CÁM DỖ

zzCám dỗ là chuyện xưa như trái đất.  Từ khi có con người, đã có cám dỗ.  Hẳn ta không thể quên chuyện hai ông bà nguyên tổ sa chước cám dỗ của ma quỷ.  Dân Do Thái, khi bị nô lệ dưới ách người Ai cập thì muốn được tự do.  Nhưng khi lang thang 40 năm trong sa mạc, phải chịu đói khát, lại bị cám dỗ quay trở lại Ai cập để được no ấm.  Nhưng có thể nói, ba cơn cám dỗ mà Đức Giêsu phải đương đầu hôm nay gồm tóm tất cả mọi thứ cám dỗ mà ta thường gặp.

+ Cơn cám dỗ thứ nhất: Thoả mãn tức khắc mọi nhu cầu.

Sau khi Đức Giêsu ăn chay 40 đêm ngày.  Ma quỷ đề nghị Người biến đá thành bánh mà ăn.  Thật là một đề nghị hợp lý.  Đói thì phải ăn.  Muốn ăn thì phải có bánh.  Nhưng có bánh bằng cách nào mới là vấn đề.  Không phải cứ có nhu cầu là phải thoả mãn ngay.  Và nhất là không được dùng những cách không hợp đạo lý để thoả mãn những nhu cầu của mình.  Cơm bánh tượng trưng cho những nhu cầu thiết yếu của con người.  Nhu cầu của con người thì có nhiều và có khuynh hướng ngày càng gia tăng.  Vì thế cơn cám dỗ thoả mãn nhu cầu ngày càng lớn.

+ Cơn cám dỗ thứ hai: Muốn có quyền lực thống trị.

Ma quỷ biết Đức Giêsu muốn cứu độ loài người, nên đề nghị tặng Người tất cả các nước trên trần gian.  Có lẽ nhiều người nghĩ rằng đề nghị của ma quỷ là hợp lý.  Cứ có quyền thống trị trên hết mọi dân nước rồi nói gì người ta chẳng nghe.  Chúa sẽ không phải mất công chịu đau khổ chịu chết.  Chỉ cần quỳ xuống thờ lạy ma quỷ, vua quan dân chúng các nước sẽ răm rắp tuân theo.  Thật là tiện lợi.  Quyền lực là một cơn cám dỗ muôn đời của nhân loại.  Từ ngàn xưa, vua chúa các nước đã không ngừng gây chiến để tranh giành quyền lực.  Ngày nay, trong các cuộc chiến mới, người ta không còn giết nhau bằng gươm đao, súng đạn, nhưng bằng quyền lực kinh tế, khoa học, kỹ thuật.  Tuy êm đềm nhưng cuộc chiến vô cùng khốc liệt. Cơn cám dỗ về quyền lực thống trị không những không suy giảm mà còn mãnh liệt hơn.

+ Cơn cám dỗ thứ ba: Tìm những điều kỳ lạ.

Muốn những chuyện thần kỳ.  Muốn làm được những việc kinh thiên động địa.  Muốn có những thành công lẫy lừng.  Cơn cám dỗ này thúc đẩy người ta đổ xô đi tìm phép lạ.  Cơn cám dỗ xây tháp Ba ben từ ngàn xưa vẫn còn tiếp diễn.

Xuyên qua những cơn cám dỗ ấy ta thấy ma quỷ thật vô cùng tinh khôn và hiểm độc.

Với cơn cám dỗ thứ nhất, ma quỷ muốn xô đẩy con người làm nô lệ cho dục vọng.  Xúi giục con người chỉ tìm thoả mãn những bản năng thấp hèn.  Giới hạn con người vào sự sống xác thịt.  Đức Giêsu đã vạch trần âm mưu của ma quỷ khi Người cho biết con người không chỉ có đời sống thể lý mà còn có đời sống tâm linh.  Người nâng cao phẩm giá con người khi quyết tâm chống lại cơn cám dỗ thoả mãn những nhu cầu thân xác để chăm lo cho sự sống tâm linh.

Với cơn cám dỗ thứ hai, ma quỷ muốn biến con người thành nô lệ cho tham vọng, nô lệ cho ma quỷ.  Vì ham hố chức quyền, vì mưu cầu danh vọng mà đánh mất tự do của mình, cam tâm làm nô lệ cho ma quỷ.  Vì tham vọng mà đánh mất chính mình.  Đức Giêsu vạch trần âm mưu đen tối của ma quỷ khi cương quyết chối từ danh vọng quyền thế.  Người còn chỉ cho ta con đường duy nhất phải theo đó là thờ phượng Thiên Chúa.  Chỉ có thờ phượng Thiên Chúa mới đem đến cho con người tự do đích thực, tự do trong tâm hồn, không bị nô lệ một tham vọng nào.

Với cơn cám dỗ thứ ba, ma quỷ đẩy con người vào nô lệ cho cuồng vọng.  Điên cuồng đến chống lại Thiên Chúa.  Dùng Thiên Chúa để phục vụ cho những ước vọng ngông cuồng của mình.  Không đến với Chúa trong tâm tình của người con thảo đối với Cha hiền.  Đức Giêsu đã vạch trần âm mưu của ma quỷ.  Người chỉ cho ta con đường của người con hiếu thảo. Người con hiếu thảo tin cậy phó thác và luôn làm theo ý Cha, chứ không bao giờ dám thách thức Cha.  Người con hiếu thảo vâng lệnh Cha sai bảo chứ không bao giờ dám sai bảo Cha.

Cám dỗ của ma quỷ hiểm độc vì nó tiến từng bước: Từ hạ thấp phẩm giá con người khi khiến con người làm nô lệ cho dục vọng đến cướp mất tự do của con người khi xúi giục con người nô lệ cho ma quỷ.  Và sau cùng đi đến chỗ tận cùng là chối bỏ Thiên Chúa, không coi Thiên Chúa là cha.  Cám dỗ càng hiểm độc vì ma quỷ đã khéo léo bọc những âm mưu thâm hiểm trong lớp vỏ nhung lụa, êm ái, hợp lý và đầy quyến rũ của những nhu cầu, quyền lực và uy tín.

Ngày nay, những cơn cám dỗ của ma quỷ vẫn như những chiếc bẫy giăng ra để trói buộc con người trong vòng nô lệ.  Cám dỗ càng ngày càng tinh vi và càng ngọt ngào hơn nên càng hiểm độc hơn.  Muốn chống trả được những cơn cám dỗ, ta phải bắt chước Đức Giêsu dùng những vũ khí sắc bén, đó là ăn chay cầu nguyện, thấm nhuần Lời Chúa và luôn sống tâm tình của người con thảo đối với Chúa.

Lạy Chúa, xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.

ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

(BĐ1: Đnl 26:4-10; BĐ2: Rm 10:8-13; PÂ: Lc 4:1-13)

 

PHẤN ĐẤU TẠO MÙA XUÂN

zzMùa Xuân là mùa của hoa.  Những bông hoa góp phần làm thành nét đẹp của ngày Tết.  Ngày Tết mà thiếu hoa sẽ mất đi rất nhiều vẻ đẹp đẽ vui tươi.

