NGÀY ẤY … BÂY GIỜ …

Thời gian ơi xin dừng lại
Thời gian ơi xin dừng lại
Cho đôi tình nhân
Yêu trong muộn màng
Đừng khóc ly tan…

(Ai đưa em về – Nguyễn Ánh 9)

Thời gian trôi qua thật mau để rồi người ta cứ muốn kéo thời gian lại nhưng ai nào kéo thời gian được đâu?  Chỉ cần một giây trôi qua thôi thì mọi sự đã có thể thay đổi chứ huống hồ chi một phút, một giờ, một năm.  Dẫu biết thời gian là như thế, con người vẫn muốn thời gian dừng lại để thừa hưởng, để giữ lại cái vinh quang của tuổi xuân, của thời son trẻ nhưng nào ai có giữ được.  Tất cả đều nằm ngoài bàn tay với.  Danh, phận, sắc, … và tiền bạc cũng thế, tất cả đều trôi theo thời gian.  Tiền và danh cũng như bạc có lúc lên rồi có lúc xuống nhưng cuối cùng cũng trắng tay.  Cách riêng là nhan sắc, dù có cố giữ đi chăng nữa cuối cùng cũng chẳng còn chi khi bóng ngã chiều tà.

Mới đây, có người cất công đi tìm hiểu về cuộc đời của vai diễn Tam Nương trong phim “Người đẹp Bình Dương”, nữ diễn viên này mang luôn biệt danh này nhờ sự ái mộ của công chúng.  Bà cũng được coi là biểu tượng nhan sắc phụ nữ một thời ở Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung.

Với nhan sắc mà người ta gọi là trời phú cho bà, bà được thừa hưởng quá nhiều vinh quang của cuộc đời.  Thế nhưng, tất cả những vinh quang đó lui lại ở quá khứ.  Tiền bạc, tài sản, danh vọng bà cũng có đó nhưng những ngày luống tuổi, bà cùng chồng – là người cũng ở trên đỉnh của vinh quang – lại cùng nhau dắt díu nhau trở về vùng ven của chốn đô thị để tìm lại những ngày còn lại trong cõi lặng của đời người.

Sau khi trở thành ngôi sao tỏa sáng làng điện ảnh, bà được các hãng phim lúc bấy giờ mời vào vai chính liên tục.  Bà đóng rất nhiều phim (khoảng 60 phim) và trở thành nữ minh tinh số một với tiền cát-xê một triệu đồng cho một vai diễn (tương đương 1 kg vàng 9999 thời bấy giờ).

Có thể nói giai đoạn rực rỡ nhất của bà là khoảng thời gian 1965 – 1972, phim nào có bà đóng cũng đạt doanh thu rất cao.  Năm 1969, bà đứng ra thành lập hãng phim riêng mang chính tên của bà.

Không chỉ hợp tác làm phim, đóng phim ở nước ngoài mà đi đâu, dự bất cứ cuộc liên hoan phim nào, bà cũng đều được trọng vọng, sánh ngang hàng zzvới các diễn viên nổi tiếng nước ngoài.  Bà là một trường hợp đặc biệt, hiếm có.  Đặc biệt, những ân sủng này chính là nhờ sự nổi tiếng, nhan sắc và tài năng của bà.  Đồng thời những năm đó, không chỉ tham gia đóng phim tình cảm tâm lý xã hội, bà cũng bước sang lĩnh vực phim hài và phim kinh dị.  Hầu như ở lĩnh vực nào, bà cũng thành công.

Không có gì tồn tại mãi trên cõi đời này, mà điều phù du nhất chính là nhan sắc.  Nhưng ở đời không ai được hưởng trọn vẹn may mắn, hạnh phúc luôn tiềm ẩn sự rủi ro, thậm chí cả bi kịch.  Những ai hiểu được điều này sẽ đồng cảm hơn với cuộc đời của người phụ nữ nổi tiếng này.

Sau những năm tháng của hào quang, những ngày này, bà tu tại gia, nghiên cứu Thiền học, làm từ thiện, hầu như ít tiếp xúc bên ngoài.  Cuộc đời của một “minh tinh màn bạc”, một phụ nữ “sắc nước hương trời”, sự nghiệp nghệ thuật lẫy lừng đã kết thúc với số phận nghiệt ngã.  Có lẽ, bà sẽ sống yên ổn với huyền thoại và hào quang cũ khi đi ra đường bao người ngưỡng mộ kéo nhau theo phía sau để nhìn mặt và xin chữ ký.

Có lẽ, bà cũng chỉ là một trong nhiều người đã, đang, từng và sẽ nổi tiếng và thành công bởi sắc đẹp, bởi tài năng, bởi khả năng của mình trong những ngày ấy nhưng cuối cùng cũng phải đối diện với cái hiện tại, cái thời khắc bây giờ.

Thánh vịnh 90 gửi gấm tâm tình thật hay :

Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống,
ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan.

Không phải là bi quan, không phải là yếm thế, không phải là không còn lý tưởng để sống nhưng Thánh Vịnh nói “xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống” để chúng ta biết và nhắc nhớ với nhau rằng:

Ngài cuốn đi, chúng chỉ là giấc mộng,
như cỏ đồng trổi mọc ban mai,
nở hoa vươn mạnh sớm ngày,
chiều về ủ rũ tàn phai chẳng còn.

Nhắc với nhau như thế để chúng ta vẫn sống trong cuộc lữ hành trần thế, ai ai trong chúng ta cũng cần chút tiền chút bạc để trang trải cuộc sống; ai ai trong chúng ta cũng cần một chút danh để lại với đời; ai ai trong chúng ta cũng cần chút sắc đẹp để phô diễn cho trần gian… nhưng cùng đích, căn cốt của con người vẫn là ơn cứu độ.

Sống trên đời này, chuyện quan trọng không phải là giàu hay nghèo, sang hay hèn, đẹp hay xấu nhưng cuối cùng làm sao đạt được Ơn Cứu Độ mà con người ngày đêm vẫn ngóng trông.  Thật luống công vô bổ khi ta quá đẹp, ta quá sang, ta quá giàu, ta quyền cao chức trọng nhưng “bây giờ”, giờ ta nhắm mắt xuôi tay ta chẳng được gì.  Có chăng được bộ đồ còn lại mặc trong người khi khâm liệm, mà bi đát nhất là cả cái nút áo người ta cũng cắt lại không để mang đi.

Đừng mãi hoài niệm cái “ngày ấy” xa xưa mà quên đi cái thực tại không chừng quá bi đát của “bây giờ” khi không còn chức còn quyền và dung nhan tàn tạ.

Vẫn có quyền hoài niệm một chút về “ngày ấy” nhưng hãy sống sao chọ đẹp phút “bây giờ” và quan trọng nhất là ngay “bây giờ” ta có phải ra đi ta hoàn toàn bình an và thanh thản vì ta đã ôm trọn Ơn Cứu Độ trong tay và vui vẻ thốt lên như cụ già Simêon:

Muôn lạy Chúa, giờ đây
theo lời Ngài đã hứa,
xin để tôi tớ này được an bình ra đi.
Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ
Chúa đã dành sẵn cho muôn dân:
Ðó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại,
là vinh quang của Israel Dân Ngài.  (Lc 2, 29-32)

Anmai, CSsR

 

HỌ HẾT RƯỢU RỒI

zzĐức Giêsu, Mẹ Ngài và các môn đệ cùng có mặt trong một đám cưới ở làng quê Cana. Đám cưới là một cuộc vui kéo dài cả tuần. Tiếc thay, tiệc nửa chừng thì hết rượu. Đức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên trong  cuộc đời rao giảng của Ngài. Ngài đã biến nước thành rượu. Ngài trả lại bầu khí vui tươi cho đám cưới.

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay hay kể lại những dấu lạ có ý nghĩa. Những dấu lạ vén mở con người Đức Giêsu.

Làm bánh hóa nhiều cho thấy Đức Giêsu là Bánh thật. Chữa người mù bẩm sinh cho thấy Đức Giêsu là Ánh Sáng. Hoàn sinh Ladarô cho thấy Đức Giêsu là sự Sống Lại.

Dấu lạ ở tiệc cưới Cana cũng cho ta biết Ngài. Thứ nước dùng cho nghi thức tẩy uế của Do Thái giáo, Đức Giêsu biến nó thành rượu ngon, một lượng rượu khổng lồ vượt quá mức đòi hỏi.

Ngài biến nước của Cựu Ước thành rượu của Tân Ước. Như thế Ngài đã mở ra một thời đại mới, thời đại thiên sai, chan chứa niềm vui cứu độ. Cựu Ước không làm con người mãn nguyện. Con người vẫn khát khao và tìm kiếm hạnh phúc.  Nhưng hạnh phúc vẫn là cái gì bèo bọt, mong manh.  Đức Giêsu cho thấy mình chính là Đấng Mêsia.  Ngài đến để thiết lập một trật tự mới dồi dào và phong phú, như rượu vừa nhiều vừa ngon.

