thị Mai, với luận văn đề tài: “Tìm Hiểu Một Số Thuận Lợi và Hạn Chế Trong Tiến Trình Hội Nhập và Phát Triển của Người Khuyết Tật tại Việt Nam.”  Khi được xướng danh, người sinh viên ưu tú lên để nhận văn bằng; mọi người đều kinh ngạc thấy một cô bé bại liệt cả tứ chi được đưa lên lễ đài trên một chiếc xe lăn!  Không kể những nỗ lực của em trong bốn năm đại học, thì muốn viết cuốn luận văn 70 trang kia, em đã chỉ sử dụng hai cổ tay kẹp một chiếc đũa để gõ từng ký tự trên bàn phím vi tính.  Không cần phải đi sâu vào cuộc đời cũng thấy quyết tâm sắt đá của cô gái trẻ này…

Cách đây một tháng, trong khi mọi người rộn ràng chuẩn bị mừng Xuân, thì một cô gái khuyết tật âm thầm qua đời trong bệnh viện lao Phạm Ngọc Thạch trước cái nhìn bất lực của các bác sĩ.  Cô đã được đưa vào bệnh viện quá trễ, khi bệnh lao vào thời kỳ cuối đã đặt cô vào tình trạng hấp hối.  Cô gái ấy chính là sinh viên Nguyễn Thị Mai, người bạn trẻ đã tốt nghiệp danh dự thủ khoa ngành Xã hội học năm 2003.  27 năm cuộc đời của một cô gái luôn phải nằm sát mặt đất vì không thể nào ngồi được!  27 năm phấn đấu với tật nguyền, với nghèo khó, với thua thiệt, với số phận hẩm hiu, để rồi chưa kịp nở một nụ cười mãn nguyện thì đã về với thiên thu.  Cái chết của Nguyễn Thị Mai nhói lên như một lời phản kháng trước những phi lý, bất công của cuộc đời:  Tại sao?  Tại sao?  Và tại sao?….

                                        *******************************

Trong niềm tin của người kitô hữu chúng ta, câu Lời Chúa được chọn để đọc khi xức tro trong thánh lễ hôm nay chính là câu trả lời cho vấn nạn “tại sao” trên:  Đó là:

“Hỡi người, hãy nhớ mình là tro bụi, một mai người sẽ trở về bụi tro…”

Đó chính là lời nhắc nhở của Giáo Hội trong ngày thứ tư Lễ Tro hôm nay cho chúng ta, cho toàn thể nhân loại.  Vâng, thân phận bọt bèo của con người, múa may quay cuồng, bon chen, tích trữ bao nhiêu rồi cũng sẽ trở về với cát bụi.  27 năm hay 72 năm nào có khác gì đâu, nếu chúng ta sống như kiếp tù nhân đợi ngày hành quyết, và mọi nỗ lực trong đời sẽ trở thành hư không.  Chính vì thế, phụng vụ Lễ Tro hàng năm với 40 ngày của Mùa Chay thánh chính là dịp để mọi Kitô hữu suy nghĩ về cuộc đời và ý nghĩa đích thực của sự hiện diện độc đáo và đặc thù có một không hai của từng bản thân chúng ta, hầu giúp chúng ta sống đúng hơn, sống ý nghĩa hơn, sống đẹp hơn trong cuộc sống với Thiên Chúa, với chính mình và với tha nhân.  (Trích đăng từ MARANATHA SỐ 73, ngày 25.02.2006)

Chính trong ý nghĩa đó, chúng ta thử tìm lại vài ý nghĩa biểu tượng của chay tịnh :

– Mùa Chay và tro bụi cuộc đời:

Trong Cựu Ước, khi dân Do Thái muốn xin Chúa thứ tha thì họ ngồi trên đống tro và xức tro lên đầu.  Khi Giô-na báo cho dân thành Ni-ni-vê rằng Thiên Chúa sẽ hủy diệt thành phố của họ nếu họ không hoán cải, vị vua đã hành động như sau:

“Ông rời khỏi ngai vàng, cởi áo choàng, khoác áo vải thô và ngồi trên tro.” (Giô-na 3,6).  Và cả thành phố đều làm như thế.  Về phần Gióp, ông gặp mọi điều bất hạnh: mất hết của cải, con cái chết đi, thân ông bệnh hoạn.  Ông nghĩ rằng Chúa trừng phạt ông vì ông không đủ tốt lành, vì thế ‘ông ngồi trên đống tro’ (G 2,8).  Từ cử chỉ ăn năn ấy, xuất phát nghi thức xức tro trong truyền thống Giáo Hội (và luôn luôn được cử hành vào ngày thứ tư gọi là Thứ Tư Lễ Tro), khởi sự cho mùa thống hối dài 40 ngày Mùa Chay.

Đức Cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II cắt nghĩa một cách sâu sắc ý nghĩa nầy trong bài giảng Lễ Tro năm 2003 :

Khi ghi dấu tro trên trán tín hữu, người chủ tế lặp lại câu: “Hỡi người, hãy nhớ rằng mình là tro bụi, và sẽ trở về với bụi tro”.  Trở về với bụi tro, ấy là vận mệnh của mọi người và mọi vật.  Tuy nhiên, con người không chỉ là thân xác, mà còn là thần khí.  Nếu xác thịt buộc phải trở về với cát bụi, thì thần khí mãi mãi là bất diệt.  Ngoài ra, tín hữu biết rằng Chúa Kitô đã sống lại, và qua đó, xác thân Ngài đã chiến thắng tử thần.  Chính Ngài cũng bước đi trong hy vọng theo viễn ảnh đó.

Như thế, nhận tro trên trán có nghĩa là tự nhận mình là loài thọ tạo, được dựng nên từ bùn đất và sẽ trở về bùn đất (x. St 3,19); điều này cũng có nghĩa là tự cáo mình là tội nhân, cần được Chúa thứ tha để có thể sống theo Tin Mừng (x. Mc 1,15); cuối cùng, điều ấy có nghĩa là khơi dậy niềm hy vọng vào một cuộc gặp gỡ viên mãn với Chúa Kitô trong vinh quang và trong bình an của Nước Trời.

