VỊ KHÁCH NGỌT NGÀO CỦA LINH HỒN

“Thầy sẽ sai Ngài đến với các con!”

Dwight Morrow, cha của Anne Morrow Lindbergh, sau này là một nhà văn rất nổi tiếng, từng tổ chức một bữa tiệc tối mà Calvin Coolidge được mời.  Sau khi Coolidge rời đi, Morrow nói với những khách còn lại, “Coolidge sẽ trở thành một tổng thống tốt.”  Những người khác không đồng ý; họ bảo, Coolidge quá trầm lặng và thiếu cá tính.  Anne, lúc đó sáu tuổi, lên tiếng, “Cháu thích ông ấy.”  Sau đó, cô bé đưa một ngón tay lên với một miếng băng nhỏ chung quanh.  “Ông ấy là người duy nhất trong bữa tiệc hỏi về ngón tay bị đau của cháu”; “Đó là lý do tại sao ông ấy sẽ là một tổng thống tốt.”  Anne nói thêm, “Với cháu, ông ấy là vị khách ngọt ngào của linh hồn!”

Kính thưa Anh Chị em,

“Ông ấy là vị khách ngọt ngào của linh hồn!”  Một sự trùng hợp thú vị khi Lời Chúa hôm nay cũng nói đến một vị khách mà lắm lúc chúng ta bỏ lỡ trong cuộc sống!  Đây không phải là một vị khách bình thường, hoặc như Coolidge, sau này là tổng thống thứ 30 của Mỹ, nhưng là “Vị Khách” Chúa Phục Sinh sai đến; đó là Chúa Thánh Thần, ‘Vị Khách Ngọt Ngào Của Linh Hồn!’

Chưa bao giờ có ai trong chúng ta được đặc ân thấy Chúa Giêsu theo cách các tông đồ thấy; nhưng như các ngài, chúng ta có Chúa Giêsu luôn ở bên mình; đồng thời, có cùng một đặc ân khác nữa, là nhận được dẫy đầy sự hiện diện của Chúa Thánh Thần.  Điều này thật là tốt; rất tốt.  Nhưng đó là một điều tốt mà chúng ta thường bỏ lỡ; ‘Vị Khách Ngọt Ngào Của Linh Hồn’ xem ra chưa có một nơi cư ngụ xứng đáng trong mỗi người chúng ta.  Bằng chứng là cuộc sống của chúng ta chưa được Ngài biến đổi; và dường như Ngài vẫn còn xa lạ với linh hồn.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói đến Đấng Bảo Trợ mà Ngài sẽ sai đến với các tông đồ.   Qua đó, Ngài mời gọi chúng ta thông phần một tình bạn mật thiết với Chúa Thánh Thần.  Chúa Thánh Thần được ban cho chúng ta ngày chúng ta lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, hầu mỗi người trở nên một tạo vật mới; ngày chúng ta lãnh nhận Bí Tích Thêm Sức để trở nên một dũng sĩ mới.  Chúa Thánh Thần là người thợ tạo nên sự thánh khiết nơi chúng ta; là Thầy Dạy và là Đấng ủi an nhất là khi chúng ta gặp gian truân.  Chính Ngài, ‘Vị Khách Ngọt Ngào Của Linh Hồn’ sẽ là bạn đồng hành với chúng ta suốt cả cuộc đời; đặc biệt trong những lúc tăm tối.

Câu chuyện của bài đọc thứ nhất hôm nay là một bằng chứng về sự hiện diện của Chúa Phục Sinh và Thánh Thần của Ngài.  Sau một trận đòn chí mạng, Phaolô và Sila bị giam vào ngục sâu nhất, nhưng “Vào quãng nửa đêm, hai ông hát thánh ca, cầu nguyện với Thiên Chúa; các người tù nghe hai ông hát.”  Bỗng, động đất xảy ra, xiềng xích vỡ tung.  Viên cai ngục chạy vào, toan tự vẫn vì tưởng hai ông đã trốn thoát; nhưng Phaolô và Sila kịp trấn an.  Câu chuyện kết thúc một cách thần diệu với việc viên cai ngục và gia đình ông đáp lại lời giảng của Phaolô!  Ông đưa hai ngài lên nhà, dọn bữa; ông và cả nhà vui mừng vì đã tin Thiên Chúa.  Như thế, rõ ràng, Chúa Phục Sinh và ‘Vị Khách Ngọt Ngào Của Linh Hồn’ đã viếng thăm những kẻ Ngài yêu thương ngay trong hoàn cảnh nghiệt ngã nhất của họ.  Từ đó, Phaolô và Sila có thể tiếp tục tán tụng Chúa như tâm tình Thánh Vịnh đáp ca, “Lạy Chúa, tay hữu Chúa khiến con được sống an lành!”

Anh Chị em,

“Thầy sẽ sai Ngài đến với các con!”  Còn chưa đầy hai tuần nữa, chúng ta sẽ cử hành trọng thể lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.  Đây là lễ kỷ niệm hàng năm về việc Chúa Giêsu thực hiện lời hứa của Ngài.  Hôm nay và những ngày sắp tới, hướng về ngày lễ Chúa Thánh Thần, ước gì chúng ta biết dành thời giờ nhiều hơn để suy gẫm và tỏ lòng biết ơn đối với Chúa Thánh Thần.  Hãy khiêm tốn thừa nhận, bạn đang rất cần Ngài; Ngài phải trở nên sống động hơn trong cuộc sống bạn.  Hãy xác tín, Chúa Giêsu muốn bạn tiếp nhận Chúa Thánh Thần trong sự sung mãn của Ngài; đừng ngần ngại để sự kết hợp này diễn ra.  Được như thế, chắc chắn ‘Vị Khách Ngọt Ngào Của Linh Hồn’ sẽ biến đổi bạn, Ngài sẽ tạo nên một sự khác biệt cho linh hồn bạn!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến!  Xin thổi bùng ngọn lửa yêu mến trong con; đốt cháy những gì là bợn nhơ, hầu linh hồn con trở nên thánh khiết, xứng đáng làm nơi Ngài ngự!” Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

LÒNG QUẢNG ĐẠI

Có một quả tim bao la, một lòng quảng đại nghĩa là gì?

Một lần trong một trận bóng chày ở trường trung học, một trọng tài đã xử bất công cho đội chúng tôi.  Cả đội tức tối, chúng tôi hét lên giận dữ chống ông, thóa mạ ông, kêu tên ông ra chửi, lớn tiếng trút cơn giận của mình.  Nhưng một trong các bạn trong đội không làm theo.  Thay vì la hét trọng tài, anh cố gắng chận chúng tôi đừng la hét.  “Bỏ qua đi!”  Anh cứ lặp đi lặp lại với chúng tôi: “Bỏ qua đi! Chúng ta lớn hơn thế!”  Lớn hơn gì cơ chứ?  Anh không nói đến sự non nớt của trọng tài, nhưng đến sự non nớt của chúng tôi.  Và chúng tôi “không lớn hơn thế” ít nhất là trong lúc này.  Chắc chắn tôi không thể nuốt được bất công.  Tôi chưa đủ lớn.

Nhưng có cái gì đã ở lại trong lòng tôi sau sự cố này.  Thách thức phải “lớn hơn” bên trong sự việc đã làm chúng ta yếu đi.  Tôi vẫn không làm được, không phải luôn luôn, nhưng tôi là người tốt hơn, quảng đại hơn khi tôi làm, cũng như tôi sẽ là người thấp hơn, nhỏ nhen hơn khi tôi không làm được.

