NGƯỜI CHA NHÂN HẬU

Gói quà không được mở.  Ðó là tựa đề của một câu chuyện ngắn có nội dung như sau:

Một chàng thanh niên nọ, do xích mích với người cha, quyết tâm không bao giờ trở về nhà nữa. Nhưng cuối cùng do lời nài nỉ của người mẹ, người con cũng đành trở về nhà với mọi người trong gia đình.  Từ lâu hai cha con giận nhau cũng vì chuyện chia gia tài.  Người cha có chương trình và sự sắp xếp mà người con không hiểu được.  Ông đau khổ vô cùng vì chuyện người con bỏ nhà ra đi.  Ông chỉ mong người con mở miệng xin lỗi, ông sẽ để lại gia tài cho anh tức khắc.  Nhưng vì tự ái, người con quyết giữ im lặng.

Mỗi dịp lễ của gia đình, mọi người trong gia đình có thói quen trao quà cho nhau.  Khi đến lúc mở các gói quà, người cha đã đặt vào đó tất cả tình thương của ông.  Người con tưởng đây cũng chỉ là cái cà vạt mà ông tặng lấy lệ như hằng năm mà thôi.  Bởi vậy anh chẳng thèm mở ra xem.  Cầm lấy quà, anh đi về phòng riêng của mình.

Sau khi mọi người trong nhà đều đi ngủ, người thanh niên không thể nào chợp mắt được.  Anh ngồi lặng lẽ nhìn gói quà duy nhất của anh chưa được mở.  Chợt như có ánh mắt của người cha nhìn anh, không kháng cự được nữa, chàng thanh niên mở gói quà ra.  Không phải là một cái cà vạt hay một món quà nào như trước đây cha anh thường gởi tặng chiếu lệ mỗi khi có độ lễ của gia đình đến, mà chính là tất cả cái tài sản mà từ lâu anh hằng mong có được trong tay.  Người thanh niên chạy thẳng vào phòng người cha, nước mắt ràn rụa, anh ôm lấy cổ người cha và thổn thức:

– Cha ơi!  Cha đã đi bước trước.  Con tưởng sẽ không bao giờ làm hòa với cha.  Xin cha tha cho con. Con rất thương cha.

***********************************

zzQuý vị và các bạn thân mến.

Hình ảnh người cha trong câu chuyện trên đây hẳn gợi lên cho chúng ta câu chuyện về người cha của mọi người chúng ta và nhất là câu chuyện của người cha trong bài dụ ngôn về người con hoang đàng được ghi lại trong Tin Mừng theo thánh Luca.  Hình ảnh của người cha được Chúa Giêsu mượn để nói lên lòng nhân từ của Thiên Chúa Cha hẳn không phải là một hình ảnh phi thường.  Chúng ta vẫn biết được hình ảnh của người cha như thế.

Biết bao nhiêu người cha đã đi bước trước để hòa giải với con cái mình.

Biết bao nhiêu người cha sẵn sàng quên hết những lỗi lầm của con cái mình.

Biết bao nhiêu người cha đã hy sinh cả một đời miễn là con cái của mình được nên người.

Với Thiên Chúa cũng thế, Ngài là Ðấng ban mọi ơn lành.  Ngài là một người Cha nhân từ của chúng ta.  Ðiều đó có nghĩa là chính qua những tình cảm tự nhiên của con người mà chúng ta hiểu được tình yêu của Thiên Chúa.  Có là cha là mẹ, con người mới cảm nghiệm thế nào là tình yêu của Thiên Chúa. Có cảm nhận được tình yêu của cha mẹ, con người mới cảm nhận được thế nào là tình yêu của Thiên Chúa.  Có sống quảng đại yêu thương, con người mới cảm nhận được Thiên Chúa yêu thương con người như thế nào.  Chính qua những tình yêu con người san sẻ cho nhau mà tình yêu của Thiên Chúa được tỏ lộ.  Chính qua chứng từ yêu thương của con người mà người xung quanh cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa.

Trong cuộc sống mỗi ngày, chúng ta không ngừng được thôi thúc để quay trở về với Chúa.  Người đang có đó như người Cha đang chờ đợi chúng ta trong từng giây từng phút.  Người luôn giang rộng cánh tay để ôm ấp, vỗ về, yêu thương và tha thứ cho chúng ta.

Chúng ta đang sống trong thế kỷ 21, một kỷ nguyên mới đang đến với chúng ta.  Giáo hội mời gọi chúng ta suy nghĩ và đào sâu tình yêu của Thiên Chúa Cha.  Thánh Gioan đã viết như sau: Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Người cho thế gian.  Qua con người của Chúa Giêsu, chúng ta nhận ra tình yêu của Thiên Chúa Cha.  Ngày nay cũng qua cuộc sống và cách cư xử của con người mà con người cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa Cha.  Ðây phải là niềm xác tín của chúng ta trong kỷ nguyên mới này.

***********************************

Lạy Thiên Chúa Cha nhân từ. Qua những tình cảm giữa cha mẹ và con cái trần gian mà Thiên Chúa phú bẩm.  Xin cho chúng con cũng cảm nhận được tình yêu vô biên của Thiên Chúa Cha.  Và giúp cho những ai chúng con san sẻ tình yêu thương cũng cảm nhận được chính tình yêu của Chúa.  Amen!

R. Veritas

 

TRỞ VỀ

zzNgười cha không đi tìm đứa con út như tìm chiên lạc.

Nó đã dùng tự do để quyết định ra đi, và người cha tôn trọng quyết định đó.  Nhưng ông vẫn ngong ngóng chờ con.

Niềm hy vọng vẫn không ngừng nhen nhúm.

Người cha thấy con trước khi nó kịp thấy cha.  Con ốm yếu, hôi hám, bội bạc, chẳng làm cha xa tránh.

Tình thương trào dâng khiến bước chân cha vội vã.  Vòng tay cha lớn quá, nụ hôn cha nồng nàn.

Áo đẹp, dép mới, nhẫn đeo tay, ca nhạc, tiệc tùng, múa nhảy: tất cả chỉ để thông báo cho mọi người biết rằng đây là con tôi, vẫn là con vì chưa bao giờ không là con.

Nhưng người cha không chỉ thương con út.  Con cả mới là đích nhắm của câu chuyện này.

Anh quá hiếu thảo, quá vâng phục cha từng li từng tí.  Anh không đi hoang, không ăn chơi, chỉ chăm lo đồng áng.  Ai cũng thấy anh là người con mẫu mực.

Nhưng biến cố đứa em trở về đã làm lộ con người thật của anh.

Tuy luôn ở trong nhà cha, nhưng anh lại ở ngoài tim cha.  Anh không hiểu được tại sao cha lại nhu nhược đến thế, bao dung đến độ bất công với anh.  Đãi tiệc với thịt bê béo để mừng đứa con hoang đàng, còn anh, một con dê để lai rai với bạn bè cũng không có. Anh không thể vui với cha, càng không thể vui với em.  Anh tức giận vì thấy quyền lợi mình bị xâm phạm.  Rốt cuộc anh không chịu vào nhà!

Hoá ra cả hai người con vừa khác, lại vừa rất giống nhau.  Cả hai đều ở ngoài nhà cha, chấp nhận chịu đói.

Con út không thấy hạnh phúc bên cha nên ra đi.  Con cả không chia sẻ được hạnh phúc của cha nên không vào.

Sám hối là trở về với tình cha.  Cả hai người con đều cần trở về, trở vào.

Sám hối là trở lại với tình yêu, niềm vui, sự sống.

Nhưng trở về chẳng phải là chuyện dễ dàng.

Chẳng ai muốn nhận là mình đã đi lầm đường.  Người anh cả cần dẹp bỏ tự ái để vui vẻ vào nhà. Người em út cần khiêm tốn mới gặp cha và gia nhân trong tình trạng thân tàn ma dại.

Để trở về cần đứng lên hay bỏ chỗ mình đang đứng.

Từ bỏ thì đớn đau nhưng hạnh phúc thật tuyệt vời.

Hạnh phúc lớn nhất không phải là tài sản vật chất, mà là khám phá ra mình có chỗ trong trái tim cha. Cha yêu mình dù mình hư hỏng, bất trung.  Cha yêu mình không phải vì mình ngoan ngoãn, được việc. Cha yêu mình chỉ vì mình là con.  Cha không muốn mất một đứa con nào.

Trở về với Cha đòi ta giang tay đón lấy người em.  Đó không phải là “thằng con của cha”, nhưng là “em của con”.

Trở về với Cha, với tha nhân cũng là trở về với mình.  Tôi chợt nhận ra mình quá ư giàu có.

***************************************

Lạy Cha, người con thứ đã muốn tự định đoạt lấy đời mình.  Chúng con vẫn rơi vào tội của người con thứ, khi coi Cha như người cản trở hạnh phúc của chúng con.  Chúng con thèm được tự do bay nhảy ngoài vòng tay của Cha; nhưng tự do ấy lại biến chúng con thành nô lệ.  Hạnh phúc do thế gian ban tặng thì bọt bèo.  Như người con thứ, chúng con bỗng thấy mình tay trắng, rơi xuống chỗ cùng cực và bị cái chết đe doạ.