Và như thế, cho dù được mời gọi dấn thân vào một “mùa hy sinh khắc khổ”, chúng ta vẫn hân hoan tuyên xưng rằng: Tro bụi cuội đời vẫn ươm mầm hy vọng vinh quang

– Mùa Chay và cộng đoàn sám hối:

Ý nghĩa nầy chúng ta đã tìm gặp ngay chính nơi trích đoạn Lời Chúa trong sách sứ ngôn Gio-en mới vừa được công bố: “Hãy thổi kèn lên khắp Sion, hãy ra lệnh ăn chay, triệu tập một đại lễ, quy tụ dân chúng, ra lệnh mở đại hội, tập họp các bô lão, quy tụ các thiếu nhi và các trẻ còn măng sữa.” (Ge 2, 15-16) và được Đức Cố Giáo Hoàng G.P. II khai triển một cách sâu sắc bằng những lời sau :

“Những lời này của tiên tri Giôel nói đến chiều kích cộng đoàn của việc thống hối.  Quả thật, thống hối chỉ có thể xuất phát từ con tim, mà theo nhân chủng học Kinh Thánh, đó là nơi cư ngụ những ý định sâu thẳm nhất của con người.  Tuy nhiên, những hành vi thống hối đòi hỏi phải được thực thi cùng với mọi thành phần của cộng đoàn.

Đặc biệt vào những thời điểm khó khăn, sau những khó khăn hay trước một hiểm nguy, Lời Chúa, qua môi miệng các tiên tri, kêu gọi tín hữu đi vào thống hối: Mọi người đều được triệu tập, không trừ ai, từ người già đến trẻ em; mọi người đều hiệp nhất để van nài Thiên Chúa dũ thương mà tha thứ.

Nếu Mùa Chay được tiếng Latinh diển tả với từ: QUADRAGESIMA (Bốn Mươi).  Con số “40” đưa chúng ta trở về với hai biến cố: 40 năm dân Do Thái đi trong sa mạc để tiến về Đất Hứa, và 40 ngày Chúa Giêsu ăn chay nơi hoang địa.  Đối với dân Do Thái, cũng như đối với Chúa Giêsu, cần phải vượt qua sự ngã lòng và giữ vững niềm cậy trông vào Chúa.  Đấy là điều mà Giáo Hội mong mỏi nơi con cái mình trong ngày Lễ Tro, khi kêu gọi dân Chúa thống hối.

Thống hối trong Mùa Chay không phải là một hành vi nhận tội của phạm nhân bị đưa ra trước vành móng ngựa.  Thống hối là nhìn lại những vết nhơ trong cuộc đời mình, để cảm tạ và hy vọng vào một Tình Yêu lớn hơn những tội lỗi đời ta, để nhận ra giá trị của một hữu thể độc nhất vẫn hằng được Thiên Chúa yêu thương…

– Mùa Chay và cầu nguyện – chia sẻ – yêu thương

Ý tưởng nầy chúng ta lại sẽ tìm thấy trong chính bài giảng của Đức cố Giáo hoàng G.P :

Do đó, cầu nguyện và ăn chay cần phải đi kèm với những hoạt động công bình; việc hoán cải phải được thể hiện bằng việc đón nhận nhau và liên đới với nhau.  Về điểm này, tiên tri Isaia từng kêu gào: “Cách ăn chay mà ta ưa thích nhất chẳng phải là thế này sao: mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc; trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm?” (Is 58,6)

Không có hòa bình trên trần gian ngày nào các dân tộc còn bị áp bực, còn bất công trong xã hội và còn bất bình đẳng kinh tế.  Nhưng muốn có được những thay đổi cơ chế, thì những sáng kiến và phát minh bên ngoài thôi vẫn chưa đủ; trước hết cần phải có một sự hoán cải tâm hồn của mọi người hướng về tình yêu.

“Hãy thật lòng trở về với Ta.” (Ge 2.12).  Ta có thể nói rằng sứ điệp mà chúng ta cử hành hôm nay được tóm lược trong lời này, lời Thiên Chúa khẩn khoản kêu nài chúng ta hoán cải tâm hồn.

Lời mời gọi này được thánh Phaolô lặp lại trong bài đọc II: “Nhân danh Đức Kitô, chúng tôi năn nỉ anh em hãy làm hoà cùng Thiên Chúa […] Giờ đây là cơ hội thuận tiện, giờ đây là ngày cứu thoát.” (2 Cr 5, 20; 6, 2).

Anh chị em thân mến, giờ đây là cơ hội thuận tiện để nhìn lại thái độ của chúng ta đối với Thiên Chúa và đối với anh chị em mình.

Giờ đây là ngày cứu độ, nghĩa là lúc chúng ta xét lại sâu xa những tiêu chuẩn hướng dẫn chúng ta trong nếp sống đời thường.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con thật lòng trở về với Chúa; Chúa là Đường đưa chúng con đến cứu độ, là Chân lý giải thoát chúng con, là Sự Sống không bao giờ phải chết”.

LM. Giuse Trương Đình Hiền

 

 

MẤY CÁI BÁNH NHỎ

Có thể Paris, London, rồi bạn ghé vào một quán kem.  Ấm với hương cà phê, đưa hồn bạn về một vùng trời.  Tôi cũng đã đi qua những quán kem buổi chiều tây phương.  Những quán kem có bờ công viên mát cỏ xanh, những con đường trải đá trắng thơ mộng.  Cũng có những quán kem hối hả tiếng nhạc của một chiều bận rộn xua đẩy mọi suy tư.

Saigon cũng có những quán kem.  Một lần về với những kỷ niệm cũ.  Ghé quán kem xưa ngồi nhìn thành phố một thủa mình đã lớn lên.  Ngang đời, hôm nay trở lại quê hương.  Tôi đã đi qua những quán kem chiều xa xứ, quán kem không có gì để nhớ, nhưng ở quán kem trên thành phố cũ, hôm nay, tôi thấy phân vân giữa lòng mình và cuộc đời.  Thìa kem gần ở môi mà như xa lắm ở trong lòng.  Tôi ngồi bên này vỉa hè, chầm chậm những thìa kem nhỏ.  Ở vỉa hè bên kia, mấy vành xích lô mệt mỏi đang đợi chờ tìm khách. Mặt họ hằn những gian khổ của cuộc sống.  Vai áo bạc vì mồ hôi.  Chắc vợ con họ đang đợi tiếng xe cọc cạnh đạp về với hy vọng một ngày đủ sống.

Một em bé đến nhìn tôi, xin tôi cho uống ly nước cam còn dở.  Mắt em vẫn theo dõi sợ chủ quán đuổi. Liệu em có chờ những thìa kem còn sót lại trong đáy ly em đang nhìn?  Tôi sẽ để lại ít kem cho em, hành động ấy là yêu thương hay xúc phạm?

Tôi đã đi qua những quán kem tây phương.  Buổi chiều ở bờ biển Laguna Hills hay San Francisco tôi thấy cuộc đời bay trôi theo những đám mây.  Những quán kem tây phương đưa tôi vào cõi mộng.  Quán kem quê hương đưa tôi vào cuộc sống thật.  Cả bầu trời mơ ước của một con người nằm gọn dưới đáy ly kem.

