LỄ ĐỨC MẸ SẦU BI

Lễ Đức Mẹ Sầu Bi được kính nhớ liền ngay sau lễ Suy Tôn Thánh Giá.  Giáo Hội muốn nhắc nhở con cái mình khi suy tôn Thánh Giá Chúa Giêsu, không được quên một hình ảnh sống động đứng dưới chân Thánh Giá là Mẹ Maria.  Dĩ nhiên dưới chân Thánh Giá còn có những môn đệ khác, nhưng Mẹ là người hiệp thông sâu xa nhất với cuộc thương khó của Chúa Giêsu, con mình.  Nhưng tại sao lại gọi ngày lễ hôm nay là lễ Đức Mẹ Sầu Bi.  Hiểu thế nào là sự “sầu bi” nơi Đức Mẹ ?

Đức Mẹ “sầu” mà không “thảm”

Sầu mà thảm là cái sầu của ngưới thất bại chua cay, cái sầu của người tuyệt vọng, thê lương; cái sầu của người bị bồ đá, bị vỡ nợ chẳng hạn.  Đây là những cái sầu thường dẫn đến tự vẫn.

Cái sầu nơi Đức Mẹ là sầu thương.  Sầu vì thương Chúa Giêsu đã quá yêu nhân loại nên phải chết đớn đau trên thánh giá, phải bị lưỡi dòng đâm thâu…  Sầu vì thương nhân loại yếu đuối, bất trung bội phần và đã sa vòng tội lỗi của ma quỷ.

Đức Mẹ “bi” mà không “lụy”

Người bi lụy là người khi đối diện với đau khổ đã sụt sùi, rũ rượi và quỵ ngã.

Cái bi nơi Đức Mẹ là bi hùng.  Trong đau khổ tột cùng Mẹ vẫn đứng anh dũng dưới chân thánh giá (tư thế mà Gioan mô tả).  Mẹ đứng để hiệp thông đau khổ với con mình hầu cứu chuộc nhân loại.  Mẹ đứng để dâng con mình làm hy lễ một lần nữa lên Chúa Cha.  Mẹ đứng để lãnh nhận sứ mạng làm mẹ Gioan, Mẹ nhân loại mà Chúa Giêsu sẽ trăn trối.  Mẹ đứng để ôm ẵm con mình khi người ta hạ xác xuống trao cho Mẹ.

Có thứ đau khổ khiến người ta sợ, có thứ đau khổ thấy người ta tội nghiệp, cũng có thứ đau khổ khiến người ta ngưỡng mộ kính trọng…

Tôi nhìn đau khổ thế nào?… Thái độ của tôi thế nào khi đối diện với đau khổ, với thánh giá?

Xin được mượn bài thơ của nhà thơ Trầm Thiên Thu với nhan đề “MẸ SẦU BI” để gợi ý trả lời cho những câu hỏi trên :

Dưới chân Thập tự
Mẹ nhìn Con yêu
Tử nạn tiêu điều
Đau đớn lòng Mẹ
Loài người thật tệ!
Cớ sao đành tâm?
Mẹ thầm ghi nhớ
Lời Si-mê-on:
“Gươm đâm thấu lòngzzHéo hon lòng Mẹ”
Nhìn Con tắt thở
Trong nỗi hàm oan
Đắng cay Mẫu Tâm
Hiệp công Cứu chuộc
Xin giúp con vượt
Mọi bước gian truân
Vì kiếp phàm nhân
Luôn đầy yếu đuối
Sớm chiều tội lỗi
Nhưng vẫn tin yêu
Con muốn noi theo
Gương Mẹ ngời sáng
Hy sinh thầm lặng
Vâng Ý Chúa Trời.

Lm. Giuse Nguyễn Thành Long

 

TỪ HẬN THÙ ĐẾN THA THỨ

Tháng 9 năm 1940, sau khi ký kết với quân Đức-quốc-xã, Nhật Bản bắt đầu đem quân xâm chiếm toàn vùng Đông Nam Á.  Ngày 15-2-1942, Singapore – cứ điểm quan trọng cuối cùng – rơi vào tay Nhật Bản.  Quân đội đồng minh bị bắt buộc đầu hàng.  Sáng sớm hôm sau, quân Nhật chiến thắng, hiên ngang đi vào thành phố.

Từ đó, Nhật dùng các tù binh của họ – trong đó có trung úy Eric Lomax, thuộc ngành truyền tin quân lực hoàng gia Anh – vào việc xây đường xe lửa dài 400 cây số nối liền hai nước Thái Lan và Miến Điện, tức Myanmar ngày nay.

Bị cắt đứt hoàn toàn với thế giới bên ngoài, một nhóm tù binh nghĩ ra phương thế chế tạo máy thu thanh.  Trung úy Lomax nằm trong số tù binh có nhiệm vụ ráp máy này.  Công việc thành công sau vài tuần tỉ mỉ làm việc.  Các tù binh bắt đầu nhận tin tức phát đi từ New Dehli, thủ đô Ấn Độ.

Cuộc sống tại trại tù quá khổ.  Cái chết luôn rình rập bên cạnh.  Ngoài cái khổ do việc làm quá nặng, ăn không no, ngủ không được, còn thêm cái khổ khủng khiếp do các lính cai tù Nhật mang lại.  Họ hành hạ tù nhân bằng trận đòn chí tử.  Hành hạ đến chết.  Chết thảm thương trước cái nhìn bất lực và khiếp sợ của các bạn đồng tù.  Ý nghĩ trốn trại nẩy sinh từ đó.  Trung úy Lomax tự nhủ:

–  Nếu muốn sống, thì bằng mọi giá phải vẽ bản đồ trong vùng để tìm đường thoát thân.

Tuy nhiên, chàng biết rõ, ngày nào lính Nhật phát giác ra chàng có bản đồ, cũng là ngày tận số.

Và chuyện phải đến đã đến.  Trong cuộc lục soát đồ đạc, lính Nhật khám phá ra máy Radio thô sơ và cái bản đồ.  Trung úy Lomax cùng một số tù binh khác bị chuyển đến trại Kanchanaburi, nằm gần biên giới Thái Lan.  Và những cuộc hành hạ khủng khiếp nhất bắt đầu.