Tại Việt nam, hai loại hoa tiêu biểu cho ngày Tết là mai và đào.  Trong Nam, mai rộ nở như ganh đua với nắng vàng rực rỡ.  Ngoài Bắc, trong cái buốt giá của mùa Đông kéo dài, những cành đào tươi thắm chen giữa đám lộc non xanh biếc là một cánh thiệp báo tin vui mùa Xuân đến.

Nhìn những cánh hoa tươi thắm như đang cười đùa với nắng Xuân, mấy ai nghĩ rằng những cánh hoa kia đã phải trải qua một quá trình phấn đấu gian nan.

Thật vậy, trước khi mùa Xuân đến, những cây đào trơ trụi như những xác chết không hồn.  Những cây mai cũng bị tuốt sạch lá để trơ những cành khẳng khiu nom đến tội nghiệp.

Nhưng ai đã trồng hoa đều có kinh nghiệm là càng tuốt sạch lá càng có nhiều hoa.  Chính những thân cây khẳng khiu trơ trụi ấy đã góp phần làm nên những bông hoa tươi đẹp trang điểm cho mùa Xuân, đem niềm vui đến cho con người, trở thành dấu hiệu của hạnh phúc, của thành công.

Mùa Xuân, ta thường chúc nhau được thành công, hạnh phúc.  Đã thấy những cành cây trơ trụi mùa đông, rồi nhìn những bông hoa rực rỡ hôm nay, tôi hiểu rằng thành công và hạnh phúc ta đạt được cũng phải trải qua những phấn đấu như loài hoa.  Để đạt được những thành công thiêng liêng và hạnh phúc vĩnh cửu, ta càng phải noi gương loài hoa mà phấn đấu rất nhiều.

hấn đấu loại bỏ những gì xưa cũ.  Nếu những cây hoa không chịu tước bỏ lớp lá cũ già nua xấu xí thì làm sao có được những cánh lá non mơn mởn và nhất là làm sao có được những nụ hoa lộng lẫy vào mùa xuân?

Tương tự như thế, muốn đời sống thiêng liêng sinh hoa kết quả, ta cũng phải từ bỏ những gì xưa cũ trong bản thân.  Những gì xưa cũ là những gì không phù hợp với Phúc Âm, những gì ngăn cản ta tiến bước như thói lười biếng, thói giận hờn ganh ghét, thói ích kỷ, thói chia rẽ bất hoà, thói tự kiêu tự đại.

Phấn đấu dồn hết năng lực vào mục tiêu chính.   Mùa đông, người làm vườn tuốt lá, tỉa cành để khi mùa xuân đến, nhựa cây phong phú không phải tốn phí nuôi dưỡng những chiếc lá già nua, những cành cây thừa thãi vô bổ, nhưng dồn hết sức sống cho hoa, cho lá mới.  Nhờ thế hoa càng thêm tươi, lá càng thêm xanh.

Con người cũng thế, muốn thành công và hạnh phúc, phải loại bỏ những gì tiêu phí năng lực, để dồn hết năng lực vào mục tiêu chính.  Mục tiêu chính của ta là tập luyện lòng mến Chúa yêu người, là sống theo Tám mối phúc thật.  Chuyên tâm vào mục tiêu chính, ta sẽ dễ thành công.

Sau cùng, phải phấn đấu vượt qua mọi gian khổ.  Khi tuốt lá những cây mai, tôi thầm nghĩ: Nếu cây mai biết nói, chắc nó sẽ kêu lên đau đớn. Tuốt lá, tỉa cành làm cho cây đau đớn, mất mát, xấu xí khó coi.  Nhưng chính nhờ vượt qua được những gian nan thử thách ấy mà cây hoa mới đạt đến mùa xuân tươi đẹp đem hương sắc cho đời.

Để loại bỏ những gì xưa cũ và dồn hết năng lực vào mục tiêu chính, con người cũng phải phấn đấu rất nhiều.  Phấn đấu từ bỏ mình.  Không hành động theo bản năng, dục vọng.  Không hành động theo ý riêng.  Chỉ tìm thánh ý Thiên chúa.  Những phấn đấu từ bỏ mình làm cho ta đớn đau. Nhưng chính những đớn đau đó góp phần tạo nên mùa xuân tươi đẹp.

Năm Mới, tôi cầu chúc tất cả anh chị em được nhiều ơn Chúa để có sức phấn đấu, tạo nên một mùa xuân tươi đẹp cho gia đình, cho đất nước và cho nước Trời.

TGM Ngô Quang Kiệt

 

TỪ NAY ANH SẼ LÀ KẺ LƯỚI NGƯỜI

Chẳng ai ngờ cuộc đời Simon có thể chuyển hướng. Ông đã có nghề nghiệp ổn định và đã lập gia đình. Thế giới của ông là hồ Ghênêxarét, là những con cá quẫy đuôi trong lưới, là gia đình cần phải chăm nom săn sóc.

Ông yêu vợ con, ông yêu biển cả. Chúa đã đặt ông vui sống trong thế giới ấy, nên chỉ có Ngài mới có thể kéo ông ra, và bất ngờ đưa ông vào một thế giới mới, một đại dương bao la hơn nhiều, một gia đình rộng lớn hơn vạn bội. Chỉ Chúa mới có thể làm trái tim ông say mê một Ai khác, yêu một Ai đó hơn những người ông đã từng yêu.

48Đức Giêsu đã đến với Simon thật tự nhiên. Ngài chọn thuyền của ông làm nơi giảng dạy. Sau đó Ngài mời ông thả lưới bắt cá, Simon có nhiều lý do để khước từ. Ông có thể dùng kinh nghiệm của mình để nhận thấy tốt hơn nên chờ dịp khác, hay nại lý do mệt mỏi, sau một đêm ra khơi. Nhưng Simon đã vâng lời, chỉ vì tin Lời Thầy Giêsu, Lời đầy quyền uy, Lời trừ được quỷ (Lc 4,30). Lời mạnh mẽ đã chữa cho mẹ ông khỏi bệnh (4,39).

Mẻ cá lạ lùng, mẻ cá chỉ có trong mơ. Mẻ cá làm Simon run rẩy nhận ra mình tội lỗi, và nhận ra Đấng ở gần bên. Mẻ cá bất ngờ mở đường cho một lời mời gọi mới: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ thành kẻ bắt người.”

Simon lại có nhiều lý do hơn để từ chối. Chuyện gia đình bề bộn, tương lai bấp bênh. Kẻ quen bắt cá đâu có khả năng bắt người. Kẻ tội lỗi đâu xứng với sứ mạng. Nhưng một lần nữa, Simon dám tin vào Lời Chúa, để cho Chúa tự do lôi kéo mình.

Ông đã bỏ lại bao điều ông yêu mến. Khi bỏ lại hai thuyền đầy cá, ông tin rằng những mẻ cá mới đang đợi ông. Và Simon cứ lớn dần lên sau mỗi bước của lòng tin.

Tin đòi vượt trên lối suy luận thông thường, vượt trên kinh nghiệm, vượt trên mệt mỏi của xác thân.

Tin đòi tôi ra khơi buông lưới thêm một lần nữa.

Tin đòi tôi bỏ lại tất cả để theo Chúa. Bỏ tất cả là đặt tất cả dưới Chúa và sử dụng tất cả trong Ngài.

