NẾU MỘT NGÀY…

zz– Nếu một ngày, bạn cảm thấy sầu khổ và muốn khóc. Hãy gọi cho tôi … Tôi không hứa sẽ làm cho bạn cười. Nhưng tôi có thể cùng khóc với bạn.

– Nếu một ngày bạn đứng trước thất bại và muốn bỏ chạy. Đừng ngại gọi cho tôi…Tôi không hứa sẽ giúp bạn hết thất bại, hết chạy trốn… Nhưng tôi có thể cùng chạy với bạn.

– Nếu một ngày, bạn cảm thấy mệt mỏi, đuối sức, không đủ năng lực để làm việc. Hãy gọi cho tôi bạn nhé… Tôi không chắc sẽ giúp bạn hết mệt mỏi, hết đuối sức … Nhưng tôi sẽ cùng nghỉ ngơi với bạn… Những giây phút nghỉ ngơi bên nhau sẽ giúp bạn có thêm sức mạnh, thêm năng lực để làm việc và để tiếp tục bước đi trên đường đời .

Hãy gọi cho tôi…Hãy gọi cho tôi bạn nhé…Số phone của tôi là: 1-800-CẦU-NGUYỆN

Nhưng nếu một ngày nào đó bạn gọi mà không thấy tôi trả lời. Hãy mau mau đến thăm tôi bạn nhé … Vì tôi cũng đang cần đến bạn, cần tiếng nói của bạn, cần những lời nói chuyện tâm tình của bạn. Tôi ở trong khu phố NHÀ THỜ, đường NHÀ TẠM, căn nhà có ghi hai chữ THÁNH THỂ.

Thân mến,
Giêsu.

***

“Tất cả những ai đang vất vả, mang gáng nặng nề … hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng..”(Mt.11:28)

Lạy Chúa Giêsu! Xin cho con biết chạy đến với Chúa, biết qúy trọng những giây phút thinh lặng bên Chúa …. Vì Chúa là Đấng ban ơn trợ giúp và là nguồn ơn sức mạnh của đời con. Amen

PHÊRÔ LỖI PHẠM

Thảm kịch Phêrô vấp ngã được Phúc Âm tường thuật lại như sau:

Hát thánh vịnh xong, Ðức Giêsu và các môn đệ ra đi lên núi Ôliu.  Ðức Giêsu nói với các ông:

– Tất cả anh em sẽ vấp ngã, vì Kinh Thánh đã chép: Ta sẽ đánh người chăn và chiên sẽ tan tác. Nhưng sau khi chỗi dậy, Thầy sẽ đến Galilê trước anh em.

Ông Phêrô liền thưa:

– Dẫu tất cả có vấp ngã đi nữa, con nhất định là không.

Ðức Giêsu nói với ông:

– Thầy bảo thật anh: Hôm nay, nội đêm nay, gà chưa kịp gáy hai lần, thì chính anh, anh đã chối Thầy ba lần.

Nhưng ông Phêrô lại quả quyết:

– Dẫu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy” (Mc 14:26-31).

Ðoạn Kinh Thánh trên đưa thời điểm đau thương của Ðức Kitô vào cuộc đời các tông đồ.  Biến cố ấy sắp xảy đến.  Thực sự sẽ như thế nào, các môn đệ không thể hình dung được.  Họ chỉ thấy bàn bạc một bầu khí u buồn, hoang mang và căng thẳng.  Cứ mỗi lúc thời gian ngắn dần, thái độ của Chúa làm các ông thêm biến sắc.  Chúa đã nói đến những lời trăn trối.  Thầy đã rửa chân vĩnh biệt học trò.  Kẻ dạy dỗ đã căn dặn môn sinh ở lại yêu thương nhau.  Chúa sắp ra đi.  Linh hồn các môn đệ có thể đang dấy lên những thao thức băn khoăn.  Thầy sẽ chết sao?  Ai phản bội Thầy?  Tương lai chúng ta đi về đâu?  Bao nhiêu ngày theo Thầy bây giờ như thế sao?  Rồi đây nhóm chúng ta còn không?  Tất cả vấp ngã nghĩa là gì, tôi cũng vấp ngã à?  Vấp ngã ra sao?

Trong cái căng thẳng ấy, mọi người im lặng hoang mang.  Người lên tiếng trong đám đông này, tối đó, là Phêrô.

Nhìn Phêrô trong đoạn Kinh Thánh trên đây, ta thấy ông khẳng khái một quyết định dứt khoát là ông biết rõ ông hơn ai hết.  Ông hiểu khả năng của ông.  Ông biết ý chí ông.  Ông làm chủ tình hình. Ông đã nói không là không.  Chúa đừng quan tâm.  Phiên dịch một cách khác, ta có thể hình dung được tiếng nói của Phêrô với Chúa:

– Không chuyện gì phải lo.  Có tôi đây, Thầy biết tôi mà!

Qua hành động Phêrô, ta có thể nói bằng ngôn ngữ thế tục, Phêrô đã “vô lễ” khi dám đưa tất cả mọi người ra so sánh.  Ông khẳng khái là không vấp ngã, cũng quá đủ rồi.  Ðó là zzchuyện của ông.  Nhưng ông bảo cho dù “tất cả” vấp ngã, tôi cũng không.  Làm sao ông dám hạ thấp mọi người xuống để so sánh với chính mình như vậy?

Sau khi ông so sánh mọi người xong, Ðức Kitô không nói với “các ông” nữa mà nói riêng với ông. Lối hành văn của Máccô chỗ này rất là ý nghĩa trong lối dùng chữ chính xác từng chi tiết như sau:

– Thầy bảo thật anh – (Ám chỉ rõ, riêng cá nhân Phêrô).

– Hôm nay – (Xác định thời gian là hôm nay chứ không phải ngày mai).

– Nội đêm nay – (Chi tiết hơn, hôm nay, nhưng là đêm chứ không phải ngày).

– Gà chưa kịp gáy hai lần – (Biết là đêm rồi, nhưng rõ hơn là lúc gà chưa gáy hai lần).

– Thì chính anh – (Quả quyết rõ là Phêrô, không phải người khác).

– Anh chối Thầy ba lần – (Nói cho biết trước sẽ chối, chi tiết là ba lần).

Ðoạn văn tiên tri trên về Phêrô, đề cập những chi tiết chính xác như chuyện đã xảy ra chứ không phải chuyện tương lai.  Ðáng nhẽ Phêrô phải giật mình sợ hãi, nhưng ông không thắc mắc những chi tiết.  Vẫn trong cách xử dụng ngôn ngữ tài tình, Máccô nhấn mạnh là Phêrô càng “nói quả quyết” hơn nữa.  Phải chết tôi cũng không chối Thầy.  Lúc đó, Chúa chỉ còn một cách duy nhất là im lặng, vì hết lời rồi.

Trong cung cách đó, còn gì để nói về con người Phêrô?  Chính Chúa đành lặng thinh.

****************************************

Thảm kịch đáng thương trên được Phúc Âm tả tiếp:

Rồi Người trở lại, thấy các môn đệ đang ngủ, liền nói với ông Phêrô:

– Simon, anh ngủ à?  Anh không thức nổi một giờ sao?

