MƯỜI BÍ MẬT HẠNH PHÚC

 

snhn3Trong 5 năm qua, người ta ngày càng chú tâm nghiên cứu về hạnh phúc con người.  Vô số sách xuất bản nói về chủ đề này, và trong số đó không kém nổi bật là quyển Thần Thoại Hạnh Phúc của Sonja Lyubomirsky, vốn đã trở nên một kinh thánh thế tục về hạnh phúc và ý nghĩa cuộc đời cho nhiều người.  Trong quyển sách mới đây, Tiếng Gọi Hạnh phúc, Sidney Callahan đã định lượng phê phán nhiều nghiên cứu trên.  Cho dù các nghiên cứu này có đáng giá đến đâu, thì tất cả chúng ta đều nuôi dưỡng ước mơ thầm kín của riêng mình về những điều mang đến hạnh phúc cho mình, và thường ảo tượng này khác rất xa với những gì chúng ta biết là thật.  Vậy điều gì sẽ cho chúng ta hạnh phúc?

Trong một bài phỏng vấn mới đây (ngày 29 tháng 7 năm 2014) với tuần báo Viva của Argentina, giáo hoàng Phanxicô đã nhấn mạnh về chủ đề này, và đưa ra “10 lời khuyên” của riêng ngài về hạnh phúc.  Vậy lời khuyên của giáo hoàng Phanxicô về hạnh phúc, theo cách nói của ngài là “để đem lại niềm vui lớn hơn cho cuộc sống”, là gì?

Khi trình bày ở đây, tôi sẽ trung thành với lời của ngài, nhưng do ngài diễn giải khá dài cho mỗi điểm, nên tôi sẽ mạo muội tổng hợp điểm trọng tâm của ngài bằng lời của tôi.

  1. Sống và hãy sống

Tất cả chúng ta sẽ sống lâu hơn và hạnh phúc hơn nếu thôi đừng cố gắng sắp đặt cho cuộc sống người khác.  Chúa Giêsu đòi buộc chúng ta không được phán xét nhưng hãy sống với áp lực căng thẳng đó và để Thiên Chúa và lịch sử đưa ra phán quyết.  Vậy để sống, chúng ta cần sống bằng nhận thức riêng của mình và hãy để người khác cũng được như vậy.

  1. Trao ban bản thân cho tha nhân

Hạnh phúc hệ tại ở việc cho đi chính mình.  Chúng ta cần cởi mở và quảng đại, vì nếu rút vào bản thân, chúng ta sẽ mắc phải mối nguy quy ngã và sẽ chẳng tìm thấy hạnh phúc vì “nước đọng là nước độc.”

  1. Hướng đến điềm đạm

Hãy làm việc với lòng tốt, khiêm nhượng, và điềm đạm.  Đây là những điều đối chọi với lo lắng và sầu lụy.  Điềm đạm không bao giờ gây cao huyết áp.  Chúng ta cần phải nỗ lực, phải ý thức để đừng bao giờ để hiện tại gây hoang mang và vội vã quá đáng.  Thà trễ còn hơn là căng thăng quá độ.

  1. Nghỉ ngơi lành mạnh

Đừng bao giờ bỏ phí thú vui của nghệ thuật, văn học, và chơi đùa với trẻ con.  Hãy nhớ rằng Chúa Giêsu đã làm cho người khác chướng mắt vì Ngài có thể tận hưởng cuộc sống với mọi vui thú của nó. Chúng ta không chỉ sống bằng làm việc, cho dù đó có là công việc quan trọng và ý nghĩa đến đâu đi nữa.  Ở trên thiên đàng, không có công việc, chỉ có thư thái, chúng ta phải học lấy nghệ thuật và niềm vui của an nhàn, không phải chỉ để chuẩn bị cho thiên đàng mà còn để tận hưởng một phần thiên đàng ngay hiện tại.

  1. Ngày chúa nhật phải là ngày nghỉ

Các công nhân phải được nghỉ ngày chúa nhật, vì ngày chúa nhật là dành cho gia đình.  Thành tựu, năng suất, và tiến độ không nên là những thứ mà chúng ta xem  trọng nhất, nếu không chúng ta sẽ bắt đầu đem mọi thứ ra mà bán buôn, đời chúng ta, sức khỏe, gia đình, bạn bè, những người xung quanh chúng ta, và những sự tốt đẹp trong đời nữa.  Đó là lý do vì sao Thiên Chúa cho chúng ta giới răn giữ ngày Chúa Nhật.  Đây không phải là lời khuyên về lối sống, nhưng là một giới răn, cũng hệt như cấm giết người vậy.  Hơn nữa, nếu chúng ta là người chủ, thì giới răn này đòi hỏi chúng ta cũng phải cho nhân công của mình có một ngày chúa nhật đúng nghĩa.

  1. Tìm những cách mới để tạo việc làm phẩm giá cho người trẻ

Nếu bạn muốn chúc phúc cho một người trẻ, đừng chỉ nói với họ rằng anh ấy, cô ấy thật tuyệt.  Đừng chỉ ngưỡng mộ vẻ đẹp và sinh lực của tuổi trẻ.  Hãy cho người trẻ công việc của bạn!  Hay, ít nhất, hãy tích cực hành động để giúp người đó tìm được một công việc ý nghĩa.  Điều này sẽ vừa ban phúc cho người trẻ đó và vừa đem lại niềm hạnh phúc đặc biệt cho đời bạn.

  1. Tôn trọng và chăm lo cho tự nhiên

Không khí chúng ta thở ra là không khí chúng ta hít vào.  Đây là chân lý đúng cho cả đường thiêng liêng, tâm lý, và sinh thái.  Chúng ta không thể nguyên vẹn và hạnh phúc khi Mẹ trái đất đang bị tước đoạt đi sự nguyên vẹn của mình.  Chúa Kitô đến để cứu thế giới, chứ không phải chỉ cứu con người trong thế giới.  Ơn cứu độ, cũng như hạnh phúc của chúng ta, gắn chặt với cách chúng ta đối xử với trái đất.  Thật là vô luân khi tát vào mặt ai đó, và cũng vô luân khi ném những thứ rác thải của chúng ta vào mặt của Mẹ trái đất.

  1. Đừng tiêu cực

Nhu cầu cần phải nói xấu ai đó cho thấy một sự thiếu tôn trọng bản thân.  Những suy nghĩ tiêu cực nuôi dưỡng bất hạnh và cái nhìn xấu về bản thân mình.  Còn suy nghĩ tích cực nuôi dưỡng hạnh phúc và sự tự tôn lành mạnh.

  1. Đừng chiêu mộ, hãy tôn trọng niềm tin của người khác

Những gì chúng ta trân trọng, và là sự thăng tiến đức tin của mình, chính là “nhờ sự lôi cuốn chứ không phải chiêu mộ.”  Vẻ đẹp là điều không ai có thể bàn cãi.  Hãy trân quý các giá trị của bạn, nhưng luôn luôn hướng đến người khác với lòng nhân từ, tử tế và tôn trọng.

  1. Làm việc vì hòa bình

Hòa bình không chỉ là vắng bóng chiến tranh, và làm việc vì hòa bình không chỉ là đừng gây bất hòa.  Hòa bình, cũng như chiến tranh, phải được tiến hành một cách tích cực, bằng cách làm việc vì công lý, bình đẳng, và quy tụ với tất cả mọi người là gia đình mình.  Tiến hành hòa bình là một cuộc đấu tranh không dứt để mở rộng tâm hồn, của mình và của người khác, để nhìn nhận rằng trong nhà Chúa có nhiều chỗ ở và rằng tất cả mọi đức tin, chứ không chỉ đức tin của chúng ta, đều là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc.
Và tôi xin mọi người thứ lỗi nếu có ý tưởng nào của tôi thay thế ý tưởng của Đức Phanxicô.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

SỨ MỆNH CỦA NGƯỜI ĐÃ CHỊU PHÉP RỬA TỘI

 

