BIẾT RÕ CHÍNH MÌNH

Một ngôi chùa trên núi có nuôi một con lừa, mỗi ngày nó đều ở trong phòng xay thóc lúa vất vả cực nhọc kéo cối xay, thời gian lâu dần, lừa ta bắt đầu chán ghét cuộc sống vô vị này.

Mỗi ngày nó đều trầm tư, “nếu như có thể ra ngoài ngắm xem thế giới bên ngoài, không cần kéo cối xay nữa, như thế thật là tốt biết mấy!”

Không lâu sau, cơ hội cuối cùng đã đến, vị tăng nhân trong chùa muốn dẫn lừa ta xuống núi để thồ hàng, lòng nó hứng khởi mãi không thôi.  Đến dưới chân núi, vị tăng nhân đem món hàng đặt lên lưng nó, sau đó trở về ngôi chùa.  Thật không ngờ, khi những người đi đường trông thấy lừa ta, ai nấy cũng đều quỳ mọp ở hai bên đường cung kính bái lạy.

Lúc bắt đầu, lừa ta không hiểu gì cả, không biết tại sao mọi người lại muốn dập đầu bái lạy nó, liền hoảng sợ tránh né.  Tuy nhiên, suốt dọc đường đều như vậy cả, lừa ta bất giác hiu hiu tự đắc hẳn lên, lòng thầm nghĩ thì ra mọi người sùng bái ta đến thế.  Mỗi khi nhìn thấy có người qua đường thì con lừa lập tức sẽ nghênh ngang kiêu ngạo đứng ngay giữa đường phố, yên dạ yên lòng nhận sự bái lạy của mọi người.  Về đến chùa, lừa ta cho rằng bản thân mình thân phận cao quý, dứt khoát không chịu kéo cối xay nữa.  Vị tăng nhân hết cách, đành phải thả nó xuống núi.

Lừa ta vừa mới xuống núi, xa xa đã nhìn thấy một nhóm người đánh trống khua chiêng đang đi về phía mình, lòng nghĩ, nhất định mọi người đến để nghênh đón mình đây mà, thế là nghênh ngang đứng ngay giữa đường lộ.  Thực ra, đó là đoàn người rước dâu, đang đi lại bị một con lừa chắn ngang đường, người nào người nấy đều rất tức giận, gậy gộc tới tấp…  Lừa ta vội vàng hoảng hốt chạy về chùa, khi về đến nơi thì cũng chỉ còn lại chút hơi tàn.  Trước khi chết, nó căm phẫn nói với vị tăng nhân rằng: “Thì ra lòng người hiểm ác đến thế, lần đầu khi xuống núi, mọi người đều cúi đầu bái lạy ta, nhưng hôm nay họ lại ra tay tàn độc với ta đến thế,” nói xong liền tắt thở.  Vị tăng nhân thở dài một tiếng: “Thật đúng là một con lừa ngu ngốc!  Hôm đó, thứ mà mọi người bái lạy chính là bức tượng Phật được ngươi cõng trên lưng mà thôi.”

*************************************

snhn1Điều bất hạnh lớn nhất trong đời người, chính là cả một đời mà không nhận thức được bản thân mình.  Đôi khi chúng ta là chính mình, nhưng cũng có những lúc ta đánh mất bản thân, có những lúc để nhận thức được bản thân còn khó hơn cả việc nhận thức được thế giới chung quanh.  Mỗi ngày chúng ta đều soi gương, nhưng khi soi gương, có ai từng hói bản thân mình một câu rằng: “Bạn đã nhận thức được chính mình chưa?”

– Nếu như bạn có tiền tài, điều người ta sùng bái chẳng qua là tiền tài của bạn, chứ không phải chính bản thân bạn, nhưng bạn lại ôm ảo vọng rằng họ đang sùng bái mình.

– Nếu như bạn có danh vọng, điều người ta tôn kính chẳng qua là danh vọng của bạn, chứ không phải chính bạn, nhưng bạn lại lầm tưởng rằng người khác đang tôn kính mình.

– Nếu như bạn có dung mạo đẹp đẽ, điều người ta mến mộ chẳng qua chỉ là dung mạo đẹp đẽ mà tạm thời bạn đang có, chứ không phải chính bạn, nhưng bạn lại hoang đường cho rằng người khác đang ngưỡng mộ chính bản thân mình.

Khi tiền tài, danh lợi, vẻ đẹp của bạn không còn nữa, thì cũng là lúc bạn bị vứt bỏ…… có bao giờ bạn nghĩ đến điều ấy?  Điều mà người khác tôn sùng chẳng qua chỉ là những ước muốn trong tâm của họ, chứ không phải là chính bạn.

– Giá trị một con người xuất phát từ nội tâm chứ không phải những thứ bề ngoài, lao tâm khổ sở vì nó thật là điều bất hạnh nhất trên đời.  Vậy nên nhìn rõ chính mình là điều vô cùng quan trọng và cần thiết vậy!

Mây Vô Danh

*************************************

Xin cho con biết Chúa, xin cho con biết con
biết Chúa là Thiên Chúa độc nhất là Cha là Chúa trời đất
biết Chúa Vua muôn loài biết Chúa thương con người
biết Chúa là tạo hóa là đấng sinh thành nên con

Biết con là tạo vật một đời sống kiếp con người
biết con không là gì chỉ là bụi cát mà thôi
biết con thân phàm hèn mỏng giòn muôn vàn yếu đuối
biết con bao tội tình để lòng xao xuyến khôn nguôi.

HỌ HẾT RƯỢU RỒI

Chúa mến chuộng dân Người.  Không những Người sinh xuống thế làm người để ở với chúng ta, Người còn chia sẻ với chúng ta trong mọi niềm vui nỗi buồn trong cuộc sống hằng ngày.  Đó là niềm an ủi và hi vọng của chúng ta.  Như hôm nay, Người và Mẹ Người cùng đến dự tiệc cưới.

Tiệc cưới Cana hết rượu phải đối mặt với thất bại và bất hạnh.  Nhìn vào tình hình thế giới đầu năm nay ta thấy không khác gì một đám cưới hết rượu.  Ta cũng đang đối mặt với thất bại và bất hạnh.  Không dám nói với Chúa vì tình hình tồi tệ này là hậu quả của việc ta đã không vâng nghe Lời Chúa, không thực hành Lời Chúa.  Ta chỉ còn biết nhờ Đức Mẹ đệ đạt lên Chúa tình trạng thiếu thốn của ta, giống như Người đã đệ đạt nỗi thiếu thốn của đám cưới Cana.

snhnThưa Mẹ, chúng con đã hết rượu.  Thế giới hôm nay đã hết rượu tự do dân chủ.  Chúng con chỉ còn thứ nước lã nhạt phèo những lời hứa hẹn suông.  Thế giới hôm nay đã cạn hết rượu tài nguyên phong phú.  Trái đất chỉ còn là thứ nước lã khô cằn.  Rừng cây bị đốn ngả nghiêng.  Khoáng sản bị khai thác đến tận cùng.  Cả đến bầu khí quyển cũng bị thương tổn nặng nề.  Thế giới đã hết rượu hoà bình.  Chiến tranh nối tiếp chiến tranh . Chiến tranh nóng dẫn đến chiến tranh lạnh, mở sang chiến tranh khủng bố và miên man với chiến tranh kinh tế.  Thương trường trở thành chiến trường khốc liệt. Thiên hạ đã quá chén uống cạn nguồn tài chính nên thế giới hôm nay phải đối mặt với đói nghèo.

Đất nước chúng con đang thiếu rượu.  Những người cầm quyền đã uống quá chén quyền lực nên tự do dân chủ chỉ còn là nước lã hứa hẹn nhạt thếch.  Những nhóm lợi ích quá chén tham lam nên đa phần dân chúng phải uống thứ nước lã nghèo khổ, túng thiếu.  Xã hội chẳng còn một giọt rượu đạo đức, chỉ còn thứ nước lã giả dối, cá nhân, ích kỷ và hưởng thụ.