Người lại đi cầu nguyện, kêu xin như lần trước.  Rồi Người trở lại, thấy các môn đệ vẫn ngủ, vì mắt họ nặng trĩu.  Lần thứ ba, Người trở lại và bảo các ông:

– Lúc này mà còn ngủ sao?

Từ chiều, từ lúc hát thánh vịnh xong và Thầy trò lên núi Ôliu đến giờ, từ lúc quả quyết không chối Thầy đến giờ chắc mới vài tiếng đồng hồ.  Ba lần Chúa đến tìm các ông, các ông vẫn ngủ.  Ngôn ngữ chúng ta để ý ở đây mà Máccô cho một chi tiết đặc biệt là các ông ngủ đến độ mắt họ “nặng trĩu” (Mc 14:40).  Ngủ đến độ mắt “nặng trĩu” là như thế nào?  Có thể đây là chi tiết sẽ cắt nghĩa một sự cố lát nữa đây về con người Phêrô.

Lần thứ ba Chúa đến, lúc mắt họ “nặng trĩu” thì Giuđa và thượng tế cùng giáo mác, gậy gộc của đám cơ binh ụp đến bắt Chúa.  Lúc này một “anh hùng” xuất hiện:  Ðó lại là Phêrô.  Ông rút gươm!

Tin Mừng tường thuật, ông chém đứt tai người đầy tớ (Yn 18:10).  Nếu ông anh hùng sao không đượng đầu với bọn lính?  Tội lỗi là đám thượng tế cùng cơ binh chứ đầy tớ, nó làm gì mà chém nó?  Ðứa có khí giới trong tay sao không chém, chém thằng đầy tớ?  Và ngay cả nhát chém cũng vậy, chỉ chém đứt được có cái tai.  Không chém được vào đầu, vào cổ mà chỉ có cái tai thôi sao.

Chi tiết Máccô cho biết lúc nẫy là các ông ngủ đến độ mắt các ông “nặng trĩu”.  Phải chăng vì “nặng trĩu” nên đâu còn nhìn thấy gì?  Phải chăng vì “nặng trĩu” cho nên vùng mình dậy thấy nguy cơ thì hốt hoảng chém mà thôi?  Chém trong đôi mắt ngủ “nặng trĩu!”

****************************************

Chúa bị bắt. tất cả bỏ chạy.
Bây giờ thì rõ, ai ở lại, ai chạy trốn.
Bây giờ thì rõ ai cứu ai.
Vừa trước đây thề chết với Thầy, giờ bỏ chạy.
Vừa trước đây lên tiếng thách đố, giờ cúi mặt.
Vừa trước đây tự tin, giờ mất tất cả.
Vừa trước đây tưởng mình dũng mạnh, giờ yếu đuối quá đỗi.
Vừa trước đây làm chủ tình hình, giờ nhục nhã.
Vừa trước đây tưởng mình cứu Thầy, giờ Thầy cứu mình.
Vừa trước đây tưởng mình là người lãnh đạo anh em, bây giờ người ta biết rõ sự thật.

****************************************

Lạy Chúa, cuộc đời sao quá hoang vu.
Con tưởng mình là thánh nhân mà không phải.
Con tưởng mình có kế hoạch nhưng sao quá vụng về.
Con tưởng ý kiến con thông minh mà sao nông cạn.
Con tưởng người khác kém hơn mình nhưng thật sự họ biết suy nghĩ chín chắn.
Con tưởng không có con là chuyện không thành mà thực sự vì con nên mới hỏng chuyện.

****************************************

Ôi!  nào đâu con có ngờ.

LM. Nguyễn Tầm Thường – Trích trong “Cô Đơn và Sự Tự Do”

 

THẦY LÀ AI?

– Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. (Mt.16:16).

zzBạn thân mến! Trên đây là lời tuyên xưng đức tin của Phêrô đối với Chúa Giêsu. Và đây cũng là lời tuyên xưng hùng hồn nhất, sâu sắc nhất và trang trọng nhất.

Tin Mừng Chúa nhật hôm nay tường thuật rằng: Thầy trò Đức Giêsu đi bên nhau, nói chuyện tâm tình bên nhau, Ngài tế nhị dẫn dắt và nhắc nhở các môn đệ bằng những câu hỏi để gây ý thức nơi các ông. Trước hết Ngài nói: “Người ta nghĩ Thầy là ai?” (Mt.16:13). Và dần dần Ngài dẫn đưa các ông đến câu hỏi quan trọng nhất, xác tín nhất: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai? ” (Mt.16.15)

Đức Giêsu có thể tự giới thiệu về mình, tự nói lên căn tính của mình. Nhưng Ngài đã không làm thế.  Ngài muốn người môn đệ phải tự khám phá ra Ngài, Ngài muốn lời tuyên xưng của người môn đệ phải phát xuất từ nỗ lực tìm hiểu và cảm nghiệm chân thực trong cuộc sống sinh hoạt với Ngài.

Là môn đệ Đức Kitô, mỗi người chúng ta phải trực tiếp trả lời câu hỏi này bằng đức tin của chính mình.  Người môn đệ phải biết căn tính của thầy mình, phải biết mình đang theo ai và người mình theo từ đâu đến.  Có như thế, người môn đệ mới có thể đi sâu vào trong tình thân mật với thầy mình, mới tin tưởng những điều thầy mình dạy, mới can đảm thi hành những giáo huấn mà thày mình đã trao ban.

Phêrô đã trả lời câu hỏi này cho phần của ông: “Thầy là đấng Kitô, Con Thiên Chúa Hằng sống”. Còn bạn và tôi, chúng ta trả lời câu hỏi này ra sao?  Nếu Đức Giêsu đến và hỏi tôi và bạn hôm nay “Thày là ai”, tôi sẽ trả lời Ngài ra sao? Nếu người ta hỏi tôi “Đức Giêsu là ai”, tôi sẽ giải thích cho họ như thế nào?

Được biết Đức Giêsu, được nói về Đức Giêsu, được làm chứng cho Đức Giêsu, được tuyên xưng niềm tin của mình vào Đức Giêsu … Đó là một ân phúc, ân phúc từ trời cao đổ xuống cho những người luôn vững lòng tin tưởng vào Đức Giêsu, vì “không phải phàm nhân mạc khải cho điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.” (Mt.16: 17)

Sau lời tuyên xưng đức tin của Phêrô, Đức Giêsu đã mời gọi Phêrô đứng lên để cùng cộng tác trong công trình xây dựng Hội thánh của Ngài : “Phêrô! con là đá, trên tảng đá này, Thày sẽ xây Hội Thánh của Thày”(Mt.16:18). Với lời nói này, Chúa Giêsu chính thức thiết lập Hội Thánh trên trần gian.  Chính Chúa là sức mạnh của Hội Thánh. Phêrô là Đá Tảng, nhưng chính Chúa làm cho Đá Tảng được vững bền.  Phêrô giữ chìa khoá Nước Trời, nhưng chính Chúa gìn giữ toà nhà Nước Trời.