Nhưng cũng như các bạn đồng đội của chúng tôi đã thách thức chúng tôi trong những năm qua, chúng tôi phải tiếp tục “lớn hơn” giây phút nhỏ nhen lúc đó.  Lời mời gọi này nằm ở trọng tâm thách thức đạo đức của Chúa Giêsu trong Các Mối Phúc.  Ngài mời gọi chúng ta có một “đức tính sâu đậm hơn các người biệt phái và các luật sĩ.”  Và có nhiều điều ẩn giấu trong đó hơn là những gặp gỡ đầu tiên với những nhà luật sĩ và người biệt phái, vì những người này rất đạo đức.  Họ cố gắng trung thành với lề luật đức tin, họ là những người có lòng tin và giữ công lý nghiêm ngặt.  Họ không bất công như các trọng tài!  Nhưng bên trong lòng tốt này thiếu một cái gì mà Các Mối Phúc mời gọi chúng ta, một lòng quảng đại nào đó để có quả tim và tinh thần khá lớn, để vươn lên, để không bị yếu, để lớn hơn trong một khoảnh khắc nhất định.

Cho phép tôi đưa ra một chuyện về điều này: Đức Gioan-Phaolô II là giáo hoàng đầu tiên chống án tử hình.  Điều quan trọng cần lưu ý là ngài không nói án tử hình là sai.  Kinh thánh nói chúng ta có quyền thi hành án tử hình.  Đức Gioan-Phaolô II cũng thừa nhận.  Tuy nhiên, và đây là bài học, ngài nói, khi chúng ta có thể thực thi công lý bằng bản án tử hình, nhưng chúng ta không nên làm điều đó vì Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta làm một cái gì cao hơn, cụ thể là tha thứ cho kẻ có tội và không xử tử họ.  Đó là lòng quảng đại, là lớn hơn ở thời điểm chúng ta nắm bắt nó.

Thánh Tôma Aquinô, trong sự khôn ngoan về đạo đức của ngài, ngài đã làm một phân biệt mà chúng ta ít nghe thấy, cả ngoài đời lẫn trong giảng dạy của nhà thờ.  Ngài nói, có một vài chuyện có thể là tội đối với người này, mà không là tội đối với người kia.  Về thực chất, một cái gì đó có thể là tội cho một người có trái tim quảng đại, ngay cả khi nó không phải là tội đối với người thấp bé và có trái tim nhỏ.  Đây là ví dụ: trong một bình luận đầy thách thức cực kỳ khó, Thánh Tôma Aquinô đã viết, thật là tội lỗi khi từ chối khen một người thực sự xứng đáng, vì khi làm như vậy chúng ta từ chối một phần thức ăn mà người đó cần để sống.  Trong việc giảng dạy điều này, Thánh Tôma rõ ràng cho rằng, chỉ là tội đối với một người có lòng quảng đại, rộng lượng và có một mức độ trưởng thành nhất định.  Một người chưa trưởng thành, ích kỷ và nhỏ mọn thì không có cùng mức độ đạo đức và thiêng liêng.

Làm thế nào có thể, tội không còn là tội, dù đó là người như thế nào?  Không phải lúc nào cũng vậy.  Có một cái gì là tội hay không là tội tùy thuộc vào chiều sâu và mức độ trưởng thành trong mối quan hệ.  Chúng ta hình dung chuyện này: một người đàn ông và vợ mình có mối quan hệ sâu sắc, nhạy cảm, quan tâm, tôn trọng và thân mật đến mức các biểu hiện nhỏ nhất của tình cảm hoặc coi thường là đủ để cho họ hiểu.  Chẳng hạn, buổi sáng khi họ chia tay nhau đi làm, khi nào họ cũng có một biểu lộ tình cảm, như một nghi thức chia tay.  Bây giờ, nếu một trong hai bỏ biểu lộ này vào một buổi sáng bình thường, khi không có lý do gì đặc biệt, thì đó không phải là chuyện nhỏ, chuyện vô tình.  Có một cái gì lớn ở đây.  Ngược lại, nếu một cặp vợ chồng khác có mối quan hệ ít gần gũi, ít quan tâm, ít tình cảm, ít tôn trọng và không có thói quen thể hiện tình cảm khi chia tay.  Quên như vậy sẽ không có nghĩa gì.  Không nhẹ, không có ý định, không có hại, không có lỗi, chỉ là thiếu quan tâm như bình thường.  Đúng, một số điều có thể là tội cho người này mà không tội cho người kia.

Chúng ta được Chúa Giêsu mời gọi để những gì tốt nhất trong chúng ta trở nên đủ lớn, để có trái tim và tâm trí, để biết là có tội nếu không khen, để biết dù Kinh Thánh cho phép chúng ta thi hành án tử hình, nhưng chúng ta vẫn không nên làm, và để biết rằng chúng ta là những người tốt hơn khi chúng ta lớn hơn bất kỳ chuyện gì nhỏ bé mà chúng ta trải qua trong một thời điểm nhất định.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

DI NGÔN CỦA THÀY

Di ngôn của Chúa không phức tạp dài dòng, chỉ vỏn vẹn mấy câu cốt lõi: Hãy giữ lời Thày.  Hãy yêu mến nhau.  Hãy an tâm, đừng xao xuyến.  Những lời này đã đem lại sức mạnh và nghị lực thiêng liêng cho các môn đệ vào thời Giáo Hội sơ khai, cho các tín hữu suốt bề dày hai mươi thế kỷ và cho chúng ta hôm nay.

Chuẩn bị mừng lễ Thăng Thiên, Phụng vụ cho chúng ta nghe những lời tâm sự của Chúa Giêsu với các môn đệ vào cuối bữa tiệc ly.  Đây là những di ngôn của một người Thày đối với các môn sinh, là những người từng bao năm gắn bó và chia sẻ ngọt bùi.  Những lời này đã làm nên tôn chỉ cốt lõi của cộng đoàn tín hữu sau này.  Di ngôn của Chúa không phức tạp dài dòng, chỉ vỏn vẹn mấy câu cốt lõi: Hãy giữ lời Thày.  Hãy yêu mến nhau.  Hãy an tâm, đừng xao xuyến.  Những lời này đã đem lại sức mạnh và nghị lực thiêng liêng cho các môn đệ vào thời Giáo Hội sơ khai, cho các tín hữu suốt bề dày hai mươi thế kỷ và cho chúng ta hôm nay.

Hãy giữ lời Thày!  Đây không phải là lần đầu tiên Chúa nói câu này.  Lắng nghe và thực hành Lời Chúa là lời mời gọi thường xuyên trong giáo huấn của Chúa Giêsu.  Chúa đã so sánh ai nghe và tuân giữ Lời Chúa giống như xây nhà trên đá, luôn vững bền trước mọi phong ba bão táp của cuộc đời.  Nhờ xây dựng đời mình trên Lời Chúa, mà các thánh đạt tới mức hoàn thiện ngay khi còn sống ở đời này.  Lời Chúa vừa ngọt ngào ban niềm vui, nhưng Lời Chúa cũng như “thuốc đắng dã tật,” sửa phạt khi chúng ta lầm lỗi.  Lời Chúa không để cho chúng ta ngủ yên trong vỏ bọc ích kỷ của cái tôi tầm thường nhỏ mọn, nhưng mở rộng tâm hồn để đến với tha nhân.  Đức Maria là một mẫu gương cho chúng ta về việc tuân giữ Lời Chúa.  Thánh Luca ghi lại, khi Mẹ chứng kiến vui buồn xảy đến với Đức Giêsu, Mẹ ghi nhớ và suy niệm trong lòng (x. Lc 2051).  Giữ lời Thày là bằng chứng hùng hồn của tình yêu dành cho Thày.

