“ĐÂY LÀ MÌNH THẦY”

Thánh lễ chúng ta dâng được gọi là “cử hành Thánh Thể” hay Hy tế tạ ơn (Eucharistie).  Trung tâm của Phụng vụ Thánh lễ là việc Chúa thiết lập Bí tích Thánh Thể.  Những lời của Chúa Giêsu được linh mục chủ tế lặp lại cách khoan thai, rõ ràng và trân trọng: “Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn, vì này là mình Thầy… Tất cả các con hãy nhận lấy mà uống, vì này là chén máu Thầy.”  Trong ngôn ngữ bình dân, những lời này được gọi là “lời truyền phép.”  Bởi lẽ, sau khi linh mục chủ tế đọc những lời này, thì bánh trở nên Mình Thánh Chúa Giêsu và rượu trở nên Máu Thánh Người.  Thánh lễ kính Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu được Đức Thánh Cha Urbano IV thiết lập từ năm 1264, một năm sau khi phép lạ Thánh Thể xảy ra tại Tiệp Khắc vào năm 1263.  Trong Tông sắc thiết lập ngày lễ này, Đức Thánh Cha đã viết: “Để củng cố và đề cao Đức Tin chân thật, sau khi cân nhắc cẩn thận, Ta truyền lệnh rằng, ngoài những cuộc tưởng nhớ hằng ngày mà Giáo hội thể hiện đối với Bí Tích rất thánh này, mỗi năm sẽ còn có một Đại Lễ đặc biệt nữa được cử hành vào một ngày nhất định, và cụ thể là vào ngày thứ Năm sau tuần Bát Nhật kính Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.  Trong ngày đó, dân thánh thiện sẽ sốt sắng và mau chóng tập trung lại trong các ngôi Thánh Đường của chúng ta, và tại đó, các bài Thánh Ca sẽ được vang lên bởi các Giáo sĩ và các Giáo dân với trọn niềm vui thánh thiện.  Hiện nay, vì lý do mục vụ, hầu hết các địa phương đều dịch ngày lễ này vào Chúa nhật kế tiếp.

“Đây là Mình Thầy.”  Lời nói của Đức Giêsu đi cùng với cử chỉ trao bánh cho các môn đệ trong bữa tiệc ly đã diễn tả tình thương mến của Chúa đối với các ông và đối với các tín hữu ở mọi thời đại.  Thánh Gioan đã khẳng định: “Người đã yêu thương các môn đệ, và đã yêu thương đến cùng” (Ga 13,1).  Ngày lễ kính Mình Máu Thánh Chúa nhắc lại cho chúng ta tình yêu kỳ diệu ấy.  Đây là tình yêu có một không hai.  Bởi lẽ trên đời này không ai có thể trao tặng cho người khác chính bản thân mình.  Mầu nhiệm Thánh Thể là sự nối dài của mầu nhiệm Nhập Thể.  Qua mầu nhiệm Nhập Thể, Con Thiên Chúa làm người và cự ngụ giữa chúng ta.  Qua mầu nhiệm Thánh Thể, Con Thiên Chúa phó trót thân mình để ở với chúng ta cho đến tận cùng thời gian.  “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).  Việc hiến trao trót thân mình cho các môn đệ chính là bằng chứng của tình yêu cao cả nhất của Chúa Giêsu đối với nhân loại.

“Đây là Mình Thầy.”  Cử chỉ hiến thân của Chúa nhằm mục đích trở nên lương thực thiêng liêng cho các môn đệ và cho các tín hữu.  Trong hành trình Đức tin là hành trình về quê trời, người tín hữu không chỉ được nuôi dưỡng bằng lương thực vật chất, mà còn bằng lương thực thiêng liêng.  Ngôn sứ Êlia trong Cựu ước (x 1V 21,1-29) trên đường đến núi của Thiên Chúa (núi Horeb), đã được nuôi dưỡng bằng bánh và nước, nhờ đó ông đủ sức để tiếp bước trong hành trình chạy trốn sự săn đuổi của vua A-cáp và hoàng hậu Giêzabel, người tín hữu trong hành trình về Quê Trời được tiếp sức bằng Thánh Thể để có thêm nghị lực thiêng liêng chống lại những cám dỗ đang bao bọc tư bề.  Thánh Thể cũng là linh dược, tức là thuốc thiêng đối với đời sống người tín hữu.  Nhờ linh dược này, mà những tổn thương tâm hồn được chữa lành, những tội lỗi được tha thứ, buồn sầu sẽ được thay thế bằng niềm vui.  Vì vậy, Mình Thánh Chúa những bệnh nhân đón nhận cùng với Bí tích Xức dầu, chúng ta thường gọi là “Của Ăn Đàng.”  Đó là nguồn trợ lực siêu nhiên giúp người tín hữu đi đến đích điểm trong bình an.

“Đây là Mình Thầy,” Giáo Hội Công giáo tin rằng lời của Chúa Giêsu luôn có hiệu lực, mỗi khi các linh mục cử hành Thánh Thể.  Chúa vẫn hiện diện trong hình Bánh và hình Rượu, kể cả khi thánh lễ đã kết thúc.  Nghi thức cung nghinh Thánh Thể ra ngoài thánh đường chính là khẳng định Đức tin vào sự hiện diện thánh thiêng ấy.  Trong cuộc cung nghinh này, Chúa Giêsu đi đến với mọi người mọi nhà, để chúc lành và nâng đỡ phận người giữa những đau khổ chông gai của cuộc sống.  Hành trình cuộc đời – cũng là hành trình thập giá – của con người không còn đơn lẻ, nhưng có Chúa đồng hành và nâng đỡ.  “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28).  Qua Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục mời gọi chúng ta đến với Người.

“Đây là Mình Thầy.”  Cử chỉ trao ban chính bản thân của Chúa Giêsu dạy chúng ta bài học về chia sẻ.  Thánh Thể chính là sự cho đi vì người khác.  Trước nỗi thống khổ về tinh thần cũng như thể xác của bao người xung quanh, Chúa mời gọi chúng ta hãy quảng đại chia sẻ.  Khi chia sẻ và cho đi, chúng ta sẽ có được niềm vui, vì “cho đi là còn mãi” như người ta thường nói.  Hơn thế nữa, đối với Kitô hữu, giúp người bất hạnh cơ nhỡ là giúp chính Chúa Giêsu, vì Người đồng hoá với họ (x. Mt 25,31-46).

Chúng ta hãy đến tôn thờ Thánh Thể.  Nơi Bí tích này, Thiên Chúa hiện diện với loài người, thiên đàng ở giữa nơi trần thế.  Nhờ lĩnh nhận Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu, con người được ăn bánh các thiên thần và được thần linh hoá, nên giống Đức Giêsu, Đấng Cứu độ chúng ta.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

TRÒ CHUYỆN THÂN MẬT VỚI THIÊN CHÚA

Chúng ta thấy trong sách châm ngôn: “Ta vui thích ở cùng con cái loài người” (Cn 8,31).

Vậy có thể nói rằng thiên đàng của Thiên Chúa chính là tấm lòng con người.  Thiên Chúa yêu thương anh em, nên anh em hãy yêu mến Người.  Người vui thích ở cùng anh em: ước chi anh em cũng vui thích được ở với Người.  Anh em đã hy vọng được sống đời đời bên Chúa, thì hãy sống ngay cuộc sống này bên cạnh Người đi.

Hãy tập trò chuyện riêng với Người, cách thân mật, tin tưởng và mến yêu, như với người bạn thiết thân nhất, kẻ yêu thương mình hơn hết vậy.  Thật là một sự sai lầm to lớn khi trò truyện với Thiên Chúa trong sự sợ hãi, muốn ra trước mặt Người như một tên nô lệ nhút nhát, xấu hổ, run sợ trước chủ nhân.  Nhưng sẽ còn sai lầm hơn nữa, nếu cho rằng trò chuyện với Thiên Chúa là điều phiền chán, gây khó chịu đắng cay.  Không phải thế : “Với Người chẳng có gì là đắng cay, khó chịu, chung sống cùng Người chẳng gây phiền chán đâu, mà luôn luôn thích thú, hân hoan” (Kn 8, 16).  Anh em cứ hỏi những ai thật lòng yêu mến Thiên Chúa, và họ sẽ nói với anh em rằng giữa những đau khổ của cuộc đời, họ chỉ tìm thấy sự nâng đỡ ủi an đích thật và tuyệt hảo trong cuộc đối thoại đầy yêu thương với Thiên Chúa mà thôi.