Lạy Cha đầy lòng bao dung, xin kéo chúng con trở về với Cha mỗi ngày, giúp chúng con điều chỉnh những đam mê lệch lạc.  Xin nâng chúng con đứng lên trong niềm vui vì tin rằng tình Cha lớn hơn tội chúng con vạn bội.  Ước gì những vấp ngã khiến chúng con lớn lên, thấy mình mong manh, thấy Cha rộng lượng.  Ước gì sau mỗi lần được Cha tha thứ, chúng con lại thấy mình hiền hoà hơn với tha nhân.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J. – Trích trong ‘Manna’

CHẶNG ĐƯỜNG

zzChặng đường anh đã đi
Nơi đó anh đã đến
Chặng đường tôi đang đi
Mong luôn đi cùng Ngài

Tất cả đều là những chặng đường mà mỗi người chúng ta phải trải qua, các Thánh nam nữ của Ngài đã đi và đã đến, và các Thánh vẫn tiếp tục dìu dắt chúng ta đi quãng đường còn lại với Ngài và trong Ngài.  Con đường duy nhất dẫn chúng ta đến nơi chúng ta mong mỏi đến là qua Chúa Giêsu.  Có ai đi quãng đường đời có nhiều ngóc nghách mà không bị lạc bao giờ?  Có ai mà đi qua đoạn đường có nhiều thú vui mà lại không muốn dừng chân?  Có lẽ phần đông chúng ta cũng đang đi con đường như người phụ nữ thành Samari, và mong muốn được đến nơi mà cô đã đến.

Câu chuyện của người phụ nữ thành Samari là câu chuyện đi tìm Đấng Sinh Thành của mỗi một người chúng ta, vì chỉ trong Đấng Sinh Thành chúng ta mới tìm được cội nguồn thật, và chỉ có nơi đó chúng ta mới thật sự tìm được chính mình.  Hành trình đi tìm của mỗi người khác nhau, và chỉ có trong sự tĩnh lặng riêng tư của tâm hồn, chúng ta mới biết được mình đã gặp được Đấng đó chưa, và nếu đã gặp rồi chúng ta đang có ở trong Ngài không.  Chặng đường này là chặng đường của mỗi người, dầu là của những cụ già tóc bạc, hay là của các em mới lớn lên, dầu là người đã lập gia đình, hay là đang sống độc thân, hay trong bậc tu trì, tất cả chúng ta cần phải đi chặng đường này với Ngài.  Nếu ai trong chúng ta sống gần gũi với Ngài và để cho Ngài dìu dắt thì Ngài sẽ dẫn chúng ta vào bậc sống mà Ngài chọn cho mỗi một người chúng ta, bậc sống nào cũng ở trong Ngài và bậc sống nào cũng thánh thiện và tốt đẹp.  Và trong mỗi bậc sống, chúng ta tiếp tục đồng hành với Ngài, không phải chỉ một vài ngày nhưng đi với Ngài mọi ngày trong suốt con đường còn lại của ta, vì khoảnh khắc nào chúng ta đi ra khỏi Ngài, chính lúc đó chúng ta đã lạc lối.

Người phụ nữ thành Samari cũng đã trải qua chặng đường tìm kiếm.  Mỗi đời chồng là mỗi lần tìm kiếm.  Cứ mỗi một đời chồng đi qua có lẽ sự tìm kiếm của cô khẩn trương và sâu xa hơn, và chắc cũng đã nhiều lần cô cảm thấy tuyệt vọng vì sau những lần tưởng mình đã tìm được nhưng sao tâm hồn vẫn thấy còn trống vắng.  Thế nhưng cô đã không bỏ cuộc và vẫn cứ đi tìm.  Có lẽ tâm hồn của cô thôi thúc cô tiếp tục đi tìm vì nó mong muốn được gặp Đấng Sinh Thành.  Những tìm kiếm mà người phụ nữ này đã trải qua không xa lạ gì với chúng ta.  Có người cũng giống như cô và đã đi tìm kiếm trong tình người.  Có người đi tìm trong tiền tài danh vọng.  Có kẻ đi tìm qua những chai rượu.  Có người mải mê trong những vật trang sức và đồ hiệu mắc tiền, và có kẻ đi tìm trong sự hiểu biết trí tuệ.  Đã biết bao nhiêu lần chúng ta đi tìm Đấng Sinh Thành không phải ở chính nơi Ngài nhưng ở những thụ tạo của Ngài.

Cũng vì muốn được thoả mãn những ao ước bên trong, người phụ nữ thành Samari chẳng ngại cái nắng gắt của buổi trưa ở miền sa mạc, và đã lên đường đi tìm một cái gì đó mà tâm hồn của cô luôn khát khao.  Có lẽ Gioan đã mượn hình ảnh “mười hai giờ trưa” để nói lên sự khát khao tột đỉnh của cô, và vì không thể chần chờ được nữa, cô đã ra đi.  Cô đi đến nơi mà tổ phụ Gia-cóp đã từng đến, uống nước mà tổ phụ của cô đã từng uống, và mong sao bên bờ giếng và trong giòng nước này cô tìm kiếm được một chút cội nguồn mà tâm hồn của cô hằng khắc khoải mong chờ.  Chính bên bờ giếng này, cô đã gặp được Đấng Sinh Thành của cô, của tổ phụ Gia-cóp, và của mọi loài tạo vật.  Ngài đã ở đó chờ cô.  Một cuộc đối thoại giữa Ngài và cô đã xảy ra, và Ngài là người khởi đầu câu chuyện .  Thoạt đầu, cô đã có những dị nghị và thắc mắc, nhưng Chúa Giêsu đã ôn tồn nhẫn nại giúp cô nhận ra Ngài là ai, và dạy cho cô con đường dẫn đến sự thật, “Nhưng giờ đã đến –và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế.  Thiên Chúa là thần khí và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật” (Jn 4:23-24).

Con đường đi tìm Đấng Sinh Thành là vậy đó, cũng có lúc tâm hồn chúng ta cũng nóng bỏng lên vì sự trống vắng khi chưa tìm được cội nguồn, khi chúng ta còn lang thang bên những thụ tạo của Ngài.  Trong những lúc trống vắng nóng bỏng của tâm hồn, chúng ta hãy đến với Ngài trong tâm tình của một người đang đi tìm kiếm, và thưa với Ngài những khao khát trong tâm hồn của chúng ta.  Chúng ta hãy khiêm nhường đến với Ngài trong Bí Tích Thánh Thể vì đó là cội nguồn của chúng ta.  Ngài luôn ở đó chờ ta, và trong tình yêu thương của một người Cha, Ngài cũng sẽ khởi đầu câu chuyện và dẫn ta về với Ngài.  Như người phụ nữ thành Samari, chúng ta cũng sẽ có những lo âu dị nghị khi cuộc sống của chúng ta thay đổi.  Chúng ta cũng sẽ có những thắc mắc khi cái nhìn và đường lối của Ngài khác với cái nhìn của ta và những gì chúng ta thường làm, và có lẽ cũng như người phụ nữ kia, chúng ta cũng lắm lúc dám thách thức Ngài khi chúng ta chưa hiểu con đường Ngài dẫn chúng ta đi.  Khi đó Ngài cũng sẽ ôn tồn kiên nhẫn dạy cho chúng ta biết Ngài là Đấng Sinh Thành, và Ngài chắc cũng chẳng ngại về những thách thức của ta, vì qua những thắc mắc và thách thức Ngài dạy cho ta biết rõ ta là ai và Ngài là ai.  Khi gặp được Ngài chúng ta sẽ tìm được cội nguồn, và khi chúng ta luôn ở trong Ngài, tâm hồn chúng ta sẽ không còn nóng bỏng lên vì sự trống vắng nữa.  Khi “giờ đã đến,” Ngài cũng sẽ dạy cho chúng ta thờ phượng Ngài trong ánh sáng và sự thật, trong yêu thương đồng loại và sự khiêm nhường của loài thụ tạo.

Trong cuộc đối thoại giữa Ngài và người phụ nữ, Chúa Giêsu đã nhắc lại hành trình đi tìm kiếm của cô, những khắc khoải mà cô đã phải chịu trong bao năm và người phụ nữ đã nhận ra Ngài là Đấng Kitô.  Đây là giây phút huyền nhiệm khi tâm hồn của cô cảm nhận được sự cảm thông của một người Cha luôn dõi theo con cái của Ngài.  Không phải Ngài đã biết được những gì đã xảy ra trong đời của cô vì Ngài là một đấng tiên tri như cô đã hiểu lúc ban đầu, nhưng Ngài biết vì trong đời của cô luôn có sự hiện diện của Đấng Sinh Thành.  Cũng vậy, mỗi bước hành trình của ta đều có Ngài.  Ngài luôn bước đi bên ta trong âm thầm và chờ đợi sự trở về của ta với Ngài.  Đã bao nhiêu lần trong đời ta, Ngài đã đến và chạm vào bờ vai và ta đã nhún vai phủ nhận sự hiện diện của Ngài và rồi tiếp tục đi con đường ta đang đi mặc cho những thôi thúc khắc khoải trong tâm hồn?  Dầu chúng ta có đối xử lạnh nhạt với Ngài thế nào đi nữa, Ngài luôn ở bên ta vì “Ngài không thể nào chối bỏ chính mình” (2Tm 2:13).  Làm sao Ngài có thể bỏ ta được khi ta mang lấy hình ảnh của chính Ngài và sức sống của ta chính là sức sống của Ngài?

