TRUYỀN TIN CHO CẢ TÔI NỮA! (có Youtube)

Rất hợp lý Chúa Nhật 04 mùa Vọng trình bày cảnh truyền tin cho Đức Maria, một biến cố cụ thể và thiết thực nhất trong việc thể hiện mầu nhiệm Thiên Chúa làm người.  Thế nhưng khi Giáo Hội mời gọi tôi chiêm ngắm biến cố đó, có phải chỉ vì muốn kể cho tôi biết về các sự kiện liên quan tới việc Hài Nhi sắp sinh ra để giúp tôi thêm hiểu biết dọn mình mừng lễ Giáng Sinh?  Nếu đúng thế thì khi chiêm ngắm quang cảnh này, tôi vẫn chỉ là người ngoài cuộc bàng quang, có chăng là chờ đợi để được hưởng một vài kết quả may mắn nào đó mà sự kiện này có thể mang đến cho mình?

“Trong mầu nhiệm Nhập thể Thiên Chúa làm người,” tác giả Brisson đã tóm lược như thế này khi nói về linh đạo của Thánh Phan-xi-cô Sa-lê, “không phải chỉ một ‘Chúa – Người’ duy nhất có thể kết hiệp với Thiên Chúa.  Trong kế hoạch thần linh, không phải Thiên Chúa chỉ kết hợp với một người để biến người đó thành ‘Chúa – Người’, nhưng Ngài còn muốn nhập thể được ứng dụng cho hết thảy mọi người.  Qua nhập thể Thiên Chúa muốn đi vào trong tương quan với hết thảy nhân loại.  Ngài muốn nhập thể trong mọi người, đương nhiên không phải dưới dạng hai bản tính nên một (hypostatic), nhưng không kém phần hữu hiệu và biến đổi trong tất cả những ai sẵn sàng và chuẩn bị đón nhận… Nhập Thể trên thực tế lan rộng tới mọi phần tử của Nhiệm Thể Đức Ki-tô tức là Hội Thánh.”  (Louis Brisson, Cor ad Cor, trg. 143).

Nếu quả đúng là như thế thì biến cố truyền tin khởi đầu mầu nhiệm nhập thể cũng phải là biến cố dành cho mỗi Ki-tô hữu chúng ta; chính tôi cũng được truyền tin!  Có thể tạm hiểu điều này như sau: Sứ thần [đức tin] đến với tôi, một kẻ thấp hèn, và chào: “Mừng vui lên, hỡi [người] đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng [bạn].”  Tôi sẽ tự hỏi, mình mà được “đầy ân sủng” sao?  Chắc đi rồi, vì ân sủng chính là lòng nhân ái xót thương Thiên Chúa hằng đổ tràn trên tôi.  Hội Thánh cho biết ân sủng nhân ái này được ban nhưng không (gratis), nghĩa là không do bất cứ công nghiệp nào của tôi.  Hơn thế nữa Phao-lô còn muốn tôi hiểu rằng: nơi đâu càng tội lỗi thì ân sủng Chúa càng dư tràn (xin xem Thư Rô-ma chương 5 đặc biệt câu 20).  Gia-kêu, đứa con hoang đàng, Ma-đa-lê-na… là một số trường hợp điển hình và tiêu biểu.  Mỗi khi nhận ra mình tội lỗi, tôi tạo ra cho Chúa dịp thi thố lòng thương xót thứ tha; lúc đó Thánh Linh hầu như cũng nói với tôi: “Đừng sợ, vì [bạn] đẹp lòng Thiên Chúa… bạn đã làm cho hài nhi Giêsu được sinh hạ nơi mình, vì Hài Nhi giáng trần vốn chỉ với mục đích làm cho mọi người nhận biết tình thương cứu độ của Thiên Chúa.”  Đối với Maria trong tư cách một phụ nữ Do Thái, thì sứ thần loan báo: Hài Nhi sắp hạ sinh sẽ “được gọi là Con Đấng Tối Cao, Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người.  Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại Người sẽ vô cùng vô tận”, nhưng đối với một Ki-tô hữu như tôi, hệt như Maria tin yêu trong suy niệm Tin Mừng nơi thẳm sâu cõi lòng, tôi cũng sẽ được loan báo cho biết: Hài Nhi giáng trần chính là ‘Thiên Chúa, Đấng cứu độ… hằng đoái thương nhìn đến phận hèn… đời nọ tới đời kia Chúa hằng thương xót… và lòng thương xót đó dành cho tổ phụ Ap-ra-ham và cho con cháu đến muôn đời’ (Lc 1:46-55).  Có lẽ trong thâm tâm nhiều lúc tôi cũng đã thốt lên: “Việc ấy xảy ra cách nào… vì con thật không đáng được thương xót thứ tha.”  Nhưng tôi nhận được lời đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bạn, và quyền năng Đấng tha thứ sẽ rợp bóng trên bạn, vì thế Đấng Thánh bạn mang nơi mình sẽ được gọi là Con Thiên Chúa cứu độ.”  Phúc Âm chỉ cho tôi thấy người phụ nữ ngoại tình, tên cướp cùng chịu đóng đinh với Đức Giêsu đã được tha thứ như thế nào, và lúc đó đức tin cũng sẽ trấn an tôi “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được… không có tội nào mà không tha thứ được.”  Và lúc đó tôi cũng chỉ có thể khiêm tốn cùng với Maria đáp lại: “Vâng, con đây chỉ là người tội lỗi thấp hèn, Xin Chúa cứ làm cho con như lời hứa của Tin Mừng cứu độ!”

Giáng sinh đã gần lắm rồi!  Nếu không thật sự coi việc truyền tin của đức Maria đang được lặp lại với mình mỗi dịp Sinh Nhật, có lẽ hệt như những năm trước, tôi sẽ lại chỉ lo dọn mừng lễ thật to, thật long trọng, nhưng vẫn chỉ như một khách bàng quang cử hành lễ hội; nội dung Giáng sinh vẫn ở xa tít tắp đâu đâu.  Truyền tin là cho tôi, và Giáng sinh cũng là cho tôi, vì tôi trong tình trạng hiện sinh của mình cần phải như thế!

Lạy Mẹ Maria, trong bài ca ‘Magnificat’, chính Mẹ đã nội tâm hóa biến cố truyền tin theo suy nghĩ sâu lắng của cõi lòng.  Mẹ đã thấu hiểu cưu mang Đấng Cứu Thế chỉ là một phần của điều quan trọng hơn nhiều, đó là nhận biết Chúa hằng thương xót.  Xin giúp con hiểu được cuộc truyền tin của con, và cùng với Mẹ, ca ngợi lòng thương xót Chúa trong mùa Giáng Sinh này.  Amen!

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

GIỚI RĂN YÊU THƯƠNG

Tuần báo Newsweek số ra ngày 10/8/1993 đã ghi lại một sáng kiến mới lạ tại Nhật, đó là “Sư máy”. Vị sư máy này, mới nhìn qua, không khác gì vị tu hành thực thụ: đầu cúi xuống, mắt khép lại, môi và các cơ bắp trên gương mặt cử động theo nhịp cầu kinh ghi sẵn, một tay cầm chuỗi đưa lên, một tay thì gõ mõ.  Mỗi vị sư máy có thể cầu kinh không biết mỏi mệt, và có thể thuộc toàn bộ kinh kệ của mười giáo phái Phật giáo khác nhau tại Nhật.  Sáng kiến này được đưa ra nhằm đáp ứng cho nhu cầu ơn gọi sư sãi ngày càng khan hiếm trong các Giáo hội Phật giáo tại Nhật.  Tuy nhiên, như tác giả bài báo ghi nhận: những cái máy làm được mọi sự, duy chỉ một điều chúng không thể làm được, đó là chúng không biết yêu thương.

***************

Yêu thương là đặc điểm của con người.  Thú vật có thể có cảm giác, nhưng đó không hẳn là yêu thương.  Chỉ có con người được tạo dựng theo và giống hình ảnh Thiên Chúa tình yêu mới thực sự được mời gọi yêu thương mà thôi.

Tin Mừng hôm nay nhắc lại cho chúng ta ơn gọi cao cả của con người.  Trả lời cho thắc mắc của luật sĩ, Chúa Giêsu đã thu tóm tất cả lề luật thành một giới răn duy nhất là mến Chúa và yêu người.  Hai mệnh lệnh này là một giới răn duy nhất, bởi vì không thể kính mến Chúa mà lại ghét bỏ hình ảnh của Ngài là con người, cũng như không thể yêu thương con người mà lại không nhận ra và yêu mến Thiên Chúa là nguồn mạch tình yêu chân thật.  Tách biệt hai mệnh lệnh ấy là chối bỏ tình yêu.  Các luật sĩ và các biệt phái thời Chúa Giêsu quả là những người đạo đức: họ ăn chay, cầu nguyện và tỏ ra yêu mến Thiên Chúa hơn ai hết; thế nhưng Chúa Giêsu đã điểm mặt họ là những kẻ giả hình, bởi vì lòng yêu mến Chúa nơi họ không được thể hiện bằng tình yêu đối với tha nhân.  Chúa Giêsu còn gọi họ là những mồ mả tô vôi, bên ngoài thì bóng loáng, nhưng bên trong thì thối rữa.  Có thể so sánh thái độ giả hình ấy với một người máy: người máy có thể làm được nhiều cử chỉ ngoạn mục, nhưng không có một tâm hồn để yêu thương thực sự.

