CHẾT

Khi tôi được sinh ra là khởi điểm tôi bắt đầu đi về cõi chết.  Làm gì có sự chết nếu không có sự sống.  Làm gì có ngày người ta chôn tôi nếu không có ngày tôi chào đời.  Như thế, cuộc sống của tôi là chuẩn bị cho ngày tôi chết.

Ngay từ trong bào thai của mẹ, bắt đầu có sự sống là tôi đã cưu mang sự chết rồi.  Kết hợp và biệt ly ở lẫn với nhau.  Trong lớn lên đã có mầm tan rã.  Khi vũ trụ chào đón tôi, thì cùng một lúc, tôi bắt đầu từ giã vũ trụ từng ngày, từng giờ.

Mỗi ngày là một bước tôi đi dần về sự chết.  Bình minh mọc lên, nhắc nhở cho tôi một bước cận kề.  Hoàng hôn buông xuống, thầm nói cho tôi sự vĩnh biệt đang đến.

Không muốn nghĩ về sự chết tôi cũng chẳng tránh đuợc sự chết.

Tôi có thể không muốn nghĩ về sự chết nhưng tôi có ghét sự chết được không?  Tôi ghét sự chết là tôi ghét chính tôi.  Chết ở trong tôi.  Tôi đang đi về cõi chết nên ngay bây giờ sự chết đã thuộc về tôi rồi.  Sự sống của tôi hàm chứa sự chết, nên tôi yêu sự sống thì tôi cũng phải yêu sự chết.  Vì vậy, cuộc đời có ý nghĩa vẫn chỉ là cuộc đời chuẩn bị cho ngày chết.

Trong dòng đời, tôi không sống một mình.  Cuộc sống của tôi là tấm thảm mà mỗi liên hệ yêu thương là một sợi tơ, mỗi gắn bó quen biết là một sợi chỉ, anh em, cha mẹ, người yêu.  Sự chết xé rách tung tất cả để tôi ra đi một mình.  Chẳng ai đi với tôi.  Vì thế, chết mang mầu ly biệt.

Sống là hướng về tương lai. Tương lai là cái tôi không nắm chắc trong tay, vì vậy, tôi hay nhìn về tương lai bằng nỗi sợ bấp bênh.  Càng bấp bênh thì tôi càng tìm kiếm vững chãi, càng tích lũy. Nhưng tích lũy xong, xây đắp xong, vất vả ngược xuôi để rồi ra đi trắng đôi tay thì đời tôi thành đáng thương hại.  Nếu tôi không đem theo được những gì tôi tích lũy, thì những gì tôi ôm ấp hôm nay chỉ làm tôi thêm đau đớn, nuối tiếc.  Nếu không muốn vậy thì chúng phải là phương tiện để chuẩn bị cho giờ ra đi của tôi.

Tích lũy cho tương lai có thể là dấu hiệu khôn ngoan đề phòng những bất trắc có thể xẩy ra.  Mà cũng có thể là một thứ nô lệ.  Nếu suốt đời tôi lo âu tìm kiếm danh vọng, quá tham lam tiền bạc, lúc nào cũng bị vây khốn, băn khoăn thì đâu là niềm vui, tận hưởng.

Mà tận hưởng là gì? Ðâu là ý nghĩa của sự tìm kiếm? Tích lũy?

Kinh Thánh kể:

Có người trong đám dân chúng nói với Ðức Kitô: “Thưa Thầy, Thầy bảo anh tôi chia gia tài với tôi”.

Ngài đã nói cùng họ: “Hãy coi chừng! hãy lo giữ mình tránh mọi thứ gian tham, vì không phải ai được sung túc, là đời sống người ấy chắc chắn nhờ của cải”.

Ngài nói cùng họ một ví dụ rằng: “Có người phú hộ, ruộng nương được mùa, nên suy tính với mình rằng: ta phải làm gì?  Vì ta không còn chỗ nào mà tích trữ hoa mầu nữa.  Ðoạn người ấy nói: Ta sẽ làm thế này: phá quách các lẫm đi, mà xây những lẫm lớn hơn, rồi chất cả lúa mạ, và của cải vào đó, rồi ta nhủ hồn ta:  Hồn ơi! mày có dư thừa của cải, sẵn đó cho bao nhiêu năm; nghỉ đi! ăn uống đi! hưởng đi! Nhưng Thiên Chúa bảo nó:  Ðồ ngốc! ngay đêm nay, người ta sẽ đòi ngươi trả lại hồn ngươi, mọi sự ngươi đã sắm sửa, tích góp kia sẽ về tay ai? (Lc 12,13-21).

Không ai sống hộ tôi.  Không ai chết thay tôi.  Không ai đi cùng tôi.  Tôi sẽ ra đi lẻ loi.  Họ sẽ quên tôi cũng như tôi đã quên bao người.  Có thể đôi khi họ nhớ tôi.  Cũng như đôi khi tôi nhớ người này, kẻ kia.  Nhưng nỗi nhớ chỉ là của riêng tôi, còn kẻ đã ra đi vẫn ra đi miền miệt.  Thì cũng thế, chẳng ai làm gì được cho tôi lúc tôi ra đi không trở lại.

Chết là mất tất cả. Nhưng thánh Phaolô lại tuyên tín rằng chết là chiến thắng (1Cor 15,54).  Chết là đi về sự sống vĩnh cửu.  Chết là gặp gỡ.  Gặp Ðấng tạo nên mình.  Như vậy, chết là cánh cửa im lìm được mở ra để tôi về với Ðấng thương tôi.  Chết là điều kiện để sống.

Chúa ơi, chết là đi về với Chúa sao con vẫn lo âu?

Phải chăng nỗi lo âu là dấu hiệu nói cho con rằng con sợ con có thể không gặp Chúa. Vì sợ không gặp nên chết mới là bản án nặng nề.  Mà tại sao con lại sợ không gặp Chúa?  Chúa luôn mong mỏi, đợi chờ con cơ mà.  Như thế, muốn gặp Chúa hay không là do ý của lòng con.  Con có quyền quyết định cho hạnh phúc của mình.

Chúa ơi, vì biết mình sẽ chết nên con băn khoăn tự hỏi bao giờ thì chuyến tầu định mệnh đem con đi.  Hôm nay hay ngày mai?  Mùa thu này hay mùa xuân tới?  Con âu lo.  Nhưng vì sao phải lo âu?

Phải chăng lo âu là dấu hiệu nói cho con rằng con chưa chuẩn bị đủ, là hồn con còn ngổn ngang.  Có xa Chúa thì mới sợ mất Chúa.  Sợ mất Chúa thì mới xao xuyến băn khoăn.

Con biết thế, con biết rằng vì không sẵn sàng, vì không chuẩn bị nên mới hồi hộp, mất bình an. Con biết thế, con biết sau khi chết là hạnh phúc hay gian nan, là núi cao với mây ngàn cứu rỗi, hay vực sâu phiền muộn với đau thương.  Nhưng chuẩn bị cho giờ ra đi không đơn giản Chúa ơi.  Chúa biết đó, con đi tìm Chúa nhưng là đi trong lao đao.  Bởi yêu một vật hữu hình thì dễ hơn lắng nghe tiếng gọi từ nơi xa thẳm.  Giầu có và danh vọng cho con hạnh phúc mà con có thể sờ được.  Còn hạnh phúc của đức tin thì sâu thắm quá.

Chung quanh có biết bao mời mọc.  Kinh nghiệm cho con thấy rằng đã nhiều lần con bỏ Chúa. Như vậy biết đâu con lại chẳng bỏ Chúa trong tương lai.  Nếu lúc đó mà giờ chết đến thì sao?