Mùa Chay là mùa Giáo Hội nhắc nhở mỗi một người chúng ta bất kỳ đang ở trong bậc sống nào biết nhìn lại chặng đường của mình đang đi và xem xét lại đã bao lần Ngài đã đến và chạm lấy bờ vai ta nhưng ta vẫn làm ngơ hoặc biết nhưng vẫn chối từ.  Có lẽ đây là dịp chúng ta ngồi lại với chính mình trong cõi riêng tư và xin Ngài cho chúng ta được một lần gặp gỡ Ngài như Ngài đã cho người phụ nữ thành Samari gặp gỡ Ngài bên bờ giếng, để rồi mỗi một người chúng ta cũng sẽ chứng kiến được giây phút huyền nhiệm khi tâm hồn ta gặp được Đấng Sinh Thành, và chúng ta sẽ trở nên những người thờ phượng Thiên Chúa Cha đích thực như tâm hồn chúng ta hằng mong muốn.

Củ Khoai 3/2013

HẠT BỤI MÙA CHAY

zzMùa Chay khởi đi với thứ Tư Lễ Tro, người người tín hữu trên khắp năm châu cúi đầu nhận hình thánh giá bằng dấu tro ghi trên trán. Mùa Chay cũng nhắc nhở người tín hữu, dưới lăng kính màu tím, thân phận tro than của con người, có đó rồi mất đó, tương tự như hoa Quỳnh Hương khuya nở sớm tàn. Nhưng nhìn dưới lăng kính màu hồng, Mùa Chay cũng gợi nhớ mối liên hệ phụ mẫu tử giữa trời cao và đất thấp, bởi vì “Chúa ơi, con chẳng là chi, chỉ là hạt bụi, mà sao Chúa lại yêu con vô cùng?”. Mùa Chay, hơn thế nữa, kêu gọi người tín hữu bóc lột miếng vỏ cũ, khoác vào tấm áo mới, một dạng thay đổi, một cuộc đổi thay để thôi không làm trứng, làm sâu, làm nhộng, nhưng vươn mình triển nở hóa ra cánh bướm tô thêm đậm đặc màu xanh thiên đàng ngay trên cõi trần gian.

Những hạt bụi tro của Mùa Chay ghi trên trán có thể được ví với những vị thuốc diệu kỳ có khả năng chữa trị những căn bệnh của nhân loại. Từ những thời kỳ đầu tiên khi trái đất cất tiếng khóc oe oe chào đời, kéo xuống tới ngày người ta chà đạp đá sỏi kinh thành kéo vào Vườn Cây Dầu trói chặt Đức Giêsu mang đi, cho tới những ngày tháng của bây giờ và hôm nay, đã bao nhiêu bàn chân bước đạp giẫm lên trên mặt đất đen của trái địa cầu, đã bao nhiêu linh hồn từng ghé xuống cõi trần rong chơi một khoảng, đã bao nhiêu hình hài nghiêng đổ bóng dài xuống cõi nhân gian? Ai ngồi tính toán cho ra? Cuộc sống tiếp tục xoay vần, Sinh! Bệnh! Lão! Tử! Con người nhịp nhàng xoay tròn quỹ đạo trăm năm. Tiếp nối trăm năm vẫn chưa là gì ngoại trừ tro bụi. Trong vòng quay cuốn hút của sinh, bệnh, lão, tử, người người vẫn cứ thường thường quên đi là một ngày sẽ tới, khi đó tôi sẽ hóa ra tro bụi của hình hài nguyên thủy mà tôi đang mang trên vầng trán vào ngày thứ Tư của Mùa Chay. Khi nhớ lại thân phận con người là hữu hạn, là tro bụi, tôi sẽ bớt, thôi, không khóc lóc, hoặc là bớt, thôi, không than thở, hoặc là bớt, thôi, không khó chịu với cuộc đời, những khi phiền toái của cuộc sống đè nặng trên đôi vai nhỏ bé của tôi. Khi nhận ra cuộc sống đang được đếm từng ngày từng tháng, cho nên một giây không nên bỏ phí, một phút chớ nên lãng quên, tôi sẽ dễ dàng gạt bỏ đi, bớt, thôi, không dõi nhìn những lăng kiếng khá tiêu cực của thường tình nhân gian.

Những hạt bụi màu đen của Mùa Chay cũng nhắc nhở tôi về liên hệ phụ mẫu tử của thiên đàng và trần gian. Thiên Chúa biết tôi là hạt cát, hạt bụi, thế mà tại sao Ngài lại yêu hạt cát, hạt bụi là tôi đến thế nhỉ? Đã bao nhiêu lần khi tôi bước chân lên bãi cát dài vô tận của đại dương, bao nhiêu hạt cát đã lọt qua những kẽ chân hoặc bị tôi dẵm dí, chà đạp lên trên, nhưng có hạt cát nào đủ sức mời gọi tôi dừng bước kiên nhẫn cúi nhìn tìm kiếm sắc hình? Đã bao nhiêu lần khi tôi bước dẵm đạp lên trên những hạt bụi của sàn nhà, hạt bụi nào đủ ma lực kêu mời để tôi cúi xuống phân biệt bụi này bụi đỏ, bụi kia bụi tro? Hạt bụi nào? Chẳng có hạt bụi nào cả. Thế mà thiên đàng xa thẳm vẫn cứ tiếp tục từ trên trời cao vén mây kiếm tìm hạt bụi lạc loài trên trần gian là tôi. Đã từ bao lâu nay, vĩnh hằng vĩnh cửu vẫn cứ loay hoay đi ra đi vô than ngắn thở dài bên song cửa, bởi vì Phụ Mẫu thiên đàng vẫn chưa nhìn thấy bóng dáng hạt bụi trần gian quay về nơi căn nhà xưa. Lạ nhỉ? Hay ghê? Nhìn tôi trong kiếng, ngắm mình trong gương, tôi vẫn thấy mình nguyên vẹn hình hài của một hạt cát, hạt bụi. “Thế mà vĩnh hằng thiên đàng ơi, con vẫn không hiểu tại sao Ngài lại yêu con đến như thế?”.

Mùa Chay cũng gợi lại trong tôi nhạc phẩm, “Kìa con bướm vàng, xòe đôi cánh” của một thời ấu thơ. Đã có một thời của lớp Mẫu Giáo, lớp Một, tôi mê nhìn những cánh bướm màu sắc rực rỡ bay lượn trên những cánh đồng. Vào một khoảng của thơ ấu, đã biết bao lần tôi mơ làm bướm vàng bay xa bay cao vào trong bầu trời rực rỡ. Thời của ngây thơ đơn giản hóa vấn đề không bao giờ đặt trong tôi câu hỏi về mối tương quan và sợi giây liên hệ giữa trái trứng lốm đốm trên mặt lá xanh với con sâu lông lá xấu ơi là xấu, với con nhộng nằm chết héo khô lặng lẽ treo trên nhánh cây, và với chú bướm vàng đẹp đẽ bay lượn trong bầu trời. Thơ ấu trôi xa vào quá khứ để lại giọng khàn vỡ đục của tuổi bắt đầu làm người lớn cho tôi lại thêm một lần nữa hiểu biết và kinh nghiệm về đổi thay của trứng bướm, của con sâu, của con nhộng, và của con bướm. Nếu không thay đổi, tôi sẽ tiếp tục nằm chết trong quả trứng bướm, một quả trứng hư, trứng ung, trứng thối. Nếu tôi đổi thay chuyển động lắc mình, mầm trứng nhúc nhích biến hình đổi dạng, khiến tôi nứt vỏ trứng, mở mắt ngỡ ngàng hé nhìn thế gian. Nhưng thay đổi từ trứng sang sâu vẫn chưa đủ, bởi nếu tôi vỡ trứng hóa ra con sâu lông lá xấu xí, khắp cùng thiên hạ đều sẽ gớm ghét, tránh xa khi họ đối diện tôi. Mà có quý chi một kiếp sâu, bởi con sâu cũng chỉ làm tôi nổi bật hóa ra mồi thơm cho chim trời bay lượn trên không dừng lại một nhịp cánh, bay xuống nuốt trôi tôi vào vực thẳm tối tăm. Là con sâu, tôi cũng chỉ tiếp tục cong người trườn bò đi dưới mặt đất. Nếu thiên hạ giơ chân đạp xuống, thế là thân phận con sâu cái kiến biến dạng trên mặt đất. Nhưng thay đổi từ sâu sang nhộng vẫn chưa đủ, bởi nếu tôi chịu nhả tơ làm kén, hóa thành nhộng, thì tôi cũng vẫn tiếp tục lặng lẽ chết đi trong kén. Nếu vậy, cuộc đời cũng chẳng có chi gọi là khá hơn. Đáng giá gì một sợi tơ tằm? Lụa nào kết nối chỉ bởi một đường tơ? Con nhộng, hình hài của thây ma xác chết, ai xót thương, ai nhỏ lệ cho một chú nhộng?