Yêu thương là kiện toàn lề luật; yêu thương là cốt lõi, là linh hồn của Ðạo.  Ði Ðạo, sống Ðạo, giữ Ðạo, xét cho cùng chính là yêu thương; không yêu thương thì con người chỉ còn là một thứ người máy vô hồn.  Thánh Gioan Tông đồ, người đã suốt đời sống và suy tư về tình yêu, vào cuối đời, ngài đã tóm gọn tất cả thành một công thức: “Thiên Chúa là Tình Yêu”, và ngài dẫn giải: “Ai nói mình yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em thì đó là kẻ nói dối, bởi vì kẻ không yêu thương người anh em nó thấy trước mắt, tất không thể yêu mến Ðấng nó không thấy”.

Nguyện xin cho cuộc sống của chúng ta ngày càng được thanh luyện và gần gũi hơn với cốt lõi của Ðạo là Yêu Thương.

Đ.Ô. Phêrô Nguyễn Văn Tài

***************

Lạy Chúa,
Ước gì con có thể yêu Chúa
Bằng một trái tim sốt mến,
Dứt khoát hiến dâng!
Ước gì con biết yêu Chúa vì Chúa
Và ở lại trong tình yêu Chúa
Như những nhà thần bí lớn đã biết yêu Chúa…
 
Chớ gì con có thể đồng thời yêu anh em
Bằng một trái tim nhân từ, niềm nở thủy chung,
Vì Chúa, vì anh em,
Mà vẫn đơn sơ, chân thành,
Ân cần săn sóc, hoà mình với họ,
Luôn sẵn sàng yêu mỗi người,
Yêu mọi người, xem tất cả là Dân Chúa.
 
Chớ gì con biết yêu anh em
Như Chúa yêu họ, như Chúa yêu con….
Song lạy Chúa, đâu có dễ như vậy
Đối với trái tim phàm hèn con,
Bao giờ cũng chứa đầy tự ái,
Có lúc lạnh lùng như sắt đá,
Có lúc quá trớn bồng bột…

Jean Dozolme

YÊU

Minh Sư  rất thích thú với những phát minh mới mẻ.  Khi nhìn thấy một chiếc máy tính nhỏ nằm gọn trong túi áo, ngài rất đỗi ngạc nhiên.

Về sau ngài nói như mỉa mai : “Nhiều người xem ra rất thích thú khi sở hữu những chiếc máy tính cỏn con đó, nhưng trong túi của họ không có gì đáng để tính cả! ”

Thời gian sau, một khách hành hương hỏi ngài đã dạy cho đệ tử điều gì, Minh Sư trả lời: “Phải biết đặt đúng những ưu tiên: thà có tiền hơn là được đếm tiền; thà có kinh nghiệm hơn là biết định nghĩa về kinh nghiệm;  thà được yêu hơn là được hiểu biết về tình yêu

(Anthony de Mello, trích trong “One Minute Wisdom” )

***************

Bạn thân mến!  Lời Chúa trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến chữ YÊU: “Ngươi phải yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi.” (Mt.22:37).  Và đó cũng là câu trả lời cho những người Pharisêu khi họ hỏi thử Đức Giêsu:  “Trong sách luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn quan trọng nhất” ( Mt. 22:36)

Tất cả điều răn của Kitô giáo được tóm gọn trong một chữ YÊU. Tình yêu là cốt lõi của đời sống Kitô, vì Thiên Chúa là Tình Yêu (1Ga 4:8).  Chính vì tình yêu mà Ngôi Hai con một Thiên Chúa đã đến thế gian, mặc lấy thân phận con người, sống như con người và chết cho con người được sống… Tất cả chỉ vì một chữ YÊU

Lời Chúa hôm nay mời gọi ta hãy lấy tình yêu đáp trả tình yêu.  Hãy yêu mến Thiên Chúa , không phải với một tình yêu hời hợt nửa vời, nhưng là tình yêu với cả con tim của ta, với cả linh hồn và thân xác của ta …Khi yêu là lúc ta mạnh dạn bước vào một đại dương mênh mông, là dấn thân trên một con đường dài hun hút. Tình yêu cứ vẫy gọi trước mặt.  Tình yêu giúp ta mạnh dạn bước đi mà không biết mệt mỏi, không còn sợ hãi nữa … Và nếu một khi ta giới hạn tình yêu cũng là lúc ta bóp chết tình yêu.

Lời Chúa hôm nay đã liên kết tình yêu Thiên Chúa với tình yêu tha nhân: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mt.22:39).  Yêu Thiên Chúa và yêu tha nhân là hai điều răn lớn nhất, quan trọng nhất và không thể tách rời nhau. Tình yêu tha nhân là thước đo tình yêu Thiên Chúa.  Vì nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối” (1Ga.4:20)

Lời Chúa hôm nay cũng là một nhắc nhở cho tôi phải suy xét về lối sống của mình.  Như ánh sáng của ngọn đèn luôn luôn có đó, khi tôi đến gần ngọn đèn, tôi được ánh sáng chiếu soi.  Hơi ấm của ngọn lửa cũng luôn luôn có đó,  khi tôi đến gần ngọn lửa, tôi được sưởi ấm. Tương tự như vậy, khi tôi đến gần Thiên Chúa, tôi được tình yêu của Ngài bao bọc che chở. Vì Ngài là tình yêu nên tình yêu của Ngài luôn luôn có đó cho tôi hưởng nhờ.  Gần Ngài tôi được hạnh phúc vì tôi được sống và được bao bọc bởi tình yêu.  Xa Ngài, tôi sẽ phải sống trong u sầu thất vọng và  đen tối vì thiếu vắng tình yêu.

Mời bạn cùng với tôi, chúng ta hãy dành ra đôi ba phút ngắn ngủi cùng nhau đi vào lòng mình để tìm gặp khuôn mặt của Thiên Chúa.  Ngài ở nơi đâu trong cuộc sống của tôi ? Ngài là ưu tiên thứ mấy trong những ưu tiên cần thiết của cuộc đời tôi ? Và tôi có thực sự yêu mến Ngài không?  Còn người anh em thân cận với tôi nữa … Lời nói nào tôi đã nói với họ ? Cung cách và lối cư xử nào tôi đã dành cho họ ? Tôi có nhìn thấy khuôn mặt của Chúa nơi người anh em thân cận với tôi không ? Ngài ở đâu ? Ngài ở nơi đâu ?

***************

Lạy Chúa, đã nhiều lúc con nghĩ rằng: ”Con phải yêu mến Chúa để cho Chúa được vui, cho Chúa được hạnh phúc”.  Nhưng không phải thế, con đã nghĩ sai vì nếu con không yêu mến Chúa là con bị thiệt thòi và mất mát: thiệt thòi cho niềm vui trong cuộc sống hôm nay và mất mát hạnh phúc trong cuộc sống đời đời mai sau … Xin cho con luôn khắc ghi trong lòng để thực thi lời nhắn nhủ mời gọi của Chúa trong Tin Mừng hôm nay: Yêu Chúa và mến thương tha nhân như chính mình,  Amen.

Linh Xuân Thôn

TRUYỀN ĐẠT

Một lần tôi được mời dâng Lễ Trọng ở cộng đoàn các soeur có các em nội trú người Dân Tộc. Vì không biết cộng đoàn thường đọc hay hát các Bộ Lễ nào (Kinh thương xót, Vinh Danh, Tin Kính, Amen, Lạy Cha) nên tôi nói một em giúp Lễ người Dân Tộc ra hỏi soeur đánh đàn cho biết bài nào hát, bài nào đọc, để tôi biết đường mà xướng.  Em đi ra một lúc rồi vào nói: “Dạ”.  Tôi không hiểu chữ “dạ” có nghĩa gì, nhưng vì ca đoàn đã bắt đầu hát Ca Nhập Lễ nên tôi thấy không tiện để hỏi thêm nên đánh liều dâng Lễ.  Tôi thầm nhủ cứ khi nào mà soeur dạo đàn thì tôi xướng theo, còn không dạo đàn thì đọc.

