RẤT AN ỦI NHƯNG CŨNG RẤT ĐÁNG SỢ

“Không có gì che giấu mà không bị thố lộ; không có gì kín nhiệm mà không hề hay biết!”

Tiến sĩ tâm lý Bernie Zilbergeld nói, “Không chung thuỷ gần như chắc chắn sẽ phá huỷ hoàn toàn sự tin tưởng và thân mật.  Người có một cuộc tình bí mật sẽ lừa dối như một điệp viên.  Người ấy không thể về nhà, kể lại các sự kiện trong ngày; nhưng phải nói điều này, giấu điều kia, sao cho thật an toàn!  Vì vậy, cả khi không chung thuỷ không được phát hiện, nó vẫn thay đổi con người bạn.  Từ một con người thẳng thắn, cởi mở, sang một con người bí mật, lén lút!”

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay mở rộng ý tưởng của Zilbergeld; Chúa Giêsu nói, “Không có gì che giấu mà không bị thố lộ!”  Câu nói của Chúa Giêsu khiến chúng ta phải suy nghĩ!  Đó là một câu nói ‘rất an ủi nhưng cũng rất đáng sợ’; điều này tuỳ thuộc những gì chúng ta che giấu hoặc giữ bí mật trong trái tim mình.  Lương tâm bạn đang giấu giếm điều gì?  Điều mà chỉ một mình Chúa biết!

Trước hết, đó là những người mà bên ngoài xem ra thật tốt lành, nhưng phía sau cuộc sống công khai, họ bí mật sống một cuộc sống rất khác!  Họ sống một nhân cách giả, sống hai mặt, giả hình.  Thật đáng sợ nếu phải sống như thế!  Đáng sợ, vì họ không bao giờ thực sự bình an!  Họ bị cuốn vào những gì người khác nghĩ về họ và lo lắng về hình ảnh công khai của mình trong mắt người khác; đang khi nội tâm của họ phải bị giày vò bởi những nỗi buồn, lo lắng và sợ hãi.

Dạng thức thứ hai, đó là những người sống nội tâm một cách kín nhiệm.  Đây là cuộc sống ẩn giấu của một vị thánh!  Chẳng hạn, Đức Trinh Nữ Maria.  Maria được coi như một phụ nữ ‘hoang thai’ từ rất sớm và “hình ảnh công khai” này của Maria xem ra không thể chấp nhận.  Bằng cách nào khác mà Maria có thể thụ thai?  Nhiều người nghĩ!  Thế nhưng, sự thật, linh hồn Maria là một sáng tạo đẹp đẽ, thuần khiết và thánh thiện chưa từng được thực hiện.  Và bây giờ, vẻ đẹp nội tâm của Maria được thể hiện trước các thần thánh và được ‘biểu lộ cho tất cả sự vĩnh cửu!’

“Không có gì che giấu mà không bị thố lộ” là tất cả những gì trong trái tim và lương tâm chúng ta vốn sẽ ‘được biểu lộ cho tất cả sự vĩnh cửu!’  Do đó, những người thực sự sống một đời sống thánh thiện, khiêm tốn và chân thành đối với các nhân đức ngay bây giờ, sẽ luôn được nhìn thấy trong ánh sáng này, ánh sáng vĩnh cửu; đang khi những cuộc sống đen tối vẫn có thể nhìn thấy vĩnh cửu theo một cách nào đó tuỳ vào lòng thương xót và công lý của Thiên Chúa!

Bài học quan trọng chúng ta rút ra là, hãy đào tạo cho mình một trái tim thực sự thánh thiện và thuần khiết ‘ở đây và lúc này.’  Không thành vấn đề khi không ai nhìn thấy sự thánh thiện của bạn, chỉ cần Thiên Chúa thấy nó!  Mục tiêu là cho phép Ngài hình thành một cuộc sống nội tâm đẹp đẽ cho bạn và cho phép Ngài làm cho tâm hồn bạn thật đẹp đẽ đối với Ngài.  Thật trùng hợp, điều đã xảy ra với Isaia trong bài đọc thứ nhất hôm nay!  Một điều gì đó ‘rất an ủi nhưng cũng rất đáng sợ!’  Trước một Thiên Chúa Toàn Thánh, Isaia khiếp sợ vì thấy mình ô uế; thế nhưng, Đấng Toàn Thánh ấy cũng là một Thiên Chúa ủi an, xót thương; Ngài đã sai Thần Sốt Mến gắp hòn than đỏ thanh tẩy lưỡi Isaia, “Lỗi ngươi được xoá bỏ, tội ngươi được thứ tha!”

Anh Chị em,

“Không có gì che giấu mà không bị thố lộ!”  Chúa biết rất rõ tâm hồn chúng ta; cả khi “miệng chưa thốt nên lời, Ngài đã am tường hết.”  Sự thật này ‘rất an ủi nhưng cũng rất đáng sợ!’  An ủi vì Chúa biết hết mọi kín ẩn trong trái tim chúng ta, nhưng Ngài biết để thấu cảm, bao bọc và ngăn ngừa, thay vì tố cáo; đáng sợ, vì tâm hồn chúng ta là đền thờ của Ba Ngôi, là cung điện của Thánh Thần.  Vì thế, sẽ thật bất xứng nếu chúng ta để tâm hồn, lẽ ra phải là “nhà cầu nguyện” hóa thành nơi hoen ố, nếu không nói là “đã trở thành hang ổ trộm cướp!”  Vậy, hãy giữ cho con tim tinh tuyền, giữ cho lương tâm trong sáng, hầu xứng với nơi Thánh Thần và Ba Ngôi ngự trị.  Đừng quên, tâm hồn chúng ta là bình đựng Mình Thánh Chúa và là Nhà Tạm di động; hãy luôn là “một con người thẳng thắn, cởi mở” với Chúa và tha nhân, thay vì “bí mật, lén lút!”

Chúng ta có thể cầu nguyện,

Lạy Chúa, Đấng ‘rất an ủi nhưng cũng rất đáng sợ’, xin cho con luôn làm vui lòng Chúa với bất cứ giá nào; để từ trái tim con, vinh quang Chúa được ‘biểu lộ cho tất cả sự vĩnh cửu!’ Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

NGƯỜI THÂN CẬN

Khi nói đến Thiên Chúa hoặc Thượng Đế, người ta liên tưởng tới vị Thần Linh thống trị và cách biệt hoàn toàn thế giới loài người.  Kinh Thánh nói với chúng ta: nếu Thiên Chúa cao cả và chí thánh, thì Ngài lại rất gần gũi và yêu thương con người.  Giáo huấn của Ngài bao gồm những điều cụ thể, giúp con người dễ dàng đón nhận và thực thi.  Tác giả sách Đệ nhị Luật (Bài đọc I) khẳng định: “Luật của Chúa rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành.”  Thiên Chúa là Đấng giàu lòng nhân hậu.  Ngài cảm thương nỗi khốn khổ cơ hàn của con người.  Do tội lỗi, nhân loại ở bên bờ vực thẳm của sự chết.  Thiên Chúa đã ra tay cứu vớt con người và giúp họ phục hồi.

Sự gần gũi yêu thương của Thiên Chúa được diễn tả trong câu chuyện Người Samari nhân hậu. Người Samari là hình ảnh của Đức Giêsu. Người bị đánh bầm dập nửa sống nửa chết là hình ảnh của nhân loại đáng thương do tội lỗi. Người Samari đã săn sóc người bị nạn đưa anh vào quán trọ, dặn dò chủ quán chu đáo. Tất cả những cử chỉ đó đều diễn tả sứ mạng của Đấng Cứu thế nơi trần gian. Người mang trên thân mình mọi tội lỗi nhân loại để nhân loại được tự do. Thánh Phaolô đã diễn tả với chúng ta trong Bài đọc II: “Đức Giêsu là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo…. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời”.

Câu chuyện người Samari nhân hậu hàm chứa những bài học sâu sắc đối với chúng ta.