1) Hình ảnh về một Đấng Cứu Thế khiêm nhường tự hạ

Trong khi dân Do Thái mong chờ một Đấng Cứu Thế oai phong lẫm liệt, thì Đức Giêsu xuất hiện công khai lần đầu tiên trong sự khiêm nhường thống hối.  Lúc ấy, Gioan rao giảng sự ăn năn sám hối.  Đoàn lũ dân chúng đông đảo kéo đến với ông để xin chịu phép rửa thống hối.  Hòa mình vào đoàn lũ những con người tự nhận mình tội lỗi ấy, Đức Giêsu âm thầm khiêm tốn xếp hàng chờ được rửa tội.  Thật là lạ lùng.  Chính Đấng đã thánh hóa Gioan khi ông còn trong bụng mẹ giờ đây lại đến xin ông làm phép rửa cho.  Chính Đấng đến để chuộc tội loài người giờ đây lại xin người khác rửa tội cho mình.  Thật là khiêm nhường thẳm sâu.  Trong khi loài người tội lỗi luôn kiêu ngạo tìm cách nâng mình lên thì Thiên Chúa thánh thiện lại tìm hạ mình xuống.  Trong khi loài người tội lỗi luôn che dấu, không nhận tội thì Thiên Chúa vô tội lại công khai nhận mình tội lỗi.  Trong khi loài người tội lỗi tìm tránh hình phạt do tội lỗi họ gây nên thì Thiên Chúa lại ghé vai gánh lấy hết tội lỗi và mọi hình phạt mà loài người đáng phải chịu.  Sự khiêm nhường ấy phát xuất từ lòng Thiên Chúa yêu thương con người, muốn chia sẻ kiếp người, muốn cứu chuộc tội đời, muốn thăng tiến nhân loại.

snhn22) Hình ảnh về cuộc giao hòa đất trời

Chính lúc Đức Giêsu tự nguyện gánh lấy tội lỗi nhân loại, tầng trời bị xé ra.  Khi loài người phạm tội, cửa trời đóng lại, đất trời phân ly, ân phúc thôi tuôn đổ.  Khi phạm tội, loài người tự giam mình trong bóng tối.  Bóng tối tội lỗi giam kín con người trong thân phận bụi đất, không còn hy vọng vươn lên.  Hôm nay, tầng trời xé ra có nghĩa là từ nay con người đã có lối thoát.  Thân phận con người thay đổi, địa vị con người được nâng lên, vì có ơn Thiên Chúa đổ xuống, có Thiên Chúa đến gieo mầm trường sinh vào kiếp người phàm hèn.  Trời đất giao hòa.  Thiên giới cúi xuống hạ giới.  Thiên Chúa đến ở với con người.  Ân phúc tuôn đổ xuống cõi đời nhơ uế.

3) Hình ảnh về sự kết hiệp mật thiết giữa Ba Ngôi Thiên Chúa.

Trong giây phút cảm động ấy, cả Ba Ngôi Thiên Chúa cùng xuất hiện.  Chúa Thánh Thần như chim bồ câu đáp xuống.  Chúa Thánh Thần là tình yêu.  Chúa Thánh Thần ngự xuống trên ai là dấu chỉ Thiên Chúa ưu ái người ấy.  Đức Chúa Cha công khai xác nhận sự ưu ái ấy với Đức Giêsu khi lên tiếng: “Đây là Con Ta yêu dấu.”  Đức Giêsu là Con Thiên Chúa.  Đây không phải là một danh xưng, một tước vị, nhưng là một liên hệ sâu xa mật thiết: Ba Ngôi liên kết trong một tình yêu hiệp thông. Đức Giêsu hoạt động dưới tác động của Chúa Thánh Thần để thi hành thánh ý Chúa Cha.  Có thể nói cả Ba Ngôi đều hoạt động trong Đức Giêsu Kitô.  Cả Ba Ngôi đều tham gia vào công trình cứu chuộc con người.

4) Hình ảnh về sứ mệnh người được sai đi.

Từ xưa trong Cựu Ước, Chúa Thánh Thần ngự xuống là để trao ban một sứ mệnh.  Hôm nay, Đức Giêsu cũng đã nhận lãnh một sứ mệnh, đó là cứu nhân độ thế.  Là “mở mắt cho người mù”, là “đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ”, là “dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngồi trong bóng tối tăm.”  Người không đến trong thái độ phô trương quyền lực, nhưng đến trong sự hiền lành khiêm nhường.  Người đến không phải để lên án nhưng để tha thứ.  Người đến không phải để giết chết nhưng để cứu sống như lời tiên tri Isaia: “Cây lau bị dập, Người không bẻ gẫy.  Tim đèn leo lét, Người chẳng nỡ tắt đi”.

Phép rửa của Đức Giêsu mời gọi ta nhớ lại ơn phép rửa tội của mình.  Ngày ta được lãnh nhận bí tích Rửa Tội, màn đêm tội lỗi vây phủ ta bị xé ra, Ba Ngôi Thiên Chúa đã đến với ta, ban cho ta cuộc sống thần linh, cho ta được vinh dự làm con Thiên Chúa, cho ta được kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa.  Ngày ta được lãnh nhận bí tích Rửa Tội, Chúa Thánh Thần cũng đã trao cho ta một sứ mệnh, đó là sống xứng đáng một người con hiếu thảo của Chúa, là tiếp tục công việc của Đức Giêsu trong công cuộc cứu nhân độ thế.  Đức Giêsu là gương mẫu một người con hiếu thảo, vì Người luôn sống thân mật với Chúa Cha, luôn kết hiệp với Chúa Cha trong kinh nguyện hằng ngày, và nhất là Người luôn tìm thi hành thánh ý Chúa Cha, Người đã vâng lời Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá.  Ta hãy noi gương Đức Giêsu, luôn kết hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi, luôn tìm thi hành thánh ý Thiên Chúa, luôn sống một cuộc sống tốt đẹp, luôn tích cực góp phần xây dựng xã hội, tạo hạnh phúc cho những anh em sống chung quanh ta.

Lạy Đức Giêsu Kitô, xin dạy con biết sống ơn bí tích Rửa Tội như Chúa, để con xứng đáng được làm con yêu dấu của Đức Chúa Cha.

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

ÁNH SÁNG ĐẠO ĐỨC

snhn1Hôm nay, Ba Vua trên đường tìm đến thờ lạy Chúa Cứu Thế Giáng Sinh.  Ba Vua là những người phương xa, không có đạo.  Các Ngài tìm đến Chúa theo ánh sáng của ngôi sao lạ.  Theo ngôi sao, các Ngài đến được Giêrusalem và được nghe giải nghĩa Thánh Kinh.  Theo ngôi sao đưa đường dẫn lối các Ngài đã gặp được Chúa.  Ánh sao đã chiếu sáng bầu trời đen tối, giúp các Ngài nhận định được hướng đi.  Lời Thánh Kinh là một ánh sao chiếu soi tâm hồn giúp họ sáng lên niềm tin.  Nhưng chính Đức Giêsu mới là ngôi sao mai dẫn họ đi vào một con đường mới, con đường chói ngời ngọn lửa đức mến.

Ngày nay có nhiều người đang tìm kiếm Chúa.  Nhiều người muốn biết Chúa để theo Chúa.  Nhưng họ không biết đường biết hướng.  Cũng như Ba Vua, họ cần có những ánh sao soi đường dẫn lối.  Tìm đâu ra ngôi sao xưa đã soi đường cho Ba Vua?  Ngày nay, Chúa không dùng ngôi sao xuất hiện trên trời, nhưng muốn mỗi người chúng ta trở thành một vì sao soi dẫn mọi người đến với Chúa.  Là ngôi sao có nghĩa là phải có ánh sáng.  Ngôi sao chỉ chiếu sáng khi chính bản thân nó có ánh sáng.  Người Kitô hữu chỉ chiếu sáng khi chính cuộc sống của họ mang ánh sáng, phản chiếu ánh sáng nhận tự nơi Thiên Chúa.

Người Kitô hữu phải chiếu lên làn ánh sáng hy vọng.  Niềm hy vọng vào ơn cứu độ của Chúa giúp ta vừng bước trên đường lý tưởng.  Niềm hy vọng vào một trời mới đất mới cho ta thêm sức mạnh góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp.  Niềm hy vọng vào hạnh phúc thiên đàng giúp ta đánh giá đúng mức của cải vật chất đời này.  Hy vọng là ánh sáng làm tươi đẹp con người và cuộc đời.

Người Kitô hữu phải chiếu lên làn ánh sáng tin yêu.  Tin yêu Chúa và tin yêu người.  Tin yêu để xây dựng một cuộc sống chan hòa tình người.  Tin yêu để tha thứ hòa giải.  Tin yêu để vượt qua mọi bóng tối thù hận, chia rẽ, bất hoà.  Tin yêu là làn ánh sáng ấm áp làm cho thế giới trở nên gần gũi, con người trở nên thân thiện, cuộc đời trở thành đáng yêu đáng mến.

Người Kitô hữu phải chiếu lên làn ánh sáng công bình, bác ái.  Niềm hy vọng, niềm tin yêu được chứng minh bằng đời sống công bình, bác ái.  Tin Chúa được biểu lộ qua sự công bình trong đời sống. Yêu Chúa được thể hiện qua tình bác ái với tha nhân.