Chúa có nghĩ rằng khi con phải phấn đấu chối từ những rung cảm bất chính để sống theo niềm tin là thánh giá của con không.  Chối từ tiếng gọi của tội lỗi đã là một thánh giá.  Nhưng có khi lo âu vì không biết mình có từ chối được không còn là một thánh giá khác nữa.  Chính đấng thánh của Chúa mà còn phải kêu lên: “Ôi! những điều tôi muốn làm thì tôi chẳng làm, những gì tôi muốn trốn tránh thì tôi lại làm” (Rom 7,15-16).  Chúa thấy đó, vị tông đồ lớn của Chúa mà còn như thế, huống chi con, một kẻ mang nhiều đam mê, yếu đuối thì đường về với Chúa gian nan biết bao.

Ðể khỏi chết khi con chết, thì con phải chết trước khi con chết.

Cái chết đó là đóng đinh đời con vào thập giá.  Con không biết con can đảm đến đâu.  Con chỉ xin sao cho con tiếp tục đi mãi.  Ði xiêu vẹo vì yếu đuối của con, nhưng vẫn tiếp tục đi.

Thập giá nào thì cũng có đau thương.

Con không muốn thập giá.  Vì thập giá làm con mang thương tích.  Chúa cũng đã ngã.  Nhưng nếu sự sống của con mang mầm sự chết, thì trong cái chết của thập tử nẩy sinh sự sống.  Chúa đã chết. Chúa hiểu nỗi sợ hãi của sự chết.  Con vẫn nhớ lời Chúa cầu nguyện: “Lạy Cha, con xin phó hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).  Hôm nay con cũng muốn nói như vậy đó, với Chúa.  Cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa dạy con rằng chẳng có sự sống nào mà không phải qua sự chết.  Chết thì sợ hãi, nhưng nếu con yêu sự sống thì con phải yêu sự chết.

Con muốn chết để được sống.

Con sẽ đóng đinh đời con vào thập tự.  Chúa ơi, Chúa có cho những lo âu của con là dấu chỉ tình yêu của một tâm hồn yếu đuối, đang thao thức đi tìm Chúa vì sợ mất Chúa không.

Lạy Cha, trong tay Cha con xin phó thác đời con.

LM Nguyễn Tầm Thường, SJ – Trích trong Nước Mắt và Hạnh Phúc

TÀI NĂNG CHÚA BAN

–  Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi năm nén, tôi đã gây lời được năm nén khác đây.

–  Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi hai nén,  tôi đã gây lời được hai nén khác đây.

–  “Khá lắm! hỡi người đầy tớ tài giỏi và trung thành! Trong việc nhỏ mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ đặt anh trông coi việc lớn.  Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!” (Mt.25:20-23).

***************

Bạn thân mến!  Trên đây là lời đối đáp và khen tặng của ông chủ dành cho những người đầy tớ tài giỏi và trung thành được nhắc đến trong dụ ngôn “các nén bạc” của bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay.  Lời đối đáp và khen tặng trên đây cũng nói lên nguyên tắc kinh tế căn bản đã không bao giờ thay đổi theo thời đại. Thời nào thì hoạt động kinh tế cũng nhằm bỏ vốn để sinh lời. Vốn đầu tư càng nhiều thì lợi càng lớn. Đầu tư càng dài hạn thì lợi càng nhiều.

Trong dụ ngôn “Các nén bạc”, Chúa Giêsu cũng mượn các qui luật kinh tế để nói về cách sử dụng và khai thác đầu tư trong cuộc đời chúng ta.  Cũng như người chủ mời gọi người đầy tớ dùng vốn là tiền của đã được trao phó để sinh lời, Thiên Chúa cũng mời gọi ta dùng vốn là ơn Ngài trao ban cho ta về vật chất và tinh thần, là của cải và tài năng để làm lợi ra thêm, để làm vinh danh Chúa nhiều hơn và giúp ích cho anh chị em chung quanh mình.

Vốn Chúa trao cho ta là những điều gì ? Trước hết là chính sự sống của ta, là chính cuộc đời của ta.  Đó là số vốn đầu tiên, là vốn căn bản.

Ơn làm con Chúa, ơn tái sinh, ơn cứu độ…  Đó là vốn qúy giá nhất, lớn lao nhất mà Chúa đã trao ban cho ta qua Đức Giêsu. Cuộc đời này có nghĩa lý gì nếu ta đánh mất Ơn Cứu Độ.  Ơn Cứu Độ chính là sự thành tựu chung cuộc, là cùng đích mà ta phải nhắm tới trong cuộc đời này.

Mỗi ngày, mỗi việc, mỗi bổn phận, mỗi khó khăn, mỗi cố gắng và ngay cả trong mỗi lo lắng và khổ đau …Tất cả đều có ơn Chúa ban kèm theo.  Đây cũng là vốn đầu tư mà Chúa đã liên tục trao ban cho ta trong cuộc sống này để ta mưu cầu hạnh phúc đời đời mai sau.

Dụ ngôn “Các nén bạc” đã cho ta một quang cảnh vui buồn lẫn lộn. Vui vì những người đầy tớ tài giỏi và trung thành đã làm sinh lời gấp đôi, và được chủ thưởng công bội hậu.  Nhưng lại buồn vì một người đầy tớ lười biếng nhưng có tài ăn nói, biết đối đáp, lý luận, rất nhiều triển vọng thành công trên thương trường, thì lại không làm nên tích sự gì cả.  Dù chỉ cần làm lợi thêm một chút thôi, nhưng anh đã không làm, mà đem nén bạc chủ giao đi chôn giấu dưới đất và sau khi chủ về, anh trao lại cũng một nén đó cho chủ mình.  Khi chôn nén bạc xuống đất, một cách nào đó anh cũng đã chôn một phần bản thân mình, cuộc sống của anh khựng lại với những suy nghĩ rất tiêu cực và mông lung. Và cái chung cuộc mà anh phải đối diện là sự nguyền rủa là đồ vô dụng và bị chủ quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài (Mt.25:30)

Dụ ngôn “Các nén bạc” cũng mời gọi bạn và tôi, chúng ta hãy cùng nhau tự hỏi lòng mình: Chúa đã đầu tư nơi tôi nén bạc nào, tài năng nào, lợi điểm nào?  Tôi đã dùng của cải tài năng và ân huệ Chúa ban như thế nào?  Tôi có tích cực phát triển “vốn đầu tư” mà  Chúa đã trao cho tôi không?  Tôi có biết tạ ơn Chúa vì những tài năng và ân sủng Chúa trao ban cho tôi  không? Và tôi đã làm gì để tạ ơn Ngài?

***************

Lạy Chúa! Chúa đã trao cho con những nén bạc ơn phúc tự nhiên và siêu nhiên. Xin cho con biết cố gắng nỗ lực để phát triển và sinh lợi những ơn phúc đó vì vinh quang của Chúa và niềm hạnh phúc của tha nhân. Amen.

Trích từ R. Veritas

BÊN KIA SỰ CHẾT

Trên giường hấp hối, thánh Monica đã nhắn nhủ con ngài là Augustino như sau: Mẹ chỉ xin con một điều là hãy nhớ đến mẹ khi tới bàn tiệc thánh“.

Có lẽ nhiều người trong chúng ta cũng đã được nghe nhiều lời van xin tương tự phát ra từ môi miệng của những người thân của chúng ta, trước khi từ giã cõi đời… Nhưng xa mặt cách lòng, nhiều người trong chúng ta lãng quên những lời van xin thống thiết ấy.

Cần được thương, cần được nhớ: đó là khát vọng tự nhiên của con người.  Không ai muốn là một hoang đảo cô đơn.  Dưới cái nhìn Ðức Tin, lời van xin kẻ khác cầu nguyện cho, còn chứng tỏ một lòng khiêm tốn, một thái độ chấp nhận cái giới hạn mỏng manh bất lực của mình.

