MẶC ÁO CƯỚI

zzĐọc dụ ngôn “Tiệc Cưới” trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, ta không khỏi ngỡ ngàng trước tình yêu thương của Thiên Chúa. Thiên Chúa mời con người đến dự tiệc cưới Con của Ngài. Điều đó chứng tỏ Thiên Chúa yêu thương con người.

Đó là một tình yêu nhưng không. Thiên Chúa là vị vua cao sang. Ta chỉ là đám tiện dân hèn hạ. Sao Chúa lại mời ta. Theo lẽ thường ở đời người ta chỉ mời những người ngang vai bằng vế. Một bữa tiệc thường có mục đích củng cố uy tín của chủ nhân và ràng buộc khách mời vị vọng để khi hữu sự cần nhờ. Vua Trời mời tiện dân hèn hạ thì có lợi gì. Không những hèn hạ mà còn đui, què, mẻ, sứt nữa. Ta là những hạng rác rưởi của xã hội, chẳng có gì đền đáp cho chủ nhân. Chẳng đem lại một chút vinh dự nào cho chủ nhân. Thế mà Người vẫn mời ta. Rõ ràng là do tình thương của Người. Đó là tình yêu nhưng không. Người không mong ta có gì đền đáp. Người mời ta chỉ vì yêu thương ta mà thôi.

Đó là tình yêu chia sẻ. Thiên Chúa tràn đầy vinh quang không còn thiếu thốn gì. Tại sao Người còn mời những con người hèn hạ vào Nước Trời làm gì cho thêm bận. Thưa vì Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu của Người vô biên nên Người khao khát chia sẻ. Người vô cùng tốt lành nên Người muốn thông ban hạnh phúc cho loài người. Tình yêu mãnh liệt khiến người nảy sinh những sáng kiến kỳ diệu. Cho Con Một mặc lấy bản tình loài người để nâng loài người lên. Mời gọi loài người vào hưởng hạnh phúc với Người. Nâng loài người hèn hạ lên bậc thượng khách trong tiệc cưới. Nâng loài người tôi tớ lên hàng con cái trong Nước Trời. Đưa nhân loại bơ vơ đầu đường xó chợ vào ngồi đồng bàn với hàng thần thánh trên trời.

Chẳng có gì có thể giải thích được thái độ của Thiên Chúa. Chỉ có tình yêu. Đó là một tình yêu vô cùng mãnh liệt và hoàn toàn vô vị lợi. Tình yêu muốn chia sẻ hết những gì mình có. Tình yêu hoàn toàn vì người mình yêu. Mong muốn mọi sự tốt đẹp cho người mình yêu.

Tôi phải mặc áo cưới tới dự. Tình yêu Thiên Chúa tha thiết nhưng vẫn tôn trọng tự do. Trước lời mời gọi của Thiên Chúa, tôi có thể nhận lời hoặc chối từ. Khi dọn tiệc, Chúa mong tôi tới dự. Khi mở rộng cửa trời, Chúa mong tôi bước vào. Khi mời gọi, Chúa mong tôi trả lời. Khi bày tỏ tình yêu, Chúa mong tôi đền đáp. Tuy nhiên, nhận lời đền đáp đòi phải có điều kiện. Đến dự tiệc cưới phải mặc áo cưới.

Mặc áo cưới là mặc lấy nhân phẩm. Được mời vào dự tiệc cưới Con Vua, tôi không còn là phường rác rưởi của xã hội nữa. Tôi đã được Chúa trân trọng. Nâng lên hàng thượng khách, là khách mời của Vua. Mặc áo cưới ở đây là tự trọng, cư xử như người tự do. Chúa đã phục hồi nhân phẩm cho tôi, tôi phải trân trọng giữ gìn.

Mặc áo cưới là mặc lấy tình yêu. Vì yêu thương, Chúa đã mời tôi vào chung hưởng hạnh phúc với Người trong tiệc cưới. Đáp lại, tôi phải có tình yêu mến đối với Người. Tình yêu đáp đền tình yêu. Mặc áo cưới là trân trọng tình yêu của Chúa, là muốn đáp lại tình yêu của Chúa.

Mặc áo cưới là mặc lấy Chúa Kitô (x. Gl 3,27). Được ơn cứu độ, ta trở thành em Chúa Kitô, vì thế ta phải noi gương Người mặc lấy tâm tình người con được Cha yêu thương và biết lấy tâm tình hiếu thảo đáp lại tình Cha. Mặc lấy Chúa Kitô cũng là mặc lấy con người mới là hình ảnh của Thiên Chúa công chính và thánh thiện (x. Ep 4,24).

Thiên Chúa yêu thương mời gọi ta vào hưởng hạnh phúc Nước Trời. Đáp lại, ta phải đổi mới đời sống cho phù hợp với Nước Chúa, với tình yêu của Chúa và với địa vị mới của ta.

Lạy Chúa, xin cho con biết mạnh dạn đáp lại lời Chúa mời gọi. Amen

TGM. Ngô Quang Kiệt
(BĐ1: Is.25, 6-10a  * BĐ2: Pl.4:12-14. 19-20  * PÂ: Mt.22:1-10 )

SỐNG ĐỂ YÊU THƯƠNG

“Anh nghĩ gì về tự tử?”, một giọng nữ yếu ớt cất lên ở đầu dây bên kia.

Tôi không trông chờ một cuộc gọi báo tự sát lúc tám giờ năm mươi chín phút sáng, một phút trước khi Văn phòng Đường Dây Giúp Đỡ mở cửa.  Bình thường những cuộc gọi thông báo tự tử hay đánh thức tôi dậy là lúc nửa đêm.  Người gọi đến thường mong chờ được nói chuyện trực tiếp với nhân viên văn phòng hơn là với một tình nguyện viên vừa tan ca về nhà như tôi.

Trong kì huấn luyện của chúng tôi, chúng tôi học cách lắng nghe hơn là trả lời một cách không nghiêm túc như: “Tôi phản đối nó”.  Tôi chỉ việc chờ và người gọi sẽ tiếp tục.  Trong khi bà ta nói, tôi kiểm tra lại hồ sơ của bà ta.

“Tôi sống ở một bệnh xá gần thành phố”, bà nói.  “Tôi bảy mươi sáu tuổi… và tôi đang chết”. Giọng của bà như lạc đi khi bà cố lấy hơi tiếp theo.  “Tôi bị ung thư và khí thũng.  Chẳng có hy vọng gì là tôi sẽ khỏi cả.  Tôi không muốn là gánh nặng cho cả gia đình nữa.  Tôi chỉ muốn chết thôi”, bà cụ vừa nói vừa khóc.

Mặc dù tôi đã trả lời cho Đường Dây Nóng Giúp Đỡ này trong nhiều năm rồi, nhưng những cuộc gọi như thế này vẫn làm tôi sợ.  Cuộc sống rất quý giá.  Tôi chắc chắn rằng không có một lúc nào đó tôi có thể nghĩ tới tự tử như là một giải pháp.

“Bà đã nói chuyện với ai đó ở bệnh viện về điều này chưa ạ?”, tôi hỏi thăm.