Đổi thay, thương hải biến vi tang điền, biển cả (đổi thay) biến thành ruộng dâu.

Thay đổi, hạt lúa gieo vào đất đen đổi thay nảy mầm vươn cao biến thành cây mạ xanh non.

Đổi thay, thay đổi, khi vươn vai phá rách bốn bức tường bao bọc phận kén, tôi nhẹ mình bay bổng vào cõi trời xanh trong của rực rỡ hương hoa thiên đàng.

Mùa Chay, mùa để tôi thay đổi, tôi không dự tính, lên kế hoạch, vẽ họa đồ đổi thay ai khác nhưng chính tôi, hạt bụi trần gian.

Tôi đang ngồi đếm trứng bướm trên mặt lá của cuộc đời vào những ngày đầu tiên của Mùa Chay. Tôi thắc mắc không biết trái trứng nào cần phải chuyển mình nứt vỏ nhường lại cho tôi một đời sống mới của con bướm vàng. Nếu chưa biết, tôi sẽ hỏi,

– Chúa ơi, xin hãy chỉ cho con biết con sẽ phải chết đi thói hư tật xấu nào trong Mùa Chay này?

LM Nguyễn Trung Tây, SVD

HẠI ĐẤT

zzĐiều làm chúng ta khó sám hối đó là cảm thấy mình ở trong tình trạng an toàn.

Đức Giêsu nói về hai biến cố nóng hổi tính thời sự, một do sự tàn ác của Philatô, một do tai nạn lao động.  Cả hai đều dẫn đến cái chết thảm khốc: những người Galilê bị đổ máu ngay lúc dâng lễ ở Đền Thờ, mười tám người chết vì bị tháp Silôa đè bẹp.  Vào thời Đức Giêsu, họ bị coi là kẻ có tội, bị Chúa phạt.  Những người khác dễ nghĩ mình vô tội, vì còn được bình yên.  Điều này đưa đến sự tự hào và an toàn giả tạo.

“Đừng tưởng…”: Đức Giêsu đưa ta ra khỏi ảo tưởng về mình.  Ngài nhắc mọi người sám hối vì biết ai nặng tội hơn ai.  Lúc còn được sống yên lành là lúc cần hoán cải.  Có thể đây là cơ hội cuối cùng, trước khi cái chết ập xuống.

Cây vả trong dụ ngôn cũng ở trong tình trạng an toàn.  Nó không cho trái độc, không làm hại nho, không phá cảnh quan.  Nó chỉ phạm một tội thôi: tội làm hại đất, tội sử dụng đất màu mỡ mà không sinh trái.

Chúng ta có thể cảm thấy an toàn như cây vả cằn cỗi.  Tự hào vì mình không làm điều xấu, chẳng làm hại ai, nhưng lại quên rằng mình đã phạm tội không làm điều tốt, những điều tốt có thể làm được và phải làm.  Có bao nén bạc Chúa giao không được đầu tư (Mt 25,18), bao người túng thiếu mà ta không giúp đỡ (Mt 25,42).

Khi không làm điều tốt cho đời, cho người, ta tiếp thêm sức mạnh cho sự dữ tung hoành.

Sống đạo không phải chỉ là lo tránh tội, mà còn là tích cực gieo rắc phát huy cái tốt.  Một Kitô hữu sống an phận, cằn cỗi là một phản chứng.  Thế giới cần những Kitô hữu dấn thân biết bao!

Dụ ngôn cây vả cho ta thấy khuôn mặt Thiên Chúa.  Chúa Cha là người chủ vườn kiên nhẫn: “Đã ba năm nay…” Ngài đã nuôi bao hy vọng: “Tôi ra tìm trái mà không thấy”.

Quyết định chặt cây chỉ đến sau những lần hụt hẫng.  Ngài chỉ phạt khi đã làm đủ cách để lay động tim ta.

Chúa Giêsu là người làm vườn kiên nhẫn không kém: “Xin ông cứ để nó lại năm nay nữa”.  Ngài không ngừng ấp ủ chút hy vọng mong manh: “Tôi sẽ vun xới, bón phân, may ra sang năm nó có trái”. Nhưng đừng quên lời đe dọa cuối cùng: “Nếu không ông chủ cứ chặt nó đi”.

Kiên nhẫn, hy vọng, chăm bón, nhưng cương quyết đòi hỏi: đó là thái độ của Thiên Chúa đối với tội nhân.  Đức Giêsu vừa thôi thúc chúng ta mau mau hoán cải, vừa chấp nhận cho ta có thời gian trì hoãn.

Hoán cải là đón lấy những săn sóc tế nhị của Chúa, là đừng để thui chột những ơn lành Ngài ban.  Mùa Chay không phải chỉ là để thú tội, mà còn thú cả sự cằn cỗi, ì ạch của mình.

Ước gì cây đời của ta có nhiều trái hơn và ngọt hơn.

********************************************

Lạy Chúa Giêsu, xin dẫn con vào nhà của con, căn nhà của trái tim, căn nhà vừa quen vừa lạ.
Xin hãy cho con thấy những phức tạp, rắc rối, những che đậy, giằng co, những mâu thuẫn và vô lý nơi con.
Xin hãy cho con thấy những nhỏ mọn, ích kỷ, những yếu đuối, khô khan, những cứng cỏi và tự ái nơi con.
Xin cho con ý thức những lo âu, sợ hãi đang đè nặng làm con ngột ngạt, những nỗi đau thầm kín khiến đời con mất vui, những vết thương không biết bao giờ lành, những đổ vỡ khiến lòng con khép lại.
Lạy Chúa Giêsu,
Xin giúp con dọn những bề bộn nơi tim con.
Xin biến đổi tim con, để nó trở nên đơn sơ hơn, hồn nhiên hơn và tươi tắn hơn.
Ước gì con nhìn mọi sự, mọi người, bằng trái tim bao dung của Chúa.  Và ước gì khi đã ra khỏi nỗi bận tâm về mình, trái tim con được nhẹ nhàng hơn và tự do hơn để yêu mến mọi người.  Amen!

Trích trong “Manna”

 

TIẾNG GỌI TRONG TÂM HỒN

zzMỗi người chúng ta ai cũng đã trải qua sự cảm nghiệm của một tiếng gọi.  Tiếng gọi đó có thể là tiếng sét ái tình của cuộc đời hay là nỗi bâng khuâng của sự chọn lựa một nghề nghiệp, một ngành chuyên môn, hay một hướng đi.  Có những tiếng gọi trong cuộc sống chúng ta không thể nào chối bỏ.

Có những tiếng gọi chúng ta cần phải theo dù biết rằng đáp trả tiếng gọi đó sẽ cho chúng ta những giằng co, khắc khoải, bị ruồng bỏ, và những nỗi đau sâu thẳm trong tâm hồn.  Có những tiếng gọi trong thâm tâm chúng ta không hề để ý đến, và như thế suốt cuộc hành trình trong đời chúng ta luôn đi tìm kiếm, luôn khắc khoải khôn nguôi.  Cuộc đời là thế đấy! Mỗi người chúng ta đều có cuộc hành trình riêng của mình và không ai có thể đi con đường đó giúp chúng ta.

Mỗi người chúng ta được tạo dựng bởi Thiên Chúa, và khi tạo dựng chúng ta Ngài đã đặt trong ta tiếng gọi của Ngài.  Con đường hành trình của mỗi người chúng ta là đi tìm tiếng gọi trong tâm hồn, tiếng gọi đó là của Thiên Chúa.  Chỉ khi nào chúng ta tìm được tiếng gọi đó và sống tiếng gọi đó, tâm hồn chúng ta mới bình an và hạnh phúc.  Chỉ khi nào chúng ta biết tìm đến Chúa Giêsu và ở trong Ngài, chúng ta mới thật sự nhận thức được tiếng gọi ấy trong tâm hồn. Phúc âm Mác-cô (10:17-27) có kể câu chuyện anh nhà giàu đến hỏi Đức Giêsu, “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Câu hỏi của anh thật chí lý. Có lẽ nhiều lần anh nhận ra một khoảng trống vắng trong con tim anh mà của cải vật chất, sự nghiệp, danh vọng, học thức, sự hiểu biết của anh không thế lấp đầy. Anh tìm kiếm trong tôn giáo, trong lề luật, nhưng con tim anh vẫn còn cảm thấy trống vắng. Và rồi sự việc đẩy đưa anh đến với Đức Giêsu để anh hỏi một câu mà bao lâu nay anh thao thức đi tìm, một “sự sống đời đời.” Con tim của anh đã dẫn anh đến đúng nguồn mạch của sự sống nơi Đức Giêsu.

