MÓN QÙA KHÔNG ĐƯỢC NHẬN

Ngày qua ngày, danh tiếng Phật Thích Ca lan tràn khắp nơi, ai cũng trầm trồ khen ngợi và mong có dịp để gặp mặt Ngài.  Phần Ngài, đời sống vẫn bình thường, vẫn tụng niệm và phục vụ tha nhân.

Một hôm trên quãng đường vắng, Ngài thấy mình cùng đồng hành với một người đàn ông, dáng vẻ không mấy bình thường.  Nhận ra Ngài, ông ta như nổi sùng và bắt đầu sỉ vả Ngài với tất cả những danh từ xấu xa mà trí tưởng tượng có thể bày ra.  Đức Phật không hề bực bội, Ngài thản nhiên lắng nghe tất cả.  Khi người đàn ông kia ngừng nghỉ mệt và có vẻ hết hứng, Đức Phật mới nhỏ nhẹ đặt câu hỏi:

– Tôi xin phép hỏi ông: Khi một người muốn tặng một món quà cho bạn mình, nhưng bị bạn từ chối, món quà đó thuộc về ai?

Người đàn ông nhìn Đức Phật vẻ mỉa mai rồi xẳng giọng:

– Dĩ nhiên là món quà đó thuộc về người muốn cho.

Nghe thế Đức Phật chậm rãi cắt nghĩa:

– Vừa rồi ông muốn tặng tôi nhiều tên xấu, tôi xin từ chối tất cả.

Người đàn ông chưng hửng há miệng lớn không nói được lời nào. 

***************

Vì không ai là một hòn đảo, đời sống chung đụng thường được dệt bằng những hành động trao đổi.  Người ta trao đổi lý tưởng, văn hóa, tình yêu, khả năng và tiền tài.  Có trao đổi nghĩa là có giao thông, có chấp nhận sự hiện hữu của một người khác.  Trao đổi nâng cao tình tương thân tương ái.  Trao đổi được thực hiện qua nhiều hình thức.  Người ta có thể đổi chác, mua bán hay trao tặng.  Người mua cần người bán, người cho cần người nhận, người nào cũng quan trọng.  Nếu việc trao đổi là quan trọng thì vật trao đổi cũng không kém phần cần thiết, nó tượng trưng cho tấm lòng của mỗi người.  Nếu chúng ta trao ban cho người khác tấm lòng quảng đại, tinh thần phục vụ, lòng cảm thông và tha thứ, chắc hẳn chúng ta cũng sẽ được cảm thấy thoải mái an bình.  Nhưng nếu chúng ta chỉ tìm cách nuôi dưỡng ích kỷ, gây đố kỵ chia rẽ, chúng ta cũng không thoát khỏi lương tâm áy náy.  Chính Chúa Giêsu đã phán:  “Sự gì anh em muốn người ta làm cho mình thì hãy làm sự ấy cho người ta”.

Người đàn ông trong câu chuyện trên đã mang họa vào mình vì ông đã tham hiểm mưu xấu cho người khác, ông muốn nhục mạ Đức Phật nên đã không tiếc danh từ xấu xa, không ngờ món quà đê tiện đó bị từ chối và nó vẫn thuộc quyền sở hữu của ông, chính ông phải đeo mang những cái tên hèn hạ đó.

***************

Lạy Thiên Chúa suối nguồn tình yêu, Chúa đã dạy chúng con yêu người như chính mình, không ai ước muốn sự xấu cho mình, nghĩa là chúng con không có lý do nào để làm những điều tệ hại cho tha nhân.  Chúng con muốn được yêu thương, được tiếp đãi ân cần, được thân thiết săn đón và được mọi người kính nể.  Xin giúp chúng con biết khiêm nhường, đối xử với anh em những gì chúng con đang mong đợi nhận lãnh.  Xin Chúa luôn là ánh sáng soi đường cho chúng con, xin hãy đổ tràn tình yêu Chúa trên chúng con để chúng con biết chia sẻ cùng người xung quanh.  Amen

R. Veritas

CHÚA QÚA NHÂN TỪ

Một buổi sáng đi ngang qua con đường Euclid vùng Nam California, thấy đầy dẫy những người Mễ đứng dọc hai bên lề đường, tôi thắc mắc hỏi bác tài xế, và được biết là họ đang đứng chờ người thuê đi làm.  Bác tài xế còn nói thêm: “Ở đây thuê Mễ rẻ lắm“. Tôi hỏi tiếp:  “Vậy rẻ là bao nhiêu vậy bác?” Bác trả lời: “Có người trả họ hai đồng một giờ, có người thuê ba đồng, có người bốn hoặc năm đồng. Nhưng mà bốn năm đồng thì hiếm lắm. Tụi nó… hả… trả bao nhiêu nó cũng làm hết”.

Thấy cảnh tượng nhân công nhiều mà người thuê nhân công thì ít, tôi chợt nghĩ : Sẽ có người sẽ được thuê đi làm và được năm ba đồng nuôi sống gia đình, cũng có người sẽ đợi, đợi mãi rồi lủi thủi trở về nhà chờ sáng mai ra đứng đợi tiếp. Cuộc sống của họ thật bấp bênh. Nghĩ thật đáng thương!

***************

Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, Chúa Giêsu diễn tả Nước trời qua hình ảnh một gia chủ gọi các người thợ vào làm vườn nho cho ông. Nhưng khác với những người nhân công Mễ trong câu chuyện trên, những người thợ làm vườn nho trong bài Tin Mừng hôm nay đều được chủ vườn nho gọi đi làm và được trả công cân xứng: có người được gọi đi làm ngay từ tảng sáng, có người từ trưa, và có người mãi đến chiều; và tất cả đều được một đồng tiền lương.

Tương tự như vậy. Thiên Chúa mời gọi người ta gia nhập Hội Thánh vào nhiều thời điểm khác nhau : Có người ngay từ khi mới sinh, người khác ở tuổi mới lớn, có người ở tuổi trưởng thành, có người khi về già và thậm chí có người ngay trước khi chết nữa.  Bất cứ ai, dù theo đạo từ khi mới sinh hay trước khi chết, nếu thành tâm tin yêu phụng sự Thiên Chúa, tuân giữ các giới răn mà Ngài đã truyền dạy, thì đều được Ngài cho hưởng ơn cứu độ.  Đó là tình thương yêu, lòng nhân từ của Thiên Chúa đối với con người,  đặc biệt đối với những kẻ gia nhập Hội Thánh sau này.

Mỗi người chúng ta, sau khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, hằng ngày đón nhận biết bao ơn phúc và tình thương của Chúa.  Hôm nay là dịp để chúng ta cùng nhau nhìn lại ơn gọi cao quý mà Chúa đã kêu gọi mỗi người chúng ta vào làm vườn nho Chúa. Chúng ta tin rằng cho dầu chúng ta được nuôi dưỡng và lớn lên trong gia đình đạo hạnh ngay từ tấm bé, hay cho dầu suốt cả đời sống xa tình Chúa và nay được ơn nhận biết Chúa trong những ngày tháng cuối đời, chúng ta đều có quyền tin chắc rằng Chúa luôn yêu thương chúng ta, và Ơn Cứu Độ của Ngài luôn dành cho những ai lắng nghe và đáp trả lời mời gọi của Ngài

***************

Lạy Chúa, chúng con cám ơn Chúa vì Chúa đã gọi, đã chọn, và đã trao cho chúng con mỗi người mỗi việc trong vườn nho Chúa.  Xin Chúa ban cho chúng con được luôn rộng mở cõi lòng đón nhận ơn Chúa.  Chúng con muôn đời cảm tạ ơn Chúa. Xin Chúa thương đến những người vẫn còn “vô công rỗi nghề đứng nơi đầu chợ”, ban cho họ được nhận ra tiếng Chúa mời gọi và sẵn sàng quảng đại thưa tiếng Xin Vâng. Amen

Br. Minh Trân, CMC

MẸ ÔM XÁC CON

Trưa 23-4-1995, ông Gregory Floyd đang nghỉ tại nhà riêng ở thành phố Nashville, thủ phủ bang Tennessee, Hoa Kỳ.  Bỗng chuông cửa reo vang.  Ông càu nhàu khó chịu, không muốn bị quấy rối trong giờ nghỉ trưa..

Chuông cửa như không buông tha.  Nó reo lâu hơn, dài hơn, như nài nỉ, như thúc giục chủ nhân mau mau ra mở cửa.  Ông Gregory đành chỗi dậy.  Cánh cửa vừa mở ra, người khách lạ dàn dụa nước mắt nói nhanh:

– Chúa ơi, xin ông ra mau, ra mau.  Tôi nghĩ đã cán trúng mấy đứa con của ông!

Trong nháy mắt, ông Gregory tỉnh hẳn.  Ông lao nhanh ra đường.  Bé David 8 tuổi cùng em John-Paul 6 tuổi đang chơi xe đạp trước nhà, nơi con hẻm có ngõ cụt.  Bỗng chiếc xe chạy ngon trớn, húc vào hai bé.  Có lẽ tài xế bị ánh nắng mặt trời chói chang làm loé mắt, không thấy đường.