Bà cụ trả lời: “Khi tôi đề cập điều này với những người y tá ở đây, họ sợ hãi và gọi cho bác sĩ của tôi và gia đình tôi.  Mọi người vội vã chạy đến, nhưng không có ai… không ai lắng nghe cả.  Vì vậy tôi mới gọi cho anh.”  Một lần nữa, giọng nói yếu ớt của bà lại ngưng một lúc.

“Cháu vẫn đang nghe đây”, tôi nói nhỏ.

“Ông nhà tôi đã mất chín năm rồi.  Khi tôi bảo với chúng nó là tôi rất nhớ ông ấy, chúng bảo chúng hiểu”, bà tiếp tục. “Nhưng chúng không thể hiểu được.  Khi tôi nói về sự đau đớn, chúng lại hứa sẽ tăng thêm liều thuốc cho tôi.  Thuốc chỉ làm tôi thêm mệt mỏi thôi.”  Dừng một lúc để ho, bà tiếp tục một cách ngập ngừng.  “Tôi nói với chúng tôi sẵn sàng về nhà để gặp Thượng đế.  Chúng nói tự tử là tội lỗi, vì thế tôi đã hứa là sẽ không nghĩ đến việc tự giết mình nữa, nhưng tôi vẫn nghĩ đến nó… mọi lúc.  Tôi chẳng còn lý do gì để sống nữa.”

Tôi bối rối và cố lựa lời để nói với bà, tôi tự hỏi: Mình nên nói với bà cụ này như thế nào đây để giúp được bà?  Trước đây tôi chưa bao giờ nghi ngờ rằng tự tử là sai.  Tuy nhiên tôi lại cảm thấy lí do của bà cụ đó rất đáng thương.  Chắc chắn rằng cuộc sống của bà ấy không thể khá hơn được nữa.

Tôi nhớ đến một chàng trai đã từng gọi cho tôi trong đêm Giao thừa với một khẩu súng trên tay. Sau khi chúng tôi trò chuyện hết buổi đêm cô đơn ấy, anh ta nói anh đã thấy được một tia hy vọng. Niềm hy vọng nào tôi có thể mang lại cho người gọi đang tuyệt vọng này?  Tôi tự hỏi.

Tôi quyết định lảng tránh chủ đề một lúc. “Bà kể cháu nghe về gia đình bà đi.”

Bà cụ nói một cách âu yếm về những đứa con và cháu của bà.  Chúng đến thăm bà thường xuyên tại bệnh viện.  Bà rất muốn được gặp chúng, nhưng lại cảm thấy có lỗi khi bắt chúng tách khỏi gia đình và những hoạt động riêng của chúng.

Andrew, đứa con giữa bất trị của bà, đã rất gần gũi với bà trong lúc bà bệnh.  Khi nghe được tin mẹ sắp chết, anh đã xin lỗi vì quãng thời gian thiếu suy nghĩ suốt những năm tuổi trẻ.

Khi bà cụ đang nói, tôi nhớ lại lần tôi đến thăm Ngoại Florence của tôi.  Vào một buổi tối, ngay khi vừa về đến nhà, tôi nhận được một cuộc gọi.  Sức khỏe của Ngoại Florence đang chuyển biến xấu và họ muốn tôi quay trở lại ngay lập tức.  Khi tôi ngồi bên Ngoại, những giọt nước mắt lặng lẽ lăn trên má tôi.  Người y tá cố an ủi tôi: “Bà đã sẵn sàng ra đi rồi.”

Tôi giận dữ vặn lại: “Nhưng tôi chưa sẵn sàng để bà tôi ra đi!”  Ngoại tôi mất sáu tuần sau đó.  Lúc đó tôi đã sẵn sàng để bà ra đi và tôi thấy vui khi Thượng đế đã để Ngoại ở lại với tôi thêm một lúc.

Có lẽ ai đó trong cuộc đời của bà cụ này đang cần thêm thời gian, tôi nghĩ.  Tôi kể cho bà nghe kỉ niệm của tôi và nói: “Có lẽ Thượng đế đang cho ai đó trong nhà bà thêm một chút thời gian.”

Bà cụ im lặng trong vài giây trước khi bà kể tiếp về Andrew. “Tôi vui là tôi đã không chết sáu tháng trước đây, mặc dù lúc đó tôi cũng định tự tử.”

Trong suốt cuộc trò chuyện, tôi nhận ra rằng trong những tháng sau khi bà biết mình bị ung thư, Andrew, một thợ mộc tài giỏi, đã làm cho bà một bình đựng tro rất đẹp.  Mặc dù bà cụ chưa bao giờ nghi ngờ về tình yêu của Andrew, anh ta vẫn cần những ngày tháng đó để cho bà thấy anh quan tâm đến bà như thế nào.  Nhưng bây giờ chiếc bình đã được làm xong và anh đã có thời gian để cảm thấy thanh thản.

“Có thể Thượng đế sẽ cho bà sống lâu hơn như ý nguyện của một ai đó trong gia đình bà”, tôi giả định.

“Ừ, dĩ nhiên rồi… nó phải là Sarah”, bà nói một cách buồn bã.

Tôi không nhớ là bà đã nói đến Sarah. “Sarah là ai vậy?”, tôi hỏi.

“Nó là cháu ngoại của tôi.  Nó vừa mới bị sinh non.  Tôi rất lo cho con bé.  Sự mất mát của nó quá to lớn.  Có lẽ Thượng đế biết Sarah sẽ không chịu nổi thêm một cái chết nữa bây giờ đâu.”

Giọng nói của bà cụ đã trở nên mạnh mẽ hơn.  Theo những gì tôi được học từ khóa đào tạo, đây là dấu hiệu cho thấy người ta bắt đầu tìm được một tia hy vọng.  Niềm hy vọng của bà cụ này không phải đến từ viễn cảnh về sự khá hơn của cuộc đời bà, mà là từ cảm nhận của bà rằng bà có lý do để tiếp tục sống trên cõi đời này.  Có một người cần sự giúp đỡ của bà trên trái đất này lâu hơn một chút.

Ellen Javernich

 

CHỊ CHỒNG TÔI

Ngày tôi lấy chồng, chị đã bước sang tuổi 31.  Chị ăn mặc rách rưới và bẩn thỉu.  Chị nói ngọng không thành tiếng.  Chị phá phách mọi thứ người ta làm cho chị.

Bố mẹ chồng tôi luôn tránh cho chị gặp người lạ.  Bố mẹ cũng ái ngại nhìn tôi mà rằng:

– Bố mẹ chỉ đẻ được 2 đứa con.  Dù nó điên dại thì con cũng gắng giùm bố mẹ.

Nói đến đây mẹ nức nở thành tiếng.

Tôi chỉ  biết chấp nhận chứ sao dám cãi lời.  Nhưng thực lòng tôi cứ thấy sờ sợ cái người đàn bà ấy.

Vậy mà ngày tôi cưới, chị lẻn ra ngoài đi hái những bông hoa dại rồi ngang nhiên lên trao cho tôi trước mặt bao nhiêu khách sang trọng của tôi và chồng.  Tôi đã rơm rớm nước mắt mà ôm chị vào lòng.

Đêm hôm ấy, tôi cùng chồng xuống phòng chị chơi.  Căn phòng ấy nhỏ và bẩn quá.  Tôi thấy lạ là trên tường dán rất nhiều ảnh của chị và chồng tôi ngày nhỏ, ảnh gia đình.

