NHỮNG LỜI HẠNH PHÚC

Buồn phiền đến gần như tuyệt vọng vì những lời chỉ trích, vu oan, anh Lưu Chung tìm đến với nhà hiền triết Phong Sai, đang ẩn tu trên ngọn núi gần đó, để giải bày tâm sự.  Sau khi lắng nghe tất cả những lời than phiền của anh, nhà hiền triết hỏi: Thế thì anh nghĩ và xác tín rằng, để sống hạnh phúc, anh phải luôn luôn được mọi người khen tặng, có phải vậy không?  Anh Lưu Chung vui vẻ thưa nhanh: Thưa Thầy, đúng vậy.  Ðược mọi người luôn luôn khen mình, đó là lý tưởng con muốn đạt tới để sống hạnh phúc.  Nhà hiền triết Phong Sai liền lấy từ trong bọc ra một viên đá quý và nói: Ðây anh hãy cầm lấy và luôn giữ nó trong người.  Viên đá quý này có sức vạn năng làm cho bất cứ ai anh gặp, và trong bất cứ hoàn cảnh nào, đều nói lời khen tặng anh.  Từ nay, anh sẽ không còn ai nói xấu hay chỉ trích, khinh chê anh nữa.  Anh Lưu Chung vui vẻ nhận viên đá và hết lòng cám ơn nhà hiền triết, rồi vội vã xuống núi ngay.

Bảy ngày sau, anh trở lại tìm nhà hiền triết, để trả lại viên đá quý.  Nhà hiền triết không lấy làm ngạc nhiên gì cho lắm, vì đã đoán trước thế nào anh cũng sẽ trở lại hoàn trả viên đá quý này.  Anh Lưu Chung nói với nhà hiền triết như sau: Thưa Thầy, lời thầy nói rất đúng.  Viên đá này thật là hiệu nghiệm.  Trong bảy ngày qua, bất cứ đi đâu và gặp ai, con luôn luôn nhận lời khen tặng.  Con xin cám ơn thầy đã mở mắt cho con thấy một sự thật.  Nhà hiền triết ngắt lời: Sự thật nào đây?  Thưa thầy, con kinh nghiệm rằng, khi tất cả mọi người luôn luôn khen tặng con, đồng ý với con, thì lúc đó đời sống con trở thành nhàm chán.

********************************************

zzLời khen tặng không thể mang lại cho con người hạnh phúc thật.  Sống trong sự khen tặng luôn luôn làm cho con người trở thành nhàm chán.  Ðành rằng con người có khuynh hướng thích được khen, được mọi người đồng ý với mình.  Nhưng nếu phải luôn luôn sống trong sự khen tặng, thì thật là không có gì nguy hiểm bằng.  Nơi thư Corintô, thánh Phaolô đã dành nhiều lời giảng dạy để thức tỉnh các tín hữu đừng đi tìm hư danh, đừng làm bất cứ điều gì chỉ để được khen thưởng.  Ðặc biệt nơi chương 11 thư thứ hai Corinto cho đến chương 12, câu 10, thánh Phaolô tông đồ đã viết như sau: “Nếu tôi phải tự hào, thì tôi sẽ tự hào về những yếu đuối của tôi. Thiên Chúa, Ðấng đáng chúc tụng muôn đời, là Cha của Chúa Giêsu, biết rằng tôi không nói dối…  Phải tự hào ư?  Nào có ích gì?…  Và để tôi khỏi tự cao tự đại, vì những mạc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại.  Ðã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này.  Nhưng người quả quyết với tôi: Ơn ta đủ cho con, vì sức mạnh của Ta được biểu lộ trong sự yếu đuối.  Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Chúa Kitô ở mãi trong tôi.  Vì vậy tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Chúa Kitô.  Vì khi tôi yếu là lúc tôi mạnh” (2Cr 11,30-12,10).