Bé David nằm trên vũng máu còn John-Paul nằm bất động như ngừng thở.  Môi bé dần dần tím lại.  Ông Gregory vội vàng làm hô hấp nhân tạo cho con.  Ông đưa miệng mình vào miệng của bé, giúp bé thở trở lại.  Vài phút sau, hai xe cứu thương hú còi chạy nhanh tới.  Mỗi xe đưa một bé đến nhà thương khác nhau.

Bà Maureen vợ ông Gregory đi theo xe chở bé David.  Còn ông Gregory đi theo xe chở John-Paul.  Suốt trên quảng đường tới nhà thương, ông Gregory không ngừng nói với bé John-Paul:

– Con tỉnh dậy đi, con thở lại đi.  Con giỏi lắm mà!

Nhưng bé John-Paul không nghe tiếng gọi của cha.  Bé bất tỉnh nhân sự.  Bé không động đậy, không phản ứng gì cho đến khi bé ngừng thở hẳn.  Trong khi đó bé David bị thương nặng, nhưng mạng sống không lâm nguy.

Chỉ vỏn vẹn 24 tiếng đồng hồ sau tai nạn, bé John-Paul vĩnh viễn lìa bỏ cha mẹ, anh chị em yêu dấu.  Biến cố quá bất ngờ, quá đột ngột, quá nhanh chóng khiến ông Gregory và bà Maureen như bị xé nát ruột gan.  Cảnh tượng đau lòng nhất là lúc bà Maureen bồng xác John-Paul bất động trên tay.  Bốn năm sau, nhắc lại biến cố đau thương trong cuốn sách: “Tỏ lộ nỗi buồn”, ông Gregory viết:

– Đây là giây phút thánh thiêng nhất trong cuộc đời vợ tôi.  Đó là hình ảnh của người mẹ và đứa con.  Đức Mẹ MARIA và Đức Chúa GIÊSU.  Maureen và John-Paul.  Giây phút thánh thiêng đến độ mọi người có mặt đều giữ thinh lặng.  Tôi chăm chú nhìn vợ đang bồng xác con trên tay.  Maureen áp đầu vào ngực con và đưa mặt con áp chặt vào mặt mình.  Rồi Maureen thì thào nói với con: ”John-Paul con à, thật là đặc ân được làm mẹ con. Hạnh phúc biết bao cưu mang con trong dạ.  Giờ đây con hãy cầu nguyện cho cha mẹ và anh chị em, con nhé!” Quả không có bài thơ nào, không có bức tranh nào, cũng không có bài ca nào diễn tả hết được những tâm tình giống như tâm tình của người mẹ đối với con trong lúc này.  Thật cảm động!

Sau giây phút bàng hoàng đau đớn, ông bà bằng lòng cho các cơ phận còn nguyên vẹn tốt lành của bé John-Paul 6 tuổi để cứu giúp những ai đang cần đến.

Thời gian tiếp theo là nỗi sầu khổ nơi gia đình Floyd vì nhớ đến cậu bé kháu khỉnh lanh lẹ John-Paul.  Ông bà không che dấu nỗi buồn với các con, trước cái chết bất ngờ của John-Paul.  Ông bà còn 6 con.  Nhưng 6 đứa con vẫn không lấp đầy chỗ trống do John-Paul để lại.  Riêng ông Gregory vô cùng đau khổ vì mất con.

Ban đầu, ông phản loạn chống lại THIÊN CHÚA.  Nhưng từ từ, ý nghĩ ”THIÊN CHÚA CHA cũng có Người Con bị chết treo trên Thập Giá” giúp ông hiểu và chấp nhận thử thách.  Ông nhớ lại hình ảnh Đức Mẹ MARIA Sầu Bi ôm xác Đức Chúa GIÊSU lúc vừa hạ xuống khỏi Thánh Giá.  Hình ảnh này là hình ảnh của bà Maureen ôm xác John-Paul.

Từ đó ông Gregory cảm thấy được an ủi vì biết rằng hơn ai hết, THIÊN CHÚA và Đức Trinh Nữ Rất Thánh MARIA hiểu rõ hoàn cảnh đau thương của mình. Ông tìm lại quân bình và đặt trọn niềm tin nơi THIÊN CHÚA.

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
(”Our Sunday Visitor”, August 1, 1999, trang 5).(Radio Vatican)

THA THỨ

Có hai thứ mùa xuân, mùa xuân của đất trời và mùa xuân của tâm hồn.  Mùa xuân nào thì cũng cần đổi mới.  Mới của mùa xuân đất trời là mầm non nẩy lộc.  Mới của mùa xuân tâm hồn là sự tha thứ. Tha thứ làm cho mối giây liên hệ đã khô héo hồi sinh, nẩy mầm.  Từ đó, cuộc sống thành tươi mát.

Trong khi đi tìm mùa xuân, tôi nghe chung quanh tôi có nhiều tiếng than.  Khổ cực của nghèo túng. Dằn vặt của hận thù.  Có nhiều loại cay đắng.  Ðắng cay vì thất bại làm ăn, vì chuyện gia đình, vì chuyện tình duyên.  Ai cũng muốn tránh né nghịch cảnh.  Muốn có cuộc sống êm đềm, muốn có một mùa xuân.

Trong các thứ khổ hạnh, giữa những thứ đắng cay, có một thứ rất cay đắng đó là thiếu vắng niềm thông cảm, là một trái tim phải mang hận thù, hận thù người và lo âu người thù hận lại.  Khi tôi ghét ai, tâm hồn tôi không còn phẳng lặng nữa.  Khi tôi bị người khác ghét, tôi sống trong đề phòng sợ hãi.  Cả hai đều là ngục tối.  Cả hai đều đánh mất bình an.  Người ta đã chẳng thường nói: Thà nghèo nhưng yêu thương nhau thì vẫn hạnh phúc.  Vì thế, yêu thương là con đường duy nhất tạo nên bình an và làm cho cuộc sống tươi mát.  “Này đây Ta ban cho các con một giới răn mới: các con hãy thương mến nhau” (Yn 13,33).

Có nhiều yếu tố để duy trì một mối liên hệ nhưng yếu tố căn bản vẫn là tha thứ.  Người ta chẳng thể yêu nếu không tha thứ, vì tha thứ là ngưỡng cửa mời gọi và tái sinh tình yêu khi mối liên hệ giữa hai người bị sứt mẻ.

Ðã nhiều lần tôi đoan hứa với Chúa, nhưng mỗi lần tôi đoan hứa thì lại như một lời báo trước một sự vấp ngã.  Tôi đoan hứa hoài, tôi lỗi lời thề mãi.  Nhưng cái lạ lùng trong mối liên hệ giữa tôi và Chúa là Chúa chẳng bao giờ nói rằng Ngài quá mệt mỏi vì tha thứ cho tôi.  Nếu Chúa không tha thứ cho tôi được thì tôi cũng chẳng thể yêu Ngài được, bởi tha thứ là lời mời gọi dẫn vào khung trời yêu mến.

Nhìn vào cách đối xử của Chúa, tôi có phải tha thứ cho ai xúc phạm đến tôi không?  Câu trả lời có thể là không.  Tôi lý luận rằng bởi Chúa là tình yêu vô biên nên Ngài mới tha thứ được.  Tôi là con người làm sao có thể tha thứ như Chúa.  Xem ra câu nói có vẻ lý luận.  Nhưng nếu lắng nghe cõi lòng thì câu trả lời chẳng có vẻ lý luận chút nào cả.

Lý do đơn giản mà tôi phải tha thứ là vì tôi cần được thứ tha.

Chính trong tôi cũng có hai con người: một con người lỗi phạm và một con người công chính.  Tôi là một người có nhiều khuyết điểm.  Tôi không thể chối từ được điều đó.  Tôi được cưu mang trong ảnh hưởng của bao khiếm khuyết.  Cuộc đời là nối tiếp những những ý nghĩ bất chính, những hành động sai lạc.  Tôi phải chấp nhận thực tại tôi là thế.  Chối từ thực tại này là từ chối chính tôi.  Chẳng ai có thể từ chối được chính mình, vì sống là nhìn nhận sự hiện hữu của họ.  Sự hiện hữu của tôi là tất cả những gì tôi là: sự yếu đuối cũng như con tim biết yêu mến điều thiện hảo.  Nếu tôi oán ghét tôi tức là tôi hủy diệt mình.  Vì thế, tôi phải tha thứ cho tôi, phải rộng lượng và khoan nhân với mình.  Tôi phải cho tôi có cơ hội để làm lại cuộc đời sau khi đã lầm lỗi, chứ không tạo nên trong tôi một bãi chiến trường.

Từ chính tôi, tôi đã hiểu rằng tôi cần được tha thứ.  Tôi thương tôi mà tôi vẫn xử dụng tự do cách sai lạc để xúc phạm đến chính tôi, để làm tàn úa mùa xuân bình an trong hồn mình.  Như vậy, đối với tha nhân, kẻ mà tôi thường không thông cảm đủ, không hiểu rõ họ thì làm sao tránh xúc phạm đến họ được?

Tôi xúc phạm đến họ thì tôi cần được tha thứ.  Có khi tôi cần được tha thứ hơn là họ cần sự tha thứ của tôi.