Chúa vẫn gọi tôi ra khỏi lối mòn quen thuộc, khỏi những điều tưởng như không thể thay đổi. Tôi có sẵn sàng lên đường theo Ngài không?

***

Lạy Chúa, chúng con không hiểu tại sao Chúa chọn Simon, một người đánh cá ít học và đã lập gia đình, để làm vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội.

Chúa xây dựng Giáo Hội trên một tảng đá mong manh, để ai nấy ngất ngây trước quyền năng của Chúa.

Hôm nay Chúa cũng gọi chúng con theo Chúa, sống cho Chúa, đặt Chúa lên trên mọi sự: gia đình, sự nghiệp, người yêu.

Chúng con chẳng thể nào từ chối viện cớ mình kém đức kém tài.

Chúa đưa chúng con đi xa hơn, đến những nơi bất ngờ, vì Chúa cần chúng con ở đó.

Xin cho chúng con một chút liều lĩnh của Simon, bỏ mái nhà êm ấm để lên đường, hạnh phúc vì biết mình đang đi sau Chúa. Amen.

Trích từ “Manna”

zzCó nhiều lời chúc mừng.
Có nhiều dịp chúc mừng.
Có nhiều người được chúc mừng.

Người ta chúc mừng nhau.  Bằng lời nói.  Bằng thư từ.  Trong những lời chúc mừng, lời chúc mừng về tình yêu, về những gì liên quan đến hạnh phúc, đến giá trị thiêng liêng là lời chúc mừng bi đát nhất.

Chẳng hạn:

Kỷ niệm 25 năm thành hôn của anh chị, chúng tôi cầu chúc tình yêu của anh chị nồng nàn như thủa mới yêu nhau.

Hoặc như:

Kỷ niệm 10 năm linh mục của Cha.  Chúng con kính chúc Cha những ngày tràn đầy hồng ơn Chúa. Tâm tình Cha sốt mến như ngày Cha dâng thánh lễ mở tay.

Những lời chúc rất chân thành.  Càng chân thành bao nhiêu, càng thấm thía và bi đát bấy nhiêu. Thực tế, những lời chúc này xảy ra hàng ngày, ở chỗ này, chỗ kia.  Nó đến từ trái tim người cầu chúc là mong ước.  Và biết đâu, từ trái tim người được cầu chúc cũng tha thiết xin được như thế.  Sự bi thương nằm ở đó.  Lời cầu chúc này đến từ một thực tế.  Nó diễn tả cái thực trạng hàng ngày.  Nó là tấm gương phản chiếu trung thực lòng khao khát của người cầu chúc, nó là ước vọng của người được cầu chúc.

Bi thương hơn nữa là đời cứ tiếp đời, lời chúc tiếp tục lời chúc đi theo thời gian.

***********************

Kỷ niệm 25 năm thành hôn

Chúng tôi cầu chúc tình yêu của anh chị nồng nàn như thủa mới yêu nhau.  Chúc như thế, nghĩa là, tình yêu của anh chị hôm nay mệt mỏi lắm rồi.  Nó xói mòn lắm rồi, nên tôi chúc cho anh chị được như ngày đầu.  Nói cách khác, tình yêu ấy cứ mỗi ngày một nhạt đi, cứ mỗi ngày một hết như thủa ban đầu.  Chúc như thế, không là thành thực xót xa sao.  Nếu tình yêu của người nào đó, sau 25 năm cưới nhau, bây giờ nồng nàn hơn, thì chúc như thế mang ý nghĩa gì?  Nó vô duyên và vụng về biết mấy. Nhưng hôm nay, họ cứ chúc mừng nhau như vậy.  Họ dựa vào kinh nghiệm thực tế mà làm nên lời chúc.  Nếu vậy, mỗi lời chúc không là một lời đau thương sao?

***********************

Kỷ niệm 25 năm linh mục

Sau 25 là linh mục.  Tôi rửa tội biết bao nhiêu người.  Tôi săn sóc biết bao bệnh nhân, xức dầu Thánh cho biết bao nhiêu người trong giờ hấp hối.  Trong 25 năm tôi dâng biết bao thánh lễ.  Biết bao lần Mình Máu Thánh Chúa hóa thân trên tay tôi.  Tôi cử hành biết bao bí tích.  Như thế, sau 25 năm đôi tay tôi đã xây dựng biết bao ân sủng.  Một phần tư thế kỷ sống sống đời linh mục, tôi xây dựng biết bao nhân đức.  Tại sao người ta lại chúc mừng trong ngày kỷ niệm đẹp như thế bằng lời chúc bi thương?

Họ mong cho tôi dâng thánh lễ sốt sắng như ngày đầu, nghĩa là thánh lễ tôi dâng hôm nay không còn chuẩn bị như ngày mở tay.  Nghĩa là hôm nay tôi dâng thánh lễ nhàm chán như chuyện phải làm.  Tôi hết náo nức rồi.

***********************

Vì sao có những lời chúc như thế.  Cũng là do thực tế mà thôi.  Nó cũng đến từ một nhận thức trong sinh hoạt bình thường.  Nó do kinh nghiệm, do quan sát, do thấy như vậy.  Tôi gọi đó là những lời chúc bi thương.  Vì nó thật nên nó bi thương.  Những lời chúc ấy đến từ cảm nghiệm.

Những lời chúc như thế, là linh mục, hay tình yêu hôn nhân, nó là tiếng chuông cầu thương khó.  Trước lời chúc đó, tình yêu phải nhìn lại tình yêu.  Hôn nhân phải hỏi lại hôn nhân.  Linh mục phải nhìn lại linh mục.  Tu sĩ khấn Dòng phải hỏi lại lý tưởng.  Những lời chúc ấy đến từ ước vọng.  Nó vừa là tiếng lòng mong mỏi, cũng vừa là tiếng lòng đợi trông.

Thủa ban đầu có nhau lưu luyến ấy, nếu bây giờ nhạt phai, nó phải có nguyên nhân.

Nếu thánh lễ mở tay là náo nức, bây giờ chỉ còn là bổn phận, nó phải có nguyên do.

Những ngày đầu của tình yêu hôn nhân, tháng ngày ấy mới là ngưỡng cửa bước vào vườn hạnh phúc.  Ðàng sau đó là một chân trời khám phá.  Thì càng đi càng say chứ.  Nhưng thực tế, cứ có những tiếng thở dài.  Nhiều đôi hôn nhân càng đi càng mỏi.

Những ngày đầu của linh mục cũng thế.  Mới lên đường mà thấy lòng rộng mở, thì càng cao, đường phải càng đẹp, càng đi lâu tâm hồn càng say mê đi tới chứ.  Nhưng thực tế, không thiếu những cử hành phụng vụ chỉ là cánh cửa sổ cũ kỹ muốn đóng sập xuống cho chóng xong.

Từ những kinh nghiệm được xác định đó, lời cầu chúc ra đời.  Ði tìm nguyên do, đi hỏi nguyên nhân.  Kinh Thánh bảo: “Khi mọi người ngủ thì kẻ thù đến gieo cỏ lùng, rồi bỏ đi” (Mt.13: 25).  Thời gian nào mà không có phấn bụi bay.  Khoảnh khắc nào mà không có sương mù.  Hạnh phúc rất mong manh.  Tấm gương cần phủi bụi mỗi ngày.  Cỏ lùng cần nhổ khi còn là mầm non.  Chúa muốn nói với tôi về một tỉnh thức.