Quan niệm trần tục không thể nào hiểu được thái độ sống trên của thánh Phaolô tông đồ.  Ðó là mẫu người bị chê là khùng điên trước mặt người đời.  Chúng ta có can đảm chấp nhận bị cho là khùng điên vì Chúa Giêsu Kitô hay không, vì chúng ta sống không chỉ vì mục đích được khen tặng, được mọi người nói tốt về mình?  Sống vì lời khen ngợi của người đời, chúng ta dễ dàng chối bỏ đức tin, như một số người lãnh đạo dân Do thái thời Chúa Giêsu ngày xưa.  Tác giả Phúc Âm theo thánh Gioan đã nhận xét sâu sắc như sau: Ngay cả trong giới lãnh đạo Do thái cũng có nhiều người đã tin vào Chúa Giêsu.  Nhưng vì sợ nhóm Pharisiêu, họ không dám xưng ra, kẻo bị khai trừ khỏi Hội đường.  Thật thế, họ ưa chuộng vinh quang của người phàm hơn là vinh quang của Thiên Chúa (Ga 12, 42-43).

********************************************

Lạy Chúa, xin thương mở lòng trí cho con hiểu và yêu mến giáo huấn của Chúa, cho con biết chấp nhận hy sinh từ bỏ, và dâng lên những vui buồn sướng khổ, kết hiệp với hy tế của Chúa mà góp phần mưu ích cho bản thân và anh chị em xung quanh.  Amen!

R. Veritas

 

 

LÃNG QUÊN

Sách thánh kể rằng: Khi thánh Phaolô đặt chân tới kinh thành Nhã Điển, thủ đô nước Hy Lạp, ngài đã rảo qua một vòng phố xá, ngài nhận thấy dân Nhã Điển thật sùng mộ các thần minh.  Đường phố nào cũng có những bàn thờ, những chùa miếu.  Nhưng ngài để ý thấy một bàn thờ, trên đó khắc ghi hàng chữ “Kính thần vô danh”.  Và ngài bắt đầu bài giảng về Đức Kitô như thế này: “Vị thần vô danh mà quí vị thờ kính nhưng lại không biết đến, thì giờ đây tôi xin loan báo để quí vị được rõ: Vị thần vô danh ấy chính là Đức Kitô”.  Điều thánh Phaolô nói về Đức Kitô với người Nhã Điển, thì bây giờ chúng ta cũng có thể nói như vậy về Chúa Thánh Thần.

*************************************

zzPhải, là người Kitô hữu, chúng ta biết rất nhiều về Chúa Cha cũng như về Chúa Con.  Thế nhưng nếu có ai hỏi chúng ta về Chúa Thánh Thần, về những việc Ngài đã làm cũng như về vai trò của Ngài trong cuộc sống, thì rất có thể chúng ta sẽ trả lời không hơn gì những tín hữu Ephêsô thuở trước.  Thực vậy, thánh Phaolô đã hỏi họ: “Các ngươi đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần chưa?”  Và họ đã trả lời: “Chúng tôi chưa hề hay biết có một Chúa Thánh Thần”.  Phải, Chúa Thánh Thần chính là vị Thiên Chúa vô danh, vị Thiên Chúa bị quên lãng nhiều nhất trong cuộc sống.  Vậy Ngài là ai?  Ngài có phải là vị Thiên Chúa chúng ta tôn thờ hay không?

Sách giáo lý đã cho biết: Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa Ngôi Thứ Ba, bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra, cùng một bản tính, một quyền năng như hai Ngôi cực trọng ấy.  Làm sao chúng ta biết được Thiên Chúa có ba ngôi và ngôi thứ ba lại là Chúa Thánh Thần?  Sở dĩ chúng ta biết được là vì Chúa Giêsu đã tỏ lộ, đã dạy bảo.

Thực vậy, khi Chúa Giêsu chịu phép rửa ở sông Giorđan, thì Tin Mừng đã ghi nhận: bấy giờ trời mở ra, Chúa Thánh Thần lấy hình chim bồ câu mà ngự xuống, rồi từ trời có tiếng phán: “Này là Con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng”.