Thông thường trong các Thánh Lễ Trọng, Kinh Vinh Danh thì được hát.  Nhưng sau khi hát Kinh Thương Xót, tôi chẳng nghe tiếng dạo đàn nhưng tôi vẫn cứ xướng hát Kinh Vinh Danh và cộng đoàn cùng hát, nhưng không có đàn đệm.  Tôi ngó xuống thấy soeur phụ trách và soeur đánh đàn nói chuyện gì với nhau và một lúc sau thì có tiếng đàn đệm.  Kinh Tin Kính thì đọc, và Kinh Lạy Cha thì cộng đoàn hát.  Quả thật tôi bị lọng cọng trong Thánh Lễ đó.

Cuối Lễ tôi ra gặp soeur đánh đàn để xin lỗi soeur vì chưa biết các tục lệ riêng của cộng đoàn làm cộng đoàn bị chia trí trong Thánh Lễ này.  Tiện tôi hỏi soeur em giúp lễ nói gì với soeur.  Ánh mắt soeur lúc đó không vui lắm.  Soeur nói em giúp lễ nói tôi muốn đọc các Kinh trong Bộ Lễ…  Tôi giải thích lại cho soeur hiểu là tôi nhờ em ra hỏi soeur muốn tôi xướng đọc hay hát… cả hai cùng cười phì.  Tôi bắt gặp ánh mắt thân thiện của soeur và hai người trò chuyện hồi lâu.  “Các em người Dân Tộc là vậy đó,” soeur chia sẻ, “mình nói với em và tưởng em hiểu, té ra nó chẳng hiểu chi hết, nên nhiều lúc cần lắm nhưng mình cứ làm cho xong, chứ nhờ các em mình lại phải sửa lại nữa.”

***************

Biến cố này làm tôi liên tưởng đến kinh nghiệm của người Việt tị nạn khi mới qua xứ Mỹ.  Tiếng Anh tiếng em còn ú ớ, mù mờ, chỉ biết có mấy chữ lõm bõm, nhiều lúc nghe người Mỹ hỏi chữ được chữ không.  Không hiểu nhưng không dám hỏi lại mà cứ trả lời “yes, yes” đại.  Thường thì không sao, nhưng khi đụng chuyện thì hỡi ôi… nhiều lúc cười ra nước mắt, và nhiều lúc đau mắc nghẹn.  Nhờ những kinh nghiệm đau thương này nên tôi dễ thông cảm hơn cho các em Dân Tộc khi sống với người Kinh.  Cả đời các em sống trong buôn làng, nói chuyện với nhau chỉ bằng tiếng Dân Tộc, lâu lâu mới nói vài ba tiếng Kinh.  Đi học thì học bằng tiếng Kinh và đâu có hiểu hết như các em người Kinh, nên điểm của các em Dân Tộc lúc nào cũng thấp hơn các em người Kinh.  Chính phủ hiểu điều này và dùng nhiều cách để nâng đỡ các em Dân Tộc, thí dụ như điểm để vào đại học của các em Dân Tộc thấp hơn so với người Kinh.  Dù được nâng đỡ điểm, các em Dân Tộc thi đậu vào Đại Học cũng rất ít.  Một trong những thách đố lớn nhất của các em Dân Tộc là dù có học khá nhưng gia đình làm nương rẫy còn chưa đủ ăn thì làm sao các em có môi trường tiến xa hơn trên đường học vấn.

Quan sát các em nội trú do các soeur giúp nuôi ăn học thì mới thấy công sức của các soeur rất đáng trân trọng.  Tôi thiết nghĩ một trong những điều khó nhất để sống với các em Dân Tộc là sự kiên nhẫn chịu đựng.  Lối sống của các em quê mùa trong khi các soeur là “ông tổ” của sự ngăn nắp.  Các soeur ham học hỏi nghiên cứu trong khi các em chỉ ham vui.  Ngắm nhìn sự kiên nhẫn, chịu đựng, dạy dỗ của các soeur tôi thấy hình bóng của Thiên Chúa phảng phất đâu đó.  Có một soeur kể rằng, một lần các em rửa xe đạp ở sân trên thì nước chảy xuống sân duới, ngay chỗ một nhóm các soeur khác đang phơi cá khô và măng khô ở dưới đất.  Nước tràn xuống ướt ngập cả măng lẫn cá.  Các em thấy nhưng vẫn cứ tiếp tục rửa xe.  Đến khi phát giác thì cá, măng đã ướt đẫm.  Hỏi các em sao không báo, các em nói nước chảy xong thì có nắng nên măng, cá lại khô… có chi mà phải lo!  Một lần khác mưa sắp đến, các soeur nói các em phụ đem cá phơi ngoài sân vào, các em đang phụ mang cá khô vào thì mưa lớn ào đến và… các em chạy vào hết … để cá khô tắm mưa!  Các em Dân Tộc là vậy đó.  Sống với các em mà thiếu tình thương như người mẹ hiền thì khó đến được với các em.  Chỉ có tình mẹ hiền thương con như các soeur mới có thể chịu đựng những cái khờ khạo của các em.

Một thầy Dòng trông coi nội trú các em Dân Tộc nam chia sẻ với tôi, lâu lâu thầy bị nhà trường gọi lên: “Em đó đã không làm bài tập ở nhà mà giáo viên hỏi tại sao, em còn trả lời ‘đếch làm’.  Thầy là người trông coi các em phải nhắc nhở các em làm bài và dạy bảo các em lễ nghĩa.  Giá như học sinh người Kinh thì tôi đã đánh cho mấy roi rồi.”  Thầy về nhà vừa la vừa khuyên để các em biết thay đổi.  Sống với các em và hướng dẫn các em ở nhà còn khó hơn các giáo viên đến mấy bậc.  Nếu không có tình thương để kiên nhẫn và chịu đựng với các em, đặc biết là trong tuổi dậy thì mới lớn, thì không thể cảm hóa được các em.

Nhìn ngắm các soeur các thầy ở với các em làm tôi liên tưởng đến hình ảnh Đức Giêsu.  Là Thiên Chúa nhưng chấp nhận mặc lấy thân phận con người yếu hèn để chung sống với con người và cảm hóa con người.  Ngôi Hai đến thế gian để truyền đạt cho con người tình thương và khuôn mặt của Thiên Chúa cho đoàn con lạc lối.  Qua bao nhiêu gian nan thử thách trong thân phận con người, Chúa Giêsu đã phải kiên nhẫn chịu đựng sự vụng về, quê mùa, dốt nát, bất phục tùng của con người, cộng thêm với tính khoác lác và kiêu hãnh của họ nữa.  Chúa Giêsu đã dùng ngôn ngữ của loài người để nói với con người nhưng họ vẫn khờ khạo không hiểu.  Càng thấy con người khờ dại bao nhiêu thì lại thấy sự chịu đựng và lòng khoan nhân của Thiên Chúa bấy nhiêu.

Đức Giêsu nói: “Anh chị em hãy ăn Thịt Tôi và uống Máu Tôi để được sống” thì con người nói chướng tai quá (Ga 6:53, 60).  “Anh phải được sinh ra một lần nữa thì mới vào được Nước Trời” mà một nhà thần học gia có tiếng như Nicôđêmô nghe như vịt nghe sấm chẳng hiểu chi cả (Ga 3:3).  Và một lần ở đền thờ Giêrusalem, Đức Giêsu tuyên bố: “Tôi và Cha Tôi là một” và xém chút nữa cả thầy lẫn trò bị ném trong biển đá vì con người nói rằng Đức Giêsu nói phạm thượng (Ga 10:30-31).  Con người ngu dốt đến nỗi không ý thức được những việc mình đang làm.  Khi gần chết, Đức Giêsu vẫn tiếp tục xin Chúa Cha tha cho con người vì chúng không biết việc chúng làm (Lc 23:34).  Càng nhìn lại sự ngu tối của con người thì lại cảm nghiệm sự kiên nhẫn chịu đựng và lòng nhân từ của Thiên Chúa.  Càng thấy các em Dân Tộc lơ đãng ham vui và sống quê mùa như ở buôn làng, càng thấy sự kiên nhẫn và tình thương của các soeur các thầy chăm lo cho các em.

***************

Lạy Chúa, càng suy gẫm về sự chịu đựng và lòng nhân hậu của Chúa, chúng con càng thấm thía tình thương Chúa dành cho loài người.  Con người bất tài đam mê yếu hèn mà Chúa lại tin tưởng trao cho sứ mạng đại diện Chúa để truyền đạt tình thương của Chúa.  Lạy Chúa, xin cho mỗi người chúng con cảm nghiệm được sâu xa tình thương của Chúa để mỗi người chúng con mạnh dạn dấn thân lên đường truyền đạt lại Tình Yêu Thương nhiệm mầu đó.  Amen!

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.
October 19, 2008

TINH THẦN KHÓ NGHÈO

Cứ nói đến ba lời khấn, tâm lý thông thường ai cũng nghĩ chuyện của những người tu hành.  Mùa hè là mùa khấn tại Việt Nam.  Hết Hội Dòng này được Tiên Khấn, đến Tu Hội kia được Khấn Trọn, còn giáo dân thì chẳng nghe ai được khấn.  Tôi thiết tưởng ba lời khấn chẳng phải chỉ dành riêng cho tu sĩ nhưng là lời mời gọi của Thiên Chúa, qua Giáo Hội, áp dụng cho tất cả những ai đón nhận Lời Chúa và đem ra thực hành.  Đó là tất cả những Kitô Hữu, những người môn đệ muốn sống theo tinh thần Đức Giêsu Kitô.