***********************

Là linh mục, xin Chúa cho con trước lời chúc đó là tiếng lòng cảnh tỉnh.
Con muốn sống làm sao mỗi ngày đẹp hơn.
Con muốn sống làm sao với ân sủng để mỗi ngày có thêm thiết tha đi tới chứ không ao ước quay về.

Tình yêu mà cứ mỗi thời gian đi tới, lại cứ cầu chúc nhau tìm về bến cũ, thì con đò sẽ lặng lẽ biết bao.  Hôn nhân mà mỗi bình minh lên, lại cứ phải mong cho nhau như ngày xa xưa cũ thì còn đâu chân trời khám phá.  Chả có sáng tạo, hôn nhân mà cứ phải nương nhờ ngày xưa thì bước đi tới nặng nề làm sao.

Lạy Chúa, con muốn nói với Chúa về một lời chúc.
Ðừng để đời linh mục con, có những lời cầu chúc như thế.
Xin cho con sửa lại lời cầu chúc bi thương.
Ngày con dâng lễ mở tay, chỉ là mở tay thôi, mỗi ngày bàn tay con phải vươn cao hơn, nhiều nhân đức hơn, chứa đựng nhiều ơn trời hơn.
Ngày đầu bước vào đời linh mục, có ngỡ ngàng, thì mỗi ngày, mỗi sáng sáng phải ngỡ ngàng hơn vì khám phá ra quá nhiều ơn sủng Cha ban.
Mỗi thời điểm về gần ánh sáng, con phải thấy hân hoan hơn, thấy mình thấm nhuần ánh sáng hơn.
Con phải quên đi những ngày đầu chập chững.
Con phải sống sao những ngày đầu chỉ là ơn sủng còn non màu mạ, mỗi thời gian đi tới là chứa chan màu vàng của lúa đơm bông.
Như cánh bướm, vì vườn hoa càng rực rỡ thì càng buông cánh vào càng duyên dáng hơn.
“Ơn sủng Cha ban thì hằng hà sa số,
Lớp lớp thời gian Cha không ngừng đổ rót.
Ðể lãnh xin, con chỉ có bàn tay bé nhỏ,
Vậy sao hồn con cứ trống và tim con còn vơi?” (Tagore)
Lạy Cha, lỗi ở con mà thôi.
Con ước muốn sửa lại lời cầu chúc trên kia.
Con muốn mỗi ngày cánh buồm đong gió ra đi là càng thênh thang, chứ đừng có lời cầu chúc tầm thường mong sao được như ngày xưa bên bến hồ nhỏ bé.
Lời cầu chúc đời ban tặng con đến từ nhận xét.
Con không thể thay đổi cái nhìn của đời được, vì con thế nào thì đời nhận xét như thế.
Lời cầu chúc đến từ cảm nghiệm.
Con không van xin đời thay đổi cảm nghiệm được, con chỉ có thể thay thế chanh chua bằng mật ong, vì đời cảm nghiệm thế nào, đời mong mỏi như vậy.

Lời cầu chúc đến từ ước mơ.
Con không cho đời hạnh phúc được nếu mơ ước kia không là sự thật.
Lời cầu chúc đến từ lòng thành thật.
Con có đau thương vì lời chúc thì cũng hãy thành thật nhận lời chúc như câu kinh.
Lời cầu chúc đến như tiếng than thở.
Con hãy quý những thở than đó vì nó là tiếng lòng nhắc nhở con về một tiếng gọi.
Lời cầu chúc đến từ thực tế.
Con không thể lặng thinh mà không hỏi lòng mình: Tại sao thế?
Lời cầu chúc có thể còn tiếp tục mãi.
Con không thể lặng thinh mà không hỏi Chúa:
– Vậy sáng mai con dâng thánh lễ ra sao.

***********************

        Ôi! Lạy Chúa
Mỗi lời chúc đều nói với con về một ý nghĩa.
Mỗi lời chúc đều nói với con về chính con.
Mỗi lời chúc đều nói với con về liên hệ giữa con và Chúa.  Amen!

Lm Nguyễn Tầm Thường SJ – Trích tập suy niệm Ðường Ði Một Mình

TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG

zzQuê hương… mỗi người đều có
Vừa khi mở mắt chào đời
Quê hương …là dòng sữa mẹ
Thơm thơm giọt xuống bên nôi
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ…
Sẽ không lớn nổi thành người.

(Quê Hương- Đỗ Trung Quân)

Trong trái tim của mỗi người, quê hương được gắn liền với tuổi thơ, với tình yêu thương con người.  Khi đi xa quê hương, thì lòng người càng thêm nhớ thương.  Nhớ về cha mẹ, nhớ anh chị em, nhớ những người thân quen trong tình làng nghĩa xóm, nhớ những người bạn cũ một thời cắp sách đến trường.  Quê hương được ví như dòng sữa mẹ nuôi dưỡng đời con.  Quê hương được khắc ghi trong trái tim của mỗi con người. Quê hương nếu ai không nhớ, thì sẽ không lớn nổi thành người.  Đọc lại bài thơ quê hương, nó đã gợi lại cho tôi nhiều kỷ niệm của tuổi thơ nơi tôi đã được sinh ra và lớn lên.  Càng xa quê hương thì lòng càng thêm nhớ thương.  Dù đi đến đâu thì lòng tôi vẫn muốn trở về thăm lại mái nhà xưa.

Trong hành trình đi rao giảng khắp nơi, Chúa Giê-su cũng tranh thủ trở về quê hương Nazaret nơi Ngài đã được dưỡng dục và lớn lên.  Chúa Giêsu vào hội đường, Ngài đọc và giảng dạy Kinh Thánh cho dân chúng: “Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà tai các ngươi vừa nghe”.  Mọi người đều kinh ngạc và thán phục về giáo huấn của Ngài.  Chúa Giê-su dùng từ “hôm nay” có nghĩa là hiện tại ngay bây giờ quý vị vừa nghe.  Nó không phải là ngày mai hay là tương lai mà là ngày hôm nay.  Lời Chúa phải được ứng nghiệm trong chính tâm hồn mọi người.  Nhưng chúng ta phải biết mở rộng con tim, thì Lời Chúa mới có thể gieo vào, lớn lên và sống được.  Giống như hạt lúa được gieo vào mảnh đất tốt, nó sẽ đơm hoa kết trái.

Tuy nhiên, có những kẻ nghe Lời Chúa, nhưng họ còn mang nặng thành kiến, vì do lối sống của họ đi ngược lại với đường lối của Thiên Chúa, nên họ tìm cách chống đối, phủ nhận và không muốn nghe Lời Chúa.  Chẳng ai xa lạ, họ là những người đồng hương của Chúa Giê-su.  Họ nói rằng: “Người này không phải là con ông Giuse sao?”. Hóa ra bụt nhà không thiêng là vậy.  Cho dù, Chúa Giê-su đã làm nhiều phép lạ chữa lành bệnh tật cho nhiều người để cho họ nhận ra ơn cứu độ và quyền năng của Thiên Chúa.  Thế nhưng, họ đã từ chối đón nhận ơn thánh, mà đáng lẽ họ được ân hưởng.