Đức Giêsu đã dự tiệc cưới ở Cana.  Ngài muốn dự mọi bữa tiệc liên hoan của con người. Ngài muốn chia sẻ và bảo vệ niềm vui bé nhỏ nơi họ.  Đừng để Đức Giêsu đứng ngoài hạnh phúc của bạn. Đừng coi Ngài là người ganh ghét với niềm vui bạn có.  Nếu bạn nghe lời Ngài, đổ nước đầy các chum rỗng, bạn sẽ gặp được hạnh phúc vững bền.

Dấu lạ t.ai tiệc cưới Cana chủ yếu cho ta thấy Đức Giêsu là ai, nhưng Đức Maria cũng có một vai trò đáng kể.  Mẹ hiện diện trong tiệc cưới như thân mẫu Đức Giêsu. Mẹ thấy rõ sự lúng túng lo âu của chàng rể. “Họ hết rượu rồi”: Mẹ chỉ nói với Con như vậy. Câu nói của Mẹ ẩn chứa một lời nài xin kín đáo. Mẹ mong Con làm một điều gì đó mà Mẹ không rõ. “Người bảo gì, các anh hãy làm.”

Quả thật Đức Giêsu có bảo và các gia nhân có làm theo, nhờ đó dấu lạ Cana được thực hiện. Qua sự đóng góp của Mẹ trong dấu lạ mở màn này, đức tin của các môn đệ được củng cố và lớn lên.

Hôm nay Mẹ vẫn nói nhỏ với Chúa: Họ hết rượu rồi!

Niềm vui chợt tắt, tình yêu nhạt phai, gia đình tan vỡ… Cần biết bao sự hiện diện của Chúa và Mẹ trong mỗi gia đình, giữa lúc khó khăn bối rối.

“Người bảo gì, các con hãy làm”: Đó vẫn là lời Mẹ nhắn nhủ chúng ta hôm nay.

***

Lạy Mẹ Maria, khi đọc Phúc Âm, lúc nào chúng con cũng thấy Mẹ lên đường.

Mẹ lên đường đi giúp bà Isave, rồi đi Bêlem sinh Đức Giêsu. Mẹ đưa con đi trốn sang Ai Cập, rồi dâng Con trong đền thờ. Mẹ tìm Con bị thất lạc và đi dự tiệc cưới ở Cana. Mẹ đi thăm Đức Giêsu khi Ngài đang rao giảng. Và cuối cùng Mẹ đã lên đường theo Ngài đến tận Núi Sọ.

Mẹ lên đường để đáp lại một tiếng gọi âm thầm hay rõ ràng, từ ngoài hay từ trong, từ con người hay từ Thiên Chúa.

Chúng con thấy Mẹ luôn đi với Đức Giêsu trong mọi bước đường của cuộc sống. Chẳng phải con đường nào cũng đẹp, cũng là thảm hoa. Có những con đường đầy máu và nước mắt.

Xin Mẹ dạy chúng con đừng sợ lên đường mỗi ngày, đừng sợ đáp lại những tiếng gọi của Chúa dù phải chấp nhận đớn đau hay đoạn tuyệt chia ly.

Xin giữ chúng con luôn đi trên Đường-Giêsu, để chúng con trở thành nẻo đường khiêm hạ đưa con người hôm nay đến gặp gỡ Thiên Chúa. Amen

(Trích trong “Manna”)

 

MẸ KHÓC 

zz Gần đây, chúng ta được nghe nhiều tin Đức Mẹ khóc.  Đức Mẹ khóc ở Việt Nam.  Đức Mẹ khóc ở Sacramento, California.  Ở đây, chúng ta không nhận định việc Đức Mẹ khóc ở nơi đây hay nơi kia có thật hay không?  Chúng ta chỉ suy nghĩ đến việc Đức Mẹ khóc có lạ lùng không ?

Có lẽ việc Đức Mẹ khóc không có gì lạ lùng lắm, vì Mẹ đã khóc từ ngay sau khi Mẹ chân thành nói lên hai chữ “Xin Vâng”.

  1. Mẹ đã khóc vì có thể bị hiểu lầm mang thai mà không có chồng (Mt 1:18-25).
  2. Mẹ đã khóc vì có thể bị ném đá cho chết vì đã mang thai (Đnl 22:21).
  3. Mẹ đã khóc vì bơ vơ, vất vả không tìm được nơi trú ngụ khi trở về quê quán Belem, ghi danh vào sổ kiểm tra dân số theo lệnh hoàng đế Augustô (Lc 2:5).
  4. Mẹ đã khóc khi sinh Con Mẹ nơi hang lừa nghèo hèn (Lc 2:7).
  5. Mẹ đã khóc khi phải đem Con Mẹ mới sinh trốn sang Ai Cập, vì vua Hêrôđê đang tìm giết Con Mẹ (Mt 2:13-14).
  6. Mẹ đã khóc trong ngày đem Con Mẹ lên Giêrusalem tiến dâng cho Chúa, khi nghe ông già Simêon nói tiên tri về Con Mẹ “cháu bé này sẽ là duyên cớ cho nhiều người Israel vấp ngã, cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng” và về Mẹ “còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2:34-35).
  7. Mẹ đã khóc khi Mẹ mất Con sau lễ vượt qua tại Giêrusalem (Lc 2:41-50).
  8. Mẹ đã khóc khi Con Mẹ bị chính người đồng hương rẻ rúng khinh khi (Mt 13:57).
  9. Mẹ đã khóc khi Con Mẹ bị môn đệ phản bội đem bán lấy ba mươi đồng bạc (Mt 26:14-16).
  10. Mẹ đã khóc khi nhóm môn đệ bỏ Con Mẹ mà trốn chạy (Mt 26:56).
  11. Mẹ đã khóc khi Con Mẹ bị khạc nhổ đánh đập (Mt 26:67).
  12. Mẹ đã khóc khi môn đệ Phêrô chối Con Mẹ (Mt 26:69-75).
  13. Mẹ đã khóc khi Con Mẹ bị lên án, đội mạo gai, chế giễu, vác thập giá (Mt 27:27-33).
  14. Mẹ đã khóc khi Con Mẹ bị đóng đinh trên thập giá giữa hai tên trộm cướp (Mt 27:35-38).

Mẹ đã khóc.  Mẹ đã khóc nhiều lắm.  Mẹ đã khóc suốt đời Mẹ.  Như thế việc Mẹ có khóc nữa cũng không lạ lùng lắm.

Chỉ có lạ lùng khi chúng ta biết khóc:
Khóc vì tội lỗi đã phạm đến Chúa,
Khóc ăn năn thống hối,
Khóc xin quyết tâm chừa cải,
Khóc xin sống một cuộc sống mới tốt lành thánh thiện,
Khóc vì tình yêu đã nhận mà không một lần đáp trả, hay vì đáp trả chưa đủ,
Khóc như Phêrô (Mt 27:75),
Khóc như người đàn bà tội lỗi (Lc 7:37-38),
Khóc như người con hoang đàng trở về (Lc 15:21)…

Lm. Giuse Ngô Văn Thích, OP.

 

ALLÔ…CHÚA !!!

  1. zzĐừng bấm số cách vội vàng; một chút thinh lặng có thể rất hạnh phúc; nó cắt đứt với những ồn ào bên ngoài.

  2. Nói chuyện với Thiên Chúa không phải là một sự độc thoại; đừng có nói không ngưng nghỉ; hãy chịu khó lắng nghe Người đang nói ở đầu dây bên kia. Điều đó rất quan trọng.

  3. Nếu cuộc đàm thoại bị đứt, hãy kiểm tra xem có phải chính bạn đã cúp máy hay không.

  4. Đừng tập thói quen chỉ gọi Chúa trong trường hợp khẩn cấp.

  5. Đừng có phôn cho Chúa chỉ trong những thời gian khuyến mãi.  Những cuộc gọi cho dù là ngắn ngủi, lúc ban ngày cũng rất quý báu.

  6. Hãy lưu ý, những cuộc gọi cho Chúa đều miễn phí!  Đừng bỏ lỡ.

  7. Hãy nhớ gọi lại cho Chúa khi Người để lại tin nhắn trong máy của bạn.

Ghi chú : Nếu tuân thủ bảy chỉ dẫn trên mà vẫn khó liên lạc với Thiên Chúa, đừng quên rằng Thiên Chúa có ba đường dây để liên lạc: Đường dây Chúa Cha, đường dây Chúa Con và đường dây Chúa Thánh Thần.  Đường dây sau cùng này thường không bị kẹt.  Nó rất chất lượng.