Cả đời sống tu trì của chúng con cũng đang thiếu rượu trầm trọng.  Chúng con không tích trữ đủ rượu lý tưởng nên vào đời tu, thay vì tìm Chúa, chúng con lại biến Chúa thành phương tiện để tìm những thứ khác.  Chúng con thiếu rượu yêu mến nên cuộc sống tu trì trở nên bế tắc, giờ kinh giờ lễ trở nên gánh nặng thay vì niềm vui.  Thiếu thứ rượu quên mình vì Chúa nên chúng con quên Chúa vì mình.  Đã cạn rượu tu đức nên thay vì vào tu viện để tìm quên mình nhưng không biết từ lúc nào chúng con chỉ biết đòi hỏi.  Rượu bác ái huynh đệ chưa đủ dùng mà chúng con lại quá chén nên thay vì xây dựng chúng con lại tàn phá cộng đoàn, thay vì nâng đỡ anh em, chúng con lại xét nét bắt bẻ nhau, thay vì quan tâm để giúp nhau thăng tiến, chúng con lại lườm nguýt chành choẹ nhau.  Đi tu để thuộc trọn vẹn về Chúa, nhưng hình như chúng con đang thuộc về thế gian.  Đi tu để chiến đấu với Ác thần nhưng hình như chúng con đang tùng phục nó.  Chúng con đã hết rượu xin Mẹ cầu khẩn Chúa cho chúng con.

Chắc chắn Đức Mẹ sẽ nói với Chúa.  Nhưng Đức Mẹ vẫn quay lại dặn dò chúng ta: “Người bảo gì, các con cứ việc làm theo.”   Sau cùng, Đức Mẹ đưa ta trở lại cốt lõi của vấn đề, đó là trở về với Chúa, phải lắng nghe và thực hành Lời Chúa ta mới giải quyết được bế tắc của thế giới, của xã hội, của cộng đoàn và của chính bản thân ta.

Hãy xem Chúa bảo ta làm gì.  Thật lạ lùng, Chúa bảo các gia nhân múc nước đổ đầy các chum đựng nước rửa chân tay.  Sao thế nhỉ?

Múc nước là công việc tầm thường nhất.  Qua đó, Chúa muốn bảo chúng ta đừng lo toan những chuyện đội đá vá trời, hãy làm những việc tầm thường nhất, những việc ai cũng chê bỏ, những việc bổn phận hằng ngày.  Rượu là bữa tiệc lớn.  Nước lã là công việc tầm thường hằng ngày đến chán ngấy.  Thế nhưng Chúa bảo chúng ta muốn có rượu ngon ngày lễ trọng, hãy làm những công việc tầm thường, nhàm chán hằng ngày, những việc âm thầm chẳng ai biết đến.

Múc nước là công việc vô ích nhất.  Vì tiệc đã gần tàn, người ta đã rửa chân rửa tay từ khi mới vào. Chúa muốn ta làm những việc xem ra vô ích vì Chúa chỉ muốn một điều là ta vâng lời.  Vâng lời trọng hơn của lễ.  Ý Chúa mới là quan trọng.  Công việc chỉ là ta thực hiện thánh ý Thiên Chúa.  Chính thánh ý đem lại niềm vui và hạnh phúc.

Múc nước là việc phục vụ khiêm nhường nhất.  Dùng để rửa chân tay cho khách.  Chúa muốn chúng ta biết quan tâm đến người khác trong những điều nhỏ nhặt nhất.  Trong bài Sách Thánh, Thánh Gioan buộc ta phải cầu nguyện cho người anh em lầm lỗi: “Nếu ai biết anh em mình phạm thứ tội không đưa đến cái chết, thì hãy cầu xin, và Thiên Chúa sẽ ban sự sống cho người anh em ấy.”  Như thế, chúng ta không chỉ xin rượu cho bản thân mà còn phải xin rượu cho nhau nữa.  Và Thánh Gioan khích lệ ta cầu xin, hãy “mạnh dạn cầu xin vì Chúa sẽ nhậm lời khi ta xin điều hợp ý Chúa.”

Múc nước là việc làm không thể thiếu trong bữa tiệc.  Nước rửa chẳng có giá trị gì nhưng lại không thể thiếu.  Những việc tầm thường ta làm không đáng kể, nhưng góp phần xây dựng cộng đoàn và xây dựng chính bản thân mình khi ta làm vì Chúa, vì anh em.  Khi ta làm mọi việc tầm thường theo ý Chúa, Chúa sẽ làm cho những tầm thường, nhạt nhẽo trở thành thứ rượu ngon cho thế giới, cho cộng đoàn và cho bản thân ta.

Lạy Chúa, xin ban cho thế giới rượu mới bình an và thịnh vượng.  Xin ban cho quê hương Việt Nam rượu ngon tự do, dân chủ và hạnh phúc.  Xin ban cho Giáo hội Việt Nam rượu đức tin, hiệp nhất và phát triển.  Xin ban cho Đan viện chúng con rượu mới thinh lặng cầu nguyện và huynh đệ bác ái. Xin ban cho mỗi người chúng con rượu mới sốt sắng, yêu mến và chỉ tìm một mình Chúa là hạnh phúc đích thực của chúng con.  Amen.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

LUPE

“Hãy đuổi con mẹ Jo đó ra khỏi chỗ này đi, nó hôi như cứt vậy, chẳng ai chịu nổi,” những người vô gia cư khác phàn nàn về cô Jo với bà Lupe.  Bà Lupe làm thiện nguyện trong phòng tắm nữ dành cho người vô gia cư cũng được cả năm rồi, đây là một trong các chương trình của Bánh và Cá (Loaves & Fishes) ở thành phố Sacramento, California, dưới sự điều hành của Nữ tu Libby Fernandez.  Người ta xua đuổi Jo cũng phải vì thật sự cô ta hôi quá, khi Jo đi khập khiễng đến quầy gặp bà Lupe để nhận khăn tắm và xà bông, bà cũng phải nín thở để chào Jo và đưa đồ cho cô ta.  Hình như Jo không tắm rửa gì cả tháng rồi.

Jo khệ nệ lê lết thân xác to lớn của mình vào phòng tắm, ngồi trên cái băng ghế tắm dùng cho người già và khuyết tật.  Loay hoay mãi không cởi đồ được, Jo đành phải nhờ một cách ngại ngùng: “Bà Lupe ơi, nhờ bà giúp cởi đồ cho tôi được không?”  Ngần ngừ giây lát rồi bà cũng ráng đến giúp cho cô.  Khi cởi áo Jo, bà mới thấy rõ cái vai phải của Jo đã bị trật qua một bên đã nhiều năm rồi, nên lâu nay Jo không thể giơ cánh tay lên snhn1được nữa, và đó là lý do Jo không thể tự cởi đồ hay tắm giặt gì được.

“Nhờ bà tắm cho tôi được không?” Jo lại vụt miệng nhờ nữa.  Quả là khi giúp cởi đồ cho Jo, bà Lupe cũng đã choáng váng với cái mùi hôi không tưởng của cô rồi, thế mà bây giờ lại còn nhờ tắm giúp nữa, với lại bà cũng chưa hề tắm cho ai, ngoại trừ hồi xưa tắm cho hai đứa con nhỏ của bà.  Nhìn Jo thấy thương quá nên qua vài giây im lặng ngại ngùng, bà cũng ráng giúp tắm cho Jo.

Tắm cho Jo là một tình huống rất đặc biệt.  Thân hình của Jo to gấp bốn lần bà Lupe với những lớp mỡ chảy trệ xuống, tắm cho Jo như tắm cho một khối thịt khổng lồ vậy.  Bà Lupe bắt đầu dùng vòi sen xả nước ấm lên người Jo.  Jo ngồi im lặng thưởng thức từng giọt nước ấm tưới lên cơ thể mình, và tận hưởng bàn tay xoa xà bông và chà xát của bà Lupe lên người cô.