Hãy yêu mến nhau!  Yêu mến là cốt lõi giáo huấn Kitô giáo.  Đây cũng là lời mời gọi thường xuyên của Chúa Giêsu.  Có thể nói lời mời gọi yêu thương trải dài trên từng trang của Tin Mừng.  Chúa Giêsu không chỉ kêu gọi suông, mà chính Người làm gương cho các môn đệ.  Người đã rửa chân cho các ông vào cuối bữa tiệc ly.  Đây vừa là cử chỉ yêu thương đối với các ông, vừa là một gương mẫu sống động để qua đó, Người khẳng định với các ông: yêu thương và phục vụ đi đôi với nhau.  Ngay từ khi Tin Mừng được loan báo trên quê hương Việt Nam chúng ta, những người lương dân chưa biết danh xưng của tôn giáo mới có nhiều người theo.  Họ căn cứ vào những gì người Công giáo làm hằng ngày mà gọi Đạo Công giáo là “Đạo Yêu Thương.”  Tiếc rằng trong cuộc sống hôm nay, hai từ yêu thương có nguy cơ trở thành câu khẩu hiệu và lý thuyết vô hồn.  Đây đó tại một số nơi, trong các bài phát biểu, các bài viết, người ta nói đến yêu thương như một công thức, còn trong thực tế thì ngược lại.  Tình trạng xung đột, chia rẽ và khép kín của một số cộng đoàn đã làm biến dạng hình ảnh của Giáo Hội Chúa Kitô.

Hãy an tâm, đừng xao xuyến!  Giữa bối cảnh xã hội đầy bất an hôm nay, lời khuyên hãy an tâm dễ bị hiểu như một sự trấn an giả tạo nhằm ru ngủ người nghe.  Tuy vậy, nếu chúng ta có niềm xác tín nơi tình yêu của Chúa, tin Ngài là Đấng dẫn dắt cuộc đời chúng ta, thì làm sao chúng ta còn lo lắng buồn phiền.  Bởi lẽ, lo lắng cũng không làm cho cuộc sống của chúng ta kéo dài thêm, dù chỉ một gang tay (x. Mt 6, 27).  Nếu chúng ta có thể an tâm, là vì chúng ta có ơn Chúa Thánh Thần.  Ngài luôn hoạt động trong Giáo Hội để hướng dẫn Giáo Hội trong cuộc lữ hành trần gian.  Bài đọc I kể lại một biến cố quan trọng trong lịch sử, đó là Công đồng đầu tiên của Kitô giáo, được tổ chức tại Giêrusalem vào khoảng năm 46 sau Công nguyên.  Các tông đồ đã ý thức trách nhiệm của mình trước những ý kiến dư luận trái ngược nhau về những thực hành trong Đạo Do Thái như cắt bì, ăn thịt cúng, tuân giữ Luật ông Môisen… “Văn kiện” đúc kết của Công đồng rất đơn sơ, nhưng nêu rõ “Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định…”  Giáo Hội luôn có Chúa Thánh Thần hướng dẫn suốt bề dày của lịch sử, giữa những thăng trầm thử thách.  Cũng trong những di ngôn, Chúa Giêsu đã hứa: “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.”  Chúa Thánh Thần vừa bảo trợ Giáo Hội, vừa soi sáng cho Giáo Hội nhớ lại giáo huấn của Chúa Giêsu, để luôn thực hành những gì Chúa đã chỉ dạy.

Hãy giữ lời Thày. Hãy yêu mến nhau. Hãy an tâm, đừng xao xuyến.  Khi thực hiện những lời khuyên này, chúng ta cảm nhận sâu xa sự hiện diện của Chúa Giêsu, mặc dù Người đã về trời.  Xác tín vào sự hiện diện và tình yêu thương của Chúa, tuy còn sống ở trần gian, chúng ta đã được hưởng hạnh phúc tương lai.  Trong một thị kiến, Thánh Gioan tông đồ đã thấy những hình ảnh về Giêrusalem (Bài đọc II).  Đây là một cách diễn tả hạnh phúc thiên đàng, ở đó, tình yêu, an bình và chân lý sẽ ngự trị.  Không còn gian dối và mưu mô.  Không còn những toan tính vụ lợi trần tục, nhưng tất cả đều được vinh quang Thiên Chúa bao trùm trong một nghi lễ phụng vụ thiên quốc, tràn đầy hạnh phúc và niềm vui.

“Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy.  Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy.  Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy.”  Hãy nghe những lời tâm huyết của Chúa.  Đó là di ngôn của người sắp đi xa.  Yêu mến Thày là cội nguồn của bình an và là bảo đảm của hạnh phúc hôm nay cũng như suốt đời.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

ĐỨC GIÁO HOÀNG CHỈ CÁCH PHÂN BIỆT ĐƯỢC CHÚA HAY SATAN ĐANG NÓI 

WGPSG /Aleteia — Đức Giáo Hoàng Phanxicô cung cấp một số cách phân định những tiếng nói mà chúng ta nghe thấy trong lương tâm của chúng ta.

Phân biệt được tiếng nói của Chúa với tiếng nói của Satan là một yếu tố cho thấy rất rõ sự trưởng thành tâm linh.  Vào trưa Chủ nhật, trước khi đọc kinh ‘Lạy Nữ Vương Thiên Đàng’, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã đưa ra một bài học nhỏ về sự phân định này:

Chúa nhật thứ tư Mùa Phục sinh hôm nay, chúng ta hướng lòng về Chúa Giêsu Mục tử nhân lành.  Tin Mừng nói rằng: “Chiên nghe tiếng của anh; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra.” (Ga 10: 3).  Chúa gọi tên ta, Ngài gọi ta vì Ngài yêu thương ta.  Nhưng Tin Mừng sau đó cho chúng ta biết, có những tiếng nói khác, không được chiên nghe theo: đó là tiếng của những người lạ, của kẻ trộm và những kẻ có ý làm hại con chiên.

Những tiếng nói khác nhau này cộng hưởng trong chúng ta.  Có tiếng nói của Thiên Chúa, Đấng nói lời tốt lành trong lương tâm, và cũng có tiếng nói cám dỗ dẫn đến cái ác.

Làm thế nào chúng ta có thể nhận biết tiếng nói của mục tử nhân lành hơn là tiếng của kẻ trộm, làm thế nào chúng ta có thể phân biệt lời linh hứng của Thiên Chúa với những gợi ý của ma quỷ?

Người ta có thể học cách nhận ra hai giọng nói này: đó là hai ngôn ngữ khác nhau, với những cách đối nghịch gõ vào cửa trái tim chúng ta.  Hai ngôn ngữ khác nhau: Cũng giống như khi ta phân biệt được ngôn ngữ này với ngôn ngữ khác, ta cũng có thể phân biệt tiếng nói của Chúa với tiếng nói của ma quỷ.

1. Tôi Có Tự Do Không? 

Tiếng nói của Thiên Chúa không bao giờ ép buộc chúng ta: Thiên Chúa đề xuất chính Ngài, Ngài không áp đặt chính Ngài.  Ngược lại, giọng nói ma quỷ thì quyến rũ, tấn công, áp đặt: nó khơi dậy những ảo ảnh rực rỡ, những cảm xúc đầy cám dỗ nhưng chóng qua.

2. Tôi Đang Bị Tâng Bốc? 

Lúc đầu, nó tâng bốc, nó làm cho chúng ta tin rằng chúng ta toàn năng, nhưng sau đó nó khiến chúng ta trống rỗng bên trong và buộc tội chúng ta: Bạn không có giá trị gì cả.  Trái lại, tiếng nói của Chúa sửa chữa chúng ta, với sự kiên nhẫn tuyệt vời, nhưng luôn khuyến khích chúng ta, an ủi chúng ta: nó luôn nuôi dưỡng hy vọng.

3. Tôi Có Đang Nhìn Về Phía Trước? 

Tiếng nói của Chúa là tiếng nói có một chân trời, trong khi giọng nói của ác quỷ dẫn bạn đến một bức tường, nó đẩy bạn vào góc tường.