Ngày nhỏ, chị thật xinh.  Gương mặt trái xoan với nước da trắng ngần, đôi mắt đen láy và hàng mi cong vút.  Tôi cứ băn khoăn về câu chuyện cuộc đời chị nhưng không dám hỏi vì sợ, sợ những giọt nước mắt của mẹ chồng.

Sau đám cưới được một tuần vợ chồng tôi lên thành phố.  Cuộc sống với những bộn bề lo toan khiến tôi quên mình có một người chị chồng như thế để hỏi han, chăm sóc.

Rồi một ngày bố mẹ chồng tôi đem chị lên thành phố chữa bệnh.  Căn nhà hạnh phúc của vợ chồng tôi có thêm một người đàn bà điên.  Chị phá phách mọi đồ vật trong nhà.

Mỗi buổi chiều sau giờ làm việc mệt mỏi, tôi sợ không dám trở về căn nhà của chính mình.  Tôi sợ cái cảm giác gần gũi chị, ghét cái cười ngờ nghệch của chị, cho dù nụ cười ấy chứng tỏ chị rất yêu quý tôi.

Có lần, tôi không hiểu sao nhưng chị tìm được cuốn nhật kí của mẹ tôi ngày trước để lại.  Chị xé hết, xé cho vụn ra từng mảnh.  Tôi không còn kìm nén được nên buông lời nói sỗ sàng.  Chị khóc lóc, cứ nắm tay tôi xin tha thứ nhưng tôi không chịu buông.  Làm sao có thể tha thứ cho người ngang nhiên phá phách kỉ vật duy nhất mà người mẹ thân yêu của tôi để lại.

Đêm hôm đó, chị bỏ đi lang thang khiến vợ chồng tôi một phen hú hồn đi tìm.  Dù không dám trách nhưng tôi biết chồng tôi đang đau lòng lắm.

Chúng tôi lo lắng thức trắng cả đêm.  Và chồng tôi bắt đầu kể về chị…

Chị từng là một đứa trẻ thông minh, đáng yêu hơn bất cứ đứa trẻ nào ở làng anh ngày ấy.  Chị luôn biết cách làm cho bố mẹ hài lòng, chị thương yêu anh hết mực.  Chị  luôn đứng ra bênh vực anh mỗi khi anh mải chơi bị bố mẹ mắng.  Năm anh 13 tuổi, chị 18.  Chị dự định sẽ học xong đại học rồi nuôi anh học.  Bao giờ anh ổn định chị mới lấy chồng.

Vậy mà trong ngày sinh nhật thứ 18, anh giận bố mẹ bỏ nhà đi theo bọn trai làng.  Chị lao đi tìm trong đêm tối để rồi sáng hôm sau người ta thấy thân thể chị lõa lồ trên đường đê.  Sau ngày ấy, chị trở nên điên dại.

Hơn 12 năm trôi qua, nỗi đau ấy cứ âm ỉ trong tâm can chồng tôi.  Tôi thương chị chồng mình biết mấy…

Sáng hôm sau, vừa mở cửa tôi đã thấy chị nằm co trước cổng nhà, tay ôm một bó hoa dại không hiểu hái ở đâu.  Tôi lay chị dậy mà nước mắt chan chứa: “Chị đi đâu để vợ chồng em tìm cả đêm.  Chị vào nhà đi, bên ngoài lạnh lắm…”

Kim Oanh – trích dantri.com

********************************************

Lạy Chúa, xin cho con yêu mến Chúa hết lòng hết sức và yêu mến tha nhân như chính mình con vậy.  Amen!

NGƯỜI THỢ LÀM VƯỜN NHO

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay thuật lại dụ ngôn “Người thợ làm vườn nho”. Vườn nho là một hình ảnh quen thuộc đối với người Do Thái. Chúa đã dùng hình ảnh quen thuộc này để giúp người nghe dễ hiểu điều Ngài muốn nói về Nước Trời.

Thiên Chúa là chủ vườn nho. Vườn nho thoạt tiên được dùng để chỉ dân Do Thái. Dân Do Thái được Chúa chọn là dân riêng. Lịch sử dân Do Thái là lịch sử tình yêu thương của Thiên Chúa. Vì yêu thương Chúa đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập. Vì yêu thương Chúa đã dành sẵn cho họ một đất nước. Vì yêu thương Chúa bảo vệ họ khỏi sự quấy phá của các nước lân bang. Vì yêu thương Chúa đã sai phái các tiên tri đến dạy dỗ họ.

zzQuả thật dân Do Thái là một vườn nho được Chúa trồng, chăm nom săn sóc từng li từng tí. Từ rào dậu chung quanh đến xây tháp canh giữ. Từ xây bồn ép nho đến tưới bón cắt tỉa. Nhưng sự thương yêu của Chúa được đáp lại bằng sự phản bội. Người Do Thái không công nhận quyền làm chủ của Chúa. Họ giết các tiên tri được sai đến dạy dỗ họ. Họ còn giết cả Chúa Giêsu là Con Một Thiên Chúa để chiếm lấy vườn nho làm của riêng.

Mỗi người chúng ta hôm nay cũng là một tá điền mà Thiên Chúa giao phó cho một vườn nho, đó là những tài năng tinh thần, là của cải vật chất, để ta sinh thêm hoa lợi và mang về cho Người..

Thiên Chúa ban muôn hồng ân, là để ta phục vụ Chúa và anh em, chứ không phải để ta tìm tư lợi, danh vọng, và khoái lạc cho bản thân.

Thiên Chúa kiên nhẫn trước những xúc phạm, lầm lỗi của ta, là để ta có cơ hội hoán cải, chứ không phải để ta ngày càng sa lầy trong tội lỗi.

Thiên Chúa trao phó cho ta các tài năng là để ta sinh lợi cho phần rỗi của mình. Nếu ta không biết sử dụng ơn lành Chúa ban, thì Người sẽ cất đi và trao cho kẻ khác.

Sẽ đến ngày ta phải tường trình về công việc vườn nho mà Chúa đã trao phó cho ta. Sẽ đến ngày ta phải dâng lên Chúa những thu hoạch hoa lợi mà Người trông đợi.  Bội thu hay mất trắng là hoàn toàn do công việc ta đang làm hôm nay.

***

Lạy Chúa! Xin cho con biết cộng tác vào vườn nho của Chúa, để làm trổ sinh nhiều hoa trái thánh thiện và làm cho Nước Chúa được nhiều người biết đến. Amen

(BĐ1:Is.5:1-7 * BĐ2: Pl.4:6-9 * PÂ: Mt.21:33-43)

GIAN NAN CHO NIỀM TIN

Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Kitô và Mai Ðệ Liên là một gặp gỡ gian nan.  Một bên là tiên tri, một bên là gái điếm, cả hai đều bị xã hội kết án.  Nếu Mai Ðệ Liên vì niềm tin mà gian nan thì Ðức Kitô cũng sẵn sàng gian nan cho niềm tin của kẻ tin Ngài.