Hồi đầu bà Lupe chỉ tính giúp qua loa cho mau thôi để còn đi làm các công việc khác vì bà không cảm thấy thoải mái với chuyện tắm rửa này, nhưng rồi bà chợt nhận ra bà đang bước vào một vùng đất “rất thánh”, như xưa kia Môsê ở trong sa mạc gặp gỡ Thiên Chúa nơi bụi gai cháy rực.  Bà nghe như Chúa đang nói với mình: “Con ơi, hãy cởi giày ra, vì nơi con đứng là vùng đất thánh.”  Ở nơi sa mạc đầy sỏi đá và gai góc, mà cởi giày ra đi chân không thì phải bước từng bước một cẩn thận và mắt luôn nhìn xuống đất để tránh không giẵm phải đá và gai sắc nhọn.  Bà Lupe nhận biết bà đang đi vào “vùng đất thánh” của Jo và bà cần phải “cởi giày ra” để bước đi từng bước chậm rãi từ tốn, nhẹ nhàng và kỹ lưỡng để Jo không bị tổn thương.  Bà tháo đôi găng tay cao su y tế đang mang để chạm vào thân thể Jo bằng chính đôi tay trần của mình.

Bà Lupe đã ở với Jo gần nửa tiếng trong cái không gian nhỏ bé đó, và cái kinh nghiệm của những giây phút thánh thiêng đã để lại một dấu ấn sâu xa, ngọt ngào cho bà trong suốt tuần lễ.  Bây giờ thì không còn là chuyện tắm cho Jo nữa, mà là cả một câu chuyện gặp gỡ thiêng liêng giữa bà với Jo trong cái không gian chập hẹp và trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó.  Bà có cảm tưởng như thời gian dừng lại.  Cùng với những giọt nước mắt thổn thức như đang muốn trào ra, bà như muốn nuốt trọn vào tâm hồn từng hơi thở của một cuộc đời bị xã hội khinh rẻ và bỏ rơi của Jo vào lòng.  Bà ngỡ ngàng vì Chúa đến với bà trong một tình huống khó tả và nhạy cảm như vậy.  Bà có cảm tưởng như bà là Thiên Chúa đang chạm bàn tay từ ái vào một tội nhân đáng thương bị con người ruồng bỏ.  Đồng thời bà cũng cảm nhận bà chính là Jo, bà đang ngồi đó và được Thiên Chúa chạm vào thể xác cũng như tâm hồn để xóa sạch những vết bùn nhơ, bóng tối tội lỗi và hận thù trong lòng bà.  Lúc đầu bà tưởng bà ra tay giúp Jo, không ngờ chính Jo đang giúp bà gặp gỡ Thiên Chúa của bà.  Bà nghe văng vẳng đâu đó như có tiếng các Thiên Thần đang xướng ca…

Lạy Chúa, trong một năm vừa qua, Chúa đã đi ngang qua nhà con nhiều lần lắm nhưng mấy khi con nhận ra Chúa vì con quá bận rộn và say mê với những chương trình của con.  Đã mấy lần con thấy Chúa nhưng con không tha thiết ở lại trong những khoảnh khắc thánh thiêng ấy để chiêm ngắm Chúa.  Con đã để những giây phút thánh và không gian thánh ấy qua đi quá dễ dàng trong đời con.

Lạy Chúa, hôm nay đã bắt đầu bước qua năm mới rồi, năm mà Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi mỗi người tín hữu sống với tâm tình “Lòng thương xót Chúa.”  Xin giúp con biết dừng chân lại để biết nhận ra và thưởng thức những cuộc gặp gỡ nhỏ bé, thầm lắng, chóng vánh, nhưng thật thánh thiêng vì Chúa đang tỏ lòng thương xót Chúa cho con.  Xin Chúa tiếp tục dạy bảo con biết chia sẻ lòng thương xót Chúa mà con đã được nhận nhưng không, cho những anh chị em con gặp gỡ mỗi ngày, nhất là những anh chị em nghèo khổ và bị ruồng bỏ, đặc biệt trong năm Thánh này.

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.

January 1, 2016

 

KINH NĂM THÁNH LÒNG THƯƠNG XÓT

WHĐ (07.05.2015) – Đức Thánh Cha Phanxicô đã soạn một bản kinh để giúp các tín hữu cầu nguyện trong Năm Thánh Lòng Thương Xót (từ 08-12-2015 đến 20-11-2016).  Trong lời kinh, Đức Thánh Cha nài xin Chúa làm cho Năm Thánh Lòng Thương Xót trở nên một năm hồng ân để Hội Thánh “thêm lòng nhiệt thành mang Tin Mừng đến với người nghèo, loan báo tự do cho những người bị giam cầm và áp bức, và cho người mù lại được nhìn thấy”.

Sau đây là toàn văn kinh nguyện này:  (bản dịch tiếng Việt đã được các Đức giám mục Việt Nam chấp thuận trong Hội nghị Thường niên kỳ II năm 2015 tại Toà Giám mục giáo phận Xuân Lộc)

Lạy Chúa Giêsu Kitô, snhn1
Chúa dạy chúng con phải có lòng thương xót như Cha trên trời, và ai thấy Chúa là thấy Chúa Cha.

Xin tỏ cho chúng con thấy dung nhan của Chúa và chúng con sẽ được cứu độ. Ánh mắt đầy yêu thương của Chúa đã giải thoát ông Zakêu và thánh Matthêu khỏi ách nô lệ bạc tiền; làm cho người đàn bà ngoại tình và thánh Mađalêna không còn tìm hạnh phúc nơi loài thụ tạo; cho thánh Phêrô khóc lóc ăn năn sau khi chối Chúa, và hứa ban thiên đàng cho kẻ trộm có lòng hối cải.

Xin cho chúng con được nghe những lời Chúa đã nói với người phụ nữ Samaria, như thể Chúa đang nói với mỗi người chúng con: “Nếu con nhận ra hồng ân của Thiên Chúa!” Chúa chính là gương mặt hữu hình của Chúa Cha vô hình, Đấng biểu lộ quyền năng của Ngài trước hết bằng sự tha thứ và lòng thương xót:

Xin làm cho Hội Thánh phản chiếu gương mặt hữu hình của Chúa trên trái đất này. Chúa là Đấng phục sinh vinh hiển.
Chúa đã muốn các thừa tác viên của Chúa cũng mặc lấy sự yếu đuối để có thể cảm thông với những người mê muội lầm lạc, xin làm cho tất cả những ai tiếp cận với các ngài đều cảm thấy họ đang được Thiên Chúa quan tâm, yêu mến và thứ tha.

Xin sai Thần Khí Chúa đến xức dầu thánh hiến mỗi người chúng con, để Năm Thánh Lòng Thương Xót này trở thành năm hồng ân của Chúa cho chúng con;
và để Hội Thánh Chúa, với lòng hăng say mới, có thể mang Tin Mừng đến cho người nghèo, công bố sự tự do cho các tù nhân và những người bị áp bức,
trả lại ánh sáng cho kẻ mù lòa.

Lạy Chúa Giêsu, nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria, Mẹ của lòng thương xót, xin ban cho chúng con những ơn chúng con đang cầu xin. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị cùng Chúa Cha và Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.

Đức giáo hoàng Phanxicô

THỜI ĐẠI ÂN SỦNG

Sự kiện Chúa Giêsu chịu Phép Rửa là gạch nối giữa giai đoạn quan trọng: sống ẩn dật và rao giảng công khai.  Sau 30 năm sống âm thầm với gia đình tại Nadarét, Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ loan báo Tin Mừng.

Lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa cũng là gạch nối giữa hai mùa: Giáng sinh và Thường niên.  Giáo Hội đã cùng sống với Chúa Giêsu qua các biến cố Giáng Sinh và Hiển Linh.  Hôm nay Chúa nhật I thường niên, Giáo Hội sẽ cùng đồng hành với Người qua các biến cố của đời rao giảng.

Chúa chịu Phép Rửa tại sông Giođan mở ra một thời đại ân sủng cho nhân loại.

  1. Sông Giođan

Trong các dòng sông nổi tiếng khắp thế giới thì Giođan bé nhỏ là dòng sông quen thuộc nhất đối với người Kitô hữu.  Dòng sông ấy gắn liền với những sự kiện quan trọng của Thánh Kinh.