********************************

Sau khi làm phép lạ bánh hóa ra nhiều cho mấy ngàn người ăn, và họ ăn no rồi, Chúa nhìn những mẩu bánh vụn rất tiếc, căn dặn các môn đệ nhặt hết lại: “Anh em hãy thu lấy những miếng thừa, đừng để hư phí” (Yn. 6:12).

Ðó là câu chuyện hai ngàn năm xưa.  Nếu hôm nay giảng Tin Mừng, Chúa sẽ bảo đừng đổ phí những sợi mì vì có nhiều người nghèo đói đang dang dở mong buộc cuộc đời mình bằng những miếng bánh phở dư. Nếu hôm nay Chúa vào quán kem, Chúa sẽ thấy có những thìa kem đưa một buổi chiều vào cõi mộng.  Chúa cũng thấy có những con người kéo cả bầu trời mơ ước vào thìa kem còn sót lại.

“Anh em hãy thu lấy những miếng bánh thừa, đừng để hư phí”.  Chúa muốn nói gì với chúng ta về “mấy cái bánh và vài con cá nhỏ” trong tương quan giữa con người với nhau?  Có những nơi dư thừa trong khi có những nơi thiếu thốn.

Có hai thứ thương xót.  Các môn đệ thấy trời chiều mà người ta mệt mỏi rồi, các ông tội nghiệp họ.  Các ông đã nói với Chúa: “Ðây là nơi vắng vẻ, và trời đã gần tối, xin Thày cho dân chúng về để họ vào các làng mua ăn” (Mt. 14:15).  Ðó là thương xót nhập đề.  Lòng thương xót này cần thiết vì là khởi điểm, nhưng có khi chỉ là xót thương không muốn nhận trách nhiệm, lúc đó khởi điểm chấm dứt ở nhập đề. Chúa trả lời các môn đệ bằng một lệnh truyền thật ngạc nhiên: “Họ không cần phải đi, anh em hãy lo cho họ ăn” (Mt. 14:16).  Chúa muốn các môn đệ bước qua ngưỡng cửa xót thương khởi điểm, đem thương xót nhập đề mà vào xót thương nhập cuộc.  Chính các con phải lo cho họ ăn!

********************************

Phản ứng của các môn đệ ghi trong bốn Phúc Âm như sau:

– Máthêu: Ở đây chúng tôi chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá thôi (Mt. 14:17).

– Máccô: Thế thì chúng tôi phải đi mua hai trăm đồng quan bánh mà cho họ ăn sao? (Mc. 6:37).

– Luca: Chúng tôi không có hơn năm chiếc bánh và hai con cá, họa chăng là chúng tôi phải đi mua thức ăn cho cả toàn dân này (Lc. 9:13).

– Yoan: Philiphê thưa: Có mua hết hai trăm đồng cũng chẳng đủ phát cho mỗi người một miếng nhỏ.  Anrê nói: Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá.  Nhưng ngần ấy thì thấm vào đâu cho bấy nhiêu người? (Yn. 6:7-8).

Xem ra họ thất vọng trước vấn đề vì “chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá thôi”.  Lo cho mình còn chưa đủ còn lo cho ai.  Những phản ứng của bốn Phúc Âm chung nhau ở một cửa ngõ là không có lối vào.  Họ bế tắc.  Theo Phúc Âm Yoan thì chưa chắc các môn đệ đã có bánh và cá, mà là của thằng bé bán rong. Bởi đó, làm sao các môn đệ dám đề cập tới chuyện lo cho đám đông ăn dù biết họ đói và mệt lắm.  Hôm nay, nghèo đói như một bãi rác mênh mông, không biết bắt đầu dọn dẹp từ đâu.  Thái độ của con người hôm nay cũng là tâm trạng của các môn đệ ngày trước, “ngần ấy thì có thấm vào đâu”.  Trong cái nghèo khó của tôi, làm sao tôi dám cho đi.  Và có khi để xoa dịu lương tâm, tôi cũng lập lại cùng mệnh đề đó, “ngần ấy thì có thấm vào đâu”.  Cho đi là mất, bởi thế, kẻ biết mất mà vẫn cho đi là kẻ có lòng thương xót lớn hơn niềm tin.  Trong ý nghĩa này, khi niềm tin bế tắc mà có lòng thương xót thì lòng thương xót sẽ mở ngõ cho niềm tin đi về.  Khi khóa ngõ lòng thương xót thì niềm tin sẽ đứng ở ngoài.  Chính lòng thương xót của Chúa đã làm cho mấy chiếc bánh và hai con cá nhỏ thành lương thực nuôi đám đông.

Khi Chúa giơ “năm chiếc bánh và hai con cá” lên đọc lời nguyện thì cửa ngõ bế tắc lo âu không lối vào của các môn đệ đã trở thành lối vào không còn cửa ngõ.  Ðám đông ăn no và còn dư thừa.  Cũng vậy, những giúp đỡ của ta cho tha nhân, dù nhỏ nhưng đến từ lòng thương xót thì Chúa sẽ giơ lên trời cầu nguyện và nó sẽ thành hiến lễ.

********************************

Chỉ có mấy cái bánh mà hàng ngàn người ăn no, làm sao chỉ có hai con cá nhỏ mà họ ăn không hết? Có những cho đi rất nhỏ mà nhận về thật lớn lao, vì những tia nắng nhỏ ấy đã qua lăng kính quang phổ trăm màu của Chúa.  Có khi nào bạn bị bệnh và phải dùng thuốc trụ sinh chưa?  Ðây là câu chuyện thuốc trụ sinh.

Ngày nọ, một gia đình giầu có, quý tộc nước Anh dẫn con về miền quê chơi.  Trong khi nô đùa, tai nạn đã xẩy đến, cậu trai nhỏ của họ sa chân vô vọng dưới vực nước sâu.  Kẻ nghe tiếng kêu và đã đến cứu cậu là một chú bé, con của người làm vườn nghèo.

Một đứa bé nhà giàu, có thể bàn tay ấy đã được tán thưởng vì tiếng đàn trên phím ngà, nhưng lại không biết bơi.  Một đứa bé nhà nghèo thôn quê, bàn tay xạm nắng vì cuốc rẫy nhưng hôm nay đã cứu đời.  Cha của cậu bé giàu có kia đã biết ơn cậu bé nhà nghèo.  Nhưng thay vì lời cám ơn, ông ta không muốn nhìn ước mơ tuổi thơ của cậu bé nằm dưới đáy ly kem.  Ông muốn đẩy ước mơ của cậu bé vào bầu trời ở trên cao.  Ông hỏi cậu bé:

– Khi lớn con muốn làm gì?

– Chắc là con tiếp tục nghề làm vườn của cha con.

– Con không còn ước mơ nào lớn hơn sao?