Ðể giúp chúng ta có dịp đáp lại thỉnh cầu của những người đã đi vào thế giới bên kia và để thể hiện mối tình thông hiệp “các thánh thông công”, Giáo Hội ngay từ buổi đầu kỷ nguyên Kitô đã cổ động việc tưởng nhớ cầu nguyện cho những người quá cố.  Những thế kỷ gần đây đã dành tháng 11 hằng năm cho việc đạo đức ấy.  Hai ngày lễ mừng kính các thánh và cầu cho các linh hồn được ấn định vào hai ngày mùng một và mùng hai đầu tháng với những kinh nguyện rất ý nghĩa, nhắc chúng ta về sự hiệp thông trong Giáo Hội. Công đồng Vatican II trong hiến chế về Mầu Nhiệm Giáo Hội đã viết như sau: Giáo Hội lữ hành hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu cho những người đã chết, vì cầu nguyện cho họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc lành thánh...”.

Nói về sự bầu cử của các đẳng linh hồn, Công Ðồng viết như sau:Khi được về quê Trời và hiện diện trước nhan Chúa, nhờ Người, với Người và trong Người, các thánh lại không ngừng cầu bầu cho chúng ta bên Chúa Cha…“.  Sự trao đi nhận lại đó vừa là một việc bác ái vừa là một bổn phận thảo hiếu đáp đền, đã thực sự củng cố Giáo Hội thêm vững bền trong sự thánh thiện.

***************

Qùy cầu nguyện một mình trong nhà thờ, hay ngậm ngùi đốt lên một ngọn bạch lạp tại một nghĩa trang nào, có lẽ ai trong chúng ta cũng cảm thấy bùi ngùi xúc động khi nghĩ đến những người chết và chính cái chết.  Chúng ta đang đứng giữa biên giới vô hình của sự sống và sự chết.  Và một cách vô cùng huyền nhiệm và sống động, những người chết đang hiện diện với chúng ta bằng một sợi dây liên kết thâm sâu, thắm thiết…  Cái chết không còn là một chấm hết cuối cùng đối với chúng ta nữa.  Tình yêu mạnh hơn sự chết.  Chính Tình Yêu đã làm cho những người đã chết được sống và cũng chính Tình Yêu liên kết chúng ta với những người chết.  Vâng, chỉ có Tình Yêu mới làm cho con người được bất tử.  Chỉ có Tình Yêu mới làm cho con người liên kết với những người đã chết.  Chỉ có Tình Yêu mới mặc cho những nghĩa cử của con người sự bất diệt.

Mỗi lần chúng ta hy sinh cho một người nào đó, mỗi lần chúng ta săn sóc một người đau yếu, an ủi một người đau khổ, bênh vực một người cô thế, hay cùng với những người khác dấn thân để canh tân cuộc sống… Chúng ta đang tiến dần đến sự bất tử.

Yêu thương chính là tái sinh, là sự thông dự vào sự sung mãn của cuộc sống.  Ðó phải là niềm tin của chúng ta trong ngày hôm nay khi chúng ta tưởng nhớ và cầu nguyện cho người quá cố.  Xin Chúa nâng đỡ Ðức Tin yếu kém của chúng ta, xin Ngài ban thêm niềm hy vọng cho chúng ta.

R. Veritas

KẺ KHỜ DẠI ĐÁNH MẤT NƯỚC TRỜI

Có một nhà phú hộ, đầy quyền thế danh vọng ở đời bỗng nhiên lâm bệnh nặng và qua đời.  Gia nhân ai nấy đều xúc động, bỡ ngỡ.  Người ta bàn tán xôn xao về cái chết đột tử của nhà phú hộ. Trong đó có một lời bàn gây nhiều tranh cãi từ một người quản gia của nhà phú hộ.  Người quản gia nói rằng:

– Theo các anh thì ông chủ chúng ta sẽ đi về đâu?

Các gia nhân đáp:

– Ông ấy lên trời chứ đi đâu nữa.

Người quản gia nói:

– Không đâu. Tôi chắc chắn ông ta không lên trời.

Tất cả đều ngạc nhiên hỏi:

– Làm sao quản gia biết là ông chủ không lên trời?

Người quản gia nói:

– Thường thì đi đâu xa, chủ của chúng ta thường nói về nước sẽ đi đến và chuẩn bị rất là cẩn thận.  Nước trời là cõi xa xôi, nhưng tôi không bao giờ thấy ông chủ của mình nói gì về nước đó, cũng không thấy ông ta chuẩn bị gì cả.  Làm thế nào mà ông ta đi vào Nước Trời được!

***************

Bạn thân mến!  Thái độ thiếu khôn ngoan của nhà phú hộ trên cũng có thể là thái độ của chính chúng ta!  Chúng ta đã thiếu chuẩn bị cho một cuộc ra đi ắt phải có của kiếp người là rời bỏ chốn dương gian lắm tội tình này.  Ai trong chúng ta cũng tin rằng bên kia sự chết là cõi thiên thai, là thiên đàng cực lạc, là Nước Trời vĩnh cửu.  Đó là nơi mà ai cũng ước mong sẽ được cư ngụ vĩnh viễn sau cuộc đời đầy khổ ải trần gian.  Thế nhưng, nhiều người lại thiếu chuẩn bị một cách cẩn thận, kỹ lưỡng.  Họ không bao giờ chuẩn bị một hành trang cần thiết nào cho cuộc sống đời sau.  Họ sống như không bao giờ chết.  Họ tiêu pha đời mình trong những đam mê trần tục.  Họ ngụp lặn đời mình trong biển đời hư danh và truỵ lạc.  Họ quên rằng trời cao mới là quê hương đích thực.  Trần gian là tạm bợ.  Thiên đàng mới là vĩnh cửu.

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở ta về thái độ thiếu chuẩn bị về đời sau qua dụ ngôn mười trinh nữ phù dâu.  Trong đó có 5 cô khờ dại. Họ được mời làm phụ dâu, đáng lẽ họ phải chuẩn bị thật kỹ càng để giúp cho tiệc cưới được chu đáo và long trọng. Thế nhưng, họ lại lười biếng và thiếu trách nhiệm. Họ lười biếng nên lăn quay ra ngủ. Họ thiếu trách nhiệm nên chẳng chuẩn bị chi cả.  Dầu tượng trưng cho sức sống tươi trẻ, đầy năng động, tràn đầy nhựa sống nhưng đã cạn kiệt, không còn đủ sức tỏa sáng chung quanh.  Nên khi cơ sự tới.  Họ muốn thắp lên một ngọn đèn cũng không đủ khả năng.  Họ cầu cứu người khác, nhưng thời gian đã không còn. Cơ hội để cùng tân lang vào dự tiệc đã vuột khỏi tầm tay của họ.  Cánh cửa cuộc đời đã khép kín.  Số phận của họ đã được định đoạt.  Họ bị loại trừ trong thất vọng và khổ đau.

Có biết bao lần vì lười biếng mà ta đã đánh mất những cơ hội tốt đẹp trong cuộc đời.  Có biết bao lần vì thiếu trách nhiệm mà ta đã hành xử một cách cẩu thả, cho qua lần chiếu lượt với những công việc được giao phó.  Cơ hội vào Nước Trời sẽ không có trong tầm tay của những kẻ lười biếng và thiếu trách nhiệm với cuộc sống của mình.  Vì con đường vào Nước trời là con đường hẹp đầy chông gai, sỏi đá.  Con đường của hy sinh, của phấn đấu không ngừng vươn lên mỗi ngày, mới mong đạt tới vinh quang Nước Trời.  Vì phương thế vào Nước trời là lối sống thực thi triệt để giới răn mến Chúa – yêu người, nên kẻ muốn vào Nước Trời phải chu toàn bổn phận đối với Chúa và tha nhân với đầy đủ ý thức và trách nhiệm.  Lười biếng và thiếu trách nhiệm thường đi đôi với nhau.  Kẻ lười biếng và thiếu trách nhiệm sẽ bị cánh cửa sự sống đời sau khép lại và từ chối đón nhận họ.

