MỪNG XUÂN VỚI NHỮNG LIÊN HỆ

Mồng 2 Tết

Dịp Tết, chúng ta thường gửi thiệp chúc Tết, thăm viếng và tặng quà cho nhau.  Những sinh hoạt ngày Tết như thế là những sinh hoạt của các mối liên hệ.  Nếu không có những liên hệ, ngày Tết sẽ mất đi ý nghĩa của nó.  Tết là của người khác chứ không phải của riêng mình.  Vì thế, đối với trẻ em, Tết là những ngày hội vui.  Nhưng đối với người trưởng thành, Tết là một trách nhiệm:

Người chúng ta sống được ở đời là nhờ những liên hệ.  Không ai có thể sống một mình.  Chúng ta cần có cha mẹ để có mặt ở đời.  Chúng ta cần có thầy cô để khai thông trí hoá.  Chúng ta cần có bạn bè để chia vui sẻ buồn.  Chúng ta cần người nông dân để có lúa gạo, rau trái.  Chúng ta cần có thợ may để có quần áo.  Chúng ta cần người quét đường để đường phố được sạch sẽ.  Có thể nói tất cả những gì chúng ta có được: từ sự sống đến kiến thức, từ cơm ăn áo mặc đến xe cộ, thuốc men, tất cả đều nhờ người khác.

W3Những mối liên hệ giống như những con đường chuyên chở đến cho chúng ta những chất liệu nuôi dưỡng cuộc sống.  Những mối liên hệ là những mạch máu đem máu đỏ đến tận những tế bào bé nhỏ nhất trong thân thể chúng ta.  Những mối liên hệ chính là chiếc chúng tay vịn giúp chúng ta leo lên những bậc thang làm người và thành đạt.

Đời chúng ta có nhiều liên hệ.  Có những liên hệ chiều rộng giúp cho cuộc đời thêm tươi đẹp phong phú.  Có những liên hệ chiều sâu tạo thành bản chất cuộc đời.  Gia đình với ông bà cha mẹ tổ tiên nằm trong mối liên hệ chiều sâu của đời chúng ta.  Không có ông bà cha mẹ tổ tiên, chúng ta không có mặt ở đời.  Ông bà cha mẹ là những hạt giống chịu vùi chôn dưới những lớp đất vất vả nhọc nhằn để cho cây đời chúng ta được mọc lên xanh tươi.  Ông bà cha mẹ đã tự nguyện quên bản thân mình, chịu mục nát như lớp phân bón cho cây đời chúng chúng ta đơm bông kết trái.  Chúng ta là điểm tới của một quá trình phấn đấu gian nan dài đằng đẵng của ông bà cha mẹ.  Nếu ví đời sống chúng ta như một bông hoa thì những bông hoa ấy đã được tưới bằng những giọt mồ hôi và cả những giọt nước mắt của ông bà cha mẹ.  Nếu ví đời chúng ta như một toà nhà cao tầng thì ông bà cha mẹ chính là lớp nền móng chịu vùi chôn dưới lòng đất, còng lưng gánh chịu mọi sức nặng cho toà nhà đứng vững, phô trương vẻ đẹp với đời.  Hạt mầm hiện hữu vì bông hoa sắp nở.  Nền móng có mặt vì ngôi nhà sắp xây.  Trọn một đời ông bà cha mẹ đều dành cho hạnh phúc của con cháu.

Đời sống mỗi người, vì thế, đều có một lịch sử rất dầy và rất sâu.  Bề dầy ấy không chỉ đo bằng những trang sách của cuốn gia phả, nhưng còn đo bằng những trang đời của bao thế hệ tổ tiên.  Độ sâu ấy không chỉ đo bằng những cố gắng của bản thân, mà còn đo bằng bề sâu ân nghĩa của biết bao hi sinh vất vả của ông bà cha mẹ.

Ngày Tết là ngày của những mối liên hệ.  Mùng Một Tết, chúng ta đã sống mối liên hệ với Chúa, nguồn gốc và cứu cánh của đời chúng ta.  Mùng hai Tết, Giáo hội muốn chúng chúng ta sống mối liên hệ với ông bà cha mẹ, những người thay mặt Chúa, trực tiếp ban sự sống cho chúng ta.

Sự sống là món quà quý nhất nên mối liên hệ với người ban sự sống cũng là mối liên hệ sâu nhất.

Tục lệ lập bàn thờ và kính nhớ tổ tiên trong ngày Tết là một nét văn hoá rất cao của người Việt Nam. Hình ảnh của ông bà cha mẹ trong nhà không chỉ nói lên sự sum họp của một gia đình đầm ấm, hình ảnh ấy còn nhắc chúng ta về lòng biết ơn, cho chúng ta nhìn thấy bề sâu bề dầy của lịch sử đời mình. Và vì thế giúp chúng ta ý thức về trách nhiệm của mình đối với tổ tiên, đối với bản thân, và đối với những thế hệ kế tiếp.

Muốn xây một căn nhà thật cao thật đẹp, trước hết phải xây dựng nền móng vững chắc.  Muốn xã hội tiến nhanh tiến mạnh, phải xây dựng gia đìnhh vững chắc.  Thờ kính tổ tiên, nhớ ông bà chính là nền tảng giúp xã hội tiến bộ vững mạnh.

Nếu những mối liên hệ là những con đường chuyển tải sự sống thì những liên hệ chiều sâu chính là những xa lộ huyết mạch.  Nếu những mối liên hệ là những mạch máu nuôi dưỡng sự sống thì mối liên hệ chiều sâu chính là những động mạch chủ.  Sửa chữa, củng cố và tăng cường những liên hệ gia đình chính là phát triển sự sống, phát triển xã hội.

Chính trong ý hướng đó mà Giáo hội muốn chúng ta sống tình gia đình, lòng biết ơn ông bà cha mẹ trong ngày mùng Hai Tết.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

TẾT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

Tết Nguyên Đán ở Việt Nam hay còn gọi là Tết, Tết cổ truyền, Tết âm lịch… là những ngày lễ quan trọng nhất của người Việt Nam ta.  Nhưng có bao giờ bạn tự hỏi Tết mang ý nghĩa như thế nào?  Bài hát “Tết quê em”:


W4Tết Tết Tết Tết đến rồi

Tết Tết Tết Tết đến rồi
Tết Tết Tết Tết đến rồi
Tết đến trong tim mọi người.

Mừng ngày Tết trên khắp quê tôi
Ngàn hoa thơm khoe sắc xinh tươi
Đàn em thơ khoe áo mới
Chạy tung tăng vui pháo hoa

Mừng ngày Tết trên khắp quê tôi
Người ra Trung, ra Bắc, vô Nam
Dù đi đâu ai cũng nhớ
Về chung vui bên gia đình.

Lời đầu tiên, mến gửi lời chúc quý anh chị em một mùa xuân tràn đầy tin yêu và hy vọng trong năm mới này.  Bài hát “Tết quê em” gợi lên và nhắc nhớ cho chúng ta ngày Tết sắp đến rồi.  Chúng ta đã và đang chuẩn bị cho ngày Tết.  Riêng tôi, xuân đến làm cho tôi xao xuyên và nhớ về ngày Tết quê hương, nhớ đến cội nguồn, nhớ ngày xuân bên mái ấm gia đình, bên những người thân, đi chúc tuổi và nhận được bao lì xì.  Ca dao Việt Nam viết:

Mùng Một thì ở nhà cha,
Mùng Hai nhà vợ, Mùng Ba nhà thầy
Mùng Một tết cha,
Mùng Hai tết mẹ, Mùng Ba tết thầy

Cu kêu ba tiếng cu kêu
Mong cho Tết đến dựng nêu ăn chè
Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.

Kế đến, Tết mang ý nghĩa thiêng liêng là ngày đoàn tụ gia đình, là ngày làm mới, là ngày hy vọng và tạ ơn.

Tết là ngày đoàn tụ gia đình: người Việt có tục lệ hằng năm mỗi khi Tết đến lại trở về sum họp dưới mái ấm gia đình, nhớ đến ông bà tổ tiên, thăm lại nơi họ đã từng sinh sống trong thời niên thiếu đã gắn liền với đồng lúa, giếng nước, cây đa, lũy tre làng, mảnh sân nhà.  Hình ảnh đó như thôi thúc cho mọi người nhớ về với quê hương của mình.  Vì vậy, “Về quê ăn Tết” đã trở thành ngữ chỉ cuộc hành hương về nơi cội nguồn.

Tết là ngày đổi mới: Tết là ngày đầu tiên của năm mới, mọi người có cơ hội ngồi ôn lại việc cũ và làm mới mọi việc.  Việc làm mới có thể về hình thức như dọn dẹp và sửa nhà cửa.  Về đời sống tinh thần, nhân dịp đầu năm, người ta thường tạo mối liên hệ giữa người thân để được cảm thông và bỏ qua chuyện cũ.  Người lớn cũng như trẻ con mặc quần áo mới.  Nợ nần thì được thanh toán để bước qua năm mới gặp được may lành.  Những chuyện buồn phiền, cãi vã được hàn gắn và bỏ qua trong ba ngày Tết.  Mọi người vui vẻ tươi cười với nhau. Tết còn là sinh nhật của tất cả mọi người vì ai cũng thêm một tuổi, khi gặp nhau là chúc nhau thêm một tuổi.  Người lớn mừng tuổi cho trẻ con để các cháu ăn chóng lớn, ngoan ngoãn và học giỏi; còn các cụ già thì sống lâu và mạnh khoẻ để con cháu được nhờ phúc.