Nếu máy của bạn vẫn không hoạt động, hãy nối nó vào cục sạc của bí tích hoà giải; nó sẽ hoạt động trở lại cách nhanh chóng.  Những thiết bị này được bảo hành trọn đời.

Sưu tầm

TRỜI MỞ RA

Các Kitô hữu thời sơ khai thật bối rối trước sự kiện Đức Giêsu lãnh nhận phép rửa của Gioan. Tại sao Ngài lại đến với Gioan như một môn đệ để chịu phép rửa của ông, nhằm bày tỏ lòng sám hối? Ngài có cần sám hối không nếu thật sự Ngài vô tội?

zzTin Mừng Chúa Nhật hôm nay mời gọi chúng ta nhìn ngắm Đức Giêsu bên bờ sông Gio-đan. Ngài đứng chung hàng với người dân để chờ nhận phép rửa trong nước từ tay Gio-an. Ngài đứng trà trộn với những tội nhân để chờ đến phiên mình. Ngài chấp nhận dìm mình xuống cùng một dòng sông với người tội lỗi. Có ai trong đám đông nhận ra Ngài là Chiên Thiên Chúa, là Đấng xóa tội trần gian không? Nếu bạn và tôi cũng ở trong dòng người ấy; cũng đứng chung hàng với Ngài trong ngày hôm ấy, chúng ta có nhìn thấy Ngài không? Có nhận ra Ngài không ?

Đấng thánh thiện lại khiêm nhu đứng xếp hàng bên kẻ tội lỗi. Đấng xóa tội trần gian, lại hòa mình trong đoàn người tội lỗi. Đấng thanh sạch vô biên, lại chịu dìm mình trong dòng sông sám hối. Đấng sẽ làm phép Rửa trong Thánh Thần, nay lại xin được chịu phép rửa sám hối trong nước.

Chiêm ngắm Đấng Cứu Thế cúi mình chịu phép rửa, chúng ta hiểu được thế nào là tình yêu: Một tình yêu vui lòng tự hủy thân phận của mình, để cùng sống chết với người mình yêu, một tình yêu sẵn sàng chia sẻ trọn vẹn, một tình yêu chấp nhận cúi xuống để nâng người mình yêu trỗi dậy.

Nhìn Đấng Cứu Độ cúi mình chịu phép rửa, chúng ta hiểu được thế nào là đồng hành và liên đới. Đồng hành với người khác đòi ta phải đi chậm lại, đòi ta phải có chung một tâm tình, một lối suy nghĩ giống người khác. Liên đới với người khác đòi  buộc ta phải nhỏ bé đi, phải khiêm hạ trong lối sống và cung cách cư xử.

Hôm nay Đức Giêsu đánh dấu cuộc đời công khai của Ngài bằng một hành vi khiêm hạ, dìm mình, mất hút… Bên bờ sông Gio-đan, Ngài chỉ là một kẻ vô danh bên cạnh một Gioan tăm tiếng. Ngài đã cúi xuống, dìm mình trong dòng sông, để nâng con người lên. Ngài tập làm người để hiểu được con người, để chia sẻ thân phận đói nghèo; khổ đau; bệnh hoạn của con người, để cảm nếm nỗi ray rứt khắc khoải của tội nhân, để thấu hiểu niềm khao khát đổi mới trong lòng người tội lỗi.

Sau khi chịu phép rửa, Đức Giêsu cầu nguyện với Thiên Chúa Cha. Ngài muốn gặp gỡ Cha trong tư cách là Con. Chính trong giây phút hiệp thông sâu đậm này mà Ngài cảm thấy được Thánh Thần tràn ngập, và tự thâm tâm, Ngài nghe rõ tiếng của Cha âu yếm gọi Ngài là Con: “Con là Con của Cha. Hôm nay, Cha đã sinh ra Con.” Từ hôm nay, Đức Giêsu hiểu rằng: Thời gian ẩn dật ở Nadarét đã kết thúc và giờ lên đường đã điểm. Lên đường để thực thi công trình Cứu Độ, lên đường để làm theo Thánh Ý Thiên Chúa Cha,

Hôm nay, Đức Giêsu đã trải qua một kinh nghiệm tuyệt vời bên bờ sông Gio-đan, nơi Ngài gắn bó với tội nhân, với dân tộc, đã trở thành nơi Ngài gắn bó với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Nơi Ngài đi xuống cũng là nơi Ngài bước lên. Nơi Ngài được sai đến cũng là nơi Ngài đang hiện diện.

Ngày nay, chúng ta đã chịu phép rửa của Đức Giêsu trong Thánh Thần, chúng ta cũng được mời gọi hiệp thông thân mật với Ba Ngôi chí thánh, chúng ta cũng được mời gọi lên đường để phục vụ anh chị em quanh ta, nhất là những anh chị em đang cần một tình yêu chia sẻ, nâng đỡ và trao ban trọn vẹn.

***

Lạy Chúa, trong đôi mắt Chúa con là tất cả… Xin ban cho con đôi mắt của Chúa, để con biết nhìn những người xung quanh con bằng cái nhìn của Chúa, biết đến với anh chị em của con bằng tấm lòng yêu thương, như Chúa đã yêu thương con. Amen

(Trích trong ‘Manna’)

 

 

SỰ THINH LẶNG TRONG ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG

zzGiữ thinh lặng là một nét đặc sắc của các tu sĩ chiêm niệm trong các đan viện.  Nó cũng là điều được khuyến khích và thường được tôn trọng trong những cuộc tĩnh tâm dành cho bất kì ai, không phân biệt linh mục, tu sĩ hay giáo dân.  Mục đích của việc giữ thinh lặng là để suy gẫm, để gặp gỡ Thiên Chúa.

Có hai thứ thinh lặng: Thinh lặng bên ngoài và thinh lặng bên trong hay nội tâm.  Sự thinh lặng bên ngoài chủ yếu cốt ở tránh giao tiếp bằng lời nói với những người chung quanh.  Ngược lại, sự thinh lặng bên trong không liên quan gì đến tương quan với người khác, nhưng chỉ liên hệ đến chính bản thân.  Như chúng ta đều biết, nội tâm chúng ta làm xuất hiện những ý tưởng, những hình ảnh và những điều tưởng tượng không liên quan gì đến việc cầu nguyện; trong nội tâm chúng ta nhiều khi nổi dậy những tình cảm và cảm xúc tự nhiên như vui, buồn, giận v.v… mà chúng ta quen gọi là thất tình.

Vậy thinh lặng nội tâm cốt ở tránh tất cả những cái đó mà chúng ta coi như là những tiếng nói và những tiếng động gây ồn ào bên trong.  Chính cái ồn ào hay náo động này phá sự yên tĩnh của tâm hồn. Chúng ngăn cản tâm hồn gặp gỡ Thiên Chúa, sống hiệp nhất với Ngài, lắng nghe những lời nhắn nhủ của Ngài, đón nhận ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, thưa gửi cùng Thiên Chúa và giải bày với Ngài những tâm tình, những ước nguyện .v.v.

Như vậy, giữ thinh lặng bên trong là để cầu nguyện.  Vì thế, trong viễn tượng đạo đức, sự thinh lặng bên ngoài chỉ có ý nghĩa khi nó tán trợ hay bảo vệ sự thinh lặng bên trong.  Cần nói như vậy vì trong không ít trường hợp, sự thinh lặng bên ngoài lại chỉ là cái bình phong che đậy cả một thế giới nội tâm ồn ào, náo động.  Sự thinh lặng bên ngoài còn được hiểu theo nghĩa rộng là phải tránh nghe, đọc hay xem những gì có thể phá rối sự trầm mặc của tâm hồn.  Nhưng cũng vì ý nghĩa hay mục đích của sự thinh lặng bên ngoài là như thế, nên sự thinh lặng này có tính cách mềm dẻo, nghĩa là, trừ trường hợp nó phải được tuân giữ tuyệt đối, nó vẫn cho phép có những cuộc trao đổi hay nói chuyện về Thiên Chúa và về những vấn đề thiêng liêng, những giờ cầu nguyện chung bằng lời kinh, tiếng hát, những lời khấn nguyện trong lúc riêng tư.

Nói giữ thinh lặng bên trong để cầu nguyện, tức là nhận có sự phân biệt giữa thinh lặng nội tâm và cầu nguyện.  Nên nhắc đến sự phân biệt này, bởi lẽ chúng ta thấy rằng môn Yoga hay thiền Ấn Độ, kể cả thiền Phật Giáo, cũng tìm sự thinh lặng nội tâm, nhưng không phải để cầu nguyện.  Tuy sự thinh lặng nội tâm khác với sự cầu nguyện, nhưng cả hai gắn liền với nhau chặt chẽ; cái thứ nhất là điều kiện cần thiết cho cái thứ hai; cái thứ nhất là phương thế, còn cái thứ hai là mục đích.

