THIÊN CHÚA: ĐẤNG ƯU TIÊN VÀ TỐI HẬU

Người Ba Tư có câu chuyện ngụ ngôn như sau:  Có một nhà hiền triết xuất hiện giữa phố chợ và nói sẽ giải đáp được mọi thắc mắc của bất cứ ai.  Một anh chăn chiên muốn hạ nhục nhà hiền triết giữa đám đông, anh cầm trong tay một con chim sẻ và đặt câu hỏi: “Thưa ngài, trong tay tôi có một con chim. Ngài là người thông thái giải đáp mọi vấn nạn, vậy xin hỏi ngài, con chim trong tay tôi còn sống hay chết”.  Biết đây là cái bẫy, vì nếu nói chim sống thì tức khắc anh chăn chiên bóp nó chết trước khi mở bàn tay.  Nếu nói chim chết thì anh ta mở bàn tay cho chim bay đi.  Trước sự chờ đợi của đám đông, nhà hiền triết từ tốn trả lời như sau: Con chim trong tay ngươi sống hay chết là tùy ở ngươi.  Nếu ngươi cho nó sống thì nó sống, nếu ngươi muốn nó chết thì nó chết.

***************

Bạn thân mến ! Ai trong chúng ta cũng khao khát hạnh phúc, đó là niềm khao khát thâm sâu nhất của con người, nhưng chúng ta được hạnh phúc hay không là tùy ở chúng ta, giống như con chim sống hay chết là tùy ở anh chăn chiên.  Hạnh phúc đích thực của mỗi người chúng ta là Thiên Chúa, là Nước Trời. Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay tường thuật: Thiên Chúa mời gọi con người tới dự tiệc cưới. Tiệc cưới đó là hình ảnh Nước Trời, là nơi đem lại hạnh phúc viên mãn và vĩnh cửu.  Thế nhưng người ta không đáp lại, viện cớ đi thăm trại, viện cớ đi buôn bán. Đi thăm trại, đi buôn bán tự nó không phải là việc xấu, nhưng họ đã làm một việc khờ dại là chỉ chú ý tới đời này mà quên đi đời sau.  Đi thăm trại, đi buôn bán tựu trung là lo làm giàu.  Họ đã lầm lẫn khi nghĩ rằng giàu sang sẽ đem lại hạnh phúc. Nhưng cái nghịch lý lớn nhất của cuộc đời là khi con người tìm cách lấp đầy tâm hồn mình bằng những của cải chóng qua thì đó là lúc con người cảm thấy trống vắng nhất trong tâm hồn.

Đừng lấy lý do tôi quá bận rội với công việc làm, với gia đình mà không dành giờ cho Thiên Chúa, không dành giờ cho Nước Trời, không dành giờ lo cho linh hồn mình. Bận rộn chỉ là tấm ảnh dựng nên để che đậy những lười biếng, những tiêu cực của mình.  Đừng hỏi tôi có bận hay không, nhưng hãy hỏi tôi có muốn hay không? Vì lòng muốn sẽ thắng vượt mọi trở ngại, mọi bận rộn.

Thiên Chúa không phải là bông hoa để trang trí cuộc đời. Thiên Chúa là một Đấng tối cần không thể thiếu vắng trong cuộc đời chúng ta.  Hạnh phúc Nước Trời không phải là một con bài trong Casino, thua con bài này ta đánh con bài khác.  Hạnh phúc Nước Trời là một vấn đề cực kỳ nghiêm trọng và can hệ vì chỉ có một lần mà  thôi:  Đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa thì tôi được hạnh phúc đời đời , trái lại từ chối thì tôi đánh mất hạnh phúc đời đời.

Vậy thì Thiên Chúa phải là Đấng ưu tiên  số một và tối hậu trong cuộc đời chúng ta.  Ngài phải ở trên mọi lý do bận rộn, trên mọi của cải đời này. Và hạnh phúc Nước Trời là một thứ suốt đời tôi chuyên tâm tìm kiếm..

LM. Luy Hữu Độ, CMC

***************

Lạy Chúa ! Xin cho con biết chọn Chúa là ưu tiên số một của cuộc đời , vì Ngài là Đấng cứu độ và là cùng đích mà con phải nhắm đến,  Amen 

ĐỨC MARIA,  BÔNG HOA HƯỜNG MẦU NHIỆM

Nói đến lễ Mân côi là nói đến hoa. Những bông hoa muôn màu muôn sắc dâng trước toà Mẹ.  Những bông hoa kinh nguyện sốt sắng kết dệt nên những lời ca tụng Mẹ.  Những bông hoa hy sinh, bác ái muốn toả hương dưới chân Mẹ.

Những bông hoa nói lên lòng yêu mến của con cái đối với Mẹ hiền. Những bông hoa cũng cố gắng diễn tả phần nào nét đẹp của Mẹ.

Thật vậy, giữa ngàn hoa, Đức Maria nổi bật như bông hoa cao quí xinh đẹp nhất.  Đẹp đến độ “đẹp lòng Thiên Chúa“.  Trình thuật Truyền tin cho ta thoáng thấy vài nét đẹp của Người.

Người có nét đẹp đơn sơ. Đơn sơ trong khung cảnh làng quê Nazareth.  Đơn sơ trong nếp sống thôn nữ đạm bạc.  Nhất là đơn sơ trong tâm hồn giản dị.  Sự đơn sơ trong tâm hồn được bộc lộ qua những suy nghĩ trong sáng, những phát biểu thật thà, thẳng thắn trình bày với thiên sứ hoàn cảnh cụ thể của bản thân. Đơn sơ trong vâng phục. Khi đã hiểu rõ ý định của Thiên Chúa chỉ đơn sơ thưa : “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền“. Tâm hồn đơn sơ của Người chiếu toả như viên ngọc trong suốt không một tì ố.

Người có nét đẹp khiêm nhường. Khiêm nhường trong nếp sống ẩn dật nơi làng quê nhỏ bé.  Khiêm nhường trong nhận thức về bản thân.  Thật vậy, khi nghe thiên thần chúc tụng Người “Đầy Ơn Phúc“, Đức Maria thật sự ngạc nhiên.  Bản thân Người không dám nhận danh hiệu cao đẹp ấy.  Khiêm nhường trong tâm hồn biểu lộ trong lời nói.  Khi đã chấp nhận chương trình của Thiên Chúa, Đức Maria vẫn khiêm tốn xưng mình là “Nữ tỳ của Thiên Chúa“. Thật khiêm nhường. Chính sự khiêm nhường càng tô thêm vẻ đẹp tuyệt vời nơi Người.

Người có nét đẹp từ bỏ.  Từ bỏ là vượt lên trên. Từ bỏ khiến con người trở nên cao đẹp, thanh thoát. Từ bỏ của cải đã khó. Từ bỏ bản thân khó hơn. Từ bỏ ý riêng mới thật cam go khốc liệt.