Như một thân thể của xứ Palestine, sông Giođan góp phần quan trọng trong lịch sử Israel ngay từ những ngày đầu Thiên Chúa chọn dân Do thái.  Từ Giođan chuyển từ tiếng Do thái là “hayyarden” có nghĩa “chảy xuôi dòng thời gian.”  Kinh Thánh nói nhiều đến dòng sông này.  Khởi đầu là việc liên hệ giữa Abraham và ông Lot ở sông Giođan (St 13, 10).  Giacob từ Kharan trở về đã vượt qua sông Giođan.  Các chi tộc vượt sông Giođan cách kỳ diệu dưới sự hướng dân của Giosuê (Gs 3, 14-17).  Con sông là ranh giới vì dân du mục vượt qua sông vào Cannaan để cướp bóc.  Người Israel tìm nơi nương náu bên kia tản ngạn sông Giođan (Tl 6, 33; 2Sm 17, 22) và được xem như sự che chở: “Trong bụi rậm sông Giođan…” (Gr 12, 5; 49, 19; 50, 44). Tướng quân Naaman nước Aran nghe lời ngôn sứ Êlisa xuống sông tắm 7 lần nên được khỏi bệnh phong hủi (2V 5, 1-19).  Ngôn sứ Êdêkiel diễn tả sức sống sung túc của sông Giođan, nước sông chảy đến đâu thì trao ban sự sống đến đó (Ed 47).

  1. snhn3Chúa Giêsu chịu Phép Rửa

Chính tại dòng sông Giođan bé nhỏ, Chúa Giêsu đã đến khai mạc sứ vụ công khai bằng cách đón nhận phép rửa bởi Gioan Tẩy Giả.  Ngôi Lời Thiên Chúa từng bước xuống dòng nước ấy, chỗ thấp nhất không chỉ về địa lý không gian nhưng còn thấp cả chiều sâu tâm lý và chiều kích tương quan xã hội.

Nếu đem so sánh với sông Cửu Long mênh mang thuyền qua lại thì dòng nước Giođan nơi Gioan làm phép rửa cho Chúa Giêsu có thể gọi là con kênh nhỏ.  Nếu đặt bên cạnh sông Hồng cuồn cuộn xiết chảy thì dòng Giođan chỉ là con lạch.  Nếu đứng kề bên sông Hương thơ mộng lững lờ trôi thì Giođan chỉ là con suối nhỏ.  Đứng bên bờ này sông Giođan ném hòn đá qua bờ kia, nó có thể đi xa hơn.

Thế mà Chúa Giêsu đã chọn dòng nước bé nhỏ này, không phải như Môisen hay Giôsua giơ tay cho dòng nước rẽ đôi, nhưng để dìm mình xuống dòng nước nhỏ cùng với đoàn người chịu phép rửa của Gioan Tẩy Giả.

Thiên Chúa, Đấng cho Cửu long giang tuôn chảy tưới mát đồng bằng miền Nam; Đấng cho sông Hồng tuôn nước lũ bồi đắp phù sa cho đồng bằng miền Bắc; Đấng cho Hương giang lững lờ lãng mạn gợi hồn thơ đã chọn dìm mình vào dòng nước Giođan bé nhỏ.

Thật lạ lùng, trong số những người đến “xưng thú tội lỗi” (Mc 1, 5) và chịu “phép rửa sám hối để được ơn tha tội” (Mc 1, 4) lại có Chúa Giêsu.  Người là Đấng Thánh, là Thiên Chúa, siêu việt tuyệt đối, tại sao lại đến xin Gioan làm phép rửa sám hối?  Người là Đấng mà Gioan “không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Ngài” lại có thể đứng chung với đám đông người tội lỗi chờ đến lượt mình được chịu thanh tẩy?

Trong đêm Giáng sinh chúng ta đã chứng kiến một Thiên Chúa hạ mình xuống làm người, sinh ra nơi hang đá máng cỏ, làm một người nghèo hèn bé nhỏ, dường như chưa đủ đối với tình yêu thương vô biên của Thiên Chúa.  Hôm nay, Người lại hạ mình xuống thêm một bậc nữa, xuống tận cùng xã hội nhân loại khi đến xin Gioan làm phép rửa cho mình như một người dân tầm thường và tội lỗi.  Và đã xuống bậc tận cùng khi Chúa hạ mình thẳm sâu chấp nhận chết trên thập giá vì yêu thương nhân loại.

Biết nói gì về Người bây giờ nếu không phải là cúi đầu cảm phục và tôn thờ sự khiêm hạ thẳm sâu đó của Ngôi Hai làm người!

  1. Thời đại ân sủng

Trước sự hạ mình thẳm sâu của Chúa Giêsu, Chúa Cha đã tôn vinh Người bằng lời tuyên bố: “Đây là con Ta yêu dấu” và sai phái Thánh Thần hiện xuống dười hình chim bồ câu.  Ba dấu hiệu mà Phúc Âm nêu lên không những tiên báo sự sống lại vinh hiển của Đức Kitô mà còn tiên báo thời đại ân sủng mà Người mang đến cho loài người.

                  a. Dấu hiệu 1: Trời mở ra.

Sách Sáng Thế viết: Ađam và Evà phạm tội, cửa thiên đàng đóng lại (St 3,23-24).  Qua biết bao thế kỷ, Dân Chúa đã thiết tha cầu nguyện “Ôi ước chi Ngài xé rách các tầng trời và ngự xuống” ( Is 64, 1).  Nhờ Chúa Kitô, từ nay trời mở ra, một kiểu nói của Thánh Kinh ngụ ý là, con người từ nay được sống thông hiệp với Thiên Chúa.

                 b. Dấu hiệu 2: Thánh Thần ngự xuống như chim bồ câu.

Sách Sáng Thế viết: Trước khi tạo dựng trời đất, thì “Thánh Thần Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước” (St 1, 2) như để thông truyền sức sống.  Khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, Chúa Thánh Thần ngự xuống dưới hình chim bồ câu với ngụ ý: Chúa Giêsu là con người mới và trong Người nhân loại sẽ được tạo dựng lại, sẽ được đổi mới.  Chính Thánh Phaolô xác định: “Điều quan trọng chẳng phải là việc cắt bì hay không cắt bì, nhưng là trở thành tạo vật mới” (Gal 6, 15).

                c. Dấu hiệu 3: Lời của Chúa Cha: “Con là con yêu dấu của Ta…”

Qua lời tuyên bố này, chúng ta nhận biết Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.  Trong lời giảng dạy, Chúa Giêsu cho biết: những ai tin vào Người và nhận phép rửa nhân danh Người thì cũng được thông phần vào địa vị làm con Thiên Chúa.

Khi Chúa Giêsu chịu Phép rửa, trong giờ phút cảm động ấy, cả Ba Ngôi Thiên Chúa cùng xuất hiện.  Phép rửa của Chúa Giêsu là mặc khải đầu tiên về Ba Ngôi Thiên Chúa.  Đây là lần đầu tiên trong Kinh Thánh Ba Ngôi Thiên Chúa đồng hiện diện.  Các Giáo Hội Đông Phương cử hành phép rửa của Chúa Giêsu như một ngày Lễ Ba Ngôi; và chính dưới dấu chỉ Ba Ngôi mà phép rửa Kitô giáo được ban “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.”

Chúa Thánh Thần như chim bồ câu đáp xuống.  Chúa Thánh Thần là tình yêu.  Chúa Thánh Thần ngự xuống trên ai là dấu chỉ Thiên Chúa ưu ái người ấy.  Chúa Cha công khai xác nhận sự ưu ái với Chúa Con: “Đây là Con Ta yêu dấu.”  Ba Ngôi liên kết trong một tình yêu hiệp thông.  Chúa Giêsu hoạt động dưới tác động của Chúa Thánh Thần để thi hành thánh ý Chúa Cha.  Có thể nói cả Ba Ngôi đều hoạt động trong Chúa Giêsu Kitô.  Cả Ba Ngôi đều tham gia vào công trình cứu độ con người.