4. Tôi Có Sống Trong Hiện Tại Không? 

Có một sự khác biệt nữa.  Tiếng nói của ma quỷ làm chúng ta xao lãng khỏi hiện tại và muốn chúng ta tập trung vào nỗi sợ hãi về tương lai, hay nỗi buồn về quá khứ – ma quỷ không muốn hiện tại – nó mang đến sự cay đắng, những ký ức về những sai lầm gây đau đớn, những người đã làm tổn thương chúng ta, và nhiều kỷ niệm xấu.  Ngược lại, tiếng nói của Chúa nói về hiện tại: “Bây giờ con có thể làm tốt, bây giờ con có thể thực hiện được sự sáng tạo của tình yêu, bây giờ con có thể từ bỏ những hối tiếc và hối hận khiến trái tim con bị giam cầm.”  Tiếng nói đó truyền cảm hứng, dẫn ta đi tới, và nói ngay trong hiện tại: ngay bây giờ.

5. Nó Có Nói Về ‘Cái Tôi’? 

Xin nhắc lại một lần nữa: hai tiếng nói đặt ra những câu hỏi khác nhau trong chúng ta.  Tiếng nói từ Thiên Chúa sẽ là: “Điều gì tốt cho tôi?”  Ngược lại, tiếng ma quỷ nhấn mạnh vào một câu hỏi khác: “Tôi cảm thấy như thế nào?”  Điều tôi cảm thấy là: tiếng ma quỷ xoay quanh ‘cái tôi’, thôi thúc, đòi hỏi: mọi sự phải có ngay.  Nó giống như cơn thịnh nộ của một đứa trẻ: mọi thứ phải có ngay bây giờ.  Ngược lại, tiếng Chúa không bao giờ hứa hẹn niềm vui thấp hèn, nhưng mời gọi ta vượt lên trên ‘cái tôi’ của mình để tìm thấy sự tốt lành và bình an thực sự.

6. Nó Để Lại Dư Vị Nào? 

Chúng ta hãy nhớ rằng: cái ác không bao giờ mang lại cho chúng ta sự bình an, nó gây ra sự điên cuồng trước tiên và để lại sự cay đắng sau đó.  Đây là phong cách của cái ác.

7. Tôi Tìm Kiếm Ánh Sáng Hay Bóng Tối? 

Tiếng nói của Chúa và của ma quỷ, cuối cùng, phát ra trong các ‘môi trường’ khác nhau: Ma quỷ thích bóng tối, giả dối và buôn chuyện; Chúa yêu ánh sáng mặt trời, sự thật và sự minh bạch chân thành.

8. Tôi Có Hướng Đến Niềm Tin Tưởng? 

Ma quỷ sẽ nói với ta: “Hãy tự khép mình lại, không ai hiểu và lắng nghe bạn đâu, đừng tin ai cả!”  Ngược lại, Thiên Chúa mời gọi chúng ta mở lòng ra, để hiểu rõ và tin tưởng vào Thiên Chúa cũng như tin tưởng vào người khác.

Anh chị em thân mến, trong thời gian này quá nhiều suy nghĩ và lo lắng khiến chúng ta phải hướng nội vào chính mình.  Chúng ta hãy chú ý đến những tiếng nói đến với trái tim của chúng ta.  Hãy tự hỏi chúng đến từ đâu.  Hãy xin ơn nhận biết và đi theo tiếng nói của Mục Tử nhân lành, Đấng đưa chúng ta ra khỏi vòng vây của sự ích kỷ và dẫn chúng ta đến đồng cỏ của tự do thực sự.

Xin Mẹ Maria, vị Tư vấn tốt lành, hướng dẫn và đồng hành với những phân định của chúng con. 

Kathleen N. Hattrup (Aleteia) / Mạnh Tú chuyển ngữ / Nguồn: WGPSG

THÁNH MATHIA TÔNG ĐỒ

Thánh Mathia là người con út trong số 12 Thánh Tông đồ.  Ngài được chọn để thế chỗ cho Giuđa Iscariô, được 11 tông đồ và cộng đoàn sơ khai bầu chọn.  Cuộc bầu chọn được sách công vụ ghi lại một cách cụ thể như chúng ta vừa nghe trong bài đọc thứ nhất hôm nay (x. Cv 1,15-17.20-26).

1. Việc bầu chọn Thánh Mathia làm Tông đồ

Cuộc bầu chọn có những bước quan trọng sau đây:

Bước thứ nhất, Thánh Phêrô đưa ra điều kiện: Ngài nói:  “Vậy phải làm thế này: có những anh em đã cùng chúng tôi đi theo Chúa Giê-su suốt thời gian Người sống giữa chúng ta,  kể từ khi Người được ông Gio-an làm phép rửa cho đến ngày Người lìa bỏ chúng ta và được rước lên trời.  Một trong những anh em đó phải cùng với chúng tôi làm chứng rằng Người đã phục sinh” (Cv 1, 21-22).  Chúng ta thấy, điều kiện mà Thánh Phêrô đưa ra rất rõ ràng . Người được bầu chọn phải là người đã từng theo Đức Giêsu từ khi chịu phép rửa cho tới khi Ngài lên trời.  Nghĩa là phải hiểu về Giáo huấn và chứng kiến các phép lạ Chúa Giêsu làm trong suốt ba năm cuộc đời công khai.  Đặc biệt, phải chứng kiến cuộc khổ nạn, sự phục sinh và lên trời của Ngài.  Bởi vì người Tông đồ cần làm chứng về những điều đó.

Bước thứ hai, cộng đoàn đề cử: Sau khi lĩnh hội được ý của Thánh Phêrô, cộng đoàn đề cử 2 người là ông Giô-xếp, biệt danh là Ba-sa-ba, cũng gọi là Giút-tô, và ông Mát-thi-a.

Bước thứ ba, cầu nguyện: Cộng đoàn cầu nguyện xin Chúa Thánh Thần soi sáng.  Đây là bước hết sức quan trọng làm cho cuộc bầu chọn này khác với các cuộc bầu chọn thông thường khác.  Cuộc bầu chọn này mang tính thần linh.  Có Chúa Thánh Thần can thiệp.  Chính Chúa Giêsu trước khi chọn các Tông đồ, Ngài cũng đã làm như vậy.  Kinh Thánh kể, Ngài đã cầu nguyện suốt đêm (Mt 10, 1-4; Mc 3,13 -19; Lc 6,12-16).

Bước thứ tư cũng là bước cuối cùng để chọn ra người Tông đồ, đó là rút thăm.  Trong thực tế hôm nay, có nhiều cách để bầu chọn người lãnh đạo.  Cách đơn giản là giơ tay.  Cách thông thường là bỏ phiếu.  Nhưng dù sử dụng cách nào đi chăng nữa vẫn có yếu tố con người trong đó.  Còn việc bầu chọn Thánh Mathia làm Tông đồ, mặc dầu bằng cách đơn giản nhất là rút thăm, nhưng luôn luôn vẫn có yếu tố thần linh, đó là việc của Chúa chứ không phải việc của con người.  Chúng ta liên kết bước thứ tư với ba bước trên sẽ thấy rõ điều đó.

Bài học mà chúng ta rút ra hôm nay: Luôn làm mọi việc dưới sự soi sáng của Chúa Thánh Thần, đặc biệt khi chọn lựa những người làm việc cho Chúa và Giáo Hội phải xin ơn Chúa Thánh Thần soi sáng.  Những lúc đó phải nói được như các Tông đồ: “Thánh thần và chúng tôi quyết định” (x. Cv 15, 28).

