LÀM PHẬT KHÔNG DỄ

Thượng tọa Thích Nhất Hạnh, một trong những tác giả Việt Nam nổi tiếng tại Hải ngoại đã có lần kể một giai thoại về Đức Phật và ác thần Mara như sau:

Ngày nọ, Đức Phật đang bận việc dưới hầm, còn Almada, đệ tử của Ngài đang đứng ngoài cửa. Thình lình Almada thấy Mara xuất hiện. Almada cứ tưởng như Mara đang lạc lối, nhưng Mara tiến lại gần Almada và yêu cầu cho được gặp Đức Phật, Almada hỏi lại:

Z1– Ngươi còn đứng đây để làm gì? Ngươi không nhớ là Đức Phật đã nhiều lần đánh bại ngươi dưới gốc cây bồ đề rồi sao? Ngươi còn vác mặt tới đây làm gì? Ngươi không biết xấu hổ sao? Cút đi, Đức Phật không muốn thấy mặt ngươi nữa đâu, ngươi là đồ ác, ngươi là kẻ thù của Ngài.

Nghe thế, Mara liền cười ngất:
– Ngươi bảo là sư phụ ngươi cũng có kẻ thù ư?

Almada cảm thấy bối rối, anh biết Đức Phật chưa bao giờ nói rằng Ngài có kẻ thù. Đuối lý, Almada liền xuống hầm báo tin cho Đức Phật biết Mara xin được gặp Ngài. Anh hy vọng Đức Phật sẽ sai anh lên nói với Mara rằng: Ngài đang bận, không thể tiếp hắn được. Nhưng Đức Phật rất vui mừng khi nghe tin có Mara muốn gặp, cứ như thể hắn là một người bạn chí thân của Ngài, và Ngài liền thân hành đến gặp Mara. Almada hết sức thất vọng khi thấy Đức Phật đến trước mặt Mara cung kính bái chào hắn, rồi nhiệt tình bắt tay hắn. Ngài chào hắn:

– Chào ông bạn, ông bạn có khoẻ không? Mọi việc đều tốt đẹp cả chứ?

Nhưng Mara không đáp lại. Đức Phật mời hắn xuống hầm và sai Almada pha trà. Almada bực bội lắm, anh nghĩ trong bụng: ta có thể pha trà cho sư phụ mỗi ngày một trăm lần cũng được, nhưng pha trà cho Mara, ta không thấy vui chút nào, nhưng là vì lệnh của Đức Phật thì làm sao có thể từ chối được. Trong câu chuyện nghe lóm giữa Đức Phật và Mara, Almada nghe Mara thú nhận một cách chán nản như sau:

– Mọi việc không diễn ra tốt đẹp chút nào, tôi quá mệt mỏi vì phải làm Mara, tôi muốn được làm một cái gì khác cơ, như Ngài biết: đóng vai Mara không phải là chuyện dễ: có nói thì nói gian, nói dối, còn có làm thì làm điều dữ, điều ác. Tôi mệt mỏi lắm rồi, nhưng điều tôi không chịu nổi chính là các môn sinh của tôi. Ngày nay, cứ mỗi lần mở miệng ra thì họ nói tới công bình xã hội, hoà bình, bình đẳng, giải phóng, bất bạo động. Tôi nghe quá nhàm tai rồi, tôi nghĩ đã đến lúc tôi xin bàn giao chúng lại cho Ngài, tôi chỉ muốn làm một cái gì khác thôi.

Đức Phật lắng nghe với tất cả chú ý và cảm thông. Cuối cùng Ngài nói:

– Bộ anh tưởng rằng làm Phật thì dễ hơn sao? Anh không thấy những gì các môn sinh của tôi làm cho tôi sao? Họ đặt trên miệng tôi những lời mà tôi chưa bao giờ thốt ra, họ xây chùa chiền cho tôi, tạc tượng cho tôi, và đặt tôi lên bàn thờ để thu nhặt cam chuối, tiền bạc cho riêng họ, tôi và giáo huấn của tôi đã trở thành đối tượng để đổi chác. Này ông bạn Mara, nếu ông biết được thế nào là làm Phật, tôi tin chắc ông chẳng muốn làm Phật chút nào đâu.

**************************************
Qúy vị và các bạn thân mến,

Môn đệ của ác thần thì nói đến nhân nghĩa, còn đệ tử của Đức Phật thì lại tôn thờ đấng suốt một đời chỉ muốn sống siêu thoát, từ bỏ. Phải chăng, đây là dụ ngôn về sự thiếu nhất quán và thái độ thỏa hiệp của con người. Đây cũng chính là cơn cám dỗ triền miên của các tín hữu Kitô chúng ta.

Trong Tin mừng, Chúa Giêsu không ngừng kêu gọi thái độ triệt để tận căn của Người. Ngài xử dụng những hình ảnh rất mạnh để nói lên thái độ dứt khoát mà các môn đệ của Ngài phải có: “Ai cầm cày mà quay lại đằng sau, không đáng làm môn đệ Ngài. Ai không từ bỏ tất cả, ngay cả cha mẹ mình cũng không đáng làm môn đệ Ngài”. Có thể theo Cha với một thái độ triệt để và dứt khoát như thế không? Chắc chắn nếu không có ơn Chúa chúng ta không thể sống triệt để và dứt khoát như thế được. Chúng ta dễ dàng chạy theo tinh thần thế tục và thoả hiệp với những sức mạnh của sự dữ. Chúng ta dễ dàng lấy sự yếu đuối của loài người để biện minh cho thái độ thoả hiệp của chúng ta.

Là một người môn đệ đích thực của Chúa Kitô không phải là chuyện dễ, nhưng Chúa Giêsu đã nói với chúng ta: chỉ những ai bền đỗ đến cùng mới được cứu thoát.

**************************************
Lạy Chúa, không có ơn Chúa, chúng con không làm được việc gì. Xin Chúa nâng đỡ bổ sức cho chúng con, để sau mỗi lần vấp ngã, chúng con biết chỗi dậy và tiếp tục đi theo Chúa. Amen!

R. Veritas

CÓ NÊN TRỞ VỀ KHI CHA KHUẤT BÓNG?

“Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói! Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.” (Lc 15:17-19)

Đang lúc soạn bài diễn văn trong đầu để nói với cha trong ngày trở về, nó lặng người đi khi nghe dân làng truyền tai nhau tin cha nó mới mất chiều qua. Cái chết đến thật bất ngờ, người cha đã qụy ngã ngay trước cổng nhà khi ánh hoàng hôn tắt sau đồi, nơi ông thường ra đứng mỗi ngày mong ngóng đứa con đi hoang trở về. Tuổi già sức yếu đã cắt đứt nguồn hy vọng mong manh, ngày ông có thể dang rộng vòng tay nhân ái để đón thằng con nghịch tử về với ông, về dưới mái nhà thân thương. Dân làng không biết người cha tội nghiệp chết vì kiệt sức trong mỏi mòn đợi trông, hay chết vì cơn đau tim, họ chỉ truyền tai nhau tin ông mới mất.

Nó hụt hẫng như người vừa bị ai giằng lấy cái phao cứu sinh cuối cùng giữa dòng nước chảy cuồn cuộn. Thẫn thờ, nó thả người ngồi phịch xuống đất, há miệng ra thở dốc từng hồi như có ai đang bóp nghẹt lấy trái tim. Hai dòng nước mắt lã chã tuôn rơi trên khuôn mặt gầy hốc hác sạm nắng. Nó không hiểu là nó đang khóc thương cha, hay khóc thương cho cái bao tử xẹp lép không còn đường về. Nó mệt mỏi đưa tay quệt nước mắt gục đầu xuống, kéo theo cái thân xác tiều tụy gầy dơ xương rũ xuống đất trong tiếng kêu ọc ọc của cái dạ dày trống không. Nó không hiểu sao số phận lại nghiệt ngã với nó như vậy. Sao cha lại chết ngay lúc nó muốn trở về.

W13Phải mất một lúc lâu nó mới lồm cồm ngồi dậy, chống cặp mắt ngây dại thẫn thờ nhìn về hướng thôn làng xa xa trong bóng chiều tà. Nó bối rối đưa hai tay vò cái đầu rối bù mà vẫn không biết nên làm gì trong lúc này. Có nên mang cái thân tàn ma dại, đầy vết lở loét về để chịu tang cha hay không? Hay có gan chơi thì có gan chịu, lỡ đi hoang rồi thì đi luôn? Nhưng nếu đi luôn thì đi đâu? Nó đã từng đi ở đợ, chăn heo với mong ước là ăn những thức ăn của heo mà vẫn không ai cho. Nếu về, thiên hạ có chửi rủa, chê cười nó không? Trở về để ở lại trong ngôi nhà đó khi người cha đã ra đi, hay về để rồi tiếp tục đi hoang? Ai sẽ chấp nhận nó trở về trong ngôi nhà đó? Về với cương vị gì? Đầu óc nó rối bung lên với một mớ những câu hỏi không lối đáp. Nó không lạ gì người anh cả hay ghen tương, tị nạnh của nó. Nó đã lấy hết sạch phần gia tài của nó rồi, nó đâu còn phần gì trong căn nhà và ruộng nương nữa. Sợi dây cuối cùng là người cha rộng lượng phóng khoáng chia gia tài cho nó cũng đã không còn. Vậy thì có nên cất bước trở về hay không?

Cơn đói hoành hành bao tử khiến đầu óc nó không đủ minh mẫn để suy nghĩ tiếp và không biết phải quyết định ra sao. Bóng tối ập xuống trong đầu nó. Nó không sợ những lời khinh chê hay cái nhìn dè bỉu của làng xóm. Nó chỉ sợ phải đối đầu với ông anh cả hẹp hòi ích kỷ. Sợ ông sẽ triệt con đường sống cuối cùng của nó. Lo rằng ông sẽ đày đọa nó cho bõ ghét, sẽ hành hạ nó như đứa đầy tớ, sẽ đay nghiến nó vì cái tội phá gia chi tử. Nó biết cũng giống như nó, anh cả cũng chẳng thương yêu gì người cha già tội nghiệp đâu, nhưng ông sẽ chì chiết nó vì cái tội bất hiếu, gián tiếp gây nên cái chết đau khổ mòn mỏi của người cha. Ông có thể ngược đãi dồn nó vô bước đường cùng để nó phải ra đi một lần nữa, hoặc tệ hơn ông có thể đối xử tàn ác, bức tử nó đến chết. Nó rùng mình khi nghĩ đến ngày mai đen tối ở với ông anh cả.

Mắt nó hoa lên vì đói, nó thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn, trong đầu nó hiện lên những thước phim đẹp của những ngày dĩ vãng xa xưa bên người cha nhân ái. Những bữa cơm ấm cúng đầy thịt, nghi ngút khói của ba cha con. Khuôn mặt phúc hậu của cha, những lời giáo huấn chứa chan yêu thương, những lời khuyên bảo anh em nó cách sống ở đời, dạy cách làm việc đồng áng, cách quản lý nhà cửa gia nhân…. Cha không những chỉ yêu thương hai anh em nó, mà ông yêu thương cả những người đày tớ, làm công trong nhà. Ông sống chan hòa với làng giềng, già trẻ lớn bé ai ai cũng thương mến. Trong đầu nó lại hiện lên hình ảnh của nó ngày xưa, thưở nhỏ mặc quần áo đẹp, hay chạy lon ton thả diều bên cạnh cha khi đi thăm đồng, nghe những lời dạy dỗ của cha chữ được chữ mất, tai này lọt qua tai kia. Nó thấy trước đây khi còn ở với cha, nó cũng đâu tới nỗi nào. Chỉ từ khi nghe lời bạn bè xấu xúi giục đòi chia gia tài. Khi có tiền trong tay, xa gia đình, bạn bè xấu vây quanh, nó bắt đầu một cuộc sống đua đòi phóng đãng, không làm ăn, chỉ biết ăn chơi đàng điếm thì núi cũng phải lở. Nó bị phá sản, ra thân tàn ma dại như ngày hôm nay là một kết quả đương nhiên. Chỉ xui xẻo cho nó là ngay lúc nó trắng tay thì vùng nó đang ở lại xảy ra một nạn đói khủng khiếp. Nó thấy tiếc nuối hình ảnh ngày xưa của chính nó. “Nhân chi sơ, tính bản thiện,” nếu nó chịu lắng nghe lời cha, nếu nó vẫn sống bên cạnh cha nó, nếu nó không nghe lời đám bạn xấu đòi chia gia tài, nếu nó không ăn chơi đàng điếm, nếu… và nếu…! Bên tai nó cứ văng vẳng nuối tiếc chữ “nếu…” oái oăm.