Và Chúa Giê-su đã thấu hiểu cõi lòng của họ, Ngài nói tiếp: “Quả thật, Ta bảo các ngươi, không một tiên tri nào được đón tiếp tại quê hương mình”.  Thật là đau lòng.  Chúa Giê-su yêu quê hương da diết, muốn trở về để chia sẻ và ban ân phúc cho những người đồng hương và cho mảnh đất quê hương, mà Ngài gắn bó như ruột thịt máu mủ. Ấy thế mà họ đã phủ nhận và không đón tiếp với những gì Chúa Giê-su giảng dạy và làm cho họ.  Vì lòng ganh tỵ, ích kỷ và thành kiến, họ không còn nghĩ đến những gì mà Ngài đã làm cho họ.  Họ cắt đứt mối dây liên kết tình đồng hương, và cũng không chấp nhận sự thật hay biến cố đã xẩy ra tại quê hương mình.  Họ nói: Người ấy không phải là con bác thợ mộc sao?  Hoàn cảnh của ông ta có gì hơn người khác đâu!  Một gia đình nghèo nàn, đơn sơ trong cái làng này.

Hơn nữa, điều làm cho chúng ta đáng suy nghĩ trong đoạn cuối của bài Tin mừng hôm nay khi Chúa Giê-su chỉ cho họ biết lý do tại sao các phép lạ chỉ xẩy ra cho các người dân ngoại Ca-phác-na-um trong thời các tiên tri, mà không thực hiện cho những người Itrael.  Lời nói này đã đụng chạm đến lòng tự ái dân tộc vì họ luôn tự cho mình là một dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn.  Họ tự cho mình đạo đức thánh thiện hơn người nên họ đã phẫn nộ, trục xuất Chúa Giê-su ra khỏi thành.  Họ dẫn Ngài lên triền núi, để xô Ngài xuống vực thẳm cho chết.  Nhưng Ngài rẽ qua giữa họ mà đi.  Thật là phủ phàng.

Cuộc trở về quê hương của Chúa Giê-su đã thất bại.  Ngài đã bị người đồng hương xua đuổi, coi thường, khinh dễ.  Điều Chúa Giê-su muốn nói với đám đông không phải là coi thường họ, hay bình phẩm về lối sống đạo hình thức giả tạo bên ngoài của họ, nhưng Ngài muốn chỉ cho họ thấy rằng, ơn cứu độ của Thiên Chúa không chỉ dành riêng cho dân Israel mà còn cho những người dân ngoại nữa.  Do đó, sự cứu rỗi không tùy thuộc vào công việc họ đã làm, mà chính là ân sủng và nhờ lòng tin mà họ được ơn cứu độ của Thiên Chúa.  Đó là ân huệ của Thiên Chúa ban cho.  Ơn cứu độ được mở ra cho tất cả mọi người.  Và lời đó cũng cần được ứng ngiệm trong cuộc sống mỗi người chúng ta hôm nay.

Mỗi ngày là một cuộc trở về.  Trở về với gia đình.  Trở về với chính mình.  Trở về với căn tính của mình.  Trở về với Thiên Chúa của mình.  Trở về để biết mình đang đi về đâu.  Mỗi người chúng ta có thể đi nhiều nơi.  Nhưng quê hương mỗi người chỉ một.  Đó là quê hương trên trời, mà mỗi người chúng ta mong đợi khi kết thúc hành trình trên trần gian này.  Thế gian là quán trọ dừng chân, để cho ta bước về quê hương vĩnh cửu.  Chỉ có quê hương của Chúa Giê-su giới thiệu cho chúng ta mới là quê hương thật.  Nếu chúng ta không nhớ thì không thể lớn thành người con dân của nước Thiên Chúa.

Ước gì, Lời Chúa hôm nay được ứng nghiệm trong mỗi người chúng con.  Amen!

Lm. John Nguyễn, Utica, New York.

NGÔN SỨ

 

Tôi bảo thật các ông: “không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình”(Lc.4:24)….họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi.

***************

Bạn thân mến!  Trên đây là một đoạn văn ngắn ngủi trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay.  Đó là những gì đã xảy ra khi Chúa Giêsu thuyết giảng nơi quê hươnZZg của Ngài. Dân làng đã ngỡ ngàng thán phục trước lời Ngài nói. Hãnh diện biết mấy khi một thành viên trong làng, nay được tiếng tăm lẫy lừng khắp miền Galilê!   Nhưng khi Chúa Giêsu nói với đồng bào đồng hương của Ngài rằng: “Thần Khí Chúa ngự xuống trên Tôi và chính Tôi đã làm ứng nghiệm lời Thánh Kinh” thì lập tức dân làng cảm thấy khó chịu ngay. Cả hội đường đều nghi ngờ và họ đã xầm xì bàn tán với nhau:

-“Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?” (Lc.4:22). Ký ức của họ vẫn còn giữ nguyên những hình ảnh của Đức Giêsu sống tại đây hơn ba mươi năm qua. Một cuộc sống quá đỗi bình thường!  Một ông thợ mộc, con một ông thợ mộc khác. Gốc gác, họ hàng của Đức Giêsu, họ đều nắm rõ. Tiếc là họ đã không thể đi xa hơn.  Cái hiểu biết trước đây khiến họ mãn nguyện, tự hào, và tưởng mình chẳng còn gì để biết thêm về Giêsu.

-“Những gì ông đã làm ở Caphácnaum, hãy làm ở đây xem.” (Lc.4:23).  Người làng Naziarét không tin Đức Giêsu là ngôn sứ. Họ muốn Ngài chứng minh bằng phép lạ.  Họ muốn thấy tận mắt, chứ không chỉ nghe nói thôi. Nhưng Đức Giêsu không làm phép lạ để ép người ta tin.

Lời xầm xì càng lúc càng lớn và chẳng bao lâu dân chúng bắt đầu la lên. Rồi tình hình trở nên náo động, không thể kiềm chế được nữa. Tin Mừng thuật lại rằng: “Dân chúng đứng dậy kéo Chúa Giêsu ra khỏi thành và dẫn Ngài lên đỉnh đồi, dự tính xô Ngài lộn đầu xuống dưới. Nhưng Ngài đã bước qua giữa họ và bỏ đi nơi khác”. (Lc.4:29)

Bạn thân mến! Chúa Giêsu là gương mẫu cho các sứ giả Tin Mừng hôm nay. Ngày nay sứ vụ rao giảng Tin Mừng vẫn được Giáo Hội tiếp tục thi hành trên khắp thế giới.  Biết bao người đã được ơn gọi lãnh nhận sứ vụ làm “Sứ giả Tin Mừng”, đã hân hoan thi hành sứ vụ của mình một cách can đảm, nhiệt thành và kiên trì rất đáng kính phục.  Họ cũng gặp đủ mọi thử thách, chống đối, ghen ghét, hãm hại bởi những người không muốn đón nhận Tin Mừng. Họ đã sẵn sàng chịu đủ thứ cực hình khổ nạn và ngay cả cái chết nữa vì sứ vụ rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu Kitô.

Và cả chúng ta nữa, chúng ta cũng được tham dự vào sứ vụ ngôn sứ của Đức Giêsu Kitô khi chúng ta được xức dầu trong Bí tích Rửa Tội; vì thế chẳng những chúng ta chỉ nghe và sống Lời Chúa cho chính mình, nhưng còn phải quyết tâm đem Lời Chúa đến cho những người chung quanh chúng ta nữa.