2. Mọi người đều được Chúa mời gọi làm Tông Đồ

Chúa Giêsu đã nói với các Tông đồ: “Không phải các con chọn Thầy nhưng chính Thầy đã chọn các con” (Ga 9,16).  Thật vậy, trong ba năm cuộc đời công khai, chính Chúa Giêsu đã chọn các Tông Đồ.  Có khi Ngài chọn cách trực tiếp: Như khi Ngài gặp ông Philipphê và mời gọi ông “Hãy theo Ta” (x. Ga 1,43); Hay khi Ngài gặp ông Lêvi và mời gọi ông “Anh hãy theo Ta” (x. Mc 2,14).  Nhưng cũng có khi Ngài mời gọi các Tông đồ đi theo Ngài qua một trung gian nào đó: Ngài mời gọi Nathanael qua trung gian ông Philipphê (x. Ga 1, 45-51); Ngài mời gọi ông Anrê qua trung gian ông Gioan (Ga 1, 35-37); Ngài mời gọi ông Simon Phêrô qua trung gian ông Anrê (x. Ga 1, 40-42).  Ngày hôm nay, Chúa vẫn tiếp tục mời gọi mọi người làm việc tông đồ qua nhiều trung gian khác nhau, có thể qua gia đình, qua thầy cô giáo, qua bạn bè, đặc biệt là Ngài mời gọi chúng ta qua trung gian Giáo Hội.

Để đón nhận, Giáo hội cũng đưa ra những điều kiện phù hợp với từng ơn gọi, nhất là ơn gọi làm linh mục và tu sĩ.  Điều kiện chung của Giáo luật.  Điều kiện riêng của các Giáo Phận hay của các dòng tu.  Vì vậy, không phải ai cũng đủ điều kiện để làm tông đồ trong ơn gọi linh mục hay tu sĩ (con số này rất ít).  Nhưng mọi người đều được mời gọi chu toàn bổn phận ơn gọi làm người, ơn gọi làm con Thiên Chúa qua Bí tích Rửa tội.  Đa số được mời gọi làm tông đồ trong ơn gọi hôn nhân: Có người được mời gọi làm tông đồ trong vai trò ban hành giáo, giáo lý viên; Có người được mời gọi làm tông đồ trong vai trò bác sỹ, nhà giáo, công nhân; Có khi chúng ta được mời gọi làm tông đồ ở gia đình, ở nhà thờ nhưng cũng có khi chúng ta được mời gọi làm tông đồ nơi chính mình làm việc, nơi trường học, chợ búa….  Trong mọi hoàn cảnh và trong mọi nơi, hãy luôn cố gắng toả sáng việc tông đồ để “sinh hoa trái” cho phù hợp với ơn gọi của mình: Hoa trái của đức công bằng; hoa trái của đức yêu thương, bác ái; hoa trái của sự tha thứ… Để làm được những việc đó, đòi hỏi người tông đồ phải hy sinh, thậm chí có khi phải chấp nhận hy sinh cả tính mạng của mình để làm chứng cho Chúa thì cũng phải sẵn sàng.

Sau khi được bầu chọn làm Tông đồ, Kinh Thánh không nói gì về Thánh Mathia.  Nhưng chắc chắn Ngài đã hết lòng chu toàn bổn phận mà Giáo Hội trao phó, đó là bổn phận loan báo Tin Mừng và đặc biệt Ngài đã hy sinh tính mạng mình để làm chứng cho sự chết và phục sinh của Chúa Giêsu.  Xin Ngài luôn đồng hành và hướng dẫn công việc tông đồ của mỗi người chúng ta.

Lạy Chúa, Thánh Mathia dầu được chọn sau hết nhưng Ngài đã chu toàn bổn phận như mười một Tông đồ khác, đó là hăng say loan báo Tin mừng và làm chứng cho Chúa bằng cái chết.  Mọi người chúng con cũng được kêu gọi tiếp tục sứ điệp của Thánh Mathia.  Xin cho chúng con, dù trong hoàn cảnh và địa vị nào cũng biết chu toàn bổn phận tông đồ để làm sáng danh Chúa.  Amen!

Lm  Anthony Trung Thành

THIÊN CHÚA ĐƯỢC TÔN VINH

Chỉ trong vỏn vẹn có hai câu trong đoạn Tin Mừng Thánh Gioan hôm nay, Chúa Giêsu sử dụng năm lần chữ “tôn vinh/vinh hiển.”  Dựa vào Lời Chúa tiên báo: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu”, Thánh sử Gioan muốn diễn tả giờ phút Chúa chịu khổ hình thập giá cũng là giờ phút Chúa được tôn vinh.  Đó cũng là giờ phút người ta nhận ra Người là Thiên Chúa đích thực.  Nếu Chúa Con đã vâng lời cho đến chết để tôn vinh Chúa Cha, thì qua cuộc phục sinh huyền diệu, chính Chúa Cha tôn vinh Chúa Con, để rồi vinh quang của Chúa lan tỏa trong vũ trụ, nơi con người cũng như nơi vạn vật.  Sự tôn vinh như một dòng chảy giữa Chúa Cha và Chúa Con, và chúng ta, những tạo vật thấp hèn, cũng được chia sẻ vinh quang với Đấng đã chết và sống lại.  Hơn thế nữa, chúng ta được hòa vào dòng chảy hiệp thông và vinh quang của Chúa Ba Ngôi.  Chính vì vậy, càng nỗ lực rao truyền Danh Chúa bao nhiêu, chúng ta càng được thông phần vinh quang của Ngài bấy nhiêu.

Trong quá khứ cũng như trong hiện tại, Thiên Chúa đang được tôn vinh qua những cộng tác của chúng ta để loan báo Tin Mừng.  Sách Tông đồ Công vụ kể lại sức sống mãnh liệt và sự phát triển không ngừng của Cộng đoàn Kitô hữu sơ khai.  Mọi tín hữu, nhất là các tông đồ đều dấn thân đến mọi môi trường xã hội để loan báo Chúa Giêsu phục sinh.  Bài đọc hôm nay kể lại những hoạt động của Phaolô và Barnabê.  Một số địa danh được tác giả nhắc tới cho thấy nỗ lực và lòng nhiệt thành của các ông.  Các ông luôn rảo khắp mọi nơi để thiết lập những cộng đoàn mới.  Đến bất kỳ nơi nào, hai ông “tập hợp Hội Thánh”, tức là quy tụ mọi người thiện chí và kể lại cho họ những gì Thiên Chúa đã làm.  Đức tin vào Chúa Giêsu phục sinh đã vượt qua ranh giới những người Do Thái để đến với các dân ngoại, vì vậy, số người tin Chúa ngày một tăng thêm.  Vinh quang Thiên Chúa tỏ hiện nơi các cộng đoàn và nơi cá nhân mỗi người tín hữu, nhờ đó cộng đoàn đầy tràn sức sống và niềm vui.

Thiên Chúa được tôn vinh khi chúng ta sống hòa thuận yêu thương nhau.  Thánh Irênê đã viết: “Vinh quang Thiên Chúa là con người sống vui.”  Khi khẳng định điều này, vị Giáo phụ Hy Lạp muốn diễn tả: mỗi khi con người sống hạnh phúc và yêu thương nhau, thì vinh quang Thiên Chúa được tỏ hiện.  Cũng vậy, mỗi khi con người nỗ lực thực hiện tình yêu thương và sống hạnh phúc, là họ loan truyền vinh quang Thiên Chúa.  Sau khi nói đến việc Chúa Cha tôn vinh mình, Chúa Giêsu nhắc lại lời mời gọi sống yêu thương.  Giới răn yêu thương còn được nhắc lại trong phần tiếp theo của Tin Mừng (x. Ga 15,17).  Đức Giêsu cũng khẳng định: một khi các tín hữu sống yêu thương nhau, họ sẽ làm cho vinh quang Thiên Chúa tỏ hiện, và những người khác sẽ nhận ra các tín hữu là môn đệ của Chúa.  Thiên Chúa là Đấng vô hình, người ta có thể nhận ra hình ảnh của Ngài nơi đời sống của người tín hữu, ở mức độ cá nhân cũng như tập thể.