Nhân vật mở đầu câu chuyện là một người tiến sĩ luật. Ông đại diện cho giới trí thức và thượng lưu. Cuộc đối đáp giữa ông và Chúa Giêsu chứng tỏ ông chỉ hỏi để thử Chúa Giêsu. Chính tác giả cũng xác định điều này, khi ông viết: “Có người thông luật kia muốn thử Đức Giêsu, mới đứng lên hỏi Người rằng…”.  Với nghệ thuật trình bày rất hấp dẫn, câu chuyện cho chúng ta thấy sự hoán đổi của những vấn đáp rất tài tình, để rồi người hỏi lại là người trả lời:

“Thưa Thày, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”. Đây là câu hỏi của vị tiến sĩ Luật. Sau đó, chính ông ta là người đưa ra những gợi ý để trả lời cho câu hỏi của mình: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình”. Trong phần này, người tiến sĩ Luật đã trích dẫn sách Đệ nhị Luật (6,5) và sách Lêvi (19,18). Đây là giáo huấn cốt lõi của Lề Luật. Sau này Chúa Giêsu cũng nhắc lại để trả lời một vị kinh sư, khi ông này hỏi: “Thưa Thày, trong mọi điều, điều răn nào đứng đầu?” (Mc 12,28). Vị tiến sĩ Luật đã đặt câu hỏi, rồi chính ông ta lại trả lời.

“Nhưng ai là người thân cận của tôi?” – vị tiến sĩ Luật đã đặt câu hỏi. Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp câu hỏi, mà Người kể một câu chuyện về người Samari nhân hậu. Cuối câu chuyện này, Người hỏi lại vị tiến sĩ: “Vậy, theo ông nghĩ, trong ba người đó (tư tế, Lêvi và người Samari) ai đã tỏ ra là người thân cận với người bị rơi vào tay kẻ cướp? Và, vị tiến sĩ đã trả lời: “Chính là kẻ đã thực lòng thương xót đối với người ấy”. Trong câu trả lời này, những danh xưng, chức vụ và dòng dõi xem ra đã trở thành vô nghĩa, mà điều quan trọng là sự cảm thương, lòng nhân hậu. Chỉ có lòng nhân hậu mới đáng kể. Lòng nhân hậu vượt lên tất cả mọi danh xưng và chức vụ. Hai người đi qua, thày tư tế và Lêvi, chỉ quan tâm đến lý thuyết, mà họ quên thực hành. Họ dửng dưng trước nỗi đau của người bị nạn. Câu hỏi được vị tiến sĩ đặt ra là: “Ai là người thân cận của tôi?” đã được đảo ngược thành: “Tôi là người thân cận của ai? Giá trị giáo huấn là ở chỗ đó. Đối với người Samari, ông chỉ thấy trước mắt ông là một con người bị nạn. Ông không bận tâm xem người đó thuộc dòng tộc nào. Ông cũng không tìm cách khoe khoang việc mình làm. Hành động của ông âm thầm khiêm tốn và đậm tình người.

“Ông hãy đi và làm như vậy” – Vị tiến sĩ vừa khoe khoang sự hiểu biết và lòng đạo đức của mình ở trên kia, giờ đây được Chúa giáo huấn: ông mới chỉ thông thạo về lý thuyết thôi. Ông cần phải thực hành những gì ông hiểu biết. Ông hãy cố gắng để trở nên người thân cận với người khác, như thế ông mới thực sự đạt tới sự hoàn thiện.

“Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy”. Tác giả Luca bỏ lửng câu chuyện ở đây để độc giả tiếp tục suy tư và cảm nhận mình có thể là nhân vật vị tiến sĩ Luật trong câu chuyện. “Hãy làm như vậy”, tức là có tâm tình bao dung quảng đại như người Samari. Chúng ta biết, giữa người Do Thái và người Samari có mối thù truyền kiếp. Người Do Thái thường coi người Samari là người ngoại đạo. Khi tranh luận với Chúa Giêsu, những người Do Thái nói một cách khinh miệt: “Chúng tôi bảo ông là người Samari và là người bị quỷ ám thì chẳng đúng lắm sao” (Ga 8,48). Vậy mà dưới cái nhìn của Chúa Giêsu, người Samari lại có tâm hồn nhân hậu, hơn cả tư tế và Lêvi, vì ông này đã dừng chân cứu giúp người bị nạn.

“Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” – Câu kết rất đơn giản, cũng là câu trả lời cho câu hỏi ở đầu trình thuật: “Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp” (câu 25). Đó cũng là thông điệp mà Phụng vụ muốn gửi đến mỗi người chúng ta.

TGM Vũ Văn Thiên

NGAY CẢ MẸ TÊRÊXA CŨNG SUÝT TỪ CHỐI TIẾNG CHÚA GỌI

Khi nhìn vào những vị thánh, chúng ta thường có khuynh hướng xem đó là những người với vầng hào quang thánh thiện, chứ không phải những người với những đấu tranh chật vật như mọi người chúng ta.  Cách nghĩ như thế khiến các thánh ít giống con người, và có vẻ quá xa vời đến nỗi chúng ta không thể noi gương các vị được.

Quyển Tình yêu làm nên thánh Têrêxa của David Scott muốn đảo ngược chuyện này . Ông suy ngẫm về những khía cạnh cuộc đời của Mẹ Têrêxa thành Calcutta vốn thường bị bỏ qua, chẳng hạn như 18 năm mẹ sống trong Nhà kín Loreto ở Calcutta, và không thấy được những cảnh khốn cùng bên ngoài bức tường nhà kín.  “Sự biến đổi của mẹ hướng đến người nghèo, là một tiến trình chậm rãi,” ông Scott xác nhận.

Và đặc biệt hơn nữa là những chi tiết mà ông Scott đưa ra về đêm tối tâm hồn hơn 50 năm của mẹ, và thị kiến vào năm 1947 khi Mẹ Têrêxa thấy Chúa Giêsu và Đức Mẹ khiến Mẹ dấn thân cho người nghèo và người hấp hối.  Dù cho Mẹ đã hủy các ghi chú và nhật ký của mình, nhưng một tập các lá thư Mẹ gửi cho các linh hướng của mình trong năm 1947 đã cho thấy có những lúc Mẹ kháng cự lại yêu cầu của Chúa Giêsu khi Ngài muốn có “các Nữ tử Bác ái, ngọn lửa yêu thương của Ta giữa những người nghèo, người bệnh, người hấp hối, những đứa trẻ trên đường phố.”

Chúa Giêsu đã bảo Mẹ là “người bất tài nhất, yếu đuối và tội lỗi, nhưng chính vì thế Ta muốn dùng con cho vinh quang của Ta!  Chẳng lẽ con từ chối sao?”  Mẹ Têrêxa mô tả việc Mẹ phản đối yêu cầu khẩn thiết này và “bảo Chúa Giêsu tìm một người khác, nói rằng Mẹ sợ những khó khăn và lời chế giễu Mẹ sẽ phải chịu.  Mẹ hứa sẽ trở thành một nữ tu tốt nếu Ngài để Mẹ ở yên bình trong nhà kín.  Nhưng Ngài cứ tiếp tục nài nỉ Mẹ, thách thức Mẹ: “Con từ chối làm việc này cho Ta sao?”

Tất cả những chuyện này khiến chúng ta thấy thật không tương hợp với hình ảnh cảm tính của mình về sự thánh thiện.  Nhưng nó cho thấy các vị thánh rất giống chúng ta, và đôi khi các vị phải rất vất vả trong việc đón nhận lời mời gọi của Chúa.  Và chúng ta hẳn cũng nghĩ một chuyện này: Liệu Mẹ Têrêxa đã nói “không” với Chúa?  Biết bao nhiêu người đã từ chối những thúc đẩy của Thần Khí hay của chính Chúa Kitô, chống cự lại công cuộc cứu độ?

Từ năm 1957, những năm đầu tiên Mẹ bắt đầu cảm thấy mình bị Chúa bỏ rơi, dù cho sau đó Mẹ vẫn bắt đầu hoạt động sứ mạng của mình, Mẹ Têrêxa có viết cho một linh hướng của mình rằng: “Họ nói những người trong hỏa ngục chịu đựng đau khổ muôn đời vì mất Chúa…  Trong lòng con cũng đang cảm giác nỗi đau mất mát khủng khiếp đó… cảm thấy Thiên Chúa không hiện hữu… cảm thấy như mình chối bỏ Chúa.  Xin cầu nguyện cho con để con không trở thành một Giuđa với Chúa Giêsu trong đêm tối đau đớn này.”

Mẹ đã xin những người khác hủy các lá thư của Mẹ đi.  Nhưng tôi mừng vì có những người đã không làm theo ý Mẹ.  Vì nhờ như thế, chúng ta mới thấy Mẹ Têrêxa anh hùng đến thế nào, và cũng con người đến thế nào.

Francis Phillips
J.B. Thái Hòa chuyển dịch từ Catholic Herald

CHÂN DUNG THÁNH THOMAS TÔNG ĐỒ

Ngày 3 tháng Bảy hằng năm là ngày mừng kính Thánh Tôma, vị Tông đồ “nổi tiếng” là có lòng cứng như sáp nguội.  Thánh Tôma có biệt danh là “Tôma Đa Nghi,” và còn được gọi là Điđymô (nghĩa là “sinh đôi”), phiên âm theo Việt ngữ là Thọ-mai.