Từ xưa trong Cựu ước, Chúa Thánh Thần ngự xuống là để trao ban một sứ mệnh.  Hôm nay, Chúa Giêsu cũng nhận lãnh một sứ mệnh, đó là cứu độ nhân loại, là “mở mắt cho người mù,” là “đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ,” là “dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngồi trong bóng tối tăm.”

Chúa Giêsu không đến trong thái độ phô trương quyền lực, nhưng đến trong sự hiền lành khiêm nhường.  Người đến không phải để lên án nhưng để tha thứ.  Người đến không phải để giết chết nhưng để cứu sống như lời tiên tri Isaia: “Cây lau bị dập, Người không bẻ gãy.  Tim đèn leo lét, Người chẳng nỡ tắt đi.”

Phép rửa trong nước mà Chúa Giêsu đón nhận bởi thánh Gioan Tẩy Giả trở nên phép rửa trong Chúa Thánh Thần, khuôn mẫu và nguyên mẫu phép rửa Kitô giáo.

Ngày chúng ta được lãnh nhận bí tích Rửa Tội, màn đêm tội lỗi vây phủ bị xé ra, Ba Ngôi Thiên Chúa đến với mỗi người, ban cho chúng ta cuộc sống thần linh, cho chúng ta được vinh dự làm con Thiên Chúa, được kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa.  Ngày chúng ta được lãnh nhận bí tích Rửa tội, Chúa Thánh Thần cũng đã trao cho chúng ta một sứ mệnh, đó là sống xứng đáng một người con hiếu thảo của Thiên Chúa, là tiếp tục công việc của Chúa Giêsu trong công trình cứu độ.

Chúa Giêsu là gương mẫu một người con hiếu thảo.  Người luôn sống thân mật với Chúa Cha, luôn kết hiệp với Chúa Cha trong kinh nguyện hằng ngày, luôn thi hành thánh ý Chúa Cha.  Người đã vâng lời Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá.

Noi gương Chúa Giêsu, chúng ta luôn kết hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi, luôn thi hành thánh ý Thiên Chúa, luôn sống một cuộc sống tốt đẹp, luôn tích cực góp phần xây dựng xã hội, tạo hạnh phúc cho tha nhân.

Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin dạy chúng con biết sống ơn Bí tích Rửa Tội để chúng con được xứng đáng được làm con yêu dấu của Thiên Chúa Ba Ngôi.  Amen!

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

ĐIỀU KIỆN ĐỂ LÃNH ƠN TOÀN XÁ TRONG NĂM THÁNH

Trong Năm thánh từ bi, người tín hữu dù là Tu sĩ hay Linh mục chúng ta đều muốn lãnh nhận ơn xá cho mình hay nhường cho các linh hồn.  Vậy chúng ta phải làm gì để lãnh ơn toàn xá trong Năn thánh từ bi đây?

Theo tông huấn GIÁO LÝ ÂN XÁ (Indulgentiarum Doctrina) do Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI ban hành ngày 1 tháng 1 năm 1967 thì:

  1. Ân xá là sự tha thứ trước mặt Chúa các hình tạm phải chịu dù tội đã được tha cho những môn đệ Chúa Ky-tô, với điều kiện xác định qua sự can thiệp của Giáo Hội như thừa tác viên cứu rỗi, tha thứ với thẩm quyền và áp dụng kho tàng đền tội do Chúa Ky-tô và các thánh đã lập (x.Thành luật, n.1)
  2. Sự tha thứ hình phạt tạm gọi bằng tên riêng là Ân xá. Đây là cách giảm bớt dấu vết tội, đồng thời tẩy sạch các dấu vết tội đó. Qua ân xá, Giáo Hội lợi dụng sức mạnh của Chúa Ky-tô, qua lời cầu nguyện và sự can thiệp của quyền bính, áp dụng cho người tín hữu như họ chuẩn bị, kho tàng đền bù mà Chúa Ky-tô và các thánh đã lập để tha các hình phạt tạm.
  3. Mục đích khi quyền bính Giáo Hội ban ân xá, không những nhằm cho các tín hữu thoát khỏi hình phạt mà còn thúc đẩy họ làm việc đạo đức, đền tội và bác ái để gia tăng đức tin và mưu cầu công ích.
  4. Khi người tín hữu lãnh ân xá cho người chết, họ vun trồng đức bác ái cách tuyệt diệu và khi họ hướng tâm trí về trời, họ cũng khôn ngoan hơn nơi trần thế. (Tông huấn Số 8)
  5. Muốn hưởng Ân xá, người tín hữu phải có những điều kiện sau. snhn1

5.1. Xưng tội
5.2. Rước lễ
5.3. Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng
5.4. Viếng nhà thờ

Để lãnh ơn Đại xá (còn gọi là toàn xá), phải làm việc có đại xá và giữ 3 điều kiện là xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng.  Điều đòi khác là phải dứt lòng quyến luyến tội lỗi, dù tội nhẹ (Thành luật, n.7).

Việc xưng tội: Một lần xưng tội để lãnh nhiều ơn đại xá.  Có nghĩa là cho đến khi nào ta phạm tội trọng thì ta mới đi xưng, nếu còn rước lễ được thì không buộc phải xưng.

Việc rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng phải làm cùng và trong ngày ta lãnh ơn xá (x.Thành luật n.8).  Nghĩa là ta phải đi tham dự thánh lễ và rước lễ trong ngày đó nhưng không nhất thiết là tham dự tại nhà thờ đó hoặc vào giờ đó.  Ta có thể tham dự thánh lễ ở nhà thờ nào cũng được và đi viếng nhà thờ đã được chỉ định lúc nào trong ngày cũng được.

Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng, coi như đầy đủ khi đọc một kinh Lạy Cha và một kinh kính mừng (x.Thành luật n.10).

Khi đi viếng nhà thờ đã được chỉ định để lãnh ân xá Tín hữu sẽ đọc một kinh Lạy Cha, một kinh tin kính (x.Thành luật, n.16).

Mỗi ngày chỉ lãnh được một ơn đại xá hay toàn xá (x.Thành luật, n.6).

Tóm lại, để được lãnh ơn toàn xá, ta phải xưng tội (nếu cần), tham dự thánh lễ và rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng và đi viếng nhà thờ mỗi ngày hay mỗi khi có thể.  Phải làm các việc này trong một ngày.  Mỗi ngày làm thì mỗi ngày lãnh được một ơn toàn xá.  Mỗi lần làm thì mỗi lần lãnh được một ơn toàn xá.

Nếu ta không tham dự thánh lễ và rước lễ thì dù ta có cầu nguyện và đi viếng nhà thờ thì ta cũng không được lãnh ơn toàn xá.  Hay ta có tham dự thánh lễ mà không rước lễ thì ta cũng không được lãnh ân xá.

Đi viếng nhà thờ thì đọc một kinh Lạy Cha, một kinh Kính mừng và một kinh Tin kính, tùy ý đọc thêm kinh Năm thánh để cầu theo ý Đức Giáo Hoàng (x.Thành luật, n.10).  Đọc kinh Năm thánh do Đức Giáo Hoàng làm ra thì không có gì thích hợp bằng.

Và nhất là ta phải làm những việc đó mục đích là để nên Thánh.  Sống trong năm thánh ta phải nên thánh, điều mà ta đã cố gắng trong Năm thánh, trở thành một thói quen tốt cho suốt quãng đời còn lại của ta, mặc dù không lãnh nhận ân xá trong những năm khác, nhưng giúp cho ta nên thánh.  Đó là điều quí nhất và là điều Giáo Hội mong muốn.  Nên thánh thì ta sợ gì mà không lên thiên đàng.  Chúa không hơn ân xá sao?  Có Chúa là có mọi ân xá.  Có Ân xá mà không có Chúa cũng như không.  Nếu ta chỉ cố gắng trong năm thánh mà thôi, thì ân xá có nhiều mấy đi chăng nữa, cũng có ích gì cho ta.  Ta đừng ỷ rằng ta có nhiều ơn toàn xá, mà không nên thánh, nên thiện, ta vẫn không được lên thiên đàng đâu.