Trước khi về trời, Chúa Giêsu cũng đã truyền cho các môn đệ: “Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, rửa tội cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.  Nếu không có Chúa Thánh Thần thì ba ngôi Thiên Chúa sẽ không hoàn toàn và niềm tin của chúng ta sẽ bị thiếu sót.  Thực vậy, Chúa Giêsu đã thực hiện chương trình cứu độ, nhưng Chúa Thánh Thần mới là Đấng áp dụng công phúc cứu độ ấy cho chúng ta.  Chính Chúa Giêsu đã hứa ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ: “Thầy sẽ xin với Chúa Cha và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng phù trợ mới.  Ngài là chân lý sẽ luôn ở với các con. Các con hãy ở trong thành cho đến khi được mặc lấy sức mạnh từ trời cao”.  Tất cả những điều này đã được thực hiện trong ngày hôm nay, ngày lễ Hiện xuống, ngày các môn đệ được đầy tràn Chúa Thánh Thần.

Các tín hữu sơ khai cũng đã xác tín Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa.  Thực vậy, thánh Phaolô đã nhắn nhủ: “Tất cả những ai được Thánh Thần Thiên Chúa hướng dẫn sẽ là con Thiên Chúa.  Ngài đã ban Thánh Thần xuống trong tâm hồn chúng ta.

Thánh Luca trong sách Công vụ Tông đồ kể lại câu chuyện hai vợ chồng Anania và Saphira bán ruộng, đã đồng tình xén bớt một phần tiền rồi mới đem nộp cho thánh Phêrô.  Và thánh Phêrô đã nói với họ: “Hỡi Anania sao ma quỉ đã cám dỗ lòng ngươi dối trá Chúa Thánh Thần mà giữ lại một phần tiền.  Làm như thế, ngươi không chỉ lừa gạt người ta mà còn lừa gạt cả Thiên Chúa nữa”.  Còn thánh Gioan thì xác quyết: “Trên trời có Ba Đấng làm chứng, đó là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.  Bấy nhiêu mà thôi cũng đã đủ để chúng ta xác tín và tuyên xưng: “Chúa Thánh Thần chính là Thiên Chúa Ngôi thứ Ba, Đấng chúng ta phải tôn thờ.

Trong mạch sống Giáo Hội, tác động của Chúa Thánh Thần thật vô cùng quan trọng cho Giáo hội cũng như cho mỗi người chúng ta.  Không những cần cho các thừa tác viên của Giáo hội để chu toàn phận sự mà còn cần cho mọi người để sống đức tin và bác ái.  Mọi cố gắng của Giáo hội và của mỗi người đều cần có sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, nếu không sẽ trở nên lố bịch và vô vọng, như Đức Thượng phụ Athênagôrat, Giáo chủ Contantinốp đã nói: “Nếu cuộc sống thiếu vắng Chúa Thánh Thần thì Thiên Chúa sẽ nghìn trùng xa cách.  Đức Kitô chỉ là một nhân vật quá khứ.  Tin Mừng chỉ là một mớ chữ không hồn.  Giáo hội khác nào một cơ cấu cứng nhắc, biến quyền bính thành thống trị điêu ngoa, và giảng dạy chỉ là tuyên truyền láo khoét, việc thờ phượng chỉ là phù phép, và luân lý sẽ thành xiềng xích vong nô”.

Chúa Thánh Thần vô cùng quan trọng như vậy, thế mà chúng ta thật vô tâm, vô ý thức đến thờ ơ cũng như không biết có Chúa Thánh Thần ở trong lòng mình ngày đêm.  Thử hỏi nếu ai có 10 lượng vàng trong túi, có lẽ nào họ thờ ơ đến nỗi để mất số vàng đó khi nào mà họ không hay biết không?  Trái lại, phải chăng bất kỳ đi đâu hay làm gì họ cũng sờ tay vô túi coi vàng còn hay không?  Và nếu mất rồi, tâm hồn họ bải hoải, tâm trí rối loạn, buồn phiền, chán nản biết bao!  Vậy sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn không có giá trị bằng 10 lượng vàng sao?  Thế mà ngày này qua ngày khác chúng ta hầu như chẳng để ý đến một lần. Ý thức sự vô tâm và thiếu sót đó, cũng như hiểu biết được sự quan trọng và cần thiết của Chúa Thánh Thần trong đời sống, từ nay chúng ta hãy năng nhớ đến Chúa Thánh Thần hơn, bằng cách cầu xin Ngài hằng ngày, xin Ngài soi sáng, hướng dẫn và trợ giúp để chúng ta luôn sống tốt đẹp và làm mọi việc đúng thánh ý Chúa.