– Dạ, nhà con nghèo thế này thì con còn ước mơ gì.

– Nhưng nếu con có mơ ước thì con ước mơ gì?

– Thưa ngài, con muốn đi học, muốn là bác sĩ.

Sau này, cậu bé được cứu sống vì không biết bơi đã trở thành vĩ nhân của thế giới, đã giữ vai trò quan trọng trong cục diện thay đổi thế chiến đệ nhị, đã làm cho nước Anh hãnh diện vì tài ba chính trị.  Ðó chính là thủ tướng Winston Churchill.

Nhờ lòng thương và biết ơn chân tình của cha cậu bé Churchill, cậu bé nhà nghèo đã không còn đặt mơ ước của đời mình ở những cụm cỏ, bờ đê.  Cậu đã trở thành bác sĩ lừng danh của thế giới và là ân nhân của nhân loại cho đến ngàn đời, vị bác sĩ này đã tìm ra thuốc trụ sinh Penicillin.  Tên của cậu là Fleming!

Rồi cậu bé Churchill là thủ tướng.  Rồi Fleming là bác sĩ.  Nhưng câu chuyện chưa dừng ở đây.  Những áng mây rực sáng, với ánh mặt trời sẽ còn rực sáng nữa.  Khi thủ tướng nước Anh lâm bệnh trầm trọng, vương quốc Anh đã đi tìm những danh y lừng lẫy để cứu sống thủ tướng của nước mình.  Kẻ danh y ấy chẳng phải ai xa lạ mà lại chính là bác sĩ Fleming, người đã cứu ông năm xưa.

********************************

“Chính các con hãy lo cho họ ăn”.  Chúa bảo các môn đệ vậy.  Ðấy là hình ảnh của một cậu bé can đảm lao xuống dòng nước trước tiếng kêu của một người hấp hối.  Số tiền nuôi cậu bé nhà nghèo Fleming ăn học, đối với gia đình quý tộc kia có thể đó chỉ là “năm cái bánh nhỏ và hai con cá”.  Nhờ mấy cái bánh nhỏ này mà chính người con của nhà quý tộc ấy, thủ tướng của nước Anh đã được cứu sống lần thứ hai, và cả nhân loại hàng triệu triệu người được thừa hưởng công trình y khoa từ những cái bánh nhỏ đó.

Nhờ năm chiếc bánh và mấy con cá mà Chúa nuôi cả ngàn người.  Phép lạ của những liều thuốc trụ sinh hôm nay và cho đến mãi mãi thế kỷ sau này mở đầu là do sự giúp đỡ mà cậu bé nhà nghèo Fleming đã nhận được.

Những buổi chiều tây phương và những quán kem.  Ngồi bên ly kem người ta thả hồn vào những vùng trời ước mộng mây trôi.  Những buổi chiều đông phương và những quán kem.  Những thìa kem sót lại mà chứa cả bầu trời mộng ước của một tuổi thơ.

Chúa gọi lòng thương xót ở chúng ta, đừng nói chúng tôi “chỉ có năm cái bánh và hai con cá”, Chúa có thể cho một viên than hồng âm ỉ trong đám tro than hôm nay thành biển lửa dữ dội ngày mai.  Vấn đề không phải là “chỉ có năm cái bánh và hai con cá”, nhưng là có bao nhiêu lòng can đảm dám cho đi.

Khi Chúa mời gọi ta cho nhau những cái bánh nhỏ là Chúa mời gọi ta cùng làm phép lạ với Chúa.

Lm Nguyễn Tầm Thường, SJ – Trích trong “Con Biết Con Cần Chúa”.

SỐNG VÀ LÀM

Truyện vui kể rằng: Một nông dân nghèo được vào thiên đàng, ông nhìn thấy người ta mang những vật rất kỳ lạ vào trong nhà bếp. Ông thắc mắc và lên tiếng hỏi:

– Cái gì thế? Có phải để nấu súp không ?

– Không phải.  Đó là những cái tai của con người. Khi sống ở trần gian, tai giúp họ nghe những điều tốt lành, nhưng họ không làm điều tốt lành đó.  Khi chết, chỉ có tai của họ được vào thiên đàng thôi, những phần khác của cơ thể thì không được vào.

Một lát sau, người nông dân lại nhìn thấy người ta mang vào nhà bếp những vật kỳ lạ khác. Ông cũng lên tiếng hỏi:

– Cái gì thế? Có phải để nấu súp không?

– Không phải. Đó là những cái lưỡi của con người. Khi sống trên đời, lưỡi khuyên bảo người khác làm điều tốt và sống tốt, nhưng chính họ lại không sống; không làm những điều tốt lành đó. Khi chết, chỉ có lưỡi của họ được vào thiên đàng thôi, những phần khác của cơ thể thì không được vào.

***

zzBạn thân mến! Câu chuyện vui trên đây nhắc nhở ta về việc “sống và làm”.  Đó cũng là lời khuyên dạy của Chúa Giêsu trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.” ( Mt.7:21)

Thi hành ý muốn của Chúa… Thực thi thánh ý Chúa…Sống và làm theo Lời Chúa dạy … Phải chăng đó là cốt lõi đời sống của người Kitô. Vì :”Ai nghe những lời Thầy nói mà đem ra thực hành, thì ví như người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ.”(Mt.7:25-25).  Người khôn xây nhà trên đá,  không phải là không bị mưa tuôn; sóng vỗ, nhưng ngôi nhà đó dù có bị bao nhiêu mưa tuôn sóng vỗ đi nữa thì nó vẫn đứng vững.

“Tìm ý Chúa trên hết mọi sự, luôn gắn bó kết hiệp với Chúa qua cầu nguyện, cân nhắc để tìm thánh ý Chúa, một khi tìm được ý Chúa rồi thì mau mắn thực hành”. Phải chăng đó là căn tính của người Kitô ?

“Từ bỏ ý riêng của mình để luôn làm theo ý Chúa. Không tìm kiếm những thành công lẫy lừng, nhưng làm những công việc nhỏ bé âm thầm, sống hiền lành khiêm nhường”. Phải chăng đó cũng là căn tính của người Kitô trong thế giới hôm nay?

Chỉ những người Kitô chân chính mới xây dựng được cuộc đời trên nền tảng vững chắc. Chỉ những môn đệ chân chính, sống khiêm nhường âm thầm, mới xây dựng được đời sống thiêng liêng trên nền đá tảng vững chắc. Những thành công tô vẽ  bề ngoài như những ngôi nhà xây trên cát, khi gặp khó khăn thử thách sẽ đổ vỡ tan tành. Những hy sinh âm thầm như những ngôi nhà xây trên đá. Càng qua gian khổ thử thách, càng bền vững và phát triển mạnh mẽ.