Đức Maria đã có chương trình riêng: sống đời trinh nữ.  Đó là một chương trình đẹp.  Nhưng khi biết chương trình của Thiên Chúa, Người đã sẵn sàng từ bỏ chương trình riêng.  Nhờ từ bỏ chương trình riêng mà chương trình của Chúa được thực hiện.  Nhờ từ bỏ bản thân mà Người đón nhận được chính Thiên Chúa.

Thiên Chúa rất lớn lao, chẳng trời đất nào dung chứa cho đủ.  Bao lâu cái tôi còn cồng kềnh, bấy lâu tâm hồn chưa thể đón nhận được Thiên Chúa.  Chỉ khi từ bỏ mình đến tận cùng, đến không còn một chút gì riêng tư dành cho bản thân, tâm hồn mới có thể đón nhận được Thiên Chúa.

Khi trút bỏ chính mình, Đức Maria được đầy tràn Thiên Chúa.  Không còn thuộc về mình, Người trọn vẹn thuộc về Thiên Chúa.  Người là chiếc bình rỗng không, nên Người đón nhận được “đầy ơn phúc“của Chúa.

Người diễn tả nét đẹp của Thiên Chúa.  Lời “xin vâng” Đức Maria thốt lên nơi làng quê Nazareth vang vọng lời xin vâng của Ngôi Hai nhập thể làm người.  Sự khiêm nhường của Người diễn tả sự khiêm nhường của Thiên Chúa xuống thế làm người.  Sự từ bỏ của Người phần nào phản ánh sự từ bỏ của Đức Giêsu Kitô “vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân” (Phil 2, 6-7).

Đức Maria là bông hoa phần nào diễn tả được nét đẹp của Thiên Chúa vì Người là tác phẩm của Chúa Thánh Thần.  Chúa Thánh Thần “rợp bóng trên Mẹ” nên Mẹ sống dưới sự che chở của Thánh Thần, theo ơn hướng dẫn của Thánh Thần và sống trong tình yêu của Thánh Thần.

Lạy Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi xin cầu cho chúng con biết noi gương Mẹ.

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

HÃY VUI LÊN (có Youtube)

Theo truyền thống dân tộc Do Thái, năm đại xá của Đức Chúa, là năm đại phúc cho người nghèo, cho người bị tù đầy.  Năm đó, có nợ ai bao nhiêu, cũng được xóa; có đang bị ở tù, cũng được trả tự do.  Đức Yêsu là Đấng đến để công bố năm toàn xá cho toàn thể nhân loại.  Vì thế, hãy vui lên, hỡi nhân trần.
  1. Tin Mừng Cho Người Nghèo

Con người sống trên trần gian này cảm nghiệm bao nhiêu nỗi khổ: nỗi khổ vật chất và tinh thần.  Ai càng coi trọng tiền bạc và vật chất, càng cảm thấy khổ nhiều.  Tuy nhiên, đôi khi người nghèo không cảm thấy khổ, mà những người đặt nặng giá trị vật chất lại cho rằng họ khổ.

Người nghèo cũng có niềm vui riêng của họ, trời xanh, khí mát trong lành, đất trời đẹp tuyệt vời và vô tận.  Tuy vậy, nếu người nghèo không thanh thoát vượt lên được cái bình thường, thì cái nghèo, và đặc biệt là tình trạng bần cùng, ảnh hưởng thê thảm trên con người.  Nàng Kiều bán mình chuộc cha cũng là một thí dụ.  Và từ cái khổ này dẫn tới cái khổ khác; đến độ người ta thấy “đời là bể khổ.”   Nghèo, tù, tội, là những điều gây cho bao người đau khổ dằn vặt.

Hôm nay, tin mừng đã được công bố: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi vì Đức Chúa đã xức dầu cho tôi. Ngài sai tôi đem tin mừng cho người nghèo khó, băng bó những tâm hồn tan vỡ, loan báo ơn giải thoát cho những kẻ bị bắt, tự do cho kẻ tù đày, và loan báo năm hồng ân của Thiên Chúa.”  Chính Thiên Chúa giải phóng con người, cho con người tìm được sự giải phóng, tự do, niềm vui và hạnh phúc.

  1. Đấng Đến Sau Tôi

Cái nghèo vẫn còn tiếp tục.  Cái nghèo như gắn chặt với cuộc đời của một số người như hình với bóng.  Con người vẫn khổ, vẫn miệt mài đi tìm miếng cơm manh áo.  Những người đã có miếng cơm manh áo thì lại muốn có nhiều hơn nữa.  Con người vẫn không thoát khỏi cảnh khổ.  Nỗi khổ do nghèo vật chất dường như giúp con người thấy nỗi khổ của nghèo tinh thần.  Dường như khổ vật chất không làm con người khổ, mà nghèo tinh thần làm con người khổ.

Yoan Tẩy Giả sống đơn sơ trong cảnh nghèo.  Ngài như một lời chứng cho nỗi khổ vì nghèo tinh thần, vì không thấy được ánh sáng sự thật, chứ không phải vì nghèo vật chất.  Hơn nữa, Yoan Tẩy Giả còn làm chứng cho một Đấng khác nữa: “Đấng đến sau tôi, quyền năng hơn tôi, và tôi không đáng cởi dây giầy cho Ngài.  Tôi làm phép rửa cho anh em bằng nước, nhưng Đấng đó sẽ làm phép rửa cho anh em với Thánh Thần và lửa.”  Đấng đó là Đấng mà mọi người phải mong chờ, cho dù lúc đó người ta và cả Yoan Tẩy Giả cũng chưa biết người đó là ai.

Đức Yêsu như tất cả mọi người đã sống cái nghèo đến tận cùng: sinh trong hang chiên cừu, ăn uống mặc như người nghèo, làm nghề của những người nghèo, ngay cả khi đi rao giảng vẫn nghèo, có lúc đi tìm trái vả ăn cho đỡ đói cũng không có (Mt.21, 18-19).  Tuy vậy, Đức Yêsu là người làm trọn lời tiên tri trong sách Isaya, Ngài công bố năm hồng ân của Thiên Chúa, Ngài tới để làm cho người mù được thấy, người tù được trả tự do, băng bó những tâm hồn tan vỡ.  Đức Yêsu mang lại cho người ta thấu hiểu sự thật, và sự thật sẽ giải phóng con người khỏi mọi phiền não, tù tội ràng buộc tinh thần.  Ngài giúp con người vươn lên, vươn lên tới Thiên Chúa là đỉnh bình an hạnh phúc.  Hãy vui lên vì với Đức Yêsu, chúng ta biết con đường giải thoát và hạnh phúc đích thực.

  1. Hãy Vui Mọi Lúc

Như một người đã được giải phóng, thánh Phaolô viết cho dân thành Thessalônica: “hãy vui hạnh phúc mọi lúc.”  Một người rao giảng tin mừng Đức Yêsu phục sinh, luôn bị phản đối, rượt đuổi và bắt bớ, mà khuyên người ta hãy sống vui và hạnh phúc được sao? Nếu đúng, người đó phải sống vui và hạnh phúc trong mọi hoàn cảnh, trong mọi thời điểm.

