MẦU NHIỆM CỦA TỘI LỖI

Dư luận tại Hoa Kỳ cũng như thế giới đang xúc động theo dõi phiên tòa xét xử bà Andrea Yates về tội dìm chết năm đứa con trong bồn tắm.  Trong các phiên xử khác, những tranh tụng tại tòa xoay quanh việc xét xử bị cáo có phạm tội giết người hay không, trong khi đó thì phiên tòa xử bà Andrea Yates lại xoay quanh việc tìm hiểu bà Andrea Yates có điên hay không.  Lý do là vì ngay từ đầu bà Andrea Yates đã thú nhận với cảnh sát rằng chính tay bà đã lần lượt dìm chết năm đứa con trong bồn tắm.  Trong khi công tố viện cố gắng chứng minh rằng bà Andrea Yates đã giết con một cách có tính toán và tính toán từ lâu, thì bên bị cáo, các luật sư của bà lại cố gắng biện minh rằng bà Andrea Yates giết con chỉ vì muốn con có một cuộc sống tốt hơn mà thôi.  Riêng một số chuyên gia tâm lý thì cho rằng bà Andrea Yates giết con vì mắc chứng bệnh mà họ gọi là trầm uất hậu sản, nghĩa là xuống tinh thần sau khi sinh.  Quả thật, ngay sau khi sinh đứa con trai đầu lòng vào năm 1994, bà Andrea Yates đã bắt đầu lo ngại không biết đứa con mình sẽ ra zzsao.  Không những thế, bà còn lo sợ trước những ám ảnh thường hiện về trong mộng khiến bà tưởng tượng một ngày nào đó bà sẽ cầm dao đâm một người nào đó không rõ mặt rõ tên.

Là một nữ y tá sinh ra và lớn lên tại Houston, bang Texas, bà Andrea Yates đã phải nghỉ làm tại bệnh viện sau khi sinh con đầu lòng.  Vừa lo ngại vừa thường xuyên sống trong ác mộng, bà vẫn cố gắng chiều chồng để sinh hạ thêm ba trai một gái trong thời gian sáu năm tiếp theo.  Sau khi sinh đứa con thứ tư vào năm 1999, bà Andrea Yates đã bắt đầu trải qua những ngày tháng kinh hoàng trong ác mộng.  Trong những cơn ác mộng ấy, bà thấy mình là thủ phạm nhúng tay vào những vụ giết người vô tội.  Cuối cùng, để thoát khỏi những cơn ác mộng bà đã tự tử bằng cách nuốt một hơi năm mươi viên thuốc ngủ.  Sau khi được cứu sống, bà lại tự tử một lần nữa.  Vào mùa hè năm 1999, bà tâm sự với viên bác sị của bà như sau: “Tôi cảm thấy như nghe có tiếng nói thúc giục tôi giết người.  Tôi rất sợ sẽ có ngày tôi làm hại người khác.  Vì vậy, tôi chỉ còn cách là tự tử để tôi chết thì chẳng còn hại ai được nữa”.

Ðến lúc đứa con thứ năm ra đời, thì bệnh trạng của bà thêm trầm trọng.  Ngày 20/06/2001, bà quyết định giết năm đứa con của mình vì cho rằng bản thân của bà không xứng đáng là một người mẹ, khiến năm đứa con nếu lớn lên không thể nào có được một tương lai tốt đẹp.  Và cách tốt nhất để xã hội có thể trừng phạt bà là ra tay giết năm đứa con của bà.

Trong phiên xử hôm thứ Tư ngày 14/03/2002, một bác sĩ tâm lý trị liệu đã làm chứng trước tòa rằng bà Andrea Yates cho biết bà không dám nói với ai về tiếng nói thúc giục bà giết người, vì sợ rằng nếu bà nói ra satan sẽ nghe thấy và sẽ khiến bà sát hại con cái bà.

**********************************

Hiện nay, người ta chưa biết số phận của bà Andrea Yates sẽ ra như thế nào.  Nhiều người cảm thương hơn là lên án bà.  Diễn tiến của hành động giết con nơi bà cho thấy đây chỉ là một thảm kịch trong đó kẻ giết người chỉ là một nạn nhân, nạn nhân của một cơn bệnh và nhất là nạn nhân của một tiếng nói thúc giục mình giết người.  Tựu trung đó cũng là thảm kịch của thân phận con người được thánh Phaolô diễn tả bằng một câu nói bất hủ: “Ðiều thiện tôi muốn, tôi không làm.  Còn điều ác tôi không muốn, tôi lại làm”.

Qua câu nói trên, thánh Phaolô muốn khẳng định một mầu nhiệm, đó là mầu nhiệm của sự tội.  Tội là một mầu nhiệm.  Nó vừa nói lên sự hướng thiện của con người lại vừa bày tỏ sự yếu đuối nơi con người.  Nơi mỗi người luôn diễn ra một cuộc chiến liên lỉ giữa thiện và ác, giữa ân sủng và tội lỗi, giữa ánh sáng và sức mạnh của tăm tối.  Nếu có một tiếng nói của lương tâm không ngừng thúc đẩy con người làm điều thiện thì tiếng nói lôi kéo con người vào tội ác cũng mãnh liệt không kém.

Mùa Chay, mùa của giao chiến giữa ân sủng và tội lỗi, giữa ánh sáng và bóng tối, các tín hữu kitô được mời gọi ý thức rằng sống là một cuộc chiến đấu liên lỉ.  Còn sống là còn chiến đấu, nhưng trong cuộc chiến ấy họ tin rằng họ sẽ chiến thắng vì Ðấng mà họ tin tưởng đã xác quyết với họ: “Ðừng sợ, Ta đã thắng thế gian”.  Quả thật, Người đã chiến thắng tội lỗi và sự dữ và Người cũng chia sẻ sức mạnh của Người cho các môn đệ của Người.  Với Người, trong Người và nhờ Người, họ cũng có thể chiến thắng được satan và tội lỗi.

**********************************

Lạy Chúa,

Với những hy sinh, chay tịnh và hãm mình mà chúng con đang thực hành trong mùa Chay này, xin Chúa gia tăng lòng tín thác của chúng con, xin cho chúng con luôn xác tín rằng chỉ có ơn Chúa chúng con mới có thể chiến thắng được ma quỉ, con người tội lỗi yếu hèn của chúng con.

R. Veritas

NỖI MONG

Sống mong đợi là sống trong thương nhớ.  Nỗi nhớ càng nhiều thì nỗi mong càng ray rứt.  Mong đợi là gởi tâm hồn mình đi để tìm một tâm hồn.  Là sống ở đây, nhưng vẫn không là sống thực.  Một phần đời nào đó đã mất.  Ở rất xa.

Lịch sử cứu rỗi là lịch sử mong đợi.  “Trời cao hãy đổ sương xuống và ngàn mây hãy mưa vị cứu tinh”.  Dân Chúa đã mong đợi ân tình cứu rỗi.  Ðấng Thiên Sai đã đến.  Con người không chấp nhận. Ðóng đinh Ngài trên thập giá.  Con người đã bỏ đường đến cứu độ.  Ði xa.  Và bây giờ, đến lượt Thiên Chúa mong chờ, Ngài đợi tôi trở về.  Một phần đời nào đó đã mất.  Ở rất xa.

Câu chuyện “Người Con Hoang Ðàng” trong Tin Mừng Luca đã diễn tả trung thực hình ảnh mong đợi của Cha.  Người con đi hoang nhưng người con đã trở về.  Như thế, có thể gọi dụ ngôn là câu chuyện “Người Con Trở Về”.  Dù người con trở về hay người con đi hoang thì tình thương của Cha vẫn không thay đổi.  Bởi đó, tôi thích đặt tên cho dụ ngôn là “Nỗi Mong Của Cha”.  Vì nói đến mong đợi là nói đến  tình thương.

Người con đến nói với cha mình: “Xin cha ban cho con phần gia sản thuộc về con!”  Nhìn con ra đi. Nhìn trời cao.  Sợ có mây đen đem mưa gió.  Cha nguyện xin cho mưa bão đừng đến.  Cha mong cho bầu trời cứ nắng bình yên để đời con mình có một tương lai.  Ra đi rồi, cha ở lại thao thức không biết con mình ra sao.  Một phần đời đã mất.  Ở rất xa.

“Ðã bao lần Ta như gà mẹ muốn tụ họp con cái lại dưới cánh nhưng chúng chẳng nghe” (Mt 23,37). Ðây là tình thương của Chúa muốn tâm sự với con người.  Càng thương bao nhiêu, khi mất càng buồn. Càng thương bao nhiêu, khi xa càng nhớ.  Càng nhớ thì tâm hồn người nhớ càng gần người mình nhớ. Chỉ có kẻ ra đi là ơ hờ.  “Cho dù mẹ có quên con thì Ta vẫn chẳng nguôi lòng nhớ thương ngươi” (Is 49,15).  Ðây là trái tim của Chúa đối với tôi.

Mong đợi là dấu âm thầm nói: tôi nhớ.  Có thương thì mới nhớ.  Khi Chúa muốn tôi trở về là dấu chỉ Chúa nói: cha thương con.  Câu chuyện “Người Cha Mong Con Trở Về” (Lc 15,11-31), diễn tả tuyệt vời tình thương này:

Nó còn ở đàng xa thì cha nó đã thấy nó, và ông chạnh lòng thương:  chạy lại ông bá lấy cổ nó mà hôn lấy hôn để.  Người con mới nói với ông: Thưa cha, con đã trót phạm tội nghịch với Trời và trước mặt cha, con không còn xứng đáng gọi là con cha nữa!  Nhưng cha nó đã nói cùng đầy tớ: Mau mau! đem áo thượng hạng mà mặc cho nó; hãy xỏ nhẫn vào tay nó; và giầy vào chân nó; rồi đem con bò tơ này mà hạ đi! Ta phải ăn mừng mới được vì nay con ta đây: nó đã chết mà lại hoàn sinh, đã mất mà lại tìm thấy được.  Và người ta mở tiệc ăn khao.

********************************************

Phân tích đoạn văn trên đây ta sẽ thấy tình thương của Chúa ướp vào từng lời, từng chữ, là tha thiết vô cùng.

– … nó còn đàng xa thì cha nó đã thấy nó.  Câu chuyện không nói rõ là bao nhiêu năm trời người con đã xa nhà.  Nhưng cho dù năm tháng có lâu, cho dù phương trời có xa.  Cho dù thân xác có đổi thay.  Khi thấy bóng con là nhận ra ngay.  Lời văn nhấn mạnh là “nó còn ở đàng xa”.  Còn xa thì bóng hình còn mờ.  Mờ thì khó nhận diện.  Nhưng thấy con là cha nhận ra ngay!