“Không ai đòi anh em phải luôn luôn cầm trí, đến quên cả công việc và mất thoải mái.  Anh em cứ lo công việc của mình, và chỉ cần làm cho Thiên Chúa những gì anh em vẫn thường làm trong mọi hoàn cảnh, cho những người yêu mến anh em; và những người mà anh em yêu mến.

Thiên Chúa anh em luôn ở gần anh em, và còn ở ngay trong anh em nữa.  “Trong Người, chúng ta được sống, được cử động, được có” (Cv 17 28).  Muốn thưa chuyện với Người, không cần phải qua anh gác cổng, Thiên Chúa thích anh em trò chuyện thân mật với Người hơn.  Hãy bày tỏ cho Người mọi công việc, dự tính, mọi buồn phiền, lo ngại của anh em, tất cả những gì anh em đang quan tâm đến.  Và tôi xin nhắc lại, hãy làm việc đó với lòng cậy trông cởi mở, vì Thiên Chúa không có thói quen ngỏ lời với ai chẳng muốn trò chuyện cùng Người, nếu kẻ ấy không tập quen trò chuyện cùng Thiên Chúa, thì họ sẽ chẳng hiểu gì bao nhiêu khi Người ngỏ lời với họ…

Khi Thiên Chúa ban ơn cho anh em được cảm nghiệm sự hiện diện của Người, và muốn anh em trò chuyện với Người như với bạn thân, thì anh em hãy nói lên những tâm tình của mình một cách thật tự do và tin tưởng.  Người đi trước để đến với những ai ao ước Người và tỏ mình ra cho họ trước:

“Người rảo quanh tìm kiếm.  Trên các nẻo đường họ đi, Người niềm nở xuất hiện.  Mỗi khi họ suy tưởng điều gì, Người đều đến với họ”(Kn 6 15-16).  Người không đòi anh em đến với Người nhưng lại đi bước trước khi thấy anh em ước ao được Người yêu mến, và Người đến với anh em, mang theo những ân huệ và phương dược mà anh em cần.  Người chỉ đợi anh em nói một lời để chứng tỏ rằng Người luôn ở bên anh em và sẵn sàng lắng nghe, an ủi anh em :

“ Tai Người chú ý lắng nghe mọi lời khẩn nguyện” (Tv 33, 16).

Bạn hữu ở thế gian này có những giờ để trò chuyện cùng nhau, còn những giờ khác thì họ xa nhau; nhưng nếu anh em muốn, thì Thiên Chúa và anh em sẽ chẳng xa nhau bao giờ.

Tác giả: Thánh Anphongsô Ligôri – Trích sách: “Ai là anh em tôi?”
Chuyển ngữ: Nữ Đan Viện Biển Đức

HomePage

THÁNH BARNABA TÔNG ĐỒ

Thánh Barnaba vốn là một Thầy Lê-vi, và là con của một chủ trang trại người Sýp, gốc Do-thái.  Tên khai sinh của Ngài là Giu-se, nhưng các Tông Đồ đã đổi tên cho Ngài là Barnaba, nghĩa là người có tài yên ủi (Cv 4,36).  Trong cuộc bầu chọn để trở thành thành viên của nhóm Mười Hai, Barnaba cũng là một trong hai ứng cử viên được đề cử để thế chỗ cho Giu-đa Ít-ca-ri-ốt.  Tuy nhiên khi các Tông Đồ tổ chức rút thăm thì Ngài đã không trúng, nhưng thánh Mát-thi-a đã trúng (Cv 1,23-26).  Sau khi gia nhập cộng đoàn Giáo hội sơ khai, Thánh Nhân đã bán hết tài sản, nhà cửa và ruộng vườn của mình đi, lấy tiền đem đặt dưới chân các Tông Đồ (Cv 4, 36-37).  Thánh Nhân còn là người có tài khuyên bảo, đầy Thánh Thần và Đức Tin (Cv 11,23-24).  Không những thế, Thánh Bác-na-ba còn là người bảo lãnh để Cộng đoàn Giáo hội tiên khởi tại Giê-ru-sa-lem đón nhận Thánh Phao-lô, khi vị Tông Đồ này trở lại (Cv 9,26-27).

Sau khi Thánh Phao-lô bị gửi về quê, còn mình thì được các Tông Đồ cử đến Antiochia (tức Antakya ngày nay), Thánh Barnaba đã trẩy đi Tác-xô để tìm Thánh Phao-lô.  Sau đó cả hai cùng trở lại Antiochia và cùng hoạt động truyền giáo tại đó trong suốt một năm (Cv 11,22-26).  Thánh Barnaba cũng đồng hành với Thánh Phao-lô trong cuộc hành trình truyền giáo đầu tiên tới đảo Sýp, cũng như tới vùng Tiểu Á.  Cả hai đã cùng tham dự Công Đồng Giê-ru-sa-lem.  Tại Công Đồng này, các Tông Đồ đã thống nhất đưa ra quyết định sẽ thi hành sứ mạng truyền giáo cho cả người Do-thái lẫn người gốc dân ngoại (Cv 15,2-35).

Một cuộc tranh cãi đã nổ ra giữa Thánh Phao-lô và Thánh Barnaba vì vấn đề liên quan đến bổn phận phải tuân giữ những quy định của Do-thái giáo đối với các Ki-tô hữu gốc dân ngoại (Gl 2,11-14; Cv 15,22-35), cũng như vì vấn đề của Gio-an Mác-cô, em họ của Barnaba.  Do cuộc tranh cãi này nên hai vị Tông Đồ đã chia tay nhau.  Sau đó, Thánh Barnaba cùng với Thánh Mác-cô đến thăm các Cộng Đoàn tại đảo Sýp, quê hương của Ngài (Cv 15,39).  Theo nhiều truyền thuyết có tính huyền thoại, thì Thánh Barnaba đã chữa lành nhiều bệnh tật bằng cách dùng cuốn Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu mà Ngài luôn mang theo mình, để đặt lên đầu các bệnh nhân.  Cũng theo truyền thuyết, Thánh Barnaba còn đến truyền giáo tại Rô-ma, và đã ban Bí Tích Thanh Tẩy cho một tân tòng, mà sau này người tân tòng ấy đã trở thành Giám mục của Rô-ma, tức Đức Giáo Hoàng Clê-men-tê I.  Rời Rô-ma, Ngài đến Mi-lan, và được coi là Giám mục tiên khởi của Giáo đoàn này.  Nhưng theo một truyền thuyết khác thì Thánh Bác-na-ba đã trở lại đảo Sýp, và tại đó, Ngài được phúc Tử Đạo với việc bị ném đá đến chết.

Một số chuyên gia đã coi Thánh Barnaba ngang hàng với Thánh Phao-lô về tầm quan trọng của Ngài trong công cuộc truyền giáo cho dân ngoại.  Có một bức thư mang tên Ngài, nhưng nó được coi là mạo danh, và cũng được xếp vào hàng các sách Ngụy Thư.  Bức thư này muốn chứng minh những giáo thuyết của Ki-tô giáo nguyên thủy về Chúa Giê-su Ki-tô và về cuộc khổ hình của Ngài như là sự tương ứng và hài hòa với Cựu Ước; trong thời Giáo hội cổ đại, bức thư này đôi khi được coi là thành phần của quy điển Tân Ước.  Thực tế thì bức thư đó đã xuất hiện khá muộn, chỉ khoảng vào năm 130, và với cách giải thích Cựu Ước có tính bài Do-thái của mình, nên nó không được công nhận là của Thánh Barnaba.  Cũng có một cuốn Tin Mừng mạo danh Thánh Nhân, nhưng tiếc rằng nó đã bị thất truyền.  Một tác phẩm khác cũng mạo danh Thánh Nhân, nhưng mãi tới thế kỷ XVI nó mới được biên soạn.  Theo một truyền thống trước đây, mà truyền thống này phát xuất từ Tertullianô, Thánh Barnaba được coi là tác giả của Thư gửi Tín Hữu Do-thái.  Các Giáo hội Chính Thống đã liệt Thánh Nhân vào nhóm 70 môn đệ do đích thân Chúa Giê-su tuyển chọn.