Có lần Chúa Giêsu nói: “Anh em đừng xao xuyến!  Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.  Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em.  Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.  Và Thầy đi đâu thì anh em biết đường rồi.” (Ga 14:1-4).  Thánh Tôma hồn nhiên hỏi: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?” (Ga 14:5-6).  Và rồi Chúa Giêsu nói câu nổi tiếng: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống.  Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.” (Ga 14:6).

Khi nghe các Tông đồ khác kể lại việc họ đã tận mắt gặp Chúa Giêsu phục sinh, Thánh Tôma đã không tin.  Khi Chúa Giêsu hiện ra lần nữa, cũng có mặt Thánh Tôma ở đó, Chúa Giêsu bảo ông: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy.  Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy.  Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” (Ga 20:27).  Chắc chắn Thánh Thomas không dám sờ vào, mà chỉ còn biết cúi đầu, sụp lạy và tuyên xưng: “Lạy Chúa của con!  Lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20:28).  Câu này trở thành câu tuyên tín minh nhiên trong Tân ước.

Tội nghiệp Thánh Tôma!  Ngài bị “chết tên” với cái nickname “Tôma Đa Nghi.”  Nhưng nếu ngài không nghi ngờ thì ngài cũng tin.  Câu tuyên xưng đức tin của Thánh Tôma đã cho các Kitô hữu một lời cầu nguyện mãi mãi đến tận thế.  Thánh Tôma cũng gợi ra một lời khen của Chúa Giêsu dành cho các tín hữu: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29).  Có thể coi đó là mối phúc thứ chín.

Truyền thống nói rằng Thánh Tôma đã ra khỏi biên giới Đế quốc Rôma để rao giảng Tin Mừng, đi xa tới tận Ấn Độ.  Ngài tới Muziris (Ấn Độ) năm 52, và rửa tội một số người mà ngày nay vẫn gọi là “Kitô hữu của Tôma” (Saint Thomas Christians, tiếng Ấn Độ là “Mar Thoma Nasrani” hoặc gọi tắt là “Nasrani”).  Sau đó, Thánh Tôma bị đâm chết bằng cây thương dài ở Ấn Độ, thi hài ngài được đưa tới Mesopotamia hồi thế kỷ III, và rồi lại được chuyển tới nhiều nơi khác.  Năm 1258, người ta đưa hài cốt ngài tới Abruzzo, thuộc Ortona (Ý), trong một nhà thờ, và người ta gọi là Nhà thờ Thánh Tôma Tông đồ.  Thánh Tôma được tôn vinh là Thánh bổn mạng của Ấn Độ, và tên ngài vẫn “nổi tiếng” trong số các “Kitô hữu của Tôma” ở Ấn Độ.

Truyền thống cho biết rằng Thánh Tôma bị đâm chết tại Mylapore, gần Chennai, lúc 72 tuổi.  Thánh Tiến sĩ Ephrem nói rằng Thánh Tôma bị giết ở Ấn Độ, thi hài ngài được thương nhân Khabin đem đi an táng tại Urhai (Edessa).

Thánh Tôma có tiếng là người “cứng lòng” nhưng lại rất can đảm, vì dám rủ các bạn cùng chết với Sư Phụ.  Có thể điều ngài nói là mạnh mẽ, quyết liệt, nhưng có thể ngài chỉ do bộc phát, do thẳng tính, nghĩ sao nói vậy, chứ chưa hẳn ngài đã dám liều mạng thật khi bày tỏ sự sẵn sàng chết với Chúa Giêsu – vì khi Thầy Giêsu bị bắt thì cũng chẳng thấy tăm hơi Thánh Thomas đâu.  Nhưng dù sao cũng thật đáng khen, vẫn xứng đáng làm gương cho chúng ta.

Cơ hội là khi Chúa Giêsu đề nghị đi tới Bêtania sau khi Ladarô đã chết, các Tông đồ không trở lại Giuđê, vì người Do-thái tìm cách ném đá Chúa Giêsu.  Bêtania gần Giêrusalem, nghĩa là phải đi bộ ngay giữa lòng quân thù và hầu như là chết chắc!  Nhận ra điều này, Thánh Tôma đã nói với các bạn: “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy!” (Ga 11:16).  Thánh Tôma can đảm lắm nên mới động viên các bạn như vậy!  Tuy bản tính đa nghi, nhưng một khi đã tỏ tường thì Thánh Tôma tin thật, không gì lay chuyển.  Cứng lòng tin có thể mang hai ý nghĩa: Cứng lòng không chịu tin – chai cứng, hoặc cứng cáp lòng tin – vững tin.

Thiết tưởng cũng nên biết điều này: Thánh Tôma là bổn mạng của những người đa nghi, những người mù, các kiến trúc sư, các thợ xây, và các nhà thầu xây dựng.

Lạy Thánh Tôma Tông Đồ, xin cầu thay nguyện giúp để chúng con cũng vững tin vào Đức Giêsu Kitô đến hơi thở cuối đời. Amen.

Trầm Thiên Thu

CHỮ TIN

[Tín khúc Ga 20:19-29 ≈ Mt 28:16-20; Mc 16:14-18; Lc 24:36-49]

Nói gì thì nói, mặc ai
Tô-ma nhất quyết một lời: Không tin!
Tưởng là đá cứng khó mềm
Ai dè đá ấy lại liền chảy tan!
Người tin – giải thích không cần
Không tin – giải thích chẳng còn ích chi [1]
Tin là phần phúc diệu kỳ
Đâu có dễ gì không thấy mà tin!
Tin là không có dị đoan
Vẫn cần lý trí cân phân rạch ròi
Cũng không nhẹ dạ tin người
Nói gì nghe nấy, tức thời gặp nguy!
Tin là điều rất diệu kỳ
Được nên công chính là nhờ đức tin [2]
Vững tin vào Chúa uy linh
Vì Ngài là Đấng nhân lành, xót thương.
Chúa ơi, xin hãy đỡ nâng
Vì con yếu kém về lòng kính tin
Biến con dẫu cứng cũng mềm
Tô-ma ơi, chớ bỏ quên phận này!

Trầm Thiên Thu
[1] Thánh Bernadette: “Với người tin thì không cần giải thích, với người không tin thì giải thích cũng vô ích.”
[2] Rm 5:1; Rm 9:30; Rm 9:32; Rm 10:6.

SỨ GIẢ CỦA NIỀM VUI

“Niềm vui” là ý tưởng xuyên suốt các Bài đọc Lời Chúa cũng như Thánh vịnh đáp ca của Phụng vụ Thánh lễ hôm nay.  Trước hết là niềm vui trong thông điệp của ngôn sứ Isaia.  Đây là lời tiên báo cho biết thời kỳ lưu đày của dân Do Thái sắp hết.  Dân sẽ được trở về xứ sở quê hương của mình.  Những tủi nhục của thời lưu đày không còn nữa, thay vào đó là sự chăm sóc yêu thương của Thiên Chúa dành cho dân riêng của Ngài.  Sự chăm sóc này được ví như người mẹ hiền chăm sóc và an ủi con thơ, với tâm tình thiết tha trìu mến.  Những hình ảnh vị ngôn sứ sử dụng rất cảm động và thân thiết: Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối.”

Những gì được diễn tả trong lời ngôn sứ Isaia, cũng đang thực hiện đối với đời sống Kitô hữu chúng ta.  Quả vậy, trên từng bước đường đời, Chúa vẫn chăm sóc an ủi chúng ta.  Chúa vẫn cùng chúng ta đi trên mọi nẻo đường.  Ngài nuôi dưỡng chúng ta bằng ân sủng.  Ngài ban cho chúng ta những điều tốt đẹp, mà nhiều khi chúng ta không nhận ra.  Trong thời gian đại dịch Covid-19 lên tới đỉnh điểm, nhiều bệnh nhân phải có máy trợ thở liên tục.  Nếu rời máy trợ thở, bệnh nhân có nguy cơ tử vong.  Một bệnh nhân cao tuổi, sau những ngày dùng máy trợ thở và được khỏi bệnh, đã nói: Trong mấy tuần qua, tôi sống nhờ máy trợ thở.  Vậy mà trong suốt 80 năm của cuộc đời, Chúa đã cho tôi một máy trợ thở miễn phí, tức là một không gian tự nhiên đầy sinh khí, vậy mà tôi không nhận ra quà tặng cao quý của Ngài.  Vâng, Chúa luôn chiều chuộng chúng ta, và cung cấp cho chúng ta những nhu cầu cần thiết cho thân xác cũng như linh hồn.

“Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa.”  Đó là lời Thánh vịnh 65, được hát trong phần Đáp ca của Thánh lễ.  Tác giả Thánh vịnh mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng những điều kỳ diệu đang diễn ra hằng ngày xung quanh mình: đó là đại dương mênh mông, là đất liền màu mỡ, là núi cao chập trùng, là sông sâu uốn khúc.  Đó còn là muôn vật cỏ cây, là ngàn ngàn sinh vật.  Người vô tín ngưỡng cho đó là tự nhiên, người tín hữu tin đó là những thụ tạo Chúa dựng nên để phản ánh vinh quang của Ngài.

Tôn vinh Chúa là hành vi thuộc đức thờ phượng.  Chúng ta tôn thờ Chúa vì Ngài đáng yêu mến suy tôn. Tôn vinh Chúa cũng là hành vi của lòng hiếu thảo và biết ơn, giống như người con biết ơn cha mẹ đã sinh thành dưỡng dục mình.  Thiên Chúa là Đấng tạo thành muôn vật muôn loài.  Mỗi chúng ta hiện hữu trên đời, là nhờ cha mẹ và nhờ ơn Chúa.  Vì vậy mà chúng ta phải cảm tạ tri ân Ngài.

Cảm nhận niềm vui trong cuộc đời, người tín hữu cũng được mời gọi trở nên sứ giả của niềm vui.  Như Ông Môisen trong Cựu ước chọn bảy mươi vị kỳ lão, Chúa Giêsu sai bảy mươi hai môn đệ, để cộng tác với Người trong công cuộc loan báo Tin Mừng.  Chân dung người loan báo niềm vui được chính Chúa Giêsu phác họa.  Họ không phải là nhà doanh nghiệp, không phải chính trị gia hay chuyên viên kỹ thuật.  Họ đi đến mọi nẻo đường của cuộc sống.  Món quà họ đem đến cho mọi người là sự bình an.  Nội dung sứ điệp họ loan báo rất đơn giản: “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần các ông.”  Đây cũng chính là nội dung sứ điệp từ thời ngôn sứ Isaia: “Đức Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho các tôi tớ biết.”  Điều các môn đệ đem đến cho mọi người, trước hết là niềm vui nội tâm do đức tin đem lại.  Nhờ niềm vui thiêng liêng đó, mọi người nghe sẽ được thuyết phục và đón nhận Lời Chúa.

Ngày hôm nay, Chúa cũng vẫn gọi và sai chúng ta đi đến mọi nẻo đường của cuộc sống.  Thừa sai là bản chất của Giáo Hội.  Mọi thành phần dân Chúa đều được mời gọi sống ơn gọi thừa sai phù hợp với hoàn cảnh sống và điều kiện cụ thể của mình.  Đây là điều ít được chúng ta chú ý.  Một bệnh nhân ốm đau liệt lào; một người già yếu không mấy khi ra khỏi nhà; một người sống trong môi trường công nhân thợ thuyền… tất cả đều là những tông đồ đang được Chúa sai đi để loan báo Tin vui.  Nội dung của lời loan báo rất đơn giản, đó là Chúa yêu con người và Ngài khuyên họ hãy sống ngay lành thánh thiện.  Người được sai đi có trách nhiệm loan báo Lời Chúa, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện, kể cả trong trường hợp bị khước từ và xua đuổi.  Giống như người gieo hạt cần mẫn miệt mài làm tròn bổn phận mình, còn Chúa sẽ làm cho hạt ấy nảy mầm và lớn lên.

Người nhiệt thành loan báo niềm vui, sẽ được nhận lại niềm vui, là phần thưởng Chúa ban.  Thánh Luca kể lại: nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở khoe với Chúa về những thành quả lao công mà các ông đã đạt được.  Nhân danh Chúa Giêsu, các ông làm được những việc chính Chúa đã làm, như trừ quỷ, chữa bệnh.  Các ông có lý để vui mừng và để khoe với Chúa.  Tuy vậy, Chúa Giêsu muốn hướng các ông tới một niềm vui lớn lao hơn nhiều, đó là tên các ông đã được khắc ghi trên trời.  Đây mới là phần thưởng cao quý và là niềm vui lớn lao nhất.  Những sứ giả của niềm vui sẽ được ghi tên ở trên trời.  Tên của họ cũng được khắc ghi trong chính trái tim của Chúa.

Người loan báo niềm vui phải trải qua nhiều gian nan thử thách.  Chúa Giêsu đã báo trước cho các môn đệ, khi Người sai họ lên đường.  Hành trang của các môn đệ không phải là những phương tiện trần thế, nhưng là lòng tín thác cậy trông và nhiệt huyết tông đồ.

Ở một góc nhìn khác, thánh Phaolô nói với chúng ta về niềm vui của ngài.  Dưới góc độ trần gian, quan niệm của thánh nhân xem ra có phần nghịch lý: niềm vui và niềm tự hào của ngài là Đức Giêsu chịu đóng đinh.  Phải thực sự đạt tới đỉnh cao của sự gặp gỡ gắn bó với Đấng chịu đóng đinh mới có thể khẳng định được như thế.  Phaolô đã từng trải, đã chiến đấu và kiên trung trong mọi nghịch cảnh.  Vào lúc cuối đời, ông khẳng định: Chúa vẫn là trên hết.  Đấng chịu đóng đinh là niềm tự hào duy nhất của đời ông.  Ông đã chọn lựa Người và sẽ xác tín vào sự chọn lựa ấy.  Thánh nhân cũng mong muốn và cầu chúc cho chúng ta có cảm nhận sâu sắc như ngài.

Mỗi Kitô hữu đều là sứ giả của niềm vui.  Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết trong Tông huấn “Niềm vui Tin Mừng như sau: “Người loan báo Tin Mừng không bao giờ mang bộ mặt của một người vừa đi đưa đám về!… và chớ gì thế giới của thời đại chúng ta, một thế giới đang kiếm tìm, khi thì trong lo âu, khi thì trong hy vọng, có thể nhận được tin mừng không phải từ những người rao giảng rầu rĩ, chán nản, mất kiên nhẫn hay lo âu, nhưng từ những thừa tác viên Tin Mừng đang sống một cuộc đời đầy nhiệt huyết, những người trước đó đã nhận được niềm vui của Đức Kitô” (Số 10).  Quả vậy, khi bản thân không cảm nhận được niềm vui của Chúa, thì không thể trở nên sứ giả của niềm vui đích thực là Tin Mừng.

Hãy reo mừng Thiên Chúa!  Hãy tôn vinh Ngài, không chỉ trong nghi thức phụng vụ, mà trọn vẹn cả đời sống của chúng ta.  Buồn sầu và bi quan, chán nản không thể có chỗ trong đời sống của những ai tin cậy tín thác nơi Chúa.  Nguyện xin Thiên Chúa là nguồn mạch của ân sủng và hạnh phúc chúc lành cho chúng ta.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ HAI VỊ THÁNH CỦA LÒNG SÁM HỐI

Phêrô và Phaolô là hai khuôn mặt vĩ đại ở thượng nguồn niềm tin Công giáo, là hai cột trụ vững chắc nâng đỡ Giáo hội dọc dài thời gian, và là hai vị thánh “cả” trong mắt nhìn của mọi tín hữu. Nhưng chỉ tập trung vào những nét cao cả, người ta dễ nghĩ rằng các ngài ở quá xa trong thời gian, ở quá cao trong gương mẫu và có nguy cơ đặt các ngài ở bên lề Giáo hội, trong khi đời sống và ơn gọi của hai đấng lại rất gần với đời kẻ tin. 

Phêrô và Phaolô là hai vị thánh của lòng sám hối.

1. Các ngài đã trải qua kinh nghiệm tội lụy

Phêrô qua trang Tin mừng xuất hiện dưới bộ mặt dễ thương ở đỉnh cao tuyên tín đến nỗi đã được Chúa Giêsu khen tặng và tín nhiệm trao gởi chìa khóa Nước Trời.  Nhưng đời sống của ngài cũng có những vực thẳm vấn vương tội lỗi.  Chỉ sau phút tuyên xưng đức tin để đời, ngài đã bị Chúa Giêsu quở là “Satan hãy xéo đi” khi có ý ngăn cản Chúa Giêsu lên Giêrusalem thụ nạn.  Rồi khi đang ung dung bước trên ngọn sóng để đến với Chúa Giêsu thì vì yếu tin ngài đã bị ngập chìm.  Nhất là trong thảm kịch Thương khó của Đấng Cứu Thế, Phêrô đã xuất hiện trong một dáng dấp khó thương hơn mọi tông đồ khác.  Ngủ vùi trong vườn cây dầu lúc Chúa hấp hối, đó có phải là tội quên Chúa?  Rút gươm chém đứt tai tên đầy tớ vị thượng tế, đó có phải là tội không làm theo ý Chúa?  Sợ quá bỏ trốn nhìn Chúa bị bắt, đó có phải là tội xa Chúa?  Và chối Chúa 3 lần trước người đầy tớ gái là một điều mà truyền thống xem như phản bội Chúa.  Rõ ràng Phêrô là người đã biết đến kinh nghiệm sa ngã.