Tết là ngày tạ ơn và hy vọngNgười Việt chọn ngày Tết làm cơ hội để tạ ơn ân nghĩa mình đã được hưởng năm vừa qua.  Con cái tạ ơn cha mẹ, cha mẹ tạ ơn ông bà, tổ tiên…  Hơn nữa, Tết là ngày của hy vọng.  Hy vọng năm mới được an lành, may mắn và phát đạt.  Với tất cả mọi người Ki-tô hữu, Tết là dịp để chúng ta nhìn lại những hồng ân Chúa ban cho.

Anh chị em thân mến!  Chắc hẳn, anh chị em mình đang sống trên mảnh đất này, đang là mùa đông thời tiết thì giá lạnh, chúng ta không có được những cảm xúc không khí ấm áp của mùa xuân trên quê hương.  Đặc biệt, các bạn trẻ sinh ra và lớn lên trên đất Mỹ lại càng không có được những cảm xúc thú vị của ngày Tết cổ truyền và các phong tục của ngày Tết Việt tại quê hương.  Nhưng bên cạnh chúng ta luôn có những người thân, có cha mẹ và anh chị em.  Họ là những người mang đến cho chúng ta mùa xuân.  Chúng ta hãy nghĩ đến họ và làm cho mùa xuân được nở hoa bên nhau, đó là cách chúng ta mang lại mùa xuân cho người thân đang sống bên cạnh chúng ta.  Trên hết, Chúa là Mùa Xuân vĩnh cửu.  Ngài sẽ mang lại cho chúng ta mùa xuân ấm áp và yêu thương khi chúng ta trao cho nhau tình yêu thương, chia sẻ và cảm thông. Nhất là thời khắc quan trọng trong ngày đầu năm mới này, chúng ta hãy lì xì cho nhau lòng vị tha, khoan dung và tha thứ.  Đó là món quà quý nhất để cho chúng ta tận hưởng mùa xuân.

Chúa là Mùa Xuân ban muôn phúc lành cho anh chị em trong năm Giáp Ngọ này.

Rev. John Nguyen

ĐÀO TẠO TÔNG ĐỒ

Bài Tin Mừng hôm nay tường thuật về mẻ cá lạ lùng mà Phêrô và các bạn được chứng kiến.  Đây chỉ đơn thuần là một phép lạ lớn lao cho ta ngưỡng phục quyền năng của Thiên Chúa.  Nhưng qua dấu lạ này, Chúa Giêsu còn muốn mời gọi ta ra khơi truyền giáo.  Và qua tiến trình của phép lạ, Chúa Giêsu đã áp dụng một chương trình đào tạo các môn đệ, đặc biệt là Phêrô, người đứng đầu các môn đệ. Chương trình đào tạo này gồm 4 điểm.
W5Điểm thứ nhất: cảm nghiệm về sự nghèo nàn của bản thân.
Phêrô và các bạn đang giặt lưới.  Các ông mệt mỏi sau một đêm thức trắng vật lộn với biển khơi.  Tâm trạng các ông chán nản sau thất bại chua cay não nề.  Thế mà giờ đây, Chúa Giêsu lại bảo các ông ra khơi.  Ra tận chỗ nước sâu.  Nước sâu là chỗ nguy hiểm.  Nước sâu là chỗ Phêrô gặp thất bại.  Chúa Giêsu muốn Phêrô trở lại chỗ nước sâu để nhận thức rõ sự vô tài bất lực của bản thân.  Chúa Giêsu muốn Phêrô nhìn rõ những thất bại để ông biết khiêm nhường.  Khiêm nhường là bài học đầu tiên Chúa Giêsu muốn gửi đến các môn đệ của Người.

Điểm thứ hai: cảm nghiệm về sự cao cả của Thiên Chúa.
Người tông đồ phải làm chứng về Thiên Chúa.  Muốn làm chứng phải có kinh nghiệm.  Ai chưa từng gặp được Thiên Chúa, chưa từng tiếp xúc với Người thì không thể làm chứng về Người.  Trong những trường hợp đặc biệt, Thiên Chúa thường chủ động tỏ mình ra.  Chúa tỏ mình cho Môsê trong bụi gai cháy đỏ.  Chúa tỏ mình ra cho thánh Phaolô qua làn ánh sáng chói lọi trên đường đi Đa mát.  Hôm nay Chúa tỏ mình ra cho Phêrô qua mẻ lưới lạ lùng.  Lập tức Phêrô nhận biết sự cao cả, sự thánh thiện của Chúa.  Sợ hãi vì thấy mình tội lỗi, Phêrô vội quỳ xuống xin Chúa rời xa.  Phêrô đã sống bên cạnh Chúa.  Ông đã được tiếp xúc với Chúa.  Ông đã cảm nghiệm được sự thánh thiện cao cả của Chúa.  Sau này ông đi rao giảng chỉ là để kể lại những gì ông đã mắt thấy tai nghe.

Điểm thứ ba trong chương trình đào tạo môn đệ của Chúa đó là sự vâng lời tuyệt đối.
Phêrô hẳn là rất ngạc nhiên khi Chúa Giêsu bảo ông ra khơi đánh cá, lại còn chỉ rõ nơi thả lưới.  Không ngạc nhiên sao được khi Phêrô là người miền biển trong khi Chúa Giêsu là người miền núi.  Phêrô làm nghề chài lưới lâu năm kinh nghiệm trong khi Chúa Giêsu chỉ làm nghề thợ mộc.  Thế mà khi Chúa Giêsu bảo ông thả lưới bên phải thuyền, ông đã tăm tắp làm theo.  Phêrô đã vâng lời tuyệt đối.  Phêrô đã học được thái độ vâng lời của người môn đệ.  Ông đã thành công.  Ông đã thấy kết quả rõ ràng.  Và Chúa đã đặt ông làm tông đồ trưởng.

Điểm sau cùng mà Chúa muốn người môn đệ phải có đó là sẵn sàng ra đi.
Ra đi là một thái độ liều lĩnh.  Vì vượt qua những khoảng không gian vật lý cheo leo.  Ra khơi là chấp nhận đối đầu với phong ba bão táp.

Vượt qua những khoảng không gian vật lý đã khó.  Vượt qua những khoảng không gian tâm lý còn khó hơn.  Ra đi là bỏ nơi an toàn để đến nơi bấp bênh.  Ra đi là bỏ nơi quen biết để đến nơi xa lạ.  Lên đường truyền giáo là bỏ lại tất cả: gia đình, thuyền bè, chài lưới.  Bỏ cả nghề nghiệp cũ đã thành thạo để bắt tay vào nghề mới còn chập chững.  Bỏ lưới cá để chài người.

Nhưng khó nhất chính là ra khỏi chính mình.  Dù có đi xa ngàn dặm nhưng vẫn giữ được những thói tật xưa cũ thì người ta vẫn còn ở khởi điểm.  Muốn lên đường người môn đệ phải ra khỏi tính tự ái tự mãn của mình.  Ra khỏi những quan niệm xưa cũ hẹp hòi.  Ra khỏi những ảo tưởng viễn vông.  Ra khỏi những ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân.

Khi đã từ bỏ tất cả, người môn đệ sẽ trở nên hoàn toàn nghèo nàn.  Gia tài chỉ có niềm cậy tin phó thác hoàn toàn vào Đấng kêu gọi ta.  Vũ khí chỉ có lòng vâng phục tuyệt đối vào Đấng sai ta.

Mỗi người được Chúa huấn luyện.  Bao lâu ta chưa cảm nghiệm được sự hèn kém của bản thân, chưa cảm nghiệm được sự thánh thiện cao cả cũng như tình yêu của Thiên Chúa, chưa có niềm vâng phục tuyệt đối, chưa ra đi trong tự do và khó nghèo, ta vẫn chưa thực sự trở thành môn đệ của Chúa.  Chưa được đào tạo kỹ lưỡng mà đã làm việc thì phần thành công chắc chắn sẽ ít hơn phần thất bại.

Lạy Chúa, xin hãy dạy bảo con theo đường lối của Chúa. Amen.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt Continue Reading →

CÓ THỂ LÀ TỘI NHÂN, NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC LÀ KẺ HƯ HỎNG

“Chúng ta hãy tha thiết nài xin Thiên Chúa để dẫu chúng ta có yếu đuối phạm tội nhưng đừng bao giờ trở thành những kẻ hư hỏng (corrotti), không cần đến sự tha thứ của Thiên Chúa nữa.”  Đây là nội dung bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong thánh lễ sáng thứ sáu, ngày 29.01, tại nguyện đường thánh Marta.

Khởi đi từ bài đọc một trích sách Sa-mu-en, thuật lại chuyện vua Đa-vít và bà Bát Se-va, Đức Thánh Cha đã phân biệt giữa tội nhân và kẻ hư hỏng.  Khác với những người hay phạm tội nhưng biết ăn năn, kẻ hư hỏng không còn cảm thấy cần sự tha thứ của Thiên Chúa nữa.

“Con người có thể hay phạm tội nhưng luôn biết chạy đến với Thiên Chúa để chân thành nài xin sự tha thứ.  Chân thành nài xin chứ không bao giờ nghĩ rằng tự sức mình có thể đạt được sự tha thứ ấy.  Nhưng khi con người bắt đầu trở nên hư hỏng, không còn cảm thấy cần sự tha thứ; thì vấn nạn mới thực sự phát sinh.”