Tương truyền về việc Thánh Barnaba được hưởng phúc Tử Đạo tại đảo Sýp xem ra đáng tin cậy hơn.  Nếu đúng thế thì Ngài đã được phúc Tử Đạo vào khoảng năm 63 dưới thời hoàng đế Nero, và được an táng tại đó trong một hang mộ của một nghĩa trang lớn thuộc vùng Salamis cổ, tức khu hoang tàn của Famagusta ngày nay (phía Đông đảo Sýp).  Một ngôi Thánh Đường của Giáo hội Sýp đã được kiến thiết ngay trên ngôi mộ của Ngài.  Sau một cuộc tranh cãi lâu dài giữa các nhà lãnh đạo của Giáo hội Sýp với Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Antiochia về tính độc lập của Giáo hội Sýp, tại Công Đồng Ê-phê-sô, các Nghị Phụ đã đưa ra quyết định nghiêng về Giáo hội Sýp, nhưng Antiochia đã thu hồi quyết định đó.  Theo tương truyền, vào năm 477, trong một buổi tối, Thánh Barnaba đã hiện ra với Đức Tổng Giám Mục Anthemios của đảo Sýp, và đã chỉ cho Đức Tổng Giám Mục này biết vị trí ngôi mộ của Ngài.  Sau đó, thi hài của Thánh Nhân đã được tìm thấy.  Khi khai quật ngôi mộ của Ngài, người ta phát hiện ra rằng, lúc Thánh Bác-na-ba qua đời, người bạn đường của Ngài là Thánh Mác-cô, đã an táng Ngài với một cách thức hết sức trang trọng.  Trên ngực của Thánh Barnaba có đặt một bản sao cuốn Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu do chính Thánh Barnaba chép lại.  Đức Tổng Giám mục Anthemios đã cấp tốc báo cho triều đình hoàng đế Zenon tại Constantinopoli biết tin về vụ khai quật.  Với việc đó, vị Tổng Giám mục của Giáo hội Sýp đã thành công trong việc thuyết phục nhà cầm quyền rằng, Giáo hội Sýp được thành lập bởi Thánh Barnaba, nên không ít tính Tông Truyền hơn Giáo hội Antiochia, và vì thế được coi là ngang hàng với Giáo hội đó.  Một nguồn suối đã bắt nguồn ngay bên cạnh ngôi mộ trống ngày nay.  Nguồn suối ấy được cho là có khả năng chữa lành cũng như có nhiều khả năng kỳ diệu khác, đặc biệt là đối với những phụ nữ vô sinh và những bệnh ngoài da.  Vào năm 1953, một nhà nguyện mới đã được kiến thiết ngay trên phần mộ được cho là của Thánh Barnaba.

Các Thánh Tích của Thánh Barnaba đã được bảo quản và tôn kính tại nhiều nhà thờ khác nhau trên nước Ý, cũng như tại một số nơi khác như Prag (Tiệp Khắc), Köln, Andechs (Đức), Toulouse (Pháp) và Namur (Bỉ).

Từ năm 1530, Hội Dòng do Thánh Anton Maria Zaccaria thành lập đã đến đóng đô tại Tu Viện Thánh Barnaba ở Mi-lan.  Người ta cũng gọi Hội Dòng này là Dòng Thánh Barnaba.

Vào năm 1521, người Pháp muốn đánh chiếm thành phố Logroño của Tây-ban-nha.  Nhưng sau hơn 6 tuần vây hãm, người Pháp vẫn không sao chiếm được thành phố ấy, nên đành phải rút quân.  Ngày lui binh của quân đội Pháp rơi đúng vào ngày 11 tháng 06 cùng năm.  Vì thế, ngay sau khi quân Pháp thoái triệt, Thánh Barnaba đã được thành phố Logroño nhận làm Bổn Mạng.  Trong ngày mừng Bổn Mạng của mình, người dân thành phố Logroño luôn sử dụng cá để làm món ăn chính, vì trong suốt hơn 6 tuần bị người Pháp vây đánh, dân chúng trong thành phố này đã sống sót nhờ vào việc ăn cá được bắt từ hồ Ebro.

Ngay từ thế kỷ thứ IX, Thánh Barnaba đã được Giáo hội Rô-ma mừng kính vào ngày 11 tháng 06 hàng năm, nhưng các Giáo hội Phương Đông thì lại cử hành Lễ kính Thánh Nhân vào ngày 11 tháng 04.

Giáo hội Tin Lành và Giáo hội Anh giáo cũng cử hành Lễ Kính Thánh Barnaba vào ngày 11 tháng 06.

Còn các Giáo hội Chính thống thì cử hành hai ngày để kính Thánh Barnaba, đó là ngày mồng 04 tháng Giêng và ngày 11 tháng 06.

Riêng tại Giáo hội Armenia thì Thánh Barnaba được mừng kính tới 4 ngày, gồm: mồng 09 tháng 04, 11 tháng 06, 29 tháng 10, và thứ Năm sau Chúa Nhật Suy Tôn Thánh Giá.

Giáo hội Cóp-tít cử hành hai ngày Kính Thánh Barnaba: 11 tháng 06 và 17 tháng 12.

Giáo hội Chính Thống Syria cử hành ba ngày kính Thánh Barnaba, gồm: 11 tháng 05, 11 tháng 06 và 17 tháng 12.

Lm Đa-minh Trần Tiến Thiệu, O.Cist

“NGỠ NGÀNG”

“Ngỡ ngàng” là tâm trạng của một người khi đứng trước một công trình hay một biến cố kỳ diệu.  Trước công trình kỳ diệu đó, người chiêm ngắm thốt lên lời khen ngợi và cảm phục.  Sự ngỡ ngàng thường đi liền với lòng yêu mến tri ân.  Ngày lễ Chúa Ba Ngôi, Phụng vụ ngỡ ngàng thán phục tôn vinh sự kỳ diệu của Thiên Chúa.  Ngài là Thiên Chúa Ba Ngôi.  Đây là một trong ba “Mầu nhiệm cả” của Đức tin Kitô giáo.  Thánh Gioan tông đồ khẳng định: Thiên Chúa là Tình Yêu.”  Đã là tình yêu, thì phải có đối tượng được yêu.  Mặc dù Thiên Chúa yêu thương con người, nhưng con người lại không phải đối tượng tương xứng của tình yêu cao cả nơi Thiên Chúa.  Thiên Chúa không đơn độc.  Ngài là Thiên Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.  Tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con nồng thắm và diệu kỳ đến nỗi từ tình yêu này phát xuất Chúa Thánh Thần.  Công đồng Rôma năm 382 đã viết: “Đây là ơn cứu rỗi của các Kitô hữu: tin vào Chúa Ba Ngôi, tức là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần; được thanh tẩy trong Chúa Ba Ngôi, chúng ta phải tin vững vàng rằng Thiên Chúa Ba Ngôi là một Thiên Chúa duy nhất và quyền năng, vinh quang và hằng hữu.”

Nội dung Bài đọc I là sự ngỡ ngàng của Đức Khôn Ngoan khi nói về Đức Chúa.  Đức Khôn Ngoan ca tụng Đức Chúa đã thực hiện công trình sáng tạo.  Trong công trình kỳ diệu ấy, Đức Khôn Ngoan là tác phẩm đầu tay.  Dưới lăng kính Kitô giáo, Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa là chính Đức Giêsu.  Người đã có tự muôn thuở, “được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha.”  Người ở với Chúa Cha từ trước khi vũ trụ được khai nguyên.  Cùng với Chúa Cha, Đức Khôn Ngoan thực hiện công trình sáng tạo, Người “hiện diện bên Chúa Cha như người thợ cả.”  Như thế, Đức Khôn Ngoan ngang hàng với Chúa Cha, và cùng với Chúa Cha hoạt động không ngừng để làm cho vũ trụ thêm huy hoàng đẹp đẽ.

Là người tin Chúa, chúng ta ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của vũ trụ, đồng thời chúng ta tuyên xưng Chúa là Đấng làm nên vẻ đẹp đó.  Sự huy hoàng của vũ trụ được tác giả Thánh vịnh 8 ca ngợi: “Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài.”  Trong tất cả các loài thụ tạo, con người được Chúa ưu ái nhất, và con người “chẳng thua kém thần linh là mấy, vì được Chúa ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên.”  Theo sách Sáng thế, sau khi tạo dựng muôn loài, Thiên Chúa trao đất đai cho con người canh tác và làm cho đất phì nhiêu màu mỡ.  Thiên Chúa đã đặt con người thay Ngài lên cai quản vũ trụ.