*************************************

Lạy Chúa, giờ đây một lần nữa con muốn tuyên xưng tự đáy lòng con: Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống. Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra. Người cùng được phụng thờ và tôn vinh với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.  Người đã dùng các tiên tri mà phán dạy.  Amen!

Sưu tầm

 

MATTHIAS VỊ TÔNG ĐỒ GIỜ THỨ 11

zzNgày Đức Yêsu chịu phép rửa ở Bêtania, Mathias đã có mặt.  Không ai chú ý đến ông.  Và dưới cặp mắt thế gian, hình như Đức Yêsu cũng không để ý đến ông.  Ông không có cái mạnh dạn của Yoan và Anrê để đi tìm Đức Yêsu mà hỏi chuyện.  Ông không được Người tìm đến trao đổi như với Philip.  Ông không được ai tiến cử như trường hợp Phêrô và Nathanael…

Nhưng, từ ngày Mathias nghe biết được về Chúa Yêsu, ông đã theo Người một cách âm thầm.  Các tông đồ đi đến đâu thì Mathias đi đến đấy.  Không đòi hỏi, Không bon chen…

Ngày Đức Yêsu chọn 12 người thân tín, Mathias không được chọn nhưng không hề thất vọng, ông vẫn tiếp tục theo Người.  Khi nào có một đám đông đến nghe Người thì chắc chắ ông có mặt ở đó.  Nhưng khi Người chia sẻ tình Thầy trò thân mật thì Mathias không được phép dự.

Mathias không có mặt ở Tabor, Mathias không được nghe lời dạy dỗ trong buổi tiệc ly,Mathias không được chia sẻ giây phút máu lửa ở Yêtsêmani… Mathias là một tín hữu hạng nhì, tín hữu như hàng triệu tín hữu vô danh khác.  Suốt đời theo Chúa, nghe Lời Người giảng dạy mà chưa một lần được hưởng một dấu hiệu tình yêu nào.

Sẽ có bạn nhận định: “Biết đâu Đức Yêsu cũng có tỏ cho Mathias nhiều tình cảm đặc biệt mà Kinh Thánh không nhắc đến.  Vả lại, dù ông không được trọng vọng thì duy một việc gặp gỡ được Đức Kitô và theo Người, nghe Người nói cũng đủ làm cho cuộc đời ông có ý nghĩa rồi…”  Nhận định đó quả là hợp lý, nhưng dù sao thì thì dưới cái nhìn của thế gian, và có thể, theo đánh giá của bạn và tôi, cuộc sống của Mathias thật là đáng thương hại…

Trong 3 năm trời đằng đẳng, ông kiên trì theo Chúa mà không cầu xin một ân huệ nào cho chính mình.  Ông chỉ biết đi theo thế thôi, đi theo một cách kiên trì…  Ngày Chúa nói ra những điều nghe chói tai, bao nhiêu người đã bỏ đi, trừ các tông đồ, cố nhiên, vì họ là những người thân tín.  Ngoài ra còn một số rất ít vẫn trung thành đi theo, trong số ít ngưới đó có Mathias.

Gia đình Mathias chắc hẳn đã hơn một lần phê bình trách cứ ông, cho ông là tào lao.  Ông không cãi lại, cũng không lý luận, ông chỉ tiếp tục cuộc hành trình tưởng như vô vọng của mình.  Bạn bè Mathias có lẽ đã có lần nhạo cười ông, cho ông là thiếu thực tế, không biết hưởng tuổi thanh xuân, mù quáng mà đeo theo một người hoàn toàn chẳng màng đến mình, lại không biết đi về đâu nữa chứ… Ông không biện minh một lời, ông chỉ tin tưởng tiếp tục chí hướng theo Chúa…

Niềm tin của Mathias quả là sắt thép.  Trong số những người thường xuyên theo Chúa, có lẽ Mathias là người ít được chứng kiến phép lạ nhất.  Chúa chỉ làm phép lạ trước mặt các tông đồ mà thôi.  Ngay cả lần Chúa làm phép lạ bánh hóa nhiều, Mathias có mặt ở đó nhưng chắc gì ông đã ngờ đó là phép lạ.  Ông chỉ biết các tông đồ phân phát bánh cho hàng mấy ngàn người ăn, còn bánh ấy lấy ở đâu ra thì làm sao ông biết được.  Mathias vẫn theo Chúa, âm thầm tin tưởng nhưng không hề có một chứng cứ nào để biện minh cho niềm tin của mình.