Phaolô cũng thế, trước khi là tông đồ nổi tiếng, ông đã là một người khét tiếng trong dư luận cộng đoàn tín hữu sơ khởi đến nỗi nghe đến tên ông mọi người phải chạy trốn như chạy tà.  Ông là kẻ bách hại đạo Công giáo trước bất cứ ai.  Thời trẻ ông săn lùng các tín hữu.  Thế giá ông đe dọa họ và bàn tay ông đã từng vấy máu thánh tử đạo tiên khởi.  Ông ghét đạo đã đành lại còn tự nguyện xin lệnh đi bắt đi ruồng đi bố ráp những người theo đạo nữa.  Quả thật Phaolô cũng là người trải qua kinh nghiệm tội lụy.

2. Các ngài đã quyết chí tìm về và hết mình sống cho sứ mạng được trao phó

Nhưng điều quan trọng không phải là kể tội các ngài cho đủ cho nhiều cho nặng, mà là khởi đi từ tình trạng tội lụy ấy, nhận ra một khi đã được Chúa đánh động, các ngài đã quyết chí tìm về và hết mình sống cho sứ mạng được trao phó.

Phêrô sau biến cố Phục sinh dường như đã là một Phêrô khác hẳn.  Được biến đổi.  Nên mới, nên mạnh, nên lành, nên sạch, nên đẹp, nên tốt hơn làm điều kiện cần thiết để nên thánh hơn.  Ông đã thể hiện vai trò tông đồ trưởng với một độ cao của tinh thần trách nhiệm và đã chu toàn sứ mạng thủ lãnh Giáo hội Công giáo với nét đẹp của dạ can trường.  Để rồi cuối cùng chịu án đóng đinh tại Rôma làm sáng lên hình ảnh của một niềm tin bất khuất vào Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa hằng sống.  Nhờ sám hối Phêrô đã nên thánh.

Còn Phaolô thì sau biến cố xảy ra trên đường Damas, ông không còn giữ lại điều gì cũ nữa, mà tất cả đã được biến đổi.  Nếu trước đây lòng nhiệt thành và ngu dốt về đạo đã trở thành phá hoại và gây khó khăn không ít cho Giáo hội thì sau này chính lòng nhiệt thành ấy với ơn thánh và tìm hiểu, Phaolô đã trở nên mẫu người không ai theo kịp về việc xây dựng Giáo hội.  Nhiệt thành yêu Chúa, nhiệt thành yêu mến Tin mừng và nhiệt thành đến ngổ ngáo trong việc truyền giáo.  Tung hoành ngang dọc trên những cánh đồng dân ngoại để mỗi ngày đem về cho Chúa các tâm hồn.  Cuối cùng, cũng tại Rôma, Phaolô đã bị xử trảm để mãi còn âm vang tiếng nói của một lòng nhiệt thành đến sẵn sàng dâng hiến mạng sống vì Tin mừng.  Nhờ sám hối Phaolô cũng đã nên thánh.

3. Các ngài đã kêu gọi sám hối

Nghiêng mình trước hai vị thánh đáng kính, người tín hữu bỗng hiểu ra rằng: cái cao cả hai đấng có được hôm nay không phải là điều tất nhiên, nhưng đã được đánh đổi bằng cả cuộc sống sám hối không ngừng: từ bỏ cái cũ và xây dựng cái mới.  Nếu trong thư, Phêrô có lần viết “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu căng nhưng ban ơn cho người khiêm nhu”, thì đó là vì ông đã từng kinh nghiệm trong vai trò của nhà lãnh đạo sám hối tự nhìn vào mình, và chắc chắn đó là rút ruột tâm sự của một đời cầm chìa khóa Nước Trời, luôn tỉnh táo vật lộn với chính mình để vươn lên trong ơn thánh của Chúa.  Và nếu trong thư, Phaolô đã nhiều lần kêu gọi “hãy giũ bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới” thì đó chẳng phải là lời khuyến thiện bờ môi chót lưỡi, nhưng chính là khởi đi từ một chuyện lòng rất riêng của một con người đã kinh qua chặng đường sám hối đi từ cái cũ kỹ tội lỗi để bước sang cái mới mẻ trẻ trung tuyệt vời.

Thì ra cái cao cả là cái phải trả giá bằng dò tìm trong sám hối, là cái phải khổ công trong thắng vượt mà vươn lên, là cái phải kiểm tra xây dựng chỉnh đốn không ngừng.  Không biết có nên phát biểu rằng: Hôm nay Phêrô và Phaolô cao cả bao nhiêu là vì hôm qua đã sám hối bấy nhiêu.  Giống như những ngôi nhà cao tầng đứng vững là vì móng đã được chôn sâu và những tòa nhà chọc trời không nghiêng ngả ắt là vì móng phải sâu nền phải rộng…

Tạ ơn Chúa đã không gọi những vị thánh trong sạch hoàn toàn để đứng đầu Giáo hội.  Tạ ơn Chúa đã không gọi những vị thánh chưa kinh nghiệm tội lỗi để rao giảng Tin mừng mà đã gọi Phêrô và Phaolô, hai vị thánh của lòng sám hối để hôm nay nên hai thánh “cả” tuyệt vời.

4. Các ngài mãi gần gũi với đời kẻ tin:

Ý nghĩ ấy, những tâm tình ấy đã nên nguồn cổ vũ đời sống tín hữu:

–  Để thêm tin tưởng: Tại sao tôi phạm tội hoài?  Tại sao trong Giáo hội vẫn đầy dẫy những tội nhân? – Bởi vì bản chất Giáo hội là thánh, nhưng trong cuộc lữ hành vẫn cưu mang trong lòng mình những tội nhân.  Điều quan trọng là biết sám hối tìm về vươn lên.  “Không vị thánh nào mà không có dĩ vãng, nên chẳng tội nhân nào mà chẳng có tương lai.”

–  Để thêm hy vọng: Tội lỗi quá làm sao nên thánh?  Đừng lo.  Bằng dạn dày kinh nghiệm, Phêrô và Phaolô sám hối đã “đầu xuôi” để ta hôm nay nếu biết sám hối cũng “đuôi lọt” và nhờ lời chuyển cầu của hai vị cột trụ Hội thánh, ta thêm chí bền mà thắng lướt.  “Không phải vì mạnh mẽ mà người ta trỗi dậy, nhưng vì biết trỗi dậy người ta trở nên mạnh mẽ.”

–  Để thêm yêu mến: Phêrô và Phaolô hai gương mặt cao cả, nhưng không ở cao ở xa ở ngoài để lạnh lùng nhìn vào đời sống tín hữu.  Trái lại mãi mãi các ngài vẫn ở trong Giáo hội để ân cần gần gũi với mọi tâm hồn.

Phêrô với chìa khóa miệt mài đóng lại những quá khứ tội lỗi để mở ra tương lai ân sủng cho những ai chân thành muốn biến đổi đời mình trong niềm tin đạo giáo, và Phaolô với thanh gươm khai phá không ngừng khai quang tâm hồn cho kẻ thiện chí đón nhận Phúc âm cứu rỗi.

GM. Giuse Vũ Duy Thống

TRÁI TIM NGƯỜI MẸ

Nếu ai hỏi Mẹ Maria điều gì quý nhất trong đời Mẹ, hẳn Mẹ sẽ trả lời đó là Giêsu, con của Mẹ.  Người con này Mẹ đã cưu mang, dưỡng dục, và bảo vệ giữ gìn.  Người con này đã đem lại cho Mẹ biết bao niềm vui và hãnh diện.  Nhưng Mẹ cũng chịu nhiều đau khổ vì người con ấy.