***

Lạy Chúa! Trong cuộc sống hôm nay, có một khoảng cách rất lớn giữa “biết” và ”làm”,  giữa “nói” và “sống”.  Đôi khi con không sống thực với lòng mình khi lên tiếng nói với bạn bè xung quanh con: “ – Các bạn hãy nói cho tôi nghe về Thiên Chúa! – Hãy chỉ cho tôi biết quyển sách nào tốt nhất để dạy về cầu nguyện”.  Nhưng thực ra, con đã biết tất cả những điều tốt nhất, biết tất cả những gì cần phải biết, nhưng rất nhiều lần con đã dừng lại ở chỗ biết, mà không mang cái biết ra thực hành, không sống những điều con đã biết…

Chúa ơi! Xin cho con luôn biết lắng nghe tiếng Chúa, biết “Sống và Làm” theo lời Ngài mời gọi. Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ: Đnl.11:18,26-28 – BĐ2: Rm.3:21-25a,28 – PÂ:Mt.7:21-27)

TIẾNG DẾ KÊU

zzCó hai người bạn đang cùng nhau đi giữa đường phố nhộn nhịp với bao tiếng xe cộ ồn ào.  Giữa hàng trăm loại âm thanh hỗn hợp của xe cộ, của người, của nhạc cụ,… một cô bạn bỗng nói, “Tôi nghe tiếng dế kêu.” Người bạn kia sửng sốt đáp lại, “Làm gì có, làm sao có thể nghe được tiếng dế giữa hàng trăm thứ tạp âm trong thành phố?  Bạn khéo tưởng tượng thật!” Người bạn đáp, “Không, mình thực sự nghe tiếng dế mà. Nào hãy theo mình.”  Cả hai cùng đi về một góc đường, và tiến đến một bụi cây.  Càng đến gần, tiếng dế càng rõ hơn.  Bên dưới những chiếc lá khô, họ thấy một chú dế đang cất tiếng gáy say sưa.

“Chao ơi, thật là lạ.  Tai bạn thật là tuyệt vời.  Bạn có bí quyết gì vậy?”  Người bạn kia hỏi. “Ồ không, tai mình cũng như bạn thôi, đâu có bí quyết gì đâu.”  Nhưng hãy xem đây.  Cô bạn liền lấy trong túi áo ra vài đồng tiền cắc và tung ra bên vệ đường.  Ngay tức khắc, mấy chục người bộ hành ngừng lại và quay nhìn về phía phát ra âm thanh của những đồng tiền cắc.  Cô bạn nói tiếp, “Bí quyết là ở chỗ đó.  Vấn đề là bạn muốn nghe điều gì trong cuộc sống của bạn.”[1]

*********************************

Bạn thân mến, vấn đề là bạn muốn nghe điều gì trong cuộc sống chứ không phải tiếng gọi đó nhỏ hay lớn.  Đúng như vậy.  Hai người yêu nhau tuy ở xa ngàn dặm nhưng vẫn có thể nghe nhau, hiểu nhau; có đúng không bạn?  Ngược lại, dù có ở bên nhau nhưng nếu họ không có tình yêu thì cũng không nghe nhau, không hiểu nhau. Vấn đề là bạn tìm điều gì trong cuộc sống mỗi ngày của bạn; vấn đề là bạn có ý thức và quan tâm đủ đến từng ngày sống của bạn, từng công việc bạn làm, từng con người bạn gặp gỡ?  Vấn đề là bạn có thực sự muốn kiếm tìm hạnh phúc và ý nghĩa đời làm người của mình trong từng giây phút hiện tại hay không?!

Sống giây phút hiện tại là một điều dễ dàng cho những ai đặt mình trong hiện tại, nhưng thật khó khăn cho những ai không đặt mình trong giây phút hiện tại.  Sống trong giây phút hiện tại tức là đặt mình vào từng hoàn cảnh mình đang sống, từng công việc mình đang làm, từng lời mình đang nói, và từng tư tưởng mình đang suy nghĩ.  Thật buồn thay, nhiều người trong chúng ta sống trong hiện tại nhưng vẫn lẩn trốn giây phút hiện tại, hoặc chạy trốn không dám dối diện với giây phút hiện tại, hoàn cảnh hiện tại, và suy nghĩ hiện tại.  Rất nhiều người trong chúng ta có thói quen là khi ngồi vào xe là mở radio hay mở nhạc.  Thói quen này có thể là cách để né tránh sự im lặng “đáng sợ” trong lòng mình; cũng có thể là để mình tìm một điều gì đó nhằm lấp đầy nỗi khao khát khó hiểu trong con tim.  Nhiều người cầm ly nước uống ừng ực mà không hề để ý trên tay mình cầm cái gì, mình uống cái gì, hương vị ra sao.  Nhiều người vừa ăn cơm mà mắt vừa liếc nhật báo, tai nghe iPod, và có khi còn xem TV nữa.  Ôi thật tội nghiệp cho con người trong thời hiện đại.  Những hành động này có phải vì chúng ta quá cực khổ; không đủ thời gian để giải trí; hay vì chúng ta sợ sự thinh lặng, sợ mất thời gian, hay sợ rảnh rỗi?

Sao bạn không thử đối diện với sự im lặng trong xe, trong con người mình một lần xem sao? S ao bạn không thử để ý những gì mình đang cầm trên tay (ly nước, cây viết, tờ báo, điện thoại…) để chỉ học cảm giác là mình đang cầm một vật gì đó cụ thể với tất cả sự tự chủ?  Sao bạn không thử dẹp tất cả báo chí, radio, TV, điện thoại trong bữa ăn hôm nay để tự mình cảm nghiệm và thưởng thức hương vị ngọt, cay, chua, đắng, thơm nồng… của thức ăn mà mình đang dùng?

Thưa bạn, sống giây phút hiện tại chỉ đơn giản là như thế đó bạn.  Cứ trung thành để ý đến những gì bạn đang làm, đang cầm, đang nói, đang ăn, và đang thở… thì dần dần bạn sẽ yêu đời hơn; bạn sẽ dễ dàng cảm nghiệm vẻ đẹp của cuộc đời hơn.  Giá trị hiện tại sẽ dần dần lộ ra cho bạn và chúng sẽ đẩy lùi những tư tưởng của hối tiếc về quá khứ, đồng thời chúng cũng sẽ lấn át những âu lo toan tính cho tương lai.  Hiện tại là ngay lúc này, bạn đang đọc những dòng này, vật bạn đang cầm trên tay, … hãy để ý đến chúng.

Mong bạn áp dụng bài thực hành này thành công.

Br. Huynhquảng

[1]Lược dịch từ Soul, ed. Elisa Davy Pearmain, (Oregon: Resource Publications, 1998), 14.