Kể từ giây phút này, hình ảnh một người Nhật bắt đầu đi vào tâm tư trung úy Eric Lomax và ám ảnh suốt cuộc đời còn lại của chàng.  Đó là viên thông dịch Nhật tên Takashi Nagase.

Năm đó Takashi Nagase là sinh viên 25 tuổi, thông thạo tiếng Anh.  Chàng còn là tín hữu Kitô sùng đạo và hết lòng yêu mến quốc gia Nhật Bản.  Thế chiến thứ hai bắt buộc chàng bỏ học, gia nhập quân ngũ, phục vụ trong ngành thông dịch.  Tháng 9 năm 1943, chàng được chỉ định làm việc tại trại Kanchanaburi, nơi trung úy Eric Lomax, thuộc quân đội hoàng gia Anh bị giam giữ.

Một ngày, trung úy Lomax bị mang ra hỏi cung về tội mà Nhật gán cho chàng: Chống lại người Nhật và làm gián điệp.  Lý do dễ hiểu vì chàng cộng tác vào việc chế tạo máy Radio và có tấm bản đồ trong vùng.

Trước mọi câu hỏi, Lomax hoàn toàn giữ im lặng.  Chàng tuyệt đối không tiết lộ chi tiết, danh tánh có thể làm hại bất cứ bạn đồng tù nào khác.

Trong các cuộc hỏi cung cũng như trong những lần bị tra tấn vì từ chối không trả lời, trung úy Lomax luôn luôn đối diện chàng thông dịch Nagase.  Vì thấy Lomax bị hành hung quá sức chịu đựng, Nagase khuyên chàng chấp nhận lời buộc tội.  Lomax chỉ đưa đôi mắt nẩy lửa nhìn chàng thanh niên Nhật, đang đứng trước mặt chàng.  Đối với Lomax, chàng thông dịch thấp-lùn tượng trưng cho tất cả tội ác của toàn dân Nhật.  Nagase đi vào ký ức và ám ảnh Lomax suốt cuộc đời còn lại.

Cuộc hỏi cung và tra tấn kéo dài cả tuần lễ.  Lomax gần như sắp chết.  Nguồn lực duy nhất giúp chàng can đảm đối phó với cuộc hành hung là lời cầu nguyện và tình yêu gia đình.  Trong giây phút đau đớn nhất, Lomax nhớ đến mẹ cha và vị hôn thê bé nhỏ của mình.  Nhất là, chàng cầu nguyện.  Chàng cảm thấy ghi ơn thân mẫu vì dạy chàng biết cầu nguyện cùng Thiên Chúa, ngay từ khi còn là cậu bé hồn nhiên vui sống.

Tháng 10 năm 1945, thế chiến thứ hai chấm dứt.  Eric Lomax được trả tự do và trở lại Anh quốc. Chàng lập gia đình và sống cuộc đời bình thường.  Nhưng tâm hồn Lomax bị vết thương chiến tranh hằn sâu.  Chàng không thể nào quên gương mặt viên thông dịch nhỏ bé người Nhật tên Nagase.  Chàng tự hứa với lòng:

– Ngày nào gặp lại Nagase, ta sẽ ăn tươi nuốt sống cho hả cơn hận thù, luôn nung nấu trong lòng ta!

Trong khi đó, chàng thông dịch Nhật vô cùng ân hận vì thụ động cộng tác vào vụ hành hung dã man tàn ác!  Chàng bị mặc cảm tội lỗi dày vò.  Hình ảnh viên trung úy trẻ người Anh bị hành hung đau đớn cứ bám sát chàng.  Chàng khẩn cầu Thiên Chúa cho có ngày gặp lại trung úy Eric Lomax để xin tha thứ!

Thiên Chúa Quan Phòng thu xếp cho hai người có cơ hội gặp nhau, để giải tỏa mối thù hận cũng như niềm ray rứt canh cánh bên lòng.

Ngày 21-3-1993 – đúng 50 năm sau – Eric Lomax cùng với hiền thê lấy máy bay đi Bangkok.  Sau đó vợ chồng đến viếng trại tù Kanchanaburi, giờ trở thành bảo tàng viện chiến tranh.  Bất ngờ tại đây, ông Lomax chạm trán với người đàn ông Nhật cao tuổi.  Sau giây phút ngỡ ngàng, cả hai nhận ra nhau tức khắc!

Sau nhiền lần gặp gỡ giải tỏa nỗi lòng, ông Lomax thành thật tha thứ cho người từng thụ động chứng kiến cuộc hành hung mình.  Cả hai như trút được gánh nặng ngàn cân từng đè nặng trên vai mỗi người!

Từ đây hai người sống trong an bình, niềm an bình sâu xa đến từ thú nhận lầm lỗi và tha thứ cho kẻ thù.  Ông Eric Lomax cảm nghiệm thế nào là quyền lực vô biên của tha thứ.

Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt

THA THỨ

zzTha thứ là vẻ đẹp, là nét thanh cao của tâm hồn cao thượng.

Tha thứ để làm cho oán thù tiêu tan, để phá vỡ cái vòng oan nghiệt trói buộc con người.

Người khốn khổ nhất trên đời này là người không biết tha thứ.

Tôi phải tha thứ cho anh chị em tôi, vì Chúa đã liên tục tha thứ cho tôi.

Phải tha thứ  cho nhau vì con người là bất toàn.

Phải tha thứ cho nhau vì chính ta cũng cần được thứ tha.

Phải tha thứ cho nhau vì đó là điều kiện để ta được thứ tha

Lời Chúa trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay nhắc nhở ta: Hãy tha thứ cho nhau. Hãy tha thứ thật lòng. Hãy tha thứ tất cả. Hãy tha thứ luôn mãi…

***

Lạy Chúa! Tay con đây xin Ngài cầm lấy và dắt con đi …

Dắt con đi từ cõi chết đến sự sống, từ lầm lạc đến chân lý.