***

Lạy Chúa Giêsu, dân làng Naziarét đã không tin Chúa vì Chúa chỉ là con của bác thợ mộc.  Các môn đệ đã không tin Chúa khi thấy Chúa chịu treo trên thập tự. Nhiều người đã không tin Chúa là Thiên Chúa chỉ vì Chúa sống như một con người rất bình thường.

Cũng có lúc con không tin Chúa hiện diện nơi tấm bánh nhỏ bé mong manh, hiện diện nơi một linh mục yếu đuối, và nhất là hiện diện trong một Hội Thánh còn nhiều bất toàn.

Dường như Chúa thích ẩn mình nơi những gì rất bình thường mà thế gian chê bỏ. Chúa muốn thế để con được nhận ra Ngài bằng con mắt đức tin.  Xin thêm lòng tin yêu cho con để con nhìn thấy Ngài luôn hiện diện bên con, hôm nay và mãi mãi. Amen

Tổng Hợp từ R. Veritas

(BĐ1: Jer 1:4-5,17-19 BĐ2: 1Cor 12:31-13:13, PÂ Lc.4:21-30)

MỘT LỜI CẢNH BÁO ĐÁNG SUY TƯ

Trên tờ Records của giáo phận Perth, Australia, có đăng lời tâm sự của một cựu linh mục, một nhà thần học sau gần 20 năm trong thiên chức linh mục, nay đã hoàn tục. Bài tâm sự này là một lời cảnh báo cho tất cả chúng ta không nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện hằng ngày.

“Không có gì tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa, trong Đức Kitô. Tôi xác quyết rằng dù sống hay dù chết, dù tù đày, bắt bớ, dù khốn cùng, quẫn bách. Không có gì tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa, trong Đức Kitô”.

Tôi đã nhiều lần gân cổ, mặt đanh lại khi hát những câu hát trên.  Cứ tưởng như là chỉ cần gào to lên như vậy thì tôi sẽ đời đời sống trong lòng mến của Thiên Chúa. Thật ra, cũng không hoàn toàn là vô lý.  Thật sự, đúng là tù đày, bắt bớ, khốn cùng, quẫn bách đã không tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa.  Nhưng, đơn giản là vì những thứ ấy không xảy ra trên đất nước tự do này.  Ai dám bỏ tù tôi, ai dám kỳ thị tôi, ngược đãi tôi vì tôi là người Công giáo, tôi kiện lên họ tới Tối Cao Pháp Viện chứ chơi à.

Tuy nhiên, đã có một thứ nhẹ nhàng hơn, êm ái hơn đã không chỉ tách tôi mà thực sự là “bứng” tôi hoàn toàn khỏi lòng mến của Thiên Chúa: Một đời sống bận rộn và thiếu sự cầu nguyện.

Năm 1972, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ thần học ở Rôma, tôi đã nổi như cồn với tác phẩm đầu tay “Tiếng thở dài”.  Cuốn sách trình bày những suy tư thần học về ý nghĩa của sự đau khổ trong kiếp nhân sinh này, đã được bề trên, các linh mục và anh chị em giáo dân đón nhận nhiệt liệt.  Có những người viết thư cho tôi cho biết họ tìm lại được đức tin sau khi đọc cuốn sách đó.  Họ tìm lại được lòng trông cậy vào Chúa và khen nức nở các ý kiến của tôi.  Mỗi khi có chuyện không như ý, theo lời khuyên trong cuốn sách, họ cầu nguyện với Chúa: “Lạy Chúa, con biết Chúa hằng yêu thương con.  Con phó thác mọi sự trong tay Chúa. Nhưng, lạy Chúa, qua chuyện không vui này, Chúa muốn nói với con điều gì?”.

zzKhốn nạn thân tôi, trong khi khuyên người ta cầu nguyện, tôi càng ngày càng ít dành thời gian cho việc cầu nguyện.  Tôi miệt mài trong các thư viện, cố viết hay hơn nữa, nhiều hơn nữa.  Tôi tưởng tôi đã gặp được Chúa trong những suy tư thần học, cho nên tôi xao lãng đời sống cầu nguyện, tôi đã không thực hành chính những điều tôi nói và viết hằng ngày trên bục giảng và trong các tác phẩm của tôi.  Có lẽ, tôi đã cho rằng cầu nguyện chỉ là hình thức cấp thấp dành cho những người bình dân.  Siêu đẳng như tôi thì không cần.  Càng ngày tôi cũng càng ít có giờ cho giáo dân và càng ngày tôi càng bướng bỉnh và kiêu căng với các đấng bề trên.  Chuyện gì đến cũng đã đến.  Tôi không muốn sa vào những phân tích vụn vặt.  Điều tôi muốn nói với các bạn sau nhiều năm suy tư, sau những đêm dài không ngủ và trong sự hối tiếc chân thành của tôi là sự thật đơn giản này: Những hiểu biết sâu hơn về Thiên Chúa, nhiều hơn về Thiên Chúa không giúp giữ tôi trong lòng mến của Ngài.  Chính đời sống cầu nguyện đơn sơ mà mẹ tôi tập cho tôi từ ngày còn bé mới giữ tôi lại trong tình yêu thương của Thiên Chúa.

Chẳng vậy, mà trong Phúc âm biết bao nhiêu lần chúng ta gặp câu này: “Sau đó, Người lui vào một nơi thanh vắng mà cầu nguyện”.  Chính Chúa Con mỗi ngày còn cần đến sự cầu nguyện ở nơi thanh vắng để hiểu được ý Chúa Cha.  Chúng ta là ai, tư cách gì, mà đòi có thể biết được ý Chúa qua trí khôn, qua sự xét đoán nông cạn của mình trong cái náo nhiệt, bận rộn của cuộc sống quay cuồng chung quanh.

Chẳng vậy, tất cả các lần Đức Mẹ hiện ra, Mẹ đã không nói gì nhiều hơn là lặp lại tiếng kêu gọi khẩn cấp hãy cầu nguyện đó sao. Chúng ta cũng nhìn thấy điều này nơi các Thánh mà chúng ta hằng tôn kính.  Chính sự cầu nguyện đã giúp các Ngài nên Thánh.

Tôi đặc biệt mong muốn lặp lại ở đây những điều Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2 đã viết trong cuốn “Bước qua ngưỡng cửa hy vọng”:

Việc cầu nguyện vừa là tìm tòi Thiên Chúa, vừa là mặc khải Thiên Chúa.  Nơi việc cầu nguyện của ta, Thiên Chúa tỏ rõ Ngài là Đấng Sáng Tạo và là Cha, là Đấng Cứu Chuộc và là Chúa Cứu Thế, là Thần Khí “dò thấu mọi sự, cả đến những gì sâu xa nhất của Thiên Chúa” (1 Cr 2, 10), cũng như dò thấu những gì bí mật của tâm hồn.  Trong việc cầu nguyện, trước hết, Thiên Chúa tỏ ra Ngài là tình thương xót, nghĩa là một Tình yêu đi tới gặp con người đau khổ. Tình yêu này nâng đỡ, vực dậy và mời gọi chúng ta hãy tin tưởng”.