Tại sao Phaolô lại được như vậy?  Vì Ngài đã đạt đạo, đã chọn Thiên Chúa trên hết, đã chấp nhận Đức Yêsu như lý tưởng và Chúa của mình.  Ngài đã thấy được trần gian chóng qua, chỉ có thực tại bền vững là chính Thiên Chúa, và cũng là bình an và hạnh phúc của Ngài.  Với quan niệm sống và chọn lựa như vậy, Ngài sống vui và hạnh phúc trong mọi hoàn cảnh, trong mọi thời điểm.

Chỉ khi nào con người chọn Thiên Chúa trên hết, phó thác tất cả cho Thiên Chúa, thì con người mới sống chấp nhận thực tại và thanh thản trước mọi biến cố và nghịch cảnh.  Thiên Chúa đang thực hiện việc giải phóng con người qua Đức Yêsu, qua việc cho con người thấy cách sống giúp con người bình an hạnh phúc.  Cách sống đó chính là cách sống của Đức Yêsu.  Đức Yêsu cũng không được miễn trừ khỏi bao cám dỗ, nhưng Ngài đã vượt qua và vẫn trông cậy vào Thiên Chúa ngay cả khi không thấy dấu chỉ cho thấy như vậy.  Biến cố Đức Yêsu kêu trời “lạy Cha, lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con” là một bằng chứng.  Ngay cả như vậy, chúng ta tin rằng, Ngài vẫn bình an và phó thác.

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

ĐỨC MẸ HIỆN RA TẠI GUADALUPE, MEXICO (có Youtube)

Juan Diego có tên là Cuauhtlatohuac, một thổ dân Aztec, ông đổi tên là Juan Diego sau khi tòng giáo.  Diego sinh sống tại làng Cuatitlan, gần Mexico City.  Lúc đó ông được 57 tuổi.  Ngày ngày ông thường đi bộ 15 dặm (24 cây số) để dự Thánh Lễ tại Tlatelolco, phía bắc Mexico City.

Sáng ngày 9 tháng 12 năm 1531, một ngày đông lạnh lẽo, Juan Diego trên đường dự lễ, khi ngang qua đồi Tepeyac, ông nghe như có tiếng chim đàn ca hót và có tiếng gọi “Juanito, Juan Dieguito!” từ trên đồi vọng xuống.  Juan Diego leo lên đồi chừng 130 thước, ông thấy một phụ nữ xinh đẹp ở giữa những bụi xương rồng.  Phụ nữ đó nói với Juan Diego:

– Nghe này Juan, con yêu dấu và nhỏ bé của Mẹ.  Con đi đâu đó?

Juan đáp:

– Thưa bà, con đi tới làng Tlatelolco để dự lễ.

Người phụ nữ nói:

– Con yêu dấu, Mẹ là Đức Nữ Trinh, Thánh Mẫu của Thiên Chúa, Thiên Chúa là Đấng ban sự sống cho muôn loài, là Đấng Tạo Hóa, và là Chúa tể trời đất.  Mẹ rất muốn người ta xây một đền thờ tại đây để dâng kính Mẹ, để Mẹ thi ân và thương xót họ.  Mẹ sẽ chữa lành và làm giảm bớt những đau khổ thiếu thốn.  Con hãy đến với Đức Giám Mục và nói với Ngài rằng Mẹ phái con đến cho Ngài biết Mẹ rất muốn Ngài xây dựng cho Mẹ một ngôi đền thờ tại đây…

Juan lập tức đến trụ sở Đức Giám Mục Zumárraga tại Mexico City, để thưa cùng Đức Giám Mục điều Đức Mẹ xin.  Lần này Juan Diego bị từ chối vì ngài không tin.  Ngày hôm sau mùng 10 tháng 12 năm 1531, Juan trở lại tòa Giám Mục, nhưng cũng thất bại.  Ngài còn đòi phải có một phép lạ tỏ tường nữa.

Sáng sớm ngày 12 tháng 12 năm 1531, ông Juan Bernadino, chú của Juan Diego, nghĩ rằng mình sắp chết, nên ông nhờ Juan Diego đi Tlatelolco  mời Linh Mục cho ông xưng tội và chịu phép xức dầu.  Juan Diego vội vàng ra đi lúc 4 giờ sáng.  Trên đường, Juan đi ngang qua đồi Tepeyac, nhưng không muốn ghé lại vì sợ trễ nếu Đức Mẹ đang chờ ông.  Ông đi theo đường sườn đồi phía bên kia.  Nhưng Juan sửng sốt thấy Đức Mẹ từ trên đồi đi xuống gặp ông trên đường.  Đức Mẹ tươi cười hỏi:

– Juan, con đi đâu thế?

Juan Diego lúng túng trả lời Đức Mẹ:

– Con xin lỗi Mẹ, con đi tìm Linh Mục cho chú con xưng tội, và khi xong việc này, con sẽ trở lại đây ngay. Con không nói dối đâu.

Đức Mẹ nói:

– Con yêu dấu, con đừng nản lòng, đừng để lòng con nao núng, sắc diện con biến đổi vì bệnh tình của chú con.  Bệnh ông sẽ được lành.  Hãy an tâm được sự che chở của Mẹ.  Bây giờ con hãy lên đồi nơi con đã thấy Mẹ, hãy ngắt thiệt nhiều những bông hoa lạ ấy cho Mẹ.

Ông trở lại nơi Mẹ đã hiện ra và ông thật ngỡ ngàng thấy cả một cánh đồng hoa muôn màu sặc sỡ.  Ông hái đầy những bông hoa đẹp túm vào chiếc áo choàng, rồi đem đến cho Mẹ.  Đức Mẹ sắp lại những bông hồng trong áo choàng của Juan Diego, rồi túm lại và bảo Diego đừng đảo lộn nó lên và chỉ mở gói đó cho chính Đức Giám Mục coi.

Đến tòa Giám Mục, Juan Diego lại phải chờ đợi, vì ngài đang tiếp chuyện với Đức Sebastián Ramirez y Fuenleal, vị toàn quyền mới của Mexico.  Sau cùng Juan Diego cũng được tiếp kiến.  Ông trao xách hoa hồng cho Đức Giám Mục.  Đức Giám Mục rất đỗi ngạc nhiên về những bông hoa hồng có mùi thơm dịu lạ.  Nhìn tấm khăn Tilna, ngài lại ngạc nhiên hơn vì tấm áo lúc này hình ảnh Đức Mẹ hiện ra trên đồi Tepeyac từ từ hiện lên rõ ràng.  Đức Giám Mục ôm chầm lấy Juan và xin lỗi vì trước kia ngài đã không tin lời Juan tường thuật.