Vì niềm tin mà gian nan

Trên đường đời, hôm nay Mai Ðệ Liên đã đi tìm một địa chỉ rất mới: Ðó là địa chỉ cứu rỗi.  Tôi gọi vì niềm tin mà gian nan vì muốn gặp Ðức Kitô mà người phụ nữ này đã phải chấp nhận những cái nhìn sỉ nhục của người đời.  Hôm nay, bà phải đương đầu với cả xã hội đang kết án bà.  Ði về một địa chỉ mà đám đông là dòng sông ngăn cách, một địa chỉ phải leo qua những cây cầu mà đám đông là kết án.  Cho niềm tin dẫn về địa chỉ ấy, bà chấp nhận gian nan ngược theo chiều gió mà đi.

Gian nan cho niềm tin

Dẫu người phụ nữ can đảm, nhưng sự can đảm này vẫn mang một giới hạn.  Bà đã mang tiếng là người tội lỗi, còn gì danh dự để mà sợ mất, bà chỉ chấp nhận gian nan mà thôi.  Do đó, vì niềm tin mà người đàn bà gian nan thì gian nan đó cũng không thể so sánh với gian nan mà Ðức Kitô sẵn sàng chấp nhận cho niềm tin của bà.

Sự kiện Chúa để cho bà công khai ngồi cạnh mình là thái độ can đảm khác thường.  Nó khác thường đến độ người Biệt phái mời Ngài đã phải tự nói với mình: “Ông này, nếu quả thực là tiên tri, ắt đã biết người đàn bà sờ đến mình kia là ai, và thuộc hạng nào chứ: Một đứa tội lỗi” (Lc. 7:39).

Nhìn vào sự kiện người đàn bà tội lỗi ngồi cạnh Chúa người ta có thể đặt những nghi ngờ về Ðức Kitô như: Nếu không quen biết sao người phụ nữ này lại theo ông ấy đến đây?  Ðã liên hệ từ bao lâu?  Ông ấy có là tiên tri thật không?  Ðức Kitô có thể bị hiểu lầm, bị mất danh dự.  Ðối với kẻ tin Ngài là tiên tri thì giờ này có thể đặt nghi vấn về niềm tin của mình.  Ðối với kẻ dửng dưng thì giờ này là lúc sáng tỏ cho lời xác quyết của Pharisêu: “Chúng ta biết rằng tên đó là một đứa tội lỗi” (Yn. 9:23).  Ðối với kẻ chống đối thì giờ này là lúc vinh quang cho lời bảo chứng: “Nó mê ăn uống, giao du với phường thu thuế và quân tội lỗi” (Mt. 11: 19).

Trong phòng tiệc, tất cả thượng khách được mời đang ngả mình trịnh trọng trên thảm quý chằm chằm nhìn Ngài.  Tại sao Ðức Kitô lại để cho một phụ nữ ngồi bên cạnh xõa tóc xức dầu thơm?  Ngài không mắc cỡ trước biết bao cặp mắt nhìn về mình?  Ngài không sợ mất danh dự vì gặp gỡ người đàn bà như thế?  Phải chăng Ngài cũng ngượng ngùng lắm, phải chăng Ngài cũng sợ bị hiểu lầm lắm.  Nhưng vì một người đã bước trong gió ngược gian nan mà gởi niềm tin thì Ngài cũng sẵn sàng gian nan đi ngược chiều gió đón nhận niềm tin ấy.

***********************************

Lời con cầu nguyện

Ðã có một lần, dân chúng ùa đi theo, giữa đám người đó, có những thái độ theo dõi, có những cặp mắt tò mò, rồi họ ngỡ ngàng khi thấy Chúa dừng lại dưới gốc cây, nói vọng lên: “Giakêu, xuống mau, hôm nay Ta phải lưu lại nhà ngươi” (Lc. 19:5).  Hôm ấy, người ta cũng nói về Chúa: “Ông ấy vào ngụ nhà một người tội lỗi” (Lc. 19:7).

Bữa tiệc hôm nay nặng nề làm sao.  Bao nhiêu cặp mắt đổ dồn nhìn về phía Chúa.  Cái ngày Chúa tắt ngang qua Yêricô, rồi gặp Giakêu cũng vậy, cả đám đông đang theo, rồi bất chợt Chúa bỏ họ, chỉ nói chuyện với một tâm hồn.  Hôm nay cũng thế, các khách tiệc trang trọng, thế mà Chúa bỏ hết, chỉ nói chuyện với một tâm hồn.

Ở cả hai hoàn cảnh, cho dù giữa đám đông, giữa một rừng người nhưng Chúa cứ đi tìm một người.  Giữa một khung trời nhưng Chúa cứ chờ đợi một khung trời.  Ở Chúa như có một cung đàn mà đám đông là lạc giọng.  Khi đám đông đi tìm nguyên tắc thì cung đàn kia lại là lòng xót thương.  Khi đám đông chờ đợi phán quyết thì tiếng lòng nọ lại là nhân từ.  Khi đám đông là nghiêm phạt thì trái tim ấy lại là bao dung.  Cứ như thế, họ lạc nhau.

Lúc Chúa nói với người phụ nữ: “Tội lỗi con đã được tha” (Lc. 7:48).  Ðám đông đã nghĩ trong lòng: “Ông này là ai mà dám tha tội” (Lc. 7:49).  Nhưng Chúa chẳng quan tâm gì đến họ.  Chúa không trả lời họ.  Chúa chỉ nói với người phụ nữ thôi (Lc. 7:50).  Thái độ của Chúa cũng giống như ngày Giakêu đến gặp Chúa.

Người phụ nữ cứ đi gặp Chúa, chẳng bận tâm với đám đông.  Ðám đông cũng chẳng thể làm Giakêu ngại ngùng.  Còn Chúa, Chúa cũng là người không biết mắc cỡ trước những con mắt cợt đùa với lòng thương xót.  Con thấy khi động đến lòng xót thương là Chúa bỏ tất cả những tập tục nghi thức.

Lạy Chúa, niềm tin của con là tiếng gọi tìm lòng thương xót.  Lòng thương xót của Chúa là địa chỉ cho niềm tin con đi về.  Niềm tin và lòng thương xót giao thoa với nhau.  Nếu thế, trong đời sống của con, chỉ có niềm tin mà không có lòng thương xót thì niềm tin ấy lạc lõng biết lối nào đi.

LM Nguyễn Tầm Thường S.J – Trích tập Con Biết Con Cần Chúa

 

CON SỐ MỘT

zzCó những thứ trên đời mình chỉ có thể có một.  Trăm ngàn triệu triệu số một chỉ tạo nên có một cuộc đời…

Chỉ có một người mẹ, một người ông, một người bà… để mà yêu thương.  Chỉ có một trái tim, một cái đầu, một bộ óc… để mà suy nghĩ, mà chứa đựng cuộc sống cả trăm điều vạn điều vào đó.  Chỉ có một lần đầu tiên chui ra từ bụng mẹ để bắt đầu một cuộc thăng trầm.  Chỉ có một lần được nghỉ ngơi một cách êm đềm nhất, bỏ hết những âu lo và cả những yêu thương lại phía sau.

Có những thứ trên đời tưởng chừng rất nhiều nhưng xét cho cùng cũng chỉ có một.  Thời gian là vô tận nhưng mỗi khoảnh khắc chỉ trôi qua một lần.  Chỉ có một ngày sinh nhật tuổi 15, một ngày sinh nhật tuổi 20…  Chỉ có một lần bước chân vào trường tiểu học, một lần đầu tiên gặp một ai đó, một lần sau cùng chia tay ai đó…  Dù là sau này có thể gặp rất nhiều lần đầu tiên nữa nhưng đã là với người khác mất rồi.