Tất cả những làn ánh sáng nói trên góp lại thành ánh sáng đạo đức.  Đắm chìm vào vật chất sẽ khiến con người rơi vào bóng tối tuyệt vọng, không lối thoát.  Nghi ngờ con người sẽ khiến cuộc đời chìm vào bóng tối cô đơn.  Thiếu công bình bác ái sẽ phủ lên thế giới mới một bóng tối phi nhân, tàn nhẫn.  Chỉ có ánh sáng đạo đức mới đủ sức phá tan những bóng tối ấy.  Chỉ có ánh sáng đạo đức mới làm cho thế giới thành vui tươi hạnh phúc.  Thế giới đang mong chờ ánh sao dẫn đường.  Chúa đang mời gọi chúng ta trở thành một ngôi sao chiếu lên làn ánh sáng đạo đức.  Chính qua làn ánh sáng ấy, mọi người sẽ nhận biết và yêu mến Chúa.

Lạy Chúa, xin giúp con sống xứng đáng là người con của Chúa sự sáng.  Amen!

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

CHỈ TRONG THINH LẶNG

try1
Ngòi bút thiêng liêng người Bỉ, Bieke Vandekerckhove, có một sự khôn ngoan chân thành.  Những gì cô chia sẻ với chúng ta, cô không học được từ một quyển sách, hay từ mẫu gương của ai đó.  Nhưng cô học được từ một gian nan, một đau khổ độc nhất vô nhị, ngay từ tuổi 19 cô đã mắc một chứng bệnh nan y, không chỉ sớm dẫn đến cái chết mà còn tàn phá và hạ giá thân thể của cô trên đường đến cái chết.

Nỗ lực đương cự với tình trạng này, đẩy cô theo nhiều hướng, ban đầu là giận dữ và vô vọng, nhưng cuối cùng đưa cô hướng về tu viện, đến với sự khôn ngoan của tu trì, và theo đường hướng đó, đi vào chiều sâu của thinh lặng, hoang mạc ẩn dấu kinh hoàng bên trong mỗi chúng ta.  Xa lánh mọi tiếng nói của thế giới, trong sự thinh lặng linh hồn của mình, trong sự hỗn loạn của cơn thịnh nộ, khắc khoải, mà cô tìm thấy sự khôn ngoan và sức mạnh, không chỉ để đương đầu với bệnh tật của mình, nhưng còn để tìm thấy một ý nghĩa và niềm vui sâu sắc hơn trong đời.

Như John Updike đã nói trong thơ, có những bí mật tránh mặt sự khỏe mạnh, và cô Vandekerckhove đã làm rõ ràng rằng, có thể khám phá những bí mật đó trong thinh lặng.  Tuy nhiên, khám phá các bí mật mà thinh lặng dạy cho chúng ta, không phải là chuyện dễ dàng gì.  Sự thinh lặng sẽ rất đáng sợ cho đến khi chưa làm bạn được với nó, và tiến trình này cũng như là băng qua hoang mạc nóng bức vậy.  Nội tâm chúng ta không dễ thanh bình, sự khắc khoải không dễ thành cô tịch, và tính khí hướng ngoại tìm sự an ủi không dễ dàng nhường đường cho sự thinh lặng.  Nhưng có một sự an bình và ý nghĩa, chỉ có thể tìm được trong hoang mạc của nội tâm hỗn loạn và thịnh nộ trong chúng ta.  Những giếng nước an ủi sâu thẳm nằm ở cuối hành trình nội tâm, qua những nóng bức, khát khô, và ngõ cụt, phải được đẩy ra qua sự kiên trì gan góc.  Và như bất kỳ hành trình anh hùng nào, nhiệm vụ của chúng ta là đừng để trái tim nhụt chí.

Và đây là những gì cô Vandekerckhove mô tả một khía cạnh trong cuộc hành trình của mình: “Tiếng nói nội tâm có thể khá nản chí.  Đây chính xác là lý do vì sao quá nhiều người chạy trốn để tìm đến với những tiếng động bên ngoài.  Họ thích có một tiếng động đổ tràn trên họ.  Nhưng nếu muốn tăng tiến đường linh hồn, bạn phải ở lại trong không gian thịnh nộ linh hồn của mình, bền gan kiên vững.  Bạn phải tiếp tục ngồi đó thinh lặng và chân thành trong sự hiện diện của Thiên Chúa cho đến khi cơn thịnh nộ lắng xuống và trái tim bạn được thanh tẩy và im tiếng.  Thinh lặng buộc chúng ta phải xem xét đường lối thực hành của con người.  Và rồi chúng ta va phải một bức tường, một đường cụt.  Cho dù xã hội có muôn ngàn cách đáp ứng cho các nhu cầu nhân sinh của chúng ta, nhưng dù có làm gì, dù có cố gắng thế nào, trong chúng ta vẫn tiếp tục cảm nhận một mất mát và ghẻ lạnh.  Thinh lặng đối đầu với chúng ta trong một vực thẳm không đáy, và dường như không có lối thoát.  Chúng ta không có chọn lựa nào khác ngoài chung vai sát cánh với chiều sâu lòng đạo trong mình.”

Đây là một sự thật thâm thúy:  Thinh lặng đối đầu với chúng ta trong một vực thẳm không đáy và chúng ta không còn chọn lựa nào khác ngoài chung vai sát cánh với chiều sâu lòng đạo trong mình.  Đáng buồn thay, hầu hết chúng ta chỉ học được điều này qua một sự cưỡng bách cay đắng khi thực sự đối mặt với cái chết của chính mình.  Khi bơ vơ trong cơn hấp hối, không còn bất kỳ chọn lựa và lối thoát nào, thì dù cho vật vã và cay đắng, nhưng theo lời Karl Rahner, chúng ta phải để mình chìm trong sự không thể hiểu thấu của Thiên Chúa.  Hơn nữa, trước khi quy phục như thế, đời sống chúng ta sẽ luôn vẫn bất ổn và hoang mang, và sẽ luôn luôn có các góc tối nội tâm khiến chúng ta kinh sợ.

Nhưng hành trình đi vào thinh lặng có thể đưa chúng ta ra khỏi những nỗi sợ tăm tối và chiếu ánh sáng chữa lành lên những góc tối nhất của mình.  Nhưng, như Vandekerckhove và các tác giả thiêng liêng khác đã chỉ ra, thì sự bình an này chỉ tìm được sau khi chúng ta đạt đến một ngõ cụt, bế tắc không lối thoát, nơi mà điều duy nhất có thể làm là lao đầu vào tiêu cực.

Trong quyển sách Vị của Thinh lặng, Vandekerckhove kể lại một người bạn duy tâm của mình chia sẻ với cô giấc mơ được ra khỏi bản thân mà đi vào một hoang mạc nào đó nhằm khám phá đường thiêng liêng.  Phản ứng tức thời của cô không hẳn làm anh ấy vui lòng gì: “Con người ta sẵn sàng đi vào bất kỳ hoang mạc nào.  Người ta sẵn sàng đến bất kỳ nơi đâu, miễn sao đó không phải là hoang mạc của chính mình.”  Thật đúng.  Chúng ta luôn mãi thèm khát những hoang mạc tư tưởng mà chối bỏ hoang mạc của chính mình.

Hành trình thiêng liêng, cuộc hành hương, mà chúng ta cần phải làm nhất, nó không cần đến vé máy bay đâu.  Chuyến đi đáng giá nhất cho linh hồn mà chúng ta có thể thực hiện, chính là chuyến hành hương nội tâm, đi vào trong hoang mạc thinh lặng của mình.

Là con người, chúng ta mang tính xã hội trong cấu thể.  Điều này nghĩa là, “không tốt nếu để con người một mình.” Chúng ta được định sống trong sự thông hiệp với người khác.  Thiên đàng sẽ là một cảm nghiệm thông hiệp, nhưng trên đường đến đó, có một việc làm nội tâm nhất định mà chúng ta phải và chỉ có thể làm một mình, tránh xa mọi tiếng động của thế giới.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

TÂM SỰ MÙA CHAY

Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng tự vấn: “Tôi là ai mà còn trần gian quá?”  Vâng, tôi chẳng là gì, chỉ là hư vô, có chăng chỉ là một “hạt bụi” nhỏ nhất mà tôi đã làm xốn mắt Thiên Chúa!

Gói thuốc lá nằm trên bàn viết trước mặt tôi.  Những đầu ngón tay ám vàng.  Đã bao lần hứa với lòng mình và người thân mà tôi vẫn chưa dứt bỏ hẳn được, dù vẫn biết “hút thuốc có hại cho sức khỏe.”