Ngày Chúa chết đi, một số người như ông đã thất vọng rời Yêrusalem để trở về quê, những môn đệ về Emau chẳng hạn.  Ngay trong nhóm 12, cũng có người muốn bỏ cuộc, như Tôma, ông bỏ không đến họp.  Nhưng Mathias thì vẫn kiên trì ở lại.

Khi Chúa đã thăng thiên, có một nhóm người rất ít tế tựu lại, khoảng 120 người, thì ông vẫn còn đó… Thế rồi Phêrô tuyên bố:  “Chúng tôi cần tìm một người đã cùng đi với chúng tôi suốt cả thời gian Chúa Yêsu ra vào giữa chúng tôi, khởi từ lúc Yoan Tẩy giả, cho đến ngày Đức Yêsu siêu thăng… người đó sẽ thay thế Yuđa Iscariốt…” (Cv 1).  Lúc đó, mọi người nhìn quanh, người ta chú ý ngay đến một người quan trọng: ông Yuse. Ông này khá nổi tiếng, có biệt danh là Yustô (người công chính).  Người ta gọi ông là Barsaba, (con của Sabba), người ta biết gốc gác lý lịch của ông rất rõ.

Và vì phải công bình, cộng đoàn cũng nhắc đến tên một người khác, người này tên là Mathias.   Thế thôi, chấm hết.  Không ai biết thêm chút gì về ông.  Ông chỉ là một người lu mờ.  Duy chỉ có một điều đáng lưu ý: Mathias đã kiên trì đi theo Chúa tự ban đầu…

Và rồi, giữa hai người, Thiên Chúa đã chọn người mang tên Mathias tầm thường đó.  (Mathias gì?  Tục danh?  Biệt hiệu?  Con ai?  Thân thế sự nghiệp?  Quả là không ai để ý, không ai ngờ!)  Thế mà ông đã được chọn.   Thiên Chúa đã chọn, thì người ta liệt Mathias vào hàng ngũ các tông đồ (Cv 1,26)…  Thế là kể từ đây, Mathias sẽ được nhắc đến, mọi người sẽ chú ý đến ông, ông sẽ nổi danh.  Có thế chứ!  Một đời âm thầm theo Chúa rồi, đã đến lúc Thiên Chúa công bình trả công, trao cho ông hào quang chứ…

Xin lỗi! Sự thật lại không phải như thế.  Mathias chỉ nổi bật lên có chừng ấy thôi, rồi lại tiếp tục đi vào quên lãng.  Suốt cuốn tông đồ công vụ, Luca sẽ nhắc rất nhiều về Phaolô, đến Yoan, đến Phêrô.  Luca dành hẳn hai chương cho tá viên Stêphanô, một chương cho tá viên Philip.  Còn Mathias?  Không có lấy một chữ.  Mathias chỉ có một nhiệm vụ quan trọng, một chức năng: điền vào chỗ trống của Yuđa để đủ con số 12.  Quan trọng là số 12 chứ không phải người được điền khuyết.

Ngày Chúa còn ở thế gian, còn thân mật, còn an ủi chuyện trò thì Yuđa lãnh nhận hết tất cả…

Giờ đây, cần một người “làm chứng tá cho sự sống lại của Người” nghĩa là cần một người để bị xỉ vả, bị hạch xách, bị đánh đập, bị tù đày vì Đức Yêsu, thì Mathias thế vào chỗ Yuđa.  Mathias có lẽ là vị tông đồ bạc bẽo nhất, một người âm thầm, gần như là vô tích sự… Và Thiên Chúa đã chọn Mathias.  Sự lựa chọn của Thiên Chúa quả là một mầu nhiệm: Tại sao ba năm rao giảng, Chúa Yêsu làm như không thấy Mathias,không chú ý đến Mathias, không chuẩn bị cho Mathias, không tạo niềm tin cho Mathias… để rồi khi đã siêu thăng, Chúa lại chọn Mathias ?