Nhìn lại lịch sử Cứu độ, chúng ta ngỡ ngàng trước quyền năng và tình yêu thương của Thiên Chúa.  Ngài đã hướng dẫn lịch sử bằng cánh tay uy quyền của người cha, và bằng tình yêu thương dịu dàng của người mẹ.  Con người nhiều lần phản nghịch lỗi phạm giới răn của Chúa, nhưng Ngài luôn tha thứ bao dung.  Vì yêu thương, Thiên Chúa đã sai Con của Ngài là Đức Giêsu đến trần gian.  Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai, có sứ mạng hoà giải Thiên Chúa với con người và nối kết con người với nhau trong tình huynh đệ thân thương.  Dân chúng nghe lời giảng dạy của Người đều ngỡ ngàng trước sự khôn ngoan của Người.  Qua Đức Giêsu, họ nhận ra “Thiên Chúa đã viếng thăm dân Ngài.”  Họ tung hô: “Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến.”

Nếu dân chúng ngỡ ngàng trước sự khôn ngoan của Đức Giêsu, họ cũng hết sức ngỡ ngàng và bàng hoàng trước cái chết của Người trên thập giá.  Vị sĩ quan người Rôma, khi chứng kiến cái chết của Người, đã thốt lên: “Quả thực, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39).  Vì oán hận ghen tương, con người đã giết Con Thiên Chúa.  Con Thiên Chúa đã mang lấy án phạt để nhân loại được hạnh phúc.  Con Thiên Chúa đã trở nên nô lệ để con người được tự do.  Ngước nhìn thập giá, người tín hữu tôn thờ Thiên Chúa, Đấng yêu thương nhân loại và hy sinh vì hạnh phúc của con người.

Ông Phêrô cùng với các tông đồ và những khách hành hương ở Giêrusalem ngày lễ Ngũ Tuần đã ngỡ ngàng trước điều kỳ diệu Chúa Thánh Thần đã thực hiện.  Ngài ngự trên các ông như hình lưỡi lửa, đồng thời ban cho các ông sức mạnh thần linh.  Các ông mở tung cánh cửa đang đóng kín, mạnh mẽ rao giảng Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai và là Đấng Cứu độ.  Chúa Thánh Thần là Thần Khí sự thật, là Đấng Bảo Trợ mà Chúa Giêsu đã hứa với các tông đồ (Bài đọc II).  Chúa Thánh Thần vẫn đang hoạt động giữa Giáo Hội và thế giới hôm nay, để giúp cho Giáo Hội phát triển và cho Sự Thật được thực thi trong đời sống con người.  Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta trở nên nghĩa tử của Thiên Chúa và thân thưa với Ngài: Áp-ba!  Cha ơi!

Câu chuyện sáng tạo và câu chuyện cứu độ do Thiên Chúa thực hiện không chỉ là câu chuyện xa xưa, nhưng vẫn đang là câu chuyện của hôm nay và là câu chuyện của cá nhân mỗi người.  Khi tôn vinh Chúa Ba Ngôi, chúng ta ngỡ ngàng nhận ra bản thân mỗi người là một công trình kỳ diệu của Chúa Ba Ngôi.  Ba hoạt động: sáng tạo, cứu độ và thánh hoá luôn đan xen hoà quyện trong chính mỗi người chúng ta.  Quả thật, nhờ ơn Chúa chúng ta sống động và hiện hữu; nhờ ơn Chúa chúng ta được giải thoát và thứ tha; nhờ ơn Chúa chúng ta được thêm sức và thánh hóa.  Một số nhà Thần học có khuynh hướng “phân công” ba hoạt động này như sau: Chúa Cha là Đấng Sáng tạo, Chúa Con là Đấng Cứu chuộc, Chúa Thánh Thần là Đấng canh tân và thánh hoá.  Thực ra, mỗi tác động này đều là tác động của Ba Ngôi Thiên Chúa, vì Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần cùng ở trong nhau và cùng nhau hoạt động.  Và, kỳ lạ thay, nhờ ân sủng của Thiên Chúa, dù bé nhỏ nghèo hèn, chúng ta cũng được tham dự vào dòng chảy tình yêu tuyệt vời nơi cung lòng Ba Ngôi, như Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy.  Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy.  Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23).

“Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.”  Khi làm dấu Thánh giá, chúng ta cảm thấy ngỡ ngàng.  Bởi lẽ là thụ tạo nhỏ bé hèn mọn, mà chúng ta lại được tái sinh nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi, đồng thời nhân danh Chúa Ba Ngôi trong mọi hành động.  Nhân danh Chúa để làm việc, để suy tư, để dùng bữa và nhất là để cầu nguyện.  Khi nhân danh Chúa mà làm việc, chắc chắn những việc chúng ta làm sẽ mang lại những kết quả tốt đẹp.

Ngỡ ngàng trước những điều kỳ diệu cao cả ấy, chúng ta cùng cất lời tôn vinh: “Sáng Danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, như đã có trước vô cùng, và bây giờ, và hằng có, và đời đời chẳng cùng. Amen”.

TGM Vũ Văn Thiên

NGÔI NHÀ NGỌT NGÀO

“Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình!”

Nhà tâm thần học Turnbull nói, “Trong những ngôi nhà vắng bóng người cha, thái độ của người mẹ đối với đứa con, và mức độ bảo vệ của cô đối với nó, dường như là chìa khoá cho sự phát triển của một cậu bé.  Thời điểm quan trọng nhất là từ 30 tháng tuổi đến 5 tuổi, và giai đoạn đầu tuổi vị thành niên.  Đó là ‘ngôi nhà ngọt ngào’ nhất của một đời người!”

Kính thưa Anh Chị em,

“Đó là ‘ngôi nhà ngọt ngào’ nhất của một đời người!” Thế nhưng, không chỉ ấu thời, mà ở đâu có mẹ, ở đó có sự ngọt ngào!  Ngôi nhà có mẹ, là ‘ngôi nhà ngọt ngào.’  Tin Mừng ngày lễ “Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh” hôm nay nói đến sự ngọt ngào ấy.  Từ chân thập giá, Gioan đón Mẹ Chúa Giêsu về; Gioan viết, “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình!”

Năm 2018, khi Đức Phanxicô thiết lập lễ này, Hồng Y Robert Sarah, Tổng Trưởng Bộ Phụng Tự, nói, “Việc cử hành lễ này giúp chúng ta nhớ rằng, sự trưởng thành trong đời sống Kitô hữu phải gắn liền ‘với mầu nhiệm Thập Giá’, ‘với sự tôn sùng Chúa Kitô trong Tiệc Thánh Thể,’ và ‘với Mẹ của Đấng Cứu Chuộc, cũng là Mẹ của Chúa Cứu Thế’, Đức Trinh Nữ Maria, người đã làm nên ‘Lễ Dâng’ của mình mà dâng lên Thiên Chúa!”.

“Hãy thả neo vào Thánh Giá, thả neo vào Thánh Thể và thả neo vào cả Thánh Mẫu”, người vừa là “Mẹ của Đấng Cứu Chuộc, cũng là Mẹ của Chúa Cứu Thế!”  Thật sâu sắc và đầy cảm hứng khi chúng ta đọc lại tư tưởng của Robert Sarah, vị Hồng Y tốt lành!  Tin Mừng ngày lễ hôm nay vẽ lại hình ảnh thánh thiện của Đức Mẹ trước thập giá của Con.  Khi đứng đó, Mẹ Maria đã nghe Chúa Giêsu nói những lời sau cùng, “Tôi khát!”; người ta cho Ngài một ít giấm trên một miếng bọt biển, và sau đó, Ngài tuyên bố, “Mọi sự đã hoàn tất!” Maria, Mẹ Đấng Cứu Chuộc, đã đứng đó như một nhân chứng khi thập giá Con của Mẹ trở nên nguồn cội của sự cứu chuộc thế giới!  Sau khi nếm chút giấm lần cuối, Chúa Giêsu đã hoàn thành việc thiết lập lễ Vượt Qua Mới, Hy Lễ Mới và Giao Ước Mới; Giao Ước Vĩnh Cửu, Bí Tích Thánh Thể!

Ngoài ra, ngay trước khi Chúa Giêsu “tắt thở”, tuyệt vời thay, các cố ngày xưa không gọi là “tắt thở” nhưng gọi là “sinh thì”, “Chúa Giêsu sinh thì”, nghĩa là trước thời khắc mà “Ngài được sinh lại trong Chúa Cha”, trong sự sống mới… Ngài đã tuyên bố với Mẹ của Ngài rằng, giờ đây Mẹ sẽ là “Mẹ của Đấng Cứu Chuộc”, tức là Mẹ của mỗi thành viên trong Hội Thánh. Món quà này, Mẹ Chúa Giêsu, được tặng trao cho Hội Thánh qua lời của Ngài , “Đây là con của Mẹ”; “Này là Mẹ của con!”. Không thể ngọt ngào hơn! Và “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình!”. Nhà người môn đệ ấy là hình ảnh ngôi nhà Hội Thánh, từ đó, trở nên một ‘ngôi nhà ngọt ngào!’