Chiều xuống mang đầy sắc tím – sắc màu sám hối.  Chợt nhớ câu: “Hãy xé lòng, đừng xé áo” (Ge 2:13).  Tiếng Chúa hóa thành tiếng lòng cứ mãi thôi thúc tôi không nguôi.  Tôi không thể không trở về gặp chính mình trước khi gặp Đấng đã vâng lời cho đến chết và chết trên Thập giá.

try2Nếu ăn chay là kiêng thịt và nhịn đói thì quá dễ, vì tôi thường xuyên làm việc đó, dù có thể chỉ miễn cưỡng làm theo hoàn cảnh “ép” tôi làm một cách vô thức.

Nếu ăn chay là “giữ miệng,” tôi cũng không phải chiến đấu nhiều, vì cả ngày tôi chỉ “trò chuyện” với cây bút và trang giấy.  Vả lại, tôi thường chẳng muốn tranh chấp gì với bất kỳ ai – dù là điều nhỏ.

Nếu ăn chay là giao hòa với tha nhân trước khi giao hòa với Thiên Chúa, đồng thời biết rộng lượng hơn.  Điều này cũng chẳng khó đối với tôi.  Biết phận mình thế nào, tôi không phiền gì ai – dù nhìn bề ngoài “nghiêm”, và thường “bị” người ta cho tôi là… “khó tính”!

Nếu ăn chay là hãm dẹp bớt đam mê thì đối với tôi lại nan giải.  Thế mới hay “khi ta mạnh lại là lúc ta yếu.”  Tôi cứ tự biện hộ và chiều chuộng mình vô cớ nên hút thuốc lá nhiều đến nỗi đã trở thành thói quen, hút theo phản xạ – vui cũng hút, buồn cũng hút, no cũng hút, đói cũng hút, rảnh cũng hút, bận cũng hút, ngày cũng hút, đêm cũng hút, hút theo kiểu nói “điếu này vừa hạ rộng, điếu kia đã động quan” – hút quá nhiều và trở thành cố tật!

Ngày xưa, tôi có dạy lớp tình thương.  Thấy họ có loại “cao dán cai thuốc” và tôi đã xin họ.  Họ nói loại này dán vào bất kỳ nơi nào trên cơ thể, mỗi ngày một miếng, dùng bảy ngày thì sẽ “sợ” thuốc lá – nghĩa là khi hút thuốc hoặc ngửi mùi thuốc thì “người cai” sẽ cảm thấy khó chịu hoặc buồn nôn gì đó.  Sau một tuần “cai nghiện”, tôi càng thèm (vì “nhịn” lâu), tôi mua MỘT điếu duy nhất và… thử hút xem sao. Rít một hơi, rồi hai hơi, ba hơi… không thấy phản ứng gì, thế là tôi “an tâm” hút tiếp vô tư.  Thật tồi tệ! Bỏ một thói quen (dù nhỏ) cũng không dễ chút nào.

Một lần nữa Mùa Chay lại về.  Tôi mở lại “trang lòng” mình để gột rửa.  Con người tưởng là mạnh mẽ mà quá yếu đuối.  Thật đúng như Đại đế Napoléon đã nói: “Chiến thắng một đạo quân còn dễ hơn chiến thắng chính mình.”  Với Ơn Chúa, tôi hy vọng có thể dứt bỏ thêm một vài tật xấu riêng nào đó để có thể “giữ chay” theo đúng Tôn Ý Thiên Chúa.  Thoát khỏi “xiềng xích” của một thói xấu nào đó, dù chỉ là thói xấu bình thường, dù không hề vi phạm Luật Chúa và Luật Giáo hội, người ta cũng vẫn cảm thấy “nhẹ mình.”

Xin tẩy rửa tâm hồn con, lạy Chúa, Đấng thương con trọn vẹn từ thuở hồng hoang đến muôn đời, xin cho con cùng CHẾT và được SỐNG LẠI với Ngài.  Con thâm tín rằng tội lỗi con dù có thắm như son và đỏ như máu, ân tình Ngài vẫn tẩy sạch con nên trắng ngần như bông, như tuyết.  Con thật hạnh phúc vì có một “Thiên Chúa là tình yêu” (Ga 4:8).

Trầm Thiên Thu

******************************
Chúa bị đóng đinh và sống lại,
Xin dạy chúng con đương đầu với những đấu tranh hằng ngày,
để chúng con sống trọn vẹn hơn.

Chúa đã đón nhận những thất bại trong đời người,
như nỗi đau khổ trên thập giá,
với lòng khiêm tốn và nhẫn nại,
xin cho chúng con biết đón nhận
những nhọc nhằn và đấu tranh mỗi ngày
như những dịp để lớn lên và giống Chúa hơn.

Xin cho chúng con biết đương đầu với những thử thách đó
với lòng kiên nhẫn và bạo dạn,
vì được Chúa nâng đỡ.

Xin cho chúng con hiểu rằng
chúng con chỉ sống trọn vẹn
khi chấp nhận từ bỏ mình luôn luôn,
với những thèm muốn ích kỷ.
Vì chỉ khi chết với Chúa,
chúng con mới sống lại với Chúa.

Từ nay, xin cho chúng con đừng bao giờ đau khổ và khóc than
đến mức quên mừng rỡ vì Chúa đã sống lại !
Chúa là mặt trời rực rỡ của tình yêu Chúa Cha,
Chúa là hi vọng hạnh phúc muôn đời,
Chúa là ngọn lửa tình yêu sáng rực.
Ước gì niềm vui của Chúa Giêsu là sức mạnh của chúng ta
Và liên kết chúng ta trong sự bình an, hiệp nhất và tình thương.  Amen.

Hiền Hòa chuyển dịch

GIỌT NƯỚC MẮT

Ai sinh ra cũng khóc.  Đứa bé khóc được là thân nhân vui mừng, đứa bé không khóc thì thân nhân… lo.  Vậy khóc là “tín hiệu tốt” chứ không phải là cười.

Rồi khôn lớn dần, trong cuộc sống, ai cũng đã từng hơn một lần rưng rưng nước mắt hoặc đầm đìa nước mắt.  Mà nói đến nước mắt là nói đến trạng thái khóc.  Thường thì khóc là thể hiện tâm trạng buồn.  Nhưng cũng có thể khóc vì vui, như thi hào Nguyễn Công Trứ mô tả: “Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười.”  Buồn mà lại cười, đó là lúc người ta quá buồn, buồn muốn phát điên, buồn muốn khóc, và rồi khóc đến cạn nước mắt.  Có thể đó là “cái bí ẩn” trong cách nói của người Việt Nam thường nói: “Buồn cười quá!”

try3Cụ Nguyễn Công Trứ đã từng “khóc”, vì ông đã “ngồi buồn mà trách ông xanh” và mong ước:
      Kiếp sau xin chớ làm người
      Làm cây thông đứng giữa trời mà reo

Nhưng với chúng ta, những người có niềm tin vào Đức-Kitô-tử-nạn-và-phục-sinh, chúng ta có quyết tâm tích cực hoàn toàn khác:
      Kiếp sau xin vẫn làm người
      Và làm thánh giữa Nước Trời trường sinh

Chúng ta không chỉ “vẫn làm người”, vì thân xác chúng ta cũng được sống lại và lên trời, đặc biệt là còn làm “thánh nhân.”  Nhưng trước khi “về Nhà Cha” hưởng phúc trường sinh vinh quang, chúng ta không thể không phải chịu đau khổ, nghĩa là có những lúc buồn nẫu ruột, buồn đến chết, buồn đến bật khóc… đến nỗi những người kém lòng tin đã tự tử.

Khóc có nhiều kiểu.  Khóc có nhiều nguyên nhân.  Khóc có nhiều mức độ.  Thế nên nước mắt cũng có nhiều loại, kể cả “nước mắt cá sấu.”  Và tất nhiên, nước mắt không chỉ có vị mặn mà còn có những vị khác nữa!

Với nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, ông có “giọt nước mắt ngà”: “Em đứng bên sông buồn, nhìn cuộc tình trôi qua và lòng người phôi pha.  Trên hai đóa môi hồng, nụ cười đã đi xa.  Ôi giọt nước mắt nào cho cuộc tình đầu… Thôi một giọt nước mắt này, cho cuộc tình đam mê, cho người tình trăm năm… Giọt lệ nào thương vay, tình đành tràn mi cay… Ôi giọt nước mắt ngà cho cuộc tình đầu tiên!”  Giọt-nước-mắt-ngà của NS họ Ngô là giọt-lệ-tình-sầu, một “kiểu” nước mắt của riêng ông.

Người đời có nhiều loại nước mắt, riêng người Công giáo có thêm loại nước-mắt-ăn-năn, nước-mắt-khóc-cho-tội-mình mang vị mặn chát, nhưng đó là loại nước-mắt-thánh-thiện rất cần thiết.  Nước mắt làm cho sáng mắt, và nước mắt có thể làm “trôi đi” phần nào nỗi buồn.