Lời khấn đầu tiên là Khó Nghèo.  Mỗi lần đến giảng tĩnh tâm Linh Thao cho các Dòng tại Việt Nam, là mỗi lần tôi được Bề Trên Hội Dòng nhắc nhở: “Xin cha giúp các anh chị em chúng con chuẩn bị khấn.”  Câu nhắn nhủ đó ngụ ý giúp anh chị em hiểu rõ hơn về ba Lời Khấn để tuyên thệ.  Khi hỏi về lời khấn khó nghèo, tôi thường được nghe trả lời: “Là không dính bén đến vật chất, tiền của.”  Tôi thiết nghĩ tiền của, vật chất chỉ là một phần nhỏ của lời khấn này.  Có khi tôi chẳng có đồng xu dính túi nhưng chẳng sống khó nghèo tí nào.  Có khi tiền đầy túi mà vẫn sống đúng với tinh thần Khó Nghèo.

***************

Sau vài năm làm thiện nguyện ở các trại tị nạn, tôi về lại Mỹ và gia nhập vào Dòng Tên, trong tay không một xu dính túi.  Vì tôi quen sống với người nghèo nên tôi thích sống nghèo theo nghĩa đen mà thôi.  Vào Tập Viện, đã bao lần tôi bị bề trên quở trách vì não trạng này.  Một lần tôi mua được một đôi giày Nike $9.99, giảm giá 70%, tôi háo hức đem về khoe với anh em.  John Chandler, cha quản lý, không những không khen mà còn mắng:  “Anh tiếc tiền mua đôi giày xấu và rẻ tiền này để sau này chân bị đau thì Nhà Dòng còn tốn tiền gấp mấy trăm lần để chữa trị cho anh.  Sau này xương cốt anh bị đau nhức làm sao mà phục vụ lâu dài được.”  Tiền xài vặt mỗi tháng tôi được $20 và chẳng khi nào xài hết.  Tôi có khuynh hướng tự hào là sống khó nghèo, dù không nói ra, tôi thầm chê và xét đoán các anh em khác.

Tôi sống nghèo theo nghĩa đen nhưng chẳng sống tinh thần Lời Khấn Khó Nghèo tí nào.  Anh bạn nhờ tôi sửa dùm cái chốt cửa vì nó bị kẹt, mà tôi rất khéo léo trong việc sửa chữa mấy thứ lặt vặt này, nhưng tôi nhanh nhẩu từ chối vì tiếc thời giờ của mình.  Tất cả thời giờ tôi có thì tôi cất đi, để dành riêng cho tôi.  Bởi vì không chia sẻ với ai, nên tôi giàu có thời giờ lắm.  Ai nhờ tôi khiêng đồ phụ một chút thì tôi nại đủ lý do để từ chối vì tiếc công sức.  Ai nói xấu về một người mà tôi không ưa thì tôi cũng mau miệng thêm dầu vào lửa, cho nên tôi nghèo nàn về những lời bác ái.  Tôi sống lời khấn Khó Nghèo theo nghĩa đen, mà tai hại hơn nữa là tôi dùng nó để xét đoán vẻ bên ngoài của người khác.  Sống tinh thần Khó Nghèo là chuyện còn xa vời hơn nữa.

Khi Đức Giêsu ở trên núi giảng dạy: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5:3), lời chúc phúc này dành cho tất cả các môn đệ theo Chúa, đâu phải chỉ dành riêng cho mấy đấng bậc tu hành.  Mà thời đó làm gì có các Hội Dòng để Chúa Giêsu chúc phúc.  Như vậy, lời chúc lành của Chúa Giêsu là cho những tâm hồn nghèo khó, những người mang lấy tinh thần khó nghèo.  Bạn và tôi có tâm hồn hay tinh thần nghèo khó chưa để đón nhận lời chúc phúc của Thiên Chúa Hằng Sống?

Tôi có nghèo nàn những ánh mắt cảm thông và tha thứ?
Tôi có nghèo nàn những lời nói ủi an, khuyến khích và bác ái?
Tôi có nghèo nàn những bàn tay dang rộng đón nhận kẻ hối nhân trở về và ban phát tình thương?
Trái tim tôi có nghèo nàn chẳng biết rung cảm khi thấy anh chị em gặp nạn?
Tâm hồn tôi có nghèo nàn vì không cảm thấy thèm khát Lời và Mình Máu Thánh Chúa?

Ơn gọi của người Kitô hữu là theo chân Chúa Giêsu Kitô, được mời gọi sống theo tinh thần của Ngài.  Tinh thần nghèo khó của Thiên Chúa là tâm hồn từ bỏ mọi sự, không dính bén, bám víu vào các tạo vật.  Tôi cầm một món tiền lớn trong tay để sử dụng cho một nhu cầu cần thiết mà tôi chẳng hề dính bén gì tới số tiền ấy thì tôi đang sống với tinh thần nghèo khó.  Tôi sống đúng với tinh thần khó nghèo của Chúa Giêsu khi tôi dành nửa giờ nói chuyện với cha mẹ, ông ngoại bà nội, hay chơi với các em của tôi.  Tôi mang một tâm hồn nghèo khó khi tôi thèm khát tình thương của Thiên Chúa, khi tôi đói Lời Chúa và Mình Máu Thánh Chúa.  Tâm hồn nghèo khó thì muốn ban phát thời gian, công sức cho người chung quanh, biết nhìn bằng ánh mắt cảm thông và tha thứ, biết trao tặng những lời ủi an, khuyến khích và bác ái, biết nới rộng tay nối lại tình Chúa, tình con, và mối tương quan với anh chị em.

***************

Lạy Chúa, nếu con chỉ biết sống theo nghĩa đen của lời khấn, thì chắc con không khá gì hơn các Pharisêu thời xưa vì họ sống rất nghiêm ngặt, sát với nghĩa đen của Lề Luật hơn con nhiều.  Xin thức tỉnh con để con biết ý thức sống tinh thần Khó Nghèo, để tâm hồn không còn dính bén vào một tạo vật nào ngoài Chúa.  Con không thể làm tôi hai chủ, xin luôn nhắc nhở để con biết sử dụng những thứ mau qua này như một phương tiện sinh lời cho Chúa, cho Giáo Hội, cho anh chị em chung quanh, và cho chính bản thân con.

Lạy Chúa, xin cho con biết can đảm dọn dẹp những túi hành trang lỉnh kỉnh trong tâm hồn mình để lòng con trở nên nghèo nàn và thèm khát sức sống của Chúa.  Chỉ khi nào con đói khát Chúa như người ở dưới nước đói khát không khí thì con mới biết bám vào Chúa trọn vẹn.   Mang thân phận con người yếu đuối mỏng dòn và đầy những đam mê, con chất vào tâm hồn mình những “muồng heo” dơ bẩn ô uế của Tivi, phim ảnh, nhạc kích động, chat, game, email, quảng cáo, nên chẳng còn chỗ trống, giờ trống nào cho Chúa ngự trị.  Xin cho con được cảm nghiệm Tình Yêu và Ân Sủng Chúa để con trọn vẹn thuộc về Chúa. Amen.

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.
October 10, 2008

HÃY ĐÓN NHẬN CON TRAI TÔI (có Youtube)

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban CON MỘT, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời.” (Ga 3,16).

Một nhà triệu phú và đứa con trai rất đam mê sưu tầm những họa phẩm hiếm nổi tiếng.  Họ đã thu thập được hết thảy những bức tranh tuyệt tác của các danh họa lừng danh trên thế giới, từ Picasso tới Raphael.  Hai cha con thường ngồi bên nhau để thưởng lãm và ca ngợi những nét vẽ thần tình và linh động tuyệt vời của các bức họa mà họ đã ra công sưu tầm được.

Khi chiến tranh bùng nổ, người con nhận được lệnh gọi phải nhập ngũ.  Sau một thời gian huấn luyện, anh theo đơn vị ra chiến trường.  Anh tỏ ra một chiến sĩ dũng cảm và rất yêu thương đồng đội, nhưng anh đã phải hy sinh nơi trận địa trong lúc cứu mạng sống của một đồng đội.  Khi nhận được hung tin, người cha vô cùng đau đớn về cái chết đột ngột của người con trai duy nhất của ông.

Khoảng một tháng sau, ngay trước Lễ Giáng Sinh, vào một buổi xế chiều người cha đang ngồi ngắm nghía những bức họa mà lúc sinh thời người con ưa thích; thình lình nghe tiếng gõ cửa ông đứng lên bước ra mở cửa.  Một thanh niên lạ mặt hai tay ôm một gói lớn, cất tiếng chào.