Lập tức tin lạ truyền đi khắp nơi.  Đức Giám Mục cho rước Đức Mẹ và đặt trong nhà nguyện riêng để dân chúng tới chiêm ngắm.  Sáng hôm sau Juan Diego trở về nhà thì cậu Juan Bernadino đã lành bệnh, đang ngồi hong nắng.  Ông cũng cho biết Đức Mẹ đã hiện ra chữa bệnh cho ông và cho biết Đức Mẹ muốn người ta nói đến Đức Mẹ trong tương lai như thế nào.  Đức Mẹ muốn người ta gọi Mẹ là “Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội.”  Ảnh Đức Mẹ được in trong tấm áo choàng Tilna của Juan Diego cho thấy: Đức Mẹ mang vóc dáng một phụ nữ thổ dân.  Đức Mẹ mặc áo dài màu nâu phớt hồng.  Áo choàng xanh lá cây có viền vàng và những ngôi sao lóng lánh phủ từ trên đầu xuống tới chân.  Hai tay Đức Mẹ chắp trước ngực, cho thấy cổ tay áo trong gần cổ tay áo dài.  Điểm đặc biệt là Đức Mẹ mang thắt lưng nhỏ màu đen hoặc nâu đậm, một tiêu biểu toàn vẹn trinh khiết của Đức Nữ Trinh và được cởi ra trao cho người chồng trong ngày cưới theo tục lệ Aztec, và Đức Mẹ đang mang thai.  Đức Mẹ đứng trên vành trăng lưỡi liềm, được một thiên thần, sắc diện thổ dân, mặc áo dài tay màu hồng, nâng đỡ.  Phía sau Đức Mẹ là vầng hào quang hình bầu dục, có những tia sáng vàng tỏa ra chung quanh.

Ảnh Đức Mẹ trên áo choàng của Juan Diego ngày nay được bảo quản và trưng bày tại Thánh Đường Đức Mẹ Guadalupe, xây trên đồi Tepeyac theo lời Đức Mẹ.  Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị đã qua Mexicô tấn phong Juan Diego lên hàng hiển thánh ngày 30 tháng 7 năm 2002.

Sưu tầm

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

HOA LỢI VƯỜN NHO

Câu chuyện hôm xưa:  Có một người chủ vườn nho kia giao vườn của ông ta cho các tá điền chăm sóc quản lý.  Đến mùa thu hoạch, người chủ sai nhân viên của mình đi thu hoa lợi theo như hạn kỳ.  Nhưng hỡi ôi, các tá điền trở mặt, đã không nộp hoa lợi thì chớ, lại còn hành hung, đánh đuổi, thậm chí giết cả các nhân viên được sai đến.  Nếu có bị thất mùa gặp khó khăn không đủ hoa lợi, thì các tá điền có thể thương lượng trả góp hay xin khất.  Đằng này họ rắp tâm muốn chiếm đoạt tài sản.  Quản lý trở thành ăn cướp.

Thế mà người chủ này vẫn cho những tá điền bất nhân này nhiều cơ hội.  Ông lại tiếp tục sai người đến thương lượng với họ, nhưng không thành công.   Cuối cùng ông sai con của mình đến gặp họ, mong rằng họ sẽ nghĩ lại.  Nhưng bọn tá điền này không kể  luân thường đạo lý, ngang nhiên giết người con duy nhất này và vất xác ra ngoài vườn nho, lại còn huyênh hoang: “Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi và đoạt gia tài của nó” (Mt 21:38).

***************

Câu chuyện hôm nay:  Nghe Lời Chúa hôm nay, tôi bất giác giật mình.  Câu chuyện 2000 năm trước sao có lại những điểm trùng hợp với thời sự như thê’?  Ở đất nước ta ngày nay, không thiếu những chuyện bất công, cướp đoạt đất đai của các tá điền thời đại.  Với công thức “đất đai là của toàn dân” nhưng lại do các “đầy tớ nhân dân” quản lý, các tá điền thời đại tha hồ làm mưa làm gió trên việc quản lý đất đai.  Miếng đất nào đẹp, miếng nào nằm trong tầm ngắm của các tá điền thời đại, những kẻ mang danh đầy tớ nhân dân, thì miếng đất ấy sẽ bị mượn dài hạn.

Đến khi sở hữu chủ muốn dùng lại để làm việc công ích thì phải làm đơn xin xỏ lạy lục để được “quyền sử dụng đất.”  Nếu khổ chủ “biết điều” thì may ra các đầy tớ nhân dân xem xét nhu cầu rồi cấp phát đất đai theo độ dầy của phong bì nhận được.  Đó là trường hợp mảnh đất kia chưa bị sang tay, chưa phân lô để kinh doanh lợi lộc, chưa ký dự án hợp tác với tư bản nước ngoài, hoặc thuộc diện đất chết bỏ hoang.  Còn nếu đất đó đã hóa vàng, thì sở hữu chủ chẳng bao giờ có thể dòm ngó đến. Nếu cứ ngoan cố đòi đất thì nhẹ cũng ghép vào tội gây rối loạn trật tự, nặng thì bị bắt, đánh đập, bị ghép vào đủ thứ tội, kể cả tội chết.

Ngày nay trong xã hội văn minh hơn, các đầy tớ nhân dân không cần trực tiếp ra tay.  Chỉ cần giết người bằng công văn, bằng báo đài ra rả tuyên truyền xuyên tạc, biến khổ chủ thành kẻ gây rối, thành tội phạm, đáng bị luật pháp trừng trị, kích động dư luận quần chúng, ném đá dấu tay để che đậy cho việc làm càn của mình.  Các đầy tớ nhân dân hôm nay mưu mô xảo quyệt hơn các tá điền bất nhân ngày xưa nhiều lắm.

***************

Bạn thân mến,

Phải chăng Chúa Giêsu kể dụ ngôn trên đây để chỉ trích sự sai trái của các thượng tế và biệt phái? Hay Ngài còn muốn nói với chúng ta điều gì?  Dụ ngôn này không chỉ nhắm vào những người lãnh đạo Israel thưở xưa, hoặc các “đầy tớ nhân dân” ngày nay.  Lời Chúa cũng nói trực tiếp với mỗi người chúng ta về ý nghĩa và trách nhiệm của mỗi người về chính cuộc đời của mình.

Cuộc sống của chúng ta cũng như những thửa vườn kia, đã được Thiên Chúa trao ban để chăm sóc và bảo quản. Trong cái nhìn của đức tin, tất cả những gì chúng ta có đều là quà tặng nhưng không của Thiên Chúa.  Tất cả cuộc sống chúng ta là vườn nho được Chúa chăm sóc ân cần đầy đủ.  Thế nhưng nhiều lúc chúng ta xem những ân huệ Chúa ban là của riêng mình.  Như những tá điền trong dụ ngôn, chúng ta đã không quản lý những ân huệ Chúa ban hầu làm giầu cho ông chủ, làm vinh danh cho Thiên Chúa.  Ông chủ vườn ở xa mà, biết khi nào mới trở lại?