Tác giả Thánh vịnh có kiểu khóc thế này: “Tôi lang thang như người khóc mẹ, tôi tủi buồn cúi mặt xuống mà đi” (Tv 35:14).  Nước mắt chảy nhiều đến nỗi tác giả “xin lấy vò mà đựng nước mắt” (Tv 56:9), và thường đem “nước mắt hoà nước uống” (Tv 102:10).  Có những giọt nước mắt bình thường hoặc tầm thường, nhưng có những giọt nước mắt quý giá – gọi là châu lệ.

Thánh Phaolô cũng đã từng phải khóc: “Tôi phải than khóc nhiều người trước đây đã phạm tội, mà nay chẳng chịu ăn năn hối cải về những việc ô uế, gian dâm và phóng đãng họ đã làm” (2 Cr 12:21).
Thánh sử Luca tường thuật: “Có một phụ nữ tội lỗi cúi sát chân Chúa Giêsu mà khóc.  Chị lấy nước mắt mình mà tưới ướt chân Ngài, lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Ngài và lấy dầu thơm mà đổ lên” (Lc 7:38).  Những giọt nước mắt như vậy thực sự là châu lệ, vì đầy tâm tình sám hối và tin yêu. Do đó, Chúa Giêsu đề cao tấm gương của phụ-nữ-tội-lỗi này: “Yêu nhiều nên được tha nhiều” (Lc 7:47).

Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày Đại Tang của Giáo hội, đúng ra là Thế Giới Tang.  Nhiều người chú trọng nhiều đến “bề ngoài”, lo “bày tỏ” bằng những cách để đánh vào thị hiếu của giới bình dân.  Nếu thực sự ngoại tại có thể giúp nội tại thì cũng tốt, nhưng đừng thái quá.  Điều cần là “đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng” (Ge 2:13).  Khóc cho tội và chết cho tội là thành tâm sám hối và quyết tâm chừa tội, đó mới là cách Chúa muốn.  Cứ lo “diễn” bề ngoài mà không chú ý nội tâm thì chắc chắn Chúa không muốn.

Chính Đức Giêsu cũng đã khóc vì thương tiếc thành Giêrusalem (x. Lc 19:41), nhưng khi người ta than khóc Ngài vì thấy Ngài vác Thập giá, dù Ngài đang rất mệt mỏi và đau đớn mà vẫn ráng quay lại nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì.  Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28).

Đó cũng chính là lời cảnh báo Ngài nói thẳng với chúng ta.  Và rồi khi “Ngài ngự đến giữa đám mây”, nghĩa là lúc Ngài đến thế gian lần thứ hai, “ai nấy sẽ thấy Ngài, cả những kẻ đã đâm Ngài.  Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Ngài” (Kh 1:7).

Cuộc đời là chuỗi-đau-khổ-đầy-nước-mắt, nhưng chính đau khổ lại là diễm phúc: “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an” (Mt 5:5).  Khóc không bị chê trách mà được chúc phúc.  Giọt-nước-mắt đó đầy vị-mặn-yêu-thương.  Chỉ có một loại nước mắt tệ hại nhất và vô phúc nhất là giọt-nước-mắt-trong-hỏa-ngục, vì phải đời đời “khóc lóc và nghiến răng” (Mt 8:12; Mt 13:42; Mt 13:50; Mt 22:13; Mt 24:51; Mt 25:30; Lc 13:28).

Chúa Giêsu đã dùng chính sự thất bại để chiến thắng, dùng chính đau khổ để đạt vinh quang, và dùng chính cái chết để đạt sự phục sinh.  Đấng Cứu Thế đã vậy thì chúng ta không thể không như Ngài – nghĩa là cũng phải khóc lóc và rơi lệ hằng ngày.  Tuy nhiên, Ngài đã chết để chúng ta được sống, và rồi “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt chúng ta” (Kh 7:17; Kh 21:4).

Lạy Chúa Cha hằng hữu đầy lòng thương xót, vì tội lỗi khốn nạn của chúng con mà Ngài bắt Đức Kitô, Con Yêu Dấu của Cha, phải chết đau thương.  Chúng con thành tâm xin lỗi Đức Giêsu Kitô, xin cho nước mắt của chúng con được hòa với Máu và Nước của Ngài để nài xin lòng thương xót cho chính chúng con và toàn thế giới.  Chúng con khẩn thiết Chúa Cha thương xót và tha thứ cho chúng con, xin giúp chúng con trung tín với Ơn Chúa để đừng làm khổ Đức Giêsu chút nào nữa.  Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

Trầm Thiên Thu

BIẾN HÌNH – QUA THẬP GIÁ ĐẾN VINH QUANG

Biến cố Chúa hiển dung trên núi Tabor được cả ba thánh sử Tin Mừng nhất lãm thuật lại. Sau khi Đức Giêsu loan báo về cái chết và sự thống khổ mà Ngài sẽ phải trải qua, một bầu khí u ám bao trùm trên các học trò. Vì vậy sáu ngày sau, Đức Giêsu dẫn ba môn đệ thân tín lên núi cao và biến hình trước mặt các ông, để các ông được tận mắt mục kích vinh quang sáng chói nơi Ngài. Sứ điệp mà Đức Giêsu muốn ngỏ trao cho các môn đệ, là hãy can đảm đối diện mầu nhiệm Thánh giá, vì con đường Thập giá sẽ dẫn đến vinh quang. Tương tự như thế, thánh Phaolô cũng đã khẳng định: “Những ai cùng chết với Người, sẽ được cùng Người sống lại trong vinh quang” (2Tm 2, 11).

try4Vinh quang bị che dấu

Cha Phanxicô Amberat đã so sánh: “ Giống như một đám mây bị xé ra cho thấy ánh mặt trời rực rỡ, việc Chúa biến hình cũng xé toang đám mây trong kiếp người hèn hạ của Đức Giêsu để ba môn đệ được chiêm ngắm vinh quang bị che dấu nơi Ngài.”

Có nhiều ảo thuật gia tài ba như Coperfield đã khéo léo sử dụng kỹ xảo để đánh lừa thị giác con người, ví dụ biểu diễn màn ảo thuật chặt đôi thân xác, hay đi xuyên qua tường hoặc làm biến mất ngọn tháp Eiffel.. Thế nhưng, đó chỉ là xảo thuật nhờ những kỹ thuật hiện đại. Trong các câu chuyện cổ tích, người ta vẫn hay tạo ra những nhân vật có phép thần thông biến hóa như Tôn Ngộ Không chẳng hạn. Song, cuộc biến hình của Đức Giêsu không phải là một màn ảo thuật. Đây cũng không phải là một câu chuyện hoang đường mang tính giả tưởng. Đức Giêsu là một “Thiên Chúa – Người”, một vị Thiên Chúa đầy quyền năng nhưng lại ẩn dấu thiên tính cao sang trong dáng dấp của một người phàm thấp kém. Ngài tự bản tính là Thiên Chúa hằng sống, Đấng không bao giờ phải chết, nhưng lại mang thân phận con người vốn hay chết. Đó là một nghịch lý vĩ đại, không phải thách đố đầu óc suy lý con người, nhưng đây chính là lời mời gọi đức tin để chúng ta mạnh dạn tiếp bước dấu chân của Đức Giêsu trên con đường tiến về núi sọ. Mùa chay là thời gian tôi luyện giúp chúng ta tiến sâu vào cuộc hành trình này.

Tính phản diện trong phận người
Biến cố biến hình mà phụng vụ hôm nay gợi nhắc nêu bật tính phản diện ấy. Trên núi cao, ba môn đệ sung sướng mở to đôi mắt để ngắm nhìn vinh quang chói sáng nơi Đức Giêsu. Nhưng khi đối diện trước viễn ảnh Thập giá nơi vườn cây dầu, cả ba vị lại yếu đuối khép chặt đôi mắt trong giấc ngủ sâu, không thể cùng thức với Thầy mình dù chỉ một tiếng. Một Phêrô đã cao hứng xin dựng ba lều, lại là một anh học trò nhát đảm đã ba lần chối Chúa. Trong biến cố đầu tiên, cả ba vị vui mừng phấn khởi, nhưng trong biến cố sau, cả ba đệ tử nghĩa thiết đều đã nhát đảm thoái lui. Tính phản diện này cũng được thánh Phaolô lột tả khi Ngài viết: “Có những điều tôi muốn làm nhưng tôi đã không làm, ngược lại có những điều tôi không muốn làm, nhưng tôi lại cứ làm.”

Trong cuộc hành trình nội tâm mà Giáo hội gợi nhắc chúng ta suốt mùa chay này, chúng ta phải nhận ra tính phản diện ấy nơi mỗi người để can đảm đi vào cuộc chiến đấu thiêng liêng. Con người chúng ta ai cũng có những yếu đuối và sa ngã, nhưng không sao, Chúa Giêsu luôn ở với ta và Ngài sẽ nói với chúng ta như đã từng ngỏ lời với Phaolô: “Ơn Thầy thì luôn đủ cho anh” (2 Cor 12, 9).