Vinh quang Thiên Chúa được tỏ hiện một cách hoàn hảo vào lúc tận cùng thời gian, tức là ngày cánh chung.  Thánh Gioan trong thị kiến đã thấy trời mới đất mới.  Lúc đó, mọi đau khổ và nước mắt sẽ không còn.  Thiên Chúa không còn là Đấng vô hình nữa, nhưng Ngài sẽ hiện diện giữa dân Ngài một cách hữu hình cụ thể (Bài đọc II).  Đó là tương lai mà chúng ta đang hướng tới.  Đó cũng là đích điểm của đời sống Kitô hữu.

Sứ mạng cốt lõi của Chúa Giêsu khi Người được sai đến trần gian là để tôn vinh Thiên Chúa.  Việc rao giảng Tin Mừng và những phép lạ Chúa đã thực hiện là nhằm mục đích thể hiện quyền năng của Chúa Cha và lòng thương xót của Ngài.  Chúa Giêsu đã trung tín thực hiện sứ mệnh được trao, dù phải trải qua thập giá.  Tôn vinh Thiên Chúa cũng là ơn gọi của người Kitô hữu.  Điều này nghe có vẻ khó khăn, nhưng trong thực tế lại đơn giản.  Quả vậy, tôn vinh Thiên Chúa chỉ là đơn giản là cuộc sống đạo đức yêu thương và nhiệt thành tông đồ.  Điều này mọi Kitô hữu đều có thể làm được, nhờ nỗ lực của cá nhân, cộng với ơn phù trợ của Chúa, Đấng đang hiện diện giữa chúng ta.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

CON CỦA SỰ KHÍCH LỆ

“Tôi ban cho chúng sự sống đời đời.”

William Arthur Ward nói, “Hãy tâng bốc tôi, và tôi có thể không tin bạn!  Hãy chỉ trích tôi, và tôi có thể không thích bạn!  Hãy quên bẵng tôi, và tôi có thể không tha thứ cho bạn!  Và hãy khích lệ tôi, tôi sẽ không bao giờ quên bạn!”

Kính thưa Anh Chị em,

“Hãy khích lệ tôi, tôi sẽ không bao giờ quên bạn!”  Thú vị thay!  Các nhân vật của Lời Chúa hôm nay là những con người mà Hội Thánh và thế giới sẽ không bao giờ quên.  Đó là Barnaba, một người được mệnh danh là ‘Con của sự khích lệ’ và Giêsu, một ‘Thiên Chúa của sự khích lệ!’

Barnaba, xuất hiện trong bài đọc Công Vụ Tông Đồ hôm nay, là một trong những nhân vật hấp dẫn nhất của Tân Ước.  Barnaba theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là “Con của sự khích lệ.”  Barnaba có tiếng là đã khích lệ mọi người ông gặp gỡ; điều này được thể hiện rất rõ qua trình thuật hôm nay.  Một điều gì đó vừa xảy ra trong thành Antiôkia, khi những người ngoại giáo tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu.  Từ Giêrusalem, Barnaba được cử xuống để xem xét sự việc.  Ông vui mừng với những gì mắt thấy và đã dành cho các anh em tân tòng một sự khích lệ lớn lao, giục giã họ tin yêu Chúa.  Sau đó, Barnaba lập tức đến Taxô tìm Phaolô, một người mới tin Chúa; Barnaba khuyến khích Phaolô đi Antiôkia để hỗ trợ cho Hội Thánh non trẻ này.  Từ đó, Phaolô trở thành trụ cột hàng đầu của Antiôkia; và “Chính tại Antiôkia, lần đầu tiên, các môn đệ được gọi là Kitô hữu.”  Hội Thánh được khích lệ, mừng vui; Thánh Vịnh đáp ca diễn tả, “Muôn nước hỡi, nào ca ngợi Chúa!”  Thật không sai, Barnaba được gọi là ‘Con của sự khích lệ!’

Với bài Tin Mừng, chúng ta, đoàn chiên Chúa gặp được một sự khích lệ lớn lao nơi Giêsu Mục Tử, “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong; không ai cướp được chúng khỏi tay Tôi.”  Thật an ủi khi biết Chúa Giêsu hết lòng vì chúng ta; Ngài quan tâm đặc biệt đến hạnh phúc tối thượng là “sự sống đời đời” của chúng ta.  Tuy nhiên, chúng ta không chỉ là những con chiên thụ động vì “Chiên của Tôi thì nghe tiếng Tôi”; nghĩa là, chúng ta vẫn có một vai trò nhất định trong mối quan hệ của mình với Thiên Chúa!  Chúa sẽ làm tất cả những gì có thể để gìn giữ chúng ta, nhưng mỗi người cũng có phần của mình trong ‘cuộc chơi!’  Chúng ta phải im ắng đủ để lắng nghe Ngài, qua Phúc Âm, toàn bộ Thánh Kinh, qua từng biến cố, qua từng con người.  Bởi lẽ, ngày nay, có nhiều tiếng nói đang cạnh tranh sự chú ý của chúng ta, chúng ta phải nghe cho được sự khích lệ của Ngài, hầu làm theo Ngài, với niềm tin rằng, sự khích lệ tận tâm của Ngài cho hạnh phúc của chúng ta là vô điều kiện.

Anh Chị em,

Noi gương Chúa Giêsu, ‘Thiên Chúa của sự khích lệ’; bắt chước Barnaba, ‘Con của sự khích lệ’, chúng ta sống một phần của ơn gọi của mình như những người con ‘được gọi để khích lệ.’  Chúng ta khuyến khích nhau trong đức tin, giúp nhau phát triển trong mối tương quan với Chúa, giúp nhau trung thành với ơn gọi làm con Chúa.  Cha mẹ khuyến khích con cái, con cái khuyến khích cha mẹ; anh chị em, bạn bè khuyến khích nhau… cùng nhau hiệp hành trên con đường mang tên Giêsu mà tiến về nhà Cha!  Ước gì chúng ta có một trái tim lặng thinh đủ để nghe rõ ‘tiếng của lòng’ Thiên Chúa và ‘tiếng của lòng’ con người!  Từ đó, dám hy sinh, dám dấn thân, trở nên những người ‘con của sự khích lệ’ cho những ai đang bủn rủn, và đầu gối rã rời!  Như vậy, trong mọi lĩnh vực, ‘mục vụ khuyến khích’ vẫn đóng một vai trò quan trọng, không chỉ ở các Hội Thánh non trẻ, mà cả với Hội Thánh trưởng thành và thế giới hiện đại ngày nay!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho lửa yêu mến Chúa luôn nung đốt lòng con; để ai gặp con, họ gặp được sự khích lệ… để “không bao giờ quên” Chúa, nhưng muốn đến gần Ngài!” Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

CON ĐẺ, CON NUÔI

Nó chạy như bay sang nhà cô Bảy:

– Anh Hoan là con nuôi của Mẹ con sao? Ai nói với cô vậy?
– Vì cô là người đỡ đẻ nên cô biết!
– Cô nói dối! Nhà con đông anh chị em sao lại phải nhận con nuôi?  Cô không được nói bậy, anh con mà biết là con sẽ không tha thứ cho cô đâu, nghe rõ không?

Nó vùng vằng bỏ đi, dáng vẻ thật tội nghiệp, cái đầu nghiêng nghiêng và cứ lắc lắc liên tục.  Chắc có lẽ Nó muốn rũ bỏ những câu nói của cô Bảy hàng xóm và cũng có lẽ…  Nó muốn có một câu trả lời từ Mẹ, nhưng Mẹ Nó đang phải nằm viện vì bệnh cũ tái phát.  Còn Ba, Nó không biết là ông đã rời xa anh chị em Nó từ lúc nào, lớn lên Nó chỉ biết Ba bỏ đi khỏi nhà khi thằng Út Ьị mù đôi mắt mà thôi.