Tuy nhiên sự thực lại không như anh tưởng. Muốn đạt đến sự sống đời đời anh phải buông thả và cho đi cái giàu vật chất lẫn tinh thần của anh. Nỗi giằng co và nỗi đau anh phải đối diện trong thâm tâm về lời mời gọi của Đức Giêsu, “Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi.” Như một tiếng sét đánh ngang tai, anh “sa sầm nét mặt vì lời đó,” và đã bỏ đi, vì anh không thể buông thả kho tàng trần thế của anh. Anh không thể đáp trả tiếng mời gọi đó. Có lẽ khi anh ra đi, con tim của anh như quặn lại. Nỗi đau đó sẽ dằn vặt anh suốt cả cuộc hành trình. Anh sẽ không sống hạnh phúc và không tìm được sự sống đời đời. Cho tới khi nào anh buông thả được con người anh để đáp trả và sống tiếng mời gọi trong tâm hồn của anh, khi ấy anh mới thật sự sống hạnh phúc. Đó mới chính là gia nghiệp đời đời của anh.

Vậy gia nghiệp đời đời của mỗi người chúng ta là gì? Chúng ta có đi tìm kiếm gia nghiệp đó chăng, hay chúng ta chẳng bao giờ ý thức và nhìn lại tâm hồn của chúng ta? Chúng ta có ý thức được tiếng gọi trong tâm hồn chúng ta không? Cuộc đời là một chiến trường liên lỉ trong ta. Nếu chúng ta thật sự muốn tìm sự sống đời đời, chúng ta cần phải biết Chúa là ai và chúng ta cần phải biết chính mình là ai. Chúng ta cần ngồi lại với chính mình mỗi ngày nơi chân Chúa Giêsu như bà Maria ngồi lại dưới chân Ngài như một người môn đệ (Lc 10:39).  Mỗi con đường chúng ta đi, chúng ta cần phải biết và cảm nghiệm Thiên Chúa thương yêu chúng ta, và biết buông thả tất cả trong Ngài, tin tưởng rằng Ngài sẽ luôn đồng hành và dẫn dắt chúng ta trong Ngài. Chỉ khi chúng ta đến với Chúa Giêsu và ở trong Ngài, Ngài sẽ dạy và chỉ cho chúng ta biết tiếng gọi riêng tư của mỗi người chúng ta là gì.

Mỗi ngày chúng ta cần phải ý thức tiếng gọi trong tâm hồn đó và đối diện nó.  Mỗi ngày chúng ta cần phải ngồi lại với bài “Tiếng Gọi” của John Bell, “Con có dám đi theo Ta nếu Ta gọi tên con không? Con có dám bỏ lại chính con nếu Ta gọi tên con không? Con có yêu ‘con người’ con che dấu nếu Ta gọi tên con không?” Chúng ta cần phải đối diện với sự thật trong ta và chết đi chính con người chúng ta để sự thật là Đức Kitô Phục Sinh sẽ thánh hoá và giải phóng chúng ta và cho chúng ta tự do đích thực.

Nguyện chúc quý ông bà và anh chị em luôn tìm lại nguồn sự sống trong Đức Kitô và để Ngài chỉ cho chúng ta tiếng gọi đích thực trong tâm hồn.

Sưu tầm

******************************************

Tiếng Gọi

Con có dám đi theo Ta, nếu Ta gọi tên con không?
Con có dám đến nơi con không biết và không còn là chính con nữa không?

Con có dám để tình yêu của Ta thể hiện, con có dám để Danh Ta được biết đến,
con có dám để sự sống của Ta lớn lên trong con và để cho con ở trong Ta không?

Con có dám bỏ lại chính con nếu Ta gọi tên con không?
Con có quan tâm đến sự hung ác và lòng nhân ái và không còn là chính con nữa không?
Con có dám liều những cái nhìn thù nghịch, nếu đời con thu hút hay làm kinh sợ người khác không?
Con có dám để Ta trả lời sự cầu nguyện trong con và con ở trong Ta không?

Con có dám để cho kẻ mù được thấy nếu Ta gọi tên con không?
Con có dám giải phóng những tù nhân và không còn là chính con nữa không?
Con có dám hôn những người phong, và làm điều chưa từng thấy đó,
và chấp nhận điều Ta muốn trong con và con ở trong Ta không?

Con có yêu ‘con người’ con che dấu nếu Ta gọi tên con không?
Con có dám dập tắt nỗi sợ hãi bên trong và không còn là chính con nữa không?
Con có dám dùng đức tin con đã tìm thấy để phục hồi thế giới xung quanh,
qua ánh mắt, cái chạm và tiếng nói của Ta trong con và con ở trong Ta không?

Lạy Chúa, tiếng gọi của Ngài vang vọng thực sự khi Ngài gọi tên con.
Xin cho con quay lại để theo Ngài và không còn là chính con nữa.
Cùng với anh em của Ngài con sẽ đi những nơi tình yêu và dấu chân Ngài đã trải qua.
Như thế con sẽ hoạt động, sống, và lớn lên trong Ngài và Ngài trong con.

John Bell

 

HÀNH TRÌNH NỘI TÂM

“Trong sự tĩnh lặng của con tim chúng ta nghe được tiếng nói, nhưng chúng bắt đầu mờ đi và hầu như không nghe được nữa khi chúng ta bắt đầu bước vào thế giới” –
Ralph Waldo Emerson

zzMùa chay thánh là mùa mà Giáo Hội mời gọi mỗi người chúng ta nhìn lại hành trình nội tâm của mỗi người, nhìn lại sự chọn lựa của chúng ta trong mỗi giây phút của cuộc sống vì chính những chọn lựa ấy uốn nắn (shape) con người mà chúng ta trở thành. Nhưng trước khi chọn lựa chúng ta cũng cần phân định phương hướng của mình, mà sự phân định đó cần được rõ ràng vì nó sẽ giúp chúng ta chọn lựa những việc hàng ngày với mục đích. Chẳng hạn như các em học sinh, khi các em biết mình muốn học ngành nào, các em sẽ lấy các lớp thích hợp cho ngành đó, và ngay cả đi xin việc làm, các em cũng muốn được có việc làm trong ngành của mình. Cũng vậy trong hành trình thiêng liêng, chúng ta cũng cần có phương hướng, và định nghĩa hành trình nội tâm của riêng mình trong từng giai đoạn của cuộc sống.

Hành trình nội tâm không phải là hành trình riêng tư nhưng là một hành trình với Chúa, một hành trình có phương hướng rõ ràng và Chúa sẽ dạy cho ta trong từng mỗi giai đoạn. Cũng như thể xác của chúng ta có những giai đoạn lớn lên, lúc mới sanh thì uống sữa, sau đó được ăn cháo, v.v., hành trình tâm linh cũng có những giai đoạn tương tự và Chúa sẽ dạy cho chúng ta biết chúng ta đang ở giai đoạn nào với Ngài. Nhưng nếu muốn được nghe tiếng Chúa, chúng ta cần sống trong tĩnh lặng, con tim của chúng ta cần phải sống với Chúa trong tâm tình cầu nguyện. Lắm lúc chúng ta sợ cầu nguyện, sợ tĩnh lặng vì cảm thấy mình không biết cách cầu nguyện. Thật ra cầu nguyện không có phương thức, cầu nguyện không có cuốn cẩm nang, nhưng cầu nguyện là mối tương quan giữa mình với Chúa cũng như mối tương quan giữa ta và một người bạn. Lắm lúc chúng ta đặt Chúa Giêsu trên bàn thờ và quên đi nhìn đến Mầu Nhiệm Nhập Thể là một mầu nhiệm mà Con Một Thiên Chúa đã chọn làm một con người như ta, và chúng ta sợ không dám kết bạn với Ngài vì chúng ta chỉ thấy sự cao sang và không nhìn đến một Thiên Chúa đang mong mỏi tình yêu và sự kết hợp của mỗi một người chúng ta.

Mối quan hệ nào cũng có những tâm tình riêng tư, những cách nói chuyện và chia sẻ chỉ giữa hai tâm hồn đang muốn được hiểu nhau. Mối tương quan giữa ta và Chúa cũng vậy, có người cảm thấy mình gần gũi với Chúa hơn qua Kinh Thánh, có người cảm thấy Chúa nói chuyện với mình qua những lời kinh, riêng tư hay với cộng đoàn, có người cảm thấy mình kết hợp với Chúa hơn qua công việc sinh nhai, hay qua những công việc nội trợ trong nhà, có người tìm được sự hiện diện của Chúa khi ru con ngủ, hoặc nấu ăn cho gia đình. Hãy để ý và tìm hiểu xem coi đâu là những lời kinh của chính mình với Chúa và biết trân quý và sống với Chúa qua những lời kinh ấy. Cho đó là những lời kinh nấu ăn, những lời kinh đi làm việc thiện, những lời kinh đi làm hãng xưởng, những lời kinh ru con, những lời kinh chịu đau đớn vì bệnh tật hoặc tuổi già, tất cả đều là những lời kinh giúp mình cảm nhận được tình thương của Chúa và giúp cho mối tương quan của mình với Chúa được trọn vẹn hơn. Không có lời kinh nào đẹp bằng lời kinh chân tình thành nhất của mình với Chúa. Vì tất cả những lời kinh đơn sơ chân tình của chúng ta đều đẹp dưới ánh mắt của Thiên Chúa và cũng qua những lời kinh ấy Thần Khí Chúa dẫn ta đi vào cõi sâu thẳm của tâm hồn. Nhưng dẫu lời kinh nào Chúa chọn cho hành trình của mỗi người, Chúa Giêsu vẫn mời gọi mỗi một người đến với bàn tiệc thánh để Ngài nuôi dưỡng chúng ta vì,
“Bí Tích Thánh Thể là nguồn mạch và tột đỉnh toàn bộ đời sống Kitô giáo. Thánh Thể là tột đỉnh hoạt động thánh hoá của Thiên Chúa đối với chúng ta và là tột đỉnh của hoạt động phương tự chúng dâng lên Ngài. Bí Tích Thánh Thể chứa đựng tất cả của cải thiêng liêng của Hội Thánh, đó chính là Đức Kitô, Đấng là Chiên Vượt Qua của chúng ta.” Giáo Lý Công Giáo điều 1324