Bài Tin Mừng hôm nay vén mở một chút nỗi đau của Mẹ, cho thấy một chút trái tim của Mẹ khi sống bên Giêsu.  Cậu Giêsu, mười hai tuổi, cùng với cha mẹ lên Đền thờ mừng lễ Vượt qua.  Kể cũng lạ khi cậu ở lại Giêrusalem mà không báo cho cha mẹ biết.  Hai ông bà đi một ngày đường mới nhận ra mình mất con, vội vã đi tìm trong đám bà con thân thuộc, nhưng không thấy, nên trở lại Giêrusalem mà tìm.

Phải qua ba ngày đầy lo âu và nước mắt mới tìm thấy con trong Đền thờ.  Kinh nghiệm mất – tìm kiếm – tìm thấy này thật đau đớn đối với người mẹ.  Mẹ Maria sợ mất con, mất điều rất quý đã được Thiên Chúa trao cho mình.  Nhưng khi thấy con mình ngồi giữa các vị thầy, rất bình an trò chuyện với họ, thì Mẹ lại sửng sốt, ngỡ ngàng, thay vì vui sướng.  Như vậy là con không bị lạc, nhưng đã cố ý ở lại Đền thờ mà không báo.

Mẹ không nén được một lời trách móc: “Tại sao con làm thế với cha mẹ?  Cha con và mẹ đã khắc khoải tìm con” (c. 48).  Chuyện không ngờ là cậu Giêsu đã đáp lại câu hỏi của Mẹ bằng hai câu hỏi, đầy vẻ sửng sốt và cũng là một lời trách: “Tại sao cha mẹ lại tìm con?  Cha mẹ không biết là con phải ở nhà của Cha con sao?” (c.49).  Cũng có thể hiểu là: cha mẹ không biết con phải lo việc của Cha con sao?

Đức Giêsu, khi lên mười hai tuổi, đã bắt đầu có ý thức mình thuộc về Cha.  Người Cha trên trời này khác với người cha mà Ngài đang chung sống.  Ngài phải ở với và lo việc cho người Cha này, lẽ ra cha mẹ phải biết chuyện đó.

Dĩ nhiên hai ông bà chưng hửng, không hiểu được câu nói của cậu Giêsu (c.50).  Riêng Mẹ Maria có thói quen nghiền ngẫm về các biến cố khó hiểu.  Mẹ giữ kỹ trong trái tim mình những chuyện xảy ra (Lc 2, 19. 51b).

Chúng ta tưởng Mẹ Maria luôn luôn hiểu Con mình, hiểu ngay, hiểu trọn vẹn.  Chúng ta tưởng ai sống thánh thiện thì lúc nào cũng vui, chẳng bao giờ lo sợ.  Nhìn Mẹ Maria, chúng ta hiểu theo Chúa là bước vào một cuộc hành trình.  Có những lúc như đang chơi ú tim với Chúa, mất rồi lại tìm, tìm thấy rồi lại mất.  Chúng ta chẳng bao giờ nắm được Chúa, giữ chặt Chúa trong tay.  Chúa vẫn là Đấng không thể thấu hiểu được, và vẫn làm chúng ta sững sờ.

Mẹ Maria đã chứng kiến Đức Giêsu lớn dần về mọi mặt (Lc 2, 40), từ khi sinh ra đến khi mười hai tuổi, và từ mười hai tuổi đến lúc trưởng thành (Lc 2, 52).  Ngài càng lúc càng ý thức mình thuộc về Cha và ý thức về sứ mạng.  Con của Mẹ là một mầu nhiệm khôn dò mà Mẹ phải tìm hiểu mỗi ngày.  Mẹ để cho Con tự do sống theo Ý Cha, dù điều đó đem lại nhiều đau khổ.  Chuyện mất Con hôm nay chuẩn bị cho việc Con sẽ chia tay Mẹ đi sứ vụ, và chuẩn bị cho cuộc chia tay kinh hoàng trên thập giá.

Chúng ta cầu cho các bà mẹ đang đau khổ vì con.  Mong sự vâng phục của con cái làm tươi trái tim người mẹ.

************************************

Lạy Mẹ Maria,

Khi đọc Phúc Âm, lúc nào chúng con cũng thấy Mẹ lên đường.  Mẹ đi giúp bà Isave, rồi đi Bêlem sinh Đức Giêsu.  Mẹ đưa con đi trốn, rồi dâng Con trong đền thờ.  Mẹ tìm con bị lạc và đi dự tiệc cưới ở Cana.  Mẹ đi thăm Đức Giêsu khi Ngài đang rao giảng.  Và cuối cùng Mẹ đã theo Ngài đến tận Núi Sọ.  Mẹ lên đường để đáp lại một tiếng gọi âm thầm hay rõ ràng, từ ngoài hay từ trong, từ con người hay từ Thiên Chúa.  Chúng con thấy Mẹ luôn đi với Đức Giêsu trong mọi bước đường của cuộc sống.  Chẳng phải con đường nào cũng là thảm họa.  Có những con đường đầy máu và nước mắt.  Xin Mẹ dạy chúng con đừng sợ lên đường mỗi ngày, đừng sợ đáp lại những tiếng gọi mới của Chúa dù phải chấp nhận đoạn tuyệt chia ly.  Xin giữ chúng con luôn đi trên Đường-Giêsu để chúng con trở thành nẻo đường khiêm hạ đưa con người hôm nay đến gặp gỡ Thiên Chúa.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

“SỨ MỆNH CUỘC ĐỜI”

Mỗi chúng ta sinh ra ở đời đều có một sứ mệnh.  Bổn phận của chúng ta là phải khám phá ra đâu là sứ mệnh mà Chúa gửi gắm cho cá nhân mình.  Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết trong Tông huấn “Niềm vui Tin Mừng” như sau: “Sứ mệnh của tôi giữa lòng dân không chỉ là một phần của đời tôi hay một cái phù hiệu mà tôi có thể gỡ bỏ; nó không phải một cái gì “phụ thêm” hay chỉ là một khoảnh khắc khác trong cuộc đời.  Trái lại, nó là cái mà tôi không thể dứt bỏ khỏi mình nếu không muốn tiêu diệt chính mình.  Tôi là một sứ mệnh trên trái đất này; đó là lý do tại sao tôi có mặt trên trái đất này” (số 273).  Sứ mệnh này đến từ Chúa, là ơn gọi Ngài gửi đến mỗi người.  Phân định đúng ơn gọi của mình và chuyên chăm thực thi sứ mệnh cuộc đời, sẽ đem cho chúng ta niềm vui và hạnh phúc lâu bền.  Nhiều người không nhận ra sứ mệnh đích thực của mình, mà thích “đuổi hình bắt bóng” chạy theo người khác.  Trong Tông huấn “Chúa Kitô đang sống”, Đức Thánh Cha trích dẫn gương sáng của vị Chân phước trẻ Carlo Acutis và câu nói của vị Chân phước này: “Ai cũng được sinh ra như là bản gốc, nhưng nhiều người lại chết đi như những bản sao” (số 106).  Đức Thánh Cha nhắn nhủ các bạn trẻ: “Con hãy cầu khẩn Chúa Thánh Thần và tin tưởng tiến về mục tiêu cao cả là nên thánh.  Như thế, con sẽ không trở thành một bản sao.  Con sẽ hoàn toàn là chính mình” (Sđd, số 107).

Các Bài đọc Lời Chúa trong Phụng vụ đều nhấn mạnh đến lời mời gọi của Chúa.  Êlia là một trong bốn gương mặt của các “ngôn sứ lớn” của Cựu ước.  Ông đã thi hành sứ mệnh trong một bối cảnh vô cùng phức tạp.  Ông đã chiến đấu với 450 tiên tri của thần Baal trên núi Carmel và đã chiến thắng (x. 1 V 18,20-40).  Êlia cũng đã can đảm tố cáo những hành động của vua Akháp và hoàng hậu Giêzabel, trước hành động bất công đã gây ra cho Nabốt (x. 1V chương 21).  Để có người tiếp nối, ông tuyển mộ một môn sinh là Elisa.  Sau khi ông Êlia được cất về trời, ông Êlisa đã nhiệt thành với sứ vụ và đã làm nên những kỳ công, nhờ quyền năng của Thiên Chúa.

Bí tích Thánh tẩy làm cho chúng ta trở nên những môn đệ của Chúa Giêsu.  Người tín hữu không bị “bứng” ra khỏi môi trường và bối cảnh cuộc sống, nhưng lại được Chúa sai đến làm chứng cho Ngài tại nơi mình đang cư ngụ.  Mặc dù đang sống tại chính gia đình và quê hương, người tín hữu vẫn có ơn gọi “thừa sai”, tức là sứ mạng được Chúa sai đi loan báo Tin Mừng.  Khi nói về sứ mạng thừa sai của người tín hữu, Đức Thánh Cha đã viết: “Tôi muốn nhắc lại rằng không cần phải làm một khoá đào tạo dài hạn để biến người trẻ thành những nhà truyền giáo.  Ngay cả những người yếu kém nhất, bị giới hạn và nhiều thương tổn, cũng có thể là những nhà truyền giáo theo cách riêng của mình” (Tông huấn Chúa Kitô đang sống, số 239).  Theo Đức Thánh Cha, bất kỳ ai, dù trong hoàn cảnh nào, cũng có thể thi hành nhiệm vụ thừa sai, tức là làm chứng cho Chúa.