Tôi không cần Chúa

Đây là thái độ mà vua Đa-vít vướng phải khi vua say mê bà Bát Se-va, vợ ông U-ri-gia, một sỹ quan quân đội đang chiến đấu trên tiền tuyến.  Sau khi vua Đa-vít ăn nằm với bà Bát Se-va và biết rằng bà đã có thai, vua đã nghĩ ra những mưu kế để che dấu hành vi ngoại tình của mình.  Vua truyền cho ông U-ri-gia từ chiến trận quay về nhà để nghỉ ngơi và có thời gian gần gũi với vợ.  Nhưng ông U-ri-gia lại nghĩ rằng không nên về với vợ mà nằm ở cửa đền vua với tất cả các bề tôi của chúa thượng ông.  Kế hoạch không thành, Vua Đa-vít chuốc rượu cho ông U-ri-gia đến say khướt, nhưng âm mưu vẫn thất bại.

W6Như thế, vua Đa-vít đã rơi vào một tình huống khó khăn.  Nhưng chắc chắn rằng, vua vẫn có thể tự nói với mình: “Ta sẽ giải quyết được việc này.”  Vua đã viết thứ cho ông Giô-áp và gửi ông U-ri-gia mang đi.  Trong thư, vua viết rằng: “Hãy đặt U-ri-gia ở hàng đầu, chỗ mặt trận nặng nhất, rồi rút lui bỏ nó lại, để nó bị trúng thương mà chết.”  Vua Đa-vít nhất định khiến ông U-ri-gia phải chết.  Người lính can trường và trung thành này – trung thành với lề luật, với dân tộc, tổ quốc – đã phải mang lấy án tử bởi chính vị vua mà ông hết mực trung thành.

Tính “an toàn” của sự hư hỏng

Vua Đa-vít là thánh nhân nhưng cũng là tội đồ.  Vua đã sa ngã vì sự thèm muốn và khao khát nhục dục, nhưng Thiên Chúa vẫn rất yếu mến vua.  Vua Đa-vít cảm thấy an tâm, vì quốc gia đang hưng thịnh. Sau khi ngoại tình, với quyền lực của mình, vua đã làm mọi cách để đẩy người tôi trung đến cái chết, khi bỏ nó lại chiến trường nơi mặt trận nặng nhất.  Và cái chết vì gươm đao là chuyện vô cùng bình thường của nhà binh.

Sự kiện này xảy ra trong cuộc đời của vua Đa-vít khiến chúng ta cũng phải xem xét lại đời sống của mình: Liệu tôi có đang chuyển từ tội nhân đến một kẻ hư hỏng không?  Vua Đa-vít đã bước một chân lên nấc thang đầu tiên dẫn đến sự hư hỏng rồi.  Vua có quyền lực.  Vua có sức mạnh.  Và chính vì lý do đó, sự hư hỏng rất dễ xảy ra với chúng ta là những người có quyền lực, cho dù đó là uy quyền trong Giáo hội, tôn giáo hay trong kinh tế, chính trị…  Bởi vì, ma quỷ sẽ khiến chúng ta an tâm và tự nhủ: “Tôi có thể làm được.  Tôi sẽ giải quyết được mọi sự.”

Tội nhân, có thể chấp nhận; nhưng kẻ hư hỏng thì không

Sự hư hỏng – nhờ ân sủng Chúa, vua Đa-vít đã được giải thoát khỏi tình trạng này – đã làm thương tổn tâm hồn chàng thiếu niên anh dũng, người đã đối diện với tên Gô-li át khổng lồ và hạ hắn bằng một dây phóng đá cùng năm hòn đá cuội nhặt dưới suối.  Bởi vậy, hôm nay, tôi muốn nhấn mạnh với anh chị em một điều thôi:  Đôi khi chúng ta phạm tội hay đời sống của chúng ta quá an toàn, chắc chắn, chúng ta cảm thấy ổn vì có nhiều quyền lực; chính lúc đó sự hư hỏng sẽ bắt đầu.  Một trong những điều tồi tệ nhất mà sự hư hỏng gây ra là khiến người ta không còn cảm thấy cần sự tha thứ của Thiên Chúa nữa.

Bởi vậy, chúng hãy tha thiết cầu nguyện cho Giáo hội, cho Đức Giáo Hoàng, các Giám mục, linh mục, các nam nữ tu sĩ và tất cả mọi tín hữu: “Lạy Chúa, xin cứu chúng con.  Xin cứu vớt chúng con khỏi sự hư hỏng.  Chúng con là tội nhân, nhưng lạy Chúa, xin đừng để chúng con trở thành những kẻ hư hỏng, không cần đến sự tha thứ của Chúa nữa.” Chúng ta hãy nài xin Thiên Chúa ân sủng này.”

ĐGH Phanxicô
Chuyển ngữ: Vũ Đức Anh Phương, SJ

MÙA XUÂN IM LẶNG TRONG ÐÔI GUỐC

Con cái đã quên, không còn ai nhớ đến đôi guốc mộc. Sau đám tang của mẹ, mấy người con gom quần áo của bà đốt hết. Riêng đôi guốc gỗ nằm nơi xó tường nên chả người con nào để ý. Mấy tháng, kể từ ngày bà nằm trên giường bệnh, đôi guốc lúc bị đá vào xó tường này, lúc bị đẩy sang góc tối kia, đến độ người nhà không còn để ý nó là đôi guốc của ai.
Từ ngày theo người mẹ đó về nhà, đôi guốc giã từ những tháng ngày thong thả, mơ mộng trên quầy hàng.

* * *

Thủa xưa, khách vào ra, ngắm nghía, nâng niu, chủ hàng chẳng bao giờ để đôi guốc bám bụi. Ðôi guốc chả phải làm gì, sống như thế thật nhàn hạ. Nhưng nếu nghĩ cho cùng, cũng không thiếu nhàm chán, chả có gì mới mẻ trong cuộc sống cả. Ðôi lúc, đôi guốc nghe như có hai tiếng nói thì thầm trong hồn nó. Một là bảo nó cứ nằm yên ở đây cho nhàn hạ, hai là bảo nó hãy bỏ đây xuống đời tìm cho cuộc sống một ý nghĩa.

– Chả nhẽ cứ tiếp tục là đôi guốc nằm trên quầy hàng như thế này mãi sao?

Nó không phải là đồ trang sức, không phải là bức tranh cho người ta ngắm. Có nhàn hạ, nhưng nằm mãi ở đây thế này nó bắt đầu thấy chán, càng ngày càng thấm thía những suy nghĩ về một cõi sống trên những nẻo đường của cuộc đời. Nhưng mỗi khi nhìn đôi guốc dưới chân các bà mẹ, nó lại nghe tiếng nói khác thì thầm: “Vất vả quá!” Có đôi guốc sứt mẻ. Có đôi guốc mòn xác xơ. Ðiều đó làm nó nghĩ ngợi.

Ðời là một chọn lựa. Cứ tiếp tục suốt đời giam mình ở đây hay bước xuống đường để ra đi đây đó? Sau cùng nó quyết định ra đi.
Một trưa xế nắng kia, có người thiếu phụ vào tìm mua đôi guốc. Chủ hàng đem nó ra giới thiệu. Nhìn dáng người thiếu phụ, đôi guốc biết người đàn bà ấy thật thà, nhưng thấy dáng bà có vẻ nghèo. Những người nghèo thường vất vả. Bước chân của người nghèo là bước chân khổ. Làm thân guốc cho một người nghèo vất vả lắm. Thật thà mà nghèo chắc cũng chả hạnh phúc. Cuộc sống bây giờ chẳng ai quý người nghèo. Càng suy nghĩ, đôi guốc càng lưỡng lự, cứ sợ người đàn bà ấy chọn mua mình.

snhn7Nó phân vân không biết có nên theo chân bà ta hay không. Ðời luôn là phải chọn lựa như thế. Vất vả, nghèo mà thật thà, đặc tính của người muốn mua nó có vậy thôi. Ðôi guốc nghĩ thầm: “Ðến lúc muốn ra đi, lại gặp phải người đàn bà nghèo thế này. Hay ta chờ một người đàn bà khác giàu có. Theo chân người giàu sẽ sung sướng hơn?”

Trong lúc nó phân vân, người đàn bà cầm đôi guốc ngắm nghía, cho xuống chân ướm thử. Một làn hương thơm huyền nhiệm toát ra từ đôi chân bụi đường. Ðôi guốc vô cùng kinh ngạc, làm sao điều ấy có thể xảy ra được. Nó đã được nhiều đôi chân đẹp ướm thử mà chưa bao giờ có hiện tượng lạ lùng như thế. Phải là đôi chân dịu dàng mới toát ra vị thanh tao được chứ. Ðôi chân trần của người đàn bà nhà quê mốc thếch. Làm sao đôi chân lấm lem lại có thể toát ra một hương nhân đức kỳ bí được. Nó không ngờ. Ðiều huyền diệu ấy, tiếng lương tâm đôi guốc bảo cho nó biết rõ là đến từ lòng thật thà, bao dung, vất vả hy sinh của người mẹ kia. Bấy giờ, nó hối hận vì quá vội nghi ngờ đánh giá khi nhìn sự nghèo khó bên ngoài. Lòng hối hận ấy làm nó bừng lên một ước ao mãnh liệt là được theo chân bà. Linh tính cho nó biết nơi dấu chân người mẹ này có một thế giới huyền diệu. Nhưng người mẹ băn khoăn đặt nó vào kệ gỗ vì bà không đủ tiền.