Chúa Giêsu đã mời gọi Phêrô làm người lãnh đạo và cai quản Giáo hội.  Còn bạn và tôi, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta trong vai trò gì?  Chúng ta phải làm gì để chung tay góp sức xây dựng Hội Thánh mà Ngài đã thiết lập?

***

“Phêrô! con là đá, trên tảng đá này, Thày sẽ xây Hội Thánh của Thày” (Mt.16:18).

Lạy Chúa! Nghe lời mời gọi của Đức Giê-su nói với Phê-rô, con cứ nghĩ là Ngài chỉ nói với những người mà Ngài chọn làm giáo hoàng mà thôi.  Nhưng suy xét kỹ hơn, con nhận ra Ngài nói với tất cả mọi người, mọi Ki-tô hữu.  Ngài mời gọi mọi người trở nên đá tảng để chung tay góp sức xây dựng căn nhà Giáo Hội.  Lạy Chúa! Xin giúp con biết quảng đại đáp trả lời mời gọi ấy. Amen.

(Tổng hợp từ  R. Veritas)
(BĐ1: Is.22:19-23 * BĐ2: Rm.11:33-36 * PÂ: Mt.16:13-20)

CÁT VÀ ĐÁ

Có hai người bạn đang dạo bước trên sa mạc.  Trong chuyến đi dài, hai người nói chuyện với nhau và đã có một cuộc tranh cãi gay gắt.  Không giữ được bình tĩnh, một người đã tát người bạn của mình.  Người kia rất đau nhưng không nói gì.  Anh chỉ lặng lẽ viết lên cát rằng:

– “Hôm nay, bạn tốt nhất của tôi đã tát vào mặt tôi.”
Họ tiếp tục bước đi cho tới khi nhìn thấy một ốc đảo, nơi họ quyết định sẽ dừng chân và tắm mát.

Người bạn vừa bị tát do sơ ý bị trượt chân xuống một bãi lầy và ngày càng lún sâu xuống. Nhưng người bạn kia đã kịp thời cứu anh. Ngay sau khi hồi phục, người bạn suýt chết đuối khắc lên tảng đá dòng chữ:

– “Hôm nay, bạn tốt nhất của tôi đã cứu sống tôi.”
Người bạn kia hết sức ngạc nhiên bèn hỏi:

– “Tại sao khi tớ làm cậu đau, cậu lại viết lên cát còn bây giờ lại là một tảng đá?”

Và câu trả lời anh nhận được là:

– “Khi ai đó làm chúng ta đau đớn, chúng ta nên viết điều đó lên cát, nơi những cơn gió của sự thứ tha sẽ xóa tan những nỗi trách hờn! Khi chúng ta nhận được điều tốt đẹp từ người khác, chúng ta phải ghi khắc chuyện ấy lên đá, nơi không cơn gió nào có thể cuốn bay đi.”

****************************************

Một lần Thánh Phêrô hỏi Thầy:

– “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” Đức Giêsu đáp:

– “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.”(Mt 18,22)

 Lời Chúa đã dạy Phêrô ngày nào, cũng như Chúa đang nói với con.  Bảy lần đã là khó, nhưng Chúa dạy phải là bốn trăm chín mươi lần.  Số lần Chúa nói ở đây, có thể hiểu là tha thứ vô giới hạn, hãy mở rộng lòng để tha thứ cho nhau.  Như trong dụ ngôn người cha nhân hậu, sẽ không phải là 490 lần, mà hơn thế nữa.  Tấm lòng bao dung của người cha còn bù đắp lại cho người con tất cả gì anh đã đánh mất, những gì đẹp nhất ông đã dành cho người con đã làm phiền ông nhiều nhất.

Ngày 13 tháng 5 năm 1981, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã bị Mehmed Ali Agca ám sát.  Một thời gian sau, Đức Thánh Cha đã được các bác sĩ cứu thoát.  Ngài đã viết những lời sau đây: “Tại sao anh lại bắn tôi khi mà cả hai chúng ta đều chung đức tin vào Chúa?”  Ngài cũng tuyên bố trước công chúng: “Tôi luôn cầu nguyện cho người anh em đã bắn vào tôi, người tôi đã chân thành tha thứ”.  Rồi Ngài đích thân đến nhà tù thăm Ali Agca và tha thứ cho anh ta.  Đức Thánh Cha cũng yêu cầu nhà cầm quyền Italia ân xá cho Ali Agca.  Một tấm lòng bao dung vô bờ bến, một lòng mến không toan tính, một sự chân thành để tha thứ, phát xuất từ chính trái tim yêu thương của Đức Thánh Cha.

Người bạn bị tát đã muốn quên đi hành động nóng giận của anh bạn, như điểm dấu trên cát sẽ chóng bị xóa nhòa, nên anh đã nói “Khi ai đó làm chúng ta đau đớn, chúng ta nên viết điều đó lên cát nơi những cơn gió của sự thứ tha sẽ xóa tan những nỗi trách hờn”.  Vì khi tha thứ chính là lúc con người không còn oán giận, tâm hồn tỏa sáng lòng bao dung đối với người làm hại mình.  Trong cuộc sống đã đôi lần tôi phải chứng kiến những cảnh ăn miếng trả miếng: mắt đền mắt, răng đền răng.  Và còn nhiều hơn nữa những thông tin từ báo chí, mạng truyền thông Internet.  Lòng Bao Dung của con người ngày nay không còn được trân trọng, sự tha thứ hôm nay hình như chỉ là trên lý thuyết.

– Biết bao chuyện xảy ra tuy rất ư nhỏ nhặt, nhưng đã không giải quyết được bằng tình người mà phải dùng đến bạo lực.

– Biết bao gia đình ly tán, khi vợ chồng không còn tin tưởng, chung thủy với nhau, đã phải đi đến ly hôn.

– Biết bao chuyện anh chị em ruột trong nhà, chỉ vì chuyện phân chia tài sản mà không còn nhìn mặt nhau.

– Và con biết bao chuyện khác nữa… Cũng chỉ vì thiếu lòng bao dung nên họ không thể nhẫn nại để nhường nhịn và tha thứ cho nhau.

Chính vì vậy, tha thứ là một hành động rất cần trong cuộc sống con người, vì tha thứ chính là nền tảng xây dựng hòa bình giữa con người với con người.  Khi một người vì vô tình hay cố ý làm phiền hoặc là gây hại đến mình.  Hoặc có người đã giúp mình, làm ơn cho mình.  Xin hãy cũng xử sự như anh bạn trong câu chuyện trên.

****************************************

Lạy Chúa, lời hát trong Kinh Hòa Bình vẫn luôn văng vẳng bên tai: “vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ”.  Xin cho con biết sống thể hiện tình yêu thương trong giao tiếp hằng ngày, khi người khác có lỗi với con, cho con biết khoan dung tha thứ.  Mỗi khi con làm phiền lòng người khác, xin cho con lòng can đảm để xin được người đó tha thứ.  Vì con biết tha thứ đã là chuyện khó, nhưng xin người khác tha thứ lại càng khó hơn.  Xin cho con biết trân trọng quý mến những người đã giúp con, như khắc ghi lên đá nơi không cơn gió nào có thể cuốn bay đi.  Amen!