Khi chối từ tha thứ cho người khác là bảo rằng tôi không cần sự thứ tha.  Chỉ có kẻ nào không bao giờ lầm lỗi thì mới không cần được tha thứ.  Nếu tôi tự cho mình chẳng bao giờ làm điều sai, khi nào cũng công chính, tôi chẳng cần ai tha thứ, thì tôi đã kiêu ngạo một cách đáng thương hại.

Tha thứ là lời mời gọi duy nhất để tình yêu lớn lên.  Tha thứ là cửa ngõ để cho tôi, cho người tôi ghét có cơ hội làm lại mối giây liên hệ đã dập gẫy.

Không tha thứ là tôi đóng chặt cửa ngõ đó để kẻ tôi giận không còn có cơ hội nói rằng họ cũng cùng thân phận yếu đuối, họ cũng cần sự nâng đỡ của tôi.  Cái gian nan của con người là sự bất toàn của họ. Tôi bất toàn.  Cha mẹ tôi có khuyết điểm.  Người yêu tôi không hoàn hảo.  Cha xứ bất toàn.  Người trong họ đạo bất toàn.  Thầy dạy của tôi bất toàn.  Bởi bất toàn nên mới có lầm lỗi.  Nếu tôi khẳng định chối từ tha thứ cho họ.  Tôi đóng chặt tâm hồn mình thì tôi thiệt thòi bởi vì tôi chối từ một tình mến kẻ khác trao tặng, và tôi lại gây thêm một sứt mẻ vì kẻ muốn làm hòa với tôi phải đau khổ vì bị tôi chối từ.  Lúc đó, tôi chối từ sự kiên kết trong cùng một thân thể Ðức Kitô.  Khi tôi đóng chặt cõi lòng, không chấp nhận tha nhân để họ không đến với tôi được, là tôi tự xây nên một bức tường cao.  Ánh nắng thông cảm chẳng thể lọt qua.  Tôi sẽ chẳng bao giờ có mùa xuân ấm và hồn tôi sẽ lên rêu ẩm mốc.

Tình thương và mọi mối giây liên hệ trong gia đình, giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ chồng, giữa cha xứ và giáo dân, giữa những phần tử trong một nhóm, được phong phú hóa bởi tha thứ.  Những tình yêu, những mối giây liên hệ tái sinh sau khi được tha thứ thì thường bao giờ cũng rất khác biệt, cũng rực rỡ vô cùng.  Nếu Chúa Yêsu không tha thứ cho Phêrô thì họ đã chẳng gắn bó với nhau và Phêrô chắc cũng chẳng sống chết với sứ mạng của Chúa.  Sau khi lỗi phạm và được tha thứ, tình yêu của Phêrô đã bừng cháy.  Phaolô cũng thế, bởi vì hận thù tôn giáo của Ðức Kitô quá nhiều nên khi được ơn gọi, được tha thứ, Phaolô đã trở nên điên dại trong sứ vụ rao truyền danh Ðức Kitô cho thế giới.  Mai Ðệ Liên đã là người tình muôn thuở của Yêsu vì nàng đã cảm nghiệm được yêu thương trong khoan dung.

***************

Tôi gặp X một cô bé 15 tuổi học lớp 8 trong lớp giáo lý của tôi.  X qua Mỹ với mẹ cách đây mấy năm về trước.  Ba của X kẹt lại, nhưng bây giờ đã tới trại tỵ nạn Thailand, tuy nhiên ông lại sống với một người đàn bà khác.  Ðiều đó làm X vô cùng đau khổ.  Em nói với tôi là em thấy xấu hổ nếu bạn bè của em biết được.  Trong buổi nói chuyện đó, X đã khóc.  Khi nói với X rằng mùa này là mùa Giáng Sinh, mùa của yêu thương, của biết ơn và tha thứ.  Tôi tiếp tục tâm sự với X.  Tôi càng nói về yêu thương thì X càng khóc.  Chủ nhật sau, X đưa cho tôi một lá thư nhờ tôi xem.  Em hỏi tôi nên viết như thế nào.  Tôi đọc lá thư và tôi không cầm được nước mắt.  Và X cũng khóc theo.  Ðây là một đoạn trong lá thư của em.

… con thương Ba.  Con mong muốn Ba về với con.  Dù Ba đi đâu, nếu Ba bỏ con, thì con cũng vẫn thương Ba.  Xin Ba đừng nghĩ rằng con không thích Ba.  Nếu Ba chẳng bao giờ gặp con nữa thì con cũng vẫn là con của Ba.  Ba đã vất vả để nuôi con từ khi con còn bé.  Nên con muốn biết ơn Ba.  Con đau khổ vì con chưa bao giờ express cho ba biết là how much con care cho Ba…

Trong lá thư đó, X không viết, nhưng X nói với tôi là có thể Ba của X cũng không hạnh phúc gì ở bên trại, có thể Ba của X cũng có những đau khổ dày vò khác, nên nghĩ tới đó X lại càng thương Ba chứ không oán trách Ba.  Ðọc thư, tôi bùi ngùi khôn tả.  Tôi không thể góp ý kiến gì với X được nữa, vì đó là tình yêu tuyệt vời rồi.

Ban tối, khi ngồi trong nhà nguyện một mình với Chúa, tôi thấy Chúa đã cho tôi gặp X, để X chỉ cho tôi con đường về yêu thương. Tình loài người bát ngát quá.  Tôi thấy mình gần gũi với mọi người chung quanh hơn sau khi tôi gặp X.  Bé X đã gặp gỡ Ba của bé trong yêu thương tha thứ, trong nhận thức được sự yếu đuối của con người.

Tôi nghĩ chính trong những yếu đuối, những lầm lỗi của nhau mà tôi gặp gỡ và gần tha nhân hơn là trong sức mạnh, tài năng và ngay cả trong lý tưởng.

Tối hôm đó, trong buổi cầu kinh, tôi nghe như Chúa nói với tôi giống như lời của X viết cho Ba: Cha thương con.  Cha mong muốn con về với Cha.  Cha không cần biết là bao nhiêu tội con đã phạm. Cha không cần biết con đã làm gì.  Dù con bỏ Cha đơn côi một mình trên thập giá, Cha cũng vẫn yêu con.  Dù con đẩy Cha vào góc tường và muốn giết Cha thì Cha cũng đành để con giết, chứ Cha sẽ không chiến đấu chống lại con vì Cha thương con.

Tôi thấy mình hạnh phúc quá vì có một Thiên Chúa nhân từ, luôn tha thứ. Trong tha thứ, tình yêu giữa tôi và Chúa rực rỡ hơn.  Tôi băn khoăn tự hỏi mình: Làm sao tôi có thể chối từ một tình yêu bao la như thế?  Ðây là động lực thúc đẩy tôi đi tới, tôi muốn bước lên cao hơn, muốn thuộc về Ngài nhiều hơn.

Lm Nguyễn Tầm Thường, S.J.
(Trích tập suy niệm NƯỚC MẮT VÀ HẠNH PHÚC)

PHẢI THA THỨ

Gandhi nói: “Nếu áp dụng luật mắt đền mắt, thế giới sẽ chỉ toàn người mù”. Sẽ không thể sống được nếu thiếu sự tha thứ.  Tha thứ cần thiết cho con người như khí trời.  Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, Ðức Giê-su nói cho ta thấy tính cách cần thiết và cấp bách của sự tha thứ.

Phải tha thứ vì con người là bất toàn.  Có những xúc phạm cố ý.  Nhưng rất nhiều khi xúc phạm chỉ là vô tình, thiếu ý thức.  Chỉ cần một chút cảm thông, hiểu biết, tôi sẽ dễ bỏ qua, không chấp nhất.  Nếu cứ mỗi lần bị xúc phạm tôi không thể nào nguôi ngoai thì chính tôi là người khổ nhất, vì tâm hồn mang nặng oán hờn sẽ không bao giờ bình an.  Nếu tôi loại trừ tất cả những ai xúc phạm, thì sau cùng tôi sẽ chẳng còn sống với ai được.  Tôi sẽ mất hết bạn bè.  Thế giới sẽ chỉ toàn kẻ thù. Và tôi sẽ trở thành cô đơn.

Phải tha thứ vì chính ta cần được thứ tha. Tôi cần sự tha thứ của chính mình vì bản thân tôi có biết bao lầm lỗi.  Nếu tôi không tự tha thứ cho mình thì lương tâm sẽ cắn rứt dày vò khiến tôi suốt đời buồn phiền.  Tôi cần sự tha thứ của người khác vì tôi đã xúc phạm nhiều đến anh em.  Nếu mọi người không tha thứ cho tôi thì tôi bị khai trừ khỏi xã hội.  Tôi cần sự tha thứ của Chúa vì tôi đã lỗi phạm đến Chúa rất nhiều.  Nếu Chúa thẳng tay trừng phạt những tội xúc phạm đến Người thì tôi đã chết từ lâu.  Biết bản thân mình yếu đuối, nhiều lỗi lầm, cần được tha thứ, tôi sẽ dễ cảm thông tha thứ cho anh chị em.