Nó bỗng choàng tỉnh dậy, người vốn đã mệt lả vì đói, giờ lại thêm hai luồng tư tưởng xâu xé nhau dữ dội như muốn vắt kiệt sức tàn của nó. Về hay không về? Về với ông anh cả cũng chết, mà không về cũng chết đường chết chợ. Nó chợt nhớ tới bài diễn văn nó đang soạn dở trong đầu: “Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.” Ừ, nó chỉ xin coi nó như một người làm công thôi mà. Thay vì làm công cho cha, thì giờ đây làm công cho anh cả. Cũng là làm công, chỉ khác nhau người chủ thôi, có gì đâu mà phải tính toán. Khuôn mặt hiền lành phúc hậu của người cha hiện lên trong tâm trí như khích lệ ý tưởng đó. Mái nhà thân yêu ngày xưa của ba cha con, căn phòng nhỏ với cái bàn học xinh xắn góc tường và cái giường thơm mùi gỗ lim, làn khói nghi ngút sực nức mùi thức ăn trong chái bếp sau hè… tất cả như đang vẫy tay mời gọi nó trở về. Ừ, cha đã khuất nhưng về với mái nhà xưa sẽ cho nó có cơ hội tìm lại chính mình, tìm lại con người mà nó đã đánh mất trong chuyến đi hoang vừa rồi. Về để tìm lại con người “nhân chi sơ, tính bản thiện” mà cha nó, ngày qua ngày đã dày công dạy dỗ, giáo dục anh em nó với tất cả tình thương và tấm lòng nhân hậu của người cha.

Thế là nó quyết định trở về, dù cái bụng đói trống rỗng thôi thúc, nhưng đầu óc khôn lanh ranh mãnh mách bảo cho nó biết không nên về trong lúc ma chay nhộn nhịp này. Bà con láng giềng, họ hàng sẽ qưở trách nó, nó sẽ trở thành tâm điểm chú ý của mọi người. Thôi, nó sẽ ráng sống lây lất đợi thêm vài ngày nữa, chờ cho những ngày chôn cất cha qua đi, cho họ hàng thân thuộc ra về, khi mọi sự trở lại nhịp sống bình thường, để không còn ai chú ý vào sự trở về không kèn không trống của nó nữa.

Đúng như nó dự đoán, người anh cả tuy không vui, không muốn nhưng ông vẫn lạnh lùng chấp nhận sự trở về của nó như một người làm công. Ông không hạch tội, không trách mắng, chẳng hỏi han, cũng chẳng tỏ chút xót thương cái thân tàn ma dại, đầu bù tóc rối, và áo quần tả tơi của nó. Giao ước được ký kết rõ ràng giữa hai anh em, nó không còn phần gì trong nhà này, đày tớ làm việc gì, nó sẽ làm việc đó, họ ăn cái gì, nó ăn cái đó. Ông trả cho họ bao nhiều tiền công, cũng sẽ trả cho nó y như vậy, không hơn không kém. Nó vui vẻ chấp nhận, miễn sao có cái gì lấp cho đầy bụng, có chỗ tá túc qua ngày, có cái mặc cho ra hồn một con người, lại còn được thêm tiền công. Còn gì hơn nữa?

Sau vài ngày ăn uống nghỉ ngơi cho lại sức, nó bắt đầu công việc của một đứa làm thuê. Những ngày đầu làm việc ngoài đồng, nó ngạc nhiên khi thấy đám đầy tớ âm thầm làm giúp nó nhiều công việc nặng nhọc của đồng áng, mà nó vẫn còn lúng túng chưa quen. Đến bữa ăn, nó lạ lùng khi thấy người hầu len lén đưa thêm phần thịt cá trong bữa cơm của nó. Quần áo mới thay ra, mắt trước mắt sau đã thấy họ đem đi giặt và đưa cho nó bộ quần áo gấp ngay ngắn đã được giặt sạch sẽ. Cái giường nó nằm đã được ai đó kín đáo lót thêm những lớp vải dày để nằm cho êm. Buổi tối trời trở lạnh, bọn gia nhân lén đưa thêm cho nó tấm chăn bông mượt mà. Những lúc tay nó phồng rộp lên vì phải cầm cái cuốc cái cày, họ đã giành làm hết phần việc của nó, đưa thuốc cho nó xức, bảo nó nghỉ ngơi cho khỏe. Người tớ gái còn dấm dúi đưa cho nó cái nón rơm rộng vành để đội dưới ánh nắng trưa hè chói chang ngoài đồng. Đến ngày lãnh lương, nó nhận được phần lương đầy đủ từ người anh cả như những người làm công khác, vì nó đã hoàn thành xuất sắc công việc đồng áng mà nó được giao. Nó ngạc nhiên không hiểu tại sao nó lại được sự ưu đãi kín đáo đặc biệt như thế. Nó không biết từ đâu, nhưng có điều chắc chắn là không phải từ người anh cả lạnh lùng hay ghen tị, vẫn nhìn nó với ánh mắt đố kỵ, và chẳng bao giờ thèm nói chuyện với nó. Nó chẳng màng điều đó, nó chỉ thắc mắc và muốn tìm hiểu nguyên nhân.

Ngày qua ngày, nó đã từ từ lại sức và lấy lại phong độ của một thanh niên đang tuổi trưởng thành. Căn nhà xưa không thay đổi gì nhiều so với lúc trước khi nó đi hoang, gợi nó nhớ lại hình ảnh của người cha và những lời dạy dỗ của cha như vẫn còn văng vẳng đâu đây trong không gian thân thương này. Bọn gia nhân trong nhà, những kẻ làm thuê ngoài đồng vẫn nhìn nó với ánh mắt kính nể, vẫn lễ phép thưa gởi nhẹ nhàng như nó vẫn còn là cậu chủ trong nhà, đã phần nào giúp nó lấy lại sự tự tin và phong thái của một cậu chủ. Đôi khi nó cũng lúng túng không biết mình là ai trong căn nhà này. Một cậu chủ hay một kẻ làm thuê? Dưới cái nhìn khinh ghét và miệt thị của ông anh cả, thì nó đúng là một kẻ làm thuê, ngày ngày sắp hàng lãnh nhận tiền công. Nhưng dưới con mắt của bọn gia nhân, nó thấy mình vẫn là một cậu chủ ngày xưa.

Thôi mặc kệ, cậu chủ hay kẻ làm thuê không quan trọng. Những tháng ngày qua đã dạy cho nó biết rằng giá trị và nhân phẩm của một con người không phụ thuộc vào giai cấp hay tiền bạc. Điều nó muốn là giải tỏa những khúc mắc trong lòng từ bao lâu nay. Một hôm nó chặn một đứa gia nhân đang mang phần cơm ngon nóng hổi ra cho nó, hỏi tại sao nó lại được sự ưu đãi như thế. Đứa gia nhân luống cuống ấp a ấp úng, gãi đầu gãi tai:

– Thưa cậu, thưa… vì trước khi chết, ông chủ có dặn…., ông chủ có lo… có… để lại phần tiền để lo cho cậu khi cậu trở về.

Nói xong tên gia nhân lẩn nhanh đi mất như sợ bị tóm lại hỏi thêm. Nó ngạc nhiên đến thẫn thờ, cha dặn…? Sao cha biết có ngày nó trở về mà dặn dò như thế? Hôm sau ra đồng, nó hỏi một đứa đầy tớ đang cày cho phần ruộng của nó. Đứa đầy tớ sau một lúc lúng túng ấp úng, rồi cũng cho nó câu trả lời giống tên kia. Buổi tối nó hỏi người quản gia, bà bếp… thì ai ai cũng bối rối và sau cùng thì cũng một câu trả lời như nhau. Họ không nói rõ là cha dặn những gì, để lại phần tiền bao nhiêu để lo cho nó. Họ cứ lắp bắp mãi câu: “Ông chủ dặn… ông chủ lo… ông chủ đưa tiền trước….. cậu không cần phải bận tâm!” Tất cả là một sự lo lắng khôn ngoan đầy yêu thương của cha nó, tỉ mỉ đến từng chi tiết nhỏ như bà mẹ chăm con thơ, từ đầu đến chân, từ khi nó còn đang đi hoang ở mãi tận chân trời nào.

Nó nghẹn ngào, từ từ nó mới nhận ra được tình yêu sâu thẳm của cha dành cho nó. Ông vẫn ấp ủ niềm hy vọng có ngày nó sẽ trở về. Ông cũng lo sợ ngày đó ông không còn sống để đón nó trong vòng tay, để ôm ấp xoa dịu những vết thương của nó, để sai gia nhân đưa áo đẹp nhất cho nó mặc, xỏ nhẫn vào tay cho nó, mang dép vào chân cho nó. Ông đã lo lắng cẩn thận trước mọi sự, mọi ngõ ngách, tính toán trước những tình huống có thể xảy cho đứa con dấu yêu. Những sự chăm sóc, quan tâm chu đáo của đám gia nhân, càng làm nó cảm thấy nao nao nghèn nghẹn trong tim. “Cha ơi…!” Nó buột miệng khẽ gọi! Trái tim nó thổn thức bồi hồi, hai dòng nước mắt lặng lẽ tuôn rơi trong bóng đêm. Đến bây giờ nó mới nhận ra được tình yêu thương vô bờ bến của cha. Đến bây giờ nó mới hiểu được tấm lòng bao la, ẩn sau khuôn mặt nghiêm nghị mà đôi khi nó cảm thấy khó gần gũi. Muộn mất rồi! Nó gục đầu xuống ôm mặt nức nở! Cha đã không còn sống để nó có thể qùy xuống, nói lên lời tạ lỗi chân thành từ trái tim thống hối ăn năn, chứ không phải là một bài diễn văn được soạn trước vì cái bao tử. Cha đã ra đi trước để nó không thể nói lên lời yêu thương, mà hình như chưa bao giờ nó nói với cha. Từ lúc nào đó, trái tim chai sạn của đứa con nghịch tử đã bắt đầu biết yêu cha mình.

Ngày tháng trôi qua, những cử chỉ chăm sóc ưu đãi của đám gia nhân không lọt qua được ánh mắt quan sát khắt khe của người anh cả, nó trở thành cái gai nhọn trong mắt ông anh. Ông hậm hực xốn xang chỉ muốn bứng nó đi cho khuất mắt, nhưng hình như lại không dám. Ông có vẻ còn e dè lưỡng lự, có lẽ như ông cũng đang vướng vào một lời hứa nào đó với cha.