Pet. PBH

LỄ ĐỨC MẸ LÊN TRỜI TẠI Ý NĂM 1922

PHÉP LẠ ĐÊM 14 RẠNG 15 –

Câu chuyện xảy ra tại thành phố Milano, miền Bắc nước Ý.

Tối 14-8-1922 vào khoảng 11 giờ đêm, cô Elvira Mazzoli vẫn còn miệt mài làm việc nơi tòa báo.  Vị chủ nhiệm tờ tuần san “Squilli di Risurrezione – Hồi Chuông Phục Sinh” đã rời văn phòng lâu lắm rồi, để lại công việc dang dở cho cô thư ký.  Cô Elvira phải kết thúc số báo đặc biệt trước nửa đêm để giao cho nhà in.   Tờ tuần báo phải lên khuôn ngay đêm nay, để sáng mai, lễ trọng Đức Mẹ Linh Hồn và Xác Lên Trời, tờ báo sẽ được phân phối cho các sạp bán báo.   Lý do sự chậm trễ trong vội vã này là vì vào phút chót, tờ báo nhận được tin: “Đức Trinh Nữ Rất Thánh MARIA được long trọng tuyên phong làm Chủ Tịch Hội Giới Trẻ Phụ Nữ Công Giáo”.  Tin quan trọng đáng được thay đổi toàn bộ tờ báo để làm nổi bật vai trò của Vị Nữ Tân Chủ Tịch Thiên Quốc.

Giờ đây chỉ còn vỏn vẹn một tiếng đồng hồ để kết thúc bài viết trước khi người thợ in đến nhận bản thảo.   Đôi mắt nặng trĩu vì quá mệt, cô Elvira Mazzoli cố gắng đánh máy những hàng cuối cùng như sau:

– Chúng con xin lập lại lời dâng hiến của toàn thể Hội Đoàn cũng như của từng người chúng con cho Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm Rất Thánh MARIA.  Chúng con xin phó thác cho Mẹ cuộc sống nội tâm và công tác tông đồ của chúng con.   Xin Mẹ thanh luyện chúng con.   Xin Mẹ ban cho chúng con các nhân đức.   Xin Mẹ cầu bầu cho chúng con ơn yêu mến Đức Chúa GIÊSU Con Mẹ.   Cùng lúc, xin Mẹ cho chúng con biết làm cho những ai có dịp tiếp xúc với chúng con cũng được tăng thêm lòng kính mến Đức Chúa GIÊSU.  Xin Mẹ cho chúng con ngày hôm nay biết sống trọn vẹn tư cách là giới trẻ Công Giáo để chuẩn bị cho mai ngày trở thành người vợ, người mẹ, người nữ tu và Phụ Nữ Công Giáo Tiến Hành.

Vừa đánh máy, cô Elvira như nếm trước niềm vui của toàn thể độc giả cũng như của các Hội Viên Giới Trẻ Phụ Nữ Công Giáo, vào ngày mai, khi mỗi người hân hoan mân mê trong tay mình tờ tuần báo thân yêu.  Nhưng nhất là, vui chừng nào khi biết rằng, Đức Nữ Trinh Rất Thánh MARIA trở thành Vị Bảo Trợ Phong Trào Giới Trẻ Phụ Nữ Công Giáo vào chính ngày lễ trọng của Mẹ, 15-8!

Miên man với ý nghĩ, cô Elvira ngủ thiếp đi lúc nào không hay biết.  Trong giấc ngủ, cô làm ngã chiếc đèn dầu đặt trên bàn viết.  Dầu chảy lan trên giấy và rơi xuống áo.  Cùng với dầu, ngọn lửa theo nhanh bốc cháy.  Trong khoảng ngắn, ngọn lửa có thể thiêu rụi căn phòng, biến cô thành ngọn đuốc sáng và bản thảo tờ Hồi Chuông Phục Sinh tan thành tro bụi!

Thế nhưng, Vị Nữ Bảo Trợ Thiên Quốc của Phong Trào không mảy may cho phép điều này có thể xảy ra.  Đức Mẹ MARIA ra tay uy quyền can thiệp.  Và Phép lạ đã xảy ra.  Cánh cửa sổ đang đóng kín bỗng bị mở tung.  Một luồng gió nhiệm mầu ùa vào, kịp thời thổi tắt ngọn lửa bắt đầu bốc cháy, trước khi ngọn lửa có thể thiêu rụi tất cả người và vật trong phòng.

Nghe tiếng động của cánh cửa sổ bật mở, cô Elvira Mazzoli giật mình tỉnh thức.  Rất nhanh sau đó, cô định trí và hoàn hồn khi thấy mình vừa thoát khỏi bàn tay tử thần trong đường tơ kẽ tóc!  Không đợi chờ lâu, cô quỳ gối xuống đất, dâng lời cảm tạ Hiền Mẫu Thiên Quốc đã gìn giữ mạng sống cô an toàn.

Mấy phút sau có tiếng chuông reo.  Đồng hồ cũng điểm 12 tiếng.  Đúng nửa đêm. Người thợ in đến lấy bản thảo tờ Hồi Chuông Phục Sinh để cho lên khuôn.  Khi cô Elvira Mazzoli trao bản thảo cho người thợ, tay cô vẫn còn run vì xúc động.  Người thợ in nhận ra nét lúng túng xúc động của cô thư ký.  Ông ân cần hỏi:

– Cô Elvira, cô đang run rẩy! Cô có bị gì không?  Cô có muốn tôi đưa cô về nhà không?

Cô Elvira ôn tồn đáp lại:

– Thưa ông Monti, tôi không bị gì hết. Ông đừng lo lắng cho tôi.  Tôi chỉ mệt một chút thôi.  Nhưng tôi muốn ở lại văn phòng chờ trời sáng.  Tôi đã sẵn đề tài cho bài viết của số báo vào tuần tới!

Ông Monti nhã nhặn nói:

– Tùy ý cô. Nhưng cô nên cẩn thận đóng cửa sổ lại, kẻo bị gió độc nguy hiểm!

Nói xong, người thợ in tốt lành cầm bản thảo mang đi.

Còn lại một mình, cô Elvira Mazzoli đến đứng bên cửa sổ ngước mắt chiêm ngắm bầu trời đầy sao.  Vừa nhìn trời, cô vừa sốt sắng đọc những lời kinh Kính Mừng MARIA, dâng lên Hiền Mẫu Thiên Quốc, với trọn tâm tình tri ân thảo hiếu.  Sau đó, cô lặng lẽ ngồi vào bàn làm việc.  Cô bắt đầu đánh máy bài viết cho số báo tuần tới:

– Câu chuyện phép lạ xảy ra vào một đêm mùa hè, đêm đẹp nhất: đêm vọng lễ Đức Mẹ Linh Hồn và Xác lên Trời.