– … và ông chạnh lòng thương.  Mong đợi là ngôn ngữ của thương nhớ.  Tiếng “chạnh lòng thương” ở đây là lời phiên dịch tình thương thành xúc động.  Là cụ thể hóa tình thương thành tiếng khóc.  Là muốn kéo vô hình thành hữu hình.  Là một thứ vỡ òa của thương mến nội tại trong tâm hồn ra bên ngoài.  Xúc động vì gặp lại con, hay chạnh lòng trắc ẩn khi thấy con tiều tụy vì con “phải ăn bám dân trong vùng, và người ta đã sai nó ra đồng chăn heo”, thì cũng là động lực đến từ trái tim giàu lòng thương xót, thì cũng là tình thương bật nở sau bao ngày cưu mang ẩn kín.

– … ông chạy lại.  Người ta chỉ chạy khi vội vàng.  Chạy khi không có thì giờ.  Chạy là muốn rút ngắn.  Chạy là bị thúc đẩy bởi một động lực rất mạnh.  Chạy thì ít an toàn hơn đi thong thả.  Biết ít an toàn mà cha già vẫn chạy là liều chấp nhận một thiệt thòi có thể xẩy đến cho mình.  Không ai có thể suy nghĩ, tính toán, sáng tác trong lúc chạy.  Càng chạy nhanh thì càng mất đi hình ảnh bên cạnh.  Chạy thì quên hết những gì chung quanh để chỉ còn một mục tiêu duy nhất zzđang nhắm tới.  Cha già đã quên hết mọi sự, trước mặt chỉ thấy con.  Chạy là muốn rút ngắn thời gian mong nhớ.

– … ông bá lấy cổ nó mà hôn lấy hôn để.  Cái hôn của Yuđa lạnh lùng bao nhiêu, thì cái hôn của người cha già tha thiết bấy nhiêu.  Ít khi nào Phúc Âm kể chi tiết như ở đây.  Cái hôn của người cha như vội vàng, hối hả, như sợ sắp mất, như một trông đợi vô cùng.

– người con nói: trước mặt cha con không xứng đáng gọi là con cha nữa.  Nhưng cha nói cùng đầy tớ…  Nói nhưng có nghĩa là muốn nói ngược lại.  Nói nhưng có nghĩa là bảo người nghe đừng theo ý riêng mình mà hãy theo ý của người nói.  Trong kinh nghiệm sống, ta hãy thấy hạnh phúc hay đau khổ nhiều khi hệ tại có một chữ nhưng.  Người con muốn nhắc cho cha cái quá khứ lầm lỗi của mình. Nhưng cha chẳng quan tâm.  Vì trong mong đợi là có tha thứ rồi.

Trong câu chuyện này, người cha không hề nhắc đến tội của con.  Chính lúc người con muốn cha nhận lời xin lỗi của mình, cha cũng không muốn nhận.  Ông gạt đi.  Ông muốn quên hẳn.  Ðây là thái độ của Chúa đối với tôi.  Trong trái tim Chúa chỉ có tình thương chứ không có trí nhớ về tội.  Những đau khổ gây ra bởi tội của tôi chỉ là tôi tự xa cách tình thương.  Người con đi hoang phải chăn heo và “ước gì có thể lấy rau heo mà ăn cho đầy bụng nhưng cũng chẳng có ai cho”.  Ðau khổ này không phải là hình phạt của cha, mà chỉ là người con không muốn ở với sự giàu có của cha mình.

– … ông nói cùng đầy tớ: mau mau đem áo.  Nói mau mau là nói đến gấp rút.  Khi truyền cho một người làm việc mau mau có nghĩa là việc đó rất quan trọng, rất cần.  Một việc phải làm mau mau là việc muốn có kết quả ngay.  Mau mau là hành động đang bị hối dục. Toàn thể mạch văn của câu truyện đều diễn tả sự nóng lòng mong con trở về.  Thấy con về thì cha già chạy vội vàng.  Thấy con rách rưới thì sai gia nhân mau mau lấy áo.

– mau mau lên đem áo thượng hạng mà mặc cho nó.  Áo thượng hạng là áo quý.  Những gì quý thì gìn giữ cẩn thận.  Không ai mặc áo thượng hạng để đi làm.  Người ta mặc áo thượng hạng trong tiệc mời, trong nghi lễ.  Bởi đó, nếu ông chỉ bảo gia nhân về nhà lấy áo, chắc chắn họ không lấy áo quý. Mặc áo thượng hạng ở khung cảnh này hoàn toàn không thích hợp.  Người con mới ở phương xa về, phải chăn heo mà sống, đói rách, đau ốm, tóc tai dơ bẩn vì bụi đường.  Mặc áo thượng hạng ở đây coi như dị đời.  Theo thường tình, ông phải đợi con về nhà, tắm rửa, chuẩn bị kỹ càng cho bữa tiệc ăn khao đã, rồi bấy giờ mới mặc áo quý.  Nhưng cha già quá lính quýnh, ông không biết làm sao giữ được hạnh phúc trong tim ông.  Ông nghĩ gì nói vậy chứ không cần xét rằng mặc áo thượng hạng lúc này chẳng thích hợp với hoàn cảnh.  Ông không dùng lý trí để phân tích hoàn cảnh, nhưng chỉ nghe tiếng nói của tình thương.  Tất cả hành đông ở đây đều là hành động muốn đốt cháy thời gian vì đã mong nhớ quá lâu.  Ðã chờ đợi quá dài.  Ông “chạy hối hả”, ông “bá lấy cổ”, ông “hôn lấy hôn để”, ông truyền lệnh “mau mau”.

– … hãy xỏ nhẫn vào tay nó.  Có thể cần áo lành để thay áo đã dơ bẩn, nhưng nhẫn, thực sự chưa cần để đeo.  Người ta đeo nhẫn trong ngày cưới, trong ngày giao ước.  Tất cả đều xẩy ra trong nghi thức trang trọng, có trầm hương, nhạc khúc.  Vì sao cha già không đợi cho con về nhà rồi hãy đeo nhẫn, có muộn màng gì?  Nếu nhẫn là biểu tượng của quyền thừa hưởng gia tài, thì chỉ còn một khúc đường ngắn nữa, có muộn màng gì mà không đợi?

– … và xỏ giầy vào chân nó.  Ðã bao năm dong duổi tha phương cầu thực.  Ðã bao đoạn đường đi qua trong đời.  Người con đã đi chân trần.  Chỉ còn một khúc đường ngắn là tới nơi.  Có cần thiết gì phải đi giầy?  Nếu chân trần là biểu tượng của kẻ nghèo thì chỉ còn một khúc đường ngắn là tới nhà, là có gia nghiệp của cha.  Có lâu lắc gì mà không chờ?

Ta phải ăn mừng mới được!

Và người ta mở tiệc ăn khao!

********************************************

Lạy Chúa, con đã được nghe rất nhiều là Chúa phạt những người tội lỗi, hơn là được nghe nói về tình thương của Chúa.  Ðể rồi, nói đến Chúa là con nghĩ đến một vị quan tòa.  Nhìn Chúa kính sợ hơn là dám đến gần.  Có ngờ đâu, Chúa mong con đến bên để kể cho con nghe những câu chuyện về lòng thương xót của Chúa, để chữa lành vết thương của tâm hồn, để nói cho con nghe về hạnh phúc, để chỉ cho con thấy vẻ đẹp của cuộc sống.

Xin cho con được nhìn Chúa với tình thương.

Trong câu chuyện dụ ngôn Chúa kể, khi thấy đứa con trở về, cha già chạy vội vã đón con.  Cha tha thứ lỗi lầm trước khi con tự thú.  Giữa cha mẹ với con cái, muốn được tha thì phải xin lỗi.  Có khi xin lỗi cũng chẳng được tha.  Chúa thì lại tha trước khi xin lỗi.  Xin cho con biết hối hận vì đã bao lần con chẳng để ý đến lòng nhân từ của Chúa.

Lạy Chúa, người con trở về đã được mặc áo quý, đeo nhẫn với quyền thừa hưởng gia nghiệp.  Cha già đã giết bò tơ ăn mừng.  Hình ảnh mô tả như một đại tiệc để mừng sự thành công, vinh quang của một người con đã học hành thành tài, đỗ đạt vinh hiển, nay về quê làm rạng danh công ơn của cha mẹ.

Lạy Chúa, chỉ có việc con lên đường trở về mà Chúa hạnh phúc như vậy sao?

LM Nguyễn Tầm Thường – Trích trong “Nước Mắt và Hạnh Phúc”

THẦY LÀ ÁNH SÁNG THẾ GIAN

zzTin Mừng Chúa Nhật hôm nay tường thuật về việc Đức Giêsu chữa lành một người mù từ lúc mới sinh, một người lớn lên từ nhỏ trong bóng đêm dầy đặc.  Ngài cho anh được thấy ánh mặt trời lần đầu tiên trong cuộc đời, thấy khuôn mặt của những người thân thuộc.  Nhưng quan trọng hơn, cho anh thấy và tin vào Đức Giêsu, Đấng là Ánh Sáng của thế gian.

Sau khi được sáng mắt, anh đã bước vào một cuộc hành trình đức tin đầy cam go.  Ban đầu, Đức Giêsu chỉ là một người mà anh không biết rõ.  Sau đó, anh dám khẳng định trước mặt mọi người Ngài là một ngôn sứ, là người bởi Thiên Chúa mà đến.  Và cuối cùng, anh đã sấp mình để bày tỏ lòng tin vào Ngài.  Đức tin của anh được lớn lên qua những hiểm nguy và đe dọa của cuộc đời.

Trái ngược với thái độ hồn nhiên và bình an của anh, là thái độ bối rối bất an của giới lãnh đạo Do Thái.  Họ cứ hỏi đi hỏi lại về cách thức anh được chữa lành.  Cha mẹ của anh cũng bị điều tra cẩn thận. Trước những lập luận vững vàng của anh, họ chỉ biết chê anh là dốt nát và tội lỗi.

Dựa vào một quan niệm hẹp hòi về việc giữ ngày Sa-Bát, họ khẳng định Đức Giêsu đã phạm tội khi chữa bệnh, tuy họ vẫn không hiểu tại sao một người tội lỗi lại có thể mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh.

Giới lãnh đạo Do Thái giáo không muốn chấp nhận Đức Giêsu là người của Thiên Chúa, vì điều đó đòi hỏi họ phải thay đổi lối nghĩ, thay đổi lối sống đạo, thay đổi bộ mặt tôn giáo của cha ông họ, và nhất là đòi họ phải tin và theo Ngài.  Họ tự hào về sự hiểu biết và đạo đức.  Chính niềm tự hào này đã khiến lòng họ khép kín, không có can đảm mở ra để chấp nhận mình sai lầm, họ đã cố chấp ở lại trong bóng tối.