Mối quan hệ thật sự nào cũng có những lên xuống của nó, những giận hờn, những hiểu lầm, những giây phút vui buồn, nhưng qua những giây phút ấy chúng ta hiểu và yêu mến nhau hơn. Mối quan hệ của ta và Chúa Giêsu cũng không khác, cũng có lúc chúng ta muốn được gần gũi với Ngài, có những lúc chúng ta cảm thấy khô khan khi đến với Ngài, rồi cũng có lúc chúng ta giận hờn với Chúa và thấy Ngài rất là khó ưa. Nhưng trong tất cả mọi sự, chúng ta xin ơn để được thấy rằng chỉ có mỗi mình Ngài mới ban lại cho chúng ta sự sống và niềm vui thật hầu chúng ta biết bám chặt lấy Ngài cho dù hành trình của ta với Ngài như thế nào đi nữa.

Khi mối quan hệ của Chúa và ta được trưởng thành hơn, chúng ta sẽ biết sống mật thiết và tin tưởng nơi Ngài, và lúc đó chúng ta sẽ biết buông tay để cho Thần Khí Chúa dẫn dắt vì:
Chúa Thánh Thần không chỉ giới hạn trong sự nghèo nàn và lý trí tự hào của chúng ta. Thần Khí Chúa làm việc bên ngoài tầm hiểu biết của con người. Giống như một thợ lặn đi sâu vào bóng tối của đáy đại dương, Chúa Thánh Thần đi sâu vào cõi tâm tư mà chúng ta chưa hề biết của bản chất sâu xa nhất của mình, phát hiện ra những viên ngọc trai quý giá mà chúng ta không bao giờ biết là chúng ta có – Kathryn J. Hermes, FSP.

Hành trình nội tâm là hành trình tĩnh lặng trong phó thác, một hành trình lựa chọn để cùng được với Thần Khí Chúa đi sâu thẳm vào cõi tâm tư của mình qua những lời kinh thiêng liêng. Một hành trình đòi hỏi chúng ta luôn hướng nội để cảm nhận những biến chuyển trong tâm hồn để nhận ra mình đang ở đâu trong mối quan hệ của mình với Chúa.

Chúng ta đang bước vào ngưỡng cửa của mùa chay thánh trong năm mà Giáo Hội Mẹ mời gọi các con cái nhìn về hành trình đức tin của mình. Uớc gì mỗi người chúng ta biết lắng đọng và để ý xem trong các công việc hàng ngày, qua những giây phút thờ phượng, đâu là lời kinh của mình với Chúa, đâu là những phút thiêng liêng chỉ có mình ta với Ngài. Hãy lắng đọng, hãy tìm xem, và nếm thử vị ngọt của một tình yêu thiêng liêng mà Thiên Chúa dành riêng cho chính ta. Hãy sống tĩnh lặng để lắng nghe tiếng Chúa qua Bí Tích Thánh Thể và lời kinh chân thành của một người con chỉ mong làm đẹp lòng Cha mình.

Củ Khoai 2/2013

QUA THẬP GIÁ ĐẾN VINH QUANG

Năm 1982, các nữ tu Dòng Con Đức Bà Phù Hộ, quen gọi là Dòng nữ Salêsiên ở Cáp bên Haiti, muốn thuê nhà điêu khắc Pêrikhêt làm một cây thánh giá lớn để đặt trong nhà thờ mới của các chị.  Nhưng lúc đó, ông Pêrikhêt đã bị ung thư nặng.

Các chị nhờ một nữ tu cùng dòng đến gặp nhà điêu khắc để nói về ý định này.  Hôm đó viên bác sĩ của ông cũng có mặt, ông nói với chị nữ tu:

– Lẽ ra chỉ phải đến đây sớm hơn. Rất tiếc là bây giờ căn bệnh ung thư của ông Pêrikhêt đã quá nặng rồi.

Im một lát, bác sĩ quay sang nói với nhà điêu khắc:

– Ông là người có đức tin, vậy ông cứ tiếp tục hy vọng dù có điều gì xảy ra đi nữa.

Từ ngày đó, nhà điêu khắc Pêrikhêt chẳng muốn cầm bút để rèn tác phẩm nghệ thuật nào nữa.  Vài ngày sau, một nữ tu lại đến gặp ông và năn nỉ:

– Ông Giovani Pêrikhêt à, các nữ tu ở nhà thờ mới tại Cáp mong muốn ông làm cho các chị ấy một cây thánh giá thật đẹp, dài hai mét. Họ biết tài năng của ông mà. Trước khi trả lời dứt khoát cho họ, tôi muốn hỏi ý kiến ông một lần nữa.

Nhà điêu khắc trầm ngâm suy nghĩ và cầu nguyện, rồi ông bình thản nói với chị nữ tu:

– Tôi xin nhận lời. Cây thánh giá này sẽ là tác phẩm cuối cùng, tôi sẽ làm cây thánh giá nầy để chuẩn bị chết, và xin Chúa thương xót tôi.

Thế là nhà điêu khắc bắt tay vào công việc với tất cả tâm hồn của một người mong gặp được Chúa Giêsu.  Đây thật là một công việc nặng nhọc vì bệnh tình của ông.  Nhưng ông cảm thấy một điều thật lạ lùng, mỗi nhát búa đập trên thanh sắt nóng đỏ, thay vì làm cho ông mệt mỏi thêm, thì lại làm cho ông cảm thấy như được bồi dưỡng sinh lực trở lại.  Ông tiếp tục làm việc ngày qua ngày, và khi ông hoàn thành cây thánh giá thật đẹp, ông cảm thấy như khoẻ hẳn.  Chúa Giêsu đã giải thoát ông khỏi căn bệnh quái ác.

Ngày nay, cây thánh giá do ông thực hiện vẫn còn được treo ở nhà thờ thánh phố Cáp và tiếp tục thu hút nhiều tín hữu: người lành mạnh cũng như kẻ yếu đau đến kính viếng thường xuyên.

**********************************************

zzAnh chị em thân mến,

Nhà điêu khắc Giovani Pêrikhêt tưởng rằng cây thánh giá ở nhà thờ thành phố Cáp ấy sẽ là tác phẩm cuối cùng.  Ông dùng cây thánh giá ấy để chuẩn bị chết.  Nhưng với niềm tin và lòng hăng say rèn cây thánh giá, Pêrikhêt đã được Chúa thương cách đặc biệt và chữa cho khỏi bệnh ung thư.  Đó là hình ảnh ơn cứu độ mà Thánh giá Chúa Kitô đã, đang và sẽ còn đem đến cho nhân loại.  Chính vì để củng cố niềm tin của chúng ta vào ơn cứu độ và niềm hy vọng vào sự sống vinh quang ngang qua mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô, mà hằng năm, vào Chúa Nhật 2 Mùa Chay, phụng vụ Giáo Hội cho nghe bài đọc Tin Mừng tường thuật cuộc biến hình vinh quang của Chúa Giêsu, nhờ đó người Kitô hữu ý thức rằng sự Chết và Phục Sinh, thập giá và vinh quang là hai mặt của cùng một thực tại cứu độ không thể tách rời nhau.  Vinh quang mà không có khổ nạn chỉ là vinh quang của thế tục, sẽ nhạt nhoà theo năm tháng; ngược lại, khổ nạn mà không có vinh quang thì vô nghĩa và là một thất bại hoàn toàn. Do đó, sống tinh thần Mùa Chay có nghĩa là gắn bó chặt chẽ với cái Chết và sự Phục Sinh của Đức Kitô: chết đi cho con người cũ và tội lỗi, chết đi cho con người đối nghịch với Thập giá để cùng sống lại với Đức Kitô, Đấng có thể “biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Ngài” (Bđ. 2)/

Đây chính là một quá trình lột xác đầy gian khổ nhưng cũng tràn ngập vinh quang mà sự kiện Chúa biến hình được gợi lại trong Chúa nhật hôm nay, đã trở nên như một lời loan báo và một lời động viên khích lệ tín hữu.  Loan báo điểm tới là Phục Sinh đang ở phía trước, đồng thời động viên khích lệ người Kitô hữu hãy can đảm tiếp tục cuộc hành trình dù lắm gian nan.