Phải tha thứ vì đó là điều kiện để được thứ tha. Trong Tin Mừng, Chúa nhấn mạnh điều này rất nhiều lần.  Khi dạy ta đọc kinh Lạy Cha, Chúa bắt ta phải hứa tha cho anh em khi xin Người tha thứ lỗi lầm của ta.  Ở cuối Kinh Lạy Cha, thánh Mát-thêu còn thêm: “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em” ( Mt.6:14-15 ).

Dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay không những nhắc lại điều đó,  mà còn cho thấy, tội ta xúc phạm đến Chúa muôn ngàn lần nặng nề hơn anh em xúc phạm đến ta.  Thế mà Chúa vẫn sẵn sàng tha thứ cho ta một cách mau chóng, nhẹ nhàng, chỉ với một điều kiện là ta cũng phải tha cho anh em những lỗi lầm ít ỏi anh em xúc phạm đến ta.

Sau cùng ta cần tha thứ để trở nên giống hình ảnh Thiên chúa. Thiên chúa là người Cha rất nhân từ và hay tha thứ.  Ðức Giê-su đã phát họa rất rõ nét chân dung nhân từ của Thiên Chúa Cha trong dụ ngôn “Người Cha nhân hậu”. Và Người không ngừng mời gọi ta hãy nên hoàn thiện như Chúa Cha.

Ðức Giê-su xuống trần gian cho ta được chiêm ngưỡng khuôn mặt hiền hậu nhân từ hay tha thứ của Chúa Cha.  Suốt cuộc đời trần thế, Người không ngừng tha thứ cho kẻ tội lỗi.  Nhất là những kẻ đã xúc phạm đến Người.  Còn cảnh tượng nào đẹp hơn cảnh tượng Người bị treo trên thập giá mà trái tim vẫn mở rộng yêu thương tha thứ.  Còn lời nào đẹp hơn lời Người cầu nguyện trong lúc đau đớn tột cùng mà vẫn nhớ đến người khác, không phải nhớ đến người làm ơn mà là nhớ đến những người xúc phạm, làm hại mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” ( Lc 23, 34 ). Và khi từ cõi chết sống lại, Người đã tha thứ cho Phê-rô dù môn đệ thân tín này đã chối Người. Người đã tha thứ cho các môn đệ dù các ông đã bỏ mặc Người trong lúc gian nan.

Chúa Giê-su không đến để chối bỏ sự thù hận, nhưng trái lại bày tỏ bộ mặt thực của thù hận và đánh bại nó. Thù hận là dấu chỉ sự thống trị của ma quỷ, kẻ thù đúng nghĩa nhất.  Chính ma quỷ gieo sự thù hận trong lòng người và đặt con người vào thế chống đối và tiêu diệt nhau.

Nếu con người là kẻ thù khủng khiếp của chính mình, thì quả thực chúng ta phải bắt đầu tiêu diệt nó ngay trong chính chúng ta.  Chính khi chúng ta cưu mang thù hận là lúc chúng ta tự tạo nên kẻ thù và tự tiêu diệt chính mình.  Chính khi chúng ta khước từ tha thứ và làm ơn cho những kẻ chúng ta thù ghét, là chính lúc chúng ta tự giam hãm trong hận thù để rồi tự huỷ hoại chính mình.

Chúa Giê-su đã đánh bại sự thù hận bằng chính cái chết yêu thương tha thứ của Ngài.  Chỉ có yêu thương và tha thứ mới có thể là thứ khí giới tiêu diệt được thù hận . Chúa Giê-su đã ban cho chúng ta thứ khí giới ấy. Ngài đã không ngừng mời gọi chúng ta: “Hãy yêu thương kẻ thù ngươi, hãy làm ơn cho kẻ thù ghét ngươi”.

Nhìn lại  biến cố 11/9 tại New York,  ta càng thấm thía bài học tha thứ và lời Ðức Thánh Cha đã dạy: “Thế giới không thể có hoà bình nếu thiếu sự tha thứ”. Sự tha thứ làm nên vẻ đẹp của tâm hồn con người. Vẻ đẹp tự chế. Vẻ đẹp khoan dung.  Vẻ đẹp của tâm hồn vượt lên trên chính mình. Vẻ đẹp đề cao giá trị con người. Sự tha thứ làm nên vẻ đẹp của thế giới.  Một thế giới cảm thông, chan hoà.  Một thế giới chứa chan tình huynh đệ.  Một thế giới mang vẻ đẹp của dung nhan Thiên Chúa.

TGM. Ngô Quang Kiệt

***************

Lạy Chúa!  Xin cho con một qủa tim mới, một tấm lòng quảng đại để  biết cảm thông và tha thứ cho anh chị em của con, và nhất là cho những người xúc phạm đến con. Xin cho con luôn cố gắng nỗ lực thực thi lời Chúa dạy trong Kinh Lạy Cha : ” Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con” . Amen

ĐỐI THOẠI TRONG SỰ THẬT

Trong những năm gần đây, việc khiếu kiện đất đai luôn là một vấn đề nổi cộm và nóng bỏng tại Việt Nam.  Các quan chức chính quyền thừa nhận rằng nguyên nhân chính dẫn đến sự bức xúc là vì luật đất đai có nhiều điểm bất hợp lý, chồng chéo lên nhau.  Chính quyền địa phương thường có quá nhiều quyền hạn trong việc sử dụng đất đai, cũng như xử lý các vụ tranh chấp.

Thiếu vắng một cơ quan giám định độc lập, luật được làm trên cửa miệng của các quan chức, muốn xử sao thì xử.  Người dân chẳng biết kêu ca vào đâu.  Khiếu kiện thì trống đánh xuôi kèn thổi ngược.  Cấp dưới thì không thụ lý, cấp trên thì bảo rằng không có cơ sở giải quyết.

Tất cả những điều này tạo nên bất công và bất ổn trong xã hội.  Những việc xảy ra gần đây ở giáo xứ Thái Hà, Hà Nội chỉ là giọt nước tràn ly.

***************

Theo Thánh Phaolô, điều duy nhất các Kitô hữu nợ người khác là tình “tương thân tương ái.”  Đây là một nguyên tắc sống giải thoát chúng ta khỏi những đòi hỏi giả tạo, bất công của xã hội.  Đức ái chứ không phải của cải, danh vọng, hay quyền lực là điều Kitô hữu cần theo đuổi.  Đức ái đòi hỏi chúng ta phải lấy đức báo oán, đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp.   Nhưng đức ái cần được thể hiện đúng thời đúng chỗ.

Việc để cho mình bị người khác chà đạp, lợi dụng, ức hiếp không phải là “đem chân lý vào chốn lỗi lầm”, ngay cả khi chúng ta cho rằng việc nhẫn nhục chịu đựng là thể hiện đức ái.  Không, đức ái không thể nào đến từ những hành vi bạo lực, từ những luận điệu dối trá, những cách ứng xử bất công.  Đức ái phải được xây dựng trên công lý và sự thật, vì trong Thiên Chúa là Đấng Yêu Thương, chân… thiện… mỹ… chỉ là một — sự thật, sự tốt lành, và vẻ đẹp là ba nét của cuộc sống, luôn bổ xung cho nhau.  Thay thế sự thật bằng giả dối là đánh mất đi sự thiện hảo và tha hoá lương tâm con người, và như thế, cái đẹp của cuộc sống cũng mất theo.

Vì thế ngôn sứ Ezekiel đã nhắc nhở chúng ta rằng đức ái đòi hỏi chúng ta cần lên tiếng khi thấy sự sai trái. Thông thường chúng ta ngại đụng chạm, ngại mất lòng, ngại hiểu lầm, ngại mất quyền lợi… và chúng ta yên lặng.  Có mấy người trong chúng ta dám sống triệt để với đòi hỏi của Tin Mừng?  Có mấy người dám nói với các cấp lãnh đạo của mình là họ đang làm sai?  Nếu hôm nay ngôn sứ Ezekiel gặp chúng ta, ngài sẽ nói với chúng ta rằng: “Nếu anh em nói với những người có trách nhiệm, có thẩm quyền, về những quyết định và hành động sai trái của họ, và nếu họ không nghe, thì Thiên Chúa không bắt lỗi anh em.  Nhưng nếu anh em thấy việc sai trái họ làm mà không lên tiếng, anh em phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại vật chất và tinh thần gây ra cho gia đình, cộng đoàn, giáo xứ và xã hội chúng ta.” 

Chúng ta không chịu trách nhiệm về việc làm của người khác, nhưng chúng ta có bổn phận phải cảnh báo người khác trong tâm tình yêu thương, phải nói lên sự thật… Vì sự thật sẽ giải thoát chúng ta.  Và nếu chúng ta không lên tiếng khi cần phải nói, chúng ta sẽ chịu trách nhiệm về những hậu quả xấu xa đến từ những quyết định, những hành động sai trái đó.  Im lặng là đồng lõa với tội ác.

Bài Tin Mừng cho thấy Chúa Giêsu thêm vào đó một nguyên tắc ứng xử khôn ngoan.  Khi đến với kẻ sai trái, hãy mở đầu bằng việc đối thoại.  Đừng kết án họ, đừng dồn họ vào đường cùng, nhưng dùng lý lẽ để phân biệt phải trái, dùng lời nói để thuyết phục họ.