CHUYỆN THÀNH NA-IN

zzLc 7:11-17

Một buổi sáng khi mặt trời đã vắt vẻo trên đỉnh đồi cao, nắng bình minh chiếu chan hòa xuyên qua những kẽ lá đầu cổng thành Na-in, một thành nhỏ miền Galilê nước Do thái, tiếng chim hót ríu rít chào mừng một ngày mới bắt đầu.  Trời trong veo lững lờ vài đám mây xanh biếc hứa hẹn một ngày đẹp.  Quyện trong tiếng chim hót là tiếng lao xao của một đám đông đang theo chân một cỗ quan tài.  À, một đám tang buồn!  Thật ra có đám tang nào mà không buồn?  Có cuộc tiễn biệt nào mà không nước mắt, đau thương?  Có mất mát nào mà không gây đau lòng cho kẻ còn sót lại?  Nhưng đám tang này lại buồn hơn mọi đám tang khác bởi lẽ người nhắm mắt xuôi tay còn quá trẻ.  Anh chưa làm nên công danh sự nghiệp, chưa có gì để lại cho đời ngoài một bà mẹ goá nghèo xơ xác.  Gia tài duy nhất của mẹ anh cũng chính là anh. Vậy mà anh nỡ lòng ra đi mang theo bao niềm hy vọng cậy trông của người mẹ tuổi đã về chiều.  Người chết xong phận mình nhưng người còn ở lại thì sao?

Đám tang nghèo quá, tiêu điều quá!  Đám tang đi trong thinh lặng buồn tênh: không kèn, không trống, không vành khăn tang, chỉ có tiếng khóc nỉ non của bà mẹ già thay cho tiếng kèn đưa tiễn người đi.  Giọt lệ buồn chảy dài trên đôi má nhăn nheo hốc hác đang khóc thương cho người con bạc phận hay khóc than cho chính thân mình?  Ôi, số phận sao khắc nghiệt thế!  Sao người nằm đó lại là con tôi?  Hai bàn tay khốn khổ xưa đã chôn chồng, nay lại chôn con, đến phiên mẹ ra đi thì bàn tay nào sẽ chôn mẹ?  Con ơi…..!  Tiếng lá vàng khóc lá xanh rơi nghe não nề mủi lòng làm sao!  Hòa theo tiếng kể lể của người mẹ già là những tiếng sụt sùi cảm thông của bà con láng giềng.  Người ta tới để tiễn biệt chàng thanh niên về nơi chín suối, đến để chia sẻ số phận hẩm hiu của người mẹ già góa bụa từ nay bơ vơ không nơi nương tựa ủi an.

Đám tang lặng lẽ u buồn ra đi đến gần cửa thành gặp một đám đông khác đông hơn, ồn ào hơn, náo nhiệt hơn đang ùn ùn kéo vô thành.  Đám đông đang hăm hở theo chân một người mang tên Giêsu, là người nổi tiếng thời bấy giờ, một ngôn sứ đầy uy thế trong lời nói cũng như việc làm trước mặt Thiên Chúa và toàn dân.  Một đám đông buồn gặp đám đông vui!  Đám đông ồn ào vui nhộn dạt ra để dành chỗ cho đám tang đi qua với những cặp mắt tò mò hiếu kỳ.  Đám tang à?  Vài người nhún vai:

–  Có gì lạ đâu!

Đám tang của một thanh niên trẻ ư?  Vài cái chép miệng xót thương:

–  Ừ, đáng thương thiệt, nhưng mà… phận bạc vắn số thì chịu thôi, rồi ai cũng phải chết, không sớm thì muộn!

Để lại một bà mẹ già goá bụa không nơi tựa nương sao?  Thêm đôi ba cái lắc đầu tội nghiệp:

–  Ừ, tội quá, nhưng chắc có lẽ tại tội của bà ta hay tội của cha mẹ bà ta nên bây giờ bà phải lâm cảnh đáng thương như thế!

Những người khiêng xác kẻ chết lặng im tiếp tục cuộc hành trình.  Người mẹ khổ đau không màng gì đến thế giới bên ngoài, không để ý gì đến những lời nói vô tình độc địa bên tai, thân già như cành lá liễu trong gió thu chiều, cứ rũ xuống đất mà không sao đứng thẳng lên được.  Những người làng xóm tốt bụng đi xung quanh xốc vào hai bên nách đỡ cho bà khỏi té quỵ xuống đường và dìu bà kéo lê trên cát đằng sau cỗ quan tài cho đến nơi chôn cất người con thân yêu!

Cảnh đau lòng ai oán đó đập vào mắt vị ngôn sứ, Ngài bàng hoàng đứng sững lại người như chết trân, khuôn mặt đầy xúc động với cặp mắt nhắm nghiền như không dám chứng kiến thêm cảnh mẹ khóc con.  Với đôi môi cắn chặt vào nhau tím ngắt như cố nén tiếng thở dài não ruột đang xiết chặt trái tim tan nát, Ngài loạng choạng tiến lại gần người mẹ khổ đau.  Mọi người tò mò ngạc nhiên không hiểu vì sao vị ngôn sứ lại xúc động đến thế!  Ngài đã nhìn thấy trước cảnh gì rồi chăng?

–  Đứng lại!

Một giọng nói trầm ấm vang lên mang nhiều âm chất ra lịnh.  Cả hai đám đông cùng ngỡ ngàng nhìn nhau không hiểu chuyện gì xảy ra.  Ai đứng lại?  Người chết hay kẻ sống?  Những người khiêng quan tài như bị thôi miên tự động dừng chân.  Bước chân người đàn bà đau khổ cũng khựng lại, bà ngước khuôn mặt dại khờ với hai hàng lệ chưa khô nhìn lên.  Ánh mắt già nua chớp chớp.  Qua làn nước mắt nhạt nhoè bà nhìn thấy khuôn mặt hiền từ nhân hậu mập mờ trước mắt.  Ai thế?  Bà không hề quen biết người này!  Bà lắc đầu đưa tay dụi mắt.  Bạn của con trai bà ư?  Không thể nào.  Bà biết mặt những đứa bạn của con trai dấu yêu.  Một vị kinh sư hay Pharisêu đại diện tôn giáo đến đây để chia buồn với bà ư?  Không đời nào. Có bao giờ họ đoái hoài đến nỗi đau của những người nghèo cùng đinh trong xã hội như mẹ con bà.

Mặt bà ngây ra, ánh mắt ngơ ngác.  Như đoán được tâm trạng của bà, đám đông lao nhao lên với những câu trả lời mà bà nghe tiếng được tiếng mất:

–  Giêsu!  Giêsu Nadarét!  Giêsu con vua Đavít!