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

LÒNG TIN LỚN LAO

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay thuật lại chuyện một người mẹ có đứa con gái bị quỷ ám.  Bà là dân ngoại, còn Đức Giêsu là người Do thái.  Ít khi Ngài đến vùng đất quê hương của của bà.  Nhưng không biết nhờ đâu mà bà biết được danh tiếng Đức Giêsu. Bà tin Ngài có thể chữa cho con bà khỏi bệnh.  Khi thấy Ngài, bà biết cơ may đã đến, bà tin tưởng con bà được giải thoát khỏi cơn bệnh hiểm nghèo này. Bà cầu xin Ngài cứu chữa cho đứa con khốn khổ của bà.  Lời cầu xin van nài của bà phát xuất từ lòng tin.

Lòng tin lớn lao biết kiên trì khi Chúa thinh lặng.

Bà xin Ngài nhìn đến nỗi đau của người mẹ, đau vì nỗi đau của đứa con. “Lạy Ngài là con vua Ðavít, xin dủ lòng thương tôi. Ðứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm!” (Mt.15:22).  Nhưng Đức Giêsu không đáp lại một lời.  Phải chăng Ngài lạnh lùng trước nỗi đau, lãnh đạm trước điều Ngài có thể làm được?  Nhiều lúc ta cũng gặp sự thinh lặng như thế.  Ta khắc khoải tự hỏi: Chúa ở đâu? Ngài có nghe thấy tiếng tôi van xin không?  Ngài có thấy gì không trước những khổ đau của con người ?

Lòng tin lớn lao biết kiên trì khi bị từ chối.

Bà chẳng ngã lòng trước sự thinh lặng của Đức Giêsu. Bà cứ kiên trì theo sau Đức Giêsu sau mà kêu, kêu hoài, kêu mãi.  Rồi bà trực tiếp giáp mặt Ngài, nài xin Ngài cứu giúp.  Kết quả là một lời từ chối không khoan nhượng: “Không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó con.” (Mt.15:26).  Bà có bị sốc không khi Đức Giêsu ví dân ngoại với chó con nuôi trong nhà, không đáng được hưởng phần bánh của con dân Israel? Chắc chắn bà đã chẳng thất vọng trước lời từ chối này.

Lòng tin lớn lao là lòng tin khiêm tốn.

Bà chấp nhận lối so sánh của Đức Giêsu.  Bà chấp nhận mình là dân ngoại, chấp nhận mình chỉ là chó con, chỉ dám trông chờ những mảnh bánh vụn từ bàn rơi xuống.  Bà không dám mong được phần ăn của các con. “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.” (Mt.15:27). Sức mạnh của lòng tin ở nơi sự khiêm tốn.  Chính vì lòng tin mạnh mẽ đó mà Đức Giêsu đã đáp trả lời cầu xin của bà, đã cho bà được toại nguyện: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy.”(Mt.15:28). Ngay lúc đó, con gái của bà được khỏi bệnh.

Tin không phải là đòi hỏi. Tin là khiêm tốn chờ đợi tất cả từ tay Chúa, và đón lấy tất cả như “hồng ân nhưng không”.

Chỉ những lời cầu nguyện khiêm tốn, nhận mình là không và Chúa là tất cả, chẳng đòi hỏi gì mà chỉ trông đợi lòng thương xót Chúa, mới là những lời cầu nguyện đẹp nhất.

Chỉ có những lời cầu nguyện kiên trì, không bao giờ thất vọng nản chí, cả khi Chúa xem ra như bỏ quên, như chối từ, mới là những lời cầu nguyện phát sinh sức mạnh.

Đó chính là thái độ ta cần phải có mỗi khi cầu nguyện.

***

Lạy Cha! Con tạ ơn Cha vì những “ơn ban” Cha đã dành cho con… những ơn con nhìn thấy được, và những ơn con đã không nhận ra, vì con cứ nghĩ đó là chuyện tự nhiên trong cuộc đời.

Con thường đau khổ vì những gì Cha đã không ban cho con, và quên rằng đời con được bao bọc bằng ân sủng của Cha.

Tạ ơn Cha vì những gì Cha cương quyết không ban, bởi lẽ điều đó có hại cho con, hoặc vì Cha muốn ban cho con một ơn lớn hơn.

Xin cho con luôn vững tin vào tình yêu Cha, cho dù con không hiểu hết Thánh Ý nhiệm mầu của Cha đã thể hiện trong cuộc đời con. Amen

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1:Is.56,1.6-7 * BĐ2: Rm.11,13-15. 29-32 * PÂ: Mt 15: 21-28)

 

ĐỨC TIN – MỘT GIA TÀI VÔ GIÁ

Con là một tân tòng nhỏ bé, yếu đuối.  Quan trọng nhất là con còn rất non trẻ trong việc sống đạo và phương pháp giữ đạo.  Con xin tự giới thiệu về mình như thế, để quý vị có cách nhìn rộng lượng hơn dành cho con, khi cho con được chia sẻ về đức tin còn mong manh của mình.

Có rất nhiều người nói với con rằng: Đức tin là một cái ơn, không phải ai cũng được, không phải ai cũng nhận ra.

Theo con thì đức tin được con xem như là một “gia tài”.  Mà “gia tài” này không bắt buộc phải có một di chúc mình mới được thừa hưởng.

Gia tài theo thói thường khi muốn hưởng thì phải có di chúc, hoặc muốn có được nó thì ít nhất phải có công tạo dựng, hay có công trạng gì đó.  Mà có người chỉ vì một gia tài nhỏ bé đã đánh mất bản chất và mạng sống của mình.  Ngày trước con có dịp chứng kiến những nghịch cảnh chỉ vì một gia tài, mà cha mẹ, vợ chồng, con cái chống lại nhau.  Con đã được nghe những lời rất đau lòng từ người mẹ, người cha than thở rằng.  Không ngờ có ngày chính những đứa con thân yêu của mình, vì chút tài sản do mình tạo ra mà con cái kiện ngược lại cha mẹ hòng tranh giành chút tài sản.  Những tình cảm anh chị em thân nghĩa ngày nào, chỉ vì một căn nhà mà ngoảnh mặt không nhìn nhau và lôi nhau ra tòa để xỉ vả nhau.  Bằng mọi cách họ tìm thật nhiều chứng cứ để tranh lợi về phần mình.  Con tin rằng khi quý vị chứng kiến những tình cảnh trái ngang đó, quý vị sẽ chán ngán cho cái tình đời.

Con đã từng chứng kiến nhiều người đã sở hữu được những gia tài là tiền của, nhà đất.  Chỉ sau một thời gian thì gần như họ khổ sở vì nó.  Người thì lo lắng tìm cách gìn giữ, nhất quyết không chia sẻ cho người khác khi cần thiết, người thì tìm mọi cách để kiếm thêm.  Nói chung là gần như ít có người nào cảm thấy an toàn khi sở hữu trong tay một gia tài.  Gia tài nhiều thì lo nhiều, gia tài ít thì lo ít.  Họ được nó nhưng họ lại không có được cái bình an thật sự.

Nói tóm lại, để hưởng một gia tài không phải là một vấn đề đơn giản.  Mà cái gia tài này, lại không được vững bền.  Ở bên nó, con người ta không bao giờ nhìn thấy được cái gia tài trên cả tuyệt vời là “Đức tin”.  Vì người ta rất thích bám chặt vào những giá trị vật chất hiện tại.