Thông thường khi bất đồng ý kiến với kẻ khác, chúng ta thường đi nói với người thứ ba. Chúng ta thường chỉ trích, than phiền, kéo bè kéo đảng.  Chúng ta mong rằng khi phải đối đầu với kẻ ấy, chúng ta đã có được hậu thuẫn.  Rồi thì chúng ta thường ném đá giấu tay hoặc cả vú lấp miệng em, lôi kéo lý lẽ về phần mình.  Tôi đúng nó sai! Nhất là đối với người có quyền hành, tôi luôn luôn đúng!

Cách ứng xử của Chúa Giêsu khác với cách chúng ta thường làm. Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng bước đầu tiên trong việc đối thoại là đến trực tiếp với người đó, và nói lên điều mình nghĩ.  Không phải đến để đôi co cãi nhau, lên án nhau, nhưng để cùng truy tầm chân lý, để cùng đi tìm sự thật.  Vì chỉ có sự thật mới giải thoát chúng ta.

Việc đối thoại chắc chắn không dễ dàng, bởi vì để lắng nghe, để thay đổi một quan điểm thì cần nhiều thời gian và thiện chí.  Điều này càng khó hơn nữa khi đối tượng của việc đối thoại có nhiều ảnh hưởng hay nhiều quyền lực hơn chúng ta.  Họ có thể không thèm đếm xỉa đến việc đối thoại, hay dùng quyền lực để trấn áp chúng ta.  Nhưng khi việc đối thoại trong yêu thương và thiện chí không thành công, chỉ khi đó chúng ta mới dùng đến các biện pháp khác.  Nếu một bên cứ cố chấp khăng khăng không nhận lỗi, thì việc đối thoại đi vào bế tắc, và lúc đó sự cố chấp cần phải được lên án mạnh mẽ.

Tuyệt nhiên, việc bạo động không bao giờ là cách hành xử của Tin Mừng.  Các Kitô hữu tiên khởi cũng như các tiền nhân tử đạo của chúng ta thà chịu chết vì sự thật, chứ không cầm lấy vũ khí chống lại những kẻ bách hại họ.

Không có sức mạnh nào lớn hơn việc nói lên sự thật trong yêu thương.  Chúng ta có thể cho rằng việc đối thoại quá chậm chạp, mất thời giờ.  Trong đối thoại sẽ có nhiều câu hỏi hơn câu trả lời, có nhiều khúc mắc hơn phương pháp giải quyết.  Nhưng đó là cách của Chúa Giêsu.  Ngài không hứa với chúng ta rằng chúng ta sẽ không gặp rắc rối, phiền phức khi nói lên sự thật.  Ngài không hứa rằng chúng ta không phải trả giá cho việc bênh vực chân lý.  Nhưng Ngài nói, “Hễ ai tìm kiếm mạng sống mình thì sẽ mất.  Nếu được cả thế gian mà đánh mất chính mình thì được cái gì?

Chúng ta sống giữa thế gian, nhưng là con cái Chúa, chúng ta không thuộc về thế gian này.  Vấn đề ở Thái Hà không chỉ là tranh chấp một miếng đất.  Các tu sĩ và giáo dân không tranh đấu để bảo vệ tài sản, địa vị, hoặc quyền lợi của một cá nhân hay một tổ chức.  Nhưng họ đang gióng lên tiếng nói của lương tâm của sự thật, hầu công bằng xã hội được thực hiện, hầu phúc lợi nhân phẩm của những người thấp cổ bé miệng được tôn trọng.

Con đường của Kitô hữu là con đường thập giá.  Cũng như Chúa Giêsu ngày xưa, hôm nay chúng ta cũng được Thiên Chúa trao ban sứ mạng làm chứng cho công lý và sự thật.  Ngày xưa Philatô đã ngạo nghễ hỏi Chúa Giêsu “sự thật là gì?” trước khi đóng đinh Ngài.   Bóng tối tưởng chừng đã che phủ ánh sáng.  Nhưng rồi lịch sử đã chứng minh, cuối cùng sự thật và công lý vẫn chiến thắng, và quyền lực của thế gian chẳng bao giờ trấn áp được.

***************

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con lòng can đảm để nói lên tiếng nói của sự thật, nhưng với tâm tình yêu thương và thiện chí, để công lý được thực hiện và an bình được tái lập.  Amen!

Anton-Phaolo, SJ

CÁI TÔI TUYỆT VỜI: GÂY TAI HỌA

Đã gọi là cái tôi tuyệt vời sao nó lại gây tai họa? Tuyệt vời vì nó thoả mãn con người ta, nhưng nó lại gây tai họa cho chính ta và đôi khi cho cả cộng đoàn.

Chúng ta có thể gọi đó là những cái nhãn hiệu bên ngoài. Nhãn hiệu này thường thường do người khác gán cho ta, nhưng cũng có trường hợp ta tự phong cho mình.

Nhãn hiệu tốt lành “Cái tôi tế nhị”: Ta rất tế nhị, không muốn làm phiền lòng ai. Ai nhờ điều gì, có khi ta biết chắc rằng mình không thể giúp được nhưng cũng hứa đại để làm vui lòng anh em.  Nhưng chính điều đó lại khiến người ta khó chịu khi cuối cùng ta lại chẳng thực hiện lời hứa.  Và chính điều đó cũng làm ta áy náy không yên.  Khổ thật, ta không có can đảm từ chối lời mời gọi hay yêu cầu của người khác, bởi vì ta ngại mất nhãn hiệu tốt lành.  Thành thử chính cái tôi tế nhị ấy đã gây tai hoạ cho ta và anh em của ta.

Nhãn hiệu đáng phục “Cái tôi trung tín”: Ta nổi tiếng là luôn giữ lời hứa một cách tuyệt vời.  Bạn bè thán phục ta về chuyện đó, dù mưa hay nắng, dù khó khăn đến đâu, ta cũng khắc phục để thực hiện lời hứa tới nơi tới chốn.  Nhưng cũng chính vì nhãn hiệu trung tín này đã gây cho ta bao bực dọc khó chịu.  Bất ngờ, những chuyện không đâu, ở trên trời rơi xuống, khiến nhiều lần ta không thực hiện đúng lời hứa như đã dự định.  Quả là một cái tôi tuyệt vời: gây tai họa.

Nhãn hiệu cừ khôi ”Cái tôi tài năng”: Tôi còn nhớ mang máng một câu chuyện kể rằng. Có một số thày dòng kia chăm chỉ, siêng năng soạn bài giảng với trọn cả tâm tình và mong ước rất đơn sơ: mình chỉ cố gắng làm tròn phận sự người gieo hạt giống Lời Chúa.  Chỉ một thời gian sau, danh các thày nổi lên như cồn.  Ai cũng tấm tắc khen các thày giảng hay.  Thế là từ đó, các thày dồn hết tâm trí của mình vào việc luyện văn sao cho trau chuốt hơn, tìm các câu chuyện minh họa dồi dào hơn, luyện giọng của mình ngọt ngào hơn, đi vào lòng người hơn các đồng môn khác.  Một cuộc so tài ngấm ngầm nhưng cũng không kém phần quyết liệt.  Vừa mong mình nổi tiếng hơn anh em khác vừa sợ mình thua kém anh em đồng môn. Cái tôi bắt đầu núp đàng sau thúc đẩy các thày làm việc cật lực mong sao cho người nghe cảm phục tài năng ăn nói của mình.  Điều quan trọng là chuyển tải sức sống Lời Chúa thì các thày quên béng đi rồi.  Cái tôi tài năng với nhãn hiệu kỳ khôi đang trên đài danh vọng, hân hoan trong hạnh phúc bừng bừng!!  Quả là một cái tôi tuyệt vời: gây tai họa.

Nhãn hiệu oai phong “Cái tôi cao quý”: Ngay cả trong lãnh vực Tông Đồ, ta cũng phải làm mọi cách để nhà thờ xứ mình cao hơn, to hơn các giáo xứ bên cạnh; nhóm mình ngon lành hơn nhóm khác; cộng đoàn mình nổi tiếng hơn cộng đoàn khác; ca đoàn mình hát hay hơn ca đoàn khác.  Thiên Chúa bị biến thành những sản phẩm kinh tế thị trường.  Thiên Chúa của cộng đoàn mình phải huy hoàng hơn cộng đoàn kia.  Cùng làm việc tông đồ, nhưng ta vẫn mong họ đừng thành công như mình.  Ta chẳng dại gì giúp họ ngang bằng mình… .

Người công giáo chúng ta thường tự hào đạo mình là đạo thật do chính Chúa từ trời xuống lập nên.  Bất cứ điều gì của Đạo mình thì luôn luôn tốt. Ngược lại, bất cứ cái gì của đạo khác thì đều sai, đều xấu với lời mỉa mai rất ấu trĩ:  bọn thệ phản, bọn thờ bụt thần ma quỷ… Chúng ta quá tự hào, quá hợm mình với nhãn hiệu Công giáo.  Tất cả chỉ vì ta đồng hoá mình với nhãn hiệu oai phong.  Quả là một cái tôi tuyệt vời: gây tai họa.