Mù không phải là một tội.  Cố ý không muốn nhìn thấy mới là tội.  Chúng ta ai cũng sợ bị mù, nhưng nhiều lúc ta lại tự làm cho mình trở nên mù lòa, bằng cách không chấp nhận thực tế về bản thân, né tránh sự thật và bịt tai không muốn nghe những lời góp ý sửa đổi của người chung quanh.

Như những người mù xem voi, mỗi người chúng ta chỉ nhìn thấy một phần của thực tại, một phần nhỏ của chân lý.  Ta cần khiêm tốn để nhận mình mù, mù về chính mình, mù về lãnh vực mình không thông thạo.  Thay vì tranh cãi nhau do có cái nhìn khác nhau, ta có thể bổ túc cho nhau, để dần dần có thể tiến gần đến chân lý mỗi ngày mỗi hơn.

***

Lạy Chúa! Như thánh Phaolô trên đường về Đamát, xin cho con trở nên mù lòa vì ánh sáng rạng ngời của Chúa, để nhờ biết mình mù lòa mà con được sáng mắt và nhìn thấy tình Chúa thương. Amen .

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1: 1 Sm 16, 1b. 6-7. 10-13a – BĐ2: II: Ep 5, 8-14 – PÂ: Ga 9, 1-41)

LỜI THA THỨ DỊU DÀNG

zzCâu chuyện về người phụ nữ ngoại tình được kể lại trong Tin mừng theo thánh Gio-an 8,1-11 là một trong những câu chuyện nói lên cách ứng xử tuyệt vời của Chúa Giê-su, phát xuất từ tấm lòng khoan dung nhân ái đối với kẻ có tội.

Bài Tin mừng này mô tả cho chúng ta thấy hình ảnh một Đức Giê-su trầm tư, ít nói; khác hẳn với hình ảnh của một Đức Giê-su dõng dạc hùng hồn trong khi giảng dạy hay khi tranh luận với những kẻ tự xưng là thánh thiện đạo đức, là khôn ngoan thông thái trong dân.  Các thái độ tương phản này phần nào cho chúng ta thấy cá tính của Đức Giê-su: Ngài rất kiên quyết khi quảng bá và đấu tranh cho sự thật, nhưng đồng thời cũng rất dịu dàng và rất khoan dung đối với những ai nhận ra thân phận hèn yếu của mình.

Khi bị bắt, người phụ nữ ngoại tình đã cầm chắc cái chết trong tay, vì Luật Mô-sê đã qui định hễ ai phạm tội ngoại tình thì phải bị ném đá cho đến chết.  Chị bị bắt quả tang tại trận, không cách gì chối cãi được.  Tội của chị đáng chết.  Đúng ra những kẻ bắt chị đã có thể thi hành án xử mà không cần phải dẫn chị đến với Chúa Giê-su, nhưng đây là một cơ hội hiếm có để họ cho Chúa Giê-su vào tròng, hầu có thể tố cáo Ngài.  Khi bị các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn đi, lòng chị vẫn không mảy may hy vọng thoát chết, vì tội của chị đã rành rành.  Và có lẽ chị cũng chẳng biết họ muốn dẫn chị đi đâu nữa.  Chị chỉ biết chắc một điều là mình sẽ phải chết.  Chết ở nơi đây, hay chết ở nơi kia thì có khác gì nhau đâu!  Chị bước đi, chẳng nói chẳng rằng, như một cái xác không hồn.   Mà thật sự chị sắp trở thành một cái xác không hồn trong khoảnh khắc nữa thôi, nếu không có sự xuất hiện của một người đàn ông mà dân chúng gọi là Thầy Giê-su.

****************************************

Họ dẫn chị đến trước mặt Ngài, bắt chị đứng ở giữa, rồi bắt đầu phiên xử.  Các kinh sư và người Pha-ri-sêu đã nắm chắc phần thắng trong tay.   Họ hài lòng vì mình bắn một mũi tên mà được cả hai con chim, đáng bõ công cho họ rình rập săn đuổi!  Người đàn bà thì đã nắm chắc phần thua ngay từ đầu trận.  Chỉ còn Chúa Giê-su.  Ngài đang nghĩ gì và Ngài sẽ làm gì trong cái thế gọng kìm này?

Đối diện với Chúa Giê-su là một phụ nữ tuyệt vọng chờ chết.  Tội chị rành rành ra đấy.  Đối với con người thì đã là vô phương cứu chữa.  Nhưng may mắn thay cho chị, trước mặt chị là Đấng được mệnh danh là “Chiên Thiên Chúa”, là “Đấng xóa bỏ tội trần gian”.  Ngài xót thương cho số phận bi đát của chị.  Ngài muốn cứu chị khỏi án chết trước mắt, và nhất là Ngài muốn cứu chị khỏi án chết muôn đời trong thế giới mai sau.  Ngài sẽ cứu chị, đồng thời Ngài cũng sẽ cho những kẻ muốn ám hại Ngài một cơ hội nhìn lại bản thân họ:  Chị ta xấu thật đấy.  Nhưng không chừng các ông lại còn xấu xa hơn chị bội phần!  Tội chị thì ai cũng thấy, vì chị ta không khéo che đậy.  Còn tội các ông thì thiên hạ ít người nhận ra, bởi các ông khéo tô son trét phấn cho chúng.  Đã đến lúc các ông phải nhìn lại mình rồi đấy!

Chúa Giê-su im lặng suy nghĩ.  Ngài cúi xuống lấy tay viết lên mặt đất để khỏi đưa ra lời phán quyết.  Ngài không ngây thơ rơi vào bẫy của các kinh sư và người Pha-ri-sêu như họ tưởng.  Chuyện đơn giản, hóa ra chẳng giản đơn tí nào!  Họ nóng lòng thúc giục Chúa Giê-su lên tiếng.  Thôi được, nếu các ông muốn tôi nói, thì hãy nghe đây:  “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.”

Các kinh sư và người Pha-ri-sêu không ngờ cuộc diện lại thay đổi đột ngột đến thế.  Từ chỗ nắm dao đằng cán, bây giờ họ lại phải nắm lấy lưỡi dao do chính mình đưa ra, không khéo lại đứt tay chảy máu.  Thế là hỏng bét!  Ai khôn hồn thì chuồn sớm.  Họ lần lượt bỏ đi, không kèn không trống!

Chỉ còn lại hai người trên hiện trường.  Chúa Giê-su và người phụ nữ.  Đấng có quyền tha tội và người đã lỡ lầm phạm tội.  Chúa Giê-su ngẩng nhìn lên.  Người phụ nữ hồi hộp chờ đợi.  Đây là người cuối cùng có thể kết án chị.  Nếu có chết, chị cũng chẳng giận hờn gì.  Nhưng không, không có lời kết án nào cả, mà chỉ là một câu nói dịu dàng: “Này chị, họ đâu cả rồi?  Không ai lên án chị sao?” và một câu nói nhẹ nhàng tiếp theo: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu!  Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.”

****************************************

Lạy Chúa Giê-su, Chúa thật là tuyệt diệu.  Chúa đã không cần nói lời tha tội cho người phụ nữ ngoại tình.  Với tấm lòng nhân ái bao dung và hết sức xót thương, Chúa đã hiểu thấu tình cảnh tuyệt vọng của chị.  Tội của chị đang đè nặng lên chị.  Chị quá thấm thía hậu quả của nó.  Không thấm thía sao được khi vì phạm tội mà phải đứng kề bên cái chết.  Chúa thật là tế nhị khi không xoáy thêm vào nỗi đau của chị.  Đối với kẻ ngoan cố, Chúa thật là cứng rắn.  Còn đối với chị, Chúa thật là dịu dàng biết bao.  Chúa biết chị cần những lời động viên nhẹ nhàng hơn là những lời giáo huấn dài dòng. Chúa đã đáp ứng cho thân xác rũ rượi và con tim tan nát của chị.   

Lạy Chúa, xin ban cho con một trái tim nhạy cảm, một trí óc sáng suốt, những lời nói chân tình và những hành động tế nhị để con có thể giúp đỡ những anh chị em của con trong những lúc họ sa cơ lỡ bước. Xin cho con biết ứng xử một cách linh hoạt tuỳ theo từng đối tượng mà con tiếp xúc, để họ tìm thấy nơi con một sự cảm thông có thể giúp họ đứng lên và tiếp tục tiến bước trên đường đời.  Amen!

Trầm Tĩnh Nguyện

CÓ TIN VUI GIỮA GIỜ TUYỆT VỌNG!

Vui – buồn, sướng – khổ, hạnh phúc – bất hạnh …  Tất cả những trải nghiệm đó bất cứ ai là người và làm người đều đã hơn một lần cảm nhận trong đời mình.  Với những người có kinh nghiệm thực tế gần đụng chạm đến cái chết thì sẽ thấy được tin vui ở cái giờ tuyệt vọng nó quý báu là dường nào.  Gần đây nhất, đoàn khách du lịch người Nga bị tai nạn ở đèo Lò Xo, người phụ nữ cố bò lên khỏi vực sâu và cầu cứu.  Càng kêu cứu thì càng vô vọng vì đoạn đường này ít người qua lại và trời đã về chiều. Đang chìm trong vô vọng ấy, cô du khách người Nga đã vẫy tay gọi một anh kỹ sư công ty Toshiba và anh này đã mang tin vui cho những người may mắn còn sót lại trong đoàn du lịch. Chắc có lẽ trong quãng đời còn lại của mình, cô du khách may mắn đó không thể nào quên được giây phút mà mình được cứu đấy.  Và chỉ có mình cô mới có thể cảm nhận được cái hạnh phúc của giờ khắc ấy.

zzAi đã từng sống trong giây phút tuyệt vọng mà có tin vui cứu mình, sẽ cảm thấy hân hoan, nô nức và muốn chia sẻ niềm vui ấy cho mọi người ngay.  Trong dòng tâm tình vui vì được cứu, hân hoan vì được cứu độ ấy, Trầm Tử Thiêng đã bày tỏ cảm xúc của mình :

Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng.
Một vòng tay vừa mới mở ra
Cứu anh em những đời mạt vận
Đường mơ đi càng bước càng xa
Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng
Hai mươi năm tưởng đá vàng phai
Có em tôi nuốt từng giọt lệ
Ngậm oan khiên đợi mãi một ngày…
Hãy nói cho mọi người cùng nghe:
Người đã cứu người
Hãy nói cho mọi người cùng nghe:
Làng Việt Nam đang xây thêm bên ngoài Việt Nam
Hãy nói cho mọi người cùng nghe:
Người đã cứu người
Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng.
Lời cầu kinh vừa có người nghe.
Trái tim ơi, đất trời lồng lộng.
Chờ đêm đêm biển hát tình ca.
Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng
Bao sinh linh nhận phép giải oan.
Xiết tay nhau cúi đầu gạt lệ.
Tạ ơn Trên.  Người vẫn thương người

Trầm Tử Thiêng muốn nói với mọi người rằng ông đã được giải thoát và Người đã cứu con người.  Ông cũng không quên tạ ơn Trên, tạ ơn Đấng Cứu độ rằng Người đã, vẫn và sẽ còn thương con người.