***************

Ước gì mỗi người chúng ta đừng vì lười biếng mà ru ngủ đời mình trong những đam mê yếu đuối, và lầm lạc.

Ước gì bình dầu yêu thương trong tâm hồn chúng ta luôn đầy tràn chan chứa hầu có thể thắp sáng tình yêu Chúa trên muôn vạn nẻo đường chúng ta đi, và làm nóng lại tình yêu của Chúa giữa nhân gian tội tình hôm nay.

Lạy Chúa! Xin cho chúng ta luôn đủ khôn ngoan để chuẩn bị dầu đèn luôn cháy sáng là những hành vi bác ái đầy yêu thương thấm đượm tình Chúa, tình người. Amen

LM. Tạ Duy Tuyền

HỎA NGỤC

Ngày xưa ta nghe các cụ đi khuyên những kẻ liệt, đọc sách thiêng liêng hay nói đến hỏa ngục như là nơi đày ải khổ sở, trầm luân vô cùng: nào là quỉ đen thui, mắt ốc nhồi nhe răng nanh, đầu có sừng, đít có đuôi, trên tay lăm le cái xiên ba răng để xiên người bỏ vào những lò nung mấy ngàn độ hoặc đưa qua những vạc dầu sôi, mùi cháy khét bốc lên ngùn ngụt.  Những câu chuyện đó nhằm làm cho ai nấy khiếp sợ để tăng phần nhân đức và để đừng phạm tội nữa.

Khi tôi còn là cậu giúp lễ, tôi cũng được nghe nhiều thánh tích về hỏa ngục khác nữa.  Như có lần cha xứ đang mặc áo lễ để dâng lễ cho một linh hồn mới qua đời, thì linh hồn đó hiện về đen thủi đen thui, nói với cha xứ là đừng dâng lễ cho tôi nữa, tôi đã xuống hỏa ngục rồi, chẳng còn gì mà hy vọng, xin cha dâng lễ cầu nguyện cho linh hồn khác.  Rồi sau đó linh hồn nhỏ một giọt mồ hôi vào lòng bàn tay cha xứ, tức thì bàn tay cha bị giọt mồ hôi xuyên qua vì nóng và rát dúa quá, xác thịt bình thường con người không thể chịu nổi.  Ôi! Ghê gớm quá, giục lòng mà xưng tội đi.

***************

Có những người bi quan cho rằng đằng nào số phận của mình cũng xuống hỏa ngục rồi, đã được xếp vào cỏ lùng, cá xấu, năm cô khờ dại…  Có những người hồ nghi là chẳng biết chết xong rồi có hỏa ngục không, ai nắm chắc chuyện đó, bảo đảm có hay không, chứng minh?  Cả hai lối suy nghĩ trên đều đưa đến cuộc sống ăn chơi buông thả, thoải mái tự do, ngông nghênh với đời và còn triết lý cùn thú vị như mình đã khám phá phát minh ra: “Tôi xuống hỏa ngục chả lẽ có một mình tôi, có người có ta chứ, sợ gì”.  Và còn biết bao tâm hồn không lên tiếng, không chối, không tin rõ rệt, có một lối sống lấp lửng, do dự, lững lờ… ra như chẳng còn sức cố gắng hơn nữa, ý chí cũng chẳng còn, hy vọng mong manh là mình sẽ không bị tụt xuống.  Nhất là cha mẹ, bạn bè hay nhắc nhở nhau đi lễ đi nhà thờ đọc kinh, để khỏi xuống hỏa ngục…

Nhìn lại những cách sống như vậy để chúng ta, những người Kitô hữu, tin vào Đức Giêsu thật sự và có một tình yêu chân chính, chúng ta bình tĩnh đặt lại vấn đề giáo dục, hướng dẫn của nền “đạo lý Kitô giáo”.  Có thể  chúng ta thiếu một nền giáo dục Kitô giáo, hoặc có một nền giáo dục Kitô giáo không khá, với những lý thuyết xa vời, những giáo điều cứng ngắc, những tưởng tượng sai lạc, những bài luân lý vô tận….

Trong Tin mừng có kể chuyện người phú hộ với yến tiệc linh đình, và ông Lazarô nghèo đói ghẻ lở tìm nhặt dưới đất những mảnh vụn ở trên bàn rơi xuống, húp những thừa cặn của tô phở mà người ăn đã bỏ đi, hút lại những mẩu thuốc lá dưới gầm bàn ăn… và cuối cùng, sau khi đã van nài đủ kiểu, ông phú hộ xin về báo cho mấy thằng anh em còn sống biết nỗi khốn khổ của con người ích kỷ. Nhưng cha Abraham nói rằng ở trần gian chúng nó đã có Môisen và các ngôn sứ, chúng nó không tin các ngài thì cho dù người chết có trở về nói cho chúng, chúng cũng chẳng tin nghe đâu (Lc 16,19-31).

Điều tôi muốn chia sẻ lại với các bạn ở đây là các ngôn sứ, nhất là Đức Kitô, đã gào thét lên cho con người về Tình Yêu Thương và Lời Chúa cho đến hôm nay.  Các chứng nhân, ngôn sứ thời đại mới, vẫn kêu gào như thế mà vẫn bị khước từ, vẫn có người bịt tai, làm ngơ : “nghe như không nghe, nhìn mà không thấy…” và họ chỉ thấy có hỏa ngục thôi.  Những người không tin, không yêu thì có lẽ cũng không nên nói về hỏa ngục vì rất dễ bị lệch, vì chỉ để hù dọa, gây kinh hoàng, sợ hãi …

Hoả ngục, đây là tình trạng lãng phí của một tình thương yêu âu yếm.  Đức Giêsu Kitô đến đâu phải để hù dọa, nhưng là để  tỏ bày tình thương yêu của Thiên Chúa, họ đã đón nhận, đã sống và đã từ chối.  Phải đặt hỏa ngục trong tương quan với tình yêu, khi đó những cực hình tra tấn, vạc dầu sôi, các lò nung nướng thịt sẽ phai nhạt đi.

Sự trầm luân với những tình huống có thể xảy ra, đó chỉ là hậu quả của tính nghiêm túc của tình yêu.  Một hình ảnh dễ hiểu là: Thiên Chúa như cái bóng đèn, ai ở gần thì người đó được hưởng ánh sáng, ai từ khước thì sẽ ở nơi tối tăm, mò mẫm, loạng quạng.  Tình thương của cha mẹ bị con cái khước từ, tình yêu của chàng bị nàng khước từ, đau đớn lắm chứ?  Nói đến hỏa ngục là để nói với những người đang yêu.  Như thánh Ignatio Loyola mỗi lần ngài bị khô khan, ngài suy niệm về hỏa ngục để kích thích lòng mến.  Thánh Têrêsa hài đồng nói với Chúa:  nếu Chúa có cho con xuống hỏa ngục thì con xin vẫn cứ yêu Chúa, một tình yêu có tính cách nhưng-không và chuyện này chẳng có thể xảy ra được.  Sự nghiền ngẫm hỏa ngục phát xuất từ lòng từ bi yêu thương âu yếm, chứ không phải bất cứ điều gì khác.  Vì thế mà nó mang tính cách cầu nguyện “Lạy Chúa, xin đừng để con xa lìa, xin đừng xa cách con khỏi Thánh Nhan Ngài”.  Người đang yêu thì suy nghĩ về hỏa ngục trong tư cách là người đang yêu, tức là trong niềm tin tưởng, trong sự phó thác cậy trông  nơi bàn tay Cha ấp ủ.  Đức Kitô qua cái chết cứu độ trên thập giá của Ngài, đã giang tay ra chận đứng cánh cổng xuống đó, và hẳn ai muốn đi xuống đó chắc là phải bước qua xác Ngài.