Dắt con đi từ thất vọng đến hy vọng, từ sợ hãi đến tín thác.

Dắt con đi từ ghen ghét đến yêu thương, từ hận thù đến tha thứ.

Xin đổ đầy yêu thương trong trái tim con, để con biết tha thứ cho anh chị em của con, như Chúa đã tha thứ cho con. Amen

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1: Hc.27:33-28,9 * BĐ2: Rm.14:7-9 * PÂ:Mt.18:21-35)

LỜI NÓI CỦA MỘT NGƯỜI ĐAU KHỔ

Một ngôi nhà thờ nổi tiếng tại miền Nam California là nhà thờ kính, The Crystal Cathedral. Ngôi nhà thờ nầy chẳng những có một kiến trúc đặc biệt nhưng cũng có những tác phẩm điêu khắc đáng chú ý.  Một trong những tác phẩm điêu khắc đó là bức tượng của ông Gióp, một nhân vật trong Kinh Thánh.  Ông Gióp là một người giàu có và có lòng kính sợ Thiên Chúa, nhưng rồi bao nhiêu tai nạn dồn dập đã xảy ra trên đời sống ông: Con chết, tài sản tiêu tan và chính ông mắc phải một chứng nan y không thuốc thang nào chữa trị được.  Vợ ông trước hoàn cảnh đó chẳng những không thông cảm lại còn lên tiếng chế nhạo, còn những người bạn thì cho rằng ông tội lỗi đầy mình nên mới nên nông nỗi đó.  Trong hoàn cảnh đau khổ và cô đơn tột cùng, ông Gióp đã thốt lên bốn câu nói, bày tỏ đức tin của ông nơi Thiên Chúa.  Ðây cũng là bốn câu khắc chung quanh bức tượng của ông tại nhà thờ kính ở thành phố Garden Grove.  Bốn câu đó như sau:
  1. Tôi trần truồng lọt khỏi lòng mẹ và tôi cũng sẽ trần truồng mà về, Chúa Hằng Hữu đã ban cho, Chúa Hằng Hữu lại cất đi, đáng ca ngợi Danh Chúa Hằng Hữu

Ðây là phản ứng đầu tiên của ông Gióp trước cái chết của mười người con và của cải tài sản bị mất sạch vì thiên tai và cướp bóc.  Lời nói nầy cho thấy ý thức sâu xa của ông Gióp về thân phận con người.  Thánh Phao-lô trong Thánh Kinh Tân Ước cũng đã nói lên một điều tương tự.  Ông nói: Chúng ta ra đời chẳng hề đem gì theo, chúng ta qua đời cũng chẳng đem gì đi được.  Trần truồng lọt khỏi lòng mẹ, trần truồng mà về.  Ra đời không đem gì theo, qua đời chẳng đem gì đi được.  Ðây là một thực tế chúng ta đều biết nhưng ít khi nghĩ đến.  Ý thức rằng mình trần truồng lọt khỏi lòng mẹ, trần truồng mà về cho chúng ta thấy rằng tất cả những gì chúng ta có trên đời nầy đều đến từ Thiên Chúa và những mất mát, nếu có, thật ra không phải là mất mát nhưng chỉ là trở về với tình trạng ban đầu.  Chúng ta chỉ mất những gì chúng ta sở hữu, không sở hữu, không kể là mất được.  Ông Gióp bị thử thách mất mát tất cả của cải, tài sản, con cái, nhưng ông ý thức rằng tất cả những gì ông có đến từ Thiên Chúa và Kinh Thánh cho biết ông Gióp đã không phạm tội và không nói phạm thượng với Ðức Chúa Trời.

Lời nói thứ hai của ông Gióp:

  1. Dẫu Chúa giết tôi, tôi cũng còn nhờ cậy nơi Ngài

Ðây là một lời nói đầy lòng tin tưởng nơi Chúa.  Như chúng ta đã biết, ông Gióp chẳng những bị mất tài sản và con cái nhưng chính ông cũng mắc phải một chứng bệnh ghê gớm.  Kinh Thánh cho biết ông bị chứng bệnh ung độc, từ đầu đến chân, phải dùng một miếng sành để gãi.  Trong cơn đau đớn đó, vợ thì chế nhạo còn bạn bè thì lên án cho rằng vì ông tội lỗi nên mới ra nông nỗi đó.  Chính trong hoàn cảnh nầy, ông Gióp có thể nói, Dù cho Chúa giết tôi, tôi vẫn một lòng nương cậy nơi Chúa.  Ông Gióp có thể nói lên một lời đầy tin tưởng như vậy vì ông biết Chúa và cũng biết chính ông.  Ông biết Chúa là Ðấng yêu thương và công bình, Chúa không xử tệ với ông.

Ông cũng biết ông không làm điều gì sai quấy và những tai nạn đang xảy ra cho ông, chắc chắn phải có một lời giải thích.  Và đúng như vậy, đằng sau những tai nạn dồn dập nầy là thách thức giữa Ðức Chúa Trời và ma quỷ vì ma quỷ cho rằng ông Gióp yêu mến Chúa chỉ vì ông được phước của Chúa.  Nếu Chúa không ban phước cho ông, chắc ông sẽ nói lời phạm thượng.  Nhưng ông đã bày tỏ lòng tin tưởng tuyệt đối nơi lòng yêu thương và đức công chính của Ngài với câu nói: Dẫu Chúa giết tôi, tôi cũng còn nhờ cậy nơi Ngài.