Ngày hôm nay, toàn thể Giáo Hội mừng kỷ niệm cái ngày “có tin vui giữa giờ tuyệt vọng” đến với một con người, con người ấy tên là Maria.  Giáo Hội không phải mừng vừa vừa, mừng nho nhỏ mà phải mừng lớn, mừng thật to vì lẽ tin vui đến với Đức Maria cũng là tin vui đến cho nhân loại, đến cho toàn thể Giáo Hội, đến cho tất cả những ai tin và đón nhận tin vui ấy.

Cùng trong dòng chảy của cuộc đời, Đức Trinh Nữ Maria sống đấy nhưng hằng khao khát, hằng ước mong mình được ơn cứu độ từ ơn Trên, từ Thiên Chúa.  Tưởng chừng như Thiên Chúa không còn ra tay, Thiên Chúa khép lòng lại với những con người cứng đầu cứng cổ như dân Do Thái nhưng không, Thiên Chúa đã đoái thương thân phận con người mỏng dòn và yếu đuối.  Thiên Chúa vẫn chạnh thương, Thiên Chúa vẫn chờ đợi con người.

Muốn lãnh nhận tin vui, tin vui cứu độ thì phải mở lòng ra để chờ đón và phải tin.  Nhiều người Do Thái sống cùng thời với Đức Trinh Nữ Maria.  Họ cũng mang trong mình lòng ngóng đợi ơn cứu độ đấy chứ, nhưng mà lòng của họ đã khép lại với Thiên Chúa.  Họ khép lại để rồi chỉ có mình Mẹ Maria là đón nhận và đón nhận trong lòng tin, đón nhận trong sự phó thác, cho sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa.

Tin vui cứu độ không giống như những tin vui khác của cuộc đời, tin vui cứu độ được ẩn giấu hay được bọc dưới một cái vỏ bọc sần sùi, gai góc và thậm chí còn đắng cay nữa.

Bằng chứng là tin vui mà Đức Trinh Nữ Maria đón nhận ngày hôm nay đâu có đơn giản như mọi người nghĩ, mọi người thấy.  Cực lắm chứ!  Khổ lắm chứ!  Nếu chúng ta đọc lại toàn bộ những biến cố lớn nhỏ trong cuộc đời của Đức Maria từ ngày “Tin vui” được truyền đến cho ngày “Tin vui” nhắm mắt lìa đời.  Thử nhìn lại chúng ta thấy “Tin vui” ấy thật sự chẳng vui chút nào dưới con mắt của người đời. Nào là bị Giuse định tâm lìa bỏ, nào là phải sinh cái “Tin vui” ấy trong hang đá máng cỏ, nào là phải bồng bế, dắt díu cái “Tin vui” ấy trốn sang Ai Cập, nào là phải sống nghèo với “Tin vui” ấy trong làng Nagiaret nghèo.  Rồi cũng chưa yên, lớn lên thì “Tin vui” lại đi rao truyền Tin Vui và bị người đời phỉ báng và cuối cùng giết chết cái “Tin Vui” của Đức Trinh Nữ Maria và còn treo cái “Tin Vui” ấy trên thập tự giá.

Thế đấy!  Gọi là “Tin Vui” đến với Mẹ nhưng đâu có đơn giản theo nghĩa của người đời.  Mẹ Maria có một lòng tin đủ mạnh để đón nhận “Tin Vui” của Thiên Chúa với biết bao nhiêu thăng trầm, bao nhiêu thử thách của cuộc đời.  Phải có một tâm hồn đơn sơ, phải có một thái độ khiêm hạ như Mẹ thì mới đón nhận “Tin Vui” của Thiên Chúa được.

Lời đón nhận “xin vâng” ngày hôm nay chúng ta nghe Đức Trinh Nữ Maria đáp lại sau khi nghe lời của sứ thần không phải là đơn giản, không phải là ngày một ngày hai nhưng mà phải là một quá trình dài của chiêm niệm, của lắng đọng.  Đức Trinh Nữ Maria đã gắn kết cuộc đời của Mẹ từ những ngày còn ấu thơ để rồi hôm nay Mẹ vui vẻ đáp lại lời xin vâng.

“Tin Vui” đã đến với chúng ta, đến với con người hơn 2000 năm qua nhưng do con người cứ loay hoay mãi với cái cõi tạm này để rồi không còn năng lực, không còn khả năng đón nhận “Tin Vui” ấy nữa. Lý do đơn giản và dễ hiểu vì lẽ “Tin Vui” mà Mẹ đón nhận không phải là “Tin Vui” theo kiểu của người đời mà là “Tin Vui” của Thiên Chúa.  “Tin vui” ấy thường bị người đời khinh chê phỉ báng như những người Biệt phái và Luật sĩ ngày xưa.

Cái gì cũng vậy trong cuộc đời, có cay đắng mới có ngọt ngào, có đau khổ mới có hạnh phúc, có sống trong những giây phút tuyệt vọng mới cảm thấy quý báu khi có tin vui.  Mẹ Maria cũng trải qua quá nhiều đau khổ, quá nhiều mất mát và phải chịu đựng đôi khi quá sức của một người thiếu nữ Do Thái để đón nhận “Tin Vui”, để sinh hạ “Tin Vui”, để cùng ăn cùng ở, cùng sống, cùng đồng hành với “Tin Vui” trên mọi nẻo đường đời.  Sự hy sinh, chịu thương chịu khó của Mẹ đã được “Tin Vui” thưởng công xứng đáng cho Mẹ trong Nước của “Tin Vui”.

Phần chúng ta, dừng lại một chút để nhìn lại biến cố Truyền Tin, biến cố lãnh nhận “Tin Vui” của Mẹ Maria để chúng ta nhìn lại thái độ, tâm tình sống của chúng ta.  Chúng ta có sống, có chiêm niệm, có sẵn sàng mở lòng ra đón nhận “Tin Vui” như Mẹ đã sống, đã đón nhận hay không ?

“Tin Vui” đã có rồi, “Tin Vui” đã đến rồi nhưng phần chúng ta, chúng ta có đón nhận một cách vui vẻ, đón nhận một cách nhưng không, đón nhận một cách tin tưởng và phó thác như Mẹ hay không đó là phần trả lời của mỗi người chúng ta trước “Tin Vui” mà Thiên Chúa đã ban xuống tự cõi Trời.

Anmai, CSsR

CUỘC GẶP GỠ KỲ DIỆU

Cuộc sống con người có nhiều mối tương quan liên đới với nhau, và có nhiều cuộc gặp gỡ khác nhau.  Có những cuộc gặp gỡ như gió thoảng, như mây trôi… gặp đó rồi tan biến đi không để lại một dấu tích nào trong cuộc đời.  Nhưng cũng có những cuộc gặp gỡ đã làm thay đổi cả một đời người.  Đó là cuộc gặp gỡ kỳ diệu của tôi, người con gái dân làng Samaria, với Đức Giêsu bên bờ giếng.

Hơn hai ngàn năm trước, giữa trưa hè oi bức, trong lúc mọi người đang nghỉ trưa, nhìn trước nhìn sau không thấy bóng người, tôi một mình lén lút mang bình ra giếng để múc nước với hy vọng không phải gặp mặt những người thân quen. Tôi muốn chạy trốn vì gốc gác thấp hèn không trong sạch của mình, nên những người hàng xóm láng giềng luôn xa lánh tôi. Tôi muốn trốn chạy vì trót mang thân phận hồng nhan đa truân, tình duyên lỡ làng với 5 đời chồng, nên những người họ hàng bà con luôn nhìn tôi bằng con mắt khinh bỉ. Tôi muốn chạy trốn vì xã hội này đã quay lưng với tôi, đã không có chỗ dành cho tôi, đã âm thầm kết án tôi là phường đàng điếm tội lỗi …

zzMột mình tôi bước đi trong cuộc đời, và hôm nay, một mình tôi bước ra bờ giếng với hy vọng không phải gặp mặt người nào cả. Nhưng kìa…một người đàn ông Do Thái đang ngồi nghỉ trưa bên bờ giếng. Ông ngước mắt nhìn tôi, tôi không còn cách nào chạy trốn nên đành phải cúi đầu bước đi trong thinh lặng. Tôi bước đi nhưng lòng tôi lại có ý nghĩ khinh miệt người đàn ông này. Hắn chỉ là một gã Do Thái đói rách bẩn thỉu, nhưng có lẽ hắn cũng tham lam và coi trọng lề luật như bao gã Do Thái khác.  Nhìn quần áo của hắn thì biết rõ hắn còn là một gã Do Thái nghèo. Cuối cùng bước chân nặng nề cũng mang tôi đến bên bờ giếng. Tôi mong muốn múc nước đổ đầy bình cho thật nhanh để ra về ngay, tránh cái nhìn soi mói của gã đàn ông Do Thái này. Hơn nữa, theo luật Do Thái, Samari và Do Thái là hai thế giới riêng biệt, không bao giờ được phép chung đụng, vì người Samari bị coi là phường ngoại đạo.

Bỗng dưng người đàn ông lên tiếng gợi chuyện với tôi: “Chị cho tôi xin chút nước uống” (Ga.4:8). Tôi bâng khuâng ngỡ ngàng về giọng nói trầm ấm đó. Tôi ngạc nhiên về lời xin nước để uống. Tôi ngước mắt nhìn ông, nhìn vào vầng trán cao với khuôn mặt nhân hậu … nhìn vào cặp mắt sáng ngời với nụ cười hiền hoà tươi vui … Tôi nhủ thầm trong lòng: “Chắc hẳn ông này không phải là người tầm thường”. Tôi lên tiếng nói với ông ” Ông là người Do thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông uống nước sao?” (Ga.4:9). Nghe tôi nói, ông nở nụ cười thật tươi, thật hiền hòa như trả lời với tôi rằng ông chẳng nặng lề luật, nhưng trọng tình người.