Nhãn hiệu cao quý “Cái tôi đạo đức thánh thiện”: Một nhãn hiệu cao quý nhất, nhưng cũng làm ta đau khổ nhất.  Không đau khổ sao được khi con gái của mình đã lỡ lầm trước khi kết hôn.  Không hổ thẹn sao được khi mình đã có lúc yếu đuối sa ngã – chỉ một mình biết – mà đi đâu ai cũng tôn vinh mình là ông thánh sống!! Không bực tức sao được khi lỡ mang nhãn hiệu thánh thiện nên đành phải “cắn răng chịu đựng” những điều tai quái mà kẻ tiểu nhân cố tình đàn áp mình, xài xể mình, bôi nhọ mình. Quả là một cái tôi tuyệt vời: gây tai họa.

Nhãn hiệu uy tín “Cái tôi giấu mặt tài tình nhất”:  Đây là cái tôi mà có thể nói phần lớn các anh chị em “chóp bu” thích danh vọng dễ bị vướng phải.  Vì ta làm người “chóp bu” nên tất cả những gì ta đưa ra đều đúng, đều hợp lý.

Có một tiếng nói thì thầm trong ta, ít khi tiếng nói ấy bị lộ bộ mặt thật của nó. Đó chính là cái tôi uy tín, cái tôi cao ngạo, cái tôi ganh tị ẩn sâu trong cõi vô thức: sợ bị lu mờ trước những người cộng tác hoặc người dưới quyền.  Quả là một cái tôi tuyệt vời: gây tai họa.

Tóm lại, một khi đồng hoá với nhãn hiệu, ta thường cho rằng đó là những nén vàng, nén bạc Chúa giao để ta phát triển nó lên.  Đúng thôi, nhưng khi đi vào thực tế, chính những nhãn hiệu tuyệt vời đó đã âm thầm dẫn dắt chúng ta hướng theo một đường lối khác: đường lối oai phong, cừ khôi theo kiểu thế gian và ta từ từ rơi vào cái bẫy ngọt ngào do người khác hoặc chính mình tạo nên.  Lý do rất đơn giản và mạnh mẽ là: Tất cả các nhãn hiệu đó đã khôn khéo khoác lên cái tôi của mình một áo choàng thánh thiện, gây cho chúng ta một ảo tưởng rằng: “ ta đang nỗ lực làm việc cho Chúa, làm tròn bổn phận của mình cho công trình của Chúa!!!” Trong khi cái tôi giấu mặt âm thầm lớn lên chi phối mọi suy nghĩ và thọc gậy chỉ huy vào mọi hành động của ta – đặc biệt là trong phạm vi làm việc tông đồ với cương vị hướng dẫn các nhóm, các cộng đoàn.  Quả là một cái tôi tuyệt vời: gây tai họa.

Khổng Nhuận

***************

Lạy Chúa!  Xin cho con biết Chúa để con luôn biết trông mong vào ân sủng của Chúa, biết cậy nhờ vào sức mạnh chúa ban hầu bước đi trên đường lữ hành trần gian về đến quê trời.  Xin cho con biết con… biết nhìn ra những nhãn hiệu hấp dẫn của cuộc đời, và nhất là biết đề phòng ứng xử với “cái tôi tuyệt vời” của con,  để nó đừng bao giờ sống dậy gây tai họa cho con và cho cả những người xung quanh con.   Amen!

NGƯỜI KITÔ HỮU CHUẨN BỊ ĐÓN NOEL (có Youtube)

Người Kitô hữu có hai ngày đáng ghi nhớ nhất: đó là lễ Giáng Sinh và lễ Phục sinh.  Trước hai ngày lễ trọng đại đó có Mùa Vọng và Mùa Chay để chuẩn bị.  Người Kitô hữu Việt Nam chuẩn bị thật rốt ráo.  Chẳng hạn như chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh, thì bên ngoài lăng xăng lo làm hang đá, đèn đóm, tượng ảnh, cây thông, băng nhạc, băng video….  Bên trong lo quét dọn chùi bóng: xưng tội.  Vậy là có cả bên trong và bên ngoài, tốt quá đi chứ, còn chê vào đâu được.

Thế nhưng, nếu cứ như thế năm này qua năm khác và chỉ có thế thôi, thì lối sống đạo như vậy đã an tâm được chăng ?

Vấn đề xưng tội có vẻ như chỉ chờ đến ngày này mới ào ào đổ xô đi xưng tội.  Chen lấn, xô đẩy, giành giật, cãi vã, la mắng nhau om sòm, chạy sang tòa này chạy tới tòa kia lạch bạch như… vịt.  Bởi thế, nên có cả tội mới toanh vì vừa mới phạm: đó là tội chen lấn chửi nhau trước khi vô tòa.  Đúng là tội còn nóng hổi vừa thổi vừa xưng.

Tôi nhận định thấy là tất cả đều vội vàng, từ cha đến con, từ già đến trẻ, ai ai cũng sốt ruột, ai ai cũng muốn cho mau, cho xong, cho yên cái lương tâm sún răng… nên cần dốc hết dốc cạn ra.

Phần linh mục cũng muốn giải quyết số lượng chồng chất quá tải đó nên cần vắn tắt, đúng công thức thuộc lòng, nhanh nhanh một chút cho nhẹ gánh bởi vừa giải tội vừa lo giữ trật tự, đôi khi phải có bộ mặt hình sự, đôi khi phải quát.  Tội gì thì cũng phải tha và cho việc đền tội chẳng biết bao nhiêu cho đủ, nhiều lúc cũng muốn nói ít lời, khuyên nhủ đôi câu, nâng đỡ đôi điều nhưng cứ thấy cái đuôi rồng rắn dài cả cây số mà nghẹn cả cổ, cố làm sao cho các toa tầu lửa mau rút ngắn lại, mà cái đầu tầu càng sốt ruột thì lại càng thấy lần lần được chắp nối thêm toa.  Các toa chắp nối vào rất từ từ nhưng lại rất khốc liệt.

Phần tín hữu thì bá nhân bá tánh, đủ mọi kiểu xưng tội, đủ mọi thứ kể lể, đủ thứ mở đầu và kết thúc.  Tội to tội bé, tội nặng tội nhẹ tội trên trời tội dưới đất, tội địa ngục… chờ đến ngày này mới “xả” ra.  Người vài tháng, người ít năm, người lâu năm.  Người kể lể tỉ mỉ, người kể đại khái, người nói ít lần, người nói nhiều lần, người không nhớ ít hay nhiều nữa.  Người kề cà xin lời khuyên lời răn, người nhấp nhổm chưa xong đã chạy, người nín hơi kể một lèo tuồn tuột, người ngâm nga ê a thưa gửi.  Người kể tội người khác, người chưa kể đã biện hộ.  Người thở hơi rượu, người thở hơi thuốc lào, người thở hơi hôi thối, người thở hơi ngai ngái.  Người giọng Bắc, giọng Nam, giọng Trung, trầm bổng đủ mọi thứ giọng…  Cả là một bi kịch diễn ra trong vội vàng, ai cũng muốn cho xong cho qua.  Cũng trong ngày này cũng có người thích xưng tội ngoài giờ, ngoài luồng không biết có phải ngại xếp hàng, ngại chen lấn, sợ mất thời giờ  không?  Họ có những lý do như con bệnh, nhà xa, mới đi làm về, mai phải đi xa, xếp hàng suốt sáng đến giờ mà chưa được xưng…?  Ra nhưng không xưng tội được là không xong, không nhẹ mình, không mừng lễ?  Ôi!  Mừng lễ Giáng Sinh mà như sắp tận thế?

Giáo Hội xếp đặt những lễ quan trọng, nhắc nhở những biến cố trọng đại đó có ý nghĩa gì, muốn dậy dỗ khuyên nhủ tín hữu điều gì?  Nếu chỉ có kiểu sống đạo niềm tin như tín hữu có thói quen “tốt lành” giữ xưa nay thì có đánh mất ý nghĩa chính của những biến cố trọng đại ấy không?  Và chỉ dừng ở đó là đủ sao?  Là đạt phần rỗi, là tót vào nước trời thẳng cẳng ru?

Có thắc mắc hỏi tại sao để đến ngày này mới tẩy uế linh hồn cách dồn dập như thế?  Họ trả lời Giáo Hội làm những “cái cột mốc” để tín hữu có thời gian tính sổ trả nợ.  Có bày ra như thế mới tạo dịp nhắc nhớ cho họ, kêu gọi họ, bắt ép họ.  Mùa Thường Niên là mùa thoải mái, mùa thênh thang tự do, mùa tối tăm mắt mũi vào công ăn việc làm, sô bồ giành giật, lọc lừa, dối gian… chơi bời thỏa thuê.  Tội lỗi xếp đấy chẳng áy náy, chẳng buồn nghĩ, chẳng hơi sức đâu mà lo nghĩ đến đạo.  Chờ đến ngày tính sổ “nộp thuế” thì dồn dập ào ào như thế mới bớt sợ, bớt run vì mình chỉ là phần tử nhỏ nhoi trong cái khối khổng lồ ấy, chẳng ai thèm để ý đến mình, chẳng linh mục nào muốn bắt bẻ mình, chẳng vị nào biết tông tích gốc rễ đời mình dù tội mình có tầy trời.