Sở dĩ con phân tích về gia tài một cách cụ thể như thế để chứng minh cho quý vị hiểu vì sao con ví Đức tin là một gia tài vô giá.

Khi con sở hữu được Đức tin, con cảm thấy rằng con đang được thừa hưởng một gia tài vô cùng to lớn.  Mà gia tài này nếu mình thật tâm xin thì Người Chủ, Người Cha, Một Người có đầy đủ quyền thế trao ban bất cứ lúc nào cho mình, mà không cần phải có bất cứ một loại giấy xác nhận nào và thời hạn.

Khi con nhận ra con có Chúa, thì điều đầu tiên con xin Chúa cho con biết tin vào Chúa.  Để được Chúa trao tặng ơn này thì con không quên nhờ Đức Mẹ đã cầu giúp cho con.  Và con đã được.

Giờ đây, khi chính con được Chúa trao tặng Đức tin.  Và những người bạn của con (tất cả họ đều chưa là người Công Giáo), nhưng đều có được “đức tin” nơi Chúa thì chúng con cảm thấy mình rất giàu có. Giàu có ân sủng, giàu có bình an, giàu có tình yêu…

Khi con xin con rất ao ước được rước Chúa vào lòng, thì bây giờ con đã được.  Khi con xin con được nhiều dịp để gần gũi với Chúa thì con lại được một chị cho con tham gia vào một hội trong giáo xứ. Hội này lại được cầu nguyện cùng với các linh mục, và được Chầu Thánh Tâm Chúa hàng tuần.  Con gần như rất vui và bình an.

Khi chúng con có được “gia tài” này thì chúng con rất an vui, trái với những người được thừa hưởng của cải vật chất thế gian, luôn sợ phải bị mất, tìm cách cất giấu…  Gia tài của chúng con không những đem lại hạnh phúc bền vững, mà còn cứu giúp chúng con thoát những lần nguy hiểm trong đời sống. Gia tài chúng con còn cứu giúp chúng con thoát khỏi những cơn bệnh hiểm nghèo, mà cho dù có bỏ ra bao nhiêu tài sản cũng không được chữa lành.  Và đặc biệt là chúng con luôn muốn chia sẻ gia tài này, với tất cả những ai chúng con quen biết.

Chúa bảo là chính đức tin của con đã cứu con, chúng con đã tin và chúng con, đứa thì được chữa lành ung thư, người thì được chữa lành bệnh hư thận… Đức tin không những chữa lành bệnh tật thể xác mà còn cho cả tâm hồn nữa.  Khi chúng con được gia tài này thì trong lòng chúng con luôn thấy bình an, vui tươi và nhẹ nhàng.

Con rất chân thành cám ơn quý vị đã đọc tâm tình chia sẻ của con.  Mục đích của con là chỉ mong mọi người đều có một gia tài thật trù phú cho riêng mình để được an vui hơn.  Và nhân đây con cũng xin quý vị cho con một lời cầu nguyện để con biết cách gìn giữ và làm gia tài đức tin của con được vững chắc và phong phú hơn.

Saigon, ngày 25 tháng 7 năm 2011

Con,
Túc Lynh

 

CHỨNG NHÂN TRONG SỰ HIỆP NHẤT YÊU THƯƠNG

Thế giới ngày hôm qua cũng như hôm nay luôn ngưỡng mộ những chứng nhân cho tình yêu.  Một Têrêsa thành Calcutta nhỏ bé nhưng có một trái tim lớn lao đã làm cho cả thế giới kính phục.  Ở Việt Nam, người công giáo hay không công giáo họ vẫn zznói với nhau về một vị giám mục dám bỏ ngai tòa để đến ở cùng những người cùi tại trại cùi Di linh.  Đó chính là Đức Giám mục Cassaigne.  Ngài đã dùng tình yêu để xoa dịu những đau đớn cho người cùng khổ.  Ngài đã chết cho tình yêu, nên tình yêu của Ngài mãi ở lại nơi dương thế qua mọi thời đại.

Hôm nay ngày khánh nhật truyền giáo, thiết tưởng là dịp thuận lợi để chúng ta nhìn lại tinh thần chứng nhân tin mừng của giáo hội sơ khai.  Một giáo hội non trẻ nhưng có sức mạnh biến đổi trần gian.  Một giáo hội bị cấm đoán nhưng vẫn lan tỏa đến tận cùng thế giới.  Một giáo hội nhỏ bé nhưng ai cũng có tinh thần truyền giáo, khiến thánh Phaolô đã từng nói rằng: “Tôi trồng, Apolo tưới, Thiên Chúa mới cho mọc lên.”  Vậy đâu là điểm son để giáo hội có thể vượt qua mọi trở ngại để phát triển và canh tân bộ mặt trái đất?  Thưa đó chính là tinh thần hiệp nhất yêu thương.

Theo sách tông đồ công vụ, thời giáo hội sơ khai, các tín hữu “sống hiệp nhất với nhau, và để mọi sự là của chung.  Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu” (Tđcv 2, 44).  Họ hợp nhất với nhau không chỉ về niềm tin mà còn hiệp nhất trong tình liên đới chia sẻ của cải vật chất cho nhau.  Sự liên đới này tạo nên một cộng đoàn bác ái yêu thương, trong đó mỗi người đều được cộng đồng quan tâm, nâng đỡ và chia sẻ cho nhau tùy theo nhu cầu của từng người.

Chính đời sống yêu mến nhau nơi các tín hữu mà Giáo hội sơ khai đã được toàn dân thương mến.  Sự thương mến đó đã đem nhiều người về với Chúa.  Sự thương mến đó cũng là nơi bảo vệ các tín hữu khỏi những cuộc tàn sát của bạo chúa hung tàn.  Vâng, nếu ngày xưa cộng đoàn Giáo hội sơ khai đã được “toàn dân thương mến” (Tđcv 2,47a), thì đời sống của xứ đạo chúng ta hôm nay, cũng phải là một cộng đoàn được những người chung quanh nhìn bằng ánh mắt trìu mến thân thương.  Đó cũng là cách chúng ta ca tụng Chúa và giúp cho “càng ngày càng có nhiều người gia nhập Giáo hội” (Tđcv 2, 47b).

Thế nên, tinh thần truyền giáo mời gọi chúng ta hỗ trợ nhau không chỉ về tinh thần mà còn cả về vật chất, không chỉ là những người có đạo mà còn cả những người lương dân.  Đồng thời sự chia sẻ này cũng nói lên sự xóa bỏ những tị hiềm, ghen ghét trong cộng đoàn để đón nhận nhau trong tinh thần bác ái huynh đệ.  Lấy “dĩ hòa vi quý” để sống hài hòa, nâng đỡ đùm bọc lẫn nhau tạo nên một cộng đoàn chan hòa yêu thương, bác ái, chia sẻ, cảm thông.  Đó cũng là dấu chỉ cho thấy chúng ta là môn đệ Chúa Giêsu, là chứng nhân của Tin mừng giữa lòng dân tộc Việt Nam.