Một ngày đẹp trời, người anh cả kêu hết đám thợ làm công, gia nhân, những người giúp việc trong nhà, và nó ra bàn chuyện. Ông nói muốn bán hết tất cả những thưở ruộng và căn nhà của cha để lại để đi làm ăn phương xa. Ông sẽ cho tất cả mọi người trong nhà nghỉ việc kể cả nó, không giữ lại ai hết, và cũng không giữ lại một cái gì. Mọi người xôn xao bàn tán, người thì bất bình, kẻ thì hậm hực tỏ vẻ phản đối trước quyết định không thu phục lòng người này, còn nó thì lặng thinh không chống đối. Nó cúi mặt xuống tư lự, di di ngón chân trần trên đất, nơi nó đã được sinh ra và lớn lên, nơi đã chứng kiến ngày nó đi hoang và trở về. Số phận thật trớ trêu với nó, khi nó cất bước trở về, thì cha lại bỏ nó ra đi, khi nó bắt đầu chớm nở tình yêu với căn nhà thân thương và mảnh đất quê cha đất tổ này, thì người anh lại muốn bán đi tất cả. Nó đâu còn cổ phần gì trên số gia tài này để nói lên ý kiến của mình. Nó lấy quyền gì để khuyên răn hay ngăn cấm người anh cả? Nó chặc lưỡi xót xa, cha dưới suối vàng chắc sẽ buồn lắm nếu anh nó bán đi ngôi nhà tổ và ruộng nương từ bao đời để lại. Nó cảm thấy tiếc nuối và cay đắng trong lòng. Đứa đi hoang thì muốn ở lại. Kẻ ở nhà thì lại muốn đi hoang! Thôi, đành chịu vậy! Nếu nó đã từng gom góp tất cả phần gia tài của nó để trẩy đi phương xa, bây giờ đến phiên người anh cả, thì tại sao lại không được chứ? Công bằng thôi mà! Nó nhún vai, không sao, chỉ sợ cha buồn! Phần nó cũng chẳng lo, cũng may mà nó đã để dành được vài tháng tiền làm công, tích góp được một số kinh nghiệm sống trong những tháng ngày qua.

Vì cần bán nhà và ruộng nương nên một vài vị cao niên trong làng và trưởng tộc trong dòng họ được mời tới để mở di chúc của cha nó để lại. Láng giềng và họ hàng ai cũng biết chuyện nó lấy nửa phần gia tài bỏ đi hoang, nên chắc chắn phần gia tài còn lại trong nhà, đương nhiên sẽ thuộc về người anh cả thôi. Họ tới và làm như một nghi thức chiếu lệ để chứng thực tính hợp pháp của căn nhà, và những cánh đồng bao la bát ngát. Di chúc được mở ra, ai ai cũng kinh ngạc sững sờ khi biết phần gia tài được chia đều cho hai người con, người anh cả một nửa và người con út một nửa, hai phần bằng nhau không hơn không kém. Tất cả nhà cửa và ruộng vườn khi muốn bán thì phải có sự đồng ý của cả hai anh em. Đứa con út đã từng bỏ nhà đi hoang phải được cư xử và kính trọng như một người con trong gia đình, một cậu chủ trong nhà, chứ không phải là một người làm công, một kẻ thất bại hay ăn bám. Người con thứ cũng có đầy đủ quyền hành trong nhà để tham gia vào những việc ma chay, hay những quyết định quan trọng trong gia đình và dòng tộc.

Nó mở to mắt kinh ngạc, miệng há hốc ú ớ cứ như đang ở trong mơ. Nó bàng hoàng tưởng mình nghe lầm, hay người ta đọc lộn. Nó không chắc cha có tỉnh táo, có đủ trí nhớ không khi viết bản di chúc này? Chắc ông đã quên là đã chia cho nó phần nửa gia tài rồi mà. Chắc ông không nhớ nó là đứa con phá gia chi tử hay sao? Ông không sợ nó lại đi hoang lần nữa sao? Nếu không vì lo buồn trông mong nó thì liệu ông có mất sớm như vậy không? Nó cảm thấy như nghẹt thở, mắt hoa lên, nó đưa tay đè lên trái tim thổn thức rồi òa lên khóc như đứa trẻ thơ, miệng mếu máo: “Cha ơi!”

Người anh cả sau giây phút bàng hoàng trước sự thật phũ phàng, ông nhắm mắt, lắc đầu, bịt tai la to lên: “Không, không thể như thế được!” Ông giận dữ bắt đầu la hét, đập phá, chửi rủa mọi người là giả dối, bất công rồi ông hét to lên ôm đầu chạy ù ra cửa, hung hăng như một người điên. Đám gia nhân và những người làm công nãy giờ đứng xớ rớ trong góc nhà, giờ thì ôm nhau vui mừng nhảy múa, có người sung sướng đến chảy nước mắt như chính họ được hưởng phần gia tài vậy. Họ biết chắc một điều là họ sẽ được giữ lại trong ngôi nhà này, với những công việc cũ, với người chủ cũ, và sẽ chẳng có gì thay đổi cả. Họ hân hoan hạnh phúc với niềm vui của cậu chủ nhỏ, mà giờ đây chính thức trở thành chủ của họ. Họ vui mừng vì từ bây giờ họ có thể phục vụ, chăm sóc cho cậu chủ trong công khai, như lời dặn dò của người cha, chứ không phải là trong lén lút như những tháng ngày qua.

Mọi người còn chưa hết ngạc nhiên, người quản gia già đi vô nhà trong một lúc rồi khệ nệ bưng ra chiếc áo đẹp nhất mà người cha đã chuẩn bị sẵn để mặc cho nó. Đại diện cho người cha đã khuất, ông xỏ vào tay nó chiếc nhẫn ấn tín tượng trưng cho quyền bính của người con, và xỏ vào chân nó đôi giầy, dấu hiệu của người con trong gia đình. Hôm đó, bê béo được giết và một yến tiệc linh đình được khai mạc để chính thức chào đón đứa con đi hoang trở về trong cương vị một người con, một cậu chủ, theo lời dặn dò của người cha nơi chín suối. Họ vui mừng nhảy múa, đàn ca hát xướng đến tận đêm khuya. Trăng đêm nay sáng quá, vầng trăng tròn trên bầu trời mang dáng dấp khuôn mặt của người cha nhân hậu nở nụ cười, tuy nụ cười chưa được trọn vẹn mãn nguyện vì buổi tiệc vắng bóng người anh cả. Ánh trăng lung linh như cõi lòng bao la của người cha chiếu sáng cả một dải đất hiền hòa, để niềm vui của những người dự tiệc được kéo dài mãi. Những vì sao lấp lánh trên bầu trời như đang nắm tay nhau nhảy múa, hòa chung với niềm hân hoan của mọi người trong gia đình xóm làng.

***********************

“Có Nên Trở Về Khi Cha Khuất Bóng?” không chỉ là mối ưu tư trằn trọc, một sự dằng xé quyết liệt của người con đi hoang trước hai ngã rẽ cuộc đời, mà đó cũng là sự đấu tranh nội tâm, sự lựa chọn sống chết của mỗi người trong cuộc sống. Hình ảnh người cha đã khuất là những lúc khô khan nguội lạnh trong đời sống thiêng liêng, là đêm tối của tâm hồn, những lúc bị thử thách không cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa, là khi Thiên Chúa ẩn mặt, khi tình yêu im tiếng, khi tôi bị bỏ rơi trong tuyệt vọng…. trong những lúc khó khăn như thế, tôi có nên trở về với Người Cha Nhân Hậu, về với nhà thờ, và về với chính lòng mình không?

Người con hoang đàng đã chọn câu trả lời và có một kết qủa bất ngờ, còn bạn thì sao?

Lang Thang Chiều Tím
Mùa Chay Năm Thánh Lòng Thương Xót 2016

MA QUỶ THỜI ĐẠI MỚI

snhn11Từ ngàn xưa, ma quỷ luôn luôn là một mối bất hạnh cho con người.  Ma quỷ luôn tìm cách làm hại con người không những bằng xúi giục con người làm điều tội lỗi mà còn hành hạ, khống chế, trói buộc, bắt con người làm nô lệ cho chúng.  Trong cuộc chiến với ma quỷ, con người không phải là địch thủ ngang tài đồng sức, nên thường thua cuộc.  Ngay trong trận chiến đầu tiên, hai ông bà nguyên tổ đã thua mưu chước ma quỷ.  Từ đó, con người chẳng thể nào tự mình thoát được nanh vuốt ma quỷ giam hãm.

Đức Giêsu đến mở đầu một kỷ nguyên mới: Nước Thiên Chúa đến chiến thắng nước ma quỷ.  Ngay khi Đức Giêsu xuất hiện, ma quỷ mở lại bài cũ cám dỗ Đức Giêsu đi vào con đường kiêu ngạo, phô trương, cậy sức mình, ham hố danh, lợi, thú.  Nhưng ngay trong lần đầu tiên giáp chiến, ma quỷ thất bại nặng nề.  Đức Giêsu đã toàn thắng vì Người cương quyết đi theo con đường vâng phục thánh ý Chúa Cha, sống khiêm tốn, đơn sơ, khiêm nhường, phó thác.  Từ đó, Đức Giêsu đi đến đâu là khuất phục ma quỷ, giải thoát con người đến đấy.

Đọc trong Tin Mừng, ta thấy Đức Giêsu giải thoát con người ở các khía cạnh sau đây.

Người trực tiếp giải thoát con người khỏi bàn tay hung ác của satan.  Hôm nay, Người xua đuổi thần ô uế công khai trước mặt mọi người trong hội đường.  Lần khác, Người xua đuổi cả một đạo quân quỷ dữ.  Chúng đã xin nhập vào đàn heo đang ăn bên bờ biển, và cả đàn heo lăn xuống biển chết hết.

Người gián tiếp giải thoát con người khỏi ách thống trị của satan qua việc chữa bệnh.  Theo quan niệm của người Do Thái, bệnh tật là dấu chỉ của tội lỗi.  Vì thế, người bệnh là người sống dưới ách satan.  Đức Giêsu đã chữa lành rất nhiều người bệnh.  Nhiều lần Người nói với người bệnh: “Tội con đã được tha”.

Người tha thiết với việc cứu con người khỏi ách nô lệ tội lỗi, nên Người thường lui tới với những người thu thuế.  Người không chỉ nói lời tha thứ bên ngoài, nhưng thực sự hoán cải họ từ bên trong. Nhất là Người giải thoát họ khỏi những mặc cảm và giúp họ tái hội nhập vào đời sống cộng đoàn.

Qua những việc làm của Đức Giêsu, ta thấy Người không chỉ giải thoát con người khỏi bàn tay hung ác của ma quỷ mà còn quan tâm cứu chữa con người khỏi những thế lực đen tối của chúng.

Cuộc chiến giữa con cái Thiên Chúa và ma quỷ vẫn tiếp tục, nên Đức Giêsu khi sai các Tông đồ đi rao giảng, vẫn luôn kèm theo mệnh lệnh xua đuổi ma quỷ.  Hôm nay, Người sai chúng ta tiếp bước các Tông đồ, đi chiến đấu chống lại ma quỷ.  Ma quỷ không hiện hình cho ta thấy, nhưng chúng ẩn nấp trong các sự dữ, sự ác còn tồn tại trên thế giới.

Có thứ quỷ nghèo đang trói buộc con người, không cho họ sống một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm con người.  Có thứ quỷ đói đang giết chết nhân loại dần mòn.  Có thứ quỷ dốt giam cầm những người thất học trong tù ngục tối tăm.  Có thứ quỷ bệnh không ngừng hành hạ và đẩy con người vào hố sâu tuyệt vọng.