Lời nói thứ ba của ông Gióp trong cơn hoạn nạn:

  1. Chúa biết con đường tôi đi, khi Ngài đã thử rèn tôi, tôi sẽ ra như vàng

Ðây cũng là một lời nói đầy tin tưởng nơi chương trình và ý định của Ðức Chúa Trời.  Con đường chẳng nói đến cuộc đời nhưng cũng nói đến những gì xảy ra trên đường đời.  Ðây là con đường Thiên Chúa thiết lập và hướng dẫn.  Thiên Chúa luôn luôn có chương trình tốt lành cho con người nếu chúng ta biết sống trong chương trình đó.  Ông Gióp ý thức rằng những hoạn nạn, khó khăn, bệnh tật xảy ra trong cuộc đời chỉ cốt để rèn luyện ông.  Cần phải có lửa để cho vàng được tinh ròng thể nào thì đời sống con người cũng cần có hoạn nạn thử thách để trở nên tinh ròng như vậy. Nhìn vào những hoạn nạn, khó khăn trên đời như lửa để tinh luyện đời sống sẽ giúp chúng ta tin tưởng và vui sống.  Tác giả Thánh Vịnh 119 cũng đã kinh nghiệm điều đó nên ông viết: Trước khi chưa bị hoạn nạn thì tôi lầm lạc nhưng bây giờ tôi gìn giữ Lời Chúa.  Hoạn nạn là dịp để giúp ta nên người.  Ðây là điều mỗi chúng ta cần tâm niệm và sống với tâm niệm đó.

Lời nói thứ tư của ông Gióp trong những hoạn nạn thử thách:

  1. Tôi biết rằng Ðấng Cứu Chuộc tôi vẫn sống, đến lúc cuối cùng Ngài sẽ đứng trên đất. Sau khi da tôi tức xác thịt nầy đã bị tan nát, bấy giờ ngoài xác thịt tôi sẽ xem thấy Ðức Chúa Trời

Ðây là câu nói đầy hy vọng vì hai lý do: (1) Thiên Chúa là Ðấng hằng sống. (2) Có đời sống sau khi chết.  Dù trong hoạn nạn, bệnh tật và tang tóc, ông Gióp biết rằng Thiên Chúa là Ðấng hằng sống.  Ông gọi Ngài là Ðấng Cứu Chuộc hàm ý chính Chúa là Ðấng giải cứu cả hồn lẫn xác.  Và cũng chính niềm tin tưởng nơi cuộc sống đời sau giúp ông có thể thốt lên câu nói sau:  Sau khi da tôi tức xác thịt nầy đã bị tan nát, bấy giờ ngoài xác thịt tôi sẽ xem thấy Ðức Chúa Trời.  Ngoài xác thịt tôi sẽ xem thấy Ðức Chúa Trời đó chính là niềm tin và hy vọng của người tin Chúa.  Chúa sống và chúng ta sẽ được cùng sống với Chúa.

Bốn lời nói của một con người đau khổ là ông Gióp cho chúng ta thấy rằng sự sống chúng ta đến từ Thiên Chúa.  Chúa ban cho, Chúa cất đi, tất cả nằm trong tay Ngài. Nhưng Thiên Chúa không phải là Ông Trời oái oăm chúng ta thường than trách.  Ngài là Ðấng yêu thương, dẫn dắt, thử rèn để chúng ta nên người.  Ngài là Ðấng sống và niềm tin của chúng ta nơi Chúa sẽ đưa chúng ta đến chỗ sống với Chúa đời đời.  Cuộc sống dương trần nầy chỉ là tạm, nếu có cái nhìn trọn vẹn vào cõi vĩnh hằng, chúng ta sẽ có thể vui sống và sống một cuộc đời có ý nghĩa.zz

Nếu Bạn sống ở Nam Cali, hôm nào có dịp mời Bạn đến viếng ngôi nhà thờ kính ở Garden Grove, xem bức tượng của ông Gióp, đọc bốn lời tôi vừa nói để hiểu được ý nghĩa của đời sống và sống với ý nghĩa đó.

Nguyễn Thi

 

LẠY CHÚA!  TẠI SAO NGÀI IM LẶNG?

Thầy kính mến!

Hôm nay trong lòng con mang nhiều thổn thức, suy nghĩ miên man về những điều mà con đã nghe, con đã nhìn thấy trong thời gian qua để cảm nhận về nhân tình thế thái.  Để suy nghĩ lại về chính con trong thời gian qua.  Và để con có thể ngắm Thầy một cách cận cảnh trong tình yêu quan phòng của Thầy.

Thầy biết không?  Chúng con ngày hôm nay được thừa hưởng những thành quả của công nghệ kỹ thuật hiện đại, những thứ đó giúp ích cho đời sống của chúng con rất nhiều.  Cần thông tin gì chúng con chỉ cần lướt web là mọi thứ tài liệu; mọi thông tin sẽ hiện ra trước mắt chúng con ngay lập tức.

Nhưng Thầy ơi!

Có một câu hỏi con lướt web hoài mà con vẫn chưa có câu trả lời.  Con viết lá thư này cho Thầy để tìm câu trả lời của Thầy.  Và tận đáy lòng con sẽ thinh lặng để nghe tiếng Thầy.  Trước  những công nghệ hiện đại của ngày hôm nay con vẫn đang thấy khát một thứ:  Đó là tình yêu.  Tại sao vậy?  Khi tình yêu không hiện diện thì thù hận; chết chóc; đau khổ; và bóng tối của sự dữ sẽ bao phủ – sẽ lây lan ngay lập tức đúng không Thầy? Vài bữa trước con có nghe, và con cũng đọc một số câu chuyện về vấn nạn sống thử của các bạn trẻ ngày nay.  Hậu quả của việc đó là việc các thai nhi bị phá hủy sống, trong khi các em chưa thể tự bênh vực hoặc kêu cứu.  Có rất nhiều lý do họ đưa ra để giải thích, nhưng con vẫn chưa có thể đồng tình cho bất kỳ một lý do nào.  Vì dù sao đó cũng là mạng sống của con người – dù sao đó cũng là con cái của Thiên Chúa.  Mỗi lần nghe ai đó nói về chuyện này con thật sự rất shock!  Con cầu nguyện với Thầy để mong tìm được câu trả lời.  Nhưng: “ Lạy Chúa! Tại sao? Ngài im lặng?”  Tại sao, trong khi bao nhiêu tiếng gào thét của các thai nhi đang rên xiết mà Thầy vẫn gục đầu trên thập giá và lặng thinh?  Sao Thầy để cho sự dữ lan tràn vào thế giới của chúng con hả Thầy?