Vì chưng, giới luật quan trọng nhất của Kitô giáo chính là Mến Chúa – yêu người, thì người người Kitô hữu chúng ta phải thể hiện điều đó qua từng lời nói, từng việc làm, luôn được cân nhắc cho vừa ý trời và phù hợp với luân thường đạo lý làm người.  Vì vậy, một đời sống chứng nhân Tin mừng cũng phải thể hiện bằng một đời sống hòa hợp với cộng đồng, với tha nhân.  Nhất là biết thể hiện sự tương thân tương ái nơi cộng đồng giáo xứ, sự hiệp nhất yêu thương trong tình huynh đệ với tha nhân, nhờ đó mà Tin mừng mới nở hoa trên từng môi trường sống của người tín hữu.  Chúng ta không thể là một người Kitô hữu tốt mà lại đối xử thật tồi tệ với anh chị em chung quanh.  Lối sống này không chỉ là lỗi luật Chúa mà còn là cớ vấp phạm cho những người chưa biết Chúa.  Nhà lãnh tụ Ganhi của Ấn Độ đã từng nói: “Nếu những người Kitô giáo sống đúng tinh thần giáo lý của họ.  Tôi sẽ mời gọi cả dân tộc Ấn trở lại.”   Chúng ta không thể truyền giáo mà còn mang nặng tính bè phái, tỵ hiềm, chia rẽ.  Lối sống này đã không thu góp về cho giáo hội những tín đồ mới mà còn đẩy biết bao người ra khỏi giáo hội bởi lối sống ích kỷ, độc đoán của chúng ta.  Thực tế đã có rất nhiều những cộng đoàn, những xứ đạo đổ vỡ vì sự bè phái đã phá đổ tình hiệp nhất yêu thương.  Đã có rất nhiều người bỏ đạo, chối đạo vì sự bất khoan dung của chúng ta đã đẩy họ ra khỏi Giáo hội, khỏi cộng đoàn.  Và cũng có rất nhiều cái nhìn thiếu thiện cảm của anh em lương dân nhìn đến chúng ta, chỉ vì chúng ta sống thiếu công bình, thiếu lòng bác ái, thiếu lòng bao dung.

Thế nên mỗi người tín hữu phải biết sống tinh thần truyền giáo khởi đi từ lòng mến Chúa, yêu zzngười nơi mỗi người chúng ta.  Chúng ta mến Chúa nên chúng ta hăng say truyền giáo.  Chúng ta yêu mến tha nhân nên chúng ta muốn chia sẻ niềm vui với tha nhân.  Tình yêu mến mời gọi chúng ta đi đến với tha nhân bằng một tình yêu chân thành, không khoe khoang, không giả dối.  Tình yêu mến mời gọi chúng ta dấn thân một cách quảng đại để đem tình yêu Chúa nối kết tình người, đưa con người đến cùng Thiên Chúa và giúp con người xích lại gần nhau.

Nguyện xin Chúa Giêsu là Đấng đã từ trời xuống để gieo tin mừng yêu thương vào cho nhân thế, nâng đỡ và giúp chúng ta sống ơn gọi truyền giáo bằng một tình yêu mến nồng nàn.  Ước gì đời sống chúng ta cũng trở thành một lời chứng sống động cho tin mừng khi chúng ta dám sống triệt để theo những đòi hỏi của tin mừng là mến Chúa trên hết mọi sự và yêu mến tha nhân như chính mình.  Amen.

LM Jos. Tạ Duy Tuyền
Đức cha Gioan Cassaigne

XIN ĐƯỢC LÀM TÔI TỚ

Robert Morrison, một nhà truyền giáo nổi tiếng, khi đi truyền giáo ở Trung Quốc, đã viết thư cho Hội truyền giáo ở bên Anh, để xin một người trợ giúp.  Để đáp lại, có một thanh niên xin được tự nguyện hiến thân phục vụ.

Sau khi phỏng vấn, các thành viên trong hội truyền giáo quyết định là mặc dù người thanh niên này là một Kitô hữu sốt sắng, nhưng anh chưa hề được chuẩn bị và chưa có đủ yếu tố để ra đi truyền giáo, nên họ đề nghị:

– Chúng tôi nghĩ rằng anh chưa phù hợp với vai trò của một người truyền giáo, nhưng nếu anh bằng lòng ra đi với tư cách là người giúp việc cho nhà truyền giáo, thì chúng tôi cử anh đi.

Sau khi nghe câu trả lời này, anh nói:

– Dạ, thưa con xin được sẵn sàng trở thành một người tôi tớ hoặc làm bất cứ việc gì để phục vụ cho mục tiêu làm sáng danh Chúa.

Thế là anh được sai đi trong vai trò của một người lao công, nhưng chẳng bao lâu, anh trở thành một nhà truyền giáo, đó là tiến sĩ Minle, một trong những nhà truyền giáo tốt lành giỏi giang nhất tại Trung Quốc.

trích (3000 Illitrations)

 *********************************************

– Đức Maria, một mẫu gương khiêm hạ, khi trả lời sứ thần Gabriel: “này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền”(Lc 1,38).  Xin vâng!  Mẹ cùng đồng hành với Con Mẹ trong chương trình Cứu Độ của Thiên Chúa, cùng đồng công với Con Mẹ để cứu chuộc nhân loại.  Xin vâng!  Mẹ đã lặng lẽ theo chân Con mình trên bước đường thương khó.  Lời xin vâng của Mẹ đã đi hết cuộc hành trình trần gian, cùng các môn sinh của Con mình trên bước đường truyền giáo với những ngày đầu khai sinh Giáo Hội sơ khai.  Sự Khiêm hạ của Mẹ đã được Thiên Chúa thưởng công, cả hồn lẫn xác trên Thiên Quốc.

– Thánh Gioan Tẩy Giả vị ngôn sứ cuối cùng của thời Cựu Ước nói về con người mình : “còn tôi, tôi không xứng đáng cởi dây giầy cho Ngài” (Mc 1,7b).  “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại”.  Cả cuộc đời của thánh nhân sống trong hoang địa, nhưng lại là vị ngôn sứ cuối cùng của thời Cựu ước được Thiên Chúa sai đến, để dọn đường cho Đấng Mesia đến.

– Thái độ khiêm hạ, thực lòng thống hối ăn năn của người thu thuế, anh ta không nói nhiều.  Chỉ cúi đầu và thưa với Chúa một câu: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội”(Lc 18:9-14).   Chính sự khiêm hạ của anh, anh đã nhận được lòng bao dung của Thiên Chúa.

– Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu, một vị Thánh đã từng sống với đức khiêm nhường một cách rất nghiêm nhặt, từ những việc nhỏ nhặt nhất trong sinh hoạt hằng ngày, sự nhường nhịn đã tạo cho thánh nữ thành một thói quen tốt khi thánh nữ tiếp xúc với các chị em trong đan viện.  Một vị Thánh cả một cuộc đời sống chiêm niệm trong bốn bức tường trong nhà kín, nhưng lại được Hội Thánh tôn vinh và chọn làm bổn mạng các xứ truyền giáo.