Thỉnh thoảng nếu có ai đó nhắc nhở chúng ta về bổn phận với ông chủ, thì chúng ta lại nổi giận, trách móc, hoặc phớt lờ họ.  Ngay cả đối với chính Chúa Kitô cũng thế.  Có khi chúng ta cũng đuổi Ngài ra khỏi vưòn nho – ra khỏi cuộc sống của chúng ta.  Thiên Chúa cho chúng ta rất nhiều cơ hội để hoán cải.  Ngài cho chúng ta rất nhiều thời gian để sinh những hoa trái thiêng liêng.  Chúng ta cần làm gì với mảnh vườn đức tin, với cuộc sống của mình?

Như thế Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta một lần nữa ý thức về cách chúng ta đang sống đạọ. Chúng ta cần sinh hoa kết quả bằng đức tin và việc làm. Và để kết luận tôi xin mượn lời của Thánh Phaolô trong bài đọc hai để mời bạn, chúng ta cùng nhau tìm: “Những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh và đáng khen thì xin anh em hãy để ý” (Phil 4:8).

Xin Thiên Chúa giúp mỗi người chúng ta trở nên những tá điền gương mẫu, biết tận tâm chăm sóc cho mảnh vườn đời mình ngõ hầu sinh hoa lợi, làm vinh danh Thiên Chúa.

Antôn Phaolô, SJ

HÃY LÀM NẢY SINH NHIỀU HOA LỢI

Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay thuật lại dụ ngôn “Người tá điền sát nhân”  (Mt. 21:33-43).  Tại sao những tá điền lại nhẫn tâm bắt các đầy tớ của ông chủ: chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ… và chúng bắt cả con trai của ông chủ, quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi… Tại sao những tá điền này lại trở thành những tên sát nhân độc ác như vậy?  Chắc có nhiều lý do lắm.  Thế nhưng có lẽ lý do chính khiến cho những người tá điền chất phác này trở thành những tên sát nhân độc ác như vậy là bởi vì họ không có HOA LỢI để nộp cho chủ.

***************

Bạn thân mến! Tôi và bạn, chúng ta đều là những tá điền, là những người quản lý trong vườn nho của ông chủ tốt lành là Thiên Chúa.  Nhiệm vụ của ta là phải làm sinh sản ra nhiều HOA LỢI cho Ngài.  Tôi hỏi thật bạn nhé! Bạn đã làm ra nhiều HOA LỢI cho ông chủ của bạn hay chưa?

Sống trong ơn gọi hôn nhân, bạn được ông chủ trao cho công việc quản lý một vườn nho trong đó toàn là những giống nho tốt, đó là cha mẹ, là vợ chồng, là con cái  cháu chắt của bạn.. . Nhiệm vụ của bạn là phải làm cho những cây nho này trổ sinh hoa trái ngon ngọt và sinh thật nhiều HOA LỢI cho Ngài.

Nếu cha mẹ, vợ chồng biết hy sinh và lắng ghe, biết dành thời gian để chăm sóc và gần gũi với nhau … và khi con cái biết kính trọng, vâng lời và thảo hiếu với cha mẹ… thì lúc đó bạn đang tạo cho những cây nho trong vườn một sức đề kháng rất mạnh.  Sức đề kháng này còn mạnh hơn là những loại thuốc trừ sâu.  Khi có được sức đề kháng tốt như vậy, những cây nho này chắc chắn sẽ không bị sâu rầy tấn công.  Chắc chắn chúng sẽ mang lại thật nhiều HOA LỢI cho chủ.

Nếu vợ chồng sống hòa thuận, yêu thương, kiên nhẫn, tha thứ, giúp đỡ nhau, trung tín với lời thề hứa… Lúc đó bạn đang tạo ra những luồng gió mát và ấm áp kích thích những cây nho đơm bông kết trái thật xum xuê.  Như thế là ông chủ sẽ thu được nhiều HOA LỢI!

Nếu bạn tham dự các lớp học hỏi giáo lý, học hỏi Kinh Thánh, tham gia vào những sinh hoạt của các hội đoàn trong giáo xứ, đến giúp đỡ và thăm viếng những người già nua, cô đơn, bệnh tật…là bạn đem thứ phân bón tốt nhất bón cho những cây nho trong vườn của ông chủ.  Nhờ những thứ phân bón của yêu thương và bác ái này, những cây nho sẽ đem lại nhiều HOA LỢI cho chủ hơn!

Nếu bạn đang sống trong ơn gọi tu trì thì bạn đang được ông chủ trao cho công việc khá nặng nề đấy!  Bạn phải đứng trên những tháp canh, làm công tác bảo vệ vườn nho, trông coi những bồn đạp nho và đốc thúc công nhân làm việc để nhờ vậy HOA LỢI của ông chủ càng ngày càng gia tăng.

Nếu bạn trung tín trong ơn gọi tận hiến, cố gắng phấn đấu sống thánh thiện “không ngạo mạn, không nóng nảy nghiện ngập, không hiếu chiến, không tìm kiếm lợi lộc thấp hèn… biết hiếu khách, yêu chuộng điều thiện, chừng mực, công chính, thánh thiện, biết tự chủ.. .” (Ti. 1:7-8) thì lúc đó ta đang làm cho bầu không khí trong công xưởng làm nho của chủ vui tươi hơn, làm cho công nhân phấn khởi hơn, và nhờ thế số lượng rượu sẽ gia tăng đáng kể.  Như vậy ông chủ chắc chắn sẽ thu được nhiều HOA LỢI.

***************

Bạn thân mến, nếu tôi và bạn, chúng ta không biết làm sinh HOA LỢI cho ông chủ thì … căng đấy!

Bạn có tin rằng khi không có hoa lợi nộp cho chủ, ta sẽ lâm vào cảnh “đói ăn vụng túng làm liều”.  Lúc đó tôi và bạn không chừng sẽ trở thành những tên sát nhân còn nhẫn tâm và ác ôn hơn là những tên tá điền trong dụ ngôn của bài Tin Mừng hôm nay!

Nếu ta thấy chưa có HOA LỢI để nộp cho ông chủ thì hãy nhanh tay lên, phải khẩn trương lên, bạn và tôi vẫn còn thời gian để làm cho HOA LỢI của ông chủ nảy sinh thêm.  Đừng để cho ông chủ nổi giận và “tru diệt bọn chúng mình, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho” (Mt. 25:41).

Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau để bạn và tôi sẽ trở thành những người quản lý thông minh và khôn khéo, biết làm cho hoa lợi của ông chủ nảy sinh gấp bội. Làm được như vậy chắc chắn ông chủ sẽ rất hài lòng!

Nếu ta làm nảy sinh nhiều HOA LỢI cho vườn nho của Chúa thì Ngài sẽ tươi cười và nói với ta trong ngày sau hết: “Khá lắm! hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! … Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!” (Mt. 25:21).