Biến đổi nội tâm
Một câu chuyện ngụ ngôn Ấn Độ kể lại rằng, có một gia đình khỉ sống trong một khu rừng rậm. Trời buốt giá, lũ khỉ run rẩy vì lạnh. Chúng gom một ít củi khô để đốt hầu sưởi cho bớt rét. Một con đom đóm bay sà tới. Con khỉ đầu đàn tóm lấy và đặt vào giữa đám củi khô, vì đám khỉ tưởng đó là ánh lửa. Cả gia đình khỉ đều túm lại và phùng mang trợn má thổi mạnh. Nhưng con đom đóm mãi mãi vẫn chỉ là đom đóm, chứ không phải là ngọn lửa. Một con chim bay ngang qua nói với lũ khỉ: “Này các bác ơi, đó chỉ là con đom đóm chứ có phải là ngọn lửa đâu.” Bầy khỉ không nghe, bắt lấy con chim và đập chết. Sáng hôm sau, người ta thấy cả gia đình nhà khỉ nằm chết cóng bên đống củi khô cùng với xác của một con đom đóm.

Trong cuộc sống đời thường của chúng ta, có rất nhiều con đom đóm xuất hiện mà chúng ta cứ ngỡ tưởng là ngọn lửa thật. Đó là những con đom đóm của tiền bạc, của danh vọng, của những lạc thú trần gian. Nếu cứ bám mãi vào những con đom đóm đó, chúng ta sẽ chết một cách nghiệt ngã giống như đám khỉ trong câu chuyện nêu trên. Muốn thoát ra khỏi ánh sáng lập lòe của những con đom đóm giả hiệu này, chúng ta phải lột xác, phải biến hình với Chúa Giêsu, tức là phải đi vào cuộc biến đổi nội tâm một cách triệt để.

Kết luận
Một nhà tu đức nọ đã viết trong nhật ký của mình những dòng tâm tình sau đây. “Lúc còn nhỏ với bao tham vọng, tôi vẫn cầu xin Chúa giúp tôi biến đổi cả thế giới này. Lớn lên khi thấy chưa làm được gì, tôi chỉ cầu xin Chúa giúp tôi biến đổi những con người mà tôi vẫn thường gặp. Bây giờ khi cuộc đời đã xế chiều, tôi thấy mình rất mong manh chẳng làm được gì nên chuyện, tôi chỉ cầu xin Chúa hãy giúp tôi biến đổi chính con người của tôi.”

Michael Angelo, một điêu khắc gia tài ba, đã thổ lộ: “Đứng trước một phiến đá thô, để có được một bức tượng hoàn hảo, chúng ta cần phải biết đục đẽo và loại bỏ đi những gì thừa thãi, chứ không cần đắp thêm vôi vữa.” Cũng vậy muốn biến con người chúng ta trở nên một bức tượng sống, họa lại hình ảnh Chúa Giêsu, chúng ta cũng cần phải biết đục bỏ những gì dư thừa trong cuộc sống. Đó là phương cách để chúng ta đi vào sự biến đổi cách sâu xa.

Chúa biến hình trên núi cao, cũng mời gọi chúng ta ở dưới đất thấp, hãy can đảm lột xác, biến đổi nội tâm cách triệt để. Sự biến đổi ấy là điều kiện cần thiết để chúng ta tiếp nối dấu chân của Đức Giêsu, và cùng bước đi với Ngài trên con đường Thập giá.

LM GB Văn Hào, SDB

CẦN PHẢI SỐNG THẾ NÀO CHO ĐÚNG Ý NGHĨA MÙA CHAY?

Xưa nay nói nghĩ đến mùa Chay là nghĩ ngay đến việc ăn chay: kiêng thịt và ăn ít.  Nếu chỉ dừng lại nơi hai việc này, thì chưa sống đúng ý nghĩa mùa chay thánh.

Bây giờ chỉ còn ăn chay kiêng thịt hai ngày trong năm thôi, theo luật Giáo hội: ngày thứ Tư lễ Tro và ngày thứ sáu Tuần Thánh.

Nhưng nếu ai có lòng tự ý hy sinh ăn chay kiêng thịt thêm nữa, là điều tốt lành đạo đức, cũng là điều đáng khuyến khích.

Trong Kinh Thánh Chúa Giêsu nhắn nhủ việc chay tịnh:
–  Khi con giúp đỡ người nghèo khó, con đừng đánh trống thổi kèn việc con làm… (Mt 6, 2)
–  Khi con cầu nguyện, con đừng bắt chước kẻ giả hình… (Mt 6, 5)
–  Khi con giữ chay tịnh, đừng làm bộ mặt ủ rũ rầu rĩ như bọn gỉa hình… (Mt 6, 16)

try5Như thế, Chúa Giêsu khuyến khích giữ chay tịnh trong trái tim hồn, chứ đừng giữ chay tịnh theo bề mặt bên ngoài.  Niềm vui với Thiên Chúa, niềm vui với tha nhân và cả với chính bản thân sức khỏe của mình không là bước cản trở sống ý nghĩa mùa chay.  Trái lại, niềm vui đó giúp sống mùa chay theo đúng ý Chúa rất nhiều.  Có nhiều cách thức áp dụng sống mùa chay thánh, để ba việc căn bản: cầu nguyện, bố thí giúp người nghèo và ăn chay, được có ý nghĩa đầy đủ.

  1. Ăn chay bằng đôi con mắt:

Con mắt là cửa cho những hình ảnh từ bên ngoài đi vào trong tâm trí con người.  Ánh sáng đôi con mắt phản chiếu hình ảnh của mỗi con người.  Nó tựa như mặt trời của con người.  Con mắt không chỉ thu nhận hình ảnh từ bên ngoài vào trong thâm tâm mình. Nhưng nó còn chiếu tỏa ra bên ngoài những gì sâu kín nội tâm của con người nữa.  Nó như tấm gương phản chiếu của linh hồn tâm trí và của thân xác con người.  Con mắt là cửa số của linh hồn!

Nên tiết độ chừng mực bằng con mắt trong việc nhìn, trong việc quan sát, giúp ích rất nhiều cho tâm hồn được bình an.  Chỉ nhìn xem những gì lành mạnh tốt đẹp, những gì mang gây đến niềm vui hạnh phúc cho mình và cho người khác

  1. Ăn chay bằng đôi tai

Đôi tai là cổng cho âm thanh to nhỏ từ bên ngoài đi vào trong tâm trí con người.  Đôi tai là hình ảnh của sự cởi mở và sẵn sàng thâu nhận, cho lắng nghe.

Có những âm thanh làm đảo lộn tâm trí đời sống, tạo ra bất an cho con người.  Vì thế tiết độ chừng mực bằng đôi tai, không phải là chối từ lắng nghe.  Nhưng chỉ sẵn sàng nghe đón nhận những âm thanh tiếng nói mang lại niềm vui cho tâm hồn, cùng gợi suy nghĩ sự hữu ích tốt lành thánh thiện cho đời sống.

  1. Ăn chay bằng đôi tay

Đôi tay không chỉ là phần thân thể tứ chi của con người, nhưng nó là dụng cụ có nhiều công dụng cho cuộc sống con người.  Đôi tay là hình ảnh sức mạnh con người, đồng thời nó cũng diễn tả ra bên ngoài sức sống suy nghĩ từ bên trong tâm trí tâm trí.

Khi tay cử động làm việc, diễn tả hay sáng tạo, là muốn gửi đi tín hiệu đã được suy nghĩ nghiên cứu của tâm trí.  Cử động của đôi tay là ngôn ngữ không thành lời, những gì người đó muốn nói.

Đôi tay làm việc thiện tốt lành, làm việc xây dựng, bác ái, chúc lành, cầu nguyện.  Nhưng đôi tay cũng làm gây ra những việc không lành mạnh, không xây dựng, từ chối phá đổ, chửi rủa.

Tiết độ chừng mực bằng đôi tay là không dùng nó cho những việc tiêu cực, những việc không lành mạnh, những việc mang đến hậu qủa phá đổ không xây dựng.

  1. Ăn chay bằng đôi chân

Đôi chân dung để đứng, để đi.  Với đôi chân đứng vững trên mặt đất nền nhà là dấu chỉ sự nối kết giữa con người và đất.  Từ đất, như trong Kinh Thánh diễn ta, con người được tạo thành và sau cùng cũng trở về với đất.