Sự ngọt ngào của ngôi nhà Hội Thánh đưa chúng ta về với sự ngọt ngào của Vườn Địa Đàng, mà ở đó, cũng có một bà mẹ như bài đọc Sáng Thế hôm nay gợi nhớ.  Thế nhưng, đó là một sự ngọt ngào bị đánh mất khi nguyên tổ phạm tội.  Mẹ Maria, người mà lời hứa ám chỉ ngay từ giây phút đó; giờ đây, như một Evà mới, trả lại sự ngọt ngào cho gia đình nhân loại, gia đình Hội Thánh, một gia đình được Chúa Con cứu chuộc.  Gia đình đó nay là Giêrusalem mới, thành đô mới, rất ngọt ngào của Thiên Chúa; một thành được Ngài chúc phúc như Thánh Vịnh đáp ca tiên báo, “Hỡi thành đô của Thiên Chúa, mọi người truyền tụng những điều hiển hách về thành!”

Anh Chị em,

“Hãy thả neo vào Thánh Giá, thả neo vào Thánh Thể và Thánh Mẫu!”  Mừng kính “Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh”, chúng ta hãy suy gẫm về mối quan hệ của mình với Thánh Giá, Thánh Thể và Thánh Mẫu!  Nếu chúng ta sẵn sàng đứng bên Thánh Giá, ngắm nhìn nó với Mẹ mình, chứng kiến ​​Chúa Giêsu đổ máu châu báu của Ngài, ít nữa mỗi ngày trong Tiệc Thánh Thể, để cứu rỗi thế giới, thì bạn cũng được đặc ân nghe Chúa Giêsu nói với mình, “Này là Mẹ của con!”  Được ở trong ‘ngôi nhà ngọt ngào’ với Mẹ Chúa Thiên Đàng, bạn hãy tìm kiếm sự chăm sóc và bảo vệ của Mẹ và để lời cầu của Mẹ lôi kéo bạn đến gần Con của ngài hơn!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Mẹ Maria, để linh hồn con luôn là ‘ngôi nhà ngọt ngào’, xin Thánh Mẫu ở lại với con!  Cho con biết ôm lấy Thánh Giá đời con nhờ sức mạnh của Thánh Thể mỗi ngày!” Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

TỘI LỖI CÓ THỂ LÀM ĐỘNG LỰC CHO TÌNH YÊU THÊM SÂU ĐẬM

“Con có yêu mến Thầy không?”

Joséphine, một phụ nữ xinh đẹp mà Napoléon say đắm.  Năm 1795, hai người phải lòng nhau; tháng 3 năm sau, họ thành hôn!  Napoléon đắm đuối trong cuộc tình; nhưng xem ra, Joséphine chẳng mấy rung cảm với vị tướng trẻ hơn mình 6 tuổi.  Phải chăng, chỉ vì quyền lực và địa vị!  Ngay sau đám cưới, Napoléon viễn chinh Italy; Joséphine gần như công khai cặp bồ với các tình nhân; nổi tiếng, là Trung Uý Hippolyte Charles.  Vậy mà năm 1804, tức 9 năm sau, Napoléon trở thành Đại Đế, Joséphine được triệu vào cung, được phong tước “Hoàng Hậu.”  Câu hỏi đặt ra, tại sao một phụ nữ phản bội đến thế lại được đón nhận như chưa từng có chuyện gì xảy ra?  Một học giả chuyên về Napoléon nói, “Tội lỗi có thể làm động lực cho tình yêu thêm sâu đậm!”

Kính thưa Anh Chị em,

Nếu Napoléon quên hết quá khứ của Joséphine, Chúa Giêsu cũng quên hết quá khứ của Phêrô.  Trong Tin Mừng hôm nay, Ngài hỏi Phêrô, “Con có yêu mến Thầy không?”  Ngài hỏi đến ba lần!  Hẳn Chúa Giêsu không cần Phêrô xin lỗi ba lần, nhưng Phêrô cần bày tỏ tình yêu ba lần.  Như vậy, thông điệp Lời Chúa thật rõ ràng, “Tội lỗi có thể làm động lực cho tình yêu thêm sâu đậm!”

“Ba” cũng là con số của sự hoàn hảo.  Ví dụ, khi tuyên xưng Thiên Chúa là “Thánh, Thánh, Thánh,” biểu thức ba lần này nói lên rằng, Thiên Chúa là Đấng Thánh Khiết nhất.  Vì thế, khi trả lời Chúa Giêsu ba lần, “Con yêu mến Thầy,” Phêrô có cơ hội bày tỏ tình yêu của mình theo những cách sâu xa nhất; ba lần bày tỏ tình yêu thay cho ba lần từ chối tình yêu!  Điều này tiết lộ một nhu cầu của chúng ta là phải yêu mến Thiên Chúa và tìm kiếm lòng thương xót của Ngài theo cách “gấp ba lần.”  Hãy để Chúa Giêsu hỏi chúng ta ‘ba lần với một câu hỏi;’ và biết rằng, Ngài không hài lòng với câu trả lời giản đơn, “Lạy Chúa, con yêu mến Chúa.”  Ngài muốn nghe nó một lần, hai lần, và một lần nữa!  Ngài muốn chúng ta bày tỏ tình yêu một cách sâu sắc nhất, “Lạy Chúa, Chúa biết mọi sự; Chúa biết con yêu mến Chúa!”  Đây phải là câu trả lời cuối cùng!

‘Ba lần với một câu hỏi’ cho chúng ta cơ hội biểu lộ lòng khát khao cháy bỏng của mình đối với lòng thương xót của Thiên Chúa.  Tất cả chúng ta đều phạm tội; đều phủ nhận Thiên Chúa cách này, cách khác.  Nhưng điều đáng mừng là Chúa Giêsu luôn muốn chúng ta biết rằng, “Tội lỗi có thể làm động lực cho tình yêu thêm sâu đậm!”  Ngài không ngồi và giận dỗi; Ngài không bĩu môi, cũng không viết tội của chúng ta trên trán mỗi người.  Nhưng Ngài đòi chúng ta phải có một sự đau buồn chân thành và một sự hoán cải hoàn toàn từ trong trái tim, Ngài muốn chúng ta từ bỏ tội lỗi đến mức tối đa.  Vì lẽ, chính Ngài đã hiến thân chịu chết để rửa sạch muôn vàn tội lỗi; tội lỗi và sự chết không có quyền trên Ngài; Ngài đã sống lại và vẫn sống!  Trong bài đọc Công Vụ Tông Đồ hôm nay, tù nhân Phaolô đã xác tín điều đó.  Phestô nói với vua Agrippa, “Họ chỉ tố cáo hắn mấy điều về mê tín, về một Giêsu nào đó đã chết mà Phaolô quả quyết là vẫn sống!”

Anh Chị em,

“Con có yêu mến Thầy không?”  Hãy dành thời giờ, lặp đi lặp lại câu hỏi này không chỉ một lần, ba lần, nhưng nhiều lần!  Chắc chắn Chúa Thánh Thần sẽ cho chúng ta thấy được chiều sâu tình yêu của chính chúng ta đối với Chúa Giêsu và cách chúng ta bày tỏ tình yêu với Ngài.  Hãy bày tỏ tình yêu của bạn đối với Thiên Chúa theo cách gấp ba lần.  Hãy để nó trở nên sâu sắc, chân thành và không đổi thay.  Chúa Giêsu sẽ đón nhận hành động chân thành này và trả lại cho bạn không chỉ gấp ba, nhưng gấp trăm lần.  Đừng sợ vì sự bất xứng của mình.  Trước Thiên Chúa nào ai xứng đáng!  Hãy đến với Chúa dù chúng ta có thế nào đi nữa, hãy đến kín múc ân sủng thứ tha của Ngài.  Hãy nói với Ngài, không chỉ một lần, ba lần nhưng nhiều lần, với hết tâm hồn; rằng, bạn yêu mến Ngài.  Bởi lẽ, “Tội lỗi có thể làm động lực cho tình yêu thêm sâu đậm!”

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, Chúa biết con yêu mến Chúa; và Chúa cũng biết con yếu đuối thế nào.  Xin biến đổi con, hầu con có thể dâng Chúa tình yêu và ước muốn hoán cải đến mức tối đa!” Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

ĐẤNG BAN SỨC MẠNH

Hình ảnh các tông đồ tề tựu ở một nơi, trên lầu cao, làm chúng ta liên tưởng tới tình trạng cách ly tập trung trong thời đại dịch Covid-19.  Lúc đó, các tông đồ hoang mang lo lắng, một phần vì không biết tương lai sẽ thế nào, phần khác vì sợ người Do Thái hành hung gây sự.  Trong bối cảnh đó, các ông không biết làm gì hơn là cầu nguyện.  Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu cùng hiện diện với các ông.