Ðôi guốc gỗ mím môi tiếc xót vì từng bị thử dưới bao đôi chân, chưa thấy bước chân nào kỳ lạ như bước chân của người mẹ này. Giữa lúc nó muốn theo chân người đàn bà để khám phá thế giới linh thiêng kỳ bí đó, bà lại không đủ tiền mua nó. Bà tần ngần đặt đôi guốc lại kệ gỗ.

Người chủ hàng chỉ bán rẻ những đôi guốc bị nứt thôi. Ðôi guốc nghĩ thầm: “Hay là ta đánh đổi đời mình thành đôi guốc nứt?” Nếu vậy, còn gì dáng vẻ, vì cả một đời sẽ mang dấu vết nứt đó. Ðôi guốc suy nghĩ quay quắt về một chuyến đi trong đời.
Người đàn bà lại cầm nó trên tay, tiếc vì không đủ tiền. Ðôi guốc giật mình nghĩ rằng đời không có nhiều cơ hội. Nếu bà không đủ tiền mua nó, bao giờ bà sẽ quay lại? Có thể sẽ không bao giờ. Nếu bà đặt nó trở lại quày hàng, biết đâu nó sẽ vĩnh viễn không bao giờ gặp lại bà? Nó lấy hết can đảm theo tiếng gọi thâm sâu của linh hồn, chấp nhận một thương đau cho khởi đầu một chân trời kỳ bí kia đang chờ đón. Nó quyết định chấp nhận đời mình thành đôi guốc nứt. Tức khắc, ngay khi quyết định xong, nó nghe như trong linh thiêng có một trận chiến vô hình. Tiếng nói của Bóng Tối gục xuống. Tiếng nói của Ánh Sáng bừng lên. Cũng trong lúc ấy, như chiều cao thập giá đổ xuống, một vết thương xước ra, chạy dài toàn thân. Nó ngất lịm. Thế là nó thành một đôi guốc nứt.
Người đàn bà giơ lên nhìn kỹ. Bà ồ lên một tiếng thở nhẹ, vui mừng vì một khám phá:

– Ông chủ tiệm ơi, nhìn kỹ đi, đôi guốc có vết nứt đây này.

Người chủ tiệm tiếc rẻ. Ngần ngừ, ông đành bán tống nó đi.

Lúc tỉnh dậy, đôi guốc đã về đến nhà người đàn bà. Bà xoa xoa vết nứt, tìm mũi đinh đóng lại. Một lần nữa, nó đau buốt thân mình. Nhưng trong mỗi nhát búa, nó thấy mùa xuân đang về trên những nhánh gai. Nó bắt đầu cảm thấy ý nghĩa của nước mắt và hạnh phúc. “Tôi sẽ theo chân bà ta đi đâu bây giờ?” Trời đang vào hạ hanh nắng hay cúc vàng nhuộm xuân. Nó hồi hộp tự hỏi.
Ngày hôm sau, ngay chuyến đi đầu tiên nó đã mệt rã rời. Trời xuống tối, bà vẫn chưa về đến nhà. Quẩy gánh nặng trên vai. Con đường cứ dài thăm thẳm, toàn thân mình đau ê ẩm. Ðường đất miền quê sỏi đá gồ ghề, ngay chân bà cũng trượt té trầy da huống chi đôi guốc. Nó bị nện xuống gập ghềnh. Như vậy mà đã từ bao lâu nay người mẹ này cứ bước chân không, nghĩ đến nỗi đau, nó thấy xót xa cho bà. Nhìn xuống nỗi đau của mình, nó muốn chia sẻ với bà nỗi đau kia. Lạ lùng quá, khi mới chợt có ý nghĩ ấy, nó thấy toàn thân nóng bừng, và trên nỗi đau nó thấy ý nghĩa ngọt ngào của hy sinh.

Qua một buổi chiều mà đôi guốc đã khám phá bao nhiêu bí mật đời sống dưới bàn chân một người mẹ:

– Hy sinh bao giờ cũng có hương thơm có thể bay ngược chiều gió.
– Chịu đựng bao giờ cũng cho tâm hồn nét đẹp cao thượng.
– Gánh nặng vì tình yêu luôn luôn đi đôi với sức mạnh.
– Thật thà là mật ngọt nuôi dưỡng bình an.
– Nhẫn nại là những đường may nối dài tình thương.

Quá mệt, đôi guốc ngủ thiêm thiếp lúc nào không hay. Lúc ướt lạnh, nó co người rùng mình thì người mẹ đã đang ở bờ giếng kéo nước đổ vào nồi cám nấu cho heo. Ðôi guốc bàng hoàng không biết trời đang vào khuya hay đã về sáng. Chung quanh chỉ là đêm tối lần mò. Nó lắng nghe bước chân. Người mẹ hết quanh quẩn trong góc bếp lại ra cầu ao. Khuya thế này rồi sao bà không nghỉ ngơi? Ðôi guốc mệt đừ.

* * *

Thời gian thấm thoát thoi đưa. Thoát chốc đã đến ngày đôi guốc mòn quá rồi. Bây giờ nó không còn là hình dạng đôi guốc ngày xưa trong cửa hàng nữa. Xấu xí, lem luốc, nứt nẻ. Nhìn lại quãng đời, đôi guốc không thể biết được nó đã bước bao nhiêu đường dài. Nếu mỗi ngày bà mẹ quẩy gánh 10 cây số, thì 365 ngày một năm, đã trên 3 ngàn cây số rồi. Trời ơi! Ðôi guốc không ngờ nó đã đồng hành với bà trên một dặm đường dài hơn cả đất nước của người đàn bà như thế.

Ðôi guốc không hiểu sao nó có sức chịu đựng trung thành theo chân bà. Nó còn nhớ ngày xưa nằm trên quầy tủ cửa hàng, mới chỉ nghĩ đến ra đi đã ngao ngán quá rồi. Vậy đâu là sức mạnh? Gần đến cuối đời, đôi guốc nhìn lại những bến bờ đã đi qua, nó thấy cộng lại những cây số ngàn ấy, không bước chân nào của bà mẹ không có tình thương. Từ sớm tinh mơ đến tan chợ chiều, bà vất vả cũng vì các con mà thôi. Từ đó, đôi guốc khám phá ra khi nó được chia sẻ đời nó trong tình yêu, tình yêu cho nó sức mạnh. Bất cứ nơi nào có tình yêu thì có sức sống. Bất cứ gỗ đá nào chạm vào tình yêu cũng thành trái tim mềm mại thiết tha. Và nó hiểu, nó không đi tìm mùa xuân vì chính nó đang làm nên mùa xuân cho cuộc đời.

* * *

Thưa mẹ, con còn nhớ một đêm kia, khuya quá khuya, mẹ ngồi bên con, nhìn con trong cơn sốt. Làm sao mẹ có đôi đũa thần của bà tiên quyền phép làm cho con hết cơn đau. Mẹ cứ ngồi bên con vậy thôi. Mẹ không an lòng rời xa con. Mẹ đặt tay lên trán con chờ mong từng giây cho con hết bệnh. Muốn uống một ly sữa, con chỉ cần đưa chiếc ly lên miệng uống là xong. Bây giờ nhìn lại, con thấy đêm đó, khi chợt nghe con muốn một ly sữa, mẹ vội thắp thêm đèn, chiếc đèn dầu con tù mù, lệch kệch ra sau vườn kéo gầu nước, nhóm bếp củi mù than đun nước. Mẹ hối hả không ngại ngùng gõ cửa hàng vào những giờ người ta không muốn thức giấc để mua, hòa cho con một ly sữa.

* * *

Sau khi bà mẹ chết, đôi guốc nằm im lặng nơi góc tường tối. Không người con nào để ý. Nó âm thầm một đời theo chân người mẹ, hy sinh, vất vả, chịu đựng. Lúc người mẹ còn sống, đôi guốc đã âm thầm như thế. Bây giờ bà chết rồi, nó vẫn tiếp tục cái âm thầm của bao tháng ngày về trước. Chẳng lẽ bất cứ điều gì liên quan tới mẹ đều lặng lẽ như thế sao?

Tình yêu của những người mẹ dường như bao giờ cũng âm thầm. Xin những người con hãy khua động tình yêu âm thầm ấy của mẹ bằng một cánh hoa linh hồn.

Kìa, ngoài kia đất trời đã đang chuyển mình tìm mùa xuân.

Lạy Chúa, con cũng đang đi tìm mùa xuân cho cuộc đời. Chân đi trong đời để tìm mùa xuân nhiều khi rất đau. Và bây giờ con hiểu, con nhớ tới đôi guốc của mẹ con.

LM Nguyễn Tầm Thường, S.J. (Trích trong Cô Đơn và Sự Tự Do)

ỨNG NGHIỆM LỜI KINH THÁNH

Người bắt đầu nói với họ: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”

Đấy là kết luận bài giảng đầu tiên của Đức Giêsu trong hội trường làng quê Nagiarét: Qua bài đọc của ngôn sứ Isaia, Đức Giêsu vừa đưa ra một chương trình hành động: Rao giảng Tin Mừng cho Người nghèo hèn, giải phóng những tù nhân, đem lại sự giải thoát cho những người bị áp bức, loan báo năm hồng ân của Chúa.  Lời chú giải duy nhất của Đức Giêsu nói rằng!  Hôm nay, mọi sự ấy đã ứng nghiệm.  Trước sự ngạc nhiên của cử tọa, Người khẳng định rằng bản thân Người đã đáp lại trọn vẹn mọi sự chờ đợi của Israel.  Đức Giêsu kéo Lời Chúa từ “quá khứ” xa xôi nơi người ta muốn luôn luôn giam hãm Lời Chúa.  Người yêu cầu nhân loại chớ đặt Thiên Chúa “trong quá khứ” hoặc “trong tương lai”: phải là sự lan tỏa của Thiên Chúa, dự án của Thiên Chúa, trong đời sống hàng ngày của chúng ta… Hôm nay!