Ngày nay, ma quỷ rất tinh khôn nên thường xuất hiện dưới những hình dáng bên ngoài xinh đẹp, hấp dẫn.  Chúng xuất hiện dưới những đồng tiền bất chính và hứa hẹn cho ta một cuộc sống thoải mái. Chúng xuất hiện dưới chiêu bài tự do hưởng thụ để xúi giục ta lao mình vào những nơi ăn chơi độc hại. Chúng kích thích sự tò mò của thanh niên muốn thử sức với ma túy.

Với bàn tay nham hiểm, ma quỷ âm thầm len lỏi vào tận đáy tâm hồn, khơi lên những làn sóng chia rẽ, ganh ghét, thù hận, bất hòa.  Chúng kích thích lòng tham lam vô đáy, đưa ta đến chỗ trộm cắp, kiện cáo và tranh giành.  Chúng khơi dậy thói kiêu căng, lòng tự ái để ta ham hố vinh danh và quyền lực. Chúng vuốt ve thói ích kỷ để xui giục ta chỉ nghĩ đến bản thân mình, làm ngơ trước những nhu cầu của người khác.  Chúng lừa gạt ta để ta coi thường tội lỗi, mất ý thức về tội.

Hôm nay, Chúa muốn ta tiếp tục công việc của Chúa, xua trừ ma quỷ ra khỏi đời sống chúng ta. Hãy cùng nhau xua đuổi quỷ đói, quỷ nghèo ra khỏi thế giới.  Hãy góp phần tích cực diệt trừ quỷ dốt, quỷ bệnh ra khỏi xã hội con người.

Hãy tỉnh táo nhận ra ma quỷ dưới những khuôn mặt đẹp đẽ của vật chất, tiền bạc, hưởng thụ, cám dỗ.

Nhất là, hãy trục xuất khỏi tâm hồn ta những con quỷ gây chia rẽ, bất hòa, tham lam, kiêu căng, tự mãn, gian trá, giả hình, hám danh, ích kỷ, dửng dưng.

Tự sức riêng, ta khó mà chiến thắng được ma quỷ.  Muốn chiến thắng ma quỷ, ta phải nhờ ơn Chúa giúp.  Ta múc lấy sức mạnh nơi Chúa bằng ăn chay và cầu nguyện.  Ta rèn luyện tinh thần bằng khiêm nhường từ bỏ ý riêng để hoàn toàn vâng phục thánh ý Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin thương xót con, xin cứu con khỏi mọi sự dữ. Amen.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

 

CON BÒ CÂM

W7Bé Toma Aquinas năm tuổi, dáng người phục phịch, lặng lẽ ngồi trên lưng ngựa với người đầy tớ.  Họ đang chờ đợi giờ khởi hành. Bé thấy nôn nao vì sắp được rời xa tòa lâu đài xám, nơi đó, dù cha bé thống lãnh cả một vùng, nhưng ít khi ông ở nhà; còn mẹ thì chẳng mấy khi bé được gặp; có người chị thân nhất lớn hơn bé một tuổi thì mới bị sét đánh chết ngay trong phòng ngủ cách đây mấy tháng!  Tôma rùng mình khi hồi tưởng trận bão ác nghiệt đó…….

Đoàn ngựa chở Tôma và ba má của bé cùng đoàn tùy tùng chẳng mấy chốc đã vượt qua 6 dặm đường núi, tiến về tu viện Cassinô, một tu viện danh tiếng tại Ý, mà vị Viện Trưởng lại có họ hàng với gia đình bé.  Tại đây, sau một nghi lễ vắn tắt, bé được đón nhận và trở thành một học sinh trường Dòng.

Tôma bắt đầu cuộc sống mới nơi đan viện không tiếng ồn ào.  Lạ lùng thay, bế chẳng thấy đơn côi, nhưng lại tỏ ra thích thú cuộc sống thinh lặng nơi đây.  Bé yêu thích trường sở, mộ mến vẻ thân thiện của các đan sĩ, say mê các khúc hát trầm bổng trong giờ nguyện kinh của các thầy.

Khởi sự làm môn sinh của các thầy từ khi ê-a ba chữ A B C, Tôma ngày càng tỏ ra thông minh sáng trí.  Cuộc sống đạo hạnh của bé phát triển không ngừng.  Năm 13 tuổi Tôma đã vượt xa các bạn đồng lứa.  Cậu có một trí nhớ khác thường, thuộc lòng toàn bộ Phúc Âm và các thư thánh Phaolô.  Cậu đã chuyển ngữ nhiều tập sách từ tiếng Latinh sang tiếng Ý.  Người ta đồn rằng, Tôma không hề quên bất cứ điều gì cậu đã học!

Cuộc sống trầm lặng nơi đan viện đột nhiên nổi sóng.  Hoàng đế Frederick ra lệnh chiếm cư tu viện Cassinô.  Các đan sĩ và học sinh bó buộc phải rời bỏ đan viện.  Một lần nữa, Tôma bị đặt giữa khúc quanh cuộc đời.

Năm 14 tuổi, ba má cho Tôma nhập Đại Học thành Naples với nguyện vọng là sau cơn sóng gió, chàng có thể về lại đan viện để trở thành một đan sĩ dòng Bênêđicto.  Danh tiếng của Tôma nổi như sóng cồn, chàng không những vượt xa chúng bạn mà còn tỏ ra trổi vượt hơn các giáo sư cả về kiến thức lẫn cuộc sống thánh thiện, và được gọi là “Thiên thần của học đường”.  Chàng đã trải qua 5 năm tại Đại Học thành Naples.

Trong khoảng thời gian đó, thánh Đaminh lập Dòng mới có tên là dòng Giảng Thuyết.  Các thầy thuộc dòng này chuyên Giảng trong các đại học và giảng thuyết bất cứ nơi nào cần đến.  Không như dòng Bênêđito, các thầy Đaminh thời đó tự đi xin ăn và đón nhận của bố thí.  Mọi người đều nghe nói đến sự thánh thiện và kiến thức sâu rộng của các thầy.  Bị thu hút mãnh liệt bởi gương lành các tu sĩ dòng Đaminh, Tôma đã gõ cửa tu viện xin nhập dòng.  Các thầy khuyên chàng hãy chờ đợi và cầu nguyện.  Chàng nghe theo lời khuyên của các thầy, đồng thời làm bạn với nhiều tu sĩ trong dòng.  Năm 20 tuổi, Tôma tốt nhiệp đại học, một lần nữa chàng xin nhập dòng Đaminh.  Lần này chàng đã được nhận lời.  Lập tức chàng nhắn tin cho mẹ hay.  Cha chàng đã qua đời một năm trước đó.

Được tin con vào dòng Đaminh, bà Thêôđôra, mẹ chàng nổi cơn lôi đình, bà nói:

– Đây là điều bất hạnh cho dòng họ Aquinas! Hãy tưởng tượng xem một người con trai vương giả lại đi ăn xin và giảng thuyết khắp đường phố như người điên!  Hãy đem ngựa cho tao!  Nội đêm nay tao sẽ lôi cổ nó ra khỏi tu viện!

Người ta báo cho Tôma biết cơn giận và âm mưu của mẹ chàng, chàng vội vã chuyển đến một tu viện khác tại Rôma.  Nhưng bà Thêôđôra phóng ngựa đuổi theo, bất chấp những gì xẩy đến, Tôma phải vâng lời bà!  Bà quên rằng Thánh Ý Chúa còn vượt trên ý định của bà.  Gõ cửa tu viện ở Rôma, bà ra lệnh phải đem Tôma ra ngoài!  Nhưng thầy giữ cửa cho biết Tôma đã rời khỏi tu viện sáng nay cùng với một số thầy.  Lập tức bà sai người đưa tin cho các anh của Tôma đang đi lính đóng tại làng gần đó, phải tìm mọi cách bắt Tôma đưa về nhà.

Khoảng giữa trưa, Tôma cùng với nhóm các thầy đang ngồi nghỉ bên bờ giếng, thình lình một toán kỵ mã do các anh của Tôma dẫn đầu xông vào bắt chàng, rồi lôi chàng lên lưng ngựa và đem về lâu đài của gia đình.  Tại đây, mẹ chàng đã giam chàng trong một pháo đài, cửa sẽ khóa kín cho tới khi chàng hứa vâng lời bà.  Bà không thèm để ý đến Thánh Ý Chúa và tuổi tác của con bà.

Tôma nhìn quanh khu pháo đài bằng đá vắng lạnh đang giam hãm chàng: góc bên này là chiếc giường ngủ, bên kia là một chiếc bàn và chiếc ghế ọp ẹp.  Quang cảnh thật trống vắng!  Nhưng chàng lại thích bầu khí thinh lặng!  Chàng biết rằng chàng không đơn côi một mình, nhưng có Chúa hằng ở bên chàng.  Không có việc gì làm, chàng bắt đầu truyện vãn với Chúa bằng những lời cầu nguyện ….

Người duy nhất được phép đến thăm tôma là Marotta, em của chàng, một cô gái mang nặng đầu óc trần tục.  Nàng cố gắng dùng mọi lý lẽ thuyết phục Tôma phải vâng lời mẹ.  Để cho cô em thuyết chán, Tôma mới bắt đầu nói cho nàng nghe về tình thương bao la của Chúa đối với nàng.  Chàng khéo nói đến nỗi chỉ sau đó ít ngày, Marotta đã đi đến quyết định chính nàng cũng sẽ dâng đời mình phụng sự Chúa.  Thế rồi nàng tìm cách giúp đỡ Tôma những gì có thể, và lén lút đem cho chàng sách vở cùng những vật dụng chàng cần đến.

Thế là Tôma chia thời giờ ra để học hành, viết sách, và cầu nguyện.  Ý chí của chàng còn sắt đá hơn cả ý muốn của mẹ chàng, tưởng chừng chàng có thể vĩnh viễn sống cuộc đời giam hãm tại pháo đài, nếu Ý Chúa muốn như thế.  Mẹ và các anh của chàng dùng đủ mọi mánh khóe để chàng bỏ ý định tu dòng Đaminh.  Một đêm, họ dẫn vào cho Tôma một cô gái trẻ đẹp, với mục đích dùng nàng để quyến rũ Tôma phạm tội.  Không chút lưỡng lự, chàng liền rút que củi cháy đỏ trong lò sưởi, xua đuổi người con gái ra ngoài.

Đằng đẵng hai năm dài, Tôma bị giam hãm trong pháo đài.  Đã đến lúc Giáo Hội phải can thiệp.  Bà Thêôđôra được biết bà sẽ bị dứt phép thông công với Giáo Hội nếu bà không trả tự do cho con bà….  Thế rồi, một buổi sáng, Tôma thấy cửa pháo đài bỏ ngỏ, chàng lẹ chân trốn khỏi pháo đài trở về tu viện.  Chàng và mọi người quen biết lòng phấn khởi mừng vui.  Từ nay chàng được tự do phụng sự Chúa trong dòng Đaminh.  Mọi người đều tỏ lòng kính yêu Tôma, một thầy dòng trẻ mập mạp, ít nói, nhưng chiếu tỏa sự thánh thiện.

Thầy được cử đi học Đại Học Paris dưới sự chỉ giáo của vị giáo sư danh tiếng, sau này trở thành thánh Anbêtô Cả.  Không một giáo sư hay sinh viên nào trong trường này quen biết Tôma khi người sinh viên mới, với dáng người nặng nề, trầm lặng này bước chân vào lớp.  Sau vài ngày, họ tự hỏi nhau tại sao và tranh luận sôi nổi.  Một sinh viên lên tiếng hỏi:

–  Anh chàng đó là ai vậy?  Một người nhanh nhẩu trả lời:
–  Một con bò câm!  Mọi người phá lên cười.