Chúa vẫn luôn gọi chúng ta, nhưng lại để cho chúng ta tự do đáp trả.  Bởi lẽ lời mời gọi xuất phát từ tình yêu, mà nếu bó buộc thì chẳng còn phải là tình yêu nữa.  Thánh Luca kể lại ba trường hợp xin theo Chúa để làm môn đệ của Người.  Xin lưu ý là Chúa không từ chối bất cứ trường hợp nào.  Câu trả lời của Chúa “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” có thể được hiểu như là một gợi ý Chúa đưa ra để người đó suy nghĩ và quyết định.  Ba trường hợp được kể lại trong Tin Mừng như muốn nói với chúng ta, người nào muốn theo Chúa phải dành cho Người một chọn lựa ưu tiên.  Chọn lựa ấy là lý tưởng sống, vượt lên mọi tình cảm và mọi mối liên hệ khác.  Khi dốc quyết theo Chúa, chúng ta trở thành người tự do, thanh thản nhẹ nhàng trong niềm tin yêu và tín thác.

Chúa Giêsu là mẫu mực cho chúng ta về sự hy sinh và lòng trung thành với chọn lựa của mình.  Thánh Luca đã diễn tả điều đó khi ngài viết: “Người nhất quyết đi lên Giê-su-sa-lem.”  “Đi lên Giêsusalem” đồng nghĩa với việc đi vào chốn đầy nguy hiểm chống đối, thậm chí là bước vào cái chết.  Vì cớ Người đi Giêsusalem mà dân làng người Samari khước từ việc đón tiếp Người.  Chúa Giêsu đã can đảm bước đi, trong niềm phó thác nơi Chúa Cha.  Trong hành trình lên Giêrusalem, trước sự khước từ của người đời, Chúa không hành xử theo đề nghị của anh em ông Giacôbê và Gioan muốn “xử” người dân Samari theo luật giang hồ.  Như thế, cùng với sự can đảm trung thành, Đức Giêsu còn nhắc nhở những ai muốn trở thành môn đệ phải kiên nhẫn và bao dung trước những lập trường và quan điểm khác biệt với mình.

Trong thư gửi giáo dân Galát, thánh Phaolô lên án bạo lực, cổ võ tình yêu thương.  Thánh nhân khẳng định: anh em được gọi để hưởng tự do.  Đây là tự do của các con cái Chúa.  Tự do này đồng nghĩa với sự thanh thoát, thánh thiện và bình an.  Chính Chúa Thánh Thần là Đấng hướng dẫn giúp chúng ta sống hoàn thiện và nối kết chúng ta trong tình huynh đệ thân thương.  Chúng ta chỉ có thể chu toàn sứ mệnh cuộc đời, nếu chúng ta biết thành tâm lắng nghe và tuân theo sự chỉ dạy của Chúa Thánh Thần.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

CHÚA HẠNH PHÚC

Kitô giáo, Do thái giáo và Hồi giáo cuối cùng đều tin cùng một Thượng đế.  Điều thú vị là, trong tâm trí bình dân, tất cả đều có khuynh hướng quan niệm Chúa theo cùng một cách, cụ thể là nam giới, sống độc thân, và đặc biệt không hạnh phúc.

Chắc chắn giới tính của Chúa là điều chúng ta không bao giờ khái niệm được.  Thượng đế không đàn ông cũng không đàn bà, cũng không phối hợp nam tính nữ tính của giới tính.  Vì thế làm sao chúng ta có một khái niệm về giới tính của Thượng đế được?  Chúng ta không thể, thuần túy và đơn giản.  Theo kiểu cổ điển, chúng ta nói Thượng đế là nam giới, dù chúng ta biết điều này hoàn toàn không đúng, vì về mặt giáo điều chúng ta khẳng định, Thiên Chúa là khó tả nên lời, không bao giờ có thể đặt Ngài trong một khái niệm nào được.  Điều này cũng áp dụng cho quan niệm của chúng ta về Thiên Chúa độc thân, không có vợ.  Kết hợp nam tính và nữ tính nơi Chúa cũng không thể tả nên lời được, không thể nhận thức nhưng chúng ta biết Chúa không chỉ đơn giản là một đấng nam nhi độc thân.

Nhưng còn quan niệm phổ biến khác, cụ thể là Chúa đặc biệt không hạnh phúc, nhất là với chúng ta?

Ở đây chúng ta có một câu trả lời rõ ràng: Chúa hạnh phúc.  Làm thế nào Chúa không thể hạnh phúc?  Nếu Chúa là Đấng trọn hảo duy nhất, trọn hảo lòng lành, chân lý trọn vẹn, đẹp toàn mỹ, viên mãn trọn vẹn về mọi mặt, thì làm sao Chúa lại không thể hạnh phúc trọn vẹn được?  Một Chúa không hạnh phúc sẽ không phải là Chúa vì như vậy Chúa không có quyền năng để làm cho mình hạnh phúc trọn vẹn được sao.  Không có một bất cập nhỏ nào với Chúa.  Vì thế một Thượng đế hoàn hảo cũng là một Thượng đế hoàn toàn hạnh phúc.  Nhưng đó là lời tuyên bố siêu hình.  Chúng ta vẫn có thể hỏi, Chúa có hạnh phúc về mặt tình cảm và Chúa có hạnh phúc với chúng ta không?  Hẳn đôi khi Chúa cũng phải nhíu mày và lắc đầu thất vọng trước hành vi của chúng ta đó sao?  Chắc chắn Chúa không thể hài lòng với rất nhiều điều đang xảy ra trong thế giới.  Chúa không thể hạnh phúc trước tội lỗi.

Và cũng giống như mọi điều khác về Chúa, có những điều ở đây chúng ta không thể hiểu được.  Tuy nhiên, cần phải khẳng định điều này, cả từ điều sâu sắc nhất được mặc khải trong Sách Thánh và trong chứng từ của vô số người tốt: Chúa hạnh phúc!  Chúa không quen thất vọng về chúng ta, không nhíu mày trước các yếu đuối của chúng ta và đưa đa số chúng ta xuống địa ngục.  Nhưng ngược lại, Chúa như cha mẹ yêu thương đứa con bé bỏng của mình, Chúa luôn hướng chúng ta đi về phía trước, vui với năng lượng của chúng ta, muốn chúng ta thăng tiến, buồn khi chúng ta cư xử không tốt với người khác và với chính chúng ta, nhưng Ngài thông cảm yếu đuối của chúng ta hơn là tức giận và không hạnh phúc.

Nhà thần nghiệm danh tiếng Julian de Norwich mô tả Chúa theo cách này: Chúa ở trên thiên đàng, mỉm cười, hoàn toàn thoải mái, gương mặt giống như bản giao hưởng kỳ diệu.  Cách đây vài năm khi đọc đoạn này lần đầu tiên, tôi đã sửng sốt vừa về khái niệm Chúa mỉm cười vừa hình ảnh Chúa “thoải mái.”  Tôi chưa bao giờ nghĩ Chúa “thoải mái.”  Với tất cả những gì xảy ra trong thế giới, và chắc chắn với tất cả các phản bội lớn nhỏ trong cuộc sống chúng ta, Chúa hẳn căng thẳng, thất vọng và lo lắng.  Hình dung Chúa đang cười (ít nhất là đôi khi) thì khó nhưng còn dễ hơn, nhưng cực kỳ khó để hình dung Chúa thoải mái, không căng thẳng về tất cả những gì không ổn với chúng ta và thế giới chúng ta.