Tại sao lại chọn đúng vào Mathias tầm thường này?  Tại sao lại không phải là Yuse Yustô Barsaba?  Tại sao lại chọn Abel, Yacob, Yuse chứ không phải là những ông anh cả Cain, Esau, Ruben?  Tại sao lại chọn Đavit “liễu yếu đào tơ” chứ không phải là Eliab, Abinadab, Samma, những người anh phương phi chững chạc?

Phải chăng vì… “Chính những điều thế gian coi là điên rồ, thì Thiên Chúa đã chọn để bêu nhuốc hạng khôn ngoan.  Và những điều thế gian coi là yếu đuối, thì Thiên Chúa đã chọn để bêu nhuốc những gì là mạnh mẽ.  Những điều thế gian cho là ti tiện, là không đáng kể, thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt ra không những điều hiện có…” ( 1 Cr 1,27-28 )

Dù sao đi nữa thì việc Chúa chọn Mathias cũng là một niềm an ủi và là một sứ điệp cho mỗi chúng ta.  Khi bắt đầu rao giảng, Chúa chọn 12 tông đồ và người đầu tiên là Anrê chứ không phải Phêrô.  Khi Hội Thánh bắt đầu hoạt động thì người đầu tiên Người chọn là Mathias chứ không phải là Phaolô.  Phaolô là người mở mang Nước Trời bằng những lời rao giảng, bằng những cuộc hành trình, bằng những chứng tích vang dội.  Còn Mathias chỉ có làm một điều là Sống Tin Mừng.

Mathias chỉ có một chứng tích độc nhất là Lòng Kiên Trung.  Mathias có một cuộc hành trình duy nhất là cuộc Hành Trình Theo Chúa Suốt Đời.  Mathias chỉ để lại vỏn vẹn một lời rao giảng hùng hồn đó là Cuộc Đời Tận Hiến của mình.  Chúng ta được yên ủi rất nhiều qua vị tông đồ “giờ thứ 11” là Mathias…  Ông xuất hiện khi mọi việc hầu như đã hoàn tất: Chúa Yêsu đã nhập thể, đã chết, đã sống lại, và đã siêu thăng…

Trong chương 20, Matthêu đã kể lại dụ ngôn người chủ vườn nho.  Gia chủ từ tảng sáng đã mời những người thợ đến làm việc trong vườn nho của mình.  Giờ thứ 6 và giờ thứ 9, ông cũng làm như vậy.  Đến giờ thứ 11, ông vẫn ra mời những người thợ khác. (Theo giờ hiện nay là 12g, 15g, và 17g). Nhưng đến khi trả công thì người thợ vào làm giờ thứ 11 cũng được trả bằng giá với những người thợ vào làm từ tảng sáng…

Lúc hừng đông của lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã chọn Abraham, Môsê, Isaia, Yêrêmia…

Khi mặt trời lên tột đỉnh – giờ thứ 6 – là lúc Đức Kitô nhập thể và giờ thứ 9 là giờ Người chết để cứu rỗi, Người đã chọn nhóm 12…  Khi mọi chuyện hầu như hoàn tất, giờ mà hình như không còn gì để làm nữa ngoại trừ tổng kết công việc thì Người đã chọn Mathias, người tông đồ giờ thứ 11.  Và Mathias được đặt đồng hàng với những người đi trước, không phải đồng hàng trong cái hư danh là tông đồ, nhưng là đồng hàng dưới đôi mắt nhân lành của Thiên Chúa.

Thế đó: “Những kẻ cuối hết sẽ lên đầu hết” (Mt 20,16).  Chúa đã chọn Mathias và chúng ta được an ủi, vì vấn đề không phải là được chọn trước hay chọn sau, nhưng vấn đề là Mathias có chấp nhận tự ý chân thành đáp lời kêu gọi vào làm vườn nho của Chúa hay không?

Ngày nay, mỗi chúng ta đều được kêu gọi trở nên tông đồ, chúng ta cũng phải gắng bước theo chân người anh cả Mathias.  Những Phêrô, Phaolô, Anrê, đã chia tay trần thế, đã lìa đời khi thế kỷ thứ nhất chưa kết thúc, nhưng những Mathias thì sẽ sống mãi cho đến ngày Chúa trở lại.