À, bà nhớ ra rồi, cách đây không lâu trong dân chúng có đồn về một người mang tên Giêsu, người Nadarét xứ Galilê, Người đã trừ quỷ, chữa lành nhiều bệnh tật, đả phá những lề luật cứng ngắc trong xã hội, rao giảng về Tình Yêu, Nước Thiên Chúa và niềm hạnh phúc vĩnh cửu Thiên Chúa hứa ban cho nhân loại khổ đau.  Bà nghe nói ông Giêsu đó có một trái tim nhân hậu, thương yêu trẻ thơ, những người nghèo và đặc biệt là những người bất hạnh cô nhi quả phụ như bà.  Bàn tay ông chạm đến ai là cuộc đời người đó đổi thay!  Ánh mắt ông đi liền với trái tim!  Là ông ta đây sao?  Tuy chưa hề được gặp mặt ông lần nào nhưng bà đã nghe về ông ta rất nhiều.  Bây giờ con người nổi tiếng đó đang đứng trước mặt bà đây, bằng xương bằng thịt.  Nhưng để làm gì cơ chứ?  Con bà đã chết rồi, chết thật rồi!  Bà đang đi chôn nó đây, còn gì nữa đâu để mà xin!  Còn gì nữa đâu để mà chữa lành!

Vị ngôn sứ tiến đến bên bà, ông đưa tay nhè nhẹ lau những giọt lệ trên khuôn mặt gầy guộc đầy những nếp nhăn.  Khuôn mặt Giêsu lộ đầy vẻ xúc cảm thương mến, đôi môi run run mấp máy như muốn thốt nên lời an ủi mà không sao thoát ra thành lời.  Rồi bất chợt Giêsu dang rộng hai cánh tay ôm choàng bà vào lòng bất kể tục lệ khắt khe thời đó không cho phép người đàn ông ôm hôn người đàn bà ngoài đường phố, bất kể quần áo bà tang thương rách nát dơ bẩn, bất kể đến thân phận hèn kém nghèo khó của bà.  Có lẽ Giêsu biết vết thương lòng bà sâu quá không lời nào có thể xoa dịu được.  Bà nhắm mắt lặng im bất động để cho Giêsu ôm mình vào lòng, vỗ về như người cha vỗ về đứa con thơ.  Rồi bà nấc lên thành tiếng, nước mắt trào ra, dòng lệ tưởng đã cạn khô sau khi khóc chồng và sau mấy ngày ngồi bên xác con nay có người khơi dậy, lại ào ào tuôn trào như hai dòng suối.  Bà gục đầu vào vai Giêsu oà khóc, khóc thật to như đứa con nít, khóc như chưa bao giờ được khóc, khóc cho vơi đi những sầu khổ chất chứa trong lòng, khóc như sợ từ nay sẽ không còn ai lau khô giọt nước mắt cho bà nữa.  Hai tay bà vòng ra sau ôm choàng lấy Giêsu chặt cứng như ôm đứa con trai thân yêu vào lòng, như sợ Giêsu sẽ vuột mất khỏi tầm tay bà.  Chưa ai ôm bà như thế bao giờ!  Chưa ai an ủi bà bằng cách này!  Chưa có ai rung cảm với nỗi đau bà đang thấu chịu như ông Giêsu này!  Bà nức nở thì thầm:

–  Giêsu ơi, ông có biết tôi đau khổ lắm không? Ngài có cảm nhận được nỗi đau của tôi không?

 Đáp trả lại lời bà là những tiếng nhịp tim đập thổn thức trong lòng Giêsu mà bà cảm nhận được qua cánh tay hùng mạnh đang xiết chặt lấy bà.   Nhịp tim đó đang hòa chung nhịp với trái tim tan nát của bà, hai con tim cùng chung một nhịp đập!  Ôi, sao mà ngọt ngào quá!  Đây là gì nếu không phải là tình thương?  Ông Giêsu này là ngôn sứ ư?  Nếu đúng thế thì ông ta quả là ngôn sứ của tình thương!

Rồi vẫn giọng nói trầm ấm đó nhẹ nhàng thì thầm bên tai bà những lời an ủi dịu ngọt:

zz–  Thôi, bà đừng khóc nữa! (Lc 7:13b)

Đợi vài phút cho những xúc cảm lắng xuống nơi cung lòng người mẹ đau khổ, Đức Giêsu buông bà ra, chậm rãi tiến về phía quan tài, sờ vào đó và nói:

–  Này người thanh niên, tôi bảo anh: hãy trỗi dậy! (Lc 7:14a)

Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói.  Người mẹ kinh hãi trợn tròn đôi mắt giật lùi ra phía sau mấy bước.  Đám đông hoảng hốt ồn ào láo nháo:

–  Chuyện gì thế, chuyện gì thế? Người chết sống lại ư?  Ôi, Lạy Chúa tôi!

Và họ bắt đầu náo loạn xô đẩy chen lấn về phía trước để coi cho được khuôn mặt người chết, để chính mắt kiểm chứng phép lạ hi hữu trong đời: người chết chuẩn bị đem chôn nay được sống lại.

Đức Giêsu dìu anh thanh niên đứng dậy, gỡ anh ra khỏi những băng vải liệm quấn quanh người, cầm tay anh dắt về phía người mẹ, trao anh lại cho bà và nói:

–  Bà xem, con bà đang sống đây!

Bà ấp úng ngỡ ngàng trước một niềm vui bất ngờ ngoài sức tưởng tượng như thế, miệng bà ú a ú ớ trước món quà quá lớn lao được trao ban lần thứ hai từ tay Thượng Đế.  Tim bà như ngừng đập, lưỡi bà cứng đơ không thốt lên được một lời cám ơn!  Bà có xin đâu mà được nhận lãnh một phép lạ cả thể như thế!  Đúng hơn bà không dám xin, không dám mơ đến khi đối diện với Giêsu vì bà biết con bà chết đã được mấy ngày rồi.  Đó là điều “không thể được” khi xin cho một kẻ chết sống lại.  Trong nỗi đau, bà quên đi rằng đã có lần vị đại ngôn sứ Elia đã kêu xin cùng Thiên Chúa cho con trai một bà goá sống lại.  Đối với Thiên Chúa, không có gì là “không thể” làm được.

Thấy bà góa cứ đứng trân trân như hóa đá, Đức Giêsu dịu dàng cầm lấy tay người thanh niên đặt trong lòng bàn tay sần sùi nhăn nheo của người mẹ.  Ngài xiết chặt hai bàn tay một già một trẻ trong lòng bàn tay mình âu yếm đưa lên môi hôn, mắt Ngài thương mến nhìn hai mẹ con như chúc phúc cho cảnh vui vầy đoàn tụ của gia đình bà.  Hai mẹ con bà goá ôm chầm lấy nhau mừng mừng tủi tủi, hạnh phúc trào dâng!  Bà thầm thì bên tai con:

–  Quả thật, ông Giêsu này đích thực là Con Thiên Chúa.