Vậy chúng ta hãy hiểu ý của Giáo Hội khi mở Năm thánh, để ta cố gắng sống thánh thiện và thu tích thêm nhiều ân xá cho mình cũng như dâng tặng cho các Linh hồn.

LM Bosco Dương Trung Tín, sưu tầm – Nguồn: Vietcatholic News

XIN ĐỂ THÊM MỘT THỜI HẠN

Nhìn lên trần nhà đầy mạng nhện đeo bám, càng tối càng không thấy, nhưng khi nhìn gần, nhìn có ánh sáng soi chiếu sẽ thấy rõ cả những nhện con, những mạng lưới chằng chịt.  Tâm hồn con người cũng như thế, sống trong bóng tối thì không thấy mình tội lỗi, trái lại khi sống trong ánh sáng lại biết mình là tội nhân.

Môisen, có một lần lùa đàn cừu tận núi Khoreb, bỗng nhiên ông nhìn thấy một quang cảnh hùng vĩ: bụi gai bốc cháy mà không bị thiêu rụi.  Trước Thiên Chúa thánh thiện, Môisen thấy mình nhỏ bé, tội lỗi (Xh. 3, 1-5).

Phêrô, trước mẻ cá lạ lùng cũng thấy mình yếu hèn, bất xứng, liền nói với Chúa Giêsu: Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là người tội lỗi (Lc 5, 8).

Trước Thiên Chúa là Đấng Thánh, Chí Thánh, Ngàn Trùng Chí Thánh, con người chỉ là tội nhân cần đến lòng thương xót của Người.  Vì thế mỗi người luôn cần đến sám hối và hoán cải.

Tin mừng Chúa nhật hôm nay kể câu chuyện: Nhân sự kiện hai vụ án Philatô giết người vô tội và tháp Silôa đổ xuống đè chết 18 người, Chúa Giêsu cảnh tỉnh: nếu các ngươi không sám hối thì cũng bị chết như vậy (Lc 13:3-5).

Người đời thường nghĩ rằng: những kẻ bị tật nguyền, những ai bị tai hoạ là bởi tội của họ hoặc do tiên nhân để lại.  Họ đã đau khổ lại càng đau khổ hơn bởi quan niệm sai lầm này. Trong thực tế mọi người phải chấp nhận giới hạn của mình và hậu quả do mình gây nên hay vì sự liên đới nào đó do người khác mang lại.  Chẳng hạn, hai tai nạn Chúa Giêsu đưa ra trong trong đoạn Tin mừng đều có nguyên nhân của nó.  Philatô cần có tiền để xây dựng hệ thống dẫn nước đem lại lợi ích cho toàn dân.  Vì thiếu tiền nên đã vào đền thờ quyên góp.  Nhóm cực hữu cho hành động này là xúc phạm sự thánh nên trang bị khí giới để chống đối và bảo vệ đền thờ.  Thấy thế Philatô ra lệnh giết chết họ trong đền thờ.  Hành động của họ dù với mục đích tốt nhưng lại thiếu khôn ngoan nên họ đã bị thiệt mạng.  Vụ án mạng tháp Silôa sập đè chết 18 người vì lý do thiếu kỷ thuật trong việc xây cất.  Vụ này cũng như vụ việc cầu Văn Thánh rạn nứt hay các công trình xây cất hiện nay bị xuống cấp mau chóng là do bớt xén vật liệu, làm dối làm ẩu.

Những tai họa đều có nguyên nhân của nó, hoặc là do mình, hoặc là do người khác.  Những người Do thái nghĩ là do có tội nên Chúa phạt họ, còn mình vô tội thì được bình yên. Điều này đưa đến sự an toàn giả tạo.  Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh rằng mọi người đều là tội nhân nên cần phải sám hối ăn năn.  Lúc sống yên lành là lúc cần hoán cải.  Cây vả trong dụ ngôn cũng ở trong tình trạng an toàn.  Cây vả không cho trái độc, không làm hại cây khác, không phá cảnh quang.  Nó chỉ có tội làm hại đất, sử dụng đất màu mỡ mà không cho trái. Nhiều người cũng cảm thấy an toàn như cây vả.  Tự hào vì mình không làm điều xấu, chẳng làm hại ai.  Thế nhưng họ lại quên rằng mình đã phạm tội không làm điều tốt, những điều tốt có thể làm được và phải làm.  Nhiều người thường tự hỏi: tại sao người tốt cần phải hối cải? Tôi là người thường đọc kinh dự lễ rước lễ, không làm điều xấu hại ai, tại sao tôi phải ăn năn sám hối?  Sống đạo không phải chỉ lo tránh tội mà còn là gieo trồng cái tốt, cái thiện.

Có câu chuyện kể của ông chủ tiệm đồ cổ.  Vào một đêm đông, trời đã khuya, bão tuyết rơi lạnh lẽo, gió thổi mạnh rít từng cơn.  Bỗng dưng có tiếng gõ cửa.  Ông chủ cảm thấy khó chịu vì bị quấy rầy giữa đên khuya.  Khi cánh cửa vừa mở, một người thanh niên dáng bụi đời đang run rẩy với một bàn tay xoè ra van xin, một bàn tay đỡ cây gậy trên vai treo ít đồ đạc cá nhân.  Thấy hoàn cảnh đáng thương, ông chủ đưa tay với lấy ít bánh mì, vài đồng bạc lẻ trao cho hành khách.  Nhận được của bố thí, người thanh niên quay gót trở đi không nói lời cám ơn giã từ.  Khi đó chợt một ý tưởng đến trong đầu ông chủ nhà là nên mời người đó vào nghỉ đỡ một đêm, nhà vẫn còn phòng khách trống, còn chăn nệm ấm êm.  Tuy nhiên ông lại nghĩ nếu để cho người này ở lại thì căn nhà sạch sẽ của mình sẽ bị ẩm ướt, bị dơ bẩn.  Thế rồi ông vội vàng đóng kín cửa.  Hai ngày sau, có người thợ đem đến một cây gậy làm bằng gỗ quý. Khi đã thương lượng giá cả, người bán gậy cho biết, anh ta là người thợ chuyên đào mộ ở nghĩa trang.  Anh vừa chôn một người thanh niên mới chết, người thanh niên này vô gia cư, không tiền bạc, không người thân.  Tài sản anh ta chỉ là cây gậy, người thanh niên chết vì bị lạnh cóng, máu đông lại khi ngủ trên tuyết.  Nghe đến đây ông chủ tiệm cảm thấy hối hận và xấu hổ.  Ông hối hận không phải vì đã làm điều xấu mà vì điều tốt ông có thể làm cho người thanh niên nhưng ông đã không làm khiến cho anh phải chết rét.  Ông chủ tiệm kết thúc câu chuyện với nỗi thao thức: điều tôi ao ước là những sự dữ chúng ta làm có lẽ Thiên Chúa sẽ tha thứ.  Nhưng những gì tốt chúng ta đã không làm sẽ mãi mãi không được tha thứ.

Đó cũng chính là điều Chúa Giêsu muốn nói qua dụ ngôn cây vả.  Mục đích cây vả là sinh trái.  Người chủ vườn thất vọng không phải là cây vả sinh trái xấu, trái độc, trái chua mà là cây vả không sinh trái tốt.  Cứ để thêm một năm chăm bón vun xới may ra cây vả sinh hoa trái.  Chúa mời gọi thời gian sám hối hoán cải.  Lời mời gọi sám hối không chỉ là lời mời gọi xa tránh sự dữ nhưng còn là lời mời gọi làm việc lành, sinh hoa trái tốt.  Bởi đó, việc sám hối liên hệ ràng buộc mọi người.  Ai cũng phải làm lành lánh dữ.  Lánh dữ, không làm điều xấu chưa đủ, từ bỏ tội lỗi chưa đủ nhưng cỏn phải tích cực thực hành những điều tốt lành nữa.