Trong cuộc gặp gỡ kỳ diệu này, tôi mới hiểu ra rằng ông chỉ giả vờ xin nước để gợi chuyện với tôi mà thôi. Ông không khát nước, nhưng từng bước rồi từng bước, ông tế nhị chỉ bảo cho tôi biết chính tôi mới là người khát, khát Nước Hằng Sống. Ông hé mở cho tôi biết ông là ai, và ông sẽ làm gì để tôi hết khát: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (Ga.4:13-14).  Sự xa lạ và nghi ngờ đối với ông trước đây đã dần dần tan biến trong tôi, nhường chỗ cho sự yêu thương kính trọng.

Trong cuộc gặp gỡ kỳ diệu này, ông nhìn thấu suốt con người của tôi: những cuộc tình vụng trộm chóng qua, những thù hận và trốn chạy trong cuộc đời, những vết thương lòng nhói đau … tất cả ông đều biết rõ, cái biết của ông không nhằm soi mói, nhưng để cảm thông. Tôi giật mình sấu hổ khi thấy ông biết rõ những bí ẩn của đời tôi: “Chị nói: tôi không có chồng là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị “ (Ga.4:18). Nghe lời nói của ông, trong tôi từ chỗ yêu thương kính trọng trước đây, bây giờ tôi cúi đầu tôn kính ông là ngôn sứ của đời mình

Trong cuộc gặp gỡ kỳ diệu này, ông chỉ vẽ cho tôi biết về Thiên Chúa :” Thiên Chúa là thần khí, và những ai thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” (Ga.4:24). Và cũng trong cuộc gặp gỡ kỳ diệu này, khi nghe tôi nhắc đến Ðấng Mêsia, còn gọi là Ðức Kitô. Ông đã lên tiếng: “Ðấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây” (Ga.4:26).

Tôi đứng dậy, để lại vò nước bên bờ giếng, chạy như bay về nhà, thông báo với bà con họ hàng, với hàng xóm láng giềng, với mọi người tôi gặp gỡ… những người mà chỉ vài giờ trước đây tôi còn chạy trốn không muốn gặp mặt, nay tôi mạnh dạn lớn tiếng nói với họ: “Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao?” (Ga.4:29).

Giêsu ơi! Cuộc gặp gỡ kỳ diệu bên bờ giếng đã biến đổi đời con, giúp con trở thành con người mới, với trái tim mới, trái tim của yêu thương và hy sinh phục vụ … Xin cho con được gặp gỡ Ngài mỗi ngày trong suốt cuộc đời của con. Amen

Linh Xuân Thôn
(BĐ:Xh.17:3-7 – BĐ2: Rm.5:1-2.5-8 – PÂ: Ga.4:5-42 )

LÒNG CẢM THÔNG

Có một goá phụ Trung Quốc giàu có nọ phụng dưỡng một tu sĩ Phật giáo trong 20 năm liền.

Bà xây cho tu sĩ một tịnh xá trong khu vườn vắng vẻ thanh tịnh của bà.  Bà cung  cấp cho ông đủ mọi thứ trong thời gian ông tụng niệm.  Bà rất đỗi sung sướng khi nhận thấy những tiến bộ của ông trong bước đường thiêng liêng, nhưng bà vẫn chưa tin tưởng hoàn toàn.  Để xem 20 năm hy sinh của bà có hoài công hay không.  Người đàn bà quyết chí thử lòng kẻ tu trì.

Một hôm, bà cho tìm một cô gái đẹp, trả tiền cho cô và sai cô đến cám dỗ vị tu sĩ.  Nửa đêm, trong lúc nhà sư đang ngồi thiền, cô gái xông cửa bước vào tịnh xá và dùng đủ mọi lời lẽ, cử chỉ để quyến rũ ông, nhưng nhà sư vẫn một mực chìm đắm trong việc tụng niệm.  Đến một lúc không còn chịu đựng được nổi sự tấn công của cô gái nữa, nhà sư bèn quơ cái chổi đánh túi bụi vào người cô gái và tống cô ra ngoài.

Cô gái đến gặp người đàn bà và kể lại diễn tiến câu chuyện.  Người đàn bà thỏa mãn về sự thánh thiện của nhà sư ư?  Không!  Nghe cô gái tường thuật xong, người đàn bà liền nổi giận thốt lên:

– Hắn ta không biểu lộ một sự thông cảm nào với con, hắn ta không nói được một lời để khuyên bảo dạy dỗ con, 20 năm cầu nguyện ăn chay của hắn qủa là vô ích. Bởi vì hắn chưa đạt được điều thiết yếu trong cuộc sống, đó là lòng cảm thông.

******************************

Qúy vị và các bạn thân mến,

Lòng đạo đức, sự thánh thiện đích thực luôn được thể hiện bằng sự cảm thông.  Đó cũng chính là biểu lộ của sự thánh thiện nơi Thiên Chúa.  Xuyên suốt qua Kinh Thánh, Thiên Chúa được mạc khải như một người Cha giàu lòng thương xót và cảm thông.  Chính tại núi Sinai mà lần đầu tiên dân Do Thái được Thiên Chúa bày tỏ tận đáy lòng xót thương cảm thông của Ngài.  Thật thế, ngay sau khi dân chúng phạm tội phản bội Ngài, Thiên Chúa đã phán bảo như sau: “Giavê Thiên Chúa là Đấng nhân từ, chậm bất bình và giàu lòng thủy chung.”

Tin tưởng ở lòng cảm thông và nhân từ ấy, cho nên lời cầu nguyện của người Do Thái được ghi lại trong các Thánh vịnh luôn chứa đựng tiếng kêu: “Lạy Chúa, xin thương xót con” hoặc “Lòng từ bi của Ngài tồn tại đến muôn đời.”

Chúa Giêsu chính là quả tim nhân từ bằng xương bằng thịt của Thiên Chúa.  Cả cuộc sống của Ngài là những nhịp đập triền miên của trái tim Thiên Chúa.  Ngài ngồi đồng bàn với những người tội lỗi.  Ngài tha thứ cho kẻ thù của Ngài.

Là hiện thân của sự thánh thiện của Thiên Chúa qua cả cuộc sống và cái chết của Ngài, Chúa Giêsu có lẽ cũng khẳng định với chúng ta rằng:  Sự thánh thiện đích thực của con người chính là tình yêu thương, lòng tha thứ và sự cảm thông.  Chúa Giêsu đã lên án một cách gắt gao thái độ giả hình và vô nhân của những người Biệt phái, họ ăn chay cầu nguyện nhưng lại không để lộ một chút cảm thông tha thứ nào đối với tha nhân.  Ngài trích lời một tiên tri trong Cựu Ước như sau: “Ta muốn lòng nhân từ chứ không phải của lễ”.  Phải chăng, Chúa Giêsu muốn cảnh cáo chúng ta rằng: những lời cầu kinh, những rước sách và bao nhiêu biểu dương khác sẽ đều vô giá trị, nếu chúng không là một mời gọi đưa dẫn chúng ta đến một cuộc sống yêu thương, cảm thông và tha thứ.

******************************

Lạy Chúa, chúng con mang thân phận tội lỗi, yếu hèn.  Xin cho lòng nhân từ mà Chúa không ngừng thể hiện nơi chúng con cũng được chúng con bày tỏ với tha nhân để chúng con xứng đáng được hưởng ơn tha thứ của Chúa.  Amen!

R. Veritas

NỖI NIỀM GIUSE

(Mt 1:18-25)
Hành trình đức tin của mỗi người đến với Đấng Tối Cao không phải là một hành trình đơn giản cho dù đó là Đại Thánh, Thánh Cả hay Nữ Vương Các Thánh.

Mời bạn cùng tôi quay ngược bánh xe thời gian trở về thăm viếng một đất nước Do thái xa xăm, nghèo nàn và lạc hậu với bao phong tục tập quán khắc nghiệt của cha ông cách đây hơn 2000 năm về trước.  Dân chúng đang sống trong cảnh lầm than, quằn quại rên xiết dưới ách thống trị tàn bạo của đế quốc La Mã, đời sống tinh thần được xiết chặt dưới gọng kìm của bao lề luật tôn giáo khắt khe từ thời Môi-se để lại ngày qua ngày đã hun đúc họ lòng trông mong vào lời hứa của Đấng Tối Cao với cha ông họ!  Họ nóng lòng trông chờ một vị Cứu Tinh đến để lật đổ chế độ, giải thoát họ khỏi cảnh lầm than của kiếp người và xây dựng lại một vương quốc Israel hùng cường ngày nào.  Họ háo hức trông mong một vị Thiên Sai, một Đấng Cứu Thế đã được Đức Chúa hứa ban và được loan báo nhiều lần trong Kinh Thánh mang đến cho họ một ánh sáng mới trong đức tin.  Càng khổ họ càng ngóng trông, càng bị đàn áp họ càng khao khát chờ đợi, họ sống trong niềm hy vọng từ trời cao, họ mòn mỏi trông chờ như đất cằn mong mưa rào, như nai đang khát mơ thấy suối trong.

Cùng sống trong hơi thở chờ đợi của dân tộc mình, Giuse, một chàng thanh niên trai tráng sinh sống bằng nghề mộc với cha mẹ là ông bà Giacóp tại một ngôi làng nhỏ hẻo lánh ít ai biết đến, làng Nazarét, miền Galilê.  Anh đến tuổi cập kê nhưng không muốn lập gia đình, anh muốn dâng trọn đời mình cho Thiên Chúa, Đấng mà anh và cả dân tộc anh tôn thờ.  Anh vui mừng khi được gia đình sắp xếp cho thành hôn với Maria, người thiếu nữ đức hạnh hiền dịu mà ai gặp qua một lần cũng đều qúy mến, là người mà cả hai đã cùng nhau thề ước trọn đời đồng trinh dù phải sống bực vợ chồng trước mắt họ hàng và cha mẹ hai bên.

Ngày đính hôn đã đến và qua đi trong niềm vui của gia đình hai họ và sự hân hoan của cả thôn xóm, một mái nhà mới sẽ mọc lên trong xóm nhỏ Nazarét thưa người này.  Quả là đẹp đôi!  Họ cầu xin Thiên Chúa chúc phúc cho cặp vợ chồng son trẻ thánh thiện.  Riêng Giuse, anh hoan hỉ chờ đợi ngày đón Maria về chung sống với gia đình.

Nhưng dòng đời không xuôi chảy êm đềm như mong ước!  Giuse bồn chồn bứt rứt với bao nỗi hoài nghi thắc mắc khi nhìn thấy bụng nàng nhấp nhô dưới ánh mặt trời sau lớp áo của cô thiếu nữ Sion đội nước.  Điều gì đã xảy ra?  Hạnh phúc lứa đôi chưa nắm bắt trong tay mà đã bị đe dọa rồi sao?  Sao nàng không nói?  Sao nàng không kể?  Maria thánh thiện của anh lại có thể như thế được sao?  Đâu rồi người thiếu nữ Sion đức hạnh mà anh trông chờ?  Bao câu hỏi, bao thắc mắc như thác lũ ào tới trong đầu anh.  Vẫn chỉ là những câu hỏi mà không có câu trả lời.