Đôi chân của con người diễn tả con đường sự sống của họ, con đường hành trình một đời người.   Chừng mực tiết độ bằng đôi chân trong đời sống là không chỉ biết đi mãi, đi không còn biết mệt mỏi.  Nhưng còn phải biết dừng chân nghỉ ngơi, dừng chân để suy nghĩ lại bước đường đã đi qua.

Chừng mực tiết độ bằng đôi chân trong đời sống là biết đi đến với người khác, không phải chỉ đi cho riêng mình.  Chừng mực tiết độ bằng đôi chân là không phải đi đến địa điểm có lợi ích cho phần nuôi sống thân xác.  Nhưng còn cần phải đi đến địa chỉ nơi cầu nguyện, nơi học hành, nơi giải trí lành mạnh để nuôi sống phần tinh thần nữa.

Sưu tầm
******************************************
Lạy Chúa Giêsu,
xin dẫn con vào nhà của con,
căn nhà của trái tim,
căn nhà vừa quen vừa lạ.

 Xin hãy cho con thấy
những phức tạp, rắc rối, những che đậy, giằng co,
những mâu thuẫn và vô lý nơi con.
Xin hãy cho con thấy
những nhỏ mọn, ích kỷ,
những yếu đuối, khô khan,
những cứng cỏi và tự ái nơi con.

 Xin cho con ý thức
những lo âu, sợ hãi
đang đè nặng làm con ngột ngạt,
những nỗi đau thầm kín khiến đời con mất vui,
những vết thương không biết bao giờ lành,
những đổ vỡ khiến lòng con khép lại.

 Lạy Chúa Giêsu,
xin giúp con dọn những bề bộn nơi tim con.
Xin biến đổi tim con, để nó trở nên đơn sơ hơn,
hồn nhiên hơn và tươi tắn hơn.

 Ước gì con nhìn mọi sự, mọi người,
bằng trái tim bao dung của Chúa.
Và ước gì khi đã ra khỏi nỗi bận tâm về mình,
trái tim con được nhẹ nhàng hơn và tự do hơn
để yêu mến mọi người.  Amen.

Lời nguyện Rabbouni

ĐỨC GIÊSU BỊ CÁM DỖ

W1Đức Giêsu bị cám dỗ sau một thời gian dài không ăn trong hoang địa.  Có lẽ sau khi Ngài chịu phép rửa ở sông Jordan với Yoan Tẩy Giả, Đức Giêsu đã ăn chay cầu nguyện để biết Thiên Chúa muốn Ngài làm gì, và phải làm như thế nào trong những tháng ngày sắp tới.  Sau thời gian này, Đức Giêsu đã đi rao giảng, khởi đầu một giai đoạn mới trong đời Ngài.

Đức Giêsu là người.  Ngài không biết tất cả.  Ngài phải tìm ý Thiên Chúa liên lỉ qua cầu nguyện, bằng việc nhận định những gì xảy tới cho Ngài trong đời sống thường ngày (Lc.22, 42; Ga.4, 34).  Ngài cầu nguyện để biết phải làm gì, phải chọn ai (Lc.6, 12-13).  Trong cuộc sống, có lúc Ngài biết nhưng lúc khác Ngài lại xao xuyến dao động: Ngài đã loan báo cho các tông đồ rằng Ngài sẽ bị bắt bị giết và sau ba ngày Ngài sẽ sống lại (Lc.9, 22. 44-45; 18, 31-34) nhưng ở trên thập giá Ngài lại bị cám dỗ Thiên Chúa bỏ Ngài: “Lạy Cha, lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con” (Mc.15, 34).

Đức Giêsu là người.  Ngài còn bị cám dỗ như tất cả mọi người.  Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Giêsu bị cám dỗ biến đá thành bánh (Lc.4, 3), bị cám dỗ có quyền hành (Lc.4, 6-7), bị cám dỗ nghi ngờ tình yêu Thiên Chúa (Lc.4, 9-10). “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.”  Ai đã có kinh nghiệm đói, mới biết những cám dỗ này mãnh liệt như thế nào.  Ai có kinh nghiệm về nghèo, mới thấy tiền bạc thu hút con người đến độ nào.  Khi đói, người ta mong có đủ cơm ăn; khi có đủ cơm ăn áo mặc, người ta mong muốn có nhiều để bảo đảm tương lai và còn muốn ăn ngon mặc đẹp.  Đây là những cám dỗ mà ai cũng gặp.  Đức Giêsu một khi đã chia sẻ thân phận con người nên Ngài cũng bị cám dỗ về ăn, tuy nhiên Ngài không thể biến đá thành bánh như Ngài muốn, nếu không, Ngài không còn là người trọn vẹn nữa.  Nhập thể, là chấp nhận giới hạn của con người.

Con người thấy mình có những khuynh chiều của thân xác và cũng có lý trí để nhận biết điều tốt và phải làm.  Con người có những khuynh chiều thân xác như thèm ăn, đòi thỏa mãn thân xác, muốn được đề cao và quy tất cả về mình.  Những khuynh chiều này cũng thuộc về tôi nhưng không hoàn toàn thuộc về tôi.  Tôi có những nhu cầu thân xác, có những khuynh chiều thân xác, nhưng cũng không phải chỉ có vậy.  Tôi còn cảm nhận nơi tôi có ao ước cái gì cao hơn, tươi đẹp hơn, tuyệt hơn.  Tôi là thực tại gồm cả khuynh chiều thân xác cũng như lý trí hướng thiện.  Khuynh chiều xấu có nơi tôi, nhưng nó chưa là tôi hoàn toàn; chỉ khi nào tôi đồng tình, chỉ khi nào tôi ưng thuận, nó mới hoàn toàn là tôi.  Có nhiều lúc tôi ưng thuận với những khuynh chiều bất chính nơi tôi, và như vậy, tôi làm tôi thành xấu qua chính hành vi ưng thuận của tôi.

Đức Giêsu, theo ngôn từ của thư gởi tín hữu Do Thái, không bao giờ ưng thuận những điều sai quấy cho dù Ngài bị cám dỗ như tất cả bao người khác: “Ngài nên giống chúng ta mọi đàng trừ tội” (Dt 4, 15; 2, 17).  Ngài bị cám dỗ như bao người, như mỗi người chúng ta, nhưng không bao giờ Ngài phạm tội, không bao giờ Ngài ưng thuận với những gì bất chính, với những khuynh chiều bất chính nơi thân xác Ngài.  Đức Giêsu là người hoàn toàn, Ngài chịu thử thách trăm bề, bị cám dỗ như bất cứ ai trên đời, nhưng Ngài có một điều khác con người: Ngài không phạm tội.  Đồng tình hay không đối với những khuynh chiều bất chính nơi mình, là hành vi tự do của mỗi người; đồng tình với những khuynh chiều xấu, là phạm tội.  Phạm tội hay không, là tùy tự do của mỗi người, là do con người xử dụng tự do Thiên Chúa ban cho như thế nào.  Phạm tội hay không, là tùy tự do con người, nó không thuộc bản chất con người.

Theo niềm tin Kitô hữu, có hai người không bao giờ dùng tự do Thiên Chúa ban để chống lại Thiên Chúa, không bao giờ hai vị này thuận theo những khuynh chiều bất chính nơi họ, đó là Đức Giêsu và Đức Maria.  Đức Maria vô nhiễm nguyên tội và không phạm tội “riêng.”  Mẹ là người tuyệt vời, nên đã được Thiên Chúa cho hưởng hạnh phúc trọn vẹn và vĩnh cửu với Ngài.  Điều này được diễn tả qua tín điều: Đức Maria lên trời cả hồn lẫn xác.  Đức Giêsu đã không bao giờ thuận tình với bất cứ cám dỗ làm điều xấu nào.  Ngài thuộc trọn về Thiên Chúa đến độ người ta nói Ngài là con Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa nhập thể.

Tin vào Đức Giêsu là tin vào Thiên Chúa.  Thiên Chúa đã sinh ra Đức Giêsu, đã làm Đức Giêsu thuộc về Thiên Chúa hoàn toàn.  Đức Giêsu đã thuộc về Thiên Chúa với thân xác của mình, cho dù người ta đã hủy hoại thân xác Ngài, nhưng không thể hủy hoại được Ngài.  Thân xác Đức Giêsu là thân xác thánh ngang qua chính cuộc sống của Ngài.  Mỗi con người đều được gọi để thành thánh, để thuộc về Thiên Chúa, trở nên người thành toàn, người tuyệt vời qua những chọn lựa sống của mình.  Hơn bất cứ thời điểm nào, mùa chay giúp các Kitô hữu nhìn lại con người của mình với những khuynh chiều thân xác và tinh thần, để rồi nhận ra lời mời gọi nên thánh trong tất cả mọi hành vi của đời sống mình.