LM .  Ansgar Pham Tĩnh

DẤU CHỈ CỦA TÌNH YÊU

Trong vở kịch có tựa đề “Một con người của bốn mùa”, tác giả đã mô tả cảnh vua Henri VIII cố gắng thuyết phục thủ tướng của ông là thánh Thomas Moore hãy đồng ý với quyết định ly dị của ông và cưới nàng Pauline làm vợ.  Vua Henri nói như sau:

– Thomas, khanh hãy hiểu cho rằng trẫm đang có nguy cơ mất linh hồn. Thật ra, giữa trẫm và vợ trẫm chẳng bao giờ có hôn phối cả, bởi vì nàng là quả phụ của anh trẫm.

Nhưng thánh Thomas Moore trả lời:

– Tâu bệ hạ, thần không có thẩm quyền để can thiệp vào vấn đề này. Thần nghĩ vấn đề thuộc thẩm quyền của Tòa Thánh…

Nhưng vua Henri VIII ngắt lời:

– Thomas ơi, phải chăng người ta cần có một vị giáo hoàng để nói cho mình biết khi nào mình đã phạm tội? Thomas, đây là một tội!  Trẫm nhìn nhận điều đó, trẫm hối hận và Chúa đã trừng phạt trẫm, trẫm không có con trai.  Thomas ơi, hết đứa con trai này đến đứa con trai khác, tất cả đều chết từ lúc mới sinh hay chỉ một tháng sau.  Trẫm không bao giờ thấy bàn tay của Chúa tỏ tường như thế.  Trẫm có một đứa con gái, đây là một đứa con ngoan, nhưng trẫm lại chẳng có con trai.  Nhiệm vụ của trẫm là gạt bỏ hoàng hậu và xin các vị giáo hoàng đừng xen vào giữa trẫm và nhiệm vụ của trẫm.

Rồi ông nài nỉ thánh Thomas Moore một lần nữa như sau:

– Tại sao khanh không thấy điều đó trong khi mọi người đều thấy?

Một cách bình tĩnh, thánh nhân trả lời:

– Thế thì tại sao bệ hạ lại cần sự ủng hộ của hạ thần?

Vua Henri VIII nói từng tiếng như sau:

– Bởi vì khanh là một con người lương thiện và ai cũng biết rõ sự lương thiện của khanh. Khanh nhìn xem, có những người phò trẫm là bởi vì trẫm đang đội triều thiên trên đầu.  Có những người đi theo trẫm chỉ vì họ là những con gấu với răng nhọn, còn trẫm là một con sư tử.  Có cả một đám đông đi theo trẫm, chỉ vì họ để cho đám đông lôi cuốn, nhưng khanh thì khác.

Những lời trên đây của một người nắm quyền sinh sát trên tay không chỉ là những lời đường mật mà đã vẽ ra cho thánh Thomas Moore một thập giá đang chờ đợi ở phía trước.  Thánh nhân có thể khước từ thập giá ấy và sống trong phú quí và danh vọng, hoặc là thách thức nhà vua và chọn lấy cái chết.  Nhưng cuối cùng ngài đã ôm lấy thập giá, ngài đã chọn con đường thập giá của Chúa Giêsu.

***************

Cũng giống như chiếc ghế điện tại những nơi còn duy trì án tử hình, thập giá quả là một điều chướng kỳ.  Chúa Giêsu đã bị treo lên trên ấy và chúng ta được kêu mời ôm lấy nó.  Thật không gì ngu xuẩn bằng khi đặt trọng tâm của cuộc sống vào thập giá ấy, nhưng Chúa Giêsu lại dùng biểu tượng của nhục nhã khủng khiếp đó để nói lên tư cách của người môn đệ của Ngài: “Ai không vác thập giá và đi theo Ta không đáng làm môn đệ Ta”.

Thập giá không phải là một món đồ trang sức mà là một thách đố giữa sống và chết, giữa tình yêu và hận thù, giữa hy sinh và ích kỷ, giữa hạnh phúc và khổ đau.

Thập giá là dấu chỉ của tình yêu.  Chúa Giêsu đã nói: “Không có tình yêu nào cao quí hơn mối tình của người thí mạng vì người mình yêu”.  Thập giá là một lời mời gọi sống yêu thương.  Chúa Giêsu đã nói: “Hãy yêu thương như chính Thầy đã yêu thương các con”.  Thập giá là một mạc khải về tình yêu đích thực. Yêu là đau khổ, yêu là hy sinh.  Thời đại của chúng ta là thời đại của giảm đau.  Người ta sử dụng thuốc giảm đau để làm bớt cơn đau trong thân xác đã đành, người ta còn tìm đủ mọi cách để tránh hy sinh.  Nhưng thập giá của Chúa Giêsu soi rọi cho chúng ta thấy rằng một cuộc sống không có thập giá là một cuộc sống vô nghĩa và không đáng sống.

***************

Lạy Chúa Giêsu, Xin cho chúng con biết can đảm bước theo con đường thập giá của Chúa.  Xin cho chúng con biết dâng lên Chúa những hy sinh trong suốt tuần này để được kết hiệp với Chúa trong mầu nhiệm khổ nạn hầu được tham dự vào sự sống lại của Chúa.

R. Veritas

 

MẶT TRÁI CUỘC ĐỜI

Một tu sĩ trẻ nọ được gởi đến làm việc với một số anh em khác, công việc của họ là dệt một khung vải rộng lớn, trên đó mỗi người ngày ngày dệt phần được trao phó, việc làm xem ra độc điệu và vô nghĩa.

Ngày nọ, không còn chịu đựng nổi một công việc nhàm chán như thế, người tu sĩ trẻ thốt lên với tất cả sự giận dữ của mình:

–  Trước khi tôi được sai đến đây, người ta nói với tôi về một công trình nghệ thuật cao cả mà tôi sẽ góp phần vào.  Bây giờ tôi chỉ thấy rằng, tôi phải dùng kim đâm qua xỏ lại như một cái máy, tôi không thấy đâu là nghệ thuật cả.

Nghe thế, vị tu sĩ già mới nói với thầy như sau:

– Con ơi, làm sao con thấy được công trình nghệ thuật mà chúng ta đang cộng tác để thực hiện, bởi những gì con đang thấy là mặt trái của tấm thảm. Hơn nữa, việc con đang làm là một điểm nhỏ trong công trình mà thôi.

Khi tấm thảm đã hoàn thành, người ta lật tấm thảm lại.  Lúc bấy giờ, vị tu sĩ trẻ mới thấy rằng mình góp phần vào một tuyệt tác.  Đó là bức tranh của Ba Vua triều bái hài nhi Giêsu, những đường kim mà người tu sĩ trẻ ngày ngày đút qua xỏ lại, đã vén lên chính hào quang sáng chói trên đầu Chúa Hài Nhi. Điều mà thầy cho là vô nghĩa nhất giờ đây hiện lên như một kỳ công.