Ngược với Giuse đang sống trong cảnh dày vò đau khổ, Maria vui tươi, hồn nhiên, khuôn mặt rạng rỡ phản chiếu trong cặp mắt sáng to lóng lánh chan chứa niềm vui.  Đôi môi hồng chúm chím với nụ cười mãn nguyện, sung sướng, đôi môi đó vẫn khép kín không một tiết lộ nào với Giuse.  Có những lúc tình cờ hai người đối mặt, bốn mắt giao nhau, Giuse hơi bối rối trước cái nhìn thẳng thắn, không trốn tránh e dè, không mắc cở của Maria, ánh mắt tuy có thấp thoáng vẻ âu lo nhưng không phải là ánh mắt ăn năn của kẻ có tội.  Nhìn Maria, ai cũng dễ dàng đoán được nàng là một người thiếu nữ hạnh phúc đang sống trong tình yêu sung mãn, là người con gái đang yêu và được yêu.  Nhưng là tình yêu của ai?  Làm sao Giuse biết được!  Vẫn không có câu trả lời!

Giuse đau khổ cầu nguyện để tìm thánh ý Chúa, Chúa muốn nói gì với anh qua biến cố này?  Chúa muốn anh làm gì trong tình trạng này?  Anh muốn sống theo thánh ý Chúa nhưng đâu là ý Chúa?  Anh chỉ thấy ý của anh, thật lớn và mạnh mẽ, phải khó khăn lắm anh mới giữ cho lòng khỏi sôi lên uất hận.  Không, anh không muốn trả thù, không muốn nàng bị ném đá như luật Môise đòi hỏi, anh không muốn a dua theo cá tính tự ái của một thanh niên mới lớn trong anh.  Nhưng anh cũng không muốn nhận một đứa con không phải của mình, anh không thể bao dung nhận đại được, làm thế anh sẽ có lỗi với cha mẹ tổ tiên, với dòng dõi quân vương Đavít của anh, đứa cháu đích tôn lại mang dòng máu ngoại tộc.  Anh tự hỏi, nếu anh nhắm mắt nhận đại thì… đứa bé kia sẽ giống ai nhỉ?  Anh hình dung cảnh hàng xóm đang xúm lại cười ngạo dèm pha trong khi anh ôm ấp đứa bé giống một người thanh niên nào đó trong làng.  Lòng anh rối rắm trăm đường, anh thấy tội mình thật lớn với dòng tộc Đavít lẫy lừng một thời!  Một dòng họ danh giá của Israel mà giờ đây anh lại muốn chấp nhận một đứa con hoang không cha vô dòng họ mình.

Không, không thể chấp nhận được, nhưng… nhưng nếu nàng thú tội, nếu nàng khóc lóc van xin tha thứ, nếu nàng xuống nước năn nỉ?  Lòng anh chùng xuống, bản tính nhân từ cố hữu trong anh lại át đi những lo âu suy nghĩ khi nãy, tâm trí anh bị giằng co đôi đường, trái tim anh bị chia đôi giữa hình ảnh Maria đang bị ném đá và dòng tộc Đavít oai hùng bị bôi nhọ.  Anh thở dài ai oán, chắc anh đành mang tội với tổ tiên mà tha thứ cho nàng để cứu hai mạng người khỏi bị chết oan.  Ai mà chẳng một lần vấp ngã!  Lòng nhủ lòng như thế và anh chờ đợi,…. chờ đợi một sự lên tiếng…  Nhưng ngày vẫn lặng lẽ trôi, mặt trời mọc rồi lại lặn, bình thản như không có gì xảy ra, vẫn không một lời giải thích!  Im lặng vẫn bao phủ Nazarét hiền hòa!

Thôi được, nàng đã không muốn nói thì anh cũng không muốn ép.  Sau những đêm trằn trọc mất ngủ, những ngày mò mẫm trong tăm tối của tâm hồn, sau những giờ cầu nguyện khổ sở để tìm thánh ý Chúa, anh đã quyết định.  Một quyết định dứt khoát!  Nàng đã thờ ơ trước sự bao dung của anh thì anh đành chịu thôi!  Anh tình nguyện trả nàng về với niềm bí mật của nàng.  Anh không muốn tố cáo nàng!  Như một tên lính bại trận, anh chỉ muốn lặng lẽ rút lui khỏi chiến trường một cách kín đáo.  Anh chấp nhận mình thua và xin rút quân.  Nàng đã dám làm thì nàng đã có cách giải quyết của nàng.  Anh tôn trọng!

zzHành trang đã sẵn ở góc nhà, màm đêm dần buông, anh mệt mỏi thiếp đi để lấy sức cho cuộc bỏ đi vào nửa đêm đã được định đoạt trước.  Trong giấc ngủ chập chờn, anh mơ thấy một thiên thần mặc phẩm phục trắng toát, hào quang rực rỡ chiếu sáng một góc nhà, khuôn mặt hiền hậu, ánh mắt âu yếm nhìn anh đầy yêu thương và thoang thoảng bên tai anh một giọng trầm ấm vang lên:  “Này ông Giuse, con cháu Đavit, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.  Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1: 20a-21).  Giuse choàng tỉnh bật dậy, anh hoàng hồn, hơi thở dồn dập, nhịp tim đập liên hồi, người anh toát mồ hôi lạnh, anh dụi mắt nhiều lần để tỉnh trí lại xem mình đang ở đâu.  Anh cắn vào tay một cái thật mạnh và thấy nhói đau, bây giờ anh biết mình đã tỉnh, thực sự đã tỉnh và ban nãy là một giấc mơ.  Ngoài kia, bóng tối dầy đặc phủ lên thôn làng, xa xa một vài tiếng côn trùng rỉ rả trong bóng đêm như xác nhận với anh không gian và thời gian nơi anh đang ỏ.  Là mơ hay là thực vậy?  Là tiếng nói của thần lành hay thần dữ?  Có thực đó là tiếng nói của Thiên Chúa không hay chỉ là một giấc mộng mị bình thường như bao giấc mộng khác.  Anh ôm đầu suy nghĩ và ôn lại giấc mơ, “Đừng ngại đón bà Maria vợ ông về!”, anh rùng mình ớn lạnh, câu nói ấy đánh trúng vào yếu huyệt của anh, đó không phải là mối ưu tư hàng đầu của anh trong mấy ngày qua sao?  Anh thẫn thờ lặng lẽ gục đầu qùy xuống trong bóng đêm.

Bọc hành lý nho nhỏ được xếp gọn lại để dưới gầm giường, vài bộ quần áo vẫn để nguyên trong chiếc bọc chứ chưa được xếp lại vào ngăn tủ, chiếc bọc nằm gọn ghẽ trong một xó nhỏ như tiếp tục chờ đợi một cơ hội khác.  Mấy ngày qua, Giuse âm thầm sống trong trăn trở bối rối.  Anh hoang mang không biết phải làm gì, nên quyết định ra sao, không biết đâu là hư, đâu là thực.  Nếu đó là thánh ý Chúa, sao Ngài không hiện ra nói với anh rõ ràng như hai với hai là bốn, anh sẽ làm ngay không một thắc mắc chần chừ.  Sao Ngài không nói lúc anh đang tỉnh, đang ý thức hoặc ngay lúc anh đang cầu nguyện mà lại là một tiếng nói trong chiêm bao?  Giấc mộng, bao nhiêu phần trăm là thực, bao nhiêu phần trăm là ảo ảnh?  Ai dám đảm bảo giấc mơ nào cũng đúng sự thực?  Chẳng phải đó là những chuyện làm anh suy nghĩ từ lúc mặt trời mọc cho đến lúc mặt trời lặn, tối đến những việc đó phản ánh lại trong giấc ngủ thì cũng là chuyện thường tình thôi mà!  Anh tự nhủ mình như thế!  Nhưng anh lại áy náy khi nhìn về quá khứ của dân tộc, quả là có những giấc mộng xảy ra đúng với thực tế mà người giải mộng cũng là một người mang tên Giuse như anh.  Giuse trong Cựu Ước đã từng giải mộng cho Pharaôn ở Ai Cập với bảy con bò mập ăn bảy con bò ốm tượng trưng cho bảy năm được mùa và bảy năm mất mùa, nhờ đó Giuse đã cứu được cả dân tộc Ai cập lẫn gia đình mình thoát khỏi nạn đói.  Tiếng gà gáy xa xa đầu làng báo hiệu một ngày mới bắt đầu kéo anh về với thực tại.  Nhưng cũng không phải là không có mấy bà hàng xóm nhiều chuyện vừa đi múc nước ở cái giếng đầu xóm vừa kháo cho nhau nghe những giấc mộng nhảm nhí của họ.  Nào là Thiên Chúa hiện ra với mình nói thế này thế kia, nào là mơ thấy tiên tri Êlia sống lại, có kẻ mạnh miệng hơn bảo là mơ thấy vị cứu tinh sắp đến giúp dân Do Thái thoát khỏi ách thống trị người  La Mã, v.v… và bao nhiêu chuyện linh tinh khác nữa đã làm trò cười cho thiên hạ.  Anh không muốn mình là nạn nhân của những câu chuyện ngồi lê đôi mách đó!

Lòng anh rối rắm, anh không ngừng cầu nguyện, suy nghĩ và nhận định… nhưng ý Chúa vẫn mịt mùng trong bóng đêm, giấc mơ không trở lại lần thứ hai!  Càng cầu nguyện anh càng thấy chỉ có một con đường duy nhất để tìm ra thánh ý Chúa, đó chính là bền bỉ cầu nguyện và cầu nguyện không ngừng.  Anh tiếp tục cầu nguyện xin Chúa soi sáng cho anh biết phải làm gì, anh ao ước được làm theo ý Chúa, xin Chúa cho anh nhìn ra thánh ý Ngài thì anh sẽ không còn chần chờ gì nữa.

“Vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần”, tác giả bào thai lại là Chúa Thánh Thần?  Anh chưa nghe ai nói đến bao giờ, lịch sử dân tộc anh với bao điều kỳ diệu Thiên Chúa đã làm nhưng chưa có ai mang thai rồi dám đổ thừa cho Chúa Thánh Thần.  Anh chợt chau mày suy nghĩ, nhưng đây đâu phải là những lời biện hộ từ miệng của Maria.  Cô đã không hề mở miệng nói một lời về bào thai mình đang mang.  “Vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần”, đó là những lời từ miệng một vị thiên sứ mặc áo trắng trong giấc mộng kia mà!  Một người  phụ nữ không cần đến đàn ông mà vẫn có thể mang thai, bào thai đó là do quyền năng Chúa Thánh Thần thì người mang thai vẫn là một cô gái đồng trinh, như vậy nàng vẫn là một trinh nữ.  Anh giật mình, thoang thoáng nhớ lại lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ mà anh đã được nghe lập đi lập lại nhiều lần trong hội đường những ngày Sabát: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuen, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1:23).

Anh choàng tỉnh, anh đang thức chứ không ngủ nhưng anh lại thấy mình vừa thoát ra một cơn mơ dài, anh đã từ từ nhìn ra những mảng hình được ghép lại như một bức tranh.  Đúng rồi, Maria của anh không thể nào là một cô gái lăng loàn mất nết được, anh nhớ lại khuôn mặt của cô những ngày gần đây: vui tươi, trong sáng, thánh thiện, khuôn mặt của một người đầy ân sủng Thiên Chúa ở cùng.  Nàng là một người phụ  nữ đạo hạnh tốt lành, “người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần”, “một trinh nữ sẽ thụ thai”, còn anh là dòng dõi Đavít, “Đấng Kitô được hứa ban xuất thân từ dòng dõi vua Đavít”.……… anh xụp xuống qùy phủ phục trước trời đất bao la như đang qùy trước tôn nhan Thiên Chúa Chí Thánh và mắt nhắm lại không dám nghĩ tới những ân huệ lớn lao mà Thiên Chúa đã dành cho anh.  Anh không ngờ mình là người được chọn, không bao giờ anh dám nghĩ đến Đấng Cứu Tinh mà cả dân tộc anh đang mòn mỏi mong chờ lại được hạ sinh ngay trong gia đình anh và anh sẽ là người nuôi nẫng ẵm bồng đứa bé.  “Vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ”, lời nói trong giấc mơ ngày nào lại vang lên rõ mồn một bên tai anh.  Anh thở hổn hển, không ngăn được nhịp đập dồn giã của con tim, anh vui sướng nhảy lên như một chú bé vừa bắt được quà.  Anh đã biết rồi, thánh ý Chúa là đây!  Anh nghe rồi, tiếng Chúa gọi anh trong đêm trường.  “Lạy Chúa, xin thứ lỗi cho con vì đến bây giờ con mới nhận ra thánh ý Ngài”, anh lẩm nhẩm nói với Chúa và chạy ù sang nhà Maria.

Gặp nàng, anh nắm chặt lấy đôi bàn tay thon nhỏ đưa lên ngực mình, mắt ngước nhìn lên trời cao, anh ấp úng không nói được một tiếng, bây giờ anh đã hiểu tại sao lúc trước nàng im lặng không một lời giải thích.  Maria nhìn anh, nàng đã hiểu mọi sự dù không nghe một lời từ miệng anh, nàng vui sướng nắm chặt lấy tay anh như muốn cùng anh chia sẻ niềm hân hoan tận đáy lòng.  Nàng hiểu chứ, những ân huệ mà Thiên Chúa tuôn đổ xuống cho con người thì ngôn ngữ nào nói cho hết, bút mực nào tả cho xiết, sợi dây liên hệ zzmật thiết giữa Thiên Chúa với một con người là những gì riêng tư thầm kín nhất khó mà chia sẻ cho người ngoại cuộc hiểu hết được.  Bốn mắt nhìn nhau chan chứa niềm vui, hai con tim hoà chung một nhịp đập, họ đã nhìn ra thánh ý Chúa muốn họ làm gì, họ nhận ra tình yêu và ân sủng quá bao la của Thiên Chúa tuôn đổ xuống trên gia đình bé nhỏ của họ, họ cùng nhau chúc tụng Thiên Chúa đã làm cho họ bao điều kỳ diệu.

Và anh vui sướng đón nàng về nhà mình.  Hai người vẫn giữ trọn lời nguyện ước ban đầu, mặc dù sống bên nhau nhưng họ gìn giữ cho nhau.  Sau đó không bao lâu, anh đưa nàng lên Bêlem, miền Giuđê là nguyên quán cuả dòng tộc Đavít anh để kê khai tên tuổi theo chiếu chỉ của hoàng đế Au-gút-tô thời ấy.  Đêm đó, trên con đường tìm đến nhà trọ anh hân hoan đón nhận người con trai do quyền năng Chúa Thánh Thần trao ban cho dân tộc anh và cho cả nhân loại, “Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” mà anh là người diễm phúc được chọn để trở thành cha nuôi của đứa trẻ, để nuôi nấng bồng ẵm từ lúc còn sơ sinh, còn hạnh phúc nào hơn thế nữa!  Và anh đặt tên cho con trẻ là Giêsu như lời sứ thần áo trắng đã nói với anh trong giấc mơ đêm nào.

Lang Thang Chiều Tím

 

BIẾN HÌNH

Một nhà giáo dục nổi tiếng người Pháp đã tâm sự về cuộc đời của ông như sau:

Khi còn trẻ, tôi có tinh thần cách mạng và mỗi khi cầu nguyện, tôi luôn cầu xin Chúa một điều là: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi thế giới này”

Khi đã lớn tuổi và nhận thấy gần quá nửa đời người trôi qua mà tôi không thay đổi được một người nào hết, nên tôi đã thay đổi lời cầu nguyện của tôi như sau: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi những người trong gia đình của con.”

Giờ đây tôi đã già và những ngày còn lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay, nên lời cầu nguyện của tôi lại được thay đổi một lần nữa như sau: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi chính mình con.”

Và ông kết luận:” Nếu tôi biết cầu nguyện như thế này từ ngày còn trẻ thì tôi đã không uổng phí cả cuộc đời.“

(Anthony de Mello, Trích trong “The Song of the Bird”)

***

Bạn thân mến! Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng thuật lại một cuộc biến đổi.  Đó là cuộc biến đổi hình dạng của Đức Giêsu trên núi Taboo. Trong ngày hôm đó, Ðức Giêsu đã mang theo các môn đệ thân tín của mình là các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan. Ngài đưa các ông đi riêng ra một chỗ, chỉ mình các ông thôi, tới một ngọn núi cao. Rồi Ngài biến đổi hình dạng trước mắt các ông (Mt.17:2) . Trong cuộc biến hình đổi dạng đó, Ngài đã cởi bỏ thân phận con người để mặc lấy Thiên Tính của Thiên Chúa. Ngài cho các ông được nhìn thấy vinh quang của Con Một Thiên Chúa, để thêm lòng tin cho các ông.

zzHơn hai ngàn năm trước, Đức Giêsu đã biến hình trên núi Taboo. Cuộc biến hình của Ngài vẫn còn tiếp tục diễn ra hằng ngày cho đến ngày nay.  Ngài biến hình qua bàn tay của Linh mục trong các Thánh lễ. Ngài biến hình từ tấm bánh nhỏ bé để trở thành xương thịt của Ngài. Ngài biến hình từ những giọt rượu nho để trở thành những giọt máu đào đã đổ ra trên đồi Golgotha năm nào để cứu chuộc con người.

Ngày nay Đức Giêsu cũng mang tôi và bạn đi riêng ra một chỗ.  Ngài không mang tôi và bạn lên núi Taboo như mang Phêrô, Giacôbê và Gioan xưa kia, nhưng Ngài mang tôi và bạn đến trong các Thánh lễ, đến trong các giờ chầu Thánh Thể, đến trong các bí tích mà ta lãnh nhận… nơi đó Ngài dành cho ta những giây phút thinh lặng thánh thiêng mà chỉ có một mình ta với Ngài, nơi đó Ngài cũng biến đổi hình dạng để thêm lòng tin cho ta, và cũng nơi đó, Ngài ban cho ta lòng mến, sự tin yêu cậy trông phó thác, và nhất là sức mạnh để ta bước đi theo Ngài trên bước đường lữ thứ trần gian này.

Hôm nay, Đức Giêsu mời bạn và tôi cùng “biến hình” với Ngài. Biến hình không phải là trở thành cái gì xa lạ khác thường, nhưng biến hình là để trở về với cái tôi sâu thẳm của chính mình: “Tôi là con yêu dấu của Thiên Chúa”.  Đó là ơn được làm con cái Thiên Chúa, là ơn Thánh Sủng, là ơn cao trọng nhất của người Kitô.

Biến hình với Đức Giêsu là thay đổi cuộc sống của ta, là biến đổi tâm hồn ta, là mang vào lòng ta một trái tim mới, trái tim của yêu thương, của tin tưởng và cậy trông phó thác.

Biến hình với Đức Giêsu là vất bỏ ý riêng của ta, là chấp nhận và vâng phục Thánh Ý Thiên Chúa, là lên đường bước đi với Chúa trong tình yêu và ân sủng Ngài ban.

Biến hình với Đức Giêsu là từ giã con người tội lỗi yếu hèn của mình, là trở nên giống Ngài mỗi ngày mỗi hơn.

***

Lạy Chúa Giêsu! Xin ban ơn giúp sức cho con để con cũng được “biến hình” với Chúa trong Mùa Chay Thánh này, để con được trở nên giống Chúa mỗi ngày mỗi hơn, và để con cũng được Thiên Chúa Cha nói với con rằng: “Đây là con Ta yêu dấu, Ta hài lòng về con…” (Mt.17:5). Amen

Linh Xuân Thôn
(BĐ1: St.12:1-4 – BĐ2: 2Tm.1: 8-10 – PÂ:Mt.17:1-9)

CUỘC SỐNG BỊ THIÊN CHÚA LÀM ĐẢO LỘN

zzCuộc sống giới trẻ ngày nay song hành cùng thế giới giải trí đa phương tiện.  Hàng loạt các sản phẩm công nghệ cao ra đời, nào là điện thoại di động, laptop, Ipad, Iphone 3G, 3GS, 4G,… nhằm phục vụ thị hiếu khách hàng với nhu cầu mỗi lúc một cao.  Bước chân vào hệ thống siêu thị điện máy, chúng ta chỉ thiếu tiền, phương tiện giải trí không bao giờ thiếu!  Cùng là “sống”, nhưng “style” mỗi người mỗi kiểu.  Không thiếu người mong chờ ấm no hằng ngày, bên cạnh không ít người mong chờ “update công nghệ” hằng giờ.  Chúng ta không vội vàng lên án nhau nơi cách sống.  Thiên Chúa tài ba, qua đoạn Tin Mừng Mt 25,14-30, chẳng phải Thiên Chúa luôn đòi hỏi huê lợi tỉ lệ thuận với vốn ban đầu do Thiên Chúa đầu tư đó sao.  Giải trí bằng sản phẩm công nghệ cao không xấu; nếu phải lên án là các dịch vụ con người sử dụng.  Hôm nay, tôi mời gọi các bạn độc giả cùng tôi nhín chút thời gian vòng quanh vài “góc khuất tai hại”.  Hy vọng sau “tour” tham quan này, chúng ta kịp khám phá ra giá trị “cuộc sống bị Thiên Chúa làm đảo lộn”.