–    Kính chào Bác, chắc chắn Bác chưa từng biết cháu là ai, cháu xin phép được tự giới thiệu: cháu là người lính đã được con trai Bác cứu mạng trong một cuộc đụng độ.  Anh ấy đã cứu rất nhiều bạn đồng đội trong ngày hôm ấy và trong khi đang vực cháu vào chỗ nấp an toàn, anh đã bị một viên đạn của đối phương bắn trúng ngay tim và gục ngã tức thời.

Trong những ngày còn tại thế, chúng cháu sống bên nhau, anh ấy thường hay nhắc đến Bác rất nhiều với cháu, và kể cho cháu nghe về sự ưa chuộng và mê say những tác phẩm hội họa của Bác, cũng như Bác đã giảng giải cho anh về những nét vẽ tinh vi và khác biệt của từng họa sĩ.  Anh thanh niên đưa gói quà ra và trịnh trọng tiếp lời:

–    Cháu biết, bức tranh này chẳng đáng giá gì so với bộ sưu tập của Bác.  Cháu không phải là một họa sĩ nổi tiếng, nhưng cháu nghĩ rằng người con trai Bác, cũng là ân nhân cứu mạng cháu nên cháu ước ao xin Bác chấp nhận bức họa này.

Người Cha đưa tay đỡ lấy và từ từ mở gói quà ra.  Trước mặt là một bức chân dung của con trai ông đã được người thanh niên vẽ.  Ông thất thần trố mắt chăm chú nhìn bức chân dung mà người họa sĩ quân nhân đã lột trần được cái tinh anh của con trai ông qua nét vẽ thật tài tình.  Đôi mắt người cha đã tuôn trào đẫm lệ lôi cuốn bởi đôi mắt người con trên bức tranh.  Ông cám ơn người thanh niên và ngỏ ý muốn trả tiền cho bức tranh.  Người thanh niên vội đáp:

–    Thưa Bác không, đây là một món quà cháu kính biếu bác, cháu không có gì xứng đáng để có thể đền đáp được ơn cứu sống của con trai bác đã hy sinh mạng sống của mình cho cháu.

Người cha liền treo bức hình đó trong phòng trưng bày những sưu tầm chính của ông.  Mỗi khi có khách viếng thăm, ông thường dẫn đến xem bức hình của con trai ông trước rồi mới dẫn đi xem những bức tranh sưu tầm nổi tiếng khác.

Sau một thời gian ngắn, người cha cũng ra đi về nơi vĩnh cửu.  Một cuộc đấu giá vĩ đại được tổ chức tiếp theo.  Rất nhiều người có uy thế chung quanh vùng quây quần đến, nôn nao muốn được xem những họa phẩm nổi danh của người quá cố và hy vọng có cơ hội mua được một trong những tác phẩm này để thêm vào cho bộ sưu tầm của họ.

Bức tranh người con trai được trưng bày ngay giữa bục đấu giá.  Người điều khiển cuộc bán đấu giá gõ búa lên tiếng tuyên bố:

–    Thưa quý quan khách, chúng tôi bắt đầu cuộc đấu giá hôm nay, khởi sự bằng bức tranh người con trai của cố chủ nhân.  Ai trong quý vị muốn đấu giá bức họa này?

Mọi người đều lặng thinh.

Rồi một giọng nói từ phía sau la lên:

–    Xin thông qua bức tranh này, chúng tôi muốn được xem những bức họa nổi tiếng khác.

Nhưng người điều khiển đấu giá không để ý đến lời nói vẫn tiếp tục:

–    Đây bức tranh người con trai, ai muốn đấu bức tranh người con trai?  Vị nào bắt đầu trả giá $100…, $200!…

Một tiếng khác la lên với giọng giận dữ:

–    Chúng tôi đến đây không phải để xem bức họa này.  Chúng tôi tới để xem những bức họa của các họa sĩ thiên tài nổi danh trên thế giới như Van Goghs, Rembrandts… thôi.  Hãy đi thẳng ngay vào những bức danh họa chính!

Nhưng người điều khiển đấu giá vẫn tiếp tục rao không thèm để ý đến lời đề nghị của khách.

–    Bức tranh nguời con trai…, bức tranh người con trai…!  Vị nào muốn làm chủ nhân ông bức tranh người con trai này hãy mau mau trả giá?

Sau cùng, một giọng nói phát xuất từ mãi phía cuối phòng.  Đó là người làm vườn lâu năm của ông chủ nhà và người con trai.

–    Tôi xin trả bức họa đó $10.00. 

Là một người nghèo nàn, đó là số tiền lớn nhất mà ông gom góp tiết kiệm bao nhiêu năm mới được.

–    Đã có vị trả giá $10, ai là người trả hơn… $20?… $20?

–    Thôi hãy trao bức tranh đó cho ông ta lấy $10 đi, đáng giá rồi!  Chúng tôi đang nóng lòng chờ đợi muốn xem những bức danh họa chính!

–    $10 bức họa người con trai, có vị nào trả thêm nữa không?

Đám đông người trở nên giận dữ.  Họ đâu muốn đầu tư vào bức tranh người con trai.  Họ muốn đầu tư vào những họa phẩm có giá trị hơn nữa cho bộ sưu tập của họ.

Người điều khiển cuộc bán đấu giá gõ mạnh búa xuống bàn và bắt đầu lên giọng đếm:

–    Một,… hai,… bức tranh người con trai được bán với giá $10.

Một người đàn ông ngồi ở hàng ghế thứ hai la lớn:

–    Bây giờ hãy mau khởi đấu những họa phẩm nổi tiếng đi!

Người điều khiển cuộc đấu giá đặt cây búa xuống bàn và tuyên bố:

–    Tôi trân trọng xin lỗi quý vị, buổi bán đấu giá đến đây đã hoàn tất.

–    Vậy còn những sưu tập nổi tiếng kia thời sao?

–    Tôi thành thật rất tiếc.  Khi được giao phó việc điều khiển cuộc đấu giá này, tôi đã được nhắc nhở một điều khoản bí mật trong chúc thư của chủ nhân.  Tôi không được phép tiết lộ điều ấy tới khi kết thúc cuộc đấu giá.  Đó là:

–    Chỉ có bức chân dung ngưới con trai được đưa ra đấu giá.  Bất cứ ai mua được bức chân dung ấy sẽ đương nhiên được thừa hưởng tất cả những tài sản bao gồm luôn những bức danh họa trong sưu tập của chủ nhân quá cố.

Do đó người đàn ông đấu giá được bức họa người con trai nhận được tất cả mọi sản nghiệp của người quá cố.

***************

Trước đây hơn 2000 năm, Thiên Chúa Cha đã trao ban người Con Một của Ngài trên cây thập giá.  Giống như người điều khiển cuộc đấu giá bộ sưu tập danh họa ngày hôm nay là: Ngài đã gõ búa và cất tiếng hỏi: “Người Con Một của ta!… Người Con Một của ta!… Ai nhận Người Con Một… đó?

Như chúng ta đã thấy: ai nhận Người Con là nhận được tất cả.

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16).  Đó là tình yêu.

Hoài Việt Nguyễn Vĩnh Tường (sưu tầm chuyển ngữ và phóng tác)

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

SUY TƯ GIÁNG SINH (có Youtube)

Lễ Giáng Sinh có nhiều điều khiến phải “động não,” xét mình, suy tư, chấn chỉnh, quyết tâm… để chính tâm hồn trở thành “hang đá” cho Đấng Cứu Thế giáng sinh – chứ không phải hang đá vật chất.

Giáng Sinh cứ đến rồi đi như chiếc xe buýt chạy qua trên đường, tôi thấy kiểu nào và rút được bài học gì không?  Đây chỉ là suy tư riêng, xin được chia sẻ…

1Đơn Sơ

Lễ Giáng Sinh nhắc nhở tôi về tính Đơn Sơ – đơn sơ trong lời nói, cử chỉ, thái độ, hành động, ánh mắt, nụ cười, tín thác, yêu mến…

Chúa Giêsu sinh ra là một trẻ thơ.  Trẻ thơ luôn đơn sơ, hoàn toàn tin tưởng vào cha mẹ, không so đo, không tính toán.  Như vậy, sống đơn sơ cũng là sống khiêm nhường: “Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18, 3).  Chính Đức Kitô cũng đã căn dặn và “mách nước” để sống giữa thế gian: “Hãy khôn như con rắn và đơn sơ như chim bồ câu” (Mt 10, 16).  Còn Thánh Phaolô đã nhắc nhở: “Tôi sợ rằng như xưa con rắn đã dùng mưu chước mà lừa dối bà Eva thế nào, thì nay trí lòng anh em cũng dần dần đâm ra hư hỏng, mất sự đơn sơ đối với Đức Kitô như vậy” (2Cr 11, 3).