Có những thứ trên đời rất nhiều, nhưng chỉ có thể chọn một.  Người ta thường chọn món ăn xong rồi lại thèm món của người bên cạnh, vì một lần chỉ nên ăn một bữa ăn.  Dạ dày con người thường hẹp.  Trái tim con người vốn cũng rất hẹp, chỉ có thể chứa được một người.

Hoàng tử Bé [1] chỉ có một.  Trăm năm ngàn năm sẽ không bao giờ có một hoàng tử bé thứ hai.  Hoa hồng của hoàng tử cũng chỉ có một.  Dù trên thế gian có triệu triệu khu vườn, mỗi khu vườn có trăm ngàn đóa hồng giống hệt nhau, cuối cùng cũng chỉ có một đóa hồng cậu đã chăm sóc, đã yêu thương, đã giận hờn…

Thế gian thì vô cùng.  Ước mơ thì vô tận.  Hoàng tử bé đi chu du khắp các thiên hạ cuối cùng vẫn đau đáu nhớ về cái hành tinh bé nhỏ của mình.

Số một cũng có nghĩa là nhất.  Có cái nhất vì có nhiều.  Có cái nhất vì không thể đồng đều.  Mặc dù không phải lúc nào cũng dễ quyết định cái nào là nhất.  Có những cái nhất chỉ có trong một khoảnh khắc, bước sang khoảnh khắc khác đã phải nhường ngôi.  Vị trí cao nhất thường là vị trí bấp bênh nhất.

Bạn yêu thương điều gì nhất trong đời?

Cái làm cho tôi tò mò nhất từ bé đến giờ là lý thuyết về lỗ đen vũ trụ.  Cái gì phía sau đó?  Không ai biết.  Đã rơi vào đó, không thứ gì, kể cả ánh sáng, có thể thoát ra.

Giả sử, chỉ là giả sử thôi, có ai đó đoan chắc với bạn, rơi vào lỗ đen vũ trụ bạn sẽ không chết mà trở nên hạnh phúc nhất đời, cảm thấy được những niềm vui trên đời này không có, sống được một cuộc sống khác mà mỗi khoảnh khắc cũng đáng giá cả một cuộc đời. Chỉ có điều là vĩnh viễn không thể quay lại được.  Bạn có bước vào đó không?

99,99% sẽ trả lời là không.  Tôi cũng vậy, tôi trả lời không.  Mặc dù cuộc sống bây giờ chỉ tạm bình thường.

Giả sử ngược lại, bạn rơi vào đó người bạn yêu thương nhất sẽ được hưởng cuộc sống thần tiên ấy, niềm hạnh phúc bất tận ấy, bạn có bước vào không?

Tôi gật đầu.  Nhưng rồi tôi phải suy nghĩ xem chọn ai để làm người được hưởng hạnh phúc ấy.

Thật khó.  Hóa ra bạn không thể mang cả cuộc sống mà trao hết cho một người.

Số một là duy nhất, là độc đoán, là bướng bỉnh, là cố chấp.

Mọi thứ bắt đầu ở nó.  Nhưng không thể mãi là nó.

Có khi phải là nó. Có khi tự hỏi vì sao phải là nó.

Cuộc đời chứa đầy những số một.

Trăm ngàn triệu triệu số một chỉ tạo nên có một cuộc đời……

Sưu tầm

*********************************

Lạy Chúa Giêsu, con chỉ có một lần để sống, và cách sống của một lần duy nhất đó sẽ quyết định số phận đời đời của con, là hạnh phúc vĩnh cửu hay nghìn đời tiếc nuối ăn năn.  Cơ hội chỉ đến một lần, dù cuộc đời có nhơ nhuốc hoen ố, xin cho con được một lần biết ăn năn sám hối trở về cùng Chúa vì biết có ngày mai để tạ tội xin ơn thứ tha?  Biết ngày mai trái tim chai đá này có còn xúc động trước những lỗi tội của mình.  Xin cho con biết trân qúy những tháng ngày còn lại dù ngắn hay dài, dù sướng hay khổ.   Chúa ơi, xin nhắc con luôn nhớ rằng con chỉ có một Chúa, một Cha trên trời, một chủ, một quê hương, một mục đích duy nhất trong cuộc sống chỉ có một lần này và một số một vĩnh hằng không đổi chỉ có ở cuộc sống mai sau.  Amen!

[1] Hoàng Tử Bé (tên tiếng Pháp: Le Petit Prince), được xuất bản năm 1943, là một trong những tác phẩm văn học Pháp nổi tiếng thế giới của nhà văn và phi công Pháp Antoine de Saint-Exupéry.

NIỀM TIN VÀO ĐỨC GIÊSU

“Người thu thuế và gái điếm vào Nước Trời trước các ông.”

Lời nói của Đức Giêsu như một trái bom nổ trước mặt các thượng tế, kinh sư và pharisêu, những người đáng kính vì đạo đức và học thức, những người đáng trọng vì chức vụ.

Làm sao những người hư hỏng và tội lỗi lại có thể qua mặt các bậc đáng kính như vậy? Đức Giêsu đã soi sáng cho ta bằng dụ ngôn “Hai Người con” trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay:

zzNgười cha sai hai đứa con đi làm vườn nho. Đứa con thứ nhận lời, nhưng sau lại không đi làm. Đứa con cả từ chối, sau hối hận nên lại đi.

Con thứ tượng trưng cho các nhà lãnh đạo Do Thái Giáo. Họ tuyên bố mình sống nghiêm chỉnh theo Lề Luật. Tiếc thay chính sự đạo đức của họ lại làm cho họ tự mãn và khép kín đến nỗi không thể tin vào Đức Giêsu và đón lấy Ngài như quà tặng bất ngờ của Thiên Chúa.

Đứa con cả tượng trưng cho những người tội lỗi, những người bị đặt bên lề xã hội và tôn giáo. Đời sống của họ là một sự nhơ nhuốc đáng buồn. Nhưng chính tội lỗi đã làm cho họ khiêm tốn và dễ dàng hoán cải trước lời mời gọi của Gioan. Rốt cuộc, họ lại là những người tin vào Đức Giêsu và gặp được ơn cứu độ trước nhiều người khác.

Đi làm hay không đi làm vườn nho đồng nghĩa với tin hay không tin vào Đức Giêsu. Niềm tin có khả năng biến đổi cuộc sống. Niềm tin thực sự luôn chuyển thành hành động. Tin là một việc làm, một dấn thân nghiêm túc. Niềm tin vào Đức Giêsu đòi hỏi một sự hoán cải và từ bỏ. Kitô giáo là tôn giáo của niềm tin.

Niềm tin bên trong phải được biểu lộ ra bên ngoài: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17).  Niềm tin không phải chỉ là một tuyên xưng ngoài miệng nhưng là một tuyên xưng bằng cuộc sống: “Không phải mọi kẻ nói với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa, là sẽ được vào Nước Trời, nhưng là kẻ làm theo ý Cha Thầy” (Mt 7,21).

***

Lạy Chúa! Xin gia tăng niềm tin trong lòng con, để niềm tin vào Đức Giêsu hoán cải và biến đổi đời con được trở nên giống Chúa mỗi ngày mỗi hơn. Amen.