Để có thể trung thành bước theo con đường Chúa Giêsu đã sống và vạch ra, người Kitô hữu không thể coi nhẹ hay dửng dưng với tâm tình cầu nguyện.  Chính trong giây phút cầu nguyện, chìm sâu trong cuộc gặp gỡ ân tình với Chúa Cha, Chúa Giêsu đã đón nhận kế hoạch cứu độ của Cha như lẽ sống của đời mình, đây cũng là lúc Ngài biến hình vinh quang; được tỏ lộ khi Ngài chấp nhận cái chết như một phương thế tuyệt hảo để tỏ lòng vâng phục Cha và yêu thương nhân loại đến nỗi hiến dâng chính mạng sống mình.  Vì thế, trong cuộc sống còn lắm vất vả bon chen và không hề thiếu vắng những cạm bẫy thử thách hôm nay, chỉ có sự chuyên cần cầu nguyện, thường xuyên đón nhận ánh sáng soi dẫn, và sức mạnh đỡ nâng của Chúa, người Kitô hữu mới thoát khỏi sự hoang mang sợ hãi hay trạng thái mê ngủ, trốn tránh thực tại trần thế với những bổn phận và trách nhiệm phải thi hành.  Đành rằng quê hương vĩnh cửu ở trên trời nhưng đường lên trời lại khởi đi từ mặt đất, từ chính cuộc sống mà chúng ta phải xây dựng và làm cho phát triển mỗi ngày.

Anh chị em thân mến,
Một khi đã chiêm ngưỡng Đức Giêsu Kitô trên núi biến hình như Phêrô, Giacôbê và Gioan rồi, thì việc còn phải làm là đi theo Ngài trên con đường khiêm tốn phục vụ anh em và không vắng mặt trên các nẻo đường tiến lên đỉnh Golgotha, những nẻo đường đau thương và tử nạn thập giá với Ngài, với niềm xác tín rằng Đức Kitô Phục Sinh sẽ chia sẻ vinh quang cho các tín hữu trung thành.

Ước gì Lời Chúa và Mình Máu Thánh Chúa chúng ta lãnh nhận trong thánh lễ hôm nay sẽ bổ sức, giúp chúng ta mạnh mẽ bước vào lòng đời để sống cho Chúa và hiến mạng vì anh em trong một cuộc sống lắm hy sinh gian khổ, nhưng cũng không kém vinh quang, vinh quang thấp thoáng hôm nay sẽ bộc lộ trọn vẹn mai sau.

Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ

(BĐ1: St 15:5-12, 17-18; BĐ2: Pl 3:17-4:1; PÂ: Lc 9:28b-36)

**********************************************

Con gởi ước Mơ
Vào Thơ cầu Nguyện
Mong lòng tan biến
Bao chuyện buồn đau
Chấp tay khẩn cầu
Chúa mau tuôn dổ
Để ngàn bão tố
Mãi mãi lìa xa
Cho những mái nhà
Âm êm hạnh phúc
Dẫu đời lắm lúc
Tủi nhục ùa vây
Xin Cha từng ngày
Dang tay nâng đỡ
Phần con xin nhớ
Nguyện cầu Ngài luôn

HBT

 

TẤM LÒNG

zzTriết gia Pascal nói: “Con người là cây sậy có lý trí”.  Một cách diễn tả dung dị dễ hiểu.  Điều đó mặc nhiên rằng con người là sinh vật bất túc, bất trác và bất toàn, với một số phận mong manh không khác đóa phù dung.  Và vì thế, con người cứ miệt mài ngày đêm đi tìm Chân-Thiện-Mỹ theo lệnh truyền của Thiên Chúa: “Hãy hoàn thiện như Cha trên trời” (Mt 5:48).  Nghĩa là phải chiến đấu và vươn lên không ngừng, với khát khao tìm về cái gọi là “nhân chi sơ tính bổn thiện” sau những ngày (có thể) sa chân lầm lạc hoặc lỡ để bàn tay nhúng chàm.

Con người yếu đuối nên dễ “nhiễm” cái xấu hơn cái tốt, nhưng hẳn là khôn hơn khi chưa vấp ngã. Phêrô, một ngư ông chất phác, được Chúa Giêsu chọn làm Tông đồ, và dù đã “thẳng thừng” chối Thầy mình, ông vẫn được Ngài cất nhắc lên làm Giáo hoàng tiên khởi, làm “hoa tiêu” đưa Con thuyền Giáo hội vượt qua ngàn trùng sóng gió, vì chính ông đã có kinh nghiệm bản thân.  Vấn đề không phải là tốt hay xấu, giỏi hay dốt, mà là biết thành tâm sám hối, biết sửa sai và phục thiện, để sống tốt hơn và lợi ích cho tha nhân.

Thật vậy, đời người là một chu-kỳ-ăn-năn không ngừng.  Hết lỗi lầm này đến sai lầm khác.  Rồi ăn năn. Rồi tái phạm.  Và rồi lại hối hận… Vậy đó, hứa nhiều mà chẳng giữ được bao nhiêu.  Càng nhiều tuổi càng “nói dối” nhiều: Ai càng sống lâu càng xưng tội nhiều lần mà vẫn chưa chừa được!  Chúng ta chỉ là những kẻ nói dối Chúa!  Ai cũng quyết lên án nhưng rồi không ai dám ném đá người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình (x. Ga 8:2-11), thế nên họ đều lần lượt bỏ đi, người lớn tuổi đi trước, kẻ nhỏ tuổi đi sau, vì không ai thấy mình sạch tội.  Vâng, đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán!

Nói vậy không có nghĩa là không cần hoàn hảo vì không thể hoàn hảo.  Vẫn phải cố gắng tìm sự hoàn hảo: Hoàn hảo ngay trong cái chưa hoàn hảo.  Nếu tưởng mình hoàn hảo tức là chưa hoàn hảo.  Thật vậy, “ai tưởng mình là gì mà kỳ thực không là gì hết, đó là lừa gạt chính mình” (Gl 6:2-3).  Những người theo chủ-nghĩa-hoàn-hảo, gọi là cầu toàn, luôn làm ra vẻ hoàn hảo để mong được tiếng khen, dễ nóng giận với chính mình và luôn chê trách hoặc ghen ghét người khác.  Thực ra đó chỉ là cách che giấu cái bất toàn của mình.

Quả thật, con người quá yếu đuối và luôn đầy tham vọng.  Nhưng không vì thế mà ỷ lại hoặc cố chấp, biện hộ cho những gì mình làm.  Ngược lại, phải tự biết chấp nhận mức độ hữu hạn của mình để luôn biết làm việc tận tụy bằng tất cả tâm lực mà không đòi hỏi gì thái quá nơi người khác.  Đức Giêsu đã nói: “Ai trung thành trong việc nhỏ sẽ trung thành trong việc lớn” (Lc 19:12-27).  Hãy tự giành cho mình những việc khó và dành cho người khác những việc dễ, nhưng không hề miễn cưỡng hoặc tỏ vẻ khó chịu.

Mùa Chay là thời gian cần thiết để suy gẫm, tĩnh tâm, vì đời người như một cỗ máy, thỉnh thoảng vẫn cần được tu sửa – dù tiểu tu, trung tu hoặc đại tu.  Mùa Chay cũng là dịp “nhìn lại” số km mình đã đi qua để biết phải cố gắng thêm ít hay nhiều, như máy móc phải châm thêm hoặc thay dầu nhớt, chứ không thể tự mãn.  Ăn chay phải gắn liền với cầu nguyện, vì “bao lâu ta chưa thôi cầu nguyện là dấu chắc chắn Chúa đang thương” (Thánh Augustinô).  Cầu nguyện là mãnh lực khả dĩ chiến thắng tất cả!

Ăn chay song song với tịnh tâm.  Không nhất thiết phải làm điều gì vĩ đại mà chỉ cần “chấn chỉnh” hoặc “cởi bỏ” một thói xấu hoặc một động thái nào đó…  Thiết tưởng đó mới là cách “trở về” hữu ích và đẹp lòng Chúa.  Có thể là hy sinh không đi chơi, bớt hoặc bỏ hút thuốc, giảm uống cà-phê, bớt uống rượu, thôi cờ bạc, ít tán gẫu, không xét đoán, chăm học hơn, quan tâm nhau hơn, sống hòa đồng hơn, nghiêm túc hơn,… Đó chính là những Vị Ngọt làm cho ly-cà-phê-không-đường đời mình thêm đậm đà hương vị, để không chỉ cho riêng mình “thưởng thức” mà còn cho cả những người xung quanh cùng “nếm thử”. Và còn mãi dư vị làm sảng khoái…

Trở về là hành-trình-vui nếu biết trở về với cả tấm lòng sau những năm tháng hoang đàng.  Thiên Chúa luôn nhân hậu và đại lượng vẫn từng giây mong chờ tội nhân trở về nương náu Tình Yêu Thiên Chúa. Dù tội lỗi đến đâu, dù thất vọng nhưng đừng tuyệt vọng, Thiên Chúa vẫn nhân hậu vô cùng, chỉ cần chúng ta biết thành tâm sám hối, vì chính Chúa Giêsu đã nói với nữ tu Josefa Menendez (1890–1923, Dòng Thánh Tâm): “Sự khốn nạn của con lôi cuốn Cha”.  Thật là may mắn và hạnh phúc cho mỗi người chúng ta có một Vị Thiên Chúa từ bi ngoài sức tưởng tượng của loài người!