Vì sự thinh lặng nội tâm cốt ở sự vắng bóng những cái gây ồn ào náo động trong tâm hồn, nên chúng ta có thể hình dung đây là tâm hồn rỗng không.  Nhưng vì là rỗng không để cầu nguyện, nên điều này cũng có nghiã là tâm hồn rỗng không để được đầy tràn, và cái làm đầy tràn chính là sự hiện diện của Thiên Chúa.  Nói cách khác, giữ thinh lặng nội tâm đồng nghĩa với việc gạt bỏ những cái gây ồn ào náo động để tâm hồn được yên tĩnh, vì đó là nơi dành riêng cho Thiên Chúa, Đấng còn được gọi là Thiên Chúa thinh lặng.

Sự thinh lặng nội tâm có nhiều mức độ.  Con người càng sống siêu thoát, nghĩa là càng từ bỏ mình và thế gian, thì sự thinh lặng càng sâu xa, bởi vì cái tôi được nuông chiều và thế gian được ham thích chính là những cái gây ồn ào náo động.  Vì thế, ngày xưa các vị tu rừng vào rừng sâu hay sa mạc là nơi thanh vắng để bỏ lại mọi sự thế gian như tiền của, danh giá, địa vị.  Họ từ bỏ mình bằng cách bắt thân xác chịu cực khổ, như mỗi ngày hay vài ngày mới ăn một bữa rất đạm bạc, mỗi đêm chỉ ngủ vài ba giờ. Có vị còn đeo xiềng xích nặng nề, tự giam mình trong chòi không đủ cao để đứng và không đủ dài để nằm, v.v…  Bằng lối sống siêu thoát như vậy, họ có ý giữ cho tâm hồn được yên tĩnh để ngày đêm gặp gỡ Thiên Chúa, hay nói cách khác, để cầu nguyện liên tục trừ lúc ngủ.  Điều vừa nói chứng tỏ rằng sự thinh lặng nội tâm là thành quả của sự từ bỏ và của cả một công trình tu luyện.  Cũng vì thế mà có thể nói rằng chỉ các vị thánh – thánh ở đây hiểu theo nghĩa thánh Công Giáo – mới là những người giữ được sự thinh lặng nội tâm sâu xa.  Nhưng không được phép nói ngược lại rằng người giữ được sự thinh lặng nội tâm sâu xa là người thánh.  Thực vậy, sự thinh lặng nội tâm tự nó không phải là cầu nguyện hay hiệp nhất với Thiên Chúa, vì như đã nói trên, có những người ngoài Công giáo cũng từ bỏ mình và từ bỏ thế gian để đi tìm sự thinh lặng nội tâm.  Vậy khi nói thinh lặng nội tâm, chúng ta chú ý đến một khía cạnh của linh hồn trong quan hệ với Thiên Chúa, đó là gạt ra ngoài các thứ “tiếng động” và “ồn ào” do xác thịt, thế gian và ma quỷ gây ra trong tâm hồn, để nhờ đó chúng ta mới có thể chăm chú gặp gỡ Thiên Chúa với thái độ lắng nghe.  Đây là lúc chúng ta ở trong tình trạng hồi tâm, thu tâm (recueillement).  Giữa lúc này, những tiếng động và ồn ào có thể tái xuất hiện và đe dọa phá vỡ tình trạng thu tâm kia.  Nhưng dù chúng ta chưa là thánh nhân, chúng ta vẫn có thể, nhờ ơn phù trợ của Thiên Chúa, cố gắng ngăn cản được chúng.  Chính sự cố gắng này cũng góp phần vào việc chúng ta chống lại sự cám dỗ của xác thịt, thế gian và ma quỷ.

Sau cùng, sự thinh lặng nội tâm cũng cần được bảo vệ và nâng đỡ bằng cảnh vật yên tĩnh bên ngoài do sự vắng bóng những người qua lại.  Khi đọc Phúc Âm chúng ta biết Chúa Giêsu, sau khi chịu phép rửa ở sông Giođan, đã vào sa mạc cô tịch và sống ở đó bốn mươi đêm ngày.  Trong quãng đời hoạt động công khai, Ngài từng tìm nơi vắng vẻ để cầu nguyện: trên núi (Mt 14,23; Mc 6,46; Lc 9,28), trên núi vào lúc đêm khuya (Lc 6,12); nơi hoang vắng (Lc 5,16); nơi hoang vắng và sáng sớm, lúc trời còn tối mịt (Mc 1.35); trong vườn Giêtsêmani vào lúc đêm khuya (Mt 26, 36-46).

Hẳn không ai phủ nhận rằng những nơi thanh vắng, cô tịch là khung cảnh thuận lợi để nâng đỡ và bảo vệ sự thinh lặng nội tâm.  Vì thế, các đan viện của các Dòng tu chiêm niệm, nếu không ở những nơi hiu quạnh thì ít ra cũng nằm trong những khu đất được vây kín.  Các nhà tĩnh tâm cũng thường là những nơi tĩnh mịch, vắng vẻ.  Ngay các tu viện hoạt động tông đồ, khi có thể, cũng có một khoảng đất nhỏ yên tĩnh, một mảnh vuờn kín đáo chẳng hạn, để dùng làm nơi cho tâm hồn hưởng những giây phút thư giãn và thanh thản, hoặc sống trầm mặc trong bầu khí êm dịu của cầu nguyện.

Rôcô Đinh Văn Trung, S.J.

Trích Tập San Hiện Diện

TÔI ĐI TÌM CÁT

zzSông kia rày đã nên đồng

Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Đêm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.
(Sông lấp – Tú Xương)

Nghe tiếng ếch văng vẳng bên tai mà thi nhân xao xuyến trong lòng, như thấy đồng vọng đâu đây tiếng gọi đò tha thiết.  Không còn sông, bởi “sông kia rày đã nên đồng”.  Hình ảnh một con sông quê với tiếng gọi đò văng vẳng trong đêm đã trôi vào quên lãng, đã chìm vào quá khứ, vậy mà bỗng nhiên trỗi dậy trong tâm tưởng, đánh thức trái tim, khua lên xao xác những hồi cố ngọt ngào.  Thế nên mới phải “giật mình”…

Nhớ sông xanh, nhớ đò xưa, thi nhân giật mình hoài niệm quá khứ ngọt ngào.  Tôi cũng từng “giật mình” giống thi nhân xưa, nhưng là giật mình… đi tìm cát!

Một trong nhiều tiêu chuẩn để đánh giá mức độ phát triển của một vùng đó là vùng đó đã đô thị hóa được bao nhiêu phần trăm.  Mức độ đô thị hóa lại đi kèm với bê tông hóa, càng nhiều bê tông cốt thép bao nhiêu, tốc độ “hóa thành thị dân” càng tăng bấy nhiêu.  Hiên nhà được tráng xi măng, đường phố được trải nhựa, vỉa hè lát gạch hoặc đổ bê tông dày cả gang tay…  Sân cát trở nên món hàng xa xỉ, trở thành đối tượng để ước mong, để hoài niệm!

Đô thị hóa lan tới đâu, sân cát mất dần tới đó!  Cỏ cây không còn đất để mọc, trẻ em mất sân chơi tự nhiên để rồi dán chặt mắt vào màn hình vi tính, hết game online đến thế giới ảo, dần dần đánh mất cuộc sống thực với biết bao mối tương quan thân yêu và dễ thương, các em cũng dần lãng quên những trò chơi sôi động và hào hứng trên sân cát bụi mù: chơi khăng, đánh đáo, rồng rắn lên mây, bắn bi, trốn tìm, bịt mắt bắt dê,…

Giật mình trong đêm, tôi mơ về sân cát tuổi thơ lấm lem bụi đất, rộn rã tiếng cười, chan chứa tình bạn!

Không chỉ giật mình hoài niệm về những trò chơi vui nhộn trên sân cát cùng các bạn thuở xưa, tôi còn giật mình lo lắng đi tìm cát!  Tìm cát vì: “Bí quyết hạnh phúc phải chăng là ghi lên mặt cát những phiền muộn, và khắc sâu vào đá những vui tươi của chúng ta?!

Những khoảng sân cát ngày xưa, hôm nay đây dần vắng bóng!  Biết tìm cát nơi đâu để “viết phiền muộn lên đó, nhờ gió cuốn đi”?