Tấn bi kịch của hỏa ngục
là người đã nhận biết Tình yêu và đã từ chối.

                Lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội
                nào có ai đứng vững được chăng ?  (Tv 129)

Mong Manh

BIẾT CHẾT ĐỂ BIẾT SỐNG

Trong đời sống của Đức Phật, người ta có kể lại mẩu chuyện này: Một hôm Đức Phật đang ngồi với các môn đệ, bỗng chốc có một thiên thần hiện đến và bảo:

– Người còn muốn sống đến bao lâu nữa? Hãy xin một ngàn năm và một ngàn năm sẽ ban cho ngươi.

Đức Phật trả lời một cách ngượng nghịu:

– Tôi chỉ xin 8 năm nữa thôi.

Khi thiên thần biến đi rồi, các môn đệ buồn rầu trách Đức Phật:

– Thưa thày, sao thày không xin cho sống thêm một ngàn năm nữa? Thày thử nghĩ xem, thày sẽ giúp ích cho biết bao thế hệ nữa.

Đức Phật mỉm cười trả lời:

– Nếu ta sống thêm một ngàn năm nữa, thì ta sẽ chỉ lo lắng đến việc kéo dài đời sống mình hơn là đi tìm sự khôn ngoan của cuộc sống.

***************

Ai không sợ chết?

Ai trong chúng ta chẳng một lần nghe nói về sự chết?  Có điều là người ta thường không thích nghĩ về cái chết.  Nhiều người cho rằng không nói, không bàn về cái chết, thì nó sẽ không xảy ra.  Chẳng hạn như nhà tỷ phú Mỹ William Randoph Hearst, chủ nhân của nhiều tờ báo và phim trường ở Holywood trước thế chiến thứ hai, đã cấm các nhân viên của mình nhắc đến từ ngữ “chết” trước mặt ông.  Những ai lỡ miệng nói ra thì bị đuổi việc.  Ông thông minh, tài giỏi, thành công, nhưng lại không dám đối diện với sự thật phũ phàng đó!  Rồi cuối cùng Hearst cũng chết và để lại một toà lâu đài rộng lớn, bây giờ trở thành một điểm du lịch nổi tiếng ở California.

Ngược lại, người Việt thời xưa có thói quen lo hậu sự cho mình.  Tôi nhớ hồi bà ngoại tôi còn sống, bà luôn nói với tôi rằng “sinh ký tử quy”, sống là gửi thác là về.  Tuy bà ngoại tôi là một Phật tử, nhưng xem ra bà không thích thuyết luân hồi cho lắm, bà thích được “về với tổ tiên” hơn là tái sinh vào cõi này cõi nọ.  Năm 65 tuổi bà đã bắt đầu chuẩn bị cho cái chết của mình, mua đất nghĩa trang, chọn nhà quàn, lại còn viết trên giấy rành mạch những điều cần phải làm khi lo ma chay, từ việc mua quan tài cho đến nghi thức tẩm liệm tống táng.  Bà muốn mặc chiếc áo này, đeo vòng ngọc kia, cầm cái quạt nọ.  Lại còn dặn bỏ vào quan tài cái này cái kia, như chuẩn bị hành lý cho một chuyến đi xa về gặp tổ tiên.  Coi vẻ bà chẳng sợ chết tí nào.  Bà cứ sống như thế thêm 20 năm nữa, vui vẻ bình an…và bà cũng đi cái rụp sau một cơn đột quỵ tim, hưởng thọ 86 tuổi.  Con cháu bàng hoàng bối rối, nhưng vì bà ngoại tôi đã chuẩn bị tất cả, nên mọi việc xảy ra rất êm xuôi.

Chết rồi đi về đâu?

Đối với những kẻ không tin thì chết là hết!  Là cái chung cuộc chẳng ai muốn đi tới.  Nếu thế thì cái chết đáng sợ lắm, vì nó chấm dứt tất cả những ước mơ của đời này. Cát bụi trở về cát bụi, không còn gì để đi tiếp.

Trong đức tin Kitô giáo, chúng ta biết rằng chết không phải là hết.  Nó chỉ là khởi đầu của một hành trình đi vào cõi thiên thu.  Sau cái chết tôi sẽ đi gặp gỡ Đấng Tạo Hoá, và tính sổ cuộc đời mình.  Cùng đích của cuộc đời là được sống mãi với Thiên Chúa.  Nếu tôi đã sống trong ân nghĩa của Ngài, thì chuyến đi cũng giống như trở về nhà của mình.  Sinh ký tử quy, tôi trở về nhà để sống với Thiên Chúa, Đấng dựng nên tôi. Danh từ bình dân gọi đây là Nước Thiên Đàng, nơi không còn nước mắt, chỉ có niềm vui và hạnh phúc viên mãn.

Dầu vậy trong chuyến đi này, chúng ta cũng cần được thanh luyện, như vàng được thử trong lửa.  Vì trong cuộc sống, ít nhiều có lần tôi cũng đã không sống trong ân sủng của Ngài, tôi đã để những quyến luyến của thế giới này làm chủ trái tim tôi, đóng những lớp bụi trần trên con người thật của tôi.  Tôi sinh đến trong đời với hai bàn tay trắng, và khi ra đi, tôi cũng chẳng mang gì theo được ngoại trừ công phúc và tội lỗi.  Giai đoạn thanh tẩy này gọi là Luyện Tội, nơi chúng ta được tái tạo lại theo hình ảnh của Thiên Chúa.  “Lửa” luyện tội sẽ đốt cháy tất cả những lớp bụi bặm, sơn phết mà tôi đã tô vẽ cho mình trong cuộc sống.

Còn một thực tế khác là sự xa cách đời đời với Thiên Chúa, mà trong giáo lý gọi là Hoả Ngục. Nếu lúc còn sống, tôi đã chọn một lối sống đứng ngoài Thiên Chúa, một lối sống mà Ngài hoàn toàn không có ý nghĩa gì hoặc đóng một vai trò gì trong đó, thì chẳng có lý do gì tôi lại đến gần Ngài sau khi chết. Bóng tối không thể sống chung với ánh sáng.  Cũng giống như người sống trong phòng tối quá lâu thì thấy khó chịu xốn xang khi phải ra ánh nắng, trong khi người bình thường khoẻ mạnh thì thích đến cùng ánh sáng. Hiểu như thế, chúng ta thấy rõ Hoả Ngục là con đường mình tự chọn, chẳng phải Thiên Chúa trách phạt tôi.

Vì chúng ta không thật sự biết những người thân yêu đã qua đời của mình, lúc còn sống họ đã ngoan cố khước từ Thiên Chúa, hay họ đã lầm chẳng biết, nên chúng ta cần cầu nguyện cho họ.  Đó là ý nghĩa của ngày lễ các đẳng linh hồn chúng ta mừng kính hôm nay.  Cũng như ngày lễ các thánh, chúng ta nhớ đến những người đã khuất và bày tỏ sự hiệp thông với họ.  Khi còn sống họ đã ít nhiều mang những vết thương trong linh hồn vì hậu quả của tội lỗi.  Giờ đây, chúng ta xin cho họ được Thiên Chúa giầu lòng thương xót chữa lành các thương tích vì tội lỗi, để họ trở thành những tạo vật mới, đi vào cõi bất diệt với Đấng Tạo Hoá từ nhân.