Con xin lặng thinh để tìm câu trả lời của Thầy…

Trong thinh lặng con nhớ tới một câu chuyện con đã từng đọc ở đâu đó:

Có một người nọ rất ngoan đạo, có lòng nhân từ nhưng cũng thích than phiền gắt gỏng.  Một hôm khi đang đi dạo mát ngoài công viên, trước mắt anh ta là từng đoàn người ăn xin lũ lượt bu quanh; bên gốc cây nọ là một em bé gầy gòm ốm yếu thảm thương khóc lóc; đứng cạnh bờ hồ là một ông lão mù đang quờ quạng từng bước; đối diện với công viên đó là một bệnh viện, tiếng xe cứu thương lên inh ỏi, vội vã đưa vào khu cấp cứu những bệnh nhân gặp tai nạn nguy hiểm đến tính mạng.  Từng mảnh đời đau khổ hiện lên nguyên vẹn trong thân phận làm người.  Anh ta tức giận về nhà, cầu nguyện trách móc Thiên Chúa: “Tại sao Chúa nhân từ dường ấy mà lại để cho những đau khổ đó tràn ngập vào thế giới nhiều như vậy?  Chẳng lẽ Ngài không có tai, không có mắt? Chẳng nhẽ Ngài không thể làm gì để giúp họ hay sao?”. Tiếng Chúa từ sâu thẳm vọng lại: “Có chứ! Ta đã tạo dựng lên con!”.

Vậy đó Thầy ơi!  Thiên Chúa đã tạo dựng lên chúng con để chúng con góp tay với Ngài xoa dịu những đau khổ của mọi người anh em và sẵn lòng khoan dung rộng lượng, tha thứ những kẻ yếu hèn tội lỗi.  Con cứ mở miệng trách móc Thầy tại sao im lặng, trong khi con cũng lặng im bất động.  Con đã quá vô lý.  Con cũng không biết con sẽ phải trả lời thế nào nếu Thầy hỏi con: “Này con yêu dấu!  Tại sao con im lặng?”

Gửi Thầy Giê-su yêu mến!

Stone

 

TÊRÊSA AVILA, TÂM HỒN NHẠY CẢM

zzTrong kho tàng truyện kể về đời thánh nữ Têrêsa Avila, có một truyện được nhiều tác giả nhắc đến, vừa như một điển hình đời sống thiêng liêng, vừa như một tính cách rất riêng của thánh nữ.  Đó là truyện “Hèn chi Chúa có ít bạn.”   Chắc nhiều người đã biết?  Truyện kể: Trong lần xuất thần, thánh nữ nhìn thấy tình trạng tội lỗi con người xúc phạm đến Chúa ghê gớm quá, nặng nề quá.  Thế là thánh nữ buồn bã vật vã ba ngày liên tiếp không ăn uống gì.  Cuối ngày thứ ba, Chúa Giêsu hiện ra, dáng vẻ dịu hiền, an ủi bằng cách trao cho thánh nữ một miếng bánh và một ly nước.  Nhưng thánh nữ làm mặt giận chối từ.  Chúa Giêsu dỗ dành: “Con không biết rằng Cha thường đối xử với bạn bè bằng cách gửi cho họ Thánh giá sao?” Và thánh nữ trả lời: “Hèn chi Chúa có ít bạn.”   Vâng, chỉ với mẩu truyện đó thôi, có lẽ người ta cũng nhận ra tính cách của Têrêsa Avila.  Đó là sự nhạy cảm.
  1. Nhạy cảm trước tình yêu bao la của Thiên Chúa.

Đọc Phúc Âm, ai trong chúng ta cũng biết định nghĩa nổi tiếng của thánh Gioan “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,8), nhưng để cảm nghiệm thế nào là sức nặng của định nghĩa vắn gọn và tầm cỡ này, đó lại là chuyện không chỉ dừng lại trong ngôn từ sách vở một thời, mà còn cần đến cả một đời dấn bước kiếm tìm, thậm chí vào sinh ra tử nữa kìa.  Thánh Gioan Tông đồ được Chúa Giêsu yêu dấu, nên từ cảm nhận tới cảm nghiệm có thể là vắn gọn như chính định nghĩa về Thiên Chúa của ông, nhưng với Têrêsa Avila lại là cả một sự vật lộn giữa sóng gió cuộc đời vừa hoạt động để kiếm tìm, vừa chiêm niệm để chiêm ngưỡng.

Trên bức tượng “Ecce Homo – Này là Người” (Ga 19,5) trình bày Chúa Giêsu vì yêu thương loài người mà chịu khổ nạn, để nên tình yêu lớn nhất của người dám chết vì người mình yêu, Têrêsa đã gặp được “tiếng sét ái tình” vào năm 1545, để nghiệm ra rằng: Nếu Chúa vì yêu con người mà phải chịu khổ, thì con người cũng phải làm sao đáp lại cho cân xứng, với tình yêu của Chúa dành cho mình.  Và thế là khởi đi từ sự nhạy cảm trong nhận thức ấy, thánh nữ đã tìm ra nẻo đi của riêng mình là “lấy tình yêu đáp trả tình yêu,” và cứ thế, như ngọn lửa một khi đã bừng lên thì không gì có thể dập tắt được nữa, thánh nữ làm tất cả mọi sự do tình yêu thúc đẩy và dâng hiến tất cả cho tình yêu.

Chả thế mà người ta vẫn bảo: Đường nên thánh của Têrêsa là con đường “bốc lửa”: Lửa chiêm niệm tìm ra ý Chúa mãnh liệt đến độ thường xuyên xuất thần mỗi khi cầu nguyện, và lửa yêu thương tìm gặp gỡ Chúa khít khao như lòng với lòng, đến nỗi có cảm tưởng rằng cuộc đối thoại giữa thánh nữ với Chúa không khác chi những lời gần gũi giữa cánh bạn bè, của người bạn dành cho bạn mình.