Mẹ Nó là một người phụ nữ xinh đẹp và đôn hậu.  Bà lấy chồng sớm lắm, mới 19 tuổi đã làm Mẹ.  Anh Hai nó tên Hoàng 26 tuổi đang làm việc ở văn phòng trong tòa cao ốc, Mẹ Nó mới gần 50 tuổi, nhìn qua người ta cứ tưởng là chị em cơ đấy.  Chị Ba tên Liên 21 tuổi, xinh đẹp như Mẹ, da trắng tóc dài, đang học năm cuối Đại học Kinh tế.  Anh Tư tên Hoan 18 tuổi, da hơi ngăm ngăm và có khuôn mặt thật đẹp, vuông và trán cao đang học lớp 12, chuẩn bị thi vào Đại học.  Nó tên Hùng,15 tuổi và thằng Út tên Dūng 13 tuổi.

À, Nó hiểu rồi, vì mấy anh chị em nhà Nó da đều trắng, chỉ có anh Tư Hoan là da ngăm đen, cái cô Bảy này nói đùa thôi, thế mà cũng bực mình.  Nó cười… đi vào bệnh viện với Mẹ, thay cho anh Hai về để chở Út đi học ở trường dành cho trẻ em khuyết tật rồi anh đi làm luôn thể!

Đến cửa, Nó nghe Mẹ đang nói chuyện với một người đàn bà lạ, Nó chưa gặp bao giờ.  Nó dừng chân vì nghe Mẹ nói:

– Khi chị bỏ con chị không nghĩ sẽ có ngày này sao? Chị có biết nếu tôi không đến kịp thì thằng Tư đã bị kiến cắn nát người rồi còn đâu.   Máu lạnh, cáс người thật là nhẫn tâm!

Mẹ vò tay lên ngực thở dốc.  Nó chạy vào không để người đàn bà đó chạm tay vào người Mẹ Nó.  Thật đáng ghét mà!!!

Khi tỉnh trí, Nó thấy Mẹ bối rối:

– Con đến lâu chưa, người ta nhờ Mẹ tìm kiếм con bị thất lạc, con à!

Nó nói dối là Nó vừa tới, nhưng Nó lại lộ rõ khuôn mặt thảng thốt, Mẹ quay đi lau giọt nước mắt đang trào ra.  Mẹ cầm tay nó như cầm lấy tay của người đàn ông thực thụ:

– Con đừng bao giờ nói với anh Tư chuyện này nghe chưa con, Mẹ xin con đấy. Tội nghiệp anh nghe con!

Nó gật đầu chắc chắn…

Rồi Mẹ kể cho Nó nghe chuyện anh Tư của Nó:

– Lúc đó Mẹ và cô Bảy cùng làm hộ lý cho Bệnh viện Phụ sản. Mẹ và Ba đã có hai người con là anh hai, chị ba, Ba đi làm ăn xa tận Campuchia.  Mẹ vừa đi làm vừa nuôi con một mình.  Một ngày nọ, khi tan giờ làm Mẹ về gần tới nhà đã 12 giờ khuya, thì có người gọi: có đứa trẻ bị bỏ rơi, kiến bu đầy người!  Theo phản xạ Mẹ chạy đến và quấn chặt đứa bé rồi chạy ngược vào Bệnh viện…  Мay mà kịp!  Rồi thương yêu và Mẹ nhận nuôi thằng bé, đó là anh Tư con.  Đã gần 20 năm sao người ta lại còn trở về đòi nhận con!

– Mẹ nuôi anh Tư bị bà con hàng xóm dị nghị: Mẹ không chính chuyên! Ba cũng nghe lời người ta ruồng rẫy Mẹ, đay nghiến Mẹ…  Ba đã không cho Mẹ, cô Bảy và cơ quan Mẹ giải thích.  Cũng được thôi!  Khi đã không còn tình cảm với nhau thì cố níu kéo cũng vô ích.  Con hiểu điều đó, đúng không con?

– Bù lại , anh Tư con thật kháu khỉnh và thật thông minh, Mẹ và anh chị con vui lòng vì điều đó!

Bất chợt như nghĩ ra điều gì, Nó hỏi:

– Rồi Ba lại về rồi mới đẻ ra con và Út hả Mẹ?

Mẹ cười thật hiền.  Ngừng lại thật lâu, thật lâu như đang nghỉ ngơi cho lại sức.  Mẹ nhìn ra phía xa xăm rồi cầm lấy hai bàn tay Nó, nhìn vào đôi mắt Nó… Mẹ nói:

– Ờ! Nhưng mà là con người kháс đẻ ra.  Con và em Dũng là con của Ba và một người kháс mang về để Mẹ nuôi, người đàn bà đó cũng bỏ đi… khi thấy em vừa sinh ra đời đã bị mù đôi mắt con ạ.  Ba đành ôm hai con về cho Mẹ nhờ Mẹ chăm sóc nuôi dưỡng.  Vậy là gia đình mình có 5 anh chị em đó.  Ba cũng mất rồi, mọi chuyện đối với Mẹ là Ông Trời đã thương và cho Mẹ những đứa con tuyệt vời.  Con hiểu không con?

Trời ơi!  Vậy là…  Nó ngồi lặng đi…  Nó bây giờ mới biết được MÌNH LÀ AI???

Nhưng Mẹ Nó… một người Mẹ không có ai trên đời có thể thay thế được cả.  Nó ôm chặt lấy Mẹ và … khóc!!!

Sưu tầm

MỘT CHỦ CHIÊN – MỘT ĐÀN CHIÊN

Để loan báo Chúa Phục sinh, trước hết các tông đồ tìm đến những người Do Thái, với hy vọng họ sẽ dễ dàng nhận ra Đức Kitô là Đấng Thiên sai mà họ mong đợi.  Quả thật là có nhiều người Do Thái tin vào lời chứng của các tông đồ.  Tuy vậy, có nhiều người lại chống đối và tìm cách gây khó dễ cho việc giảng dạy của các ông.  Tác giả sách Công vụ Tông đồ hôm nay kể về việc các tông đồ rao giảng tại miền Antiôkia và Pixiđia, cách xa Giêrusalem.  Sau khi nghe các ông rao giảng, vào ngày Sa-bát, người đến nghe đông theo cách diễn tả của tác giả là “gần như cả thành tụ họp nghe Lời Thiên Chúa.”

Tin mừng về Chúa phục sinh đã lan rộng và cộng đoàn tín hữu phát triển nhanh chóng.  Trước những hành động ngăn cản và quấy rối của người Do Thái, hai tông đồ Phaolô và Barnaba đã có một quyết định quan trọng: đó là các ông đi đến với dân ngoại.  Đây là một hướng đi mới, đồng thời cũng diễn tả tính hoàn vũ của ơn cứu độ được thực hiện qua Đức Giêsu thành Nagiarét.  Quả vậy, Đức Giêsu không chỉ cứu độ người Do Thái, như nhiều người ngộ nhận.  Người là Đấng Thiên Sai, là Ánh sáng của muôn dân như lời ngôn sứ Isaia đã loan báo.  Người đến để quy tụ muôn người về một mối. Tác giả Tin mừng thứ bốn đã hiểu điều này qua câu nói của thượng tế Caipha: “Điều đó ông không tự mình nói ra, nhưng vì ông là thượng tế năm ấy, nên đã nói tiên tri là Đức Giêsu sắp phải chết thay cho dân, và không chỉ cho dân (Do Thái) mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mát khắp nơi về một mối” (Ga 11, 51-52).