 Quay về phía Giêsu và đám đông, bà đứng thẳng người mạnh mẽ tuyên xưng:

–  Vâng, bây giờ tôi biết ông chính là Giêsu, Con Thiên Chúa Hằng Sống, và lời Đức Chúa do miệng ông phán ra là đúng!

Đám đông và những người hàng xóm tốt bụng sau giây phút ban đầu kinh sợ giờ đây họ bu xung quanh hai mẹ con bà goá la hét mừng rỡ trước cảnh đoàn viên, họ nhẩy lên hò reo chúc tụng Thiên Chúa:

–  Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người (Lc 7:16).

Lời này về Đức Giêsu được loan truyền khắp cả miền Giu-đê và vùng lân cận thời đó.  Họ lại tiếp tục hò la lớn tiếng:

–  Chúc tụng Thiên Chúa của Tình Yêu, Đấng đã làm cho kẻ chết sống lại, Đấng đã lau khô những giọt lệ chảy trong bóng đêm. Chúc tụng Thiên Chúa của Tình Yêu, Đấng đã luôn an ủi vỗ về những người đau khổ.  Chúc tụng Thiên Chúa Tình Yêu, Alleluia, Alleluia!

Những lời này về Đức Giêsu sau được loan truyền khắp tứ phương thiên hạ cho loài người được nhận biết chúng ta có một người Cha yêu thương ở trên trời, đó là Thiên Chúa Tình Yêu!  Alleluia, Alleluia!

 Lang Thang Chiều Tím

TIỀN VÀ NƯỚC TRỜI

Có người đã luận bàn về  đồng tiền như sau: Tiền có thể:

– Mua được cao lương mỹ vị, nhưng không mua được sự ngon miệng
– Mua được thuốc thang đắt giá, nhưng không mua được sức khỏe.
– Mua được chăn êm nệm ấm, nhưng không mua được giấc ngủ ngon lành.
– Mua được nhà cao cửa rộng, nhưng không mua được mái ấm gia đình.
– Mua được trò chơi giải trí, nhưng không mua được sự bình an thanh thản của tâm hồn.
– Mua được sách vở tài liệu, nhưng không mua được sự thông minh, kiến thức.
– Mua được bạn bè, nhưng không mua được tình nghĩa.
– Mua được trái tim, nhưng không mua được tình yêu.
– Mua được thân xác, nhưng không mua được tâm hồn.
– Mua được đời này, nhưng không mua được đời sau.
– Mua được con người, nhưng không mua được Thiên Chúa
– Mua được visa để đi khắp nơi trên thế giới, nhưng không mua được hộ chiếu để vào Nước Trời…

***

zzBạn thân mến! Lời Chúa trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến tiền của: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được” (Mt.6:24)

Đồng tiền là vật có máu “lạnh”. Từ xa xưa ông cha ta đã nói: “Lạnh như tiền!” Tiền còn là bạc. Bạc không chỉ là một loại quí kim, mà còn có nghĩa là bạc bẽo, bạc tình, bạc nghĩa. Vì tiền mà mất cha mẹ, mất vợ chồng, mất anh em bạn bè…

Tiền bạc không ưa thích con người, nhưng con người ưa thích tiền bạc. Dù tiền rách, tiền bẩn, tiền cũ… người ta vẫn dành cho nó một cảm tình đặc biệt. Có ai chê tiền đâu! Từ người già cho tới em bé, ai ai cũng đều thích tiền .

Chúa Giêsu không  bài bác tiền của, không phê phán sự giàu sang, cũng không bác bỏ người giàu. Ngài chỉ nhắc nhở về thái độ phải có đối với tiền của và cảnh cáo những người giàu có trong việc sử dụng đồng tiền.

Tiền của tự nó không xấu. Xấu hay tốt là tùy ở nhận thức, thái độ và cách sử dụng của con người. Chúa Giêsu lên án sự ham mê tiền của, đặt tiền của cao hơn Chúa, coi tiền của là mục đích của cuộc sống, đến nỗi dành hết sức lực, thời gian, trí tuệ để chiếm hữu thật nhiều tiền.

Tiền của cần thiết cho cuộc sống. Thế nhưng nó cũng là nguyên nhân cho biết bao băng hoại, tráo trở trong xã hội, đổ vỡ trong gia đình, hư đốn trong bản thân. Khi con người đề cao và bám víu vào tiền của, coi tiền của là vạn năng, là cùng đích của cuộc sống …thì con người sẽ trở thành nô lệ cho tiền của.

Tiền của có thể trở thành phương tiện giúp ta đạt tới đích điểm là Nước Trời, nhưng cũng có nguy cơ đẩy ta xa Chúa, đi tìm kiếm những sự phụ thuộc chóng qua của thế gian. Do đó, điều quan trọng là phải biết sử dụng tiền của như phương tiện để tìm kiếm Nước Trời. “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ khác, Người sẽ thêm cho” (Mt.6:33)

 ***

Tâm sự của con chim Sẻ:

Bạn thân mến! Tôi chỉ là con sẻ nhỏ. Một con chim thật tầm thường. Đời tôi cũng chẳng có giá trị gì nhiều, nhưng Thiên Chúa đã chăm sóc tôi…

Tôi không có kho lẫm, tôi không bao giờ gieo hạt hay gặt hái, nhưng Thiên Chúa đã ban cho tôi phần của một con chim sẻ, chỉ đủ dùng và không có được một hạt dư…

Tôi biết có nhiều con chim sẻ ở khắp nơi, nhưng khi một đứa trong chúng tôi bị rơi xuống đất, Cha trên trời cũng biết rõ điều ấy…

Dù nhỏ bé, nhưng tôi không bao giờ bị quên lãng – dù yếu đuối, nhưng tôi không bao giờ sợ hãi…Vì có Cha trên trời luôn nâng đỡ chở che …

Tôi bay lượn trong những khu rừng rậm rạp, hay nhẹ nhàng trên những khóm hoa – tôi không cần bản đồ hay la bàn, nhưng không bao giờ tôi lạc lối…

“Hãy nhìn xem chim trời…Cha anh em ở trên trời vẫn lo cho chúng! Anh em không đáng giá hơn các con chim ấy sao?… (Mt.6:26)

Bạn ơi! Vì thế xin đừng lo lắng !

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ:Is.49:14-15 – BĐ2:1Cr.4:1-5 – PÂ: Mt.6:24-34)