LM Giuse Phạm Thanh Liêm

 NGƯỜI LÀ BỤI TRO

W2Người ơi hãy nhớ, mình là bụi tro
Một mai người sẽ trở về bụi tro”
(Thánh ca)

Bài thánh ca đã trở thành quen thuộc mỗi khi Mùa Chay về.  Lời ca đơn sơ mà da diết, bi ai mà thiết thực, nhắc chúng ta nhớ về thân phận con người.
Trong nghi thức khai mạc Mùa Chay, các tín hữu công giáo, từ giáo hoàng, giám mục, linh mục đến giáo dân, mọi người đều khiêm hạ nhận lấy một chút tro trên đầu.  Người giàu cũng như người nghèo, người già cũng như người trẻ, hết thảy đều nhận mình là thân phận bụi đất, hư vô.  Nghi thức này thật cảm động, vừa diễn tả lòng sám hối, vừa nói lên nguồn gốc tro bụi của mình.  Bụi tro xem ra đơn giản là thế mà lại gợi ý suy tư với bao điều sâu sắc.

1- Bụi tro nhắc nhở chúng ta sự mỏng giòn của kiếp người
Tro là phần còn lại của một số chất liệu sau khi đã bị lửa thiêu rụi.  Tiền thân của tro có thể là những đồ vật một thời quý giá, sang trọng, có thể là những bông hoa một thời kiêu sa, rực rỡ.  Thế rồi, với tác động của ngọn lửa, những gì là rực rỡ không còn, những gì là kiêu sa đã mất, còn lại chỉ là nắm tro tàn vô dụng.  Phụng vụ khuyên đốt những cành lá sử dụng trong Chúa nhật lễ Lá năm trước để lấy tro dùng trong nghi thức làm phép và xức tro.  Những cành lá nhắc lại lời tung hô của người dân thành Giêrusalem khi Đức Giêsu tiến vào thành thánh.  Như những cành lá xanh tươi mau khô héo do tác động của thời gian, những lời ca tụng con người dành cho nhau sớm bị lãng quên vì chỉ nhất thời.  Nếu có rất nhiều người tung hô Đức Giêsu khi Người vào thành thánh ngày Chúa nhật lễ Lá, thì cũng có khá đông những cánh tay giơ lên chiều thứ Sáu để đòi lên án tử cho Người.  Khoảng cách cho một cành lá từ lúc xanh tươi đến lúc héo tàn mỏng manh là thế.

Khi tham dự nghi thức hỏa táng một người thân, chúng ta cảm nghiệm cách sâu xa sự mỏng giòn của thân phận con người.  Chỉ sau vài giờ đồng hồ, ngọn lửa đã biến thân xác con người trở thành tro bụi.  Vẻ đẹp đẽ xinh tươi sẽ không còn; giàu sang phú quý sẽ biến mất.  Những hộp hài cốt đặt để gần nhau trong ngôi “nhà tưởng niệm” cho thấy, sau khi chết, con người chẳng còn chi khác biệt.  Giàu sang, nghèo hèn có cùng một địa chỉ; yêu thương thù ghét cùng một chốn đi về.

Như một đoá hoa vô thường, cuộc đời mỏng manh, nay còn mai mất.  Mỗi ngày qua đi, thân xác con người thay đổi, rồi đến mùa thu cuộc đời, họ trở nên tàn tạ.

Vượt lên thân phận mỏng giòn chóng qua của kiếp con người, đức tin công giáo hướng chúng ta về những giá trị vĩnh cửu.  Quả vậy, nếu thân xác con người như đoá phù dung sớm nở tối tàn, thì linh hồn con người lại trường tồn bất tử.  Nếu cuộc sống thế gian dừng lại khi con người nhắm mắt xuôi tay, thì cuộc sống vĩnh cửu lại khởi đầu lúc con người giã biệt trần thế.  Phủ nhận linh hồn bất tử, con người sẽ bất hạnh, vì sau khi chết, họ trở về với hư vô.  Không tin Thiên Chúa hiện hữu, người ta sẽ sống trong vô vọng, vì không tìm đâu được lý tưởng cuộc đời.

2- Bụi tro nhắc nhở chúng ta nhận ra Thiên Chúa là Đấng Vĩnh cửu
Tác giả sách Sáng thế nói với chúng ta, thân xác con người được tạo thành từ bùn đất, rồi con người sẽ trở về với đất, vì từ đất mà ra.  “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi và con người trở nên một sinh vật” (St 2, 7).  “Con người” chỉ khác với đất là có hơi thở.  Chính Thiên Chúa đã “thổi hồn” cho đất để đất trở nên người.  Đất với người từ đó mà có duyên nợ, luôn gắn liền với nhau.  Con người sống nhờ đất khi thọ hưởng biết bao hoa màu từ đó, rồi cũng chết vì đất khi đổ mồ hôi trán để tồn tại và mưu sinh.  Đất là chỗ đứng chắc chắn cho bước chân người khi họ còn sống; Đất mở rộng vòng tay đưa con người trở về an nghỉ khi họ từ giã cuộc đời.  Hành trình con người khởi đi từ đất, qua một chuỗi những tháng ngày vui tươi đau khổ, hân hoan, thất vọng, rồi con người lại trở về với… đất.  Cách trình bày của tác giả sách Sáng thế cho ta thấy tình thương bao la của Thiên Chúa.  Con người là một tác phẩm do chính Chúa tạo nên.  Ngài như một người thợ thủ công lành nghề, khéo léo nhào nắn đất để tạo nên hình dạng con người.  Với tình yêu thương, Ngài chăm sóc và ban cho con người hơi thở.  Hơi thở ấy chính là hơi thở của Ngài.  Thật kỳ diệu khi được biết sự sống của chúng ta chính là hơi thở của Thiên Chúa.  Nhờ hơi thở của Chúa mà con người trở nên cao cả, tuy được nắn từ bùn đất.  Sau cuộc đời lo toan giữa nhân tình thế thái, con người trước khi về với đất “trút linh hồn”, trả lại “hơi thở” cho Chúa, trong tâm tình biết ơn trìu mến, như người con phó thác trọn vẹn nơi Cha mình.

3- Bụi tro nhắc chúng ta sống tốt cuộc đời tạm này
Khi ý thức được sự mỏng giòn chóng qua của thân phận con người, chúng ta chọn lựa và gắn bó với những giá trị trường tồn vĩnh cửu.  Của cải vật chất chỉ là phương tiện Chúa ban để chúng ta sống xứng với phẩm giá con người và để giúp đỡ anh chị em.  Chúng ta không thể mang theo chúng khi giã biệt cõi đời.  Cánh tay buông thõng của người vừa trút hơi thở cuối cùng cho thấy, con người đến thế gian với hai bàn tay trắng, nay trở về với cát bụi cũng chỉ là tay không.  Thật bất hạnh cho những ai coi tiền bạc của cải như những chiếc “phao cứu hộ” vào lúc cuối đời.

Vì những lợi lộc trần gian mà không thiếu người dùng mọi mưu mô mánh lới.  Vì vinh quang nhất thời mà có người đã coi nhẹ lương tâm.  Bụi tro nhắc chúng ta những vinh quang trần thế cũng chỉ như đoá hoa rực rỡ hôm nay, ngày mai sẽ trở thành tro bụi.  Chỉ có tình Chúa tình người mới lâu bền tồn tại, mãi đến thiên thu.

Nếu bàn bay buông thõng của người vừa nằm xuống chẳng mang theo được gì khi tạm biệt cõi đời, thì những công phúc họ đã thực hiện ở đời này lại theo họ mãi mãi (x. Kh 14, 13).  Vì vậy, trong cuộc đời quá ngắn ngủi này, chúng ta được kêu gọi tận dụng thời gian để sống tình nhân ái với nhau. Hãy thôi những bon chen lừa lọc vì cuộc đời chẳng là mấy.  Hãy dừng những toan tính nhỏ nhen vì chẳng ai sống mãi trên đời.  Thấy rõ cuộc sống chóng qua giúp ta thiện chí sống bao dung quảng đại. “Hổ chết để da, người ta chết để tiếng”.  “Tiếng” đây là lòng nhân hậu, là đạo đức của con người.  Một người sống tốt lành, khi thân xác của họ đã an nghỉ trong lòng đất, cái đức của họ vẫn còn.  Họ vẫn được lưu danh với thời gian.

“Người ơi hãy nhớ, mình là bụi tro
Một mai người sẽ trở về bụi tro”

Lời ca đơn sơ mà da diết, bi ai mà thiết thực, nhắc chúng ta nhớ về thân phận con người, hướng chúng ta về với Đấng Vĩnh Cửu qua những thực hành cụ thể của cuộc sống hôm nay.

GM Giuse Vũ Văn Thiên