Người mục tử và đoàn chiên, sao mà kỳ quặc dễ sợ?  Sao không có những phút giây thanh thản bình an bên nhau để sửa đổi, để chia sẻ, để hướng dẫn trong thân tình mặn mà, nồng ấm đạt tới một đời sống đức tin chân thật?  Đi vào cuộc gặp gỡ, sống mối tương quan, sự gắn bó kết hiệp mật thiết với Chúa trong cái thường ngày để chan hòa vào đời sống cho cuộc sống mình và tha nhân tốt đẹp, sạch sẽ, lành mạnh hơn.  Như thế đâu có phải là chuyện trên mây trên gió?  Đâu có phải là chuyện viễn vông không tưởng?  Sống với một thế giới vật chất dồn dập, đời sống tâm linh cũng chẳng khá hơn.  Do đó, ra như giữa chủ chăn và con chiên, ai cũng bận rộn, hoặc còn ái ngại hoặc có một khoảng cách nào đó nên không có thì giờ để gặp gỡ để chia sẻ niềm tin.

Với nếp sống đạo như thế đó, Nước Trời vẫn xa lắc xa lơ, thiêng liêng và trần thế vẫn cứ tách rời nhau, nhà thờ và gia đình không có dính dáng, đọc kinh và việc làm chẳng ăn nhập.  Chung cuộc, mong gặp được linh mục ở giây phút cuối cùng của cuộc đời này là may mắn, là số hên, là trúng độc đắc, đúng không?

Tấm lòng ở đâu?  Tình yêu ở đâu?  Lòng xót thương của Chúa ở đâu?  Hẳn còn xa tít mù khơi chăng?  Để những ngày Mùa Vọng Chúa vất vả lo giải quyết, thanh toán, còn Mùa Thường Niên ngồi chơi xơi nước, khỏe re.  Sống đạo theo mùa, theo thời tiết, có mùa nghỉ chơi với Chúa, có mùa phải tính sổ.  Nhìn cảnh sống đạo đang diễn ra cũng là cái chúng ta thấy được chúng ta đang nhào nặn lên một ông thiên chúa cho kiểu sống đạo của chúng ta.  Thế đấy!  Tôi viết ra đây cũng chẳng phải ngon lành gì hơn ai.  Nhưng chúng ta can đảm nhìn lại, đặt lại cách sống đạo để Thiên Chúa, Người còn có cơ hội dậy chúng ta khám phá nhiều điều mới mẻ, sâu rộng hơn…

Trong đời sống âm thầm trầm lặng mỗi ngày, Chúa vẫn sinh ra và lớn lên trong tâm hồn.  Ngài đã sinh ra nơi cánh đồng hoang vu thanh vắng, trong hang đá bò lừa tối tăm hôi hám, Ngài đã không bịt mũi xua tay, thì tâm hồn rách nát mỗi người Ngài cũng không ngần ngại mà hiện diện ở đó.  Nếu nhận thức được như thế thì phải chăng ngày nào cũng là ngày lễ Giáng Sinh vui vẻ và mùa nào cũng là mùa xưng tội.  Yêu thương và tha thứ.

Mong Manh

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

SỬA ĐƯỜNG NỘI TÂM (có Youtube)

Thư HĐGMVN 2006 đã khẳng định: “Đời sống đạo vừa cần gắn bó với Thiên Chúa, vừa phải đi đến với anh em”.

Chúa nhật II Mùa vọng, Giáo hội giới thiệu cho chúng ta khuôn mặt Gioan Tiền hô, một ngôn sứ luôn gắn bó với Thiên Chúa, rất gần gũi với con người.  Lời Chúa Gioan chiêm niệm trong hoang địa qua nhiều năm tháng đã giúp ông tiếp xúc, gặp gỡ với nhiều hạng người qua những vùng ven sông Giođan. Lời Chúa Gioan nghe đã trở thành lời Chúa ông công bố.  Tiếng Chúa gọi Gioan đã trở thành tiếng ông mời gọi mọi người.  Gioan trở nên trung gian làm người dọn con đường tâm hồn cho anh chị em mình đến với Chúa Cứu Thế.

Gioan là vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước.  Sau 5 thế kỷ vắng bóng ngôn sứ, nay Gioan xuất hiện với sứ mạng Tiền hô.  Ông đáp lại tiếng Chúa gọi, ra đi rao giảng về Nước Trời, dọn đường cho Chúa Giêsu, Đấng Cứu Tinh nhân loại đến trần gian. Ông đã chu toàn ơn gọi cách nhiệt thành và đã chết anh hùng cho sứ vụ (x. Mt 14,3012; Mc 6,17-19).  Cuộc đời Gioan là một thiên anh hùng ca, bất khuất trước cường quyền, bao dung với tội nhân.

Gioan có một cuộc sinh ra kỳ lạ, một lối sống khác thường.  Gioan chọn con đường tu khổ chế: ăn châu chấu và mật ong rừng, uống nước lã và mặc áo da thú.  Sống trong hoang địa trơ trụi, vắng người, thiếu sự sống.  Nhưng chính ở đó mà Gioan đã lớn lên và trưởng thành trong sự gặp gỡ thâm trầm với Thiên Chúa.

Gioan nhắc lại lời tiên tri Isaia: “Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường lồi lõm phải san cho phẳng” (Lc 3,5).  Gioan mời dân chúng sám hối.  Không thể tiếp tục sống như xưa nữa.  Đã đến lúc phải đổi đời, đổi lối nhìn, đổi lối nghĩ.  Như thế, Gioan kêu gọi hãy dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến.  Phải lấp cho đầy những hố sâu tham lam ích kỷ hẹp hòi.  Phải uốn cho ngay những lối nghĩ quanh co, những tính toán lệch lạc.  Phải san cho phẳng những đồi núi kiêu căng tự mãn.  Phải bạt cho thấp những gồ ghề của bất công bất chính.

Đạo là con đường dẫn đến Thiên Chúa.  Đạo là ngón tay chỉ mặt trăng.  Nếu không có đường thì không đi đến đâu cả.  Một đất nước có văn minh hay không là do hệ thống đường sá.  Đạo từ nguyên thuỷ luôn mang ý nghĩa trong sáng, ngay thẳng, công minh.  Đạo dẫn đưa con người đến chân thiện mỹ.

Đạo là đường nên có thể nói sống đạo là sống ngoài đường, sống với người khác, sống với cuộc đời.  Abraham khởi đầu cuộc sống thật bằng việc lên đường từ giã thành U-rơ để sang đất hứa.  Và lịch sử Do thái là những chuyến xuất hành di cư, lang thang trong sa mạc, lưu đầy và mất quê hương trong một thời gian dài.  Gioan rao giảng và làm phép rửa khắp mọi nẻo đường.  Chúa Giêsu sống ở thế gian bằng những cuộc lên đường sang Ai cập, về Nazareth, lên sa mạc, vào đền thánh và trở lại Galilêa.  Cuộc sống công khai của Chúa ít là có ba cuộc hành trình lên Giêrusalem.  Và sau cùng Ngài lên đường về nhà Cha.

Vì là đường nên đạo luôn mở ra nối kết và đón nhận cuộc sống, đón nhận mọi người, không phân biệt ai với tinh thần yêu thương của Thiên Chúa.  Tin mừng chính là đạo, là con đường mà Chúa Giêsu vạch ra cho chúng ta đi theo Ngài.

Đường quan trọng nhất là đường vào cõi lòng.  Gioan đã chỉ cho thấy rằng, mỗi con người đều có ít nhiều đồi núi kiêu ngạo, thung lũng ích kỷ, gồ ghề khúc khuỷu trong các mối quan hệ.  Có bao lối nghĩ quanh co, có bao tính toán lệch lạc, có những lũng sâu tăm tối thiếu vắng ánh sáng tình yêu.  Sửa đường theo Gioan là sám hối.  Nhìn lại con đường mình đã đi qua, sửa lại những sai lệch nếu có.  Những gì cong queo san cho thẳng.  Những gì cao cần bạt xuống. Lúc đó mới nhìn thấy ơn cứu độ của Chúa.  Sửa cho thẳng, lấp cho đầy, uốn cho ngay, san cho phẳng, bạt cho thấp.  Đó là sứ điệp Gioan gởi tới chúng ta trong Mùa Vọng này, để chúng ta dọn lòng mình thành đại lộ thênh thang mở ra với Chúa Cứu Thế.

Con đường mà Gioan nói tới đây chính là đường vào cõi lòng.  Con đường nội tâm của mọi người.  Sửa con đường nội tâm là thay đổi cõi lòng, thay đổi cuộc sống để xứng đáng đón tiếp Chúa Cứu Thế.  Sửa đường cho Chúa đến là cần thiết và hợp lý.  Khi đón tiếp một vị khách quý, người ta thường sửa sang đường sá, làm sạch đẹp nơi vị khách sẽ đến.  Như thế là biểu lộ lòng kính trọng đối với vị khách.  Thiên Chúa là vị khách cao trọng nhất.  Người hạ mình đến thăm và ở lại cùng sống với thân dân của Người.  Đó là hạnh phúc tuyệt vời nên cần phải dọn tâm hồn xứng đáng.  Như con đường cho Chúa đi qua.  Như căn nhà cho Chúa ngự tới.  Chúa đứng ngoài cửa lòng và gõ cửa, ai mở thì Ngài đi vào.  Con đường có thể có chông gai tội lỗi, có sự đam mê tiền lợi danh, có những tính hư nết xấu.  Cho nên trong cõi lòng đó phải có im lặng như cõi lòng Mẹ Maria ghi nhớ, suy niệm và không nói gì.  Chỉ nói những lời để giúp đỡ người khác.  Và tâm hồn ấy bình an nên nghe rõ tiếng Chúa và chỉ nghe được tiếng Chúa mà thôi.  Như thế dọn đường chính là tạo im lặng cho tâm hồn để nghe được tiếng Chúa và chỉ nghe được tiếng Chúa mà thôi.