  1. Nhạy cảm trước tội lỗi của con người.

Một khi đã coi “phải làm sao cho xứng với tình yêu của Chúa” như một hướng sống, một hướng nên thánh, một hướng cải cách đời tu, thì tâm hồn Têrêsa Avila bỗng trở nên nhạy cảm vô cùng trước những gì được xem là không xứng với tình yêu ấy, trong đó tội lỗi là điều đáng buồn nhất, không phải vì nó xúc phạm tới Thiên Chúa tối cao cho bằng nó phản bội lại Thiên Chúa tình yêu, Đấng đã làm tất cả vì con người và cho con người.

Phản bội trong chính trường được xem là mưu mô, phản bội trong thương trường được coi là mánh mung, nhưng phản bội trong tình trường, dù là tình Chúa hay tình người đi nữa, cũng vẫn là điều đáng buồn nhất.  Chính Chúa Giêsu đã buồn rầu hỏi Giuđa trong vườn Cây Dầu là “anh lấy cái hôn mà nộp Con Người sao?” (Lc 22,48) vì Giuđa là kẻ phản bội.  Và trong truyện “Hèn chi Chúa có ít bạn” kể trên, Têrêsa buồn bã những ba ngày liền, không phải vì tội mình mà vì tội tình của người khác, đã cho thấy một con tim nhạy cảm, không rỗi hơi thương vay khóc mướn, mà chỉ vì tê tái quặn đau thấy người ta phản bội tình yêu của Chúa, còn mình trong tư cách là bạn tâm giao lại chẳng có cách nào mà can ngăn.

Rõ ràng, Têrêsa là một tâm hồn nhạy cảm.  Từ nhạy cảm ngây ngất trước tình thương xót khôn cùng của Chúa, một tình yêu dám từ bỏ “lá ngọc cành vàng” để đành đoạn ôm lấy “phận cỏ mình rơm” cho rặm bụng một đời cứu thế, Têrêsa tự nhiên nhạy cảm khổ đau trước sự khốn cùng của tội lỗi nhân sinh, tội bạc tình, một thứ tội làm tê dại cõi lòng.  Hoá ra, ai càng nhạy cảm với tình thương xót của tấm lòng Thiên Chúa, càng nhạy cảm hơn với sự khốn cùng của tội lỗi con người.

  1. Nhạy cảm trước đường nên thánh là đường Thánh giá.

Đã có lần Chúa Giêsu bảo “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người dám thí mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15,13), để rồi từ đó trở thành quy luật của muôn đời cho những ai dám gán đời mình cho tình yêu Thiên Chúa hoặc mon men muốn nên bạn hữu của Ngài.  Vâng, “yêu ai yêu cả đường đi”, yêu Chúa cũng yêu cả con đường Chúa đi năm xưa là đường Thánh giá, không phải là “mười bốn chặng đường” ngắn ngủi êm ả dễ chịu trong giáo đường, mà là những cảnh đời thường lặp đi lặp lại mỗi ngày, ở đó ý Chúa như búa đập trên ý mình và ý mình như kình chống lại ý Chúa.

Nếu “yêu là chết ở trong lòng một ít”, thì yêu Chúa cũng là phải chết đi ít một trong ý riêng để ý Chúa được thể hiện từng ngày.  Như lương thực hằng ngày của “Kinh Lạy Cha” mà người theo Chúa phải làm quen dần dần từ những bước chập chững đầu tiên cho đến khi thuần thục nhuần nhị để có thể hiên ngang tiến tới trên đường trọn hảo.  Đó là đường tình yêu.  Mênh mông tình Chúa, mong manh tình người, nên cũng là đường Thánh giá, đường Thương khó.

Đó, “yêu Chúa” nói và hát thì dễ, nhưng khi dấn bước vào, người ta mới thấy những nỗi đa đoan vất vả không bao giờ hết, mà chỉ có những tâm hồn nhạy cảm mới có thể dự đoán và an tâm bước đều.  Chúa chúng ta kỳ lắm.  Người yêu những kẻ đóng đinh Người và tha thứ cho họ dễ dàng, nhưng Người lại đóng đinh những kẻ Người yêu và tặng những kẻ yêu Người Thánh giá, không chỉ một lần mà xem ra còn dai dẳng hoài hoài trong đời.  Bằng một tâm hồn nhạy cảm thánh đức, Têrêsa đã hiểu đó là lộ trình nên thánh cho bất cứ ai chọn đi theo Chúa.

Tóm lại, ba nét nhạy cảm: Với tình yêu vô biên của Thiên Chúa, với tội lỗi thấp hèn của nhân loại và với bước đường Thánh giá, với tội lỗi thấp hèn của nhân loại và với bước đường Thánh giá, hy vọng đã một phần nào phác vẽ lên cách đơn giản chân dung của một vị thánh lớn, thánh Têrêsa mẹ, vị anh thư cải cách dòng Cát Minh thế kỷ XVI tại Tây Ban Nha, vị tiến sĩ đã để lại cho Hội Thánh bí quyết chinh phục đỉnh cao tình yêu Thiên Chúa, và cũng còn là vị thánh thân thương có một tâm hồn nhạy cảm phi thường muốn đem tình yêu Thiên Chúa nhân rộng đến hết mọi người.

Xin nhờ lời chuyển cầu của ngài, cho cộng đoàn Cát Minh và cho những ai chân thành yêu mến thánh nữ, được luôn nhạy cảm bền bỉ khơi lên ánh lửa yêu mến trước tình yêu Chúa, để đến khi Chúa muốn, Người sẽ cho biến thành những đám cháy kỳ diệu có khả năng thiêu huỷ tội lỗi, thanh tẩy tâm hồn và lôi cuốn người ta đến với tình yêu thánh hoá, cho dẫu trước mắt vẫn còn là ngổn ngang những Thánh giá của mùa xây dựng, nhưng trong lòng đã nóng bừng hy vọng.  Mong rằng câu nói “Hèn chi Chúa có ít bạn” không phải là một chân lý bất biến, nhưng là một câu nói đang chờ sự đáp ứng, để một khi mọi người đều nhạy cảm quan tâm trở nên bạn hữu của Chúa, thì thay vì ba ngày buồn bã, có lẽ Têrêsa Avila sẽ có nhiều lần ba ngày vui vẻ vì ngỡ ngàng thấy Chúa luôn có nhiều bạn mới.