Thánh Gioan trong bài Tin Mừng cũng nói với chúng ta về một tình trạng “cách ly” khác.  Sau khi chứng kiến Thầy mình chịu chết đau đớn trên thập giá, các tông đồ sợ hãi, tập trung trong một ngôi nhà đóng kín cửa.  Tác giả nói rõ lý do: vì sợ người Do Thái.

Đại dịch Covid-19 đã gây biết bao hệ luỵ và làm cho con người hoang mang.  Cách ly tập trung là một trong những phương pháp hiệu quả để ngăn ngừa dịch bệnh.  Trong số những người phải cách ly, có đủ mọi thành phần: quân đội, Việt kiều, bác sĩ, sinh viên, linh mục, tu sĩ…  Đương nhiên việc phải đi cách ly tập trung là việc chẳng đặng đừng.  Tuy vậy, sau thời gian cách ly, một số người có những trải nghiệm thú vị.  Họ cảm thấy có thời gian để suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời, để “sống chậm” hơn.  Họ quan tâm đến người khác hơn và cũng cảm nhận được sự quan tâm của nhiều người đối với mình, trong đó có những người thân và cũng có cả những người không hề quen biết, nhưng đã cùng chung sức chung lòng động viên khích lệ những người đang phải sống cách ly.  Nhiều người đã thay đổi cái nhìn về cuộc sống sau hai tuần cách ly.  Trong xã hội, dịch bệnh cũng làm cho mọi người sống có trách nhiệm hơn với công ích và với tha nhân.  Khi nghiệm ra cuộc đời thật ngắn ngủi, chóng qua và vô thường, người ta cố gắng sống tốt hơn.

Trở lại với các tông đồ trong ngày lễ Ngũ Tuần.  Chính trong lúc các ông đang “cách ly tập trung,” Chúa Thánh Thần ngự đến.  Thời gian “cách ly” là lúc các ông nhớ lại những gì Chúa Giêsu đã dạy.  Người hứa sẽ xin Chúa Cha ban cho các ông một đấng Phù trợ.  Đấng này là Sức mạnh, là sự Khôn ngoan, là Sự thật.  Những giây phút cầu nguyện đã giúp các ông dọn mình chuẩn bị đón Ngôi Ba Thiên Chúa.  Ơn đầu tiên mà Chúa Thánh Thần ban cho các ông “là ơn ngôn ngữ.”  Các ông nói nhiều ngôn ngữ khác nhau, tuỳ theo ơn Chúa Thánh Thần ban cho.  Một điều thật kỳ diệu: Chúa Thánh Thần vừa soi sáng cho các tông đồ để các ông rao giảng về Chúa Giêsu, vừa mở lòng soi trí cho những người đang nghe các ông rao giảng, để họ nhận biết và tin theo.

Cũng vậy, chính trong tình trạng “cách ly” mà các tông đồ được gặp gỡ Đấng Phục sinh.  Với lời chào bình an, Chúa Giêsu trao ban cho các ông Thánh Thần.  Được gặp gỡ Đấng Phục sinh, các ông hết hoang mang lo lắng.  Thay thế vào đó là niềm vui mừng khôn tả, vì được thấy Chúa.

Thực ra, Chúa Thánh Thần vẫn hiện diện trong cuộc đời.  Ngài là nguyên lý hoạt động của cỗ máy vũ trụ.  Nhờ Ngài mà thế giới hiện hữu và vũ trụ tuần hoàn, bốn mùa xuân hạ thu đông thay nhau đắp đổi. Tác giả Thánh vịnh đã khẳng định: “Ngài lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay, mà trở về cát bụi.  Ngài gửi sinh khí tới, là chúng được dựng nên và Ngài đổi mới mặt đất này” (Tv 103, 29-30).  Nếu một ngày nào đó, không có ơn Chúa Thánh Thần nâng đỡ, Giáo Hội sẽ trở thành xác không hồn.  Chính Chúa Thánh Thần làm cho Giáo Hội của Chúa Kitô lan tỏa một vẻ đẹp diệu kỳ.  Vẻ đẹp ấy thể hiện qua tình hiệp nhất giữa các tín hữu, qua sức mạnh của đức tin, qua tính linh thiêng của những nghi thức phụng vụ.  Chúa Thánh Thần còn làm cho vẻ đẹp Giáo Hội rạng ngời nơi khuôn mặt và cuộc đời các tín hữu, giúp họ dấn thân hy sinh, kiên vững trung thành sống chết vì Chúa.

Sách Giáo lý của Giáo Hội công giáo đã liệt kê những biểu tượng chỉ Chúa Thánh Thần như: nước, sự xức dầu, lửa, áng mây và ánh sáng, dấu ấn, bàn tay, ngón tay, chim bồ câu.  Tất cả những biểu tượng trên diễn tả những nhu cầu cần thiết để con người có thể sống và đạt được hạnh phúc trên trần gian.  Thế gian sẽ vắng bóng sự sống nếu không có Chúa Thánh Thần.  Cuộc sống con người sẽ mất định hướng nếu không có Chúa Thánh Thần.  Thánh Phaolô khẳng định: dù có nhiều hoạt động khác nhau trong Giáo Hội, nhưng chỉ có một Thánh Thần là động lực duy nhất, thúc đẩy và soi sáng cho con người, vì ích chung (Bài đọc II).

Nếu Chúa Thánh Thần vẫn đang hiện diện và hoạt động, thì ngày lễ Hiện Xuống có ý nghĩa gì?  Thưa: ngày lễ này trước hết là lời tuyên xưng Đức tin vào sự hiện diện của Ba Ngôi Thiên Chúa.  Ngài là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống (Kinh Tin kính).  Đây là dịp nhắc nhở cho các tín hữu về sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong cuộc đời, trong Giáo Hội và trong tâm hồn người tín hữu.  Khi cử hành lễ Hiện Xuống, Giáo Hội cũng kêu cầu Chúa Thánh Thần tiếp tục đổ muôn ơn của Ngài xuống trên Giáo Hội, canh tân cuộc đời, canh tân Giáo Hội và đổi mới lòng con người.  Trong một xã hội còn nhiều gian dối, Giáo Hội kêu cầu Chúa Thánh Thần là Thần Chân lý; trong một xã hội bị tổn thương do bạo lực và suy đồi luân lý, Giáo Hội kêu cầu Chúa Thánh Thần là Đấng chữa lành; Vào lúc Giáo Hội đang bị tấn công tứ phía, Giáo Hội kêu cầu Chúa Thánh Thần là Đấng Trợ lực.  Giáo Hội tin vào hoạt động của Chúa Thánh Thần, như linh hồn của Giáo Hội.  Nhờ sự hướng dẫn khôn ngoan của Ngài, Giáo Hội không sợ bị lầm lạc.

Đại dịch Covid-19 sẽ kéo dài đến bao giờ?  Không ai có thể trả lời.  Nhiều người đã nói đến việc sống chung với Covid.  Dẫu thế nào đi nữa, đây cũng là dịp để chúng ta sống tình liên đới, lưu tâm đến người khác và trân trọng những giá trị sống mà chúng ta đang được hưởng.  Hãy lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần từ nơi sâu thẳm của tâm hồn.  Xin Ngài giúp chúng ta. Amen!

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

LỄ ĐỨC MẸ THĂM VIẾNG

Lịch sử cứu độ là lịch sử của những cuộc viếng thăm.  Đó là những cuộc viếng thăm giữa Thiên Chúa và dân Người.  Thật vậy, sau khi hoàn tất công trình tạo dựng, Thiên Chúa không bỏ rơi con người nhưng luôn viếng thăm để ban ơn và có khi để khiển trách, trừng phạt con người.  Khi Adong Evà phạm tội, Ngài viếng thăm để ra hình phạt đồng thời để hứa ban Đấng Cứu Độ (x. St 3,1-24).  Rồi, Ngài viếng thăm dân Ngài qua các ngôn sứ và các vị lãnh đạo dân Do Thái: Ngài viếng thăm và thi ân giáng phúc cho ông Ab-ra-ham và hứa sẽ làm cho dòng dõi ông nên đông đúc như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển (x. St 22,17); Ngài viếng thăm Mô-sê qua bụi gai bốc cháy để truyền lệnh cho ông giải thoát dân Is-ra-el ra khỏi đất Ai-cập (x. Xh 3, 1-12); Ngài ở với ngôn sứ Giê-rê-mi-a để cứu sống và giải thoát (x. Gr 15,20), và Ngài luôn đồng hành với các ngôn sứ để truyền cho họ nói Lời của Ngài cho dân chúng; Cuối cùng, chính Ngài đã viếng thăm nhân loại qua chính Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô.