***************

Cuộc đời của mỗi người chúng ta có lẽ cũng giống như một tấm thảm nhìn từ mặt trái.  Những cái độc điệu nhàm chán dệt nên cuộc sống của mỗi người, đôi khi che khuất hướng đi và ý nghĩa cuộc đời.

Những mất mát, thất bại và khổ đau càng làm chúng ta choáng ngợp hụt hẫng giữa dòng đời.

Chúa Giêsu đến, mang lại cho con người một cái nhìn mới về cuộc đời. Ngài: “là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”.  Qua Ngài, chúng ta biết đường để đi, sự thật để theo và sự sống để trường tồn. Ngài chính là ánh sáng trong đó chúng ta nhìn thấy ý nghĩa cuộc đời từ mặt trái của nó.

Với ba mươi năm sống âm thầm như một người thợ mộc, trong một ngôi làng hẻo lánh, Chúa Giêsu đã mặc cho cái độc điệu âm thầm của cuộc sống một giá trị cao cả, cái bé nhỏ và hèn mọn lại được nâng cao.

Những trẻ em bị xã hội xem là tầm thường nhỏ bé.  Chúa Giêsu lại đưa ra như một điển hình của nhân đức.

Một bà goá dâng cúng hai đồng xu nhỏ Chúa Giêsu lại đề cao như người quảng đại nhất giữa đám đông.

Những kẻ tội lỗi, phường thu thuế, bọn đĩ điếm lại được ngồi đồng bàn với Đấng Cứu Thế.

Đám dân chài dốt nát lại được Ngài chọn làm môn đệ ưu tú.  Cũng cái nhìn từ mặt trái cuộc đời ấy được Chúa Giêsu áp dụng triệt để vào cái chết của Ngài: “Viên đá mà người thợ xây loại bỏ đã biến nên tảng đá gọc tường”.  Cái chết mà mọi người xem như một thất bại ê chề đã được Ngài nâng lên nguyên nhân cứu rỗi.

Là môn đệ Ngài, chúng ta được mời gọi nhìn vào cuộc đời và con người bằng chính cái nhìn ấy.

***************

Lạy Chúa, xin ban thêm ánh sáng Đức tin cho con, để con biết nhìn cuộc đời bằng cái nhìn lạc quan và yêu thương của Chúa.  Xuyên qua muôn thử thách và âm thầm hy sinh, xin cho con luôn thấy được ý nghĩa cao đẹp của thập giá.  Xuyên qua những khuôn mặt tiều tụy, khốn khổ, ngay cả những con người bỉ ổi và đáng ghét, xin cho con vẫn nhận ra được hình ảnh cao đẹp của Chúa trong họ.  Amen!

Thiên Phúc

LẮNG NGHE VÀ ĐÁP TRẢ?

Người thu thuế và gái điếm vào Nước Trời trước các ông“.  (Mt. 21:31)

Bạn thân mến! Trên đây là lời nói của Ðức Giêsu với các Thượng tế, Kinh sư và Pharisêu… Họ là những người đáng kính vì đạo đức và học thức. Họ là những người đáng trọng vì chức vụ và uy quyền.  Làm sao những người hư hỏng và tội lỗi như gái điếm và người thu thuế lại có thể qua mặt các đấng, các bậc đáng kính như vậy?

Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, Chúa  Giêsu đã dùng dụ ngôn để giải thích  cho ta biết rõ hơn:  Người cha sai hai đứa con đi làm vườn nho.  Ðứa con thứ nhận lời, nhưng sau lại không đi làm.  Ðứa con cả từ chối, sau hối hận nên lại đi. Và Chúa hỏi: “Ai là người đã thi hành ý muốn của người cha ?”

Đứa con thứ nói vâng mà không làm là ai?  Phải chăng đó là giới tu sĩ và lãnh đạo Do Thái Giáo ngày xưa đang chất vấn Chúa.  Họ tuyên bố mình sống nghiêm chỉnh theo Lề Luật. Tiếc thay chính sự đạo đức của họ lại làm cho họ tự mãn và khép kín đến nỗi không thể tin vào Ðức Giêsu và đón nhận Ngài như quà tặng Ơn Cứu Độ đến từ Thiên Chúa.  Họ còn là ai nữa ? Họ  là dân Do Thái,  dân Chúa nhưng không nhận biết Chúa.  Và ngày hôm nay, có thể  họ còn là các nhà lãnh đạo tôn giáo nhưng không sống theo luật tình yêu của Chúa;  là các nhà chính trị nói rất hay nhưng không nghe theo các giáo huấn của Giáo hội .

Đứa con lớn ăn nói ngang tàng , nói “không làm”  nhưng rồi hối hận và “đi làm” là hình ảnh của ai?  Phải chăng đó là hình ảnh của kẻ có tội, những người bị đặt bên lề xã hội và tôn giáo như giới thu thuế và đĩ điếm.  Ðời sống của họ là một sự nhơ nhuốc đáng buồn.  Nhưng chính tội lỗi đã làm cho họ trở nên khiêm tốn và dễ dàng hoán cải.  Rốt cuộc, họ lại là những người tin vào Ðức Giêsu và lãnh nhận Ơn Cứu Độ trước nhiều người khác.

Tin Mừng chỉ nói đứa con lớn hối hận và ra đi làm vườn nho cho cha, chứ không nói anh làm hay hoặc  làm dở như thế nào.  Vậy điểm chính là anh ăn năn, thay đổi thái độ và đi làm, chứ không tùy thuộc vào kết quả của việc làm.

Ði làm hay không đi làm vườn nho trong bài Tin Mừng đồng nghĩa với tin hay không tin vào Ðức Giêsu.  Niềm tin có khả năng biến đổi cuộc sống.  Niềm tin thực sự đã biến đổi  thành hành  động.  Tin là một việc làm, một dấn thân nghiêm túc.  Niềm tin vào Ðức Giêsu đòi hỏi một sự hoán cải và từ bỏ. Giới lãnh đạo Do Thái Giáo sợ tin vào Ðức Giêsu.  Họ sợ mất chỗ đứng và mất quyền lợi, sợ phải thay đổi quan niệm của họ về Thiên Chúa.

Kitô giáo là tôn giáo của niềm tin.  Niềm tin bên trong phải được biểu lộ ra bên ngoài:  “Ðức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc. 2:17).  Niềm tin không phải chỉ là một tuyên xưng ngoài miệng nhưng là một tuyên xưng bằng chính cuộc sống: “Không phải mọi kẻ nói với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa, là sẽ được vào Nước Trời, nhưng là kẻ làm theo ý Cha Thầy” (Mt. 7:21).

Tôi phải tránh lối giữ đạo hình thức: có tiếng là Kitô hữu, nhưng lại không thuộc về Ðức Kitô, bởi có một khoảng cách rất xa giữa điều tôi tuyên xưng và điều tôi sống.