2Mau Mắn

Lễ Giáng Sinh nhắc nhở tôi về sự mau mắn – mau mắn trong mọi việc, tâm linh hoặc đời thường.  Sự mau mắn liên quan sự dứt khoát.  Không dứt khoát thì không thể mau mắn, và không mau mắn thì không thể dứt khoát.  Thiên Chúa không thích thái độ lừng khừng, chần chừ, lần lữa.  Chính Ngài đã thẳng thắn và dứt khoát: “Ngươi hâm hẩm, chẳng nóng chẳng lạnh, Ta sẽ mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” (Kh 3, 16).  Tôi phải bắt chước các mục đồng mau mắn đến với Chúa: “Nào chúng ta sang Bêlem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết” (Lc 2, 15).

3. Khó Nghèo

Lễ Giáng Sinh nhắc nhở tôi về Đức Khó Nghèo – khó nghèo trong lối sống, sinh hoạt, tiêu xài, ý nghĩ.  Mầu nhiệm Mai Khôi thứ ba của Mùa Vui: “Đức Mẹ sinh Chúa Giêsu nơi hang đá. Ta hãy xin cho được lòng khó khăn.”  Khó khăn ở đây là “sống Đức Khó Nghèo” chứ không phải là “khó chịu”, “khó tính”, “khó ưa”,…  Can đảm chấp nhận cảnh sống khó khăn là một nhân đức, vì chính Chúa Giêsu tự nguyện trở thành Đệ Nhất Hàn Vương – từ Bêlem tới Canvê.

Theo Việt ngữ, “nghèo khó” cũng như “khó nghèo”.  Vâng, hãy sống “khó nghèo” thực sự chứ đừng sống “KHÓ (mà) NGHÈO”, tức là chỉ nói suông, vẫn ung dung tự tại, “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi.”

Dụ ngôn Phú Hộ và Ladarô nghèo khổ (Lc 16, 19-31) cho thấy cái Phúc của sự khó nghèo, và Chúa Giêsu cũng bảo người ta đãi tiệc thì mời những người nghèo (Lc 14, 12-14).  Cố gắng đừng nao núng như lời kể của Thánh Phaolô: “Trải qua bao nỗi gian truân, họ vẫn được chan chứa niềm vui; giữa cảnh khó nghèo cùng cực, họ lại trở nên những người giàu lòng quảng đại” (2Cr 8, 2).  Một trong Tám Mối Phúc cũng nhắc đến đức khó nghèo: Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 3; Lc 6, 20).

4Vâng Phục

Lễ Giáng Sinh nhắc nhở tôi về đức Vâng Phục – vâng phục trong sự khiêm nhường và vui vẻ.

Thánh Phaolô nói: “Trước kia anh em đã không vâng phục Thiên Chúa, nhưng nay anh em đã được thương xót, vì họ không vâng phục; họ cũng thế: nay họ không vâng phục Thiên Chúa, vì Người thương xót anh em, nhưng đó là để chính họ cũng được thương xót.  Quả thế, Thiên Chúa đã giam hãm mọi người trong tội không vâng phục, để thương xót mọi người” (Rm 11, 30-32).

Vâng lời trọng hơn của lễ (1Sm 15, 22 và Tv 50, 8-9).  Thật vậy, Thiên Chúa luôn đề cao đức Vâng Lời.  Về việc con cái vâng lời cha mẹ, Thánh Phaolô nói: “Vâng phục cha mẹ là làm đẹp lòng Chúa” (Cl 3, 20).  Thật vậy, dù là Ngôi Hai Thiên Chúa, Đức Kitô vẫn giữ trọn đạo làm con đối với cha mẹ: “Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài” (Lc 2, 51).

5. Bảo Vệ Sự Sống

Lễ Giáng Sinh nhắc nhở tôi về việc Bảo Vệ Sự Sống – bảo vệ thai nhi, giúp đỡ bệnh nhân, người hoạn nạn…  Tại nơi hang chiên lừa ở Bêlem, Chúa Giêsu đã giáng sinh trong hình hài một trẻ thơ.  Trẻ thơ cũng là một con người với đầy đủ nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền.

Bảo Vệ Sự Sống là trách nhiệm của mọi người.  Sự sống là Thiên Chúa, như chính Đức Kitô đã định nghĩa về Ngài: “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6a).  Rồi Ngài xác định: “Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14, 6b).

6. Chia Sẻ

Lễ Giáng Sinh nhắc nhở tôi về Đức Ái – mến Chúa và yêu người, thậm chí là yêu loài vật, yêu thiên nhiên… vì Thiên Chúa là Tình yêu (1Ga 4, 8).  Yêu thương liên quan việc chia sẻ.  Chia sẻ tinh thần hoặc vật chất.  Chia sẻ là “trả nợ.”  Chia sẻ là yêu thương, tức là thực hành Luật Yêu của Thiên Chúa.  Chia sẻ là yêu người, yêu người là mến Chúa; không yêu người là không mến Chúa: “Nếu ai không yêu mến Chúa thì là đồ khốn kiếp!” (1Cr 16, 22).  Thánh Phaolô xác định: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người thì đã chu toàn Lề Luật” (Rm 13, 8).  Dù là phàm nhân, cổ nhân cũng đã minh định rạch ròi: “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu – Lưới trời lồng lộng, không ai thoát được”.

7Tạ Ơn

Tất cả là hồng ân, vì không có Chúa thì tôi chẳng làm được trò trống gì, chỉ là vô tích sự: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15, 5).  Tạ ơn là bổn phận và trách nhiệm của thụ tạo đối với Thiên Chúa, Đấng tác sinh muôn loài hữu hình và vô hình.  Lễ Giáng Sinh là hồng ân cao cả, vì Con Chúa đến không chỉ để đồng cam cộng khổ với tôi trong thân phận kiếp người, mà Ngài còn cho tôi “được sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10).

Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết can đảm sống theo gương của Con Một Ngài.  Xin Chúa giúp con viết những gì con sống, và sống những gì con viết.  Xin Chúa thương soi sáng, gợi ý và hướng dẫn con mỗi khi con viết lách về bất cứ điều gì hoặc ở dạng nào.  Xin Chúa giúp con thành tâm chia sẻ chính Ngài với tha nhân, để làm vinh danh Ngài chứ không vì danh giá riêng con.

Lạy Đấng là Chân Lý, nếu con có gì lệch lạc, xin Ngài dập tắt ngay từ khi manh nha.  Xin Ngài cho bất kỳ ai gặp con thì cũng đều gặp được Ngài, và con cũng nhận thấy Ngài nơi họ. Con cũng chỉ xin Ngài như bổn mạng của con là Thánh Thomas Aquino: “Con chỉ muốn Chúa mà thôi.”  Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ của con.  Amen.

 Trầm Thiên Thu

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

TRẢ LẠI CHO CHÚA

Có được phép nộp thuế cho Xê-da không?” (Mt.22:17)

Bạn thân mến !  Đó là câu  hỏi sắc như một con dao hai lưỡi mà người Pharisêu đã nêu lên để lập mưu gài bẫy Đức Giêsu.  Nếu Ðức Giêsu bảo phải nộp thuế, chắc hẳn Ngài chẳng yêu nước yêu dân tí nào.  Thứ thuế thân nộp cho đế quốc Rôma thật là điều ô nhục.  Nhưng nếu Ngài bảo đừng nộp, chắc chắn Ngài sẽ bị tố cáo.  “Hãy cho tôi xem đồng tiền dùng để đóng thuế ” (Mt.22:19). Khi đưa cho Ðức Giêsu đồng bạc có hình Xê-da, những kẻ lập mưu gài bẫy Đức Giêsu đã thú nhận họ đã dùng thứ tiền này, và như thế họ đã mặc nhiên nhìn nhận quyền bính của Xê-da.

Khi biết hình và dòng chữ trên đồng bạc là của Xê-da, Ðức Giêsu đã nói một câu không dễ hiểu: “Vậy hãy trả lại cho Xê-da những gì của Xê-da“.

Khi trả lời người Pharisêu như vậy, chẳng những Ðức Giêsu không bị mắc bẫy mà Ngài còn nhân cơ hội này để đi lên một bình diện cao hơn: “Hãy trả lại cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa” (Mt.22:21).   Ðây mới thật là vấn đề Ngài hết sức quan tâm.  Chúng ta tự hỏi: có cái gì xung quanh ta mà lại không phải là thụ tạo của Ngài?  Phải trả lại cho Xê-da đồng tiền mang hình và tên ông, và cũng phải trả lại cho Thiên Chúa những gì mang hình ảnh của Ngài, những gì đã được ghi khắc tên Ngài trên đó.

Hình ảnh nổi bật nhất là con người (St. 1:26).  Toàn bộ con người mang dấu ấn của Thiên Chúa.  Xúc phạm con người là phạm đến nơi sâu thẳm của Thiên Chúa.  Mọi quyền bính đạo đời đều nhằm phục vụ con người, đều nhằm làm sáng lên hình ảnh Thiên Chúa nơi con người.