Vũ Duy Thống, Gm

SỬA LỖI ANH EM

Con người ai cũng có lầm lỗi. Vậy mà thái độ ứng xử trước lầm lỗi của người khác lại không giản đơn. Đối với lỗi lầm của người khác, ta thường có hai thái độ, hoặc quá khắc nghiệt loại trừ, hoặc quá thờ ơ lãnh đạm. Cả hai thái độ đó đều thiếu xây dựng. Quá khắc nghiệt loại trừ sẽ khiến ta can thiệp thô bạo vào đời tư, sẽ gây ra bất mãn, đổ vỡ. Quá thờ ơ lãnh đạm sẽ buông thả mặc cho sự xấu tràn lan, sẽ làm cho xã hội suy thoái.

Giáo Hội là một cộng đoàn những con người. Lầm lỗi là không thể tránh khỏi. Vì thế muốn cộng đoàn phát triển, việc sửa lỗi là cần thiết, nhất là đối với những lầm lỗi công khai ảnh hưởng đến đời sống cộng đoàn.

Tuy nhiên sửa lỗi là việc khó. Không khéo thì lợi bất cập hại. Lời Chúa hôm nay đưa ra những hướng dẫn cần thiết giúp việc sửa lỗi có kết quả.

Muốn sửa lỗi phải quan tâm. Chúa nói: Khi anh em ngươi sai lỗi. Vâng, người sai lỗi đó không phải ai xa lạ. Đó là anh em tôi, là người nhà của tôi, là một thành phần của đời tôi. Nếu lầm lỗi giống như một cơn bệnh, làm sao tôi không lo lắng chạy chữa cho người thân, nhất là cho chính bản thân khi bị mắc bệnh? Nếu lầm lỗi giống như mất mát người thân, làm sao tôi không đau xót lên đường đi tìm ngay tức khắc?

Muốn sửa lỗi cần can đảm. Càng ngày người ta càng muốn tránh đụng chạm, mích lòng. Dại gì nói những chuyện không vui để mua thù chuốc oán vào thân. Vì thế, để sửa lỗi, cần phải can đảm. Can đảm đến với người lầm lỗi. Can đảm nói sự thật về lỗi lầm của họ. Can đảm chấp nhận những rủi ro do việc sửa lỗi đưa đến như sự giận ghét, sự công kích, chấp nhận bị phê bình ngược lại.

Muốn sửa lỗi phải trân trọng. Trân trọng vì người lầm lỗi đó là người anh em tôi, là đáng quí trọng đối với tôi. Trân trọng vì người anh em tuy có lầm lỗi, vẫn có khả năng sửa đổi. Sửa lỗi là tin vào thiện chí, vào mầm mống tốt đẹp Chúa gieo vào lương tâm mỗi người. Sự khinh miệt, lên mặt kẻ cả sẽ chỉ chuốc lấy thất bại.

Muốn sửa lỗi phải rất tế nhị. Tâm hồn người lầm lỗi rất mong manh. Vừa đầy tự ái vừa đầy mặc cảm. Một lời nói không khéo sẽ dẫn đến đổ vỡ. Một thái độ vô tình sẽ càng khơi thêm hố ngăn cách. Vì thế Chúa dạy tôi phải rất tế nhị khi sửa lỗi. Thoạt tiên chỉ gặp riêng một mình. Gặp riêng là một thái độ tế nhị. Sự tế nhị tạo nên cảm giác an toàn, kính trọng và yêu thương. Sự tế nhị tạo ra một bầu khí tín nhiệm thuận lợi cho việc cởi mở tâm tình, khai thông bế tắc. Sự tế nhị sẽ trở thành chiếc cầu đưa người lầm lỗi trở về cộng đoàn.

Sau cùng, muốn sửa lỗi phải kiên trì. Việc sửa lỗi không giản đơn. Không phải làm một lần là thành công ngay. Vì thế phải rất kiên trì và có nhiều phương án. Kiên trì để vẫn tiếp tục dù đã một lần thất bại. Có nhiều phương án để cương quyết đi đến thành công. Hôm nay Chúa đưa ra cho ta ba phương án để chinh phục người anh em: Gặp riêng, gặp có người làm chứng và sau cùng mới đưa ra cộng đoàn.

Như thế, việc sửa lỗi hoàn toàn là một việc làm được thúc đẩy do tình yêu. Chính bầu khí tin yêu đó sẽ khiến cộng đoàn phát triển. Ai cũng mong được sống trong một cộng đoàn yêu thương như thế. Vì khi lầm lỡ ta biết mình không bị loại trừ nhưng sẽ được quan tâm giúp đỡ, một sự giúp đỡ chân thành, tế nhị và đầy yêu thương.

Lạy Chúa, xin ban cho con tâm hồn bác ái đầy tế nhị của Chúa. Amen

TGM. Ngô Quang Kiệt.

NHẮM ĐÍCH

Sally đã thuật lại cho chúng tôi nghe một kinh nghiệm mà cô học được trong một lớp ngoại khóa với tiến sĩ Smith.  Cô kể rằng tiến sĩ Smith là diễn giả nổi tiếng với những bài giảng rất tinh tế.

Một ngày nọ, khi bước vào lớp, Sally nhận thấy rằng hôm nay lớp sẽ có một trò vui gì đấy.  Trên tường là một tấm bia lớn, và trên chiếc bàn gần đó có rất nhiều phi tiêu.  Tiến sĩ Smith bảo với tất cả học sinh rằng hãy vẽ hình của người nào mà bạn ghét nhất, hoặc là hình của ai làm cho bạn tức giận, và ông cho phép họ ném phi tiêu vào hình vẽ đó.