Mở màn cho bài chia sẻ, tôi xin đề cử chuyện “chat online”.  Tán gẫu, từ lâu trở thành món ăn thường ngày không thể thiếu, nhất là nơi công sở, học đường.  Trước đây, chuyện phiếm được truyền tai nhau từ miệng người này sang người khác.  Dần dà, đám trò nhỏ chuyền tay nhau mảnh giấy ghi ghi chép chép “đủ thứ chuyện” trong giờ học “chán phèo”.  Ngày nay, “chit chat” trên Internet, điện thoại là “món ăn” sáng, trưa, chiều, tối, khuya của không ít “thần dân”.  Ngày năm bữa, mỗi bữa lai rai khi ít, khi nhiều, không có không được.  Ban đầu làm quen, hỏi thăm nhau về công việc, cuộc sống, gia đình.  Nói chuyện ta “riết” cũng hết, quay sang nói chuyện bên Tàu, bên Tây.  Ăn hoài các món ấy cũng nhàm, đổi khẩu vị bằng chuyện nhà hàng xóm, trưởng phòng, giám đốc, cô này, thầy kia,…  Bỗng dưng chuyện cá nhân của người dưng hiển nhiên được “tung lên mạng” thành chuyện công cộng, của cộng đồng.  Kể cốt truyện thì ít, nhưng bàn tán, lên án, phê bình thì nhiều. Thế đấy! Tự mình sắc phong chức vị chánh án cho mình.  Đồn thổi từ nơi này sang nơi khác, cuối cùng làm mất danh dự người khác từ lúc nào chẳng hay.  Qua kinh nghiệm bản thân cũng như nhiều lần tiếp xúc với các bạn trẻ trong nhiều diễn đàn “offline” (gặp mặt thực tế), tôi rút ra kết luận : “chat” hay tán gẫu được khai vị bởi món ăn “hỏi thăm xã giao”, sau đó món ăn chính “gièm pha chuyện hàng xóm”, món tráng miệng “Đừng nói là tôi kể nhé, chuyện này chỉ có hai ta biết thôi”.  Sự việc được lặp lại với nhân vật mới và như thế, số người biết chuyện “bí mật của người khác” ngày càng gia tăng theo thực đơn bữa ăn “chat online”.  “Nhân vô thập toàn”, ngay bản thân tôi vẫn có khuyết điểm, lỗi lầm.  Tôi luôn cần sự cảm thông, chia sẻ từ người khác để ngày một “hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48).  Rỉ tai nhau khuyết điểm, chuyện riêng tư biến tôi thành “tội đồ” của xã hội.  Tôi không muốn người khác xoi mói mình, tại sao tôi lại xoi mói chuyện người khác?  Điều này hệ tại thói xấu ích kỷ, muốn tự tôn bản thân. Thiên Chúa xuất hiện và làm đảo lộn thói quen này.  Người mở ra một lối thoát cho chính tôi và tha nhân.  Người mời gọi chúng ta chấp nhận yếu đuối, lỗi lầm bản thân và xin ơn Người hồi phục. Yếu đuối, tội lỗi, khuyết điểm của bất cứ cá nhân nào cũng chỉ bị lên án bởi Thiên Chúa theo đúng kỳ hẹn.  Chính vì thế, chúng ta không được phép xét đoán, nói xấu bất cứ ai. “Thưa anh em, anh em đừng nói xấu nhau.  Ai nói xấu hoặc xét đoán anh em mình là nói xấu và xét đoán Lề Luật.  Nếu anh xét đoán Lề Luật, thì anh không còn là kẻ vâng giữ, mà là kẻ xét đoán Lề Luật.” (Gc 4,11).

Chuyện thứ hai chính là “Game”.  Bản thân tôi, xuất thân từ khoa công nghệ thông tin, khi tham gia lập trình các game, tôi theo một kịch bản được cấp trên chỉ đạo.  Không ít lần tôi từ chối tham gia “viết” “game online” cổ trang mang tính bạo lực.  Game thủ ban đầu dùng lý do xả stress để học hỏi, chơi “game”.  Sau đó bị cuốn hút bởi những tài sản giá trị thực từ game ảo, hoặc là khẳng định đẳng cấp của chính mình với bạn bè bằng điểm số, cấp độ,…  Dần dà, nghiện “game” là chuyện hiển nhiên.  “Game” giúp xả stress, điều đó đúng nhưng chưa đủ.  Một số “game” còn làm tăng khả năng tư duy như cờ tướng, cờ vua, sudoku (điền ô số), game lối thoát…  Một số trang web công giáo có thêm các trò chơi như xếp hình Thánh, câu đố Thánh Kinh…  Điều kiện thỏa mãn chuyện xả stress, nâng cao tư duy là chơi vừa đủ, thời gian chơi dưới ba mươi phút mỗi ngày.  Nếu lạm dụng vượt qua con số này, tôi dám chắc sau mỗi lần chơi “game”, các game thủ sẽ mệt mỏi. Đức Giêsu, tất nhiên không đề cập chuyện chơi “game kỹ thuật số” trong Kinh Thánh, Người khẳng định với các Kitô hữu: “Ta và Cha Ta làm việc không ngừng” (Ga 5,17).  Chính vì thế, Thiên Chúa hiện diện trong đời sống tín hữu bằng một hình thức làm đảo lộn: Người mời gọi sống một cuộc sống lành mạnh “Anh em hãy ra công làm việc không phải vì của ăn mau hư nát, nhưng để có lương thực trường sinh” (x.Ga 6,27).  Thay vì dành nhiều giờ để chơi game, chúng ta hãy mua lấy Nước Trời bằng “ơn riêng Thiên Chúa ban, anh em hãy dùng mà phục vụ người khác” (1Pr 4,10).  Hơn nữa việc cầu nguyện là chuyện cần thiết cho đời sống đạo, nhưng lại ít được thực hành “Cầu nguyện là nhịp cầu làm bằng kinh nguyện nối liền sự sống giữa tín hữu và Thiên Chúa.” (trích Thư mục vụ Mùa Chay 2011 của Đức giám mục giáo phận Phan Thiết).

Cuối cùng, giải trí theo kiểu xem phim ảnh khiêu dâm là chuyện tế nhị và dễ mắc phải.  Trong bài chia sẻ này, tôi muốn được ít là một lần chạm vào chỗ khuất này.  Thực ra, khi trở thành “diễn viên” loại phim cấp ba, rất hiếm người mong muốn.  Vì mưu sinh, vì ép buộc, và vì nhiều lý do khác, các diễn viên này không còn lựa chọn tích cực khác.  Tôi viết những dòng này với tâm trạng không được thoải mái cho lắm.  Tôi đang xoáy vào thị hiếu phần đông cư dân mạng.  Ngay cả tôi, phải chân thật thú nhận rằng tôi cũng thế!  Thực sự, khi chọn đề tài “Cuộc sống bị Thiên Chúa làm đảo lộn” để nói chuyện lần này, tôi cầu nguyện rất nhiều.  Tôi xin Chúa Thánh Thần soi trí mở lòng để tôi dám nhìn thẳng, nhìn thật.  Trước tiên, đứng về phía các “nạn nhân đóng phim”, tôi muốn Thiên Chúa ráp những chữ cái hỗn tạp trong đầu tôi thành lời cảm thông với họ.  Nếu vô tình họ đọc, nghe bài chia sẻ này, Thiên Chúa sẽ làm xoa dịu nỗi đau, hay ít ra nhắc nhớ với họ có một vị Thiên Chúa từ ái sẵn sàng đón nhận quá khứ đau thương của từng cá nhân và ban tặng một quả tim với sự sống thần linh: “Hãy tập làm điều thiện, tìm kiếm lẽ công bình, sửa phạt người áp bức, xử công minh cho cô nhi, biện hộ cho quả phụ.  Đức Chúa phán: ‘Hãy đến đây, ta cùng nhau tranh luận!  Tội các ngươi, dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết; có thẫm tựa vải điều, cũng hoá trắng như bông.” (Is 1,17-18).  Đối với các “khán giả”, quả thật để kiềm chế những chước cám dỗ này đòi hỏi một quyết tâm mãnh liệt.  Nguyên nhân để tôi phải từ bỏ thói xấu này là gì?  Tôi mạn phép đề cử ba lý do rút ra từ bản thân: để đầu óc thanh thản; để giữ gìn sức khỏe; để các mối tương quan với Thiên Chúa, bản thân, tha nhân được trọn vẹn.  Hơn nữa, tôi muốn nhắc lại lời dạy của Thánh Phaolô: “Anh em hãy tránh xa tội gian dâm. Mọi tội người ta phạm đều ở ngoài thân xác mình, còn kẻ gian dâm thì phạm đến chính thân xác mình. Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em.  Như thế, anh em đâu còn thuộc về mình nữa” (1Cr 6,18-19).

Thiên Chúa làm đảo lộn cuộc sống chúng ta, chuyện này được tiên tri Isaia cảm nghiệm rất chân tình: “Lạy Chúa, con như người thợ dệt, đang mải dệt đời mình, bỗng nhiên bị tay Chúa cắt đứt ngay hàng chỉ.” (Is 38,12).  Thế nhưng, khi tác động đến cuộc sống chúng ta, Thiên Chúa đang giúp ta sống khỏe, sống tốt, sống bình an, hạnh phúc trong đời sống này.  Nhẩm trong đầu và đếm thử xem, hiện nay tôi sở hữu bao nhiêu sản phẩm kỹ thuật số?  Các dịch vụ tôi sử dụng từ chúng có bao nhiêu phần trăm “dính líu” đến các đề mục trình bày bên trên.  Ngay lúc này, Thiên Chúa đang đưa tay chúc phúc cho ý định hoán cải nơi tôi.  Phần còn lại chính là nỗ lực bản thân sửa đổi từng “hành vi xấu”.  “Tôi tin chắc rằng: Đấng đã bắt đầu thực hiện nơi anh em một công việc tốt lành như thế, cũng sẽ đưa công việc đó tới chỗ hoàn thành cho đến ngày Đức Kitô Giêsu quang lâm” (Pl 1,6).

Lg.hungson@gmail.com
04/03/2011