Qua đoạn Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy Đức Giêsu đã viếng thăm gia đình ông Gia-ca-ri-a qua trung gian Đức Maria.  Cuộc viếng thăm này có hai chiều kích đặc biệt: chiều kích thứ nhất là chiều kích chia sẻ.  Mẹ Maria mang Chúa đến để chia sẻ với bà chị họ.  Nhờ đó, Thánh Gioan Tẩy Giả được khỏi Tội Nguyên Tổ ngay từ trong lòng Bà Ê-li-sa-bét.  Chính bà Ê-li-sa-bét đã vui mừng thốt lên rằng: “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?  Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng.  Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1, 43-45).  Chiều kích thứ hai là chiếu kích phục vụ.  Tin mừng cho biết, Mẹ Maria “ở lại với bà Ê-li-sa-bét độ ba tháng, rồi trở về nhà” (Lc 1,56).  Khi Mẹ đến thăm thì bà Ê-li-sa-bét thì bà đã cưu mang Gioan được sáu tháng.  Mẹ ở lại đó ba tháng, tức là những tháng cuối cùng trước khi bà Ê-li-sa-bét hạ sinh.  Đây là những ngày tháng khó nhọc vất vả nhất của người phụ nữ mang thai.  Mẹ biết được như vậy, nên Mẹ đã tự nguyện ở lại đó để chăm sóc, phục vụ, giúp đỡ bà chị họ.  Điều đó thể hiện tinh thần thăm viếng mang chiều kích phục vụ của Mẹ.

Về phần Đức Giêsu, sau thời gian sống ẩn dật tại làng quê Na-za-rét, Ngài bắt đầu hành trình truyền giáo là bắt đầu những cuộc viếng thăm: Ngài đi khắp mọi nơi và gặp gỡ mọi người để biến đổi và chữa lành họ; Ngài viếng thăm ông Gia-kêu khi ông đang ngồi trên cây sung; Ngài viếng thăm ông Lê-vi tại bàn thu thuế; Ngài viếng thăm gia đình La-za-rô và cho ông đã chết Bốn ngày được sống lại; Ngài viếng thăm và chữa lành cho mẹ vợ của ông Phê-rô…  Đi tới đâu là Ngài thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma qủi kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người (x. Cv 10, 36-38).  Tin mừng còn cho biết: Nhờ Ngài mà kẻ què đi được, kẻ điếc được nghe, kẻ mù được xem thấy, kẻ câm nói được, kẻ chết sống lại, kẻ nghèo khó được nghe Tin mừng.  Chắc chắn Mẹ Maria cũng đồng hành với Chúa Giêsu trên mọi nẻo đường truyền giáo để thăm viếng, an ủi tất cả mọi hạng người trong xã hội.  Đặc biệt, Mẹ có mặt tại tiệc cưới Cana để khẩn cầu Đức Giêsu làm phép lạ hóa nước thành rượu ngon giúp cho gia chủ trong lúc bế tắc.  Mẹ hiện diện dưới chân Thánh giá để lãnh nhận sứ mạng làm Mẹ loài người.  Sau khi về trời, Mẹ còn thăm viếng loài người bằng những lần hiện ra nơi này nơi khác như ở Lộ Đức, ở Fatima, ở Lavang…  Còn Đức Giêsu, sau khi Phục Sinh, Ngài còn hiện ra nhiều lần nhiều nơi để viếng thăm và cũng cố đức tin cho các Tông đồ và các Kitô hữu đầu tiên.  Có thể nói, những cuộc viếng thăm của Thiên Chúa, của Đức Giêsu và của Đức Maria là mẫu mực cho các cuộc viếng thăm giữa con người với nhau qua mọi thời đại.  Đó là những cuộc viếng thăm đem lại niềm vui, tình thương và ơn cứu độ.

Các Tông đồ lãnh nhận sứ mạng Đức Giêsu trao phó, tiếp tục ra đi đến với muôn dân.  Sách Công vụ Tông đồ kể lại các sinh hoạt của Giáo hội sơ khai cho chúng ta thấy điều đó.  Các Ngài ra đi khắp mọi nơi để thăm viếng, rao giảng và làm chứng cho Đức Giêsu đã chết và sống lại.  Riêng Thánh Phaolô, sau khi trở lại, Ngài đã thực hiện nhiều cuộc hành trình truyền giáo đến với dân ngoại.  Nhờ đó, nhiều cộng đoàn Kitô hữu được thiết lập.  Từ đó tới nay, Giáo hội không ngừng ra đi để thăm viếng muôn dân: Đó chính là sự “ra đi” của các nhà truyền giáo, các giám mục, linh mục, tu sỹ và giáo dân.  Đặc biệt, từ thời Đức Giáo Hoàng Phaolô VI cho tới nay, các Đức Giáo Hoàng thường thực hiện những cuộc thăm viếng mang tính quốc tế: Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đã có 129 cuộc viếng thăm ngoài thành Rôma.  Ngài là vị Giáo hoàng đầu tiên đến viếng thăm một ngôi đền Hồi giáo ở Syria; viếng thăm vùng Thánh Địa Giêrusalem…  Các cuộc viếng thăm của Ngài ảnh hưởng đến việc hòa giải các dân tộc và tôn giáo.  Đức Giáo hoàng Benedictô XVI và Đức Giáo hoàng Phanxicô tiếp tục ra đi.  Đức Giáo Hoàng Phanxicô thường quan tâm đặc biệt đến các vùng ngoại vi.  Ngài đã đến với những người tị nạn tại đảo Lampedusa, trại tù Casal del Marmo…  Ngài mời gọi mỗi người chúng ta hãy “ra đi” để đem Tin mừng đến với những người bần cùng nhất, những người sầu khổ, những người còn trong bóng tối tội lỗi.  Chính vì thế, các cuộc viếng thăm của Ngài không những đem lại sự hòa hợp các dân tộc mà còn đem lại niềm vui và sự an ủi cho những người thấp cổ bé miệng trong xã hội.

Viếng thăm cũng là bổn phận của mỗi người chúng ta hôm nay: Viếng thăm để thực hiện bổn phận truyền giáo; Viếng thăm để thực hiện bổn phận liên đới giữa chúng ta với các mối tương quan như ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn hữu.  Chúng ta hãy bắt chước gương viếng thăm của Thiên Chúa, của Đức Giêsu và Đức Maria.  Hãy có những cuộc viếng thăm tha nhân một cách vô vị lợi.  Hãy viếng thăm tha nhân khi vui cũng như lúc buồn như lời Thánh Phaolô nhắc nhở: “Hãy vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12,15).  Hãy viếng thăm tha nhân trong sự thành thật không giả hình, viếng thăm trong tình yêu thương huynh đệ: “Đức ái không được giả hình: Hãy chê ghét điều ác và trìu mến điều lành.  Hãy thương yêu nhau trong tình bác ái huynh đệ.  Hãy nhân nhượng tôn kính nhau” (Rm 12, 9-11); “Hãy giúp đỡ các thánh khi họ thiếu thốn, và ân cần tiếp khách đỗ nhà” (Rm 12, 13).  Đặc biệt, chúng ta hãy siêng năng viếng thăm những người nghèo đói, bệnh tật, cô thế cô thân, những kè tù đày… để đem niềm vui và hạnh phúc đến cho họ.  Vì khi chúng ta thăm viếng họ là chúng ta đang thăm viếng Chúa.  Tin mừng theo Thánh Mathêu, chương 25, Đức Giêsu đã đồng hóa Ngài với những kẻ bé mọn: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa.  Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.”  Ngài nói thêm: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.”

Ước mong rằng, ngày lễ Mẹ Thăm Viếng hôm nay nhắc nhở mỗi người chúng ta luôn biết ra khỏi chính mình để đến với tha nhân, đem niềm vui có Chúa và tinh thần phục vụ cho họ như gương mẫu của Đức Maria. Amen.

Lm. Anthony Trung Thành

KHÚC DẠO ĐẦU CHO MỘT NIỀM VUI LỚN HƠN

“Cứ nói đi, đừng làm thinh; vì Ta ở cùng con!”