Trả con người lại cho Thiên Chúa là dâng con người cho Ngài, là nhìn nhận quyền bính của Ngài trên đời ta.  Cả vũ trụ cũng tiềm tàng dấu ấn của Thiên Chúa:  đất, rừng, sông biển, không khí, tài nguyên và muôn sinh vật.  Hãy trả lại cho Thiên Chúa vũ trụ trong lành, hiền hậu, nghĩa là trả lại cho con người món quà Ngài đã ban tặng.

Lời Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay mời gọi tôi suy tư về hình ảnh của Thiên Chúa nơi  con người và cuộc sống của tôi, hình ảnh đó có rõ ràng hay đã mờ nhạt?  Có lớp bụi nào che khuất khuôn mặt của Chúa nơi con người và cuộc sống của tôi không?  Tôi phải làm gì, phải sống ra sao để hình ảnh Thiên Chúa được thể hiện sống động nơi con người và cuôc sống của tôi .

Thiên Chúa hằng yêu thương tôi, Ngài dựng nên tôi giống hình ảnh của Ngài… Về phần của tôi, tôi đã cảm nghiệm như thế nào về tình yêu sâu xa đó?

***************

Lạy Cha, có những người bạn trẻ thích xăm hình lên người, hay muốn ăn mặc, đi đứng theo kiểu một ngôi sao thể thao hay điện ảnh.  Họ vui khi thấy mình giống hệt những thần tượng mà mình yêu thích.

Xin Cha giúp chúng con biết hãnh diện vì mang nơi mình hình ảnh cao quý của Cha và sống theo phong cách của Cha:   Cha quảng đại mở ra để chia sẻ hạnh phúc thần linh, Cha khiêm tốn tôn trọng tự do của con người, Cha yêu thương đến nỗi dám trao hiến Người Con Một chí ái, Cha bao dung tha thứ trước những tâm hồn hoán cải, Cha luôn tận tụy làm việc để nâng đỡ cả thế giới…

Ước gì người ta nhận biết Cha trên trời, khi gặp chúng con ở dưới đất. Ước gì người ta đọc thấy tên Cha trong tim của chúng con, và nhận ra chúng con là con cái của Cha.  Amen.

Trích R. Veritas

NHỮNG KỶ NIỆM ĐẸP

Có lẽ ai trong chúng ta cũng có những ký ức, những hoài niệm về người mẹ.  Và khi được hỏi đến những kỷ niệm đẹp nhất mà mình có về người mẹ thân yêu, tác giả Marie Martin có tâm sự như sau:

“Các bạn có nhớ lúc các bạn còn nhỏ thì hay té, và mỗi lần như vậy thường là khóc tức tưởi bởi cảm thấy đau hay không.  Và khi trường hợp đó xảy ra thì bạn có nhớ rằng người khác thường có những cử chỉ, biện pháp gì giúp đỡ bạn bớt đau hay không.  Còn với tôi thì tôi nhớ rất rõ là mỗi khi tôi bị té là mẹ tôi thường ôm tôi và bế tôi về giường, hôn thật sâu vào chỗ đau của tôi và xuýt xoa như thể bà cũng đang cảm thấy đau như tôi vậy.  Sau đó, mẹ tôi ngồi cạnh tôi, cầm  lấy tay tôi và bảo: “Khi nào thấy đau, con hãy nắm chặt tay mẹ, mẹ sẽ nói với con rằng mẹ yêu con”.  Và cứ như thế, mỗi lần tôi cảm thấy đau là tôi lại nắm chặt tay mẹ và mẹ tôi lại nói với tôi rằng: “Marie, mẹ yêu con”.  Nhiều khi tôi làm nũng và giả bộ đau để được nghe mẹ nói những lời yêu thương đó.

Tôi mỗi ngày mỗi lớn lên theo thời gian, và cách thức của mẹ tôi giúp tôi bớt đau đớn cũng thay đổi.  Hơn nữa, mẹ còn giúp tôi tìm thấy niềm vui trong mọi hoàn cảnh.  Những ngày còn ở trường học, mỗi khi đi học về là tôi luôn thấy thanh chocolate hạnh nhân sẵn sàng nằm trên bàn học của tôi. Trong thời gian học đại học ở xa nhà, mẹ tôi thường gọi điện thoại cho tôi và thỉnh thoảng rủ tôi đi ăn và đi dạo ở các công viên.  Khi tôi đã có gia đình, sau mỗi lần về cùng với chồng con thăm cha mẹ, vừa trở về tới nhà là tôi đã thấy cánh thiệp mẹ gửi để cám ơn về chuyến viếng thăm của chúng tôi.  Dù mẹ tôi chẳng nói lời nào nhưng tôi cũng cảm nhận được tình thương của mẹ dành cho tôi.  Còn mẹ thì luôn tỏ ra cho tôi biết là tôi chiếm vị trí đặc biệt trong tim mẹ biết chừng nào.  Trong tất cả những cách tỏ lộ tình thương của mẹ dành cho tôi, tôi nhớ nhất là câu nói:  “Con hãy nắm chặt tay mẹ, mẹ sẽ nói với con rằng mẹ yêu con”.

Một buổi sáng nọ, bố tôi gọi điện thoại ra công sở cho tôi với giọng đầy lo lắng, ông nói với tôi: “Marie, mẹ con có vẻ bất ổn, bố không biết phải làm sao, con có thể về thăm mẹ ngay bây giờ không?”  Tôi vội vã xin nghỉ việc và lái xe về nhà.  Tôi bồn chồn lo lắng vì không biết chuyện gì đã xảy ra với mẹ.  Về tới nhà, tôi thấy bố tôi đang đi đi lại lại trong bếp, mẹ nằm trên giường, mắt mẹ nhắm nghiền và hai tay ôm ghì lấy bụng.  Cố giữ giọng bình tĩnh tôi chào mẹ:  “Mẹ ơi, con về thăm mẹ đây”.  Mẹ tôi hỏi lại: “Marie đó hả con?” Tôi thưa: “Dạ con đây, thưa mẹ”.

Tôi không hề chuẩn bị tinh thần để nghe câu nói kế tiếp của mẹ nên khi nghe thấy mẹ nói, tôi lạnh cứng người chẳng biết nói gì nữa.  Khi mẹ tôi hỏi: “Marie, mẹ sắp chết phải không con?”  Tôi cảm thấy bất lực, mắt nhòa lệ và nhìn người mẹ thân yêu của mình nằm đó.  Tôi tự hỏi: “Nếu là mẹ, tôi sẽ nói ra sao?”

Tôi lặng im nhìn mẹ, mỗi khoảnh khắc dài vô tận và tôi cứ lập đi lập lại trong trí tôi câu hỏi đó. Một lúc sau, khi nghe mẹ tôi than: “Marie, mẹ đau quá” tôi liền nói: “Mẹ ơi, khi nào mẹ đau mẹ hãy nắm chặt tay con và con sẽ nói rằng con yêu mẹ”.  Mỗi lần mẹ bóp chặt tay tôi là tôi lại nói: “Mẹ ơi, con yêu mẹ”.  Rất nhiều lần mẹ nắm chặt tay tôi và tôi lại nói: “Mẹ ơi, con yêu mẹ”.  Và trong suốt hai năm chăm sóc mẹ trên giường bệnh trước khi mẹ qua đời, tôi đã lập lại câu nói ấy nhiều lần.  Tôi không biết khi nào sẽ tới phiên tôi hoặc những người thân khác, nhưng tôi biết đến lúc ấy dù là ai tôi cũng vẫn giữ thói quen ngọt ngào đầy yêu thương mà mẹ tôi đã từng làm.

“Khi nào đau hãy nắm chặt tay ta và ta sẽ nói rằng ta yêu người”.

***************

Phương cách mà người mẹ trong câu chuyện trên đã thực hiện và trao lại cho con bà là những câu nói đầy ắp tình thương của một người mẹ đã giúp cô con gái mình sống vui suốt cả đời.  Và không những thế, cô cũng cảm thấy mình có trách nhiệm để tạo niềm vui cho người khác với cùng một phương thế như mẹ cô đã làm.

Mỗi tín hữu Kitô chúng ta cũng có một người mẹ đầy ơn phước là Ðức Maria, Mẹ Chúa Giêsu. Ngài cũng chỉ cho chúng ta những phương thức để giúp chúng ta cũng được chia sẻ hạnh phúc với Mẹ trong ơn nghĩa Chúa. Với tâm tình của một người con thảo của Mẹ, chúng ta hãy thưa với Mẹ Maria: “Mẹ ơi, con yêu mến Mẹ, xin Mẹ dạy con biết yêu mến Chúa Giêsu, Con Mẹ”.