Hai ngàn năm qua, những Mathias đã tủa đi khắp thế giới, trầm mình trong lòng của xã hội, từ công sở đến trường học, từ chợ búa đến nhà tù.  Những Mathias khiêm nhường, không tăm tiếng, lẫn lộn trong mọi lớp người như men ở trong bột, để từ đó, lớp bột người vươn dậy nhờ chất men của Đức Kitô…

Và mỗi ngày, Mathias đã phải mục nát đi để cho ngọn lúa Đức Kitô đơm hoa kết hạt.  Trong đời sống Kitô hữu, biết bao lần chúng ta thấy mình như một chiếc bóng âm thầm, lặng lẽ bước đi mà không làm được gì cả.  Chúng ta lữ hành trong đêm đen, từ ngày này đến ngày khác, gần Chúa mà vẫn không cảm thấy sự dịu ngọt của Người.  Và phần nào như Mathias, chúng ta có cảm giác như Thiên Chúa không hề để ý đến chúng ta.  Chúng ta ước ao được lựa chọn, được sai đi một cách cụ thể rõ  ràng.  Chúng ta còn mong muốn Chúa làm một phép lạ nào đó, bởi vì chúng ta khó chấp nhận cái phép lạ duy nhất là: “Tin tưởng khi không còn dấu hiệu nào để tin tưởng.  Hy vọng khi không còn gì để hy vọng.  Yêu thương khi chính mình chưa cảm thấy được yêu thương…”

Mathias đã là một phép lạ như thế.  Và qua Mathias, chúng ta có một bằng chứng rằng mọi người đều được kêu gọi để trở nên đồng hàng với nhau trước mặt Thiên Chúa.  Vì Người không xét đoán theo tài năng và công trạng đóng góp của chúng ta, nhưng chỉ xét theo Tình Yêu của Người.  Điều duy nhất Người đòi hỏi chúng ta là bước vào vườn nho của Người.  Qua Mathias, chúng ta được an ủi, nhưng cùng một lúc, chúng ta cũng nhận được một sứ điệp.  Mathias không nhận lãnh nhiệm vụ trực tiếp từ Chúa Yêsu nhưng qua sự đề cử của cộng đoàn.  Mathias là chứng tích cho sự hiện diện của Đức Kitô trong Hội Thánh của Người.  Mathias đã thay thế Yuđa, trong trường hợp mà chúng ta nghĩ rằng không thể nào có ai thay thế được, bởi lẽ Đức Kitô đã ra đi.  Những người có ác ý chờ đợi những ảnh hưởng của Yêsu sẽ mờ đi, người sẽ đi vào quên lãng như những kẻ đã dấy động trước Người.

“Thêuđa đã dấy lên, xưng mình là một nhân vật nào đó và kết nạp được khoảng 400 người.  Ông ta đã bị giết và mọi kẻ theo ông cũng tan rã không còn gì hết.  Sau đó lại có Yuđa người Galilê nổi lên, nhưng ông này cũng chết và phe cánh bị tan tác…” ( Cv 5,36-37 ).  Thế nhưng, Yêsu Nazareth bị tử hình thập giá thì nhóm 12 vẫn có đủ.  Có một người thay thế Yuđa Iscariốt, đó là Mathias…  Và câu chuyện về Mathias vẫn còn tiếp diễn đến nay, thế kỷ XX…

Trong tác phẩm: “Vinh danh và quyền lực” (The Power and the Glory), Graham Greene thuật lại về một ngôi làng bị bách đạo: “Mọi linh mục đều từ từ bị hành quyết, Chỉ còn lại duy nhất một người.  Vị linh mục này đã nhiều lần định tìm cách bỏ xứ trốn đi, Nhưng lần nào cũng vậy, ông lại phải quyết định ở lại vì có một ai đó cần đến ông…  Ông đã ở lại cho đến ngày bị phát giác và xử tử.  Thế là xong, trên vùng đất này từ nay sẽ không còn ai làm chứng cho Đức Kitô…  Thế nhưng, ngay vào đêm hôm vị linh mục cuối cùng bị xử tử, có một người thanh niên tìm đến gõ cửa một ngôi nhà trong làng.  Anh ta nói: “Xin cho tôi trú ngụ, tôi là linh mục…”

Cuốn sách kết thúc ở đó, nhưng suy tư của độc giả vẫn tiếp tục…  Một Mathias khác đã xuất hiện…

Trần Duy Nhiên

 

 

TÌNH YÊU CỦA NGƯỜI MẸ NHẬT BẢN

zzCâu chuyện có thật về Sự Hy Sinh của một Người Mẹ trong trận động đất ở Nhật Bản, 2011.