Tình Yêu Chúa là thế, yêu đến cùng, yêu đến chết, yêu đến giọt máu và giọt nước cuối cùng, vì vậy mức độ yêu Chúa của chúng ta phải theo cách thức của Thánh Bernard: “Mức độ yêu Chúa là yêu vô hạn”.  Con người với nhau rất cần một tấm lòng thì với Thiên Chúa, Ngài cũng chỉ cần chúng ta dành trọn cho Ngài một Tấm Lòng mà thôi!

*************************

Lạy Chúa, chúng con thật yếu đuối, “điều con muốn thì con không làm, điều con không muốn thì con lại làm” (x. Rm 7:19).  Thật trớ trêu thay! Nhưng Ngài vẫn không chấp, vẫn sẵn sàng tha thứ tất cả, tha thứ vô điều kiện chỉ vì Tình Yêu Ngài dành cho con luôn trọn vẹn, trước sau như một.  Có nhiều lúc con cô đơn và thất vọng ê chề, xin Ngài thương độ trì, vì con xác tín “Ngài là Đấng đã gọi con, Ngài đang ở với con, Ngài không để con cô đơn một mình” (Ga 8:29) và “xin thêm đức tin cho con” (Lc 17:5).  Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen!

Trầm Thiên Thu

SỐNG ĐẸP GIỮA ĐỜI

Mùa chay là mùa mời gọi chúng ta hãy sống cao đẹp hơn.

Người xưa thường đề cao lối sống của người quân tử.  Người quân tử thấy chuyện bất bình thường ra tay cứu giúp.  Người quân tử luôn sống hào hiệp, sống vì đại nghĩa nên hy sinh bản thân.  Thế nhưng, con người ngày nay lại an phận thủ thường.  Người ta ngại hy sinh cho người khác.  Người ta sợ “mang hoạ vào thân”.  Người ta tìm an nhàn cho bản thân nên chẳng dại gì “ăn cơm nhà đi vác tù và hàng tổng”.  Xem ra lối sống của người quân tử thấy chuyện bất bình ra tay giúp đỡ chỉ còn trên trang giấy học trò.  Lối sống ấy đã mất dần trong thời đại hôm nay.

Người ta kể rằng: Ở bên Trung Quốc, có một chiếc xe bus chở đầy khách đang chạy trên đường đồi. Trên xe, ba thằng du côn có vũ khí để mắt tới cô tài xế xinh đẹp.  Chúng bắt cô dừng xe và muốn “vui vẻ” với cô.  Tất nhiên là cô tài xế kêu cứu, nhưng tất cả hành khách trên xe chỉ đáp lại bằng sự im lặng.

Lúc ấy một người đàn ông trung niên nom yếu ớt tiến lên yêu cầu ba tên du côn dừng tay, nhưng ông đã bị chúng đánh đập.  Ông rất giận dữ và lớn tiếng kêu gọi các hành khách khác ngăn hành động man rợ kia lại nhưng chẳng ai hưởng ứng.  Và cô lái xe bị ba tên côn đồ lôi vào bụi rậm bên đường.

Một giờ sau, ba tên du côn và cô tài xế tơi tả trở về xe để tiếp tục lên đường…

“Này ông kia, ông xuống xe đi!” cô tài xế la lên với người đàn ông vừa tìm cách giúp mình.
Người đàn ông sững sờ, nói:
“Cô làm sao thế?  Tôi mới vừa tìm cách cứu cô, tôi làm thế là sai à?”
Cô gái nhăn mặt nói: “Nếu ông không xuống, xe sẽ không chạy.”

Điều bất ngờ là hành khách, vốn lờ lảng hành động man rợ mới đây của bọn du côn, bỗng nhao nhao đồng lòng yêu cầu người đàn ông xuống xe.  Thậm chí một vài hành khách khỏe hơn đã lôi người đàn ông xuống xe.

Chiếc xe bus lại khởi tiếp hành trình.  Cô lái xe vuốt lại tóc tai và vặn radio lên hết cỡ.  Xe lên đến đỉnh đồi và ngoặt một cái chuẩn bị xuống đồi.  Phía tay phải xe là một vực thẳm sâu hun hút.

Tốc độ của xe bus tăng dần.  Gương mặt cô lái xe bình thản, hai bàn tay giữ chặt vô lăng.  Nước mắt trào ra trong hai mắt cô.

Một tên du côn nhận thấy có gì không ổn, hắn nói với cô tài xế :
“Chạy chậm thôi, cô định làm gì thế hả?”

Cô tài xế không nói tiếng nào nhưng xe chạy ngày càng nhanh hơn.  Tên du côn tìm cách giằng lấy vô lăng, nhưng chiếc xe bus lao ra ngoài, rơi xuống vực như mũi tên bật khỏi cây cung.

Hôm sau, báo địa phương loan tin một tai nạn bi thảm xảy ra ở vùng “Phục Hổ Sơn”.  Một chiếc xe cỡ trung rơi xuống vực, tài xế và 13 hành khách đều thiệt mạng.

Trong thành phố, có một người đàn ông đọc bản tin trên báo đã khóc!

Quả thực, con người ngày xưa khi thấy chuyện bất bình, người ta thường lăn xả để hoà giải cho nhau, nhưng xem ra hôm nay, ít ai dám can thiệp vào chuyện người khác.  Ít ai dám xông pha để bảo vệ kẻ yếu đang bị ức hiếp.  Người ta ngại dấn thân vào chuyện của người khác.  Xem ra con người ngày nay thường có xu hướng ích kỷ, chỉ lo cho bản thân mình nhiều hơn là cho đồng loại.  Con người ngày nay thích an nhàn nên ngại hy sinh”.

zzThế mà, hôm nay Chúa Giê-su lại bảo: “kẻ nào giữ mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai chịu chịu từ bỏ cuối cùng sẽ được lại”.  Đó là chân lý, là định luật tất yếu  của cuộc đời . Nếu thế giới này không có những con người dám quên đi bản thân thì làm sao có những phát minh khoa học, làm sao có những kỳ quan để lại cho đời sau?  Có lẽ thế giới hôm nay sẽ thiệt hại biết bao, nếu không có những người dám quên đi sự an nhàn cá nhân, sự yên vui vị kỷ, những lợi lộc cá nhân để sống vì lợi ích tha nhân!  Thế giới này đang mắc nợ những con người đã tận tuỵ làm việc quên mình để xây dựng thế giới mỗi ngày một tốt đẹp hơn.  Thế giới hôm nay rất cần những con người quân tử để cuộc đời được phong phú và yên vui hơn.

Chính Chúa Giê-su, Ngài đã sống điều đó.  Ngài đã đi qua đau khổ để tiến tới vinh quang.  Ngài đã trở nên bất diệt khi Ngài trở thành hạt lúa chịu nghiền nát để trổ sinh muôn vàn bông lúa.  Ngài đã trở nên vĩ đại khi Ngài dám chết vì bạn hữu.  Thực vậy, người vĩ đại trong cuộc đời chúng ta không phải là những người nổi tiếng, không phải là các ngôi sao điện ảnh hay ca nhạc mà là chính những người đang hy sinh vì chúng ta.  Họ là những người cha “chân lấm tay bùn” đang đổ mồ hôi nơi nương đồng, đang miệt mài nơi công trường.  Họ là những người mẹ đang lặn lội ngược xuôi nơi bến chợ, đang hao gầy vì đàn con.  Họ là những người anh, người chị đang bôn ba đó đây để bòn nhặt từng đồng tiền để phụ giúp gia đình.  Đó là những con người cao cả, là những hạt lúa miến đang chịu nghiền nát vì tha nhân để trở thành tấm bánh cho anh em.  Đó là những con người dám quên đi niềm vui riêng của bản thân để lo cái lo của đồng loại, để sống có ích cho tha nhân.

Nhưng thật đáng tiếc!  Ý niệm phục vụ tha nhân.  Ý niệm sống vì người khác đang mất dần trong thế giới hôm nay.  Người ta đang lo cho bản thân.  Người ta đang chạy theo danh lợi thú để thoả mãn nhu cầu của chính mình.  Có mấy ai dám quên mình để sống cho thân nhân?  Có mấy ai chịu nghiền nát đời mình để đem lại niềm vui cho tha nhân?

Thiết tưởng, mùa chay là mùa mời gọi chúng ta hãy sống cao đẹp hơn.  Hãy hy sinh niềm vui của mình, những đam mê sở thích của mình để đem lại niềm vui cho những người chúng ta yêu mến.  Thiết tưởng mùa chay là mùa mời gọi chúng ta hãy sống đúng với phẩm giá làm người của mình là biết sống vì hạnh phúc tha nhân.  Chúa đã tạo dựng Eva vì niềm vui của Adam.  Chúa cũng tạo dựng chúng ta vì niềm vui của thân nhân.  Xin Chúa là Đấng đã chết cho người mình yêu, giúp chúng ta biết quảng đại hy sinh để kiến tạo niềm vui và hạnh phúc cho nhau. Amen!

Lm.Jos Tạ duy Tuyền