Tuy nhiên, Giáo sư Anbêtô sớm khám phá ra sự khôn ngoan, thông sáng của “Con Bò Câm”. Một hôm bị giáo sư công khai sát hạch Tôma giữa lớp.  Tôma trả lời cách hết sức thông minh, đến nỗi giáo sư Anbêtô phải lưu ý cả lớp:

– Các bạn gọi thầy Tôma là “Con Bò Câm”, nhưng các bạn nên nhớ tiếng rống của “Con Bò Câm” này sẽ vang dội khắp thế giới!
Trước những sự kiện đó, Tôma chỉ mỉm cười.  Thầy không màng để ý đến cái tên riêng họ đặt cho thầy.

Chẳng bao lâu, Tôma được thụ phong Linh Mục.  Cha tăng gấp đôi giờ cầu nguyện trước Chúa Giêsu Thánh Thể.  Cha giảng thuyết, dậy học và viết sách.  Trong cố gắng trả lời câu nghi vấn đã ám ảnh Tôma từ hồi thơ ấu “Thiên Chúa là gì?”, cha đã viết hết pho sách này đến pho sách khác.  Và từ đó, cha trở thành một nhà tư tưởng trứ danh của mọi thời đại.  Mỗi lần Tôma không thỏa mãn với những điều cha viết, hoặc phải giải quyết những vấn nạn ” hóc búa”, cha đều đến với Chúa Giêsu Thánh Thể và cầu nguyện lâu giờ.

Một lần đang khi cha Tôma quì cầu nguyện trước bàn thờ, thình lình ngài nghe tiếng Chúa phán từ tượng chịu nạn:
– Tôma, con đã viết rất khéo về Cha! Con muốn Cha thưởng gì cho con?

Lập tức cha Tôma trả lời:
– Lạy Chúa, ngoài Chúa ra, con chẳng muốn điều gì khác!

Thế rồi, một ngày kia Tôma đột nhiên ngừng viết, mặc dầu ngài chưa hoàn tất tác phẩm nổi tiếng của ngài. Khi được hỏi lý do, cha Tôma trả lời:
– Mọi điều tôi viết chỉ là không, so với những gì đã được mạc khải cho tôi!

Cha Tôma qua đời năm 1274, khi Ngài mới được 49 tuổi.  Không đầy 50 năm sau, Ngài được tôn vinh trên bàn thờ.  Do các tác phẩm nổi tiềng của ngài, thánh Tôma được trao tặng danh hiệu “Tiến Sĩ Hội Thánh”.  Do sự trịnh trọng của ngài, thánh Tôma được gọi là “Tiến Sĩ Thiên Thần”.  Do các giáo thuyết của Ngài, thánh Tôma được tôn phong là “Thánh Sư các Trường Công Giáo”. Tiếng rống của “Con Bò Câm” đã thực sự vang dội khắp thế giới.  Hàng năm, Giáo Hội mừng kính Ngài vào ngày 28 tháng Giêng.

Sưu tầm

THÁNH PHAOLÔ NGÃ NGỰA

W8Cuộc đời thánh Phaolô có nhiều hình ảnh đẹp. Chẳng hạn khi ngài xuất thần được đưa lên tầng trời thứ ba; chẳng hạn khi ngài ứng khẩu rao giảng Tin Mừng nơi Nghị viện Hy Lạp; chẳng hạn khi ngài lênh đênh trên biển tìm vùng đất mới đem về cho Chúa bao nhiêu linh hồn; và còn rất nhiều hình ảnh đẹp khác nữa.  Nhưng tại sao Giáo Hội không chọn trong số những hình ảnh đẹp ấy, mà lại lấy hình ảnh ngã ngựa để đem mừng kính trong một ngày lễ?

Thưa vì hình ảnh đó là một biến cố quan trọng phân chia cuộc đời ngài ra làm hai nửa theo hai hướng đối nghịch nhau, nhưng cùng làm nên một cuộc đời có tội lỗi và ân sủng, có yếu đuối và sức mạnh, đồng thời cũng có thất bại và thành công.

Hai nửa đời ấy dường như hội tụ lại trong hình ảnh thánh Phaolô ngã ngựa hôm nay.

1) Cú ngã ngựa cũng là ngã rẽ cuộc đời.

Về danh xưng, nửa đời trước là “Saolô” với một câu hỏi “tại sao?” đang cỡi ngựa vút lao đi tìm giải đáp cho cuộc đời; còn nửa đời sau là “Phaolô” đã trở thành chiếc phao cứu tử cho cả linh hồn ngài gặp trên đường truyền giáo.

Về vị thế, nửa đời trước là một người Biệt phái chính cống, được giáo dục đường hoàng bởi ông thầy trứ danh Gamaliel, nhiệt thành với truyền thống cha ông; còn nửa đời sau là một vị tông đồ thông minh uyên bác, vô cùng nhiệt thành với tình yêu Thiên Chúa, như ngài thú nhận “Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng tôi”.

Về hoạt động, nửa đời trước là một chàng thanh niên tin tưởng cuồng nhiệt vào luật lệ Do Thái, tự tay vấy máu trong những cuộc bách hại Kitô hữu, cụ thể là cộng tác vào việc ném đá Stêphanô và tự ý đến xin các thượng tế cấp giấy phép cho mình được quyền bắt bớ bất cứ ai tin vào Chúa Kitô nơi Hội đường Do Thái; thế mà nửa đời sau lại trở thành một người hăng say can đảm tuyên xưng niềm tin của mình vào Chúa Kitô mà ông đã bách hại trước đó, bất kể ánh nhìn e dè nghi ngại của những Kitô hữu và bất kể sự nguy hại tính mạng do những người bạn biệt phái cũ của ông.

Về tình cảm, nửa đời trước là một Saolô mù quáng hận thù, nhưng từ lúc gặp được ánh sáng Chúa Kitô bao phủ, ông đã bị choáng ngợp mù lòa, để cặp mắt mình được thanh tẩy, mở đầu cho một nửa đời khác bước đi trong ánh sáng tình yêu của Thiên Chúa.

Về hướng đi bản thân, nửa đời trước là một Saolô kiêu căng tin vào sức mạnh của con người, đang xây dựng những mưu đồ tiến thân của mình, bất kể những khổ đau của người khác; nhưng nửa đời sau là một Phaolô bị quật ngã biết mình yếu đuối, nên chỉ tin vào sức mạnh của Thiên Chúa, đang gieo bước hân hoan trong ý hướng hiến thân phụng sự Thiên Chúa bất kể những đau khổ mình phải chịu: “Tôi có thể làm mọi sự trong Đấng là sức mạnh tôi”.

Tóm lại, biến cố ngã ngựa là một tổng hợp tiêu biểu cho cuộc đời thánh Phaolô.  Nó nói lên sự thất bại của mưu đồ con người và xác định sự thành công trong ý hướng Thiên Chúa.

2) Những cú ngã ngựa trong đời tín hữu

Nhìn vào biến cố “ngã ngựa” của thánh Phaolô để rồi nhìn lại cuộc đời mình, biết đâu ta cũng gặp nhan nhản những cú “ngã ngựa”.  Có những cú ngã ngựa trong đời sống thiêng liêng liên hệ với Chúa; có những cú ngã ngựa trong đời sống tình cảm liên hệ với tha nhân; có những cú ngã ngựa trong đời sống chiến đấu nội tâm; và cũng có những cú ngã ngựa đau điếng trong đời sống xác thân bên ngoài như công ăn việc làm, học hành, danh dự, tình yêu, tương lai, hạnh phúc, sức khỏe…

Nhưng điều quan trọng là đừng nhìn “ngã ngựa” chỉ như một thất bại để rồi cuốn theo thất vọng quỵ ngã không gượng dậy được, mà hãy nhìn “ngã ngựa” như một thất bại làm điều kiện cho một thành công lớn hơn trong ơn thánh.  Ăn trái cấm là một thất bại của Adam Evà trong quyền làm chủ, nhưng lại là một điều kiện bật mở chương trình cứu độ với việc Ngôi Hai Thiên Chúa làm người.  “Tội hồng phúc” là thế.  Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là một thất bại đau đớn trước mặt trần thế, nhưng lại là một thành công trong chiến thắng cứu độ vinh quang.  Và cú “ngã ngựa” của thánh Phaolô hôm nay là một thất bại chấm dứt quãng đời săn bắt Kitô hữu, nhưng lại là một thành công mở đầu cuộc sống lên đường truyền giáo của vị tông đồ.

Như vậy, người ngã ngựa không nhìn vào mình để chỉ cay cú cuộc đời, mà nhìn vào Chúa để tìm sức mạnh đứng lên trong ánh sáng niềm tin.  Nếu “ngã ngựa” là điều không thể tránh được, thì điều quan trọng là luôn sẵn sàng để biết đứng dậy.  Không phải khi ngã người ta trở nên mạnh mẽ mà là khi biết đứng dậy người ta mới chứng minh được bản lĩnh mạnh mẽ của mình.

ĐGM Vũ Duy Thống

HÃY THEO TÔI

W9Bốn anh thanh niên có gia đình, có nghề nghiệp lại được Đức Giêsu mời gọi theo Ngài, bỏ lại tất cả. Chắc chắn họ không phải là những người nhẹ dạ.  Họ đã từng quen biết Thầy Giêsu và kính nể Ngài. Đến lúc nào đó, khi được Ngài hoàn toàn chinh phục, họ đã sẵn sàng ra đi, nhẹ tênh.

Nhiều người nghĩ rằng đoạn Tin Mừng này nói về ơn gọi đi tu của các linh mục tu sĩ.  Thật ra đây là đoạn Tin Mừng nói về ơn gọi của từng Kitô hữu chúng ta.

Chúa Giêsu vẫn đi ngang qua đời ta mỗi ngày như xưa Ngài đã dọc theo biển hồ Ga-li-lê.  Ngài thấy ta như Ngài đã thấy bốn môn đệ.  Ngài thấy ta trước khi ta thấy Ngài.  Cái nhìn của Ngài không làm ta bị tê liệt vì Ngài chấp nhận trọn vẹn con người của ta.  Cả những yếu đuối và tội lỗi cũng được Ngài đón nhận.  Hạnh phúc cho ai được thấy Thiên Chúa.  Nhưng hơn nữa, hạnh phúc cho ai được Thiên Chúa thấy.

Lúc Ngài thấy ta thì ta vẫn không hay biết.  Ta vẫn mải mê quăng chài hay vá lưới.  Ta vẫn tất bật với những lo toan đời thường, hay đang miệt mài theo đuổi một ước mơ.  Chính lúc đó, chính lúc ta tưởng mình quá ư ổn định, và đời mình đã được định hướng quá rõ ràng, thì tiếng gọi của Ngài vang lên, mạnh mẽ, dứt khoát.

Hãy theo tôi!

Mọi người Kitô hữu đều được mời gọi đi theo Chúa Giêsu.  Ngài không mời ta đi theo một lý tưởng, một ý thức hệ.  Ngài mời ta theo chính con người Ngài, gắn bó với Ngài, nhận Ngài là nền tảng và chóp đỉnh của cuộc sống.

Tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới con người.

Con người là điều ta phải quan tâm, vì đó là mối quan tâm lớn nhất của Chúa Giêsu.

Theo Ngài là chia sẻ với Ngài cùng một sứ mạng, là thao thức và đồng cam cộng khổ với Ngài trong công việc cứu độ toàn thế giới.