Trong mỗi thánh lễ chúng ta cầu nguyện cho những linh hồn của ông bà cha mẹ, thân nhân bạn hữu, và kể cả những linh hồn mồ côi được chóng hưởng thánh nhan Chúa, nhưng hôm nay chúng ta nhớ đến họ một cách đặc biệt, vì đó cũng là số phận của phần lớn chúng ta.

Biết Chết Để Biết Sống

Nhớ đến người chết để cầu nguyện cho kẻ sống.  Có lần tôi đọc được đâu đó một câu: “Hôm nay là ngày đầu tiên của những ngày còn lại của đời bạn.”  Lúc đó tôi chẳng quan tâm nhiều lắm! Ôi, đời còn dài mà, suy nghĩ chi cho mệt!  Nhưng càng ngày tôi càng ý thức được điều này.  Ai mà chẳng một lần phải chết thì tại sao mình không để ý đến làm sao để sống cho trọn vẹn nhỉ?

Trong sách Linh Thao, thánh I-nhã Loyola khuyên ta nên tưởng tượng mình trong giờ phút hấp hối, nhìn lại cuộc đời mình, và lượng giá mọi quyết định của đời mình theo nhãn quan đó.  Có lẽ khi nhìn từ nhãn quan của một người sắp chết, chúng ta sẽ thấy rõ hơn những điều gì thật sự quan trọng và cần thiết cho cuộc đời mình.  Những gì hào nhoáng giả dối sẽ bộc lộ.

Nhưng cuộc thanh luyện không nhất thiết phải bắt đầu lúc hấp hối hoặc sau khi chết.  Lửa thử vàng, gian nan thử đức. Những đau khổ mà tôi đang gánh chịu, phải chăng cũng là một thứ luyện tội ngay tại thế gian này?  Ai từng bị bệnh nan y đều có cảm nghiệm này.  Từ lúc khám phá ra họ có tên trong sổ đen của thần Chết, nhất là sau khi bị bác sĩ nhà thương “chê”, cách nhìn của họ về cuộc sống thay đổi rất nhiều.

Ai mà chẳng phải chết, nhưng liệu chúng ta muốn chết trong thanh thản an bình, hay chết trong sợ hãi, dằn vặt, nuối tiếc.  Phải chăng những người dám đối diện với cái chết thì biết cách sống?  Có lẽ muốn sống tốt hơn, phải hiểu cái chết.  Nhưng xin chúng ta đừng để quá muộn, vì có những điều muốn sửa lại cũng chẳng được, vì sẽ chẳng còn thời gian.

***************

Lạy Chúa,

Đứng trước cái chết, con cũng run sợ như ai
Vì con chưa thấy sẵn sàng để gặp Chúa.
Cả cuộc đời con, con đã lo toan rất nhiều,
Nhưng điều quan trọng nhất là chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ ấy
Thì con lại chưa làm gì cả.
Con thật dại khờ khi nghĩ rằng con sẽ có đủ thời gian,
Con sẽ làm được điều đó bất cứ lúc nào con muốn.
Nhưng sự thật là con chưa bao giờ tự làm chủ được sự sống của mình
Làm sao con lại dám cho mình cái quyền làm chủ được sự chết?
Ngày nào đó con đến trước mặt Chúa
Không biết Chúa có nhận ra con hay không,
Hay là Chúa bảo “đi cho khuất mắt Ta, hỡi phường gian ác”

Lạy Chúa là Chúa Tạo Vật,
Con xin Chúa sự khôn ngoan
Để sống trọn vẹn giây phút hiện tại
Trong ân nghĩa của Chúa
Để rồi ngày nào đó con đi gặp Chúa,
Sẽ không như hai người xa lạ
Nhưng là hai người rất thân quen.
Lúc đó, Chúa sẽ gọi con bằng tên rất trìu mến
Và giang đôi tay đón con vào lòng.  Amen!

Bảo Lộc

CHẾT

Khi biết rằng Minh Sư của mình sắp lìa xa cõi trần, các đệ tử vô cùng thất vọng. Minh Sư nhìn họ và tươi cười bảo :

– Các con không thấy rằng cái chết làm cho đời sống của ta đáng yêu, đáng qúy hơn sao?

– Dạ không. Chúng con chỉ ước mong thầy đừng bao giờ chết thì hơn.

– Các con ơi! Bất cứ cái gì thực sự sống thì đều phải chết. Các con hãy nhìn xem những bông hoa ngoài kia: chỉ những bông hoa giả, làm bằng giấy, bằng nhựa mới không bao giờ chết.

(Anthony de Mello, trích trong “One Minute Wisdom”)

***************

Bạn thân mến!  Chết là điều chắc chắn sẽ xảy đến cho mỗi người chúng ta, không ai trên cõi đời này mà không có ngày phải đi qua sự chết.  Chết là một kết thúc của cuộc sống này và là một khởi đầu cho một cuộc sống khác.  Ðó là một chân lý hết sức rõ ràng và chắc chắn. Nó nhắc nhở chúng ta về bản chất thật ngắn ngủi, thật mong manh phù du của đời sống con người trên dương thế này.

Hằng năm, cứ vào tháng 11, Giáo Hội mời gọi mọi tín hữu hãy nghĩ đến những người đã chết, đã ra đi trước chúng ta, trong đó có thể có những người thân yêu trong gia đình, có ông bà tổ tiên, có cha mẹ anh em bạn bè … “Hãy cầu nguyện với họ và cầu nguyện cho họ”, đó là điều mà Giáo Hội mời gọi chúng ta cùng nhau thực hiện trong tháng 11 này.

Khi nghĩ đến những người đã chết, chúng ta cũng phải nghĩ tới cái chết của chính bản thân mình. Có những điều chắc chắn về cái chết của cuộc đời mình, đó là:

– Tôi là một con người nên tôi phải chết

– Khi chết tôi không mang theo được điều gì ngoại trừ tội lỗi và công phúc.

– Chết không phải là hết, mà là còn…còn đời sau, còn ra trước tòa Chúa.

Cũng có những điều không chắc chắn về cái chết của cuộc đời mình, đó là:

– Cái chết sẽ đến với tôi vào lúc nào ? Ngay bây giờ ? Ngày mai hay vài ba năm sau?

– Cái chết đến với tôi ở đâu? chỗ nào? Trong bệnh viện ? Ngoài xa lộ ? Trên biển cả ? Trên máy bay ?

– Cái chết đến với tôi bằng cách nào? Chết vì bệnh? Vì tuổi già? vì tai nạn ?

– Sau khi chết, tôi sẽ đi về đâu? Đi về cõi trường sinh vĩnh phúc hay nơi trầm luân đời đời?

Cái chết của mỗi người là một chuyến đi cuối cùng, một chuyến đi quyết định và quan trọng, chuyến đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Nhất định nó phải xảy ra.

Một chuyến đi một vài tuần về thăm quê nhà, hoặc một chuyến đi nghỉ hè đôi ba bữa…Tôi đã phải xắp xếp chuẩn bị nhiều ngày, có khi nhiều tuần …. Nhưng tôi đã chuẩn bị được những gì cho chuyến đi cuối cùng và thật quan trọng của cuộc đời tôi?  Tôi có nỗ lực để xắp xếp chuẩn bị cho chuyến đi vĩnh viễn và không bao giờ trở lại này không?

***************

Nếu hạt lúa mì gieo vào lòng đất mà không thối đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình. Còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga.12: 24).

Lạy Chúa! Xin cho con chịu mất bản thân mình để được chính Chúa, chịu mất điều tầm thường để được điều cao cả, chịu mất trần gian tạm bợ này để được thiên đàng vĩnh cửu đời đời.