Trên tất cả mọi sự, tôi nhận rõ rằng chính việc thiếu một đời sống cầu nguyện đã giết chết ơn gọi Linh mục trong tôi.

*************************************

Những lời cảnh báo này thật đáng suy nghĩ.  Bao nhiêu lần tôi đi dự lễ ngày Chúa Nhật mà chỉ mong cha làm cho nhanh nhanh để tôi về còn lo làm chuyện khác.  Tôi có chuyện gì đáng lo hơn là phần rỗi linh hồn của tôi.

Tôi có một công việc rồi, còn muốn kiếm thêm một công việc nữa đến nỗi không còn có giờ cầu nguyện nữa.  Sống như điên, cày như điên như thế có phải là cuộc sống được chúc phúc không?

Đặng Tự Do

EVA, CAIN, SA-UN THỜI HIỆN ĐẠI!

Mở lại những trang đầu của sách Sáng Thế, người ta đọc và thấy những trang sách ghi lại tình cảm hết sức tốt đẹp giữa Thiên Chúa và con người.  Cứ chiều chiều, Thiên Chúa đến và đi dạo với hai ông bà trong vườn địa đàng.  Trong cuộc đi dạo ấy, ắt hẳn Thiên Chúa như người tình đến thỏ thẻ, thủ thỉ với hai ông bà và hai ông bà cũng thỏ thẻ tâm sự với Chúa.  “Mối tình đầu” trong sách Sáng Thế Ký thật nên thơ.

“Mối tình đầu” đang triển nở một cách tốt đẹp bỗng dưng con rắn dữ xuất hiện.  Nó đã gieo những lời ngon ngọt rằng khi ăn “trái ấy” vào thì ông bà sẽ bằng Thiên Chúa.  Nhưng Khi ăn vào rồi thì sự thật lại khác.  Sự thật chính là sự tan vỡ của mối tình đầu lãng mạn mà Thiên Chúa dành cho con người.  Eva muốn bằng Thiên Chúa, muốn đẩy Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời mình nên bóp nghẹt sự hiện diện và tình yêu của Thiên Chúa bằng hành động hái trái cấm.

zzTưởng chừng kinh nghiệm của hai ông bà nguyên tổ sẽ là kinh nghiệm quý báu cho con cháu.  Nhưng không, trường hợp hai đứa con đầu lòng của ông bà đã đi theo vết xe cũ của cha mẹ.  Không đơn giản như hai ông bà mà Cain đã cam tâm giết em mình là Aben.  Cain và Aben là hai anh em ruột thịt hằng ngày vẫn yêu mến, hoà thuận với nhau.  Thế rồi, sau khi thu hoạch hoa màu lợi tức, hai anh em cùng nhau dâng của lễ đầu mùa lên Thiên Chúa.  Thiên Chúa nhận lễ vật của Aben mà từ khước lễ vật của Cain.  Thế là từ đó, trong Cain phát sinh lòng ghen tỵ.  Lòng ghen tị lớn dần lấn át cả tình anh em ruột thịt khiến Cain dụ em ra đồng và xông vào đánh chết em mình.  Chính lòng ghen tị trong tâm hồn Cain là nguyên nhân chính xui khiến anh giết chết Aben.

Một trường hợp tương tự khác là vua Sa-un và Đavít.

Thời ấy, Gô-li-át, một kiện tướng của quân Philitinh, một người khổng lồ có sức mạnh vô địch, khiêu chiến với quân Ít-ra-en.  Trong hàng ngũ quân Ít- ra-en, không ai dám đương đầu với tên khổng lồ ấy.  May thay, Đa-vít xuất hiện kịp thời.  Cậu dùng ná bắn lủng trán Gô-li-át, rồi dùng chính gươm của y mà chặt đầu y.  Quân Ít-ra-en thừa thắng xông lên như nước vỡ bờ, đánh tan quân địch không còn manh giáp.  Sau đó, phụ nữ từ các thành Ít-ra-en tuôn ra các ngã đường chào mừng vua Sa-un chiến thắng và ca tụng Đa-vít như vị anh hùng kiệt xuất: “Vua Sa-un giết được một ngàn, còn Đa-vít giết được hàng vạn” (I Sm 18, 6-8).  Lời ca tụng đó làm cho lòng ghen tị sục sôi trong lòng vua Sa-un.  Nhà vua tìm mọi cách tiêu diệt Đa-vít và cuối cùng đem quân truy lùng tận những hang núi sâu, mưu toan tiêu diệt vị anh hùng tài năng và dũng cảm này.

Eva, Cain, Sa-un vẫn vịn vào cái lý cái lẽ ác tâm sẵn có trong lòng mình để hại người công chính.   Eva, Cain, Sa-un chỉ đăm đăm vào cái tôi của mình, vào lợi danh của mình mà quên đi tình Chúa – tình người.

Những bài học về Eva, Cain, Sa-un lẽ ra là bài học quý báu cho con người, nhưng ngày nay vẫn nổi lên quá nhiều khuôn mặt của Eva, Cain và Sa-un.  Điều đáng tiếc là dẫu cho có nhiều tiếng kêu ai oán về hành động giết người, nhưng ngày nay vẫn có quá nhiều khuôn mặt Eva, Cain và Sa-un thời hiện đại.  Eva, Cain và Sa-un vẫn cứ giả điếc làm ngơ để mặc cho sự dữ tiếp diễn để thoả mãn dục vọng đen tối của mình.

Giả như Thiên Chúa xa lạ để Eva hành xử như thế thì cũng chẳng có gì để bàn nhưng Thiên Chúa đã yêu thương hai ông bà hết mực.

Giả như Cain và Eben là người dưng nước lã để Cain giết Aben thì nhẹ tôi nhưng đàng này lại là anh em cùng cha cùng mẹ.  Cain và Aben đã hơn một lần ăn chung, uống chung, ngủ chung và thậm chí bú chung dòng sữa mẹ nhưng Cain đã quên đi mối tình ruột thịt ấy.

Sa-un và Đavit cũng vậy.  Cả hai như là người một nhà vì sau khi thắng trận Sa-un đã gả con gái lớn của vua cho Đavit.  Như một nhà, ấy vậy mà Sa-un đã ra tay sát hại Đavit.

Đứng trước sự ác, sự dữ lan tràn mặt đất như thế này chắc có lẽ không còn con đường nào khác là con đường lặng thinh và cầu nguyện.  Tiếng kêu ai oán về tình Chúa – tình người, về lòng nhân hình như cứ như vô vọng trước những con người như Eva, Cain và Sa-un thời hiện đại.

Có thể ngày hôm nay người ta thiếu đời sống cầu nguyện, thiếu đời sống kết hợp mật thiết với Chúa nên sự ác và sự dữ hoành hành một cách khốc liệt như thế này!  Cố lên và cố lên!  Thêm một lời cầu nguyện cho Eva, cho Cain và cho Sa-un thời hiện đại.  Biết đâu Chúa Thánh Thần sẽ biến đổi lòng của những Eva, Cain và Sa-un thời hiện đại.

Thanh Tâm

NĂM HỒNG ÂN

Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4:18-19).