Chúa Giêsu mời ta dấn thân vào cuộc đổi đời, mời ta định lại hướng đi theo những giá trị mới.  Như thế là chấp nhận đổ vỡ, đoạn tuyệt.

Bốn môn đệ đã bỏ lại biển cả và những người thân yêu.  Vợ con của Simon và cha của Giacôbê sẽ sống thế nào?  Mái nhà nay vắng bóng những người đàn ông cột trụ!

Hôm nay Chúa Giêsu vẫn cần bạn, vì bạn là Kitô hữu.  Ngài vẫn thấy bạn, và mời gọi bạn đáp lại mỗi ngày.

Cần trầm lắng mới nghe được tiếng thì thầm của Chúa.  Bạn có thể sống như một giáo dân bình thường, lo xây dựng gia đình, sự nghiệp, tương lai.  Nhưng bạn phải sẵn sàng từ bỏ khi cần, nghĩa là chọn Chúa, đặt Chúa lên trên mọi giá trị đó.

*************************************************

Lạy Chúa,

Chúng con không hiểu tại sao Chúa chọn Simon, một người đánh cá ít học và đã lập gia đình, để làm vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội.

Chúa xây dựng Giáo Hội trên một tảng đá mong manh, để ai nấy ngất ngây trước quyền năng của Chúa.

Hôm nay Chúa cũng gọi chúng con theo Chúa, sống cho Chúa, đặt Chúa lên trên mọi sự: gia đình, sự nghiệp, người yêu.

Chúng con chẳng thể nào từ chối viện cớ mình kém đức kém tài.  Chúa đưa chúng con đi xa hơn, đến những nơi bất ngờ, vì Chúa cần chúng con ở đó.

Xin cho chúng con một chút liều lĩnh của Simon, bỏ mái nhà êm ấm để lên đường, hạnh phúc vì biết mình đang đi sau Chúa. Amen.

Trích trong “Manna”

BỤI TRẦN

“Nếu chúng ta có thể hiểu và cảm nhận được những điều cao trọng chứa đựng trong Bí Tích Thánh Thể thì không có gì có thể làm cho con tim của chúng ta được thoả mãn hơn.  Con người nhỏ mọn của chúng ta sẽ không chạy theo của cải, hoặc tham vọng danh tiếng, nhưng sẽ rũ bỏ những bụi đất của thế gian, trả lại cho nó những gì là của nó, và bay bổng về Thiên Đàng.” – Thánh John Vianney

Chuyện kể rằng:

Một ngày nọ, một thầy giáo bước vào lớp và thấy ngay lớp đầy những giấy vụn và lớp thì rất dơ bẩn.  Thay vì tức giận các em học sinh, người thầy tự đi dọn lớp cho sạch sẽ và sắp xếp mọi thứ ngăn nắp.  Sau đó ông bắt đầu dạy cho các học sinh về tầm quan trọng để giữ gìn cho lớp được sạch sẽ và ngăn nắp.  Sạch sẽ là bước đầu tiên của con người dịu dàng.  Sạch sẽ là điều mà mọi người ưa thích, và chúng ta tìm được niềm vui và thoải mái trong môi trường sạch sẽ.  Con người được tôn trọng nếu chúng ta biết giữ sạch sẽ và biết giữ kỷ luật trong cuộc sống của mình.  Sạch sẽ bảo vệ sức khoẻ vì vậy tất cả chúng ta nên ý thức về tầm quan trọng của nó và thực hành là điều cần thiết cho mỗi ngày chúng ta sống.

Vị thầy dạy cho các học sinh về quy luật trong lớp và các em đã biết ý thức hơn và cố gắng giữ cho lớp học của mình được sạch sẽ.

Câu chuyện trên có lẽ rất quen thuộc với chúng ta vì ai cũng muốn sống trong một môi trường vệ sinh, và ngay từ nhỏ chúng ta đã được nhắc nhở về việc giữ gìn vệ sinh để bảo toàn sức khoẻ cho bản thân và những người xung quanh.  Nhất là ở những nước văn minh, sự sạch sẽ là điều rất là cần thiết và con người họ hầu như bị chiếm hữu bởi sự sạch sẽ.

Trong câu chuyện Chúa Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng được thuật lại trong Phúc Âm Luca chương mười, chúng ta cũng nhận ra được Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ của Ngài về sự sạch sẽ.

Sự sạch sẽ ở đây không phải là bên ngoài nhưng là trong tâm hồn.  Trước khi đi Ngài dặn dò các ông, khi đến làng nào mà họ đón tiếp các ông thì ở lại đó với họ, nhưng khi ai đó từ chối các ông thì hãy rời nơi đó và phủi trả những gì là của họ kể cả bụi đất.  Thoạt đầu nghe câu chuyện này, có lẽ chúng ta cảm thấy hình như lời dặn dò này không mấy tế nhị, nhưng khi nhìn sâu hơn chúng ta sẽ nhận ra sự khôn ngoan của Thầy Giêsu và những giáo huấn Ngài muốn truyền đến các môn đệ của Ngài.

Nếu chúng ta nhìn lại bối cảnh của câu chuyện, chúng ta sẽ nhận ra ngay các môn đệ đến với mọi người với hai bàn tay trắng vì khi ra đi các ông không mang theo một cái gì, không tiền, không bị, và ngay cả đôi dép cũng không có.  Vậy thì ai là người sẽ đón tiếp các ông?  Đó là những ai có tâm hồn trong sạch, họ biết nhìn và đón nhận các ông với con mắt của con tim trong sạch chứ không phải với con mắt còn vướng bận danh vọng, của cải, và những quyến rũ của thế gian.  Với những tâm hồn đó, Thầy Giêsu đã dặn các môn đệ ở lại và sự bình an của nước Thiên Chúa sẽ ở cùng họ.  Ngược lại với những tâm hồn còn mang nhiều cát bụi của đam mê và lòng họ đang hướng về những gì họ cho là trên hết thì họ sẽ chẳng bao giờ thấy và đón nhận các môn đệ vì các ngài không có những gì con tim của họ đang tìm kiếm.  Và với những con người như vậy, Thầy Giêsu đã dặn các ông đừng để lối sống và cách cư xử của họ làm cho lòng các ông bị giao động, nhưng hãy rời bỏ tất cả, đừng quay lại, đừng trách móc, và cũng đừng nuối tiếc.

Tương tự, trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta cũng vậy, chúng ta cần giữ vệ sinh để bảo toàn sức khoẻ cho cơ thể mình và những người xung quanh, nhưng chúng ta cũng cần giữ cho tâm hồn mình được trong sạch khỏi mọi vết nhơ của cuộc sống.  Làm sao chúng ta có thể giữ cho tâm hồn mình được sạch và ai sẽ là người rửa sạch tâm hồn chúng ta?  Để có một tâm hồn sạch, chúng ta phải dành thời gian cho việc cầu nguyện giống như là chúng ta dành thời gian để làm vệ sinh cho cá nhân cũng như môi trường mình đang ở.  Hãy xin ơn để nhìn ra được những dơ bẩn trong tâm hồn và đón nhận một sự thật mà lắm lúc chúng ta không muốn đối diện: chúng ta là một cục đất, và cục đất ấy đang muốn được thánh hoá và gội rửa trong ân sủng của Ngôi Lời Nhập Thể.

W10Chúng ta dành bao nhiêu thời gian trong ngày để làm vệ sinh, thì cũng hãy dành bấy nhiêu thời gian hoặc nhiều hơn để cầu nguyện và xin ơn để được thánh hoá.  Thời gian riêng mỗi ngày để cầu nguyện và nhìn lại chính mình là điều cần thiết, nhưng khi dọn dẹp hay làm vệ sinh, thay vì chỉ làm những việc ấy thôi, chúng ta có thể vừa làm và vừa thầm thì với Chúa xin Ngài làm cho tâm hồn mình được sạch sẽ.  Chẳng hạn như khi đi tắm, thay vì hát nghêu ngao thì chúng ta có thể lắng đọng và xin ơn để được Chúa tắm cho tâm hồn mình luôn.  Tự chúng ta không thể tắm cho tâm hồn mình nhưng chính Chúa sẽ gội rửa tâm hồn chúng ta.  Cũng như tóc không tự nó có thể làm sạch nhưng chúng ta là người chủ sẽ gội cho tóc sạch như ý chúng ta muốn.  Chúng ta sẽ là người quyết định gội tóc giờ nào, cách nào, và dùng dầu gội gì.  Nếu chúng ta là người biết giữ gìn tóc, chúng ta sẽ biết tóc của mình cần dùng gì và lúc nào cần cắt tỉa.  Còn phần tóc, có lẽ nó chẳng bao giờ kêu ca những gì chúng ta làm cho nó nhưng chỉ biết đón nhận với lòng tri ân vì nó biết chúng ta là người chủ tốt lành.

Chúng ta hãy xin ơn để tâm hồn chúng ta được gội sạch hầu chúng ta không nhìn mọi sự với con mắt còn vướng bận những tham vọng, danh tiếng, vật chất, và quyến rũ, nhưng với con mắt của một tâm hồn trong sạch.  Vì chỉ khi đó chúng ta mới nhìn mọi sự như Chúa muốn chúng ta nhìn.  Đồng thời, chúng ta cũng xin Chúa cho chúng ta biết đón nhận con người bất toàn của mình và mong mỏi được ơn thánh hoá.  Xin cho chúng ta biết và tin rằng Chúa là người chủ tốt lành và Ngài sẽ gội và cắt tỉa cho chúng ta được sạch bằng cách tốt nhất cho chúng ta vì Ngài là Chúa và là Thầy của chúng

Củ Khoai

ƠN GỌI

W11“Hãy tin rằng Ngài sẽ cho bạn những ơn thánh cần thiết vào những thời điểm cần thiết vì Ngài đã nói “ơn Ta đủ cho con”, và Ngài không bao giờ thử thách quá sức chịu đựng của bạn”

“Ơn Gọi” – chỉ hai chữ thôi nhưng đã đặt ra cho con biết bao nhiêu câu hỏi ngay từ khi con có trí khôn.  Ơn gọi là gì?  Là ai gọi?  Gọi như thế nào?  Và tại sao lại gọi?…  Biết bao nhiêu câu hỏi tại sao và tại sao mà chưa có lời giải đáp.  Hai chữ ấy theo con lớn lên khiến con càng phải đi tìm câu trả lời cho mình, và từng bước con khám phá ra qua cuộc sống, qua những biến cố hàng ngày.

“Ơn Gọi” – là một cái gì đó rất bình thường nhưng cũng thật phi thường.  Bình thường vì nó chỉ là một tiếng gọi nhưng phi thường vì tiếng gọi ấy chỉ là một ơn mà Thiên Chúa ban cho mỗi người.  Được sinh ra làm người và làm con Chúa chính là một hồng ân và ơn gọi sống đời thánh hiến mà Chúa dành cho con là một quà tặng mà con được nhận.  Con đã được mời gọi dấn thân vào đời sống tu trì một cách rất tình cờ và cũng thật tự nhiên.  Lời mời gọi ấy văng vẳng quanh con, qua gia đình, anh chị em, bạn bè, qua những nơi, những người mà con tiếp xúc.  Lời gọi ấy âm thầm nhưng lại mãnh liệt.  Đã nhiều lần con muốn làm ngơ trước lời ấy nhưng dường như càng lẩn trốn thì tiếng gọi ấy càng lớn dần trong con và ngày càng thôi thúc con phải làm điều gì đó cho Chúa, cho mọi người và cho chính bản thân.  Con cảm thấy mình rất can đảm, can đảm vì dám bước theo Chúa, can đảm vì có một quyết định mà người khác cho là “điên”….  Vâng, con chấp nhận như thế vì chính con cũng biết rằng: đi theo Chúa là khổ cực, là từ bỏ mọi thứ mà lẽ ra con sẽ có ở độ tuổi này.  Theo Chúa là từ bỏ gia đình, anh chị em để sống chung trong gia đình mới với mỗi người mỗi nết khác nhau, và theo Chúa chính là lội ngược dòng….