Dọn đường còn là tỉnh thức đợi chờ Chúa đi xa trở về.  Như năm cô khôn ngoan có sẵn dầu đèn.  Như những đầy tớ làm lợi những nén vàng cho chủ.  Như tên lính canh thành luôn chú ý những biến chuyển chung quanh.  Mỗi cá nhân, ai cũng có những tật xấu, những khuyết điểm, vị kỷ kiêu căng tham lam đố kỵ ghen ghét lười biếng hèn nhát…  Xã hội nào cũng có bất công, những lạm dụng quyền bính, những hủ tục, những tệ đoan, những điều ấy làm cho con người đau khổ, trì trệ, không phát triển.

Dọn đường căn bản là ở trong nội tâm, sám hối để canh tân, sửa đổi để trở nên tốt lành thánh thiện hơn.  Những con đường thường được làm bằng đất đá nhựa bê tông.  Những con đường trên mặt đất, trên sông trên biển trên bầu trời là những con đường vật lý.  Những con đường tâm lý, con đường tinh thần, con đường lòng người mới quan trọng hơn.  Nguyễn Bá Học đã nói: đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà chỉ vì lòng người ngại núi e sông.

Sống đạo luôn là một thách đố đầy quyết liệt và phong phú.  Hiểu đạo, tin đạo, giữ đạo xem ra khá dễ dàng vì thuộc lãnh vực cá nhân.  Còn sống đạo thường khó khăn hơn vì liên quan đến tha nhân, đòi hỏi một sự quên mình, vượt thắng bản thân.  Cũng như thực hiện việc dọn đường qua nghi thức sám hối bên ngoài như rửa tội, xưng tội khá dễ dàng, nhưng nếu mà trong lòng không thật tâm sám hối đưa đến canh tân bản thân, thì hành vi sám hối chỉ là việc làm lấy lệ hình thức mà thôi.

Sống đạo bao giờ cũng đòi hỏi nhiều cố gắng và tỉnh thức.  Mùa Vọng, Giáo hội cho chúng ta chiêm ngắm mẫu gương của Gioan.  Sống gắn bó với Thiên Chúa và gần gũi với con người.  Như thế mỗi người sẽ sống đạo hôm nay với tất cả niềm vui hạnh phúc cho bản thân và cho tha nhân.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

THÁNH NICHOLAS – GIÁM MỤC / Khoảng +350 (có Youtube)

I. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Tất cả các Giáo Hội phương Đông đều mừng lễ thánh Nicholas, giám mục thành Myre (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), vào ngày 6 tháng 12.  Ở Rôma, việc sùng kính ngài đã được chứng thực từ thế kỷ IX, trước khi hài cốt ngài được di dời từ Myre về Bari (miền nam nước Ý), và được đặt trong vương cung thánh đường Thánh Nicholas từ năm 1087.  Tại Myre, từ thế kỷ IV, đã có một thánh đường được dựng lên trên mộ của ngài.

Có ít vị thánh được biết đến nhiều trên khắp thế giới như thánh Nicholas.  Ban đầu ngài được tôn kính ở phương Đông, sau đó lòng sùng kính ngài mở rộng sang phương Tây: Ý (Bari), Tây Ban Nha (Montserrat), Normandie, Lorraine (Saint-Nicholas-de Port), Đức, Anh, Nga, các nước Bắc Âu và châu Mỹ.  Ngài là bổn mạng nước Nga và Lorraine.  Ngài cũng được nhận làm bổn mạng của các luật sư, các nhà hàng hải, các tù nhân và trẻ em, đặc biệt trong những nước ở phương Bắc mà mỗi dịp lễ của ngài là một ngày hội cho trẻ em (Ông già Nô-en, Santa Claus, Sinter-Klaes, Saint Nicholas).

Thế nhưng, tuy thánh Nicholas được biết đến nhiều như thế, chúng ta hầu như không biết gì về tiểu sử của ngài, ngoại trừ việc ngài là giám mục thành Myre (nay là Dembrê, trên bờ biển phía nam Thổ Nhĩ Kỳ), vào nửa đầu thế kỷ IV.  Theo truyền thống, có thể ngài đã tham dự Công đồng Nicêa (325), là công đồng đã kết án lạc giáo Arius và tuyên bố Ngôi lời “được sinh ra mà không phải tạo thành, đồng bản tính với Đức Chúa Cha.”  Có lẽ ngài mất khoảng năm 350, thọ ngoài sáu mươi tuổi.

II. Thông điệp và tính thời sự

Trong Lời Nguyện của ngày, chúng ta xin: “Lạy Chúa, nhờ lời cầu nguyện của thánh Nicholas, xin gìn giữ chúng con khỏi mọi nguy hiểm.”

Lòng sùng mộ dân gian, được nuôi dưỡng bằng nhiều truyền thuyết, đã biến thánh Nicholas thành một trong những vị thánh “phù hộ,” nghĩa là một vị thánh mà người ta mong đợi sự bảo vệ đặc biệt nào đó.  Chính vì thế rất nhiều thánh đường được dâng kính ngài; vương cung thánh đường thánh Nicholas ở Bari đã trở thành trung tâm sùng kính ngài.  Nhiều huynh đoàn và hiệp hội chọn ngài làm bổn mạng; và nhiều truyền thuyết kể về ngài như một người có phép chữa bệnh, người bạn của trẻ em và người nghèo hèn.  Có bức tranh vẽ ngài đứng với ba đứa trẻ bị ướp muối trong một cái thùng lớn và đã được ngài hồi sinh.  Tranh ảnh thánh cũng mô tả ngài với ba túi vàng (ảnh Thánh Nicholas bác ái): của hồi môn cho ba cô gái nghèo.  Có khi ngài được vẽ với một cái mỏ neo để nhắc nhớ ngài là bổn mạng những người đi biển.

Tại các nước Anglo-Saxon, thánh Nicholas có tên là Santa Claus, bạn của những đứa trẻ “ngoan ngoãn,” là những đứa sẽ được quà vào ngày lễ của ngài.

Bài đọc 1 của thánh lễ (Kh 3, 14. . .22), Này Ta đứng ngoài cửa và gõ. . .) có thể gợi ý Thánh Nicholas như một người khách bất ngờ, nhưng trước hết hình ảnh này nhắc chúng ta nhớ đến vị thánh như một mục tử không ngừng lo lắng giúp các tín hữu mở cửa lòng mình ra cho Chúa, Đấng đứng ngoài cửa của mỗi tín hữu.  Khi ca ngợi lòng bác ái của thánh Nicholas, truyền thống cho thấy ngài gắn bó với một trong những giá trị Tin Mừng cơ bản của Kitô giáo: lòng nhân hậu.

Phụng vụ Giờ Kinh Sách cho chúng ta đọc một bình luận của thánh Augustine về những lời của Chúa Giêsu: “Phêrô, anh có yêu mến thầy không?” “Khi hỏi: Anh có yêu mến thầy không? Hãy chăn các chiên con của thầy, Chúa Giêsu muốn nói: Nếu anh yêu mến thầy, anh đừng nghĩ tới việc nuôi thân mình, nhưng hãy lo nuôi đàn chiên; hãy chăn dắt chúng không phải như là của con, mà là của thầy; nơi chúng, hãy tìm vinh danh Thầy, không phải vinh danh của con; uy quyền của Thầy, không phải uy quyền của con; lợi ích của thầy, không phải của con… Thói xấu mà người mục tử chăn dắt đàn chiên Chúa phải xa tránh trên hết, đó là tìm kiếm lợi ích riêng của mình.” Cũng thế, câu Xướng đáp theo sau bài đọc nhấn mạnh sự cao vời của đức ái: “Luật của đức ái thì hoàn hảo…  Cái nhìn của đức ái thì trong sáng…  Hoa quả của đức ái thì chân thật.”

Thánh Nicholas, giám mục thành Myre, được mọi người tôn kính cả ở phương Đông cũng như phương Tây.  Từ khi thành phố Bari trở thành trung tâm sùng kính ngài, đã thu hút không những đông đảo khách hành hương, mà cả những cuộc gặp gỡ đại kết, và đã xuất hiện tại đây một phân khoa thần học chuyên ngành nghiên cứu truyền thống phương Đông: Học viện Thánh Nicholas.  Cũng tại thành phố này, Đức Urbain II đã triệu tập năm 1098 một công đồng với mục đích hiệp nhất hai Giáo Hội Hy lạp và La tinh.

Enzo Lodi
Nguồn https://tonggiaophanhanoi.org

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.