Nơi đâu nhiều cát cho bằng sa mạc!  Muốn tìm thật nhiều cát, nơi đâu cho bằng tiến vào sa mạc.  Sa mạc thiên nhiên giữa đất trời thì khó kiếm do ở xa, khó vào vì thiếu phương tiện, nhưng “Sa mạc cõi lòng” của mỗi người thì bản thân đương sự có thể gặp thấy bất cứ lúc nào và bất kỳ thời điểm nào cũng có thể vào, nếu thực sự muốn!

Đôi khi chính bản thân mỗi người có thể chủ động để quyết định đi vào “sa mạc lòng” của mình, và cũng thường khi chính Thiên Chúa sẽ “dẫn dụ” họ đi vào nơi đó: “Bởi thế, này Ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình” (Hs 2,16).

Quả thế, khi vào sa mạc, tôi có thật là nhiều cát để viết, để vẽ tất cả nỗi phiền muộn tha nhân đã “dành” cho tôi, cũng như “khai báo” tất cả lầm lỡ, yếu đuối của bản thân, rồi khẩn cầu lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng từ bi và nhân hậu đến như cơn gió mát thổi bay, xóa mờ tất cả những nét vẽ nét chữ nguệch ngoạc đó!

Nơi sa mạc, tôi gặp được một vị Thiên Chúa sẵn sàng “ngoảnh mặt” đi mà “không nhìn bao tội lỗi và xoá bỏ hết mọi lỗi lầm” (Tv 51,11), và như thế tôi sẽ “được thanh tẩy”, để “trở nên trắng hơn tuyết” (Tv 51,7).  Tôi sẽ dìm mình vào lòng thương xót của Chúa và được thứ tha!

Tới lượt tôi, tôi sẽ học được bài học tha thứ: “Xin tha nợ cho chúng con, như chúng con cũng tha nợ cho kẻ có nợ với chúng con” (Kinh Lạy Cha).

Trong sa mạc, Thiên Chúa sẽ thanh luyện, dạy dỗ và an ủi tôi… tôi sẽ được tái tạo, trưởng thành, thánh hóa, vượt qua phiền muộn của quá khứ để “vui luôn trong Chúa” (Pl 4,4) ngay giây phút này.

Tôi vào sa mạc đi tìm cát cũng là để tìm lại Tôi, con-người-nguyên-sơ trong trắng đã được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa!

Chiên Già

****************************************

Lạy Chúa, con thường thấy mình không có giờ cầu nguyện, không có giờ đi vào sa mạc để ở bên Chúa và trò chuyện với Ngài.  Nhưng thật ra sa mạc ở sát bên con.  Chỉ cần một chút cố gắng của tình yêu là con có thể tạo ra sa mạc.

Mỗi ngày có biết bao giây phút có thể gặp Chúa mà con đã bỏ mất: Khi chờ một người bạn, chờ đèn xanh ở ngã tư, chờ món hàng đang được gói; Khi lên cầu thang, khi đến nơi làm việc, khi kẹt xe, khi cúp điện bất ngờ.  Thay vì bực bội hay nóng ruột con lại thấy mình sống an bình trong sự hiện diện của Chúa.

Lạy Chúa, những sa mạc ngắn ngủi hằng ngày giúp con tỉnh thức để nhạy cảm với ý Chúa.  Xin cho con yêu mến Chúa hơn để tìm ra những sa mạc mới và vui vẻ bước vào.

LM Nguyễn Cao Siêu

 

RA ĐI

Thiên Chúa không chỉ tỏ mình cho dân Israel. Ngài còn tỏ mình cho các dân tộc khác, vì Ngài muốn cứu độ mọi người, chẳng trừ một ai.

ZZCác nhà chiêm tinh vùng Babylon là đại diện cho dân ngoại. Đối với họ, bầu trời là một cuốn sách, các vì sao nói về những biến cố trên địa cầu. Có thể Thiên Chúa đã muốn dùng sự xuất hiện của một vì sao để báo hiệu Con Ngài chào đời. Thiên Chúa chấp nhận dùng thứ ngôn ngữ đầy khiếm khuyết đó để mời họ lên đường đi gặp Đấng Cứu Độ.

Hôm nay, Ngài vẫn ngỏ lời với những ai chưa biết Ngài bằng muôn vàn cách thức khác nhau, khiến họ hiểu được. Thiên Chúa vẫn làm sáng lên muôn ánh sao, không ở trên trời cao, nhưng ở trong lòng người.  Ánh sao có thể là một lý tưởng, một khát vọng mãnh liệt: Khát vọng sự thật, tự do, ấm no, hạnh phúc?  Ánh sao đưa con người lên đường tìm kiếm, và Ngài không ngừng ban niềm vui trong suốt cuộc hành trình.

Các nhà chiêm tinh đã phải ra khỏi nhà, ra khỏi mình, ra khỏi những định kiến, để đón tiếp cái bất ngờ. Họ chỉ mong được bái lạy vị Vua mới sinh. Nhưng vị Vua này chẳng ở Giêrusalem cao sang, mà lại ở vùng Bêlem bé nhỏ. Vị lãnh tụ dân Israel chỉ là một hài nhi bình thường, sống trong một căn nhà bình thường.

Hêrôđê bối rối lo sợ khi nghe tin sinh hạ Vua Do thái. Các thượng tế và kinh sư tuy biết rõ nơi Ngài sinh, nhưng họ không muốn lên đường tìm kiếm. Các nhà chiêm tinh chỉ có một cái biết mơ hồ, nhưng họ đã can đảm ra đi, tích cực tìm kiếm, tin tưởng sấp mình bái lạy và cung kính dâng lễ vật.

Vẫn có đám đông những người không phải là Kitô hữu đang miệt mài nghiên cứu trong mọi lãnh vực, khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, tư tưởng…, đang gắng công tu tập trong các tôn giáo, hay đang tận tụy làm cho trái đất được tốt đẹp hơn. Có ánh sáng nào soi chiếu nẻo đường họ đi. Họ đã chấp nhận bao hy sinh từ bỏ, để nhẹ nhàng, thanh tịnh mà tiến bước.

Các nhà chiêm tinh ngày xưa đã gặp được Đấng họ tìm. Hôm nay, còn bao người vẫn trên đường dong ruổi. Thiên Chúa đồng hành với họ mà họ chẳng hay. Họ đã ở gần Chúa ngay khi chưa gặp Ngài.

Lễ Chúa Hiển Linh mời ta nhận ra và trân trọng hoạt động của Thiên Chúa nơi anh chị em ngoài Kitô giáo. Có khi chúng ta giống các thượng tế và kinh sư tự mãn với cái biết lý thuyết của mình về Thiên Chúa, nên chẳng muốn lên đường gặp mặt Ngài.

Ước gì chúng ta không coi mình như người đã tìm thấy, nhưng khiêm tốn học hỏi nơi những người đang tìm kiếm.

***

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con trở nên đơn sơ bé nhỏ, nhờ đó con dễ nghe được tiếng Chúa nói, dễ thấy Chúa hiện diện và hoạt động trong đời con.

Xin cho con đừng trở nên cứng cỏi, khép kín và nghi ngờ. Xin dạy con sự hiền hậu để con biết cảm thông và bao dung với tha nhân. Xin dạy con sự khiêm nhu để con dám buông đời con cho Chúa. Và xin cho con sự bình an sâu thẳm, vui tươi để đi trên con đường hẹp với Ngài, hạnh phúc vì được cùng Ngài đồng hành chia sẻ buồn vui cuộc đời. Amen.

(Trích trong Manna)

CÂY TÁO

zzRichard Pindell có viết một chuyện ngắn nhan đề “Đứa con trai của một người nào đó” (Somebody’s son). Câu chuyện mở đầu với một cậu bé tên là David bỏ nhà ra đi sống bụi đời. Vì khổ quá, không chịu nổi cậu bèn viết một lá thư gởi về nhà cho mẹ bày tỏ niềm hy vọng được ông bố cổ hũ tha thứ cho cậu và chấp nhận cậu làm con trở lại. Lá thư như sau: “Mẹ kính mến, trong một vài ngày nữa con sẽ đi ngang qua nhà. Nếu bố bằng lòng nhận con trở lại, thì mẹ yêu cầu bố cột một miếng vải trắng lên cây táo hồng ở miếng đất cạnh nhà chúng ta. Vài ngày sau, David lên xe lửa đi về. Trong lúc tàu hoả lao nhanh đến nhà thì hai hình ảnh cứ chớp lòe liên tục hiện ra trong trí cậu ta. Khi thì trên cây có cột một miếng vải trắng, khi thì trên cây chẳng cột miếng vải trắng nào. Xe lửa càng tiến gần nhà, trái tim David càng đập nhanh hơn. Không bao lâu nữa cây táo sẽ hiện ra ở khúc quẹo, nhưng David không dám tự mình nhìn tới vì sợ nhỡ không có miếng vải trắng cột ở đó. Thế là cậu quay sang người đàn ông bên cạnh ấp úng nói: “Thưa ông, ông có thể làm ơn giúp cháu một việc không? Vào khúc quẹo bên tay mặt, ông sẽ thấy một cái cây. Ông làm ơn cho cháu biết trên cành cây có cột một miếng vải trắng không nhé.”