Khuynh hướng tự nhiên của con người là muốn được yên thân, an phận, không muốn làm phiền ai và cũng không muốn ai gây phiền hà cho mình.  Vì thế một người ngoan đạo có thể bị rơi vào tình trạng tự mãn, sống ích kỷ mà không hay biết.

test      Dụ ngôn cây vả cho ta thấy khuôn mặt Thiên Chúa. Chúa Cha là người chủ vườn kiên nhẫn: “Ðã ba năm nay…” Ngài đã nuôi bao hy vọng: “Tôi ra tìm trái mà không thấy.”  Quyết định chặt cây chỉ đến sau những lần hụt hẫng.  Ngài chỉ phạt khi đã làm đủ cách để lay động tim ta.  Chúa Giêsu là người làm vườn kiên nhẫn không kém: “Xin ông cứ để nó lại năm nay nữa.”  Ngài không ngừng ấp ủ chút hy vọng mong manh: “Tôi sẽ vun xới, bón phân, may ra sang năm nó có trái.”  Nhưng đừng quên lời đe dọa cuối cùng: “Nếu không ông chủ cứ chặt nó đi.”  Kiên nhẫn, hy vọng, chăm bón, nhưng cương quyết đòi hỏi: đó là thái độ của Thiên Chúa đối với tội nhân.  Ðức Giêsu vừa thôi thúc chúng ta mau mau hoán cải, vừa chấp nhận cho ta có thời gian trì hoãn.

Mùa chay là mùa ân sủng.  Người chủ vườn nhẫn nại và quảng đại cho cây vả thêm một năm nữa để hy vọng nó có thể sinh hoa trái.  Mỗi Mùa Chay, Thiên Chúa cho chúng ta thêm cơ hội để đổi mới con người, làm nhiều việc lành bác ái phúc đức.  Mỗi người không biết mình sẽ ra đi về với Chúa khi nào.  Mùa Chay là thời gian thuận tiện để mỗi người kiểm điểm về cây vả đời mình.  Thêm một cơ hội, thêm một kỳ hạn nữa.  Điều quan trọng là mỗi người đã làm gì với cơ hội và với kỳ hạn đó?

LM Giuse Nguyễn Hữu An

NGƯỜI CHA NHÂN HẬU

Ta thường gọi là dụ ngôn “Người con hoang đàng.”  Cách gọi này không được chính xác.  Trước hết vì sự trở về của đứa con không đáng làm khuôn mẫu cho ta.  Hơn nữa, xét theo bối cảnh và nội dung, Chúa Giêsu, khi kể dụ ngôn này, có ý đề cao tình yêu thương, lòng khoan dung nhân hậu của người cha.

Bối cảnh: Nhóm Pharisêu và các Kinh sư chê trách Chúa Giêsu vì Người ngồi ăn với những kẻ tội lỗi. Để trả lời họ, Chúa Giêsu kể một chuỗi 3 dụ ngôn: Con chiên đi lạc, Đồng bạc bị mất và Người cha nhân hậu.

Nội dung: Có thể coi đây là một vở kịch 2 màn.

test1NGƯỜI CHA VÀ ĐỨA CON ÚT
Đứa con ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân.
Sự ích kỷ được biểu lộ trước hết trong việc xin chia gia tài, ở nhà chung mà chỉ nghĩ đến vun quén riêng.  Không đóng góp mà chỉ muốn rút tỉa.  Không làm việc mà chỉ muốn hưởng thụ.  Sự ích kỷ đạt đến mức tồi tệ đáng kinh tởm khi nó dám mở miệng xin chia gia tài.  Theo truyền thống phương đông, gia tài chỉ được chia sau khi cha mẹ đã qua đời.  Xin chia gia tài lúc cha mẹ còn sống có khác nào cầu mong cha mẹ mau chết đi!

Có tiền bạc trong tay, nó bắt đầu ăn tiêu phung phí.  Cách ăn tiêu nói lên tính ích kỷ của đứa con.  Nó tiêu tiền mà không nghĩ gì đến mồ hôi nước mắt của cha mẹ.  Nó tiêu tiền chỉ để thoả mãn dục vọng.  Nó dùng tiền bạc để cung phụng bản thân.  Khi có tiền nó chẳng nghĩ đến ai, nên khi hết tiền, chẳng còn ai gắn bó, sẵn sàng giúp nó qua cơn túng thiếu.  Túng cùng quá mới phải trở về.
Sự ích kỷ vẫn còn đó trong toan tính trở về.  Nó không hề nghĩ đến cha mẹ.  Nó không hề nghĩ đến tình thương.  Nó chỉ nghĩ đến cái bụng.  Về nhà để được ăn no.  Chỉ có thế.
Người cha hoàn toàn quên mình vì con.

Khi đứa con xin chia gia tài, ông đã chia ngay, không so đo tính toán, không hạch sách khó khăn.  Ông không nghĩ đến bản thân, không tự ái, chỉ mong sao con cái được vui lòng.
Khi con đã ra đi, ông ngày đêm thương nhớ, ngày nào cũng ra ngõ đứng chờ.  Thật tội nghiệp, con ra đi chẳng nhớ nhung gì đến cha mà cha không phút giây nào ngừng thương nhớ con.  Con chỉ biết tìm vui cho bản thân trong khi cha mỏi mòn trông đợi.  Con chỉ biết đến tiền bạc, còn cha chẳng quan tâm gì đến tiền của, nhưng chỉ cần có con.

Cảm động nhất và cũng chan chứa tình thương nhất là phút giây gặp gỡ.  Một phút giây vắn vỏi mà nói lên bao nhiêu điều về tình thương của cha.  “Anh ta còn ở đàng xa thì người cha đã trông thấy.”  Khi con chưa nhìn thấy cha thì cha đã nhìn thấy con.  Mắt chàng trai trẻ hẳn phải tinh anh hơn mắt ông cụ đã nhoà dòng lệ vì thương nhớ chứ.  Thế mà cha đã nhìn thấy con trước.  Vì cha không nhìn bằng mắt nhưng nhìn bằng trái tim.  Trái tim yêu thương có đôi mắt tinh tường giúp nhận ra ngay bóng người yêu dấu.  Trái tim con không còn yêu thương nên nhìn chẳng thấy cha.  Trái tim con khô cằn nên mắt vẫn sáng mà chẳng khác mù lòa.  Trái tim cha đầy ắp yêu thương nên đã lòa rồi mà vẫn thấy rõ con ngay từ đàng xa.

“Ông chạnh lòng thương.”  Trái tim dạt dào yêu thương quên hết tất cả lầm lỗi của đứa con.  Tình cảm đầu tiên dâng lên trong tim ông không phải là tiếc xót nửa gia tài đã mất, cũng không phải là tức giận thằng con phá gia chi tử, nhưng lại là chạnh lòng thương.  Yêu quá nên người cha chẳng còn nhìn thấy gì khác hơn là đứa con tiều tuỵ rách rưới.  Yêu quá nên người cha chẳng nhìn thấy lầm lỗi mà chỉ nhìn thấy nỗi khổ của con.  Trong trái tim ông, chỉ có tình thương dành cho con, nên vừa gặp con là tim đã rộn ràng xúc động.

“Chạy lại ôm cổ con.”  Lại một cử chỉ lạ lùng.  Cha không chờ con tới theo đúng lễ phép mà đã vội vàng chạy lại ôm con.  Tình yêu thương thúc đẩy, niềm vui dâng dạt dào khiến người cha không chần chờ được nữa.  Bất chấp thân phận cao quý của mình, ông chạy đi như một đứa trẻ được quà.  Bất chấp tuổi tác của mình, ông nhanh nhẹn như một thanh niên sung sức.  Đứa con tuổi còn trẻ mà sao chẳng nhanh nhẹn bằng ông già?  Vì trong tim nó thiếu tình yêu.  Trái tim không tình yêu cũng giống như cơ thể không sức sống.  Ông già mà nhanh nhẹn vì ông không chạy bằng sức lực của đôi chân.  Ông chạy bằng trái tim.  Ông bay bằng tình yêu.  Tình yêu chắp cánh cho ông.