Và hôm nay, chẳng phải chúng ta cũng đã cố gắng kéo lui Tin Mừng trở về phía sau, vào hai mươi thế kỷ trước đây đó sao?  Vậy còn những người nghèo hèn nào, những tù nhân và người bị áp bức nào hôm nay ở chung quanh chúng ta?  Chúng ta sẽ mang đến cho họ Tin Mừng nào?

Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người

Tôi chiêm ngưỡng “miệng” Đức Giêsu mà Luca là người duy nhất thường nói với chúng ta (Lc 4, 22; 11, 54; 22, 71). Những “lời ân sủng” từ miệng Đức Giêsu mà ra.  Như thế, sự rao giảng của Đức Giêsu đã bắt đầu với việc khẳng định rằng thời kỳ mà Thiên Chúa ban ơn “không mất tiền” và ban sự tha thứ đã đến và đó là hôm nay: ý nghĩa sít sao của từ “giải phóng” trả lại tự do, hay “giải thoát” (“aphésis” trong tiếng Hy Lạp) là thế.  Đức Giêsu đến để mang lại một “sứ điệp của ân sủng”, một sự ban ơn, một quà tặng vô giá mà không ai xứng đáng được.  Chúng ta phải ghi nhận rằng toàn bộ thần học của thánh Phaolô về “ân sủng” trong thư gởi tín hữu Rôma đã được viết ra khi Luca soạn thảo Tin Mừng của Người.  “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5, 20).

Luca đã là một môn đệ và một người bạn đồng hành của Phaolô.  Không giống như Máccô (6, 1-6), trước tiên Luca ghi nhận rằng việc rao giảng của Đức Giêsu được đón nhận: “Mọi người đều tán thành và thán phục?”  Những người dân ở Nagiarét không xấu xa hơn ở những nơi khác: Vậy thì, tại sao họ sắp sửa trở mặt?

Họ bảo nhau: “Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?

Luca biết rất rõ đó là một biểu lộ sự ngu dốt của họ về nguồn gốc thật sự của Đức Giêsu như ngài vừa viết ra trên giấy trắng mực đen: “Thiên hạ vẫn coi Người là con ông Giuse” (Lc 3, 23).  Vậy thì, người ta hài lòng với “sứ điệp của Đức Giêsu, nhưng Người ta không muốn nhận sứ điệp ấy từ Người: Đó là cớ vấp phạm rất thông thường của nhân loại!  Dẫu sao, đó chỉ là “con ông Giuse.”  Giáo Hội cũng luôn gây ra cùng một cớ vấp phạm.  Người ta sẵn sàng tiếp đón sứ điệp của Giáo Hội, nhưng người ta không chấp nhận sự yếu đuối của con người trong Giáo Hội.

Giáo Hội cơ cấu giống như phần lớn các hiệp hội, với tài chính của nó, với sự nặng nề trong việc điều hành, nhưng sơ cứng của sức nặng quá khứ trong huyết quản, những tội lỗi của cách thành viên, chứng nhận định thiếu sót của một số viên chức, sự sợ hãi canh tân, những mâu thuẫn giữa “nói” và “làm”.  Người ta không bao giờ nhận xét hết những khía cạnh “quá” con người của Giáo Hội.  Như thế, những người dân ở Nagiarét bị kẹt cứng trong định kiến “con ông Giuse.”

Người nói với họ: “Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ: Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình!  Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Ca-phác-na-um, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào!

Đức Giêsu không tìm cách làm giảm nhẹ cuộc xung đột mà Người đoán trước: Chính Người đã tấn công. “Vậy ông hãy làm cho chúng tôi những phép lạ như ông đã làm ở những miền lân cận!”  Người ta không ngừng đặt “cơn cám dỗ” lớn ấy dưới chân Đức Giêsu.  Đó là cơn cám dỗ của satan (Lc 4, l-14).  Người ta đòi hỏi Đức Giêsu những “dấu chỉ từ trời xuống” (Lc 11, 16).

Một trong những cách chối bỏ Thiên Chúa là yêu cầu Chúa làm các phép lạ.  Chúng ta tiếp tục có thái độ của người dân ở Nagiarét.  Chúng ta muốn có một Thiên Chúa tỏ mình ra thêm chút nữa, một Thiên Chúa giải quyết những vấn đề của chúng ta thay cho chúng ta.  Vả lại Thiên Chúa không thích vai trò mà chúng ta muốn ép Người làm.  Thiên Chúa không thích điều ngoại lệ, kỳ diệu và ly kỳ.  Khi Người chữa lành một người mù không phải để làm cho chúng ta kinh ngạc mà để ám chỉ cho chúng ta biết rằng Người muốn chữa sự mù lòa vốn có của tất cả chúng ta.  Khi Người chữa lành một người bị liệt nằm trên cáng, vì Người mong muốn chữa lành mọi người chúng ta khỏi một bệnh liệt còn nặng hơn nhiều là tội lỗi của chúng ta.  Điều đó được nói rõ ràng trong Tin Mừng (Lc 5, 17-26).

“Vậy ông cũng hãy làm tại đây một phép lạ cho chúng tôi.”  Chúng ta cũng thế, có lúc chúng ta tưởng rằng mình phục vụ Thiên Chúa theo cách đó.  Vả lại, muốn xếp đặt Thiên Chúa “để phục vụ chúng ta” chính là chối bỏ Người.  Tối hậu thư bi đát.  Tối hậu thư buồn cười.  Con người tìm đến trước mặt Chúa và yêu cầu Người “làm” điều mà mình mong mỏi, điều phục vụ cho mình?  Thách thức Thiên Chúa?  Giảm lược Thiên Chúa để Người chỉ còn là một “động cơ phụ gỡ rối cho chúng ta khi cái xe: không còn chạy được nữa.  Ôi! Lạy Chúa, con nhận ra mình ở trong số những người đồng hương của Chúa ở Nagiarét!  Xin Chúa giúp con trở lại với lòng con để bắt đầu phục vụ Chúa, thay vì đòi Chúa phục vụ con.  Thay vì lúc nào cũng nói “nguyện ý con được thể hiện bởi Chúa, con phải nói trong chân lý rằng nguyện ý Cha được thể hiện bởi con.”

Người nói tiếp: “Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình

Không, người ta chẳng chịu nghe các ngôn sứ.

Làm ngôn sứ chẳng dễ chịu chút nào, phiền toái là đằng khác!  Nghĩa là làm “người phát ngôn” của Thiên Chúa.  Giêrêmia trong bài đọc một của chủ nhật này nói với chúng ta điều đó một cách thật đau đớn.  Thiên Chúa không phải lúc nào cũng nói những lời dễ nghe.  Vì thế nhiều ngôn sứ đã phải chết: “Giêrusalem! Ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi!” (Mt 23, 37).  Đấy là một chủ đề của Luca (6, 23; 11, 47-50; 13, 33-34; Cv 7, 52).

Còn chúng ta, trong thế giới mà đa số là vô tín và duy vật, nhưng chúng ta có phải là những ngôn sứ không?  Không phải trong những lúc đặc biệt mà trong đời thường mỗi ngày; nắm chắc “chính nghĩa của Thiên Chúa”, nắm chắc lời “vì Chúa” (từ ngôn sứ trong tiếng Hy Lạp do chữ “pro-phèmi” có nghĩa là “tôi nói vì”).

Thật vậy, tôi nói cho các ông hay: vào thời ông Êlia, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thiếu gì bà goá ở trong nước Israel; thế mà ông không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà goá thành Xarépta miền Xiđôn.

Luca, môn đệ của thánh Phaolô, tông đồ dân ngoại, là người duy nhất đưa ra sự so sánh này lấy ra từ Cựu ước để nhấn mạnh đến những ân huệ mà Thiên Chúa ban cho những người không phải là dân Do Thái.  Biến cố ở Nagiarét mang dáng dấp của một chủ đề thần học: ơn cứu độ không dành riêng cho một số người đặc quyền.  Thiên Chúa muốn cứu chuộc mọi người.  Thiên Chúa yêu thương dân ngoại.  Không có Đất Thánh, không có Dân được chọn.  Chúng ta sẽ lạm dụng ngôn ngữ mạc khải nếu chúng ta sử dụng những cách diễn tả của Kinh Thánh một cách cố chấp như thể những miền đất khác bên ngoài Israel là phàm tục, như thể các dân tộc khác bị loại trừ khỏi Giao ước Thiên Chúa không có biên giới!  Thiên Chúa còn bao la, cao cả hơn những chân trời nhỏ bé của bản thân chúng ta!  Người ta không thể giam hãm con ông Giuse trong cái “hố” ở Nagiarét của Người.  Thiên Chúa cao cả hơn Giáo Hội hữu hình.  Những người ngoài Kitô giáo không nằm bên ngoài ân sủng của Thiên Chúa.