Khi xe lửa rầm rầm lướt qua cây táo, David nhìn chăm chăm về phía trước. Đoạn run run giọng cậu hỏi người đàn ông: “Thưa ông, có một miếng vải trắng treo ở một cành cây nào đó không?” Ông ta sửng sốt trả lời: “Ồ, này cậu bé, cành cây nào ta cũng thấy có cột một miếng vải trắng cả!”

**********************************

Câu chuyện trên minh hoạ cho những gì Chúa Giêsu kể lại trong phần đầu bài dụ ngôn hôm nay. Ngài bảo rằng Chúa luôn luôn tha thứ cho chúng ta sau khi chúng ta phạm tội, và Chúa Giêsu còn cho biết thêm không những Chúa tha thứ cho chúng ta khi chúng ta phạm tội, mà sau đó Ngài còn đối xử với chúng ta như chúng ta chưa hề phạm tội vậy. Điều này được nhìn thấy rõ ràng qua ba hành vi của ông bố trong dụ ngôn hôm nay.

Trước hết ông choàng tay ôm đứa con trai mình. Choàng tay ôm con tỏ cho thấy ông bố đón con về hết sức nồng nhiệt. Ông tuôn trào mọi cử chỉ trìu mến đối với đứa con trai.
Tiếp đó, ông xỏ giày vào chân cho cậu ta. Xỏ giày vào chân chứng tỏ ông đã tha thứ hoàn toàn cho cậu. Vào thời Kinh Thánh thuở xưa, mang giày là dấu chỉ của một người tự do, còn đám nô lệ thì đi chân trần. Xỏ giày vào đôi chân trần của cậu con tức là xoá đi dấu hiệu thằng con ấy từng là nô lệ của một kẻ nào đó, và đồng thời trả lại cho cậu ta dấu chỉ cậu là đứa con trai trong gia đình.

Cuối cùng, ông bố trao nhẫn cho cậu con. Gắn nhẫn vào ngón tay cậu chứng tỏ ông bố phục hồi trọn vẹn cho cậu tình trạng trước khi cậu bỏ nhà ra đi. Vì chắc chắn đây là chiếc nhẫn mang dấu ấn của gia đình. Đeo nó vào đồng nghĩa với được quyền hành xử như một thành viên trong gia đình.

Và như thế, khi choàng tay ôm xỏ giày và đeo nhẫn cho đứa con trai. Người bố đã cho thấy ông hoàn toàn nồng nhiệt tiếp đón cậu ta, tha thứ hoàn toàn và phục hồi cho cậu ta trọn vẹn tình trạng trước khi cậu bỏ nhà ra đi.

Từ đó chúng ta bước sang phần cuối bài dụ ngôn. Phần này liên quan đến người con thứ nữa mà lại liên quan đến người con cả. Ông bố rộng lượng tha thứ bao nhiêu thì người anh cả này lại hẹp lượng với em bấy nhiêu. Anh ta không muốn bước vào nhà để ăn mừng đứa em trở về dù ông bố đã nài nỉ anh ta vào. Dụ ngôn kết thúc mà không nói cho chúng ta biết cách cư xử của người con lớn. Liệu cuối cùng anh ta có chịu bước vào dự tiệc mừng không? Hay vẫn đứng ở bên ngoài lẩm bẩm? Lý do Chúa Giêsu không nói rõ ra là vì người con lớn đại diện cho đám luật sĩ và biệt phái đương thời, còn người con thứ đại diện cho đám dân tội lỗi và những kẻ sống ngoài vòng pháp luật. Lúc đó, đám tội lỗi trộm cướp này biết đáp lại lời kêu gọi thống hối của Chúa Giêsu và Ngài đã tha thứ cho họ, đồng thời tiệc tùng vui vẻ với họ. Điều này khiến các luật sĩ và biệt phái căm tức. Họ cho rằng lũ người tội lỗi kia lẽ ra phải bị trừng phạt chứ đâu lại được tha thứ! Và như thế Chúa Giêsu không kết thúc dụ ngôn này mà lại nhường phần kết câu chuyện cho mỗi luật sĩ và biệt phái viết thêm vào cho trọn. Mỗi người trong bọn họ đều nhận biết rằng mình là đứa con lớn và phải tự quyết định sẽ tha thứ và chung vui với người em hay nhất quyết không chấp nhận thứ tha và đồng bàn với nó.

Tất cả điều này muốn nói gì với chúng ta hôm nay? Theo tôi thì có hai điểm:
– Thứ nhất là Chúa Giêsu luôn sẵn sàng tha thứ cho chúng ta sau khi chúng ta lỡ phạm tội.
– Thứ đến, chúng ta phải biết tha thứ cho kẻ khác như Chúa đã thứ tha cho chúng ta. Hơn nữa chúng ta còn phải tiếp nhận họ trở lại với trọn vẹn lòng quảng đại như Chúa đã cư xử với chúng ta, nghĩa là nồng nhiệt tiếp đón, tha thứ hoàn toàn, và hồi phục tình trạng ban đầu cho họ như xưa.

Có một câu chuyện nói về tổng thống Lincoln như sau: Khi có người hỏi rằng ông sẽ đối xử với miền Nam như thế nào sau khi cuộc nội chiến kết thúc, ông liền trả lời: Tôi sẽ đối xử với họ như là họ chưa bao giờ bỏ nhà ra đi.” Đây là điều chúng ta muốn ám chỉ từ ngữ: phục hồi trọn vẹn. Đây cũng là cách thức Chúa Giêsu đối xử với Phêrô sau khi Phêrô chối bỏ Ngài vào đêm thứ năm Tuần thánh. Ngài không những thứ tha mà còn phục hồi ông về trạng thái nguyên thủy trong vai trò “đá tảng” trên đó Ngài sẽ xây Giáo hội Ngài. Lẽ ra Chúa Giêsu đã phải nói với Phêrô: “Thày đã dự tính một kế hoạch lớn lao cho con, nhưng con đã làm hỏng bét. Phêrô à, thầy tha thứ cho con, nhưng thầy sẽ trao cho con một vai trò kém hơn, vì con đã làm thầy quá thất vọng.” Nhưng Chúa Giêsu không làm như thế! Ngài vẫn đối xử với Phêrô như thể ông chưa hề phạm tội.

Đây chính là cách thức chúng ta phải cư xử với những kẻ có lỗi với chúng ta. Chúng ta phải tha thứ cho họ và đem họ về với con tim chúng ta bằng tình yêu quảng đại như Chúa đã đối xử với chúng ta. Và nếu chúng ta làm được điều này, chắc chắn khi lìa cõi đời này, khi tiến đến cổng trời, chúng ta cũng sẽ nhìn thấy ở đó một cây táo, trên mỗi cành cây đều có cột một mảng vải trắng.

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin tỏ lòng thương xót con, và lấp tràn đầy trái tim con tình yêu tha thứ của Chúa. Con là đứa con thứ đã bỏ ra đi rồi lại trở về. Con cảm ơn Chúa đã đón nhận lại con. Và con cũng là người con lớn đã từng khư khư không chịu tha thứ cho anh chị em con như Ngài đã đã tha thứ cho con. Vậy xin Chúa hãy chạm vào trái tim con với tình yêu tha thứ của Ngài. Để rồi sau khi yên nghỉ trong cõi chết, con sẽ thức dậy trước thánh nhan Ngài để vui hưởng sự thứ tha của Ngài mãi mãi cùng với những anh chị em từng được con tha thứ lỗi lầm.

Mark Link S.J.

TIỂU SỬ CHÍNH THỨC CỦA MẸ TÊRÊSA THÀNH CALCUTTA

Lúc 11 giờ 30 sáng thứ Sáu 2 tháng Chín, Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã có cuộc họp báo giới thiệu với các ký giả những chi tiết liên quan đến Lễ Tuyên Thánh cho Mẹ Têrêsa vào ngày Chúa Nhật 4 tháng Chín, 2016.

Dưới đây là tiểu sử chính thức của Mẹ Têrêsa thành Calcutta sẽ được Đức Hồng Y Angelo Amato, là Tổng trưởng bộ Tuyên Thánh, đọc trước Đức Thánh Cha Phanxicô trong thánh lễ tại quảng trường Thánh Phêrô lúc 10h25 sáng Chúa Nhật.