Trích trong “Manna”
(BĐ1: Ed.18:25-28 * BĐ2: Pl.2:1-5 * PÂ: Mt.21:28-32 )

GIÀU CÓ:  PHÚC HAY HỌA???

zzCó một số người nghĩ rằng giàu có là một cái họa khi nghe Chúa Giê-su tuyên bố rằng:

Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi (Lc 6:24).

Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao! … Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa (Mc 10:23,25).

Nói về người giàu, thánh Gia-cô-bê cũng khắt khe với họ không kém: “Hỡi những kẻ giàu có, các người hãy than van rên rỉ về những tai họa sắp đổ xuống trên đầu các người” (5:1).

Bạn thấy sao?  Tôi thấy lập luận của những người này cũng có lý đấy chứ!  Giàu có mà sau này không được hưởng Nưóc Trời, không được hưởng phúc nơi Thiên Quốc và phải rên rỉ, than van khóc lóc … thì đúng là… ĐẠI HỌA chứ còn gì nữa???

Thế nhưng!  Đọc kỹ Kinh Thánh, tôi thấy Chúa Giê-su không ghét mấy ngưòi giàu.  Trái lại Ngài đã từng có những mối quan hệ rất tốt đẹp với những người giàu có!

Ngài đã ghé thăm, dùng bữa và ở lại qua đêm ở nhà ông Da-kêu, một viên quan thuế, thuộc loại giàu có nhất nhì ở thành Giê-ri-cô: “Sau khi vào Giê-ri-khô,  Đức Giê-su đi ngang qua thành phố ấy.  Ở đó có một người tên là Da-kêu; ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có” (Lk 19:1-2).

Ngài đã từng thâu nhận hai đệ tử thuộc loại giàu.  Người thứ nhất là Matthew, (từng là quan thuế) và người thứ hai là một người giàu sang…[ở] thành A-ri-ma-thê, tên là Giô-xếp, và cũng là môn đệ Đức Giê-su (Mt 27:57) người vào xin quan Phi-la-tô cho phép tháo đanh và đem thi hài Chúa Giê-su đi án táng trong mồ.

Ngài cũng đã từng nhận sự giúp đỡ của những người phụ nữ giàu có trong suốt thời gian công khai rao giảng ở miền Ga-li-lê (Mt 27:55).   Trong số đó có một người phụ nữ đã dùng nguyên một bình dầu thơm cam tùng nguyên chất thứ đắt tiền… [giá hơn ba trăm quan tiền] đổ trên đầu [của Ngài] (Mc 14:3-9).   (Ai dám dùng loại dầu thơm giá tới hơn ba trăm quan, đắt gấp mười lần giá tiền Giu-đa bán Chúa Giê-su, để xức lên đầu người khác nếu không phải là dân nhà giàu?)

Như vậy, giàu có là PHÚC chứ đâu phải là HỌA, phải không?  Được ăn uống, được đồng bàn với Chúa Giê-su, được phục vụ Người, được Ngài binh vực, che chở và được Ngài ở lại trong nhà của mình thì là ĐẠI PHÚC chứ làm gì có chuyện TAI HỌA ở đây?

Như vậy hoá ra giàu có vừa là HỌA mà cũng vừa là PHÚC à?  Bạn có nghĩ vậy không?  Theo tôi, giàu có tự nó không thể là PHÚC hay là HỌA hay là vừa PHÚC lại vừa là HỌA!  Nhưng PHÚC hay HỌA là còn tùy vào thái độ và cách xử dụng tiền bạc, vật chất… của chúng mình.

Thật vậy, sự giàu có, lắm tiền, nhiều bạc… sẽ là ĐẠI PHÚC cho tôi và cho bạn nếu như chúng mình sống quảng đại, rộng rãi, hào phóng và rộng tay trong những việc bác ái.  Biết quan tâm, chăm sóc và nâng đỡ những người cô thế, cô thân, đơn độc, ốm đau bịnh tật trong các nhà thương, trong các viện dưỡng lão…

Còn ngược lại, sự giàu có, lắm tiền nhiều của… sẽ là ĐẠI HỌA cho bạn và tôi nếu chúng mình:

Có thái độ lạnh lùng, không thèm động lòng trắc ẩn, không có lòng thương xót, và nhẫn tâm, dửng dưng trước những nỗi thống khổ và nghèo túng của tha nhân giống y như Người Nhà Giàu đối xử với Anh La-da-rô Nghèo Khó (Lc 16:19-21).

Sống một cách ích kỷ, keo kiệt và tính toán chi li, chỉ biết tích trữ, bo bo giữ lấy của, và tôn thờ của cải vật chất giống hệt như Tên Phú Hộ Ngu Ngốc ở trong Phúc Âm của thánh Luca (Lc 12:16-21).

Chỉ tích trữ trong những két sắt, trong những nén vàng hoặc chỉ lo đem đi giấu trong ngân hàng, trong những cổ phần, trong việc đầu tư… không chịu hoặc ngần ngại, lần lừa trong việc làm phúc, bố thí, giúp đỡ, chia sẻ cho những người kém may mắn, đau khổ, nghèo khó…

Bạn thân mến, nếu bạn nhận tên TRÙM SÒ là anh em họ hàng hay làm cố vấn cho bạn thì chắc chắn Chúa Giê-su sẽ phán với bạn trong ngày phán xét rằng: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời…. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng” (Mt 25:41-43).

Bạn có muốn sự giàu có của bạn tồn tại và trở nên ĐẠI PHÚC cho bạn hay không?  Nếu bạn muốn thì tôi đề nghị với bạn ba việc sau:

Nộp đơn ra tòa xin từ, xin chấm dứt quan hệ họ hàng với tên TRÙM SÒ ngay lập tức.  Sau đó hãy ăn mừng bằng cách gửi checks hay money orders đến các trại cùi, các trại mồ côi, hoặc gửi cho các cơ quan thiện nguyện như Nhóm Lửa Việt, Hội Bác Ái Teresa, Hội Bác Ái Phan-xi-cô…

Để mắt đến những nhu cầu bức thiết đang sống chung quanh bạn.  Những người đó có thể là ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì, anh chị em hay có khi chính là người vợ, người chồng, hoặc con cái của bạn đấy!  Họ đang túng cực về mặt tinh thần, họ đang thiếu thốn sự quan tâm, sự chăm sóc và những lời thăm hỏi của bạn!  Đừng nhắm mắt làm ngơ như ông nhà giàu đã đối xử với La-za-rô.  Căng đấy!

Quan tâm đến sức khoẻ của người khác, hãy trị bịnh cao máu của ban chấp hành hội đồng giáo xứ, của cha sở, của cha quản nhiệm bằng cách mở bóp của bạn… to hơn một chút để những tờ $5, $10, $20 có cơ hội… nhảy vào trong những giỏ tiền collection mỗi Chúa Nhật.  Bạn hãy hào phóng trong những công việc đóng góp, giúp bảo trì, sửa chữa nhà thờ và quỹ điều hành giáo xứ, hãy sống rộng rãi hơn, đừng chỉ bỏ giỏ mỗi $1!  Không ổn đâu!