Trong dân gian Việt Nam, câu tục ngữ: “một sự nhịn, chín sự lành” đã diễn tả được phần nào đặc tính của đức khiêm nhường.  Người khiêm nhường không có nghĩa là người nhu nhược.  Mà trái lại, trong cuộc sống đức khiêm nhường chính là cánh cửa để giúp con người tiến bước vào ngưỡng cửa trọn lành.  Chính đức khiêm nhường đã hun đúc giúp con người thăng tiến đến sự hoàn thiện nhân cách.  Vì người có đức khiêm nhường thì không bao giờ có tính ích kỷ, kiêu căng, đố kỵ, huênh hoang, tự cao tự đại …

Trên đây, những mẫu gương của đức khiêm hạ của mọi thành phần, mọi thời đại.  Riêng tôi, tôi đã học và thực hành được gì?  Tôi đã thể hiện tinh thần khiêm nhường của mình như thế nào? Trong công việc được trao, tôi đã phục vụ hết mình chưa?  Hay lại hiểu sai về đức khiêm nhường, là đùn đẩy, thoái thác nhường công việc cho người khác, để chọn việc nhẹ nhàng.  Thường khi được trao công việc, nhất lại là công việc chung, mấy ai nhận về mình việc khó khăn và cũng chẳng ai muốn nhận việc thấp hèn.  Anh thanh niên Minle đã không quản ngại nhận công việc là một người giúp việc, anh vui vẻ nhận lời để theo chân nhà truyền giáo; trong anh giây phút đó chỉ có một mục đích chính là để phục vụ cho mục tiêu làm sáng danh Chúa.  Rồi từ công việc khiêm hạ là người lao công giúp việc, anh đã thành công trong xã hội với học vị tiến sĩ và với Giáo Hội là nhà truyền giáo nổi tiếng.

*********************************************

Lạy Chúa, xin cho con biết sống khiêm hạ, biết từ tốn trong thái độ giao tiếp.  Cho con biết vui nhận những công việc nơi bề trên đã tín nhiệm trao cho con.  Biết kính trọng vâng lời với các đấng bề trên; biết tôn trọng anh chị em trong hòa nhã, nhẹ nhàng; biết yêu thương chia sẻ với các em nhỏ.   Đồng thời biết thể hiện liên kết khiêm tốn với lòng nhiệt thành đầy nhiệt huyết.  Để hy vọng trong bất cứ công việc gì, cũng được Chúa hướng dẫn, chúc lành và gặt hái thành quả tốt đẹp. Amen!

Pet. PBH

LẠY THẦY! XIN CỨU CON

Giữa lúc dân chúng định tôn Ðức Giêsu làm Vua,  và sau khi mọi người đã được no nê bánh và cá, thì Ngài lại giải tán họ, và buộc các môn đệ phải chèo thuyền qua bờ bên kia. Yên lặng trở lại với nơi hoang vắng.  Chỉ còn lại một mình Ðức Giêsu, Ngài chìm sâu trong cầu nguyện.  Ngài  gặp gỡ trong thân mật với Thiên Chúa  Cha.  Nhưng Ðức Giêsu không quên các môn đệ.  Ngài biết họ một mình đang vật lộn với sóng gió.  Mãi gần sáng, Ngài mới đi trên mặt nước mà đến với họ.  Các môn đệ tưởng Ngài là ma, nên kêu la sợ hãi.  Ðức Giêsu trấn an họ: “Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ.”

zzTuy còn ngờ vực, Phêrô đã dám liều lĩnh đề nghị: “Nếu quả là Thầy, thì xin cho con được đi trên mặt nước mà đến với Thầy.” ( Mt 14,28 ).  Thật là một lời đề nghị làm ta ngạc nhiên.  Thật là một đề nghị đầy nguy hiểm.  Nhưng Phêrô đã chấp nhận nguy hiểm, đã dấn thân nghiêm túc để được gần Thầy mình.  Nếu đó không phải là Thầy mình, thì thật là dại dột.  Nhưng nếu đúng là Thầy, thì ông tin mình cũng đi được trên mặt nước như Thầy.

Ðức Giêsu nói với Phêrô: “Cứ đến”. Thế là Phêrô bước ra khỏi thuyền, ông đi trên mặt nước mà đến với Ðức Giêsu.  Thật không thể tưởng tượng nổi,  mặt nước trở nên cứng như đá, hay con người có đức tin trở nên nhẹ bổng.  Phêrô đi được bao xa, ta không rõ,  nhưng lòng ông thì cứ reo lên sau mỗi bước đi: “Ðúng là Thầy rồi!”  Phải tin thì mới dám xin đi trên mặt nước,  nhưng phải dám đi trên mặt nước, thì niềm tin mới được trọn vẹn.

Cần ngắm nhìn những bước chân của Phêrô, những bước chân của lòng tin mạnh mẽ.  Nhưng khi gió lồng lên dữ dội, nỗi sợ hãi ùa vào, lòng tin bị chao đảo với sóng gió, lúc đó Phêrô thấy mình bị hút xuống lòng biển.  Ông chỉ kịp kêu lên: “Lạy Thầy, xin cứu con.”  Bàn tay Chúa đưa ra nắm lấy bàn tay của ông và đưa ông về thuyền. “Người kém tin, tại sao lại hoài nghi!” ( Mt 14,31 ).  Hoài nghi và sợ hãi đã làm Phêrô trở nên nặng nề, và nhận chìm ông xuống.  Phêrô hăng say đó, nhưng lại xìu đó và tỏ ra nhát đảm vì thiếu tin tưởng vào Chúa Giêsu.

Cuộc đời của mỗi người là một cuộc vượt biển đầy cam go, cho dù đi bằng thuyền hay bằng tàu, không ai có thể nói là tuyệt đối bằng an.  Còn bơi trong sóng nước thì vô phương.  Phêrô, một người sành sỏi về bơi bội, sông nước là nghề nghiệp của ông. Thế mà khi bị thụp xuống, lại cuống cuồng la lên: “Lạy Thầy! Xin cứu con“.

Muốn vượt biển đời bình an, thơ thới, chỉ có một cách là cậy trông vào Ðức Giêsu Kitô, chỉ mình Ngài mới có quyền năng đạp sóng, và làm bão tố tan biến đi.  Đưa tay cho Ngài dắt, chúng ta sẽ đi trên bão tố đường đời như đi trên thảm cỏ xanh êm dịu tươi mát.

***

Lạy Chúa Giêsu! Sống đức tin giữa lòng cuộc đời chẳng khác nào đi trên mặt nước:

Có bao thứ sóng gió đẩy đưa và lôi cuốn.  Có bao cám dỗ muốn hút con vô vực sâu.  Sự nặng nề của thân xác cũng kéo ghì con xuống.  Ði trên mặt nước cuộc đời chẳng mấy dễ dàng. Nhiều khi con thấy mình bàng hoàng sợ hãi.

Xin cứu con khi con gần chìm.  Xin nắm lấy tay con khi con quỵ ngã.  Xin nâng đỡ niềm tin yếu ớt của con, để con trở nên nhẹ nhàng mà bước những bước dài hướng về Chúa.  Amen.

(Tổng Hợp từ R. Veritas)