ZZTêrêsa Calcutta, nhủ danh Gonxha Bojaxhiu Agnes, sinh tại Skopje, Albania, ngày 26 Tháng Tám năm 1910, là người con thứ năm và cũng là con út của ông bà Nikola và Drane Bojaxhiu.  Cô đã được rửa tội vào ngày hôm sau và được rước lễ lần đầu khi lên năm tuổi rưỡi.  Từ thời điểm đó trở đi, tâm hồn cô tràn ngập tình yêu dành cho các linh hồn.

Năm 1928, với mong muốn được phục vụ như là một nhà truyền giáo, cô bước vào Tu hội Chị em Loreto ở Ireland.  Năm 1929, cô đến Ấn Độ, và khấn lần đầu vào tháng 5 năm 1931 và khấn trọn vào tháng Năm năm 1937.  Trong suốt hai mươi năm sau đó, cô đã giảng dạy ở Ấn Độ, và được nhiều người biết đến vì lòng bác ái, lòng nhiệt thành, sự tận tâm và sự vui tươi.

Ngày 10 tháng 9 năm 1946, cô nhận được từ Chúa Giêsu lời mời gọi “để lại tất cả mọi thứ phía sau và phục vụ Ngài nơi những người nghèo nhất trong số những người nghèo.”  Năm 1948, cô nhận được sự cho phép của Giáo Hội để bắt đầu sứ vụ tông đồ của mình trong các khu ổ chuột của thành phố Calcutta.  Dòng Thừa Sai Bác Ái đã trở thành một Tu Hội của giáo phận vào ngày 07 tháng 10 năm 1950, và đã được nâng lên thành một Tu Hội giáo hoàng vào ngày 1 tháng 2 năm 1965.  Đặc sủng riêng của Tu Hội là để thỏa mãn cơn khát vô hạn của Chúa Giêsu đối với tình yêu và đối với các linh hồn bằng cách hoạt động cho sự cứu rỗi và sự thánh thiện của những người nghèo nhất trong những người nghèo.

Để mở rộng sứ mệnh tình yêu này, Mẹ Têrêsa đã mở thêm các nhánh khác bao gồm dòng các Tu huynh Thừa Sai Bác Ái, vào năm 1963, dòng các nữ tu sĩ chiêm niệm vào năm 1976, dòng các Tu huynh chiêm niệm (1979), và dòng các Cha Thừa Sai Bác Ái vào năm 1984, cũng như các Hiệp hội các cộng tác viên, Hiệp hội các cộng sự viên đồng lao cộng khổ, và phong trào Corpus Christi cho các linh mục.

Tại thời điểm Mẹ Têrêsa qua đời vào ngày 05 tháng Chín năm 1997, dòng có đến 3,842 chị em làm việc tại 594 nhà ở tại 120 quốc gia.  Mặc dù, phải chịu đựng một kinh nghiệm đau đớn của bóng tối nội tâm, Mẹ Têrêsa đã đi khắp mọi nơi, có liên quan, như Đức Maria trong trình thuật Thăm Viếng [bà Elizabeth], để truyền bá tình yêu của Chúa Giêsu trên khắp thế giới.  Do đó, Mẹ đã trở thành một biểu tượng của dịu dàng và tình yêu thương xót của Thiên Chúa cho mọi người, đặc biệt là đối với những người không được yêu thương, bị khước từ và bỏ rơi.  Từ trên Thiên Đàng, Mẹ tiếp tục “thắp lên một ánh sáng cho những người sống trong bóng tối trên trái đất này.”

Phụ lục: Dưới đây là bản tiểu sử của Mẹ Têrêsa, dài hơn, đã được Đức Hồng Y José Saraiva Martins, Tổng Trưởng Bộ Tuyên Thánh (1998-2008) đọc trước Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong lễ tuyên phong Chân Phước ngày 19 tháng 10 năm 2003.

“Về huyết thống thì tôi là người Albany.  Theo tính cách công dân thì tôi là một người Ấn Độ.  Về phương diện đức tin thì tôi là một nữ tu Công Giáo.  Theo ơn gọi của mình thì tôi thuộc về thế giới. Với tâm hồn của mình thì tôi hoàn toàn thuộc về Trái Tim Chúa Giêsu”.

Với một thân mình nhỏ con, và một đức tin sắt đá, Mẹ Têrêsa Calcutta được ủy thác cho sứ mạng truyền bá tình yêu khát khao của Thiên Chúa cho nhân loại, nhất là cho thành phần nghèo nhất trong các thành phần nghèo khổ. “Thiên Chúa vẫn yêu thương thế gian và Ngài gửi các chị em và tôi đến với người nghèo như là tình yêu Ngài và lòng xót thương của Ngài”. Mẹ là một tâm hồn đầy tràn ánh sáng Chúa Kitô, cháy lửa mến yêu Người và bừng bừng một ước mong duy nhất đó là “làm giảm bớt cơn khát yêu thương các linh hồn của Người”.

Vị sứ giả sáng láng này của tình yêu Thiên Chúa chào đời ngày 26/8/1910 ở Skopje, Albania, một thành phố tọa lạc ở giao điểm lịch sử Balkan. Mẹ là con út của ông bà Nikola và Drane Bojaxhiu, được rửa tội với tên là Gonxha Agnes, được Rước Lễ Lần Đầu lúc 5 tuổi rưỡi và chịu phép Thêm Sức vào tháng 11/1916.  Từ ngày Rước Lễ Lần Đầu, tình yêu các linh hồn đã triển nở trong tâm hồn bé.  Bé mất cha bất ngờ khi mới lên tám.  Bà mẹ góa kiên cường nuôi con cái, và đã ảnh hưởng rất nhiều đến tính nết và ơn gọi của bé.  Ngoài ra, đời sống đạo của bé cũng được nâng đỡ bởi vị linh mục Dòng Tên coi xứ Thánh Tâm là nơi bé sinh hoạt nữa.

Vào năm 18 tuổi, được thúc đẩy bởi ý định trở thành một nhà truyền giáo, cô Gonxha đã từ giã gia đình vào tháng 9/1928 để dâng mình cho Chúa trong Dòng Trinh Nữ Maria, tức tu hội Nữ Tu Loreto ở Ái Nhĩ Lan.  Tại đây chị được đặt tên là Nữ Tu Maria Têrêsa theo Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Vào tháng 12 cùng năm, chị lên đường đi Ấn Độ, tới Calcutta ngày 6 tháng Giêng năm 1929.  Sau khi khấn lần đầu vào tháng 5/1931, Nữ Tư Têrêsa được chỉ định đến cộng đồng Loreto Entally ở Calcutta và dạy học ở Trường Thánh Maria phái nữ.  Vào ngày 24/5/1937 chị khấn trọn, để trở thành, như chị nói, “hôn thê của Chúa Giêsu” cho “đến muôn đời bất tận.”  Từ đó trở đi, chị được gọi là Mẹ Têrêsa.  Mẹ tiếp tục dạy học ở Trường Thánh Maria và làm hiệu trưởng của trường này vào năm 1944.  Là một con người chìm đắm trong cầu nguyện và hết sức yêu thương chị em dòng cũng như học sinh của mình, 20 năm sống trong dòng Loreto, Mẹ cảm thấy thật là hạnh phúc.  Nổi tiếng là bác ái, vị tha và can đảm, chịu khó và có óc tổ chức, Mẹ đã sống trọn cuộc sống tận hiến của mình cho Chúa Giêsu, giữa chị em đồng tu, một cách trung thành và vui vẻ.

Vào ngày 10/9/1946, trên chuyến xe lửa từ Calcutta tới Darjeeling để dự tuần cấm phòng hằng năm, Mẹ Têrêsa đã được “ơn linh hứng”, một “ơn gọi trong ơn gọi” của Mẹ.  Hôm ấy, Mẹ đã ở trong một trạng thái mà Mẹ không bao giờ giải thích được, là cơn khát yêu thương các linh hồn của Chúa Giêsu chiếm đoạt tâm hồn Mẹ, và ước muốn làm nguôi cơn khát của Người trở thành mãnh lực chi phối cuộc sống của Mẹ.  Những tháng ngày sau đó, qua những thị kiến nội tâm, Chúa Giêsu đã tỏ cho Mẹ biết ý của Trái Tim Người muốn có “những chứng nhân tình yêu”, là những người “chiếu tỏa tình yêu của Người trên các linh hồn.”  Người đã nài xin Mẹ: “Hãy đến để làm ánh sáng của Cha.  Cha không thể đi một mình”.