Cũng vậy, vào thời ngôn sứ Êlisa, thiếu gì người phong hủi ở trong nước Israel, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ co ông Naaman, người xứ Xyri thôi

Trong sự so sánh giữa Israel và các dân ngoại, mọi ưu điểm thuộc về dân ngoại.  Khi nào có thể, Đức Giêsu đều thán phục đức tin của các dân ngoại, những người không phải là Do Thái, những người Samari dị giáo (Lc 9, 23.47; 10, 33; 17, 16).  Thật lạ lùng khi tôn giáo có thể làm sơ cứng lòng người.  Từ hai ngàn năm rồi Israel đã chờ đợi Đấng Mêsia, nhưng đức tin của họ bị sơ cứng.  Đó là lời cảnh báo cho tất cả những ai tưởng rằng mình thân thiết với những việc của Thiên Chúa, tưởng rằng mình được hưởng, một nền giáo dục Kitô giáo tốt đẹp, và việc thường xuyên tham dự các bí tích bảo đảm.  “Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (Lc 7, 34).
snhn6Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ.  Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành – thành này được xây trên núi.  Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực

Đây là sự tiên báo số phận sau cùng của Đức Giêsu.  Người bị giết bên ngoài thành (Lc 20, 15; Cv 7, 57).  Chúng ta hẳn sẽ lầm khi vội vã tưởng rằng mình ở về phía những người lương thiện và được miễn trừ thái độ của những người đồng hương với Đức Giêsu.  Rất nhiều lần, chúng ta cũng “lôi” Đức Giêsu ra khỏi những quyết định của chúng ta, nhà chúng ta, nghề nghiệp chúng ta.  Ông không can dự gì ở nhà tôi!  Hỡi ngôn sứ, đi chỗ khác mà thuyết giáo.

Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi

Những từ khước của tôi không thể ngăn Con Thiên Chúa theo đuổi kế hoạch của Người với những người khác.  Điều tệ hại là tôi không biết ngạc nhiên nhiều hơn!  Giữa những trào lưu của lịch sử, những từ khước của con người, Đức Giêsu tiếp tục “con đường của Người.”  Lạy Chúa, cám ơn Chúa!

Noel Quesson

 

BỆNH QUÊN

Có một gia đình nghèo, thất nghiệp. May thay lại có một chủ xưởng cưa chịu nhận cả gia đình vào làm. Ông lo cho cơm ăn, áo mặc, chỗ ở, và có việc làm mỗi ngày. Mọi chuyện tốt đẹp.
Nhưng ít sau, đến giờ đi làm thì:
– Người thì nói: trời hôm nay nắng quá, khi nào trời mát rồi tính.
– Kẻ thì lên tiếng: khúc cây còn tươi, nên dai, khó cưa.
– Người thì nói: lưỡi cưa không sắc, khi nào có lưỡi tốt thì làm.
– Người khác kêu ca: loại gỗ này già tuổi, gỗ cứng chắc làm sao mà cưa.
– Một người lớn tiếng: khúc gỗ hôm nay cong quá, làm sao bây giờ.
– Người thì than rằng hôm nay mình chán nản, mệt mỏi quá.
Và thế là cả gia đình nghỉ việc.

********************************************
Dân Israel trong thời nô lệ ở Ai cập rất là khổ cực, bất hạnh. Bị hành hạ, ngược đãi và đối xử bất công. Họ phải làm những việc nặng nhọc, dù thời tiết có mưa bão hay nắng cháy, dù người khoẻ hay yếu đều phải làm việc. Ăn uống thì chỉ được ăn cho khỏi chết mà thôi. Học hành, giải trí… quần áo, nhà cửa, thuốc men ư? Bị đối xử như là súc vật thì làm gì có những thứ tốt và làm gì có quyền đòi hỏi quyền lợi.
Thế rồi, họ được Đức Chúa thương cứu họ cho khỏi cái nhục nhằn của đói khổ và công việc. Họ thoát được cảnh bất công giữa chủ và nô lệ. Họ được Moses dẫn qua sa mạc đến vùng đất hứa, vùng đất snhn5đầy sữa và mật ong, vùng đất hứa hẹn cho cả dòng dõi họ và con cháu.
Thế nhưng, họ đâu có nhớ. Họ kêu ca than phiền và đưa ra mọi thứ yêu sách. Tại sao chúng tôi phải như vậy. Nào là trời nắng, khó chịu, bực bội quá. Rồi đến ăn bánh manna nhạt nhẽo không bổ béo gì. Nào là muốn nước trong, nước sạch nước mát, rồi đến đòi ăn thịt chim. Chưa hết, họ còn chê trách Thiên Chúa, bỏ rơi Ngài để thờ thần khác, thờ bò vàng.
Trình thuật của Luca cho biết đến cái thế hệ khó hiểu là: “thổi sáo vui mừng thì không nhảy múa. Hát bài đưa đám thì không khóc than” (Lc 7, 31). Chúa Giêsu còn dẫn chứng: Gioan tẩy giả sống đơn sơ nghiệm nhặt; sống chay tịnh, không ăn bánh, chỉ ăn châu chấu và mật ong, không uống rượu chỉ uống nước lã. Thì họ cho là đồ ngốc đồ khùng, người bị quỷ ám. Còn Con Người đến cũng ăn, cũng uống như ai thì lại kêu là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi.
Đúng là con người, lưỡi không xương nhiều đường lắt léo.
Chúa Giêsu nói đến thế hệ này, để giúp cho ta thấy con người có một lịch sử không tốt lành, ít là thời gian dân Israen thoát khỏi ách nô lệ Ai cập trên con đường qua sa mạc về đất hứa, dưới hướng dẫn của Moise. Và cũng là lời cảnh báo cho những người nghe Ngài phải đặt lại vấn đề về sự cứng lòng không nhìn nhận, không chịu nghe Ngài hướng dẫn để có thể đi qua sa mạc đời mình mà về được đất hứa thật là Nước Trời.
Vậy nguyên nhân bởi đâu? Bởi con người bị mắc một thứ bệnh khó trị, bệnh di truyền. Ấy là bệnh Quên.
Những người trong câu truyện trên, họ đã đưa ra đủ lý do để nghỉ việc. Họ quên hẳn thân phận của mình rằng, nếu không được ông chủ giúp đỡ thì còn bi đát khốn khổ hơn. Nhờ ông chủ mà gia đình họ nhìn thấy mặt trời, nhìn thấy tương lai tươi sáng và nhiều hy vọng. Đáng lẽ họ hăng say, nhiệt tình và chịu khó làm việc để đền ơn đáp nghĩa, thì họ lại đòi hỏi, ra điều kiện với ông chủ, rồi nghỉ việc.
Những người Israel, đã được Đức Chúa cứu giúp, thoát khỏi ách thống trị áp bức của Ai cập. Họ được trả tự do, được phục hồi nhân phẩm. Giờ đây, mỗi người có quyền xây dựng cuộc đời mới tốt hơn trong tin yêu và hy vọng.
Đáng lẽ họ phải hết lòng biết ơn và một mực trung thành với hướng dẫn của Đức Chúa qua Moises trên con đường trở về với vùng đất phì nhiêu, vùng đất của hạnh phúc mà Người đã hứa. Thế nhưng họ lại quên. Quên đi thân phận hẩm hiu bọt bèo của mình. Hành trình ở sa mạc cho biết rõ con người thật mau quên của họ. Họ dần quên Đức Chúa. Họ bắt đầu càm ràm về thời tiết nắng cháy, về ăn không ngon, uống không ngọt, ngủ không yên. Họ nghĩ mình là người phải được phục vụ mọi thứ tốt lành. Họ chê trách Moses, oán hờn Đức Chúa. Rồi bỏ Người mà theo các thần khác, đúc bò vàng để thờ.
Những người đương thời với Chúa Giêsu cũng vậy, đáng lẽ họ phải vui mừng phấn khởi hân hoan vì điều họ hy vọng về Đấng Cứu Thế đến, giờ đã thành hiện thực. Đáng lẽ họ phải lắng nghe, chiêm ngắm và cộng tác, phải vui mừng và vỗ tay, kính trọng và biết ơn, tôn kính và thờ phượng. Thế nhưng họ lại thờ ơ dửng dưng, hiểu lầm coi thường, chê bai trách móc, hãm hại chống đối, vu khống giết chết. Cái nghịch lý là chính họ muốn Đấng Tốt lành đến, nhưng khi Ngài đến thì họ lại không chấp nhận, và muốn trở về với truyền thống tổ tiên.
Quên quả thật rất tai hại. Quên sẽ đánh mất chính mình, đánh mất Thiên Chúa và là cửa đưa tới đau khổ.
Nhìn vào Ađam và Eva, nhìn vào nhân loại xưa cũng như nay, đời cũng như đạo, biết bao thứ trục trặc xảy ra cũng bởi vì quên.
Quên làm cho ta thành kẻ vô ơn bạc nghĩa.
Quên làm cho ta thành người bất hiếu bất trung.
Quên làm cho ta thành loại bạc nghĩa bất lương.
Quên làm cho ta thành kiêu căng tự phụ.
Quên làm cho ta thành căng thẳng khó tính.
Quên làm cho ta thành lo âu bất ổn.
Quên làm cho ta thành đau khổ bất hạnh.
Quên làm cho ta xao xuyến lao đao.
Quên làm cho ta xa rời ân sủng Chúa, cắt đứt liên lạc với Ngài. Và ta sẽ bị cô lập khỏi ân sủng Chúa. Dù ân sủng Ngài nhiều như mưa, như nắng, như không khí.
Xin Chúa cho ta biết khiêm nhường nhìn nhận sự thật về mình và về Thiên Chúa để bày tỏ lòng thành kính tri ân về mọi ân lộc Chúa đã ban cho ta.