***

ZZBạn thân mến! Trên đây là tiếng nói vang vọng của Đức Giêsu khi Ngài đọc sách Thánh trong hội đường Do Thái tại Nadarét. Trong chuyến trở về thăm lại quê hương xứ sở, nơi mà Ngài đã sống 30 năm trong thân phận con người.  Làm sao Ngài quên được mảnh đất làng quê đã ấp ủ mình, nơi có bà con họ hàng, láng giềng, bè bạn.  Hơn nữa Ngài cũng không cắt đứt với tôn giáo của cha ông.  Ngài vẫn là một người Do Thái ngoan đạo, quen lui tới hội đường cùng với dân làng vào ngày sa-bát, để thờ phượng Thiên Chúa mà Ngài âu yếm gọi là Cha.

Sau khi đọc xong sách Thánh, Ngài ngồi xuống và giải thích Lời Chúa cho mọi người.  Cử chỉ của Ngài thật trang trọng, đĩnh đạc, khi nhận sách, mở sách, cũng như khi cuộn sách để trả lại. Có một bầu khí cầu nguyện sâu lắng ở hội đường.  Mọi người đều chăm chú nghe lời Ngài giảng.

Ðoạn sách Ngài đọc hôm ấy là của ngôn sứ Isaia. Isaia đã nói lên ơn gọi và sứ mạng của mình. Ông được xức dầu để trở thành ngôn sứ cho những người Do Thái mới thoát khỏi cảnh lưu đày.  Ông được sai đi để loan báo thời cùng khốn đã chấm dứt và công bố khai mở một thời kỳ đầy ân sủng và tự do. Ðức Giêsu đã bị đánh động bởi đoạn sách này. Vì thế Ngài mới lên tiếng nói với dân chúng: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lc.4.21 Ngài thấy đoạn sách phản ánh chính ơn gọi và sứ mạng của mình. Ðây là một hướng đi mà Ngài phải theo đuổi, một chương trình hành động mà Ngài muốn hoàn thành.  Suốt đời Ngài sẽ thực hành chương trình này.). Vì thế đoạn sách Isaia ứng nghiệm vừa do thánh ý Chúa Cha vừa do ý chí của Chúa Giêsu quyết tâm thực hành thánh ý Chúa Cha.

Ðức Giêsu là người đầy tràn Thánh Thần cách đặc biệt. Thánh Thần chi phối toàn bộ lời nói, việc làm của Ngài. Ngài được sai đi đem Tin Mừng cho người nghèo, nghèo tiền bạc, nghèo sức khỏe, nghèo tiếng nói. Ngài được sai đến với những kẻ bị giam cầm bởi nỗi lo sợ, bởi thành kiến, bởi ích kỷ tham lam. Ngài cho người mù được sáng mắt và nhìn thấy trong niềm tin.  Ngài trả lại tự do cho cả người bị áp bức lẫn người gây áp bức bóc lột.  Ngài mời gọi cả hai sống thanh thoát như Ngài, sống như con của Cha và như là anh em của nhau. Ngài khai mạc một Năm Thánh, Năm Hồng Ân Ơn Cứu Độ.

***

Lạy Chúa Thánh Thần!  Xin cho con nhận ra sự hiện diện của Ngài giữa lòng thế giới và trong lòng mọi người xung quanh con. Xin cho  con luôn tìm đến với anh chị em của con hơn là tìm an nhàn cho chính bản thân mình, để nhờ biết quan tâm cho người chung quanh, con cũng sẽ được vui hưởng niềm vui Ơn Cứu Độ và lãnh nhận hồng phúc của năm Hồng Ân mà Thiên Chúa đã hứa ban. Amen.

(Tổng hợp từ R. Veritas)

(BĐ1: Nêhêmya 8,1-4a.5-6.8-10; BĐ2:1Côrintô 12,12-30; PÂ: Luca 1,1-4; 4,14)

 

NHIÊN LIỆU

Nó tự thấy rằng khi muốn cho chiếc xe gắn máy có thể chuyển bánh để đưa Nó đi đây đi đó thì phải cần có nhiên liệu.  Nhiên liệu đó có thể là xăng, cũng có thể là dầu, điện hay một nguồn năng lượng nào đó.  Nghĩ đến đây Nó bỗng thắc mắc với lòng mình, vậy nhiên liệu để hằng ngày Nó có thể sống và hoạt động là gì?  Liệu có phải là cơm là bánh hay không?

Nhu cầu ăn uống tuy là nhu cầu căn bản của con người, nhưng Nó nghĩ đó không phải là tất cả nhu cầu của cuộc sống con người.  Nếu chỉ sống dựa trên lương thực là cơm, là bánh, thì cuộc sống có nhàm chán hay không?  Vậy cái gì mới là nguồn nhiên liệu chính để nuôi sống con người – Nó tự hỏi như thế.  Và rồi, lại một lần nữa Nó đi tìm lời giải đáp trong Kinh Thánh.

zz

  1. Nó bắt gặp câu Kinh Thánh trong Tin Mừng Matthêu:

“Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh,
Nhưng còn nhờ mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4, 4).

Nó thiết nghĩ sống lời của Chúa là sống trọn vẹn tình yêu thương, giống như mẫu gương mà chính Chúa Giê-su đã sống, Ngài đã yêu thương đến cùng – yêu thương không khước từ cả cái chết.  Chính lúc yêu thương anh em, những người mà Nó đang sống cùng và sống với, thì Nó mới tìm ra ý nghĩa của đời mình.  Yêu thương mới chính là nguồn lương thực nuôi dưỡng cho trái tim Nó triển nở hơn.

  1. Đi thêm một đoạn, Nó cảm thấy ấm lòng hơn, yên tâm hơn với lời mời gọi của Chúa như đang tha thiết vẫy gọi Nó đến bên Ngài, để dìm mình vào trái tim Ngài mà kín múc ân sủng như lương thực nuôi dưỡng tinh thần Nó sau những ngày sống và làm việc mệt mỏi.

     Chúa mời Nó:“Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề,
     hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11, 28).

Trong cuộc sống hàng ngày của Nó cũng có khi nó mệt mỏi, nhọc nhằn, bất lực giống như một cỗ máy không thể khởi chạy vì không còn chút nhiên liệu nào nữa.  Những lúc ấy Nó muốn buông xuôi tất cả, theo kiểu nói của Đại thi hào Nguyễn Du: “Thử xem Con Tạo xoay vần đến đâu”.  Nếu như cỗ máy cần phải dừng ở một cây xăng-dầu để tiếp thêm nhiên liệu cho những chặng đường trước mắt.  Nó thiết nghĩ, trong cuộc lữ hành của đời mình, Nó cũng cần dừng lại để nép mình vào trong trái tim của Chúa Giê-su để nghỉ ngơi với Thiên Chúa của lòng Nó.  Để rồi, những giây phút đó Ngài sẽ tiếp thêm nhựa sống, tiếp thêm nhiên liệu cho những hành trình kế tiếp của đời Nó.  Nghĩ đến đây Nó thấy mình thật hạnh phúc khi Nó có Thiên Chúa – là nguồn ẩn sủng không bao giờ cạn của đời mình.

DomStone

…Vào một buổi nọ, khi vừa viếng Mình Thánh Chúa xong, bước ra đến ngoài cửa có người bạn hỏi Nó: “Vào đó thấy gì không?”
Nghe câu hỏi của người bạn, rồi Nó bỗng nghĩ như vậy đấy….