Thay cho lời kết, tôi xin gửi đến bạn lời khuyên của thánh Phao-lô: “[Nếu anh chị em là] những người giàu ở trần gian này… [thì hãy lo] làm việc thiện và trở nên giàu có về các việc tốt lành, [hãy] ăn ở rộng rãi, sẵn sàng chia sẻ.  Như vậy [là anh chị em đang] tích trữ cho mình một vốn liếng vững chắc cho tương lai, để được sự sống thật” (1 Tm 16:17-19).

Cuối cùng, xin bạn đừng quên rằng THIÊN CHÚA MỚI LÀ CHỦ của tất cả mọi sự mà chúng mình đang sở hữu như: Tài sản, tiền bạc, trí tuệ, tài năng…  Bạn và tôi chỉ là quản lý của Ngài mà thôi.  Bạn quản lý mà không khéo thì coi chừng!  Có ngày Ngài sẽ nói nhỏ với bạn rằng: “Công việc quản lý của anh [có vấn đề lớn] anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa!” (Mt 16:2), thì kể như…toi mạng!  Hãy quản lý cho khéo khéo một chút!  Sống keo kiệt mất chức ráng chịu!

phamtinh@yahoo.com

SƯỚNG – KHỔ

Có một đề thi dành cho các thí sinh đau khổ thuộc mọi lứa tuổi như sau: Bạn hãy chứng minh bạn khổ.

Thí sinh thứ nhất, một người đàn ông chừng sáu mươi, chứng minh: Tôi lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo.  Bố mẹ tôi quanh năm ‘bán mặt cho đất – bán lưng cho trời’.  Vì nhà nghèo nên tôi phải nghỉ học sớm để đi làm kiếm tiền mưu sinh.  Nghĩ mà tủi thân!…

Thí sinh thứ hai, một phụ nữ trẻ, dẫn chứng: Tôi là người kém sức khoẻ.  Từ nhỏ đã hay đau yếu.  Mỗi lần trái gió trở trời là tôi lại xụt xịt.  Rất khó chịu!…

Thí sinh thứ ba, một thanh niên tuổi chừng hăm mấy, viết ngay không chần chừ: Tôi chẳng có tài cán gì.  Giữa đám đông bạn bè, tôi chẳng biết ca hát.  Mấy đứa bạn cứ trêu chọc bảo tôi giọng ngang như cua bò.  Bực tức và chán ghê!…

Thí sinh thứ tư toan đặt bút xuống viết thì khựng lại.  Rồi anh suy nghĩ có vẻ rất căng thẳng.  Cuối cùng, quyết định nộp giấy trắng.

Kết quả cuộc thi: Ba thí sinh đầu tiên được 1 điểm an ủi vì đã có… công viết.  Còn thí sinh thứ tư thì phải lên gặp thầy để trình bày rõ lý do tại sao lại để giấy trắng.

Trong giờ sửa bài, giáo sư nhận xét chung:

–   Các bạn không được điểm cao vì bài các bạn không thể hiện được tư duy sâu sắc.  Các bạn chỉ liệt kê những điều không như ý xảy ra trong cuộc đời.  Ai cũng làm được như thế.  Thực ra nó không đủ chứng minh rằng các bạn khổ vì góc nhìn đó quá hẹp.

Rồi giáo sư quay sang thí sinh thứ tư và hỏi:

–  Tại sao bạn để giấy trắng?

–  Thưa giáo sư, thoạt đầu tôi cũng có khuynh hướng vội vàng liệt kê như các bạn kia.  Nhưng tôi chợt giật mình…

–  Sao bạn lại giật mình?

–  Dạ, xin cho phép tôi đứng lên trước mọi người để trình bày được dễ dàng hơn.

Thế rồi cậu khập khiễng bước lên trên.  Quay xuống nhìn mọi người, cậu nở một nụ cười thân thiện. Người ta thấy mặt cậu một bên bị nám đen.  Cậu nói:

– Hồi tôi còn nhỏ, bố mẹ phải đi làm ngoài đồng, chỉ có chị tôi và tôi ở nhà.  Một hôm, chị đang nấu cơm thì bị cháy nhà.  Như quý vị thấy, tôi bị phỏng nặng, bây giờ vẫn còn dấu cháy trên mặt.  Năm tôi lên bảy, bố tôi qua đời.  Một buổi tôi đi học, một buổi tôi phải đi bán vé số ở khu chợ gần nhà để phụ mẹ.  Cách đây ít năm, trên đường đi nhà thờ về, có một chú kia nhậu say lái xe tông vào tôi khiến chân tôi bị tật từ hồi đó.  Bây giờ mỗi khi trời trở lạnh, chân tôi cũng khá đau.  Gần đây, tôi thú thật là tôi yêu một người con gái, nhưng tôi thế này thì làm sao xứng với người ta được!

Trong phòng lúc ấy có nhiều người.  Giọng cậu yếu ớt nhưng ai cũng nghe rõ vì bầu khí lặng im đến lạ thường.

–  Nhưng sao bạn không viết những điều đau khổ này vào bài thi?

– Dạ không, vì tôi giật mình. Tôi giật mình khi tôi chợt nhớ lại lời của bạn tôi trong nhà thờ hôm Chúa Nhật.  Anh ấy nói với mấy người nghèo khổ rằng: “Anh em thật có phúc.” Thế là tôi khựng lại để suy nghĩ.  Rồi tôi nhận ra: để chứng minh tôi thực sự khổ thì tôi phải chứng minh cho được rằng tôi không có gì để hạnh phúc.

Mọi người càng chăm chú.  Vị giáo sư lên tiếng:

–  Hay! Xin lỗi bạn, tôi không phải là Kitô hữu, vậy cho tôi hỏi anh bạn gì gì đó của bạn nói như thế nào về việc may phúc khiến bạn thay đổi cách nhìn như thế?

– Dạ thưa giáo sư, bạn tôi tên là Giêsu.  Anh ấy nói: “Mắt anh em thật có phúc vì được thấy những điều đang thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe những điều đang nghe.  Nhiều người mong mỏi được như anh em mà không được.” (Mt 13:16-17)  Thưa giáo sư, lúc ấy tôi chợt nhìn thấy và nghe được nhiều điều may mắn trong cuộc sống của tôi.  Tôi có mẹ có chị.  Nhà chúng tôi tuy chẳng kín cổng cao tường nhưng đùm bọc nhau ấm áp.  Tôi có trái tim biết rung động.  Tôi có lòng quảng đại.  Tôi có lương tâm. Tôi có bạn bè nói chuyện.  Tôi có nhiều người cầu nguyện cho tôi.  Tôi được đi học.  Tôi có trí khôn để nhận ra trong cái xui có cái hên, tức là trong nghịch cảnh có ân sủng.  Ví dụ: Vì lớn lên trong cảnh khó khăn, tôi thấy mình biết cảm thương với người nghèo hơn.  Vì mang tật nguyền trên mình, tôi hiểu được nỗi đau của tha nhân.  Vì thấy mình giới hạn, tôi đặt niềm tin vào Chúa nhiều hơn.  À, cuối tuần nào tôi cũng được cùng mẹ và chị đi Lễ với bà con chòm xóm để nghe Lời Chúa.  Vui lắm!