Nhưng khi đến được điểm hẹn với Chúa, con thấy mình hạnh phúc, hạnh phúc vì có Chúa, hạnh phúc vì thực hiện điều Chúa muốn và hạnh phúc vì xuất phát từ con tim con.  Bởi con biết cuộc sống con ở trong tay Chúa, chọn con cũng là sáng kiến của Chúa.  Và cũng thật kỳ diệu thay khi sáng kiến ấy lại xuất phát từ khi con chưa lọt lòng mẹ thì Chúa đã chọn, Chúa chỉ việc đợi chờ con đáp trả một cách tự do mà không ràng buộc.

Và bây giờ con đã hiểu, con vẫn đang trên hành trình đi tìm hạnh phúc, và chỉ khi nào con chia sẻ hạnh phúc ấy cho mọi người thì con mới thực sự hạnh phúc trong Chúa.

Xin mọi người hãy tiếp tục cầu nguyện cho ơn gọi của con nhé…..

Thùy Phương

HÀNH TRÌNH ƠN GỌI

Các bài sách thánh hôm nay đều nói về ơn gọi.  Ơn gọi của Samuel thật lạ lùng.  Còn ơn gọi của Anrê và Gioan diễn ra nhẹ nhàng hơn.  Tuy nhiên, dù mạnh mẽ lạ lùng hay nhẹ nhàng bình thường, hành trình ơn gọi nào cũng trải qua bốn giai đoạn.

1- Giai đoạn thứ nhất: Chúa kêu gọi.
Việc Chúa kêu gọi không xảy ra tức khắc trong một lần, nhưng diễn tiến tuần tự, chậm rãi với mức độ tăng dần, tùy sự đón nhận của người nghe.
Thoạt tiên là một lời kêu gọi nhẹ nhàng qua một thiên hướng, một ước nguyện của người thân, một gương mẫu, một thần tượng.  Ở Samuel, đó là ước nguyện của bà mẹ muốn tạ ơn Chúa.  Ở Anrê và Gioan, đó là thiên hướng đi tìm lý tưởng.
W12Sau đó, Chúa có thể dùng các trung gian dẫn ta đến với Chúa.  Trong trường hợp Samuel, người trung gian là thày cả Hêli.  Còn trong trường hợp Anrê và Gioan, thánh Gioan Baotixita đã làm trung gian đưa hai môn đệ đến với Đức Giêsu.

2- Giai đoạn hai: Ta đáp trả.
Nếu ta trung thành đáp trả mỗi khi nghe tiếng Chúa kêu gọi, Chúa sẽ tiếp tục gọi ta đi vào những đoạn đường mới, mỗi lúc một khó khăn hơn.  Tiếng Chúa mời gọi mỗi lúc một mãnh liệt hơn, đòi hỏi ta phải trả lời mỗi lúc một dứt khoát hơn.  Cho đến một thời điểm quyết định, Chúa sẽ đưa ra lời mời gọi cuối cùng đòi ta trọn vẹn dấn thân lên đường theo Chúa.  Với Samuel, việc Chúa ba lần cất tiếng gọi chứng tỏ Chúa tha thiết muốn tuyển chọn ông.  Với Anrê và Gioan, việc Đức Giêsu mời hai ông đến chỗ Ngài ở đã khiến hai ông phải dứt khoát với quá khứ để bắt đầu một giai đoạn mới.

3- Giai đoạn ba: Sống thân mật với Chúa.
Tuyệt đỉnh của ơn gọi không phải là làm việc cho Chúa, nhưng là sống thân mật với Chúa.  Chúa không kêu gọi ta theo một chủ thuyết nhưng kêu gọi ta theo Chúa.  Ta đến với Chúa không phải để học những bài học lý thuyết nhưng để tham dự vào sự sống của Chúa.  Sự sống của Chúa là sự sống thần linh nâng ta lên hưởng nếm sự ngọt ngào của tình Cha – Con thắm thiết.  Sự sống của Chúa là tình yêu đưa ta vào hạnh phúc của người biết mình được yêu thương.
Trong tình yêu Thiên Chúa, tâm hồn ta được gột rửa sạch mọi tội lỗi.
Trong tình yêu Thiên Chúa, trái tim ta trở nên dịu dàng, hiền hoà rộng mở để tha thứ và đón nhận mọi người.
Hạnh phúc sống trong tình yêu Thiên Chúa lớn lao đến độ biến đổi toàn bộ cuộc đời ta.  Ai đã một lần nếm cảm sẽ không còn mơ ước điều gì khác nữa.
Sau khi được tiếp xúc thân mật với Chúa, trọn cuộc đời Samuel hoàn toàn dâng hiến cho Chúa.  Sau một buổi chiều thân mật sống với Đức Giêsu, hai tông đồ Anrê và Gioan gắn bó với Người, cho đến chết vì Người.

4- Giai đoạn bốn: Làm chứng cho tình yêu Chúa.
Cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa rồi, ta sẽ không thể làm điều gì khác hơn là ra đi làm chứng về tình yêu đó.  Giống như dòng suối sung mãn tràn xuống thành thác, tâm hồn tràn đầy tình yêu sẽ cất lên thành lời ca tụng, giới thiệu tình yêu Thiên Chúa cho mọi người.
Sau khi gặp Đức Giêsu, Anrê vội vã đi tìm em là Phêrô để dẫn đến giới thiệu với Người.  Từ đó, Anrê theo Đức Giêsu cho đến cuối đời.  Ông đã đem chính mạng sống làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa.  Ông đã đổ máu ra để chứng thực tình yêu ấy. Ông dám khước từ cuộc sống trần gian vì ông đã biết đến hạnh phúc đích thực trong tình yêu Thiên Chúa.  Tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa mời gọi đến sống thân mật với Người trong tình Cha-Con thắm thiết.
Lời Chúa vang lên khi ta chịu phép Rửa tội.
Lời Chúa tiếp tục mời gọi ta khi ta lãnh nhận các bí tích, khi ta nghe sách thánh, khi ta học giáo lý, khi ta tĩnh tâm, nghe giảng.
Lời Chúa lúc thì nhẹ nhàng thoang thoảng, khi thì mãnh liệt thiết tha.  Nhiều lúc ta tưởng đến nhà thờ vào ngày Chủ nhật là đã đáp lại tiếng Chúa mời gọi, nhưng không phải.  Chúa không mời gọi ta chỉ đi lễ như trả nợ . Chúa muốn ta thực sự gặp gỡ Người, tiếp xúc thân mật với Người, sống thân thiết với Người trong tình con thảo.
Hành trình đức tin của người Kitô hữu là một hành trình đi về với Chúa.  Sau bao nhiêu năm giữ đạo, tôi đã đi đến đâu?  Tôi đã thực sự gặp được Chúa chưa?  Tôi đã tiến đến gần Chúa chưa?  Hay là tôi mới ở khởi điểm?  Hãy đến, Chúa đang mời gọi ta.        Chúa đang chờ đợi ta.  Chúa đang mở rộng vòng tay, mở rộng trái tim để đón ta đến sống trong tình yêu của Người.  Tình yêu ấy là hạnh phúc muôn đời của ta.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