Thanh Thanh

CHẲNG VỊ THÁNH NÀO KHÔNG CÓ MỘT QUÁ KHỨ, CŨNG CHẲNG TỘI NHÂN NÀO KHÔNG CÓ MỘT TƯƠNG LAI

Trong bài giảng thánh lễ sáng thứ ba, ngày 19.01, tại nhà nguyện thánh Marta, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chia sẻ rằng: “Chẳng vị thánh nào không có một quá khứ, cũng chẳng tội nhân nào không có một tương lai.  Thiên Chúa không bao giờ dừng lại ở dáng vẻ bề ngoài mà luôn nhìn sâu vào tận tâm tư cõi lòng của con người.”

Khởi đi từ bài đọc một, kể lại việc Thiên Chúa đã tuyển chọn cậu bé Đa-vít để sau này trở thành vua của Ít-ra-en, Đức Thánh Cha chia sẻ rằng: “Ngay cả những vị thánh, trong cuộc đời của mình, cũng đã gặp phải những cám dỗ và tội lỗi, giống như cuộc đời của vua Đa-vít vậy.

Thiên Chúa đã gạt bỏ vua Sa-un vì vua có một tâm hồn đóng kín, chiều theo ý dân chúng hơn là vâng phục Thiên Chúa.  Thiên Chúa đã quyết định chọn cho dân Ngài một vị vua khác.

Thiên Chúa đã chọn Đa-vít.  Sự chọn lựa ấy nếu dựa theo tiêu chuẩn của con người sẽ chẳng thể nào hiểu được, vì Đa-vít chỉ là một đứa trẻ và lại còn là đứa con nhỏ nhất của ông Gie-sê.  Nhưng Thiên Chúa đã phán rất rõ ràng với tiên tri Sa-mu-en rằng Ngài không xét theo hình dáng bên ngoài và những tiêu chuẩn theo kiểu người phàm.  Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Thiên Chúa thì thấy tận đáy lòng.

Chúng ta thường bị chi phối bởi dáng vẻ bề ngoài và tự cho phép chúng ta theo đuổi những dáng vẻ ấy.  Nhưng Thiên Chúa là Đấng biết sự thật và những điều kín ẩn bên trong.  Ông Gie-sê cho bảy người con trai đi qua trước mặt ông Sa-mu-en, nhưng Thiên Chúa không chọn ai trong số họ.  Sa-mu-en cảm thấy khó khăn, bối rối và nói với ông Gie-sê: “Đức Chúa không chọn những người này.  Các con ông có mặt đầy đủ chưa?”  Ông Gie-sê trả lời: Còn cháu út nữa, nó đang chăn chiên.”  Trước mắt người đời, đứa trẻ này không được tính, không đáng để quan tâm đến.

Đứa bé chẳng có gì khiến người ta phải lưu ý, nhưng Thiên Chúa đã chọn cậu và truyền cho Sa-mu-en xức dầu tấn phong cậu.  snhn4Và Thần Khí Đức Chúa ở với Đa-vít từ ngày đó trở đi.  Trọn cuộc đời của Đa-vít là cuộc đời của một người được Thiên Chúa xức dầu, được Thiên Chúa tuyển chọn.

Nhưng ngay lúc đó, Thiên Chúa có biến cậu Đa-vít thành một vị thánh không?  Câu trả lời là không.  Mặc dù vua Đa-vít là một thánh vương, điều này là sự thật, nhưng ngài chỉ trở thành thánh sau khi sống một thời gian lâu dài.  Trong cuộc sống đó, ngài cũng phạm tội, cũng vướng mắc bao lỗi lầm.

Vua Đa-vít là một vị thánh và cũng là một tội nhân.  Ngài là người có khả năng lãnh đạo con cái Ít-ra-en thống nhất đất nước, nhưng lại yếu đuối để rơi vào cám dỗ.  Không chỉ phạm tội, ngài còn là kẻ sát nhân.  Để che dấu ham muốn, dục vọng của mình (tội ngoại tình), vua Đa-vít đã mưu sát người khác.  Khi Thiên Chúa sai tiên tri Na-than đến chỉ cho vua thấy tội lỗi mà vua đã phạm – vì quả thực ngài không ý thức hết sự tàn ác, man rợ trong thủ đoạn của mình – vua Đa-vít đã ăn năn thú tội và nài xin sự tha thứ của Thiên Chúa.  Vua Đa-vít đã không lợi dụng Thiên Chúa cho những tính toán riêng tư của mình.  Khi bị truy đuổi buộc phải chạy trốn khỏi Giê-ru-sa-lem, ngài đã gởi trả lại Hòm Bia Giao Ước, vì không muốn dùng Thiên Chúa như vật thế thân cho mình.  Và sau này, khi bị xúc phạm, ngài cũng khiêm nhường thú nhận: “Tôi đáng bị như vậy.”

Vua Đa-vít cũng thật hào hiệp và trượng nghĩa.  Có thể hạ sát vua Sa-un nhiều lần, nhưng ngài đã không ra tay.  Ngài là một thánh vương và cũng là một đại tội đồ, nhưng đã ăn năn sám hối.  Tôi thực sự được đánh động khi nhìn ngắm cuộc đời của con người này.  Và cuộc đời ấy cũng khiến chúng ta phải suy nghĩ về chính cuộc sống của mình.  Tất cả chúng ta đã được Thiên Chúa tuyển chọn qua Bí Tích Thánh Tẩy, để được thuộc về Đoàn Dân Chúa, được trở nên những vị thánh.  Tất cả chúng ta đã được thánh hiến nhờ Đức Giêsu Kitô, để trở nên tinh tuyền, thánh thiện.  Khi đọc lại cuộc đời của vua Đa-vít từ khi còn là một chàng trai trẻ cho đến lúc tuổi già, chúng ta nhận thấy ngài đã làm nhiều điều tốt, nhưng cũng có những điều chẳng tốt lành gì.  Điều ấy khiến tôi xác tín rằng, trong hành trình của người Kitô hữu, cuộc hành trình mà Thiên Chúa đã mời gọi chúng ta đảm đương lấy, chẳng vị thánh nào không có một quá khứ và cũng chẳng tội nhân nào không có một tương lai.

Vũ Đức Anh Phương, SJ

Nguồn: R. Vatican

XÓA NỢ CHO NHAU

Trước lúc lìa đời, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có giao cho con cháu một cái ống tre sơn son thếp vàng gắn bít hai đầu và dặn đến đúng năm tháng ấy, ngày giờ ấy, phải để cái ống ấy vào kiệu rước lên dinh tổng đốc Hải Dương, trao cái ống này cho quan thì sẽ cứu vãn được tình thế gia đình nhưng tuyệt đối không được ai mở ra xem, trừ quan tổng đốc.
Cái ống tre ấy truyền đến người cháu bảy đời của Trạng, mới rước lên dinh quan tổng đốc, đúng vào ngày giờ đã ghi trong gia phả.  Khi quan mở ống thấy một cuộn giấy, ông rút ra xem thấy có hai câu chữ nho: “Ngã cứu nhi thượng lương chi ách.  Nhĩ cứu ngã thất thế chi bần.”  Nghĩa là: “Ta cứu ngươi khỏi xà nhà đổ.  Ngươi cứu cháu bảy đời của ta còn nghèo.”
Đang lúc bận việc, quan tổng đốc thấy hai câu nói xấc xược ấy, ông liền nổi giận.  Sẵn cầm chiếc quạt trên tay, ông đứng phắt dậy, chạy lại định đánh người cháu bảy đời của Trạng.  Nhưng vừa bước khỏi sập, chiếc xà nhà ngay trên đỉnh đầu đổ xuống đánh rầm một cái.  Phúc bảy mươi đời, ông mới vừa bước ra, nên không sao cả.
Quan tổng đốc lúc đó mới giật mình hiểu rõ Trạng đã cứu mình khỏi cái chết bất đắc kỳ tử.  Quan ân cần xin lỗi người cháu ông, mời về tư thất đãi cơm rượu, rồi cho một số tiền khá lớn, để cứu giúp cho gia đình cháu của Trạng đang lâm hoàn cảnh cực kỳ túng thiếu.