Người đã tỏ cho Mẹ biết cái đau đớn của Người nơi thành phần nghèo khổ bị bỏ rơi, niềm sầu thương của Người ở chỗ vô tri của họ và niềm khát vọng được họ yêu mến.  Người đã xin Mẹ Têrêsa hãy thành lập một cộng đoàn tu trì, Dòng Thừa Sai Bác Ái, dấn thân phục vụ thành phần nghèo nhất trong các người nghèo.  Mẹ mất gần hai năm trời để trắc nghiệm và phân định trước khi bắt đầu khởi sự.  Vào ngày 17/8/1948, lần đầu tiên Mẹ mặc bộ sari trắng viền xanh dương và bước qua cổng tu viện Loreto thân yêu để tiến vào thế giới người nghèo.

Sau một khóa huấn luyện ngắn với Các Nữ Tu Thừa Sai Y Khoa ở Patna, Mẹ Têrêsa trở về Calcutta và tìm một nơi cư trú tạm thời với Các Sư Tỷ Nghèo.  Vào ngày 21/12 lần đầu tiên Mẹ đi đến những khu nhà ổ chuột.  Mẹ đã viếng thăm các gia đình, rửa các vết ghẻ lở cho một số trẻ em, chăm sóc cho một người già nằm bệnh trên đường phố, và thuốc men cho một người đàn bà đang chết đói và bị lao phổi. Mẹ bắt đầu mỗi ngày bằng việc rước lấy Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể và rồi lên đường, tay cầm tràng hạt, để tìm kiếm và phục vụ Ngài nơi “thành phần không được chú ý tới, không được yêu thương, không được chăm sóc.”  Sau mấy tháng, Mẹ được những học sinh của Mẹ trước đó, từng người một, đến tham gia cộng tác với Mẹ.

Ngày 7/10/1950, hội dòng mới các Nữ Tu Thừa Sai Bác Ái đã được chính thức thành lập tại tổng giáo phận Calcutta.  Vào đầu thập niên 1960, Mẹ Têrêsa bắt đầu gửi các Nữ Tu của dòng đến các vùng khác ở Ấn Độ.  Sắc Lệnh Ca Ngợi do Đức Thánh Cha Phaolô VI ban gửi cho hội dòng của Mẹ đã khuyến khích Mẹ mở một nhà ở Venezuela.  Chẳng bao lâu sau những nhà khác được thành hình ở Rôma và Tanzania, rồi dần dần ở hết mọi lục địa.  Bắt đầu từ năm1980 và liên tục qua thập niên 1990, Mẹ Têrêsa đã mở những nhà ở hầu hết mọi quốc gia cộng sản, bao gồm cả ở Khối Sô Viết trước đây, Albania và Cuba.

Để đáp ứng hơn nữa cho cả nhu cầu về thể lý cũng như thiêng liêng, năm 1963 Mẹ Têrêsa đã lập hội dòng Các Tu Huynh Thừa Sai Bác Ái, năm 1976 ngành chiêm niệm cho các Nữ Tu, năm 1979 ngành Các Tu Huynh Chiêm Niệm, và năm 1984 Các Cha Thừa Sai Bác Ái.  Tuy nhiên, ơn linh hứng của Mẹ không giới hạn vào những ai theo đuổi ơn gọi tu trì mà thôi.  Mẹ đã thành lập tổ chức Đồng Cộng Tác Viên của Mẹ Têrêsa cũng như Đồng Cộng Tác Viên Phục Vụ Bệnh Nhân và Đau Khổ, những người thuộc nhiều tín ngưỡng và quốc tịch được Mẹ chia sẻ tinh thần cầu nguyện của Mẹ, tinh thần giản dị đơn sơ của Mẹ, tinh thần hy sinh của Mẹ và tinh thần tông đồ thực hiện những việc làm yêu thương khiêm tốn của Mẹ.  Tinh thần này sau đó đã tác động nên Các Giáo Dân Thừa Sai Bác Ái.  Để đáp lại những lời yêu cầu của nhiều linh mục, vào năm 1981, Mẹ Têrêsa cũng đã bắt đầu Phong Trào Chúa Kitô cho Các Linh Mục như là một “đường lối thánh thiện nhỏ bé” cho những vị muốn tham dự vào đặc sủng và tinh thần của Mẹ.

Trong những năm phát triển nhanh này, thế giới bắt đầu chú ý tới Mẹ Têrêsa và công việc Mẹ đã khởi công thực hiện.  Nhiều bằng tưởng thưởng, bắt đầu là Bằng Tưởng Thưởng Padmashiri của Ấn Độ vào năm 1962, rồi Giải Nobel Hòa Bình năm 1979, đã tôn vinh công cuộc của Mẹ, khiến cho giới truyền thông lưu ý và bắt đầu theo dõi các sinh hoạt của Mẹ.  Mẹ đã lãnh nhận cả các thứ giải thưởng và sự chú ý của thế giới “vì vinh quang Thiên Chúa và nhân danh kẻ nghèo”.

Cuộc đời lao nhọc của Mẹ Têrêsa chứng tỏ cho thấy niềm vui của yêu thương, sự cao cả và phẩm giá của hết mọi con người, giá trị của những điều nhỏ mọn được trung thành thực hiện vì yêu mến, và giá trị siêu việt của tình bằng hữu với Thiên Chúa.  Thế nhưng còn một phương diện anh hùng khác của người nữ cao cả này đã được tỏ lộ chỉ sau khi người nữ ấy qua đời.  Khuất kín trước mắt của tất cả mọi người, ngay cả với những người thân cận nhất với Mẹ, đó là đời sống nội tâm của Mẹ, đầy những cảm nghiệm đau thương sâu đậm liên lỉ của tình trạng bị xa lìa Thiên Chúa, thậm chí bị Ngài loại bỏ, mà lại cứ càng khát vọng tình yêu của Ngài.  Mẹ đã gọi cảm nghiệm nội tâm này là “bóng tối tăm.”  “Đêm tối đau thương” của linh hồn Mẹ, bắt đầu vào khoảng thời gian Mẹ khởi sự hoạt động cho người nghèo và đã tiếp tục cho đến hết đời của Mẹ, đã khiến Mẹ tiến đến chỗ được hiệp nhất sâu xa với Thiên Chúa hơn bao giờ hết.  Nhờ bóng tối tăm Mẹ đã tham dự một cách lạ lùng vào cơn khát của Chúa Giêsu, vào khát vọng đau thương bừng cháy yêu thương của Người, và Mẹ đã tham dự vào nỗi cô đơn hiu quạnh nội tâm của thành phần nghèo khổ.

Trong những năm cuối đời của mình, mặc dù có những vấn đề trầm trọng về sức khỏe, Mẹ Têrêsa vẫn tiếp tục coi sóc Hội Dòng của Mẹ và đáp ứng các nhu cầu của người nghèo cũng như của Giáo Hội.  Vào năm 1997, con số nữ tu dòng của Mẹ đã gần 4 ngàn và đã thiết lập được 610 nhà ở 123 quốc gia trên thế giới.  Vào 3/1997, Mẹ đã chúc lành cho vị thừa kế mới được tuyển bầu của mình làm Bề Trên Tổng Quyền của Dòng Thừa Sai Bác Ái, để rồi thực hiện nhiều chuyến xuất ngoại hơn.  Sau khi gặp Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II lần cuối cùng, Mẹ đã trở về Calcutta và sống những tuần lễ cuối cùng của mình tiếp đón các khách viếng thăm và chỉ dẫn cho các Nữ Tu của Mẹ.  Vào ngày 5/9, Mẹ đã chấm dứt cuộc sống trần gian.  Mẹ đã được vinh dự chôn cất theo quốc táng do chính quyền Ấn Độ thực hiện, và thi thể của Mẹ được an táng tại Nhà Mẹ Dòng Thừa Sai Bác Ái.  Mộ của Mẹ trở thành một địa điểm hành hương mau chóng và là nơi cầu nguyện cho dân chúng thuộc đủ mọi tín ngưỡng, giầu cũng như nghèo.  Mẹ Têrêsa đã để lại chứng từ của một đức tin không lay chuyển, một niềm hy vọng bất khuất và một đức ái phi thường.  Việc Mẹ đáp lại lời kêu gọi của Chúa Giêsu “hãy đến làm ánh sáng của Cha,” làm Mẹ trở thành một vị Thừa Sai Bác Ái, thành “mẹ của người nghèo,” làm biểu hiện của lòng xót thương trước thế giới, và là một chứng từ sống động cho tình yêu khát khao của Thiên Chúa.

Không đầy hai năm sau khi qua đời, căn cứ vào tiếng tăm thánh thiện lẫy lừng của Mẹ cùng với những thuận lợi xẩy ra, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cho phép tiến hành việc phong thánh cho Mẹ. Ngày 20/12/2002, Ngài đã chuẩn nhận sắc lệnh về các nhân đức anh hùng và phép lạ của Mẹ.

J.B. Đặng Minh An dịch, VCN 02.09.2016