Xin cho cuộc sống của con hôm nay luôn mang đậm dấu ấn cầu nguyện sám hối và tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa.  Xin cho con biết “tránh tội lập công”, biết ”từ bỏ để sẵn sàng ra đi”, không bám dính vào những điều tạm bợ của cuộc đời này. Xin cho con biết nỗ lực chuẩn bị cho chuyến đi cuối cùng và tối quan trọng của cuộc đời con, để con không bị rơi vào chốn trầm luân đời đời mà nhất định đi về cõi trường sinh vĩnh phúc.  Amen

Linh Xuân Thôn

MỘT NGÀY ĐỂ NHỚ ĐẾN THẦN DỮ

Hôm nay ngày cuối tháng 10.  Buổi chiều ngày cuối tháng 10 được người Mỹ và các nước chịu ảnh hưởng của Mỹ gọi là Halloween, nghĩa là vọng lễ các thánh.

Có lẽ do những rơi rớt còn lại của một ngày lễ ngoại giáo bắt nguồn từ thời những người Celtic trước Công nguyên, ngày vọng lễ các thánh mang màu sắc ảm đạm ma quái.

Trong các cửa tiệm, hàng hóa được trưng bày một khung cảnh quái dị: những hình nộm được tô vẽ với một bộ mặt của thần chết, những màng nhện trắng xóa giăng mắc khắp nơi, những đồ chơi trẻ em cũng được khoác lên những nét kinh hãi quái dị.  Trên màn ảnh truyền hình cũng như tại các rạp chiếu bóng, đa số các phim trình chiếu đều mang nội dung quái đản, kinh dị.  Buổi tối ngày Halloween, thanh niên thiếu nữ thường cải trang thành ma quái để đi từng nhà ca hát xin kẹo và kể cho nhau nghe chuyện ma quái.

***************

Phải chăng mỗi năm người ta dành một ngày để nhắc nhở về sự hiện hữu và tác quái của thần dữ?  Nhưng liệu con người ngày nay còn ý thức được tội lỗi và sự tác động của thần dữ không?

Thi sĩ Baudelaire của Pháp đã có lần nói: “Sự thành công của ma quỷ là thuyết phục được con người rằng nó không hiện hữu”.

Với những khám phá mới trong ngành tâm lý học cũng như bệnh lý học, người ta cho rằng tất cả những vụ quỷ ám mà Kinh thánh nói đến chỉ là những hiện tượng tâm lý bệnh hoạn mà ngày nay khoa học có thể tìm ra nguyên nhân.  Với luận điệu ấy, con người ngày nay tự hào đã loại trừ ma quỷ ra khỏi cuộc sống.

Có lẽ ngày nay, người ta ít có dịp chứng kiến những vụ quỷ ám nhãn tường như Thánh kinh đã ghi lại.  Tuy nhiên, dù muốn dù không, không ai có thể chối cãi được một sức mạnh luôn cày xéo tâm hồn con người, luôn lôi kéo con người đến chỗ tự hủy và hủy diệt lẫn nhau.  Mãi mãi câu nói của thánh Phaolô vẫn đúng cho kinh nghiệm của mỗi người: “Ðiều thiện tôi muốn làm thì tôi không làm, điều ác tôi không muốn làm, thì tôi lại làm”.  Có một sức mạnh vô hình nào đó luôn khuyến dụ, luôn lôi kéo con người vào tội ác…  Thánh Phêrô hẳn không thể nào quên được lời cảnh cáo của Chúa Giêsu: “Hỡi Satan, hãy tránh khỏi mặt Ta”.  Trong lá thư đầu tiên gửi cho các tín hữu, vị Giáo Hoàng đầu tiên đã nhắn nhủ: “Hãy tỉnh thức luôn.  Kẻ thù của anh em là ma quỷ như sư tử luôn gầm thét lượn quanh, tìm mồi để cắn xé. Anh em hãy chống cự và kiên vững trong Ðức Tin”.

Là người tín hữu, chúng ta không ngừng cầu nguyện bằng chính lời Kinh của Chúa Giêsu: “Xin cứu chúng con khỏi ác thần”.  Ước gì lời Kinh ấy luôn nhắc nhở chúng ta về sự tác động liên lỉ của ma quỷ trong cuộc sống của từng người chúng ta.  Nhưng chúng ta không phải hãi sợ bởi vì chúng ta không chiến đấu một mình mà cùng với và bằng chính sức mạnh của Ðấng đã nói: “Ðừng sợ hãi, vì Ta đã thắng thế gian”.

R. Veritas

TÌM GẶP THIÊN CHÚA GIỮA LÒNG ĐỜI (có Youtube)

Theo ánh sáng của ngôi sao lạ, ba nhà chiêm tinh đã tìm đến cung điện của vua Hê-rô-đê để thờ lạy kính bái, vì nghĩ rằng nếu có vị vua mới sinh thì ắt vua đó phải sinh ra nơi cung vàng điện ngọc, nơi chốn cao sang. Nhưng thực ra không phải thế. Khi ba vị đến ngay cung điện vua Hê-rô-đê và hỏi: “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người,” thì vua Hê-rô-đê tỏ hết sức ngạc nhiên. (Mt 2, 2)

Bấy giờ “nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời: “Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: “Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời.” (Mt 2, 4-6)

Thật bất ngờ, Chúa Cứu Thế không sinh ra trong cung vàng điện ngọc mà lại sinh ra trong nơi quê mùa heo hút, nơi làng Bê-lem là phần đất nhỏ bé của miền Giu-đa.

Như thế, nhờ ánh sáng từ Kinh Thánh soi sáng mà vua Hê-rô-đê, cả triều thần của vua cũng như ba nhà chiêm tinh biết được nơi Chúa Cứu Thế giáng sinh. Cũng nhờ ánh sáng nầy, ba nhà chiêm tinh tiếp tục đến tận nơi để thờ lạy và dâng lễ vật cho Người, tại một nơi nghèo nàn tầm thường mà ba vị không ngờ trước được.

Hôm nay, không có ngôi sao lạ nào xuất hiện trên bầu trời để soi đường cho chúng ta đi tìm Chúa, nhưng chúng ta có một ánh sáng khác rực rỡ hơn giúp ta tìm gặp Người. Đó là ánh sáng của Lời Chúa, như lời Thánh Vịnh: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi.” (Thánh vịnh 119, câu 105)

Vậy ánh sáng Lời Chúa soi đường cho chúng ta tìm thấy Chúa nơi đâu?

Ở nơi mà không mấy ai tin là có: Ở ngay trong nhà, trong xóm chúng ta. Thật quá bất ngờ !

Ba nhà chiêm tinh ngày xưa ban đầu cứ ngỡ rằng vua mới ra đời ắt phải sinh ra trong cung điện Hê-rô-đê, không ngờ Lời Chúa lại chỉ cho họ tìm gặp Đấng Cứu Thế mới sinh tại một làng quê Bê-lêm hẻo lánh, trong hình hài một trẻ sơ sinh yếu ớt, tại một túp lều nghèo nàn đơn sơ.

Chúng ta cũng thế, ban đầu chúng ta cứ tưởng Chúa chỉ ngự trên chốn trời cao, Chúa chỉ hiện diện trong Bí Tích Thánh Thể, chỉ ngự trong các thánh đường… Nào ngờ Chúa cũng hiện diện trong chính gia đình chúng ta, trong thôn xóm nghèo nàn của chúng ta.

Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong tâm thư gửi các gia đình đã viết: “Thiên Chúa đồng hoá với con người, với những người trong gia đình. Thiên Chúa là một với người cha, người mẹ, người bạn trăm năm, người con cái trong gia đình.”