“Hôn lấy hôn để.”  Chẳng còn bút nào tả xiết niềm vui của người cha khi gặp lại đứa con.  Những nụ hôn không ngớt đủ nói lên tình cảm dạt dào ông dành cho nó.  Ông ôm chặt như để giữ không cho nó ra đi nữa.

Trong một thoáng, khi đứa con chưa có một động tác nào thì người cha đã có 4 động tác: nhìn thấy, chạnh lòng thương, chạy đến, ôm hôn.  Trong một thoáng ngắn ngủi, khi chàng trai tuổi trẻ còn bất động thì ông lão già nua đã thực hiện 4 động tác rất nhanh nhẹn.  Ông thật là người cha phung phí.  Ông đã phung phí sức lực trong cuộc gặp gỡ với đứa con trở về.  Ông đã phung phí tiền bạc khi chia gia tài một cách dễ dãi.  Ông đã phung phí khi đem áo mới, giầy mới, nhẫn vàng, lại còn tổ chức một bữa tiệc mừng có bê béo, có cả đàn hát múa nhảy để đón đứa con đi hoang trở về.  Làm thế chẳng sợ hàng xóm cười cho!  Nói tóm lại ông đã phung phí tình yêu thương.  Yêu thương quá độ.  Yêu thương đến vô lý.  Mà có lý lẽ nào giải nghĩa được yêu thương?  Chỉ có tình yêu thương mới giải nghĩa được những điều vô lý đó.

MÀN 2: NGƯỜI CHA VÀ ĐỨA CON CẢ
Đứa con cả đi hoang trong tâm hồn.

Đứa con cả vẫn ở nhà, nhưng thực ra chỉ có thân xác ở nhà, còn tâm hồn nó đã đi hoang từ lâu.  Tuy ở trong gia đình, nhưng tâm hồn nó không thuộc về gia đình.  Nó làm việc không phải với tâm tình của một người con hiếu thảo coi “mọi sự của cha là của con.”  Nó muốn vun quén riêng tư.  Nó làm việc với tinh thần nô lệ, mong được trả công, chỉ nghĩ đến con “bê nhỏ,” đến “bạn bè” riêng của nó.

Sống bên cha mà tâm hồn nó xa tâm hồn cha biết bao.  Nó không sao chia sẻ được những tình thương, những ưu tư, hoài bão của cha.  Cha là tình thương nhưng con chỉ là ích kỷ.  Cha là bao dung nhưng con chỉ là hẹp hòi.  Tâm hồn cha rộng mở bao nhiêu thì tâm hồn con khép kín bấy nhiêu.  Cha chỉ biết tha thứ trong khi con chỉ biết kết án.  Thật là khác biệt ngàn trùng.
Cha đi tìm con

Một lần nữa, người cha lại phải bỏ nhà ra đi, bỏ dở bữa ăn để tìm đứa con đi hoang trong tâm hồn.  Vẫn với cử chỉ dịu dàng cố hữu; vẫn với những lời lẽ ôn tồn; vẫn với ánh mắt chan chứa cả một trời bao dung, cha cố gắng thuyết phục đứa con cả trở về.
Nếu đứa con út cần một cuộc trở về thì đứa con cả cần tới hai cuộc trở về: về với cha và về với em.  Đi hoang trong tâm hồn xa xôi diệu vợi thế!

Qua dụ ngôn này Chúa cho thấy dù tôi là con út hay con cả, tôi vẫn cần trở về.  Vì nếu tôi chưa đi hoang trong đời sống, chắc chắn đã rất nhiều lần tôi đi hoang trong tâm hồn: suy nghĩ và hành động của tôi khác hẳn với đường lối của Thiên Chúa là Cha; tôi vẫn không muốn chấp nhận anh em tôi.

Nhưng dụ ngôn cũng cho tôi an tâm trở về.  Hình ảnh người cha hiền đứng đợi mời gọi tôi mau bước. Chúa là người Cha yêu thương tôi trước khi tôi yêu Người, đi tìm tôi trước khi tôi đi tìm Người, tha thứ cho tôi trước khi tôi xin lỗi Người.
Lạy Chúa là Cha nhân từ, con cảm tạ tình yêu thương vô vàn của Cha.

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

BIỂN MÙA NÀY LẶNG SÓNG

testTìm đến biển vào một ngày cuối xuân, dường như cái nắng nhẹ vàng đang nhuộm màu biển cả, làm làn nước ấy thêm xanh.  Nhưng lạ một nỗi, sóng biển hôm nay đã bớt rì rào, và có lúc lắng lặng.

Người ta thường tìm đến biển để cảm được một chút nào đó sự bé nhỏ của phận người.  Quả thật không sai.  Khi đứng trước biển bao la kia, con người chỉ còn là một chấm phết, chẳng đủ lớn lao để có thể góp phần vào bức tranh kỳ vĩ xanh một màu mang tên biển cả.  Nhỏ bé vô cùng!

Có người lại tìm đến biển để mong bắt gặp một cõi bình yên.  Giữa biển chiều vắng, thả bộ thong dong, nghe làn gió mát, để hồn phiêu diêu theo từng nhịp sóng vỗ bờ; bình yên.  Hay đơn giản chỉ là nhìn ngắm, trông về phía xa ngoài khơi nơi những con tàu ẩn hiện, nơi ngọn hải đăng chốc chốc vụt sáng rồi tắt đi, nơi đôi mắt chẳng còn nhìn thấy bờ; bình yên đơn giản là thế.  Nhưng liệu biển đất trời kia có thể mang bình yên vào hồn người đang mong ngóng?

Thật ra, sóng biển kia chỉ vỗ theo nhịp sóng trong lòng kẻ ngắm nhìn.  Hãy để ý mà xem, khi lòng người xô bồ nhộn nhịp, họ chẳng thể đụng chạm được cái nhẹ êm của biển, dù chỉ với những con sóng lăn tăn.  Còn nếu lòng tịnh lắng, sóng biển kia dù vồn vã xô nhau vẫn chỉ là những cú vỗ êm đềm.  Vậy ra, biển của trời đất kia lặng hay nổi sóng chẳng phải vì tự nó vốn thế, nhưng vì sóng trong lòng người đang lắng hay đang mãi xô bờ, từ đó hòa điệu với nhịp vỗ của tự nhiên.

Và biển mùa này lặng sóng.  Thật ra sóng biển cả vẫn vỗ, nhưng sóng lòng đang lắng để có thể khắc khoải trong một mùa thánh thiêng, mùa sám hối, mùa trở về.

Nói cho cùng, nếu biển của đất trời lặng sóng, nó sẽ chẳng còn là biển.  Nhưng còn lòng người, nó vẫn mãi là nơi mà ta gọi là tâm hồn, và tâm hồn ấy sẽ tĩnh hơn, đẹp hơn, hấp dẫn hơn, nếu những cơn sóng ở đó tan đi.  Bạn mệt mỏi và quay quắt với bài vở, công việc, bạc tiền; sóng lên.  Bạn ngập chìm trong cảm giác cay đắng của thất bại, của tổn thương; bạn tức tối, hận thù, kiệt sức vì mãi tranh giành, để tìm chỗ đứng; lòng bạn nổi sóng.  Bạn yêu, bạn ghét, bạn nhớ thương đợi chờ trong những mối tình nhân loại; lòng bạn yên được sao?  Đôi khi sự giả trá và cả những đổ vỡ bất công nơi môi trường bạn sống cũng khiến lòng bạn sóng lên.

Mùa Chay đã qua nửa chặng đường, bạn có muốn lòng mình lắng một chút với những con sóng thế gian?  Mời bạn ngồi xuống, ngồi trước biển lòng bạn trong cõi riêng tư, và nghe những tiếng sóng vỗ vào hồn.  Chúng sẽ lặng đi trong cõi tĩnh mịch của riêng bạn.  Chính khi để những cơn sóng ngủ yên là khi bạn trở về.  Và lúc đó bạn sẽ nghe rõ tiếng tình yêu Thiên Chúa đang ngỏ cùng bạn, từ muôn thuở.

Mùa Chay 2016,

Nguyễn Minh Vương, S.J.