************************************

Nói đến các bậc tiên tri ở nước ta, trước hết phải kể đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.  Sinh thời ông đã nổi tiếng về các giai thoại tiên tri, đến nỗi các sĩ tử nô nức xin theo học và thiên hạ đua nhau tìm đến hỏi về những việc tương lai.
Tuy nhiên, các lời sấm của ông được ứng nghiệm là do trí thông minh của ông đã mách bảo.  Còn hôm nay, nơi Đức Giêsu đã ứng nghiệm sấm ngôn của Isaia do Thánh Thần linh ứng.  Chính Đức Giêsu cũng là một tiên tri được đầy tràn Thánh Thần.  Một tiên tri cao cả mang ơn gọi và sứ mạng cứu độ.
Khi chịu phép rửa, Người đã nhận lãnh Thánh Thần như một việc xức dầu.
Người được sai đi đem Tin Mừng cho người nghèo hèn, những kẻ nghèo tiền, nghèo bạn, nghèo văn hóa.
snhn3Người được sai đến với những kẻ bị giam cầm trong lao tù, trong ích kỷ, trong tham lam.
Người cho kẻ mù được sáng mắt, kẻ u mê thoát vòng tối tăm.
Người trả tự do cho người bị áp bức, phá xiềng xích cho những tội nhân.
Người khai mở một năm Toàn Xá, Năm Thánh, năm Hồng Ân cứu độ.
Chúng ta cũng đã được xức dầu để trở thành tiên tri, đi loan báo Tin Mừng cứu độ.
Nếu Thánh Thần đã chi phối toàn bộ ngôn từ, hành vi của Đức Giêsu, chúng ta cũng hãy ngoan ngùy để Thánh Thần hướng dẫn tất cả lời nói, việc làm của mình.  Nếu sấm ngôn của Isaia đã ứng nghiệm nơi Đức Giêsu; ước gì Lời Chúa cũng được ứng nghiệm trong cuộc đời chúng ta, bằng sự cộng tác tích cực của bản thân mỗi người.
Con người ngày nay khắc khoải trong lo âu sầu muộn, người tín hữu Kitô phải là chứng nhân của niềm vui.
Con người ngày nay ngụp lặn trong bóng tối của lầm lạc, người tín hữu Kitô phải chiếu tỏa ánh sáng của đức tin.
Con người ngày nay bị kìm tỏa trong vòng nô lệ của tiền bạc, danh vọng; người tín hữu Kitô phải loan báo sự tự do của con cái Chúa.
Nếu những người đã chịu phép Rửa trong Thánh Thần, mà còn làm ngơ trước những con người nghèo hèn, áp bức kẻ cô thân cô thế, bịt mắt những anh em dốt nát, và giam hãm tha nhân trong ngục tù dưới nhiều hình thức; thì quả thật, Lời Chúa chẳng bao giờ được ứng nghiệm trong cuộc đời họ.  Và Năm Thánh qua đi trong cuộc đời mà họ không hề nhận được một chút Hồng Ân nào của Thiên Chúa.

************************************

Lạy Chúa, Đức Thánh Cha đã kêu gọi các nước giàu xóa nợ cho các nước nghèo.  Xin cho chúng con cũng biết xóa nợ cho nhau, không chỉ xóa nợ tiền bạc mà còn xóa đi những bất bình, nghi kỵ, thành kiến, hiểu lầm nhau…, để mọi người chung quanh chúng con được nhẹ nhàng hơn, thanh thoát hơn, vui tươi hơn.

Xin cho chúng con luôn là những sứ giả đi loan báo và chứng tá cho tình yêu cứu độ của Chúa.

Amen.

Thiên Phúc

 

CHĂM LO CHO LINH HỒN MÌNH

Lợi ích gì nếu được cả thế gian mà phải đau khổ vì mất linh hồn mình?

Chúa Giêsu đã dạy chúng ta như thế, và tôi ngờ rằng chúng ta thường không nắm bắt được trọn vẹn ý nghĩa của lời này.  Chúng ta thường hiểu những lời của Chúa Giêsu như thế này: Có gì tốt khi ai đó được giàu có, danh tiếng, khoái lạc, và vinh quang rồi chết đi và xuống hỏa ngục?  Có gì tốt nơi vinh quang và khoái lạc trần gian, nếu chúng ta lỡ mất sự sống đời đời?

Đúng, lời dạy của Chúa Giêsu chắc chắn có ý như thế, nhưng có những bài học quan trọng khác nữa trong lời dạy này, chỉ cho chúng ta biết về sức khỏe và hạnh phúc ngay ở đời này.  Chúng ta đánh mất linh hồn mình như thế nào?  “Đánh mất linh hồn” ngay trong thế gian này nghĩa là gì?  Linh hồn là gì, và làm sao có thể mất linh hồn?

Do bởi linh hồn là vô hình và thiêng liêng, nên không thể họa ra được.  Chúng ta phải dùng các khái niệm mơ hồ để cố hiểu được linh hồn.  Các triết gia, từ thời Aristotle, đã có khuynh hướng định nghĩa linh hồn như một nguyên tắc đôi trong mọi đời sống.  Với họ, linh hồn vừa là nguyên tắc sự sống và năng lượng trong chúng ta, vừa là nguyên tắc của sự kết dính thấm nhập.  Về căn bản, linh hồn là hai sự: Là ngọn lửa bên trong, cho chúng ta sự sống và sinh lực, và linh hồn cũng là chất keo kết dính chúng ta lại với nhau.  Trong khi điều này có vẻ mơ hồ, nhưng không phải thế, bởi chúng ta đã được cảm nghiệm mắt thấy tai nghe về ý nghĩa của linh hồn.

Nếu có bao giờ bạn ở bên một người hấp hối, bạn biết chính xác lúc nào linh hồn rời bỏ thân xác. snhn2 Bạn biết khoảnh khắc đó, không phải bởi bạn thấy có sự gì đó thoát ra khỏi thân xác người đó, nhưng đúng hơn là một phút trước, bạn thấy một con người, đầy đấu tranh và đau đớn, có sinh lực và ngọn lửa trong mình, rồi một phút sau, thân xác đó hoàn toàn trơ ra, hoàn toàn không có sinh lực và sự sống.  Không còn sinh khí nữa.  Thân xác đó trở thành một xác chết.  Cũng vậy, dù già nua hay bệnh tật, thì cho đến trước giây phút cái chết, thân xác đó vẫn là một cấu thành hợp nhất.  Nhưng ngay giây phút cái chết, thân xác đó không còn là một cơ thể, nhưng chỉ là một loạt sinh hóa bắt đầu phân rã.  Một khi linh hồn ra đi, thì mọi sự sống và kết dính cũng ra đi.  Thân xác không còn bất kỳ sinh khí nào cũng như không còn gắn kết với nhau nữa.

Và bởi linh hồn là một nguyên tắc đôi, làm cho chúng ta hai sự, thì cũng có hai con đường song song tương ứng của việc mất linh hồn.  Chúng ta có thể khiến cho sức sống của chúng ta chết đi, hay chúng ta có thể trở nên xa cách tách rời, trong cả hai trường hợp, chúng ta đều đánh mất linh hồn mình.

Nếu thật như thế, thì điều này gợi lên một chất vấn khác về cách chúng ta làm sao để chăm lo cho linh hồn mình.  Thức ăn bổ dưỡng cho linh hồn là gì?  Ví dụ như, tôi đang xem truyền hình, điều gì tốt cho linh hồn tôi?  Một kênh tôn giáo?  Kênh thể thao?  Một bộ phim hài vô nghĩa?  Kênh về thiên nhiên?  Một talk-show đả phá tôn giáo nào đó?  Điều gì là lành mạnh cho linh hồn tôi?

Đây là một câu hỏi chính đáng, nhưng cũng là một câu hỏi gài bẫy.  Chúng ta mất linh hồn theo một cách đối lập hẳn, và do đó việc chăm lo cho linh hồn như một thuật giả kim tinh xảo, phải biết lúc nào thêm lửa lúc nào cho nguội bớt.  Xác định những gì là lành mạnh cho linh hồn tôi, dựa nhiều vào những gì tôi đang phải đấu tranh ngay lúc đó.  Tôi có đang đánh mất linh hồn, vì tôi đang mất đi sức sống, năng lượng, hi vọng, và lòng nhân từ trong đời?  Tôi có đang ngày càng cay đắng, khắc nghiệt, cằn cỗi, trở nên một con người đau đớn hay không?  Hay ngược lại, tôi có đầy sinh lực nhưng lại quá đầy, đến nỗi tôi đang rời xa, phung phí, đánh mất ý thức về bản thân mình hay không?  Tôi có đang bị tê liệt hay tan rã dần hay không?  Cả hai đều là mất linh hồn.  Trong dạng thứ nhất, linh hồn cần thêm lửa, một sự gì đó thổi bùng sinh khí trở lại.  Trong dạng sau, linh hồn đã có quá nhiều lửa, cần phải dịu bớt và thêm chất kết dính.

Sự căng thẳng này giữa nguyên tắc của sinh lực và nguyên tắc kết dính, bên trong linh hồn con người, cũng là một trong những căng thẳng điển hình giữa tự do và bảo thủ.  Nói một cách tối giản, nhưng dễ hiểu, sự thật là những người theo chủ nghĩa tự do có khuynh hướng bảo vệ và thúc đẩy cho nguyên tắc sinh lực, còn người theo chủ nghĩa bảo thủ lại có khuynh hướng bảo vệ và thúc đẩy cho nguyên tắc chung hiệp, chất keo kết dính.  Cả hai đều đúng, cả hai đều cần thiết, và cả hai đều cần phải tôn trọng bản chất của người kia, bởi linh hồn là một nguyên tắc đôi, và cả hai nguyên tắc đều cần được bảo vệ.

Sau khi chết, chúng ta có thể vào thiên đàng hay hỏa ngục.  Đây cũng là một cách nói về việc đánh mất hay cứu được linh hồn mình.  Nhưng thần học Kitô giáo dạy chúng ta rằng, thiên đàng và hỏa ngục đã có ngay lúc này.  Ngay ở đây, trong đời này, chúng ta có thể làm suy yếu hay hủy hoại sự sống Thiên Chúa ban trong chúng ta, bằng cách làm tê liệt hay tan rã sự sống đó.  Chúng ta có thể đánh mất linh hồn mình bằng việc không có đủ lửa mến hay không đủ kết dính chung hiệp.

Rev. Ron Rolheiser, OMI