Qua dụ ngôn về ngày phán xét cuối cùng trong Tin Mừng Mát-thêu, Chúa Giê-su tỏ cho thấy những ai cho những người đói khát đầu đường xó chợ một bát cơm thì Chúa nói là họ cho Chúa ăn. Những ai cho người rách rưới hoặc mình trần một manh áo, thì Chúa nói là họ đã cho Người mặc. Những ai cho người sa cơ thất thế không nơi nương tựa được trú ngụ một thời gian thì Chúa nói là họ đã cho Chúa trọ nhà… Nói như thế, Chúa Giê-su tự đồng hoá mình với mọi người chung quanh. Nói khác đi, bất cứ ai cũng được Chúa Giê-su nhìn nhận là chính Người. (xem Mt 25, 31-46)

Khi chưa nhận biết Đức Giê-su là Thiên Chúa, Phao-lô ra tay bách hại các môn đệ của Người dữ dội. Vì thế, ông đã bị quật ngã trên đường Đa-mát và có tiếng Chúa Giê-su vang lên giữa thinh không: “Sao-lô, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” Phao-lô hết sức kinh hoàng: “Thưa Ngài, Ngài là ai?” Có tiếng từ trời đáp: “Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ”. (Cv 22, 6-9). Chính từ hôm đó, Sao-lô (tức thánh Phao-lô tông đồ) mới nhận ra các tín hữu cũng chính là Chúa Giê-su nên người thường nhắc nhở mọi người ghi tâm khắc cốt lời nầy: “Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Ki-tô sao?” (I Cr 6, 15).

Chính những Lời Chúa dạy trên đây là ánh sao sáng, còn sáng hơn sao Bê-lem năm xưa, soi sáng cho chúng ta biết Chúa đang ở ngay trong gia đình, trong làng xóm của chúng ta, để chúng ta đến hầu hạ phục vụ và dâng lễ vật cho Người.

Lễ vật của chúng ta không phải là vàng, nhũ hương và mộc dược nhưng là một tấm áo cho cha, một bát cơm cho mẹ, là sách vở bút mực cho con cái học hành, là sự ân cần săn sóc cho những người đau khổ chung quanh chúng ta.

Đó là những lễ vật quý báu mà Chúa Giê-su đang thiết tha chờ đợi. Ước gì chúng ta mau mắn và quảng đại hiến dâng cho Người.

LM Inhaxiô Trần Ngà

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

ĐÊM ÁNH SÁNG (có Youtube)

Đêm Giáng Sinh chìm trong lớp bóng tối dày đặc.

Bóng tối tự nhiên của một đêm mùa đông ảm đạm.  Bóng tối cay đắng của đêm dài nô lệ khi đất nước chìm trong ách thống trị ngoại bang.  Bóng tối âm thầm nhẫn nhục của những kiếp người nghèo hèn lam lũ.  Bóng tối âm u trong túp lều lúc nhúc súc vật hôi tanh.  Bóng tối u mê của tội lỗi nhơ nhớp.

Giữa màn đêm dày đặc, Hài nhi Giêsu xuất hiện như một làn ánh sáng rực rỡ.

Đó là ánh sáng tình yêu.

Tình yêu vốn là một ngọn lửa vừa chiếu sáng vừa sưởi ấm.  Hài nhi Giêsu là kết tinh tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại.  Tình yêu đã đi đến tận cùng vì đã trao ban cho nhân loại món quà cao quí nhất không gì có thể so sánh được.  Trao ban Đức Giêsu là cho tất cả, không còn có thể cho thêm gì nữa.  Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa đi tìm con người.  Thiên Chúa đã hạ mình thẳm sâu để xuống gặp con người.  Thiên Chúa đã tìm thấy con người trong những khốn cùng tột độ của nó.  Thật lạ lùng, Thiên Chúa quá yêu thương đến độ kết hợp với sự khốn cùng của nhân loại.  Thiên Chúa đã cưới lấy bản tính nhân loại.  Bóng đêm nhân loại nhận được ánh sáng của Thiên Chúa.  Bóng đêm khổ đau nhận được ánh sáng yêu thương.  Ánh sáng Thiên Chúa soi sáng kiếp người tăm tối.  Ánh sáng Thiên Chúa sưởi ấm cho nhân loại lạnh lẽo.

Đó là ánh sáng niềm tin.

Ánh sáng Giáng Sinh chiếu toả trên những tâm hồn thiện chí.  Đêm nhân gian vẫn còn mê đắm, nhưng vẫn có những tâm hồn thiện chí tỉnh thức.  Đó là những tâm hồn bé nhỏ nghèo hèn.  Đó là những cuộc đời khiêm tốn sống âm thầm trong bóng tối.  Đó là những người nghèo của Thiên Chúa.  Đó là thánh Giuse, Đức Maria.  Đó là Ba Vua.  Đó là các mục đồng.  Khiêm nhường nên các ngài sẵn sàng đón nhận thánh ý Thiên Chúa.  Tỉnh thức nên các ngài nhạy bén đón nhận những dấu chỉ Thiên Chúa gửi đến.  Thiện chí nên các ngài hăng hái lên đường ngay khi nhận được tín hiệu.  Đơn sơ nên các ngài nhận được ánh sáng.  Hê rô đê và Giêrusalem chìm trong mê đắm nên ngôi sao đã tắt.  Trái lại “vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh các mục đồng.”  Và ngôi sao xuất hiện dẫn đường cho Ba Vua.  Ánh sáng đã bao phủ các ngài.  Ánh sáng đã dẫn đưa các ngài đến bên máng cỏ.  Ánh sáng đã khiến các ngài nhìn thấy “một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” và các ngài đã tin.

Đó là ánh sáng hy vọng.

Hài nhi Giêsu là hạt giống bé bỏng Thiên Chúa gieo vào thế giới.  Những tâm hồn thiện chí là mảnh đất phì nhiêu.  Những người nghèo của Thiên Chúa âm thầm kiên trì chờ đợi.  Những tâm hồn thiện chí như Ba Vua ngước mắt lên trời tìm kiếm.  Niềm khao khát đã được đáp ứng.  Đã đến mùa Thiên Chúa gieo hạt.  Hạt mầm thần linh gieo vào xác phàm sẽ thần hoá cả nhân loại.  Hạt giống Giêsu sẽ triển nở thành cây cao bóng cả cho muôn loài trú ngụ.  Mặt trời bé nhỏ Giêsu sẽ trở thành mặt trời chính ngọ soi chiếu đêm tối nhân gian.  Ánh bình minh Giêsu hứa hẹn một ngày mới chan hoà ánh sáng.  Với Hài nhi Giêsu, một thời đại mới khởi đầu: những người bé nhỏ được nâng lên, những người nghèo hèn được kính trọng.  Giêsu chính là hạt mầm hy vọng Thiên Chúa gieo vào thế giới.

Đó là ánh sáng Tin Mừng.

Được thắp lửa, những tâm hồn thiện chí trở thành những ngọn đuốc, không chỉ sáng lên niềm vui, niềm tin, niềm hy vọng, mà còn chia sẻ ánh sáng với những người chung quanh.  “Họ kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này.”  Tin Mừng được loan đi.  Niềm vui lan tới mọi tâm hồn.  Ánh sáng bừng lên phá tan đêm tối.

Hài nhi Giêsu như mầm cây vừa nhú.  Mầm cây cần bàn tay ân cần chăm bón để vươn thành cổ thụ cành lá xum xuê.  Hài nhi Giêsu như ngọn nến đem ánh sáng vào đêm tối.  Ngọn nến cần được nhiều bàn tay liên đới chuyền nhau cho ánh sáng lan rộng.

Xin cho con được trái tim của các mục đồng biết mở lòng ra đón nhận ánh sáng và biết đem ánh sáng của Chúa đi khắp nơi, để đêm tối trần gian được ngập tràn ánh sáng huy hoàng của Chúa.

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.