Việc quy tụ muôn người được diễn tả qua hình ảnh chủ chiên và đàn chiên.  “Tôi là mục tử tốt lành.  Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi.”  Đức Giêsu đã diễn tả cộng đoàn những người tin vào Người, giống như một đàn chiên, mà Người chính là Mục tử của đàn chiên ấy.  Mục tử và đàn chiên là hình ảnh rất quen thuộc ở đất nước Do Thái, thời xưa cũng như ngày nay.  Đây cũng là cách so sánh đơn sơ dễ hiểu đối với người bình dân.  Như người mục tử hy sinh sự sống mình để bảo vệ đàn chiên trước sự tấn công của sói dữ và của quân trộm cướp, Đức Giêsu hy sinh mạng sống mình để đem lại sự sống cho đàn chiên.  Người đã tuyên bố: “Khi nào tôi được giương cao khỏi đất, tôi sẽ kéo mọi người đến với tôi.”  Cái chết và sự phục sinh của Chúa là điểm quy tụ muôn dân.  Hai mươi thế kỷ sau biến cố ấy, danh Đức Giêsu được loan truyền khắp thế giới, nơi mọi quốc gia và mọi vùng lãnh thổ.  Đấng chịu đóng đinh đã quy tụ muôn dân.  Đấng đã sống lại đang chuyển tải cho các tín hữu sự sống và niềm vui.  Ai đến với Chúa sẽ tìm thấy hạnh phúc, vì Chúa là Mục tử dẫn đưa chúng ta đến bến bờ hạnh phúc, như mục tử dẫn chiên đến đồng cỏ xanh tươi và suối nước mát lành.

Khía cạnh hoàn vũ của ơn Cứu độ còn được diễn tả qua thị kiến của thánh Gioan tông đồ.  Vị thánh này đã ghi lại trong sách Khải Huyền: “Tôi thấy một đoàn người thật đông đảo không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ.”  Đức tin Kitô giáo đã làm thay đổi quan niệm về ơn Cứu độ nơi người Do Thái, mở ra một nhãn quan mới.  Thiên Chúa là Cha của gia đình nhân loại.  Ngài muốn cho mọi người được hạnh phúc và được cứu rỗi.

Nhờ bí tích Thanh tẩy, người Kitô hữu được kết nạp vào đàn chiên của Chúa, tôn nhận Đức Giêsu là lý tưởng cuộc đời, là Đấng dẫn dắt và chở che.  Như người mục tử dẫn dắt và chăm sóc đàn chiên thế nào, Đức Giêsu cũng dẫn dắt và chăm sóc người tín hữu như vậy.  Những ai xác tín vào lòng nhân hậu và tình thương của Chúa, sẽ được Người xót thương và sẽ tìm thấy bình an hạnh phúc.

Chúa nhật hôm nay cũng là ngày cầu nguyện cho ơn Thiên triệu.  Chúng ta vẫn có thói quen gọi những người sống bậc tu trì là “được Chúa gọi – Thiên triệu.”  Xin cho nhiều bạn trẻ biết lắng nghe tiếng Chúa để quảng đại đáp lại lời Người.  Chúa gọi chúng ta nhiều cách.  Có thể qua cha mẹ, qua bạn bè hoặc qua một sự kiện nào đó đánh động tâm hồn.  Khi cầu nguyện, phân định và nhận ra ý Chúa, chúng ta sẽ trung tín theo Người, và như thế, chúng ta sẽ trở nên thành viên của đàn chiên có Chúa Giêsu là Mục tử.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

TẠI SAO THÁNG NĂM LÀ “THÁNG ĐỨC MẸ”

Đây là lý do tháng Năm được dành riêng kính Đức Trinh Nữ Maria.

Với những người Công Giáo, tháng Năm được biết tới như là “tháng Đức Mẹ,” một tháng đặc biệt trong năm với những thực hành đạo đức đặc biệt được diễn tả trong việc tôn vinh Đức Trinh Nữ Maria.

Tại sao thế?  Tháng Năm được liên kết với Đức Mẹ như thế nào?

Có nhiều yếu tố khác nhau góp phần tạo nên sự liên kết này.  Trước hết, ở Hy lạp và La Mã xưa, tháng Năm được dành để tôn kính các nữ thần ngoại giáo vốn liên hệ tới sự phong nhiêu và thời gian của mùa xuân (đặc biệt là thần Artemis và Flora).  Vốn được kết hợp với những nghi thức khác của người Âu Châu để kỷ niệm mùa xuân mới, ý nghĩa này đã dẫn tới việc nhiều nền văn hóa phương Tây nhìn nhận tháng Năm như là tháng của sự sống và tình mẫu tử.  Quan niệm này có trước đó rất lâu so với sự hình thành “ngày của Mẹ”, dẫu cho dịp lễ hiện đại này liên hệ khá gần gũi tới khát khao sâu xa để vinh danh tình mẫu tử trong suốt những tháng mùa Xuân.

Vào thời Giáo Hội sơ khai, có dấu vết về một dịp lễ lớn kính Đức Trinh Nữ Maria được cử hành vào ngày 15 tháng Năm hàng năm, nhưng mãi cho tới thế kỷ 18, việc tháng Năm có một sự liên kết đặc biệt với Đức Trinh Nữ Maria mới được công nhận rộng rãi.  Theo cuốn Bách khoa Toàn thư Công Giáo, “Sự tôn kính Tháng Năm như hiện tại bắt nguồn từ Rôma, khi ấy vào cuối thế kỷ 18 cha Latomia thuộc Học viện Roma của Dòng Tên đã thực hiện một lời khấn để dâng tháng Năm cho Đức Mẹ để chống lại sự bất tín và thiếu đạo đức giữa những sinh viên.  Từ Rôma, thực hành này lan rộng ra những học viện khác của Dòng Tên và sau đó phổ biến gần như mọi nhà thờ Công Giáo thuộc nghi lễ Latin.”

Tuy nhiên, việc dâng kính trọn một tháng cho Đức Mẹ không phải là một truyền thống mới, vì đã tồn tại một truyền thống trước kia trong việc dành 30 ngày cho Đức Mẹ được gọi là Tricesimum, cũng còn được biết tới như “tháng Đức Bà.”

Những thực hành đạo đức riêng tư khác nhau đối với Mẹ Maria nhanh chóng phổ biến trong suốt tháng Năm, như được ghi lại trong bản Raccolta (bộ sưu tập) – một ấn bản những lời cầu nguyện, được phát hành vào giữa thế kỷ 19.

Tháng Năm này thật là một tháng đặc biệt để dành riêng kính Mẹ Maria rất thánh, tháng đẹp nhất và rực rỡ nhất trong toàn bộ các tháng trong năm.  Lòng sùng kính này đã từng thịnh hành trong toàn các nước Kitô giáo, và giờ đây phổ biến nơi Rôma này, không chỉ trong những gia đình riêng lẻ nữa, nhưng như là một tháng đặc biệt phổ biến trong rất nhiều nhà thờ.  Để khơi dậy nơi mọi người Kitô hữu thực hành lòng sùng kính nhẹ nhàng và thành tâm đối với Đức Nữ Trinh đầy ơn phước, và suy xét vì lợi ích thiêng liêng lớn lao cho họ,  Đức Giáo Hoàng Piô thứ VII đã ban hành một bản Rescript of the Segretaria of the Memorials, vào ngày 21tháng ba năm 1815 đối với mọi tín hữu trong thế giới Công Giáo, những người cách công khai hay riêng tư, nên tôn kính Đức Nữ Trinh Đầy Ơn Phúc với một số lời cầu nguyện sốt mến và tôn kính hay những thực hành nhân đức khác.

Vào năm 1945, ĐTC Piô thứ XII đã khẳng định tháng Năm như tháng Đức Mẹ sau việc thiết lập ngày lễ kính Đức Maria Nữ Vương vào ngày 31 tháng Năm.  Sau Công Đồng Vaticanô II, dịp lễ kính này được dời vào ngày 22 tháng 8, trong khi 31 tháng 5 trở thành ngày lễ kính Đức Mẹ Thăm Viếng.

Tháng Năm có một truyền thống phong phú và là một thời gian thật đẹp trong năm để tôn kính Mẹ Thiên Đàng của chúng ta.

Tác giả:  Philip Kosloski
Chuyển ngữ: Joseph Trần Ngọc Huynh, S.J
Nguồn: https://aleteia.org/2018/05/02/why-is-may-marys-month/