Cô bạn của Sally vẽ hình cô gái đã “cướp” mất người yêu của cô.  Một người khác thì vẽ hình đứa em trai của mình.  Sally cũng vẽ bức hình của một người bạn cũ, cô dồn công sức để vẽ sao cho thật giống, ngay cả những cái mụn trên mặt cô bạn.  Xong xuôi, Sally có vẻ rất hài lòng với tác phẩm của mình…

Cả lớp xếp hàng và bắt đầu ném phi tiêu, mọi người cười nói rôm rả và không khí có vẻ rất vui nhộn.  Một số học sinh ném phi tiêu rất mạnh đến nỗi tấm hình của họ bị rách toạc cả ra.  Sally chờ tới lượt mình…  Và cô đã rất thất vọng khi tiến sĩ Smith đề nghị mọi người dừng lại và trở về chỗ ngồi vì thời gian có hạn.

Trong khi Sally ngồi nghĩ và hậm hực trong lòng vì không có cơ hội để ném phi tiêu vào hình kẻ mình ghét, thì tiến sĩ Smith bắt đầu gỡ tấm bia ra khỏi tường.

Và sau tấm bia đó là bức hình của Chúa Giêsu…

Một sự im lặng bao trùm cả lớp học khi các học sinh trong lớp nhìn thấy bức hình của Chúa Giêsu bị rách nham nhở trên tường; Những cái lỗ và những dấu lởm chởm trên mặt Chúa, và hai mắt Chúa bị đâm thủng.

Tiến sĩ Smith chỉ nói một câu, “Hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy.”

Tất cả mọi người đều im lặng, nước mắt chảy dài trên khuôn mặt của những học sinh trong lớp, mọi người nhìn vào bức ảnh của Chúa và suy gẫm cho bản thân mình.

Sưu tầm

************************************

Tha đi anh.
Hãy để sự hiềm khích và báo thù cho người hèn mọn.
Vết thương và nọc độc của lời hằn thù
Không xứng với con cái Ánh sáng…
Tha đi anh.
Hãy tìm sự cao thượng, tha thứ là đó.
Tìm sự cao thượng, là sống với đại nhân:
những người có lòng quảng đại,
những người có tư cách và can đảm.
Hãy tha thứ,
Hãy để mạch nước hằng sống tuôn trong anh,
để nước chảy và rửa để luyện lòng trí anh.
Như vậy, anh sẽ được bình an.
Như vậy, nắm tay anh sẽ dịu dần
Và anh sẽ thấy tay anh mở ra
để gặp gỡ và tha thứ.
Một tay có thể mang gánh nặng của người khác ,
Một tay có thể gạt lệ người khiêm tốn,
Một tay thắm đượm tình anh em,
Tay con người đưa để bắt tay nhau
Và giống tay Chúa.

Hiền Hoà chuyển dịch

TÌNH YÊU

zzYêu không phải là kiếm tìm một người hoàn hảo, mà là nhận ra những điểm hoàn hảo nơi người không hoàn hảo.

Yêu nhau là cùng ngồi bên nhau, và cùng nhìn về một hướng.

Cuộc sống không tình yêu khác nào khu vườn không có ánh nắng, thân khô lá úa.

Thời gian có thể làm thay đổi con người, nhưng tình yêu thì tồn tại và luôn sống mãi.

Hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời là yêu, và được yêu.

Nếu không có Tình Yêu, bất cứ điều gì bạn có cũng không mang nhiều ý nghĩa.

Điều căn bản của Tình Yêu là quan tâm đến người khác. Tình yêu chân thành thì luôn cho đi, hơn là nhận về.

Tình yêu không biết đến sợ hãi. Tình yêu loại trừ sợ hãi. Ai sợ hãi thì không đạt đến tình yêu hoàn hảo (1Ga.4:18)

Ai ở lại trong Tình Yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy (1Ga.4:16)

Ai không yêu thương thì không biết đến Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình Yêu (Ga.4:8)

***

Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga.13:34)

Yêu thương là giới răn Chúa truyền dạy, là dấu ấn của người môn đệ đức Kitô, và là chìa khóa để vào Nước Trời.

Lạy Chúa Giêsu! Xin giúp con biết yêu thương như Chúa đã thương yêu con, Amen.

zz

LỜI TỎ TÌNH

Bạn thân mến!zz

Tôi viết vào đây những dòng này, để nói với bạn là: Tôi rất quan tâm đến Bạn.

Hôm qua tôi nhìn thấy bạn đang vui chơi, đang nói chuyện với bạn bè. Tôi chờ bạn suốt cả ngày.  Hy vọng rằng bạn cũng sẽ đến nói chuyện với tôi, vui chơi với tôi. Tôi đã chờ, đã đợi… Thế nhưng bạn chẳng hề tới.

Đêm qua nhìn thấy bạn đang ngủ say. Tôi ao ước được hôn lên vầng trán của bạn. Cho nên tôi đã mang ánh trăng phủ trên khuôn mặt của bạn.  Lòng những muốn chúng ta có dịp gặp nhau, ngồi bên nhau, tay trong tay nói chuyện tâm tình. Rồi tôi chờ, tôi đợi…Thế nhưng bạn chẳng hề tới.

Sáng nay nhìn thấy bạn thức dậy, và ra đi vội vàng mà không nhớ gì đến tôi…Điều ấy làm tôi buồn, và tim tôi nhói đau.

Bạn ơi!  Nếu bạn để ý một chút, bạn sẽ nghe thấy lời tỏ tình thiết tha của tôi: Tôi luôn thì thầm gọi tên bạn, để nói với bạn rằng TÔI THƯƠNG BẠN.

Tôi đã chọn bạn, và tôi nhất định chờ, nhất định đợi. Bạn có biết tại sao không ? Tại vì… TÔI YÊU BẠN.

Thân mến,
Giêsu.

***

“Chết vì yêu, là sống mãi trong tình yêu.”

Lạy Chúa Giêsu! Chỉ vì yêu mà Chúa đã chết cho con được sống . Xin cho con cảm nhận được tình yêu thương bao la của Chúa.

Xin giúp con được trở nên giống Chúa, để con cũng biết yêu như Chúa yêu, cũng biết thương như Chúa thương, Amen .