**************************************

Bạn thân mến, nếu bạn cùng chia sẻ cách nhìn cuộc đời của thí sinh thứ tư này, mời bạn trở lại với lời của Thầy Giêsu khi Thầy nói các môn đệ thật diễm phúc.  Tụi mình đây, so với các môn đệ hồi đó, không chừng còn có phúc hơn các ngài vì tụi mình nghe và nhìn thấy nhiều điều hơn.  Trong những điều diễm phúc thí sinh này nêu lên, mình muốn dừng lại thêm một chút ở diễm phúc được biết Chúa và nghe Lời Chúa.  Tuy tuổi đời còn non trẻ, mình đã được cơ hội nghe nhiều người, đặc biệt những ai đã từng trải qua đau khổ, tâm sự rằng: “Không có Chúa hiện diện, tôi không biết mình sẽ ra sao khi gặp bế tắc.  Không có Lời Người hướng dẫn, tôi không biết sẽ làm gì khi gánh đời trĩu nặng, khi cô đơn lạc lõng, khi vất vả chán chường…. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm, tôi nhận ra rằng điều may mắn nhất của tôi trên đời này là được biết Chúa.”

Vâng, biết Chúa là một kho báu vô cùng quý giá mà mình không thể nào diễn tả hết được.  Bản thân mình đây, mình chỉ có thể nói rằng mình được như hôm nay là nhờ được biết Chúa, được Lời Chúa dẫn dắt cho dù nhiều khi mình chẳng trung thành, chẳng vâng nghe, chẳng cộng tác với Người.  Người biết hết những tệ bạc của mình nhưng chẳng bao giờ bỏ mình cả.  Một khi đã biết Người, đã cảm nhận sự đồng hành yêu thương của Người trong đời, mình sẽ không bao giờ dại dột bỏ Người đâu bạn ạ.

Xin được mượn những lời Kinh Thánh sau đây như một tâm tình cầu nguyện để khép lại chia sẻ này:

Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời
không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất,
chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc,
cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn,
11 thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta,
sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả,
chưa thực hiện ý muốn của Ta,
chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó.” (Isaia 55:10-11)

Và một trong những Lời mà mình yêu thích nhất là: “Tất cả những ai đang vất vả mang gáng nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11:28)

Giuse Việt, O.Carm.

LÝ LẼ CỦA TRÁI TIM

Dụ ngôn “Người làm vườn nho” trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay làm nhiều người thắc mắc: “Chúa có công bằng không khi ban thưởng cho người làm ít cũng bằng người làm nhiều?”.  Hỏi như thế là chưa hiểu rằng đây chỉ là một dụ ngôn. Dụ ngôn không phải là một chuyện có thật. Nhưng chỉ là một câu chuyện dùng làm hình ảnh để giải nghĩa giáo lý của Chúa. Trong dụ ngôn, Chúa không có ý dạy về những kiến thức trần gian, nhưng muốn nói về những chân lý Nước Trời. Những bài học mà Chúa muốn dạy ta qua dụ ngôn này là:

zz1) Chúa yêu thương hết mọi người và mong muốn mọi người được ơn cứu độ. Vườn nho tượng trưng cho Nước Chúa. Ông chủ vườn nho là Thiên Chúa. Người được thuê là người được mời gọi vào Nước Chúa. Tiền lương là sự sống trong Nước Chúa. Hình ảnh ông chủ ngày ngày ra chợ tìm thuê thợ là hình ảnh của Chúa yêu thương. Không phải ta đi tìm Chúa, nhưng chính Chúa đi tìm ta. Không phải tìm một lần mà tìm suốt ngày, từ giờ này sang giờ khác. Nếu những người được thuê vào buổi sáng sớm tượng trưng cho những người có số phận may mắn, có khả năng hơn người, thì những người được thuê vào cuối ngày tượng trưng cho những người kém may mắn, kém khả năng, bị thiệt thòi trong xã hội. Việc Chúa thuê hết mọi người từ sáng sớm cho đến chiều tà, từ người sang đến kẻ hèn, từ người tài giỏi đến những người kém cỏi, từ người khỏe mạnh đến người yếu kém, tất cả nói lên lòng yêu thương của Chúa. Chúa muốn mời gọi hết mọi người, mong muốn hết mọi người được ơn cứu độ, được hưởng hạnh phúc trong Nước Chúa.

2) Hạnh phúc Nước Trời là ân huệ Chúa ban. Nếu Chúa không kêu gọi thì không ai có thể được vào vườn nho của Chúa, được vào Nước Chúa. Nếu Chúa không ban hạnh phúc Nước Trời thì chẳng ai có thể tự mình chiếm lấy được. Việc Chúa ban thưởng cho những người được thuê mướn cuối cùng trước những người được thuê mướn đầu tiên làm nổi bật chân lý này: “Nước Trời là ân huệ Chúa ban”. Ân huệ phát xuất từ tình thương của Chúa chứ không do công đức của ta. Vì thế chẳng ai có quyền đòi hỏi. Hơn nữa, ơn Chúa ban vượt quá sức, quá lòng mong ước của ta. Hiểu biết điều này, ta sẽ không ngừng tạ ơn Chúa.

3) Chúa yêu thương và mong ta biết yêu thương như Chúa. Những người thợ làm từ sáng sớm không có gì để kêu trách Chúa về tiền lương, vì đã được thỏa thuận từ trước. Họ chỉ kêu trách vì thấy người làm ít cũng được như mình. Họ kêu trách lòng nhân từ của Chúa. Đó là điều vô lý. Và Chúa đã nêu rõ điểm vô lý đó: Tại sao kêu trách vì tôi tốt bụng? Phần mình đã được rồi, tại sao không vui mừng vì những anh em kém cỏi, kém may mắn cũng được ân huệ vào phút chót. Qua điều này Chúa muốn dạy ta hãy biết yêu thương những người kém cỏi, bé nhỏ, nghèo hèn. Một xã hội muốn tốt đẹp phải biết giúp đỡ những người bé nhỏ. Một xã hội chỉ thực sự văn minh khi biết quan tâm tới những người kém may mắn. Nếu chỉ nghĩ đến bản thân mình ta sẽ thấy cuộc đời chỉ toàn bất công. Nếu biết nghĩ đến người khác, ta sẽ thấy cuộc đời thật đẹp đẽ vì chan chứa tình người.

***

Qua dụ ngôn “Người làm vườn nho”, ta thấy tư tưởng của Chúa khác hẳn tư tưởng của con người. Cách cư xử của Nước Trời khác hẳn cách cư xử của nước trần gian. Lý luận của Chúa khác hẳn lý luận của người đời. Không tìm lợi lộc cho bản thân nhưng lo tìm hạnh phúc cho người khác. Không trọng sang khinh hèn, nhưng để ý yêu thương giúp đỡ những người kém may mắn, bị bỏ rơi trong xã hội. Không dùng lý lẽ của lý trí nhưng dùng lý lẽ của con tim, một con tim luôn yêu thương, luôn mong muốn hạnh phúc cho mọi người. Chúa mong con cái Chúa cũng hãy có tư tưởng của Chúa, cư xử như Chúa và yêu thương như Chúa. Như thế mới có thể làm cho Nước Chúa mau lan rộng.

Lạy Chúa, xin cho con hiểu được đường lối Chúa, và giúp con luôn đi trong đường lối của Ngài. Amen.

TGM. Ngô Quang Kiệt.
(BĐ1:Is.55: 6-9 * BĐ2: Pl.1:20-24.27 * PÂ: Mt.20:1-16 )