Trong cuốn “A Holy Rebellion”, “Một Cuộc Nổi Loạn Thánh”, Thomas Ice & Robert Dean đặt vấn đề, “Khi nào chúng ta hành động giống như Satan?”  Câu trả lời là, “Khi chúng ta chú ý hơn đến việc, đơn giản là, duy trì tình trạng hiện tại của mình.  Khi chúng ta đặt lợi ích bản thân và vật chất trên lợi ích của Chúa Kitô.  Và khi chúng ta coi khổ đau và cái chết trong cuộc sống của mình như một thất bại, thay vì là ‘khúc dạo đầu cho một niềm vui lớn hơn’, Niềm Vui Phục Sinh!”

Kính thưa Anh Chị em,

Ý tưởng của hai tác giả trên một lần nữa được gặp thấy trong Lời Chúa hôm nay.  Quan điểm của Chúa Giêsu hoàn toàn tương đồng với quan điểm của hai ông; rằng, khổ đau, bắt bớ, chỉ là ‘khúc dạo đầu cho một niềm vui lớn hơn!’  Vì thế, thông điệp “Ta ở cùng con” Chúa Giêsu gửi cho Phaolô qua bài đọc Công Vụ Tông Đồ cũng là thông điệp Ngài gửi cho các môn đệ và cả chúng ta qua bài Tin Mừng.

Khi nói, “Cứ nói đi, đừng làm thinh; vì Ta ở cùng con!”, Chúa Giêsu muốn xác nhận những gì rồi đây, Phaolô sẽ phải chịu và điều đó có thể khiến ông sợ hãi là có thật!  Việc người ta sẽ tìm cách bịt miệng Phaolô là có thật!  Việc chống đối Phaolô và Phúc Âm Phaolô rao giảng là có thật!  Vì vậy, Ngài trấn an, “Ta ở cùng con, không ai tra tay hại được con; vì Ta có một dân đông đảo trong thành này!”  Qua đó, Chúa Giêsu cho biết, bách hại, tù đày… Phaolô sẽ chịu, những gì không thể thiếu của người môn đệ, sẽ chỉ là ‘khúc dạo đầu cho một niềm vui lớn hơn’, “Niềm Vui Phục Sinh”, “Niềm Vui Thiên Chúa được nhận biết.”  Dân thành này, rồi ra cũng tuyên xưng, “Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu” như dân các thành khác, đúng như lời Thánh Vịnh đáp ca.

Với bài Tin Mừng, thông điệp của Chúa Giêsu càng đậm nét hơn.  Với những ai theo Ngài, Chúa Giêsu thừa nhận những nỗi đau và u buồn đang ở phía trước họ, “Các con sẽ khóc lóc; còn thế gian, sẽ vui mừng.”  Dẫu thế, Ngài kịp trấn an, “Thầy sẽ gặp lại các con!”; nói cách khác, “Thầy sẽ ở cùng các con, ở với các con và ở trong các con!”  Sau đó, không thể tin được, Ngài dùng một hình ảnh sống động, thú vị, tưởng như chính Ngài đã từng trải nghiệm, “Người phụ nữ sinh con rồi, thì không còn nhớ đến gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui.”  Như vậy, Chúa Giêsu bảo đảm với chúng ta rằng, sự hiện diện thường xuyên của Ngài bên chúng ta, trong chúng ta, với chúng ta, sẽ giúp chúng ta vượt qua bất cứ nghịch cảnh nào; và mọi hiểm nguy, đòn bọng, hay bất cứ điều gì khác nữa, cũng chỉ là ‘khúc dạo đầu cho một niềm vui lớn hơn!’

Anh Chị em,

“Ta ở cùng con!”  Đó cũng là những gì Thiên Chúa thường hứa với những ai Ngài gọi và trao cho họ một sứ vụ.  Khi chọn Môisen, sai ông đi giải phóng dân; ông hỏi một đàng, Chúa trả lời một nẻo, “Con là ai mà dám ra trước Pharaô?”; Ngài trả lời, “Ta sẽ ở cùng ngươi!”  Thật lý thú, vì từ đó, xem ra Môisen có một tên mới, “Ta Sẽ Ở Cùng Ngươi”; trong biến cố Truyền Tin, Gabriel cất lời chào Đức Mẹ, “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, ‘Chúa ở cùng bà’”; mỗi ngày trong Thánh Lễ, chúng ta chào nhau, “Chúa ở cùng anh chị em”, “và ở cùng cha”…  Đó là một sự thật đáng vui mừng!  Đừng quên, Chúa Giêsu là Emmanuel, “Thiên Chúa Ở Cùng Chúng Ta!”  Thiên Chúa ở cùng chúng ta như đã ở với Chúa Giêsu suốt cuộc đời dương thế của Ngài.  Vì thế, bao khốn khổ, đớn đau Ngài đã trải qua, kể cả cái chết trên thập giá… tất cả chỉ là ‘khúc dạo đầu cho một niềm vui lớn hơn’, “Niềm Vui Phục Sinh” vốn đã tiềm tàng ở cuối chân trời!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, ước gì con luôn đi qua cuộc đời này với sự duyên dáng và phẩm giá của một người con Chúa; một người con có Chúa ở cùng.  Xin cho con biết, triều thiên của con, Chúa đang cầm trên tay; và mọi đau khổ của con chỉ là ‘khúc dạo đầu cho một niềm vui lớn hơn!’” Amen !

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

NIỀM HY VỌNG NƯỚC TRỜI

Có nhiều người nghĩ thế giới chỉ bó gọn trong trái đất và con người chỉ thuộc về mặt đất.  Nhưng không phải thế.  Hôm nay, Chúa Giêsu lên trời là một bằng chứng cho niềm hy vọng của ta.

Việc Chúa Giêsu lên trời bảo cho ta biết rằng ngoài trái đất còn có trời.  Ngoài cõi nhân sinh nhỏ hẹp còn có cõi thần linh bao la.  Ngoài cuộc sống trần gian mau qua còn có cuộc sống thiên đàng vĩnh cửu.

Chúa Giêsu về trời là niềm hy vọng cho ta.  Mai sau ta cũng sẽ được về trời với Người.  Vì chính Người đã hứa: “Thầy đi để dọn chỗ cho anh em, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó với Thầy.”

Chúa Giêsu đã liên kết ta thành một thân thể với Người.  Người là đầu.  Chúng ta là chi thể.  Đầu tiến đến đâu thì chi thể cũng sẽ tiến đến đấy.

Chúa Giêsu dạy ta biết rằng ta là con của Thiên Chúa Cha, Đấng ngự trên trời.  Con sẽ được ở trong nhà cha mẹ.  Chúng ta sẽ được ở nhà Cha trên trời là tự nhiên.

Tuy nhiên Chúa Giêsu chỉ về trời sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ Đức Chúa Cha trao phó cho Người ở trần gian.  Nhiệm vụ đó là loan báo cho mọi người biết Chúa là Cha yêu thương mọi người.  Nhiệm vụ đó là làm chứng về tình yêu thương của Cha đối với mọi người.

Hôm nay, trước khi về trời, Chúa Giêsu uỷ thác nhiệm vụ đó lại cho ta.  Ta phải tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu loan báo Tin Mừng yêu thương cho mọi người.  Đem niềm hy vọng đến cho kiếp người.

Với niềm hy vọng đó, người Kitô hữu chân đạp đất nhưng lòng vẫn hướng về trời cao.  Niềm hy vọng đó giải thoát ta khỏi nô lệ vào mặt đất nhờ đã biết rõ vật chất chỉ là phương tiện sẽ mau chóng qua đi.  Niềm hy vọng đó nâng cuộc sống con người lên vì từ nay ta hiểu rằng định mệnh loài người không phải như loài súc vật, nhưng ngang hàng với thần linh.  Niềm hy vọng đó làm cho cuộc sống của ta có ý nghĩa, vì Chúa tạo dựng nên con người không phải để con người tàn lụi đi theo quy luật của vật chất mà để con người phát triển, tồn tại đến vô biên, không phải bị kết án vào những đau khổ vất vả trần gian, nhưng đã được tiền định hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng.  Niềm hy vọng đó cho ta thêm động lực phục vụ tha nhân tận tâm hơn vì đó chính là sứ mang Chúa trao phó.  Niềm hy vọng đó khuyến khích ta tích cực xây dựng xã hội tốt đẹp hơn, vì đó chính là điều kiện cho ta được vào Nước Trời.

Lạy Chúa, xin giúp con chu toàn nhiệm vụ ở trần gian để sau này con được về trời với Chúa. Amen.

TGM Ngô Quang Kiệt