KỶ NIỆM: HẠNH PHÚC HAY VẾT THƯƠNG

Những bài ca nói về ngọt ngào của tình yêu hay nhắc đến kỷ niệm. Những bài thơ viết về hạnh phúc cũng thường mang hình ảnh của quá khứ. Những tìm về con đường cũ vết chân xưa. Sân ga thủa nào hẹn hò. Chiều Giáng Sinh lần đầu gặp gỡ. Tất cả là kỷ niệm. Kỷ niệm là hành ảnh ghi lại những yêu dấu đã buông cánh đậu xuống đời mình. Nhưng, cũng có những bài thơ buồn nhắc nhở một dòng nước mắt. Cũng có những nốt nhạc sầu âm vang một dang dở. Những nước mắt, những dang dở cũng là kỷ niệm. Như snhn4thế, kỷ niệm là con đường hai chiều: một lối xuôi hạnh phúc, một nẻo ngược đau thương.
Tờ thư cũ. Tấm hình năm xưa. Kỷ niệm và kỷ niệm. Tuổi học trò có kỷ niệm của sân trường. Tình yêu vợ chồng có kỷ niệm của hôn nhân. Kỷ niệm ở khắp nơi. Ai cũng có kỷ niệm. Ai cũng có lúc sống với kỷ niệm. Ðã như thế, nơi nào có con người là có kỷ niệm.
Kỷ niệm không bao giờ nhắc đến con người nhưng con người lại hay nhắc đến kỷ niệm. Chính con người tạo nên kỷ niệm, chứ kỷ niệm không bao giờ hiện hữu độc lập. Mặc dù con người tạo nên kỷ niệm, nhưng sự yếu đuối của con người trước kỷ niệm là khi sinh ra kỷ niệm rồi thì con người lại bị kỷ niệm chi phối. Một khi kỷ niệm ra đời rồi thì khó mà chối bỏ được sự có mặt của chúng. Và kỷ niệm lại có quyền năng không ngờ: con người không giết được kỷ niệm, nhưng kỷ niệm lại có thể giết được con người.
Kỷ niệm là một gạch nối. Kỷ niệm là một lối đi về để tôi có thể đến được với người và người đến với tôi trong không gian xa cách, trong thời gian chảy xuôi. Kỷ niệm là lối đi về, là sự nhắc nhở giữa hai người. Ðã là nhắc nhở thì tùy sợi giây liên hệ ấy thơ mộng hay vụng về, thân ái hay oán trách mà hai người có kỷ niệm đẹp hay đau buồn.
Cái kỳ diệu và cũng là bi đát của con người là con người sống trong hiện tại nhưng lại có thể mơ ước tương lai và kéo cả quá khứ tới. Chính vì thế mà sống hiện tại, nhưng đau nỗi đau của quá khứ và lo nỗi lo của tương lai. Chính cái khả năng vượt thời gian này mà mới có kỷ niệm. Nếu không sống lại được quá khứ thì sẽ không có kỷ niệm. Do đấy, kỷ niệm có thể là hồng ân mà cũng là ngục tù.
Vì khả năng có thể kéo quá khứ tới hiện tại nên người ta có thể đem những kỷ niệm đẹp năm xưa làm hành trang cho hôm nay. Và cũng có thể là ngục tù nếu kỷ niệm đó là những kỷ niệm buồn. Con người không thể chỉ sống hướng tới tương lai. Quá khứ đã làm nên đời họ, luôn luôn nhắc nhở họ. Cánh cửa thời gian vật lý đã đóng kín, nhưng cánh cửa tâm lý của con tim chẳng chịu im lìm. Nó không ồn ào nhưng vẫn thăm thẳm sâu. Khi quay về quá khứ, họ sẽ không sáng tạo được kỷ niệm nữa, mà chỉ nhìn ngắm kỷ niệm và để kỷ niệm tham dự vào đời mình mà thôi. Con người bất lực trước quá khứ. Nhưng quá khứ không hẳn là bất lực trước con người. Chẳng thể lẩn tránh được kỷ niệm thì chỉ còn lối đi đẹp nhất là hãy xây dựng những kỷ niệm đẹp.
Một cánh thư viết thăm mẹ. Một món quà tặng nhau. Một dòng chữ cám ơn thầy, cô dạy cũ. Ðơn sơ nhưng đều là những kỷ niệm hồng có giá trị hạnh phúc dọc theo thời gian của một cõi lòng. Có những kỷ niệm êm đềm cho nhau bóng mát thì cũng có nhiều kỷ niệm đã giết chết bao tâm hồn. Ðưa dằn vặt câm nín đến đời nhau. Hối tiếc phũ phàng. Dọc theo thời gian còn lại của họ là nỗi đắng. Kỷ niệm là những hạt mầm đã gieo xuống hôm nay sẽ trổ sinh ngày mai. Có thể là quả ngọt, có khi là trái đắng.
Khó mà xóa nhòa được kỷ niệm. Nó có thể hằn sâu đời đời. Bởi đó, gieo kỷ niệm đau buồn cho nhau là có thể hành hạ nhau cả một tương lai. Tặng nhau những kỷ niệm đẹp là sắm sẵn cho nhau bóng mát hạnh phúc trong những ngày sắp tới. Vì kỷ niệm có quyền năng như vậy, nên khi trao tặng nhau kỷ niệm, những kỷ niệm đó phải là những kỷ niệm hồng.
*******************************************
Thánh Kinh có nói đến kỷ niệm. Con người mong muốn những kỷ niệm đẹp. Nhưng Chúa lại là người yêu thích kỷ niệm hơn ai hết. Trước khi chia ly, bữa cơm chiều hôm ấy Chúa đã trao kỷ niệm cho các môn đệ của Ngài. “Này là mình Ta, các con hãy lãnh nhận … để nhớ đến Ta” (Lc 22, 19). Cho kỷ niệm để nhớ nhau. Kỷ niệm là một nhắc nhở để tình thân ấy đẹp mãi, đẹp thêm. Chúa cũng yêu quý kỷ niệm thì con người cũng cần kỷ niệm để giữ ấm đời nhau.
Chúa đã chuẩn bị bao nhiêu năm trời để trao tặng kỷ vật cho con người. Chúa đã coi tặng vật như một giá trị vô cùng thiêng liêng nên đã dành vào giờ quan trọng nhất là giờ trước khi Chúa chết. Chúa cũng đã chọn một tặng vật cao quý nhất để tặng con người, đó là bữa Tiệc Ly, Chúa lập phép Thánh Thể.
Sự việc Chúa lập phép Thánh Thể được coi như một trong những cao điểm quan trọng của Phúc Âm. So sánh bốn Phúc Âm, ta thấy một sự khác biệt rất lớn. Cả ba Phúc Âm Máccô, Mátthêu, Luca đều nói tới bữa Tiệc Ly, nhưng lại không đề cập đến việc Chúa rửa chân. Còn Phúc Âm Gioan, trái lại, chỉ nói đến việc Chúa rửa chân cho môn đệ, nhưng lại không đề cập tới biến cố Chúa lập phép Thánh Thể.
Gioan muốn làm nổi bật một tư tưởng khác. Không đề cập đến bữa Tiệc Ly, nhưng người môn đệ này mở đầu cuộc loan báo Thương Khó bằng kỷ niệm Chúa rửa chân cho các môn đệ. Gioan dùng biến cố rửa chân để chuẩn bị cho giây phút trao tặng kỷ vật xẩy ra kế tiếp. Ngay khi rửa chân xong, Chúa long trọng tuyên bố gởi gắm lại di sản cuối cùng trước khi chết: “Cha chỉ ở lại với các con một ít nữa… nơi Cha đi các con chẳng thể đến được, thì này Cha nói với các con, Cha trao cho các con một kỷ vật mới là: các con hãy thương mến nhau” (Yn 13, 33). Ðối với Gioan, kỷ vật là tình yêu.
Gioan đã bỏ qua, không nói đến bữa Tiệc Ly để hết sức thâm thúy diễn tả ý nghĩa liên hệ giữa tình yêu và kỷ vật. Không có tình yêu, bữa Tiệc Ly không còn ý nghĩa. Bữa Tiệc Ly chỉ là kết quả của tình yêu. Không có tình yêu kỷ vật trở nên tội nợ. (Cor 11, 26-29).
Trong ý nghĩa đó, tình yêu phải luôn luôn đi với kỷ vật. Chính vì có tình yêu nên kỷ vật trở thành kỷ niệm của quá khứ vẫn còn sức sáng tạo cho hạnh phúc hiện tại và nối tiếp đi vào tương lai. Cũng trong ý nghĩa đó, không có tình yêu, kỷ vật chỉ là nợ nần, kỷ niệm sẽ là gánh nặng, là ngột ngạt khó thở. Người nhận kỷ niệm mà không có tình yêu là vô ơn. Kẻ tặng kỷ vật mà không có lòng mến thì kỷ niệm là thừa, hoặc đánh lừa.
*******************************************
Vì thực tế lắm lúc nghèo nàn nên con người muốn tìm về kỷ niệm, mong gặp được bóng hình hạnh phúc để xóa bớt đi nỗi khô cằn hiện tại. Nhưng đã có biết bao tâm hồn thở dài vì một quá khứ chỉ toàn kỷ niệm u uẩn. Có biết bao cõi lòng phải chạy trốn kỷ niệm, mỗi lần nhớ về kỷ niệm là vết thương càng sâu và bước chân vào tương lai càng ngần ngại. Sống trong hiện tại, con người không thể trở về quá khứ để thay đổi những gì đã xảy ra. Ðó là sự yếu đuối của con người trước quá khứ. Trái lại những gì đã xẩy ra ở quá khứ vẫn tiếp tục cắn rứt hay an ủi con người trong hiện tại. Ðó là sức mạnh của quá khứ. Tuy nhiên, đây chỉ là định luật tương đối để con người ý thức thái độ sống của mình hầu cẩn trọng gieo trồng kỷ niệm đẹp, tránh những kỷ niệm đau thương. Trong cuộc sống, nhiều trường hợp đã xẩy ra, tôi không gieo kỷ niệm gai góc nhưng nó vẫn xẩy tới do sai lầm của tha nhân, hay sự khờ dại của chính tôi.
Như vậy, tôi bất lực trước tàn phá của kỷ niệm u buồn?
*******************************************
Trong thực tế, có phần đúng, nhiều người đã bất lực trước kỷ niệm đau đớn. Vì không trốn nổi, kỷ niệm đã giết chết họ bằng con đường tự tử. Giuđa hôn Chúa. Nụ hôn phản bội đã là kỷ niệm bất hạnh dẫn đến cõi chết. Con người không thay đổi được sự kiện của quá khứ. Một mùa thu qua rồi là một mùa thu không thể thêm một cánh lá rơi. Kỷ niệm là kỷ niệm. Trọn vẹn. Dứt khoát. Kỷ niệm trong quá khứ ảnh hưởng đến hiện tại của tôi. Nhưng, tự nó, kỷ niệm không hiện hữu độc lập mà phải có con người dựng nên nó. Thì cũng vậy, nó không thể ảnh hưởng đến tôi như một sức mạnh toàn năng, mà vẫn chịu sự chi phối của suy tư và tự do của tôi đối với nó. Ðời sống tội lỗi của Augustino trong những ngày ăn chơi ở kinh thành Paris không phải là những kỷ niệm đẹp. Nhưng Augustino đã thành thánh nhân. Trong thực tế, nhiều người không chịu đựng nổi sự tàn phá của kỷ niệm buồn. Nhưng, cũng trong thực tế, nhiều tâm hồn đã vượt thắng.
Làm sao để xóa nhòa những kỷ niệm buồn?
*******************************************
Sự khác nhau giữa một tâm hồn đã vượt thắng được những kỷ niệm thương tích và kẻ để cho thương tích dằn vặt là một cõi lòng đi tìm những kỷ niệm đẹp hơn, là một cõi lòng mở rộng cho một kỷ niệm mới. Tôi không thể tránh được những kỷ niệm đau buồn. Nhưng mầu nhiệm trong cuộc đời là tôi có khả năng để mơ những kỷ niệm đẹp hơn và khả năng sáng tạo những kỷ niệm mới. Khi đạt được những kỷ niệm đẹp hơn rồi thì những kỷ niệm buồn trong quá khứ, không hẳn là mất, nhưng phai mờ. Khi chưa đạt được thì tôi cũng đã trên đường đi tìm kỷ niệm đẹp, điều đó cũng có nghĩa tôi đang trên đường từ giã những quá khứ u uẩn. Trên con đường từ giã những kỷ niệm u uẩn cũng hàm ý là tôi không hoàn toàn bị nô lệ quá khứ.
Kỷ niệm đẹp không phải là thành công vật chất mà là sự tươi mát của tâm hồn. Nói về hy vọng và đi sáng tạo những kỷ niệm đẹp hơn, thì con người, một là đạt được, hai là chưa đạt được, chứ không bao giờ có nghĩa là không bao giờ đạt được.
Tại sao?
*******************************************
Vì thời gian là tình yêu của Chúa cư ngụ. Chúa không bao giờ rải gai trong tương lai cho tôi vấp ngã. Một tâm hồn mở rộng cõi lòng để tìm kỷ niệm mới, họ sẽ gặp: “Ai tìm thì sẽ thấy. Ai gõ, cửa sẽ mở cho” (Lc 11, 9-10). Thời gian là Nước Chúa. Trong Nước ấy: “Kẻ mù nhìn thấy, kẻ què đi được, người phong hủi được chữa lành, kẻ điếc nghe thấy, người chết sống lại và người nghèo khổ được nghe rao giảng Tin Mừng” (Lc 7, 22-23). Vì thế, trong Nước Chúa, tôi còn cả một vũ trụ mênh mông để sáng tạo những giấc mơ đẹp, xóa đi những kỷ niệm buồn. Biết tôi một khi đau khổ vì kỷ niệm đen tối rồi sẽ sợ hãi và nghi ngờ tương lai, nên Chúa đã bảo đảm: “Cha ở với các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20).
Lời hứa trên đây phải hiểu trong toàn mạch văn của thánh Mátthêu. Trong chương mở đầu Phúc Âm, thánh sử giới thiệu bản tính của Thiên Chúa là làm người để ở với nhân loại: “Một người nữ sẽ sinh con và người ta đặt tên là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở với chúng tôi” (Mt 1, 23). Rồi những dòng chữ sau cùng, thánh sử đã kết thúc Phúc Âm cũng bằng tư tưởng đó: “Cha ở với các con mọi ngày cho đến tận thế”. Tư tưởng mở đầu và kết thúc của một quyển sách nói lên tính cách quan trọng độc nhất mà toàn bộ cuốn sách nhắm tới. Thánh sử muốn làm nổi bật chân lý Chúa đi song hành với con người.
Bởi đó, tương lai là sự chờ đợi Chúa. Nơi Ngài là một vũ trụ mênh mông để tôi mở lòng cho những kỷ niệm tươi đẹp hơn.
*******************************************
Chúa đã đề cao giá trị của tặng vật và kỷ niệm. Chúa đã cho con tặng vật đẹp nhất là chính Chúa. Xin giúp con cố gắng đem kỷ niệm đẹp đến cho người. Một hy sinh trao tặng nhau hôm nay là một kỷ niệm có thể nẩy sinh nhiều an ủi cần thiết cho một lúc trống trải nào đó của một tâm hồn.
Và, xin Chúa cũng hãy nhắc nhở con luôn luôn khôn ngoan gieo xuống đời mình những kỷ niệm đẹp hôm nay để ngày mai con khỏi dằn vặt hối tiếc.

LM Nguyễn Tầm Thường, SJ. – Trích trong “Nước Mắt và Hạnh Phúc”