Và đây là hành trình của tôi trong việc đấu tranh với điều này.  Tôi đã được ân phước vô cùng trong môi trường tôn giáo của tôi.  Từ cha mẹ và gia đình, từ cộng đoàn giáo xứ tôi lớn lên, từ các nữ tu Dòng Ursuline đã dạy tôi ở trường, quý vị không thể nào có một môi trường đức tin lý tưởng hơn.  Tôi đã trải nghiệm đức tin và đời sống tu trì trong đời sống thực, và nó đã mang đến lòng tin tưởng cho tôi và trở nên hấp dẫn.  Việc đào tạo ở chủng viện và nghiên cứu thần học của tôi đã củng cố mạnh mẽ cho điều này.  Nhưng, trong suốt quá trình, bên dưới vẫn có bức tranh của một vị thần không được hạnh phúc cho lắm và người chỉ mỉm cười trong trường hợp xứng đáng và điều này cũng không thường xuyên cho lắm.  Hậu quả là trong đời sống của tôi luôn có khuynh hướng lo âu để ở tầm cao, để khá tốt, để không làm Chúa buồn và để được Chúa chấp thuận và yêu mến.  Nhưng chắc chắn, chúng ta không bao giờ có thể đủ tốt, không bao giờ ở tầm cao và vì thế, thật tự nhiên khi chúng ta nghĩ Chúa chẳng bao giờ thực sự hài lòng với chúng ta và Ngài cũng không bao giờ thực sự hạnh phúc.

Dĩ nhiên về lý thuyết chúng ta biết rõ hơn.  Chúng ta thường có khái niệm lành mạnh hơn về Chúa; nhưng trái tim không dễ dàng để ở bên cạnh.  Thật khó để tôi cảm nhận trong tôi Chúa hạnh phúc, hạnh phúc với chúng ta, hạnh phúc với tôi.  Tôi đã mất bảy mươi năm để nhận ra, chấp nhận, an ủi và cuối cùng đắm mình trong sự thật, rằng Chúa hạnh phúc.  Tôi không chắc điều gì đã khơi trong tôi tất cả yếu tố thúc đẩy bên trong giúp tôi thay đổi, nhưng thực tế, bây giờ mỗi khi tôi cầu nguyện hết lòng, trần trụi và chân thành, tôi cảm nhận Chúa hạnh phúc.  Và đó cũng là điều xảy đến với tôi khi tôi nhìn các vị thánh trong cuộc đời tôi, các thánh nam nữ tôi tôn kính nhất trong đức tin, những người phản ánh khuôn mặt của Chúa cho tôi.  Họ vui vẻ, thoải mái và ít khi nhíu mày vì không hài lòng.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CHA-CON

Lâu nay,  hình ảnh tốt lành của người cha đã trở thành nguồn cảm hứng cho mỗi cuộc đời, mỗi con người.  Những tảo tần, vất vả của cuộc sống mưu sinh đều in hằn trên khuôn mặt dấu yêu của cha.  Những nếp nhăn, mái tóc bạc, bàn tay thô ráp và đôi vai gầy guộc là những chứng tích thành lời của một cuộc đời hy sinh.  Dẫu quy luật “tre già măng mọc có gì lạ đâu!”, nhưng không có tre già che chở thì làm sao măng có thể thành hình?  Chắc hẳn cuộc đời mỗi người con nếu không có đôi tay người cha thì làm sao khôn lớn thành người.  Cha đã chuyển trao cuộc sống, sức trẻ và cả những mơ ước cho con.  “Ngày của cha” cho ta cơ hội để ngẫm nghĩ về cha, để tình yêu và nỗi nhớ luôn chất chứa trong lòng mỗi người con.

Tiếng nói bập bẹ đầu tiên của trẻ nhỏ là “ba ba, ma ma…”  Tiếng gọi ấy khởi phát từ niềm tin và tình yêu của trẻ nhỏ vào người cha, người mẹ.  Qua đó ta thấy được vai trò khơi mào nhân cách của cha mẹ nơi con cái.  Tâm hồn con trẻ như trang giấy trắng để cha là người họa sĩ vẽ lên những đường nét đầu tiên trong bức tranh cuộc đời của người con.  Khi mới bập bẹ biết nói, cha dạy con hai tiếng cám ơn.  Khi chập chững những bước đầu đời, cha dạy con nghị lực đứng dậy.  Rồi cha dạy con bài học yêu thương, chia sẻ khi cùng con trên đường đến lớp.  Cha chỉ cho con chữ tín trong đời trước khi con bước vào cuộc sống xa quê.  Rồi khi con lầm lỗi, cha sửa dạy nhưng không loại trừ, cha trừng phạt nhưng không ghét bỏ, cha đồng cảm chứ không thoả hiệp với lỗi lầm của con.  Để rồi từng ngày, tình thương của cha đã cho con nghiệm được tình yêu con người là gì.

Cha đã vun trồng cuộc đời cho chúng con.  Những mầm cây non cần được chăm sóc kỹ lưỡng.  Chúng cần những mảnh đất tơi sốp, cần đến ánh nắng mặt trời.  Chúng cũng cần được che chắn khỏi những cơn giông tố, khỏi cái nóng gay gắt.  Chúng cần một chế độ tưới bón kỹ càng.  Chúng cần được cắt tỉa, phong ngừa những dịch bệnh.  Để rồi, hy vọng rằng, chúng sẽ trở thành những tán cây vững i giữa sóng gió cuộc đời.  Cha ơi, cuộc đời chúng con như một tán cây có thể đứng vững là nhờ được chăm sóc khi còn thơ dại.  Gia đình là mảnh đất tơi xốp để cây non nớt bám vào hút nhựa mà sống.  Như ánh mặt trời, cuộc sống cho chúng con những mục tiêu để vươn lên.  Thế nhưng, không có đôi tay chăm ẵm, không có sự lao nhọc xới bón của cha thì cuộc đời non yếu của chúng con sẽ bị dập nát dưới sự tàn phá của những cơn giông tố.  Cha là người tuyệt vời vì đã ươm trồng cuộc đời chúng con trong mảnh đất yêu thương của tình cha.

Không cho con sự giàu sang phú quý, nhưng cái quý nhất cha cho con là tình yêu.  Thánh Giáo hoàng Gio-an XXIII kể lại rằng: khi còn nhỏ, cha là người hay dẫn ngài đi tham dự các nghi lễ tại nhà thờ.  Một ngày kia, hai cha con phải lặn lội một ngày trời để có thể tham dự lễ hội tại nhà thờ chính tòa.  Đến nơi, ngài đã thất vọng vì đoàn người tham dự rất đông, mà ngài lại thấp bé.  Ngài chẳng trông thấy gì cả!  Không ngần ngại, người cha đã cõng ngài trên vai, và ngài đã nhìn thấy toàn bộ khung cảnh của buổi lễ.  Ngài vui mừng khôn xiết!  Sau này, trong cuộc đời giáo hoàng, khi vất vả hay khó khăn, ngài nhớ lại hình ảnh đôi vai ngày nào của người cha.  Qua đó ngài có thể cảm nhận tình yêu sống động của Thiên Chúa.  Thiên Chúa cũng đang nâng ngài lên như cha ngài ngày xưa.  Bằng chính cuộc đời và tình thương thầm lặng, cha đã chỉ cho con Thượng Đế là ai, và tình yêu của Ngài cao cả biết chừng nào!  Cha không giảng thuyết hùng hồn, không suy tư sắc sảo, nhưng cha đã định hướng cuộc sống tâm linh của con bằng giờ kinh gia đình, bằng niềm tin, sự phó thác và tình yêu nơi Thiên Chúa.  Là thầy dạy Đức Tin, cha đã cho con điều quý giá nhất mà cha xác tín.

Những khó khăn, vất vả của cuộc sống gia đình đổ dồn lên đôi vai cha.  Nuôi nấng con cái thành người đã bào mòn sức lực của cha.  Cha bương trải với đời để cho con miếng cơm manh áo.  Cha đánh đổi sức lực của mình để dành lấy cho con một tương lai rạng ngời.  Cha đã quên những đam mê thời trai trẻ, đã xa rời thời kà kê ở chốn ăn chơi.  Nhờ đó, sự khôn lớn từng ngày của chúng con được cha hết mực quan tâm.  Gác lại những dự tính cho riêng mình, cha đã hy sinh cuộc đời cho chúng con!

Lời tri ân dành cho cha nói sao cho xứng.  Cuộc đời con có thể vươn xa trên con đường hạnh phúc là vì con đang tựa vào bờ vai vững chãi của cha.  Cám ơn cha đã cho con sự sống; tri ân cha đã cho con cuộc đời; biết ơn cha đã dẫn con đến với Thiên Chúa và chúc tụng Chúa đã cho con có cha!

Chúc cha luôn bình an và hạnh phúc trong cuộc đời!  Đặc biệt ngày hôm nay, Chúa nhật thứ 2 của tháng 6, cha của con và con của cha luôn nhớ nhau trong lời cầu nguyện!

Mừng ngày của cha,
Giuse Bùi Thế Dũng, S.J.
Nguồnhttps://dongten.net