Ước chi mỗi chúng ta luôn biết dùng những phương thế Mẹ Maria đã dạy để chúng ta đạt đến bến bờ yêu thương, được trưởng thành trong tình yêu mến Chúa, và vì yêu mến Chúa mà yêu thương và phục vụ anh chị em, giúp anh chị em nhận ra những niềm vui của cuộc sống và hạnh phúc.

R. Veritas

THÁNG MƯỜI VÀ FATIMA

Trong Giáo Hội Việt Nam, tháng 10 là tháng kính Đức Mẹ cách đặc biệt.  Đặc biệt ở việc lần chuỗi Mân Côi đều khắp.  Đặc biệt còn ở chỗ sốt sắng nhớ về biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Fatima.  Đức Mẹ hiện ra ở Fatima nhiều lần.  Lần hiện ra sau cùng là vào ngày 13 tháng 10 năm 1917. Đức Mẹ hiện ra ở Fatima với Francisco, Jacinta Marto và Lucy dos Santos.

Ở Fatima, Đức Mẹ đã cho con cái Mẹ nhìn thấy một tình hình khủng khiếp.  Nhưng đồng thời cũng đem lại cho đoàn con niềm hy vọng cứu rỗi.  Những gì Đức Mẹ nhắn nhủ ở Fatima chỉ là nhắc lại những điều căn bản của Phúc Âm.  Toà Thánh đã công nhận biến cố Fatima.

Trước tình hình thế giới hiện nay có khả năng bùng nổ nhiều bất ổn bất ngờ, tôi thiết nghĩ sự nhắc lại sứ điệp Fatima là điều hữu ích, cần làm.

Những gì tôi nhắc lại dưới đây về biến cố Fatima đều được rút ra từ tài liệu chính thức phát hành ở Fatima.  Đó là tạp chí nói về hai Á thánh Phanxicô và Giaxinta, số mới nhất tháng 9/2004.  Tất nhiên đây là những thông tin, không buộc phải tin, nhưng nên tiếp thu suy gẫm.

***************

Những Cảnh Khủng Khiếp

Theo tiết lộ của Lucia được viết ra trên giấy, để nộp cho Giáo quyền và đã được Toà Thánh cho phép công bố năm 2000, thì Đức Mẹ hiện ra tại Fatima đã cho ba trẻ thấy hai cảnh khủng khiếp này:

Một cảnh khủng khiếp xảy ra cho Hội Thánh ở thế gian này.

“Một Giám mục mặc y phục trắng (chúng con có cảm tưởng đó là Đức Giáo Hoàng) tiếp theo là nhiều giám mục khác, nhiều linh mục, nhiều tu sĩ nam nữ, trèo lên một ngọn núi hiểm trở.  Trên ngọn núi ấy có một cây thánh giá lớn coi vẻ như làm bằng cây gỗ sến còn nguyên vỏ.  Trước khi tới được thánh giá, Đức Thánh Cha phải đi qua một thành phố nửa hoang tàn, nửa hoảng sợ.  Ngài bước đi thất thểu, mệt mỏi vì khổ đau buồn sầu.  Ngài cầu nguyện cho những hồn người bỏ mạng nằm ngổn ngang trên đường.  Khi tới đỉnh núi, Ngài quì xuống dưới cây thánh giá.  Lập tức Ngài bị một đội lính bắn nhiều phát súng và cung tên vào Ngài.

Cùng chết như Ngài, là một số giám mục, linh mục, nam nữ tu sĩ và nhiều giáo dân, đàn ông, đàn bà thuộc nhiều tầng lớp khác nhau.

Dưới hai cánh thánh giá, có hai thiên thần, mỗi vị cầm một chén thuỷ tinh hứng lấy máu các vị tử đạo, và rảy xuống trên các linh hồn đang đến gần Chúa”.

Trên đây là một cảnh khủng khiếp có thể đã, đang và sẽ xảy ra chỗ này nơi nọ, dưới nhiều hình thức độc ác khác nhau, do những động lực không nhất thiết giống nhau.

Thêm vào cảnh khủng khiếp trên đây xảy ra trên cõi đời này, là cảnh khủng khiếp xảy ra trong cõi đời sau.  Đó là hoả ngục.

Trong thư Lucia viết cho Đức Cha giáo phận của chị, theo lệnh của Ngài, chị trình rõ:  Ba trẻ đã được Đức Mẹ cho thấy cảnh hoả ngục.

“Chúng con thấy một biển lửa.  Bị giữ trong đó là những quỷ và những hồn bị kết án.  Những hồn này hình người, màu đen.  Họ lềnh bềnh trong biển lửa.  Các ngọn lửa lúc tung họ lên, lúc ném họ xuống, giống như những tàn lửa giữa đám khói mù.  Họ gào thét, rên xiết với những giọng đau đớn, thất vọng và sợ hãi…

Còn các quỷ thì mang hình những thú vật dữ tợn, ghê tởm, đen như những cục than lửa đỏ”.

Thời gian ba trẻ xem thấy cảnh hoả ngục chỉ rất vắn, nhưng ba trẻ đã quá sợ.  Nếu thị kiến kéo dài thêm, chắc ba trẻ sẽ chết, vì không chịu nổi cảnh khủng khiếp như vậy.

***************

Những Ngả Đường Để Được Cứu

Cùng với sự cho thấy những cảnh khủng khiếp, Đức Mẹ cũng đã cho ba trẻ nhận ra những ngả đường được cứu khỏi những cảnh kinh khủng đó.  Đức Mẹ nhấn mạnh đến ba ngả đường:

Một là sám hối, đền tội.
Hai là tôn sùng trái tim vô nhiễm Đức Mẹ.
Ba là cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi.

Ở Fatima, Đức Mẹ nói rất vắn về ba ngả đường trên.

Nhưng dần dần, sự thực hành đã được hướng dẫn.  Thí dụ:  Khi sám hối, đền tội, con người cần ý thức về việc phạm tội của mình xúc phạm nặng nề đến Chúa và gây hại vô vàn cho chính mình. Cần dốc lòng sửa mình để đón nhận ơn tha thứ.  Còn đền tạ thì không gì bằng thực thi bác ái hy sinh.

Khi tôn sùng trái tim vô nhiễm Đức Mẹ, con người cần tựa nương vào tình khiêm tốn “xin vâng” của Mẹ, để phát triển mình theo đúng hướng đi lên những giá trị trong sáng.

Khi cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi, con người sẽ nhớ mình cần được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, để được Chúa Giêsu và Đức Mẹ đồng hành với mình.  Và như thế, dù trên những chặng đường khó khăn nhất, họ tin tưởng có ngày sẽ qua được chặng đường thánh giá, để được Phục sinh với Chúa Giêsu, trở về Nhà Cha giàu tình yêu thương xót.

Càng thực hành những gì Đức Mẹ dạy ở Fatima, người ta càng có cảm tưởng Đức Mẹ rất gần gũi mình, dù mình bé mọn, tội lỗi. Một cảm tưởng rất mạnh và rất rõ họ cảm nhận được, đó là mình không thể dửng dưng, quay lưng hoặc chạy trốn Đức Mẹ được.

***************

Kinh Nghiệm Riêng

Đã từ lâu, nhưng nhất là từ mấy năm nay, khi tuổi tác và bệnh tật làm kiệt sức tôi về mọi phương tiện, tôi đã thực hành ba mệnh lệnh Fatima một cách vắn gọn.  Tôi chỉ nhìn ảnh hoặc tượng Đức Mẹ Trái Tim và cầu nguyện vắn tắt:

Xin Mẹ thương xót con.  Xin Mẹ cầu bầu cho con, là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Con không tự mình đứng dậy được.  Con không tự mình bước đi được.  Xin Mẹ thương dìu con trên đường thánh giá, để được Phục sinh với Chúa Giêsu”.

Thiết tưởng sự khẩn cầu như thế chính là sám hối, là mến yêu, là gắn bó, phó thác và vâng phục.

Sự van nài như thế sẽ cứ mãi được tiếp tục, nhất là trong hoàn cảnh bi đát.  Có những lúc quá tối tăm mệt mỏi.  Có những lúc bị cám dỗ thay thế việc nài xin khẩn cầu bằng những hoạt động theo ý riêng.

Vì thế chúng ta hãy khẩn cầu Mẹ cho chúng ta luôn biết khẩn cầu Mẹ.  Nhất là khi chúng ta bị rơi vào guồng máy của nếp sống xa Phúc Âm, bị trói chặt vào vòng quay của nó, đồng thời nó lại tạo cho ta một ảo tưởng là mình đang được an toàn trong đạo đức.

Tình hình đang biến chuyển phức tạp.  Xin Mẹ thương ban cho chúng ta ơn luôn biết khẩn cầu với Mẹ, biết luôn sống theo tinh thần sứ điệp mà Mẹ đã thương gởi đến từ Fatima.  Thực ra Mẹ Fatima, một cách nào đó, đang ở bên ta.

GM JB Bùi Tuần