Các ông nghĩ sao ?”  Đó là câu hỏi mà ngày xưa Chúa hỏi những người Biệt Phái, Thượng Tế, Kỳ Lão.  Hôm nay Chúa cũng hỏi bạn và tôi :  “Các con nghĩ sao ? Nghĩ sao về cách sống đạo của mình ? Nghĩ sao về cách thể hiện Ðức Tin của mình ? Nghĩ sao về lòng yêu mến Chúa mà mình phải có ? Nghĩ sao về Thánh Ý Chúa mà mình phải thực hiện ?”

***************

Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho Cha“…Đó là lời mời gọi của người cha trong bài Tin Mừng và cũng là lời mời gọi của Chúa dành cho tôi hôm nay.  Tôi có nghe được lời mời gọi của Chúa không ? Tôi sẽ đáp trả lời mời gọi của Ngài ra sao ?

Lạy Chúa ! Xin cho con biết lắng nghe và đáp trả lời mời gọi của Ngài.  Amen

Trích từ R. Veritas

HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN

Tác giả Tú Gàn có kể câu chuyện như sau:

Trong cuốn “Những hiểu biết về cuộc đời”, tác giả Trịnh Hiểu San, một nhà tư tưởng hiện đại của Trung Quốc, có trích dẫn một câu chuyện trong sách Uất Ly Tử như sau:

Một hôm, khi thấy chú cọp xuất hiện, các chim chóc trong rừng đều kêu hét om sòm.  Con cóc đang nằm trong hang thấy thế cũng rít lên.  Thấy vậy, chú quạ liền hỏi các bầy chim:

– Con cọp đi dưới đất, các chú ở trên cao, nó làm gì được các chú mà các chú la ầm lên thế?

Một vài chú chim trả lời:

– Chúng tôi nghe nói khi loài cọp gầm rống lên thì bão tố có thể kéo tới làm hư những cái tổ của chúng tôi nên chúng tôi phải la hét như thế để đuổi nó đi.

Chú quạ nói:

– Thôi cũng được đi.

Rồi chú quạ quay lại hỏi chú sóc:

– Chú ở trong hang, bão tố làm gì được chú mà chú phải la?

Chú sóc trả lời:

–  Tôi biết gì đâu, tôi nghe bầy chim la thì tôi cũng la, chỉ có thế thôi.

***************

Trong thời đại chúng ta hiện nay, có những phương tiện truyền thông đại chúng tối tân, nhanh nhẹn, lượng thông tin được truyền đi mỗi ngày thật khổng lồ.  Vì thế, nếu không cẩn trọng, chúng ta sẽ dễ dàng trở thành những nạn nhân của thông tin, những lời bình luận, những quảng cáo phô trương khuếch đại, những định hướng xu thời dẫn tới tình trạng vong thân.  Ai nói gì thì tôi tin nấy, ai bảo gì thì tôi cũng làm theo, cách suy nghĩ của tôi cũng là những khuôn đúc sẵn của những người khác.  Như thế, chúng ta cũng rơi vào tình trạng chẳng khác nào như con sóc trong câu chuyện trên:  “Tôi nghe bầy chim la thì tôi cũng la”.

Ðiều tệ hại đáng chúng ta quan tâm là có những kẻ yếu khi nhận ra những thông tin không đúng sự thật họ cũng không dám nói ra và giả như họ có công bố thì tiếng nói của họ quá yếu ớt nên bị những thế lực khác đè bẹp, rồi có thể họ sẽ lãnh lấy những hậu quả tai hại của những kẻ bất đồng ý kiến, những bè phái độc tài cực đoan.  Nếu tiến trình đó cứ tiếp diễn thì e rằng chẳng còn ai màng đến việc phân định thế nào là phải trái và thế thái nhân tình sẽ ra sao?  Khi ấy, công lý còn được người ta quan tâm và bảo vệ hay không và thế giới sẽ đi về đâu?

Ðể đi đến cùng như vậy, để mỗi chúng ta cũng cần phải luôn nhìn lại mình, để biết nhận định những lẽ thật của cuộc sống mà người Kitô chúng ta đã có một kho tàng vững chắc là những giá trị chân thực và trường cửu của Tin Mừng, để chúng ta cứ nương theo đó mà phân định những sự vật và hiện tượng, những thực tại đang diễn ra trước mắt chúng ta.  Hơn nữa, chúng ta cũng có một người dẫn đường khác luôn đồng hành với chúng ta và với toàn thể nhân loại là Mẹ Maria, Mẹ Chúa Giêsu.  Có lẽ chúng ta cũng không quên những lời chỉ dẫn của Mẹ đã nói với ba em thiếu nhi là Lucia, Giaxinta và Phanxicô.  Những lời ấy đã đưa thế giới tiến sang một bước ngoặt mới.  Dù rằng có những lúc tưởng chừng những lời ấy không thể được công bố ra bởi sức ép tàn bạo của các thế lực bên ngoài.  Nhưng đúng như lời Mẹ đã khẳng định, cuối cùng Mẹ đã thắng.  Mẹ đã thắng cũng có nghĩa là chúng ta sẽ thắng nếu chúng ta thực hành những lời căn dặn của Mẹ.  Ðiều đó không phải là dễ, bởi chúng ta biết rằng ba em bé đó cũng đã phải đau khổ nhiều và hy snh gian khổ, phải chấp nhận những tủi hổ và những hiểu lầm với lý do bằng mọi cách để cho những sứ điệp của Mẹ được công bố cho mọi người. Và có những lúc ba trẻ em đó đã lung lạc đức tin, nghi ngờ về sự hiện ra của Ðức Mẹ.

Và chúng ta cũng thế.  Ðể cho sứ điệp của niềm tin và tình yêu của Thiên Chúa được công bố và triển nở, thì trên hành trình đức tin thế nào cũng có lúc chúng ta phải trải qua giai đoạn thử thách, thử thách có tác dụng thanh luyện đức tin của chúng ta mỗi ngày một tinh tuyền hơn và triển nở hơn. Chỉ trong thử thách và qua thử thách, chúng ta mới nhận ra đức tin của chúng ta có phải là sức sống, là nguồn sinh lực bắt nguồn từ Thiên Chúa, lan tỏa và điều khiển mọi thái độ, lời nói, cử chỉ, hành vi và củng cố các tương quan của chúng ta, hay chỉ là những lời tuyên bố trống rỗng, hời hợt, những tuyên xưng không có cơ sở, những lời nói bị điều khiển bởi một ai khác hay một thế lực bất chính nào đó.

***************

Lạy Chúa, xin cho chúng con nhận ra hiện trạng thực của đời sống đức tin mình, để chúng con luôn biết so dây cuộc sống, nhờ đó những bài ca của cuộc đời chúng con được tấu lên mỗi ngày một tha thiết và du dương hơn theo cung bậc nghiêm trang của tình yêu, niềm tin, khởi đi từ chính Ngài là nguồn mạch của mọi sự.

R. Veritas