Khi trận động đất xảy ra, khi đội cứu hộ tiếp cận hiện trường hoang tàn thuộc về ngôi nhà của một phụ nữ trẻ, họ trông thấy thi thể bất động của cô qua các khe nứt.  Nhưng tư thế của cô thật kì lạ, trông cô như đang quỳ xuống như khi cầu nguyện, thân cô hướng về phía trước, và hai tay cô như đang bọc lấy thứ gì đó.  Ngôi nhà đổ nát đã đè quỵ hoàn toàn lưng và đầu của cô.

Dù rất khó khăn, người đội trưởng vẫn cố gắng đưa tay qua các khe nứt để chạm tới thân người phụ nữ.  Ông hy vọng mong manh rằng cô vẫn sống.  Tuy nhiên, làn da lạnh và cơ thể cứng đã bảo ông rằng người phụ nữ này đã vĩnh viễn ra đi.

Ông và các thành viên còn lại của đội tiếp tục tìm kiếm ở các căn nhà đổ nát kế tiếp.  Linh tính mách bảo điều gì đó, người đội trưởng bị thôi thúc quay lại căn nhà sụp đổ của người phụ nữ đó. Một lần nữa, ông lại lần mò một cách khó nhọc bên dưới không gian chật hẹp cơ thể đã lạnh của người phụ nữ, và bất ngờ thay, ông reo lên một cách mừng rỡ: “Một đứa trẻ, là một đứa trẻ!”

Cả đội đã cùng với nhau, cẩn thận di dời từng mảnh đổ vỡ của căn nhà chung quanh người cô.  Một cậu bé 3 tháng tuổi đã được tìm thấy trong tấm chăn hoa bên dưới thân người mẹ đã mất của mình.

Người phụ nữ rõ ràng đã thực hiện sự hi sinh cuối cùng để cứu con trai mình.  Khi ngôi nhà của cô rơi xuống, cô đã ôm trọn đứa trẻ và đã dùng cơ thể của mình để làm tấm chắn bảo vệ con trai mình. Cậu bé vẫn ngủ một cách yên bình khi đội trưởng đội cứu hộ nhấc bé lên.

Bác sỹ nhanh chóng kiểm tra cậu bé, khi mở tấm chăn ông thấy một chiếc điện thoại di động bên trong.  Có một tin nhắn văn bản trên màn hình, nói rằng: “Nếu con có thể sống sót, con phải nhớ rằng… mẹ luôn yêu con.”  Chiếc điện thoại này đã đi từ hết bàn tay này đến bàn tay khác, qua bàn tay khác.  Tất cả những người đọc tin nhắn đã khóc. “Nếu con có thể sống sót, con phải nhớ rằng… mẹ luôn yêu con…”

Sưu tầm

 

 

TRONG CUNG LÒNG THIÊN CHÚA

Trong lịch sử Việt Nam, tôi thích nhất tướng Trần Hưng Đạo.  Trần Hưng Đạo không những có tài thao lược mà lại có đức độ hơn người.  Người ta gọi ngài là Đức Thánh Trần thật xứng đáng.  Thời nhà Trần có hai tướng tài: Trần Hưng Đạo và Trần Quang Khải.  Nhưng hai gia đình lại có mối thù không đội trời chung.  Cha của Trần Hưng Đạo trước khi tắt thở còn dặn Trần Hưng Đạo phải thay cha trả thù.  Nhưng giặc Nguyên sang xâm lăng nước ta.  Trần Hưng Đạo suy nghĩ: Giặc ngoại xâm đang đe doạ.  Nếu trong nước các tướng tá không đoàn kết thì không phá nổi thế giặc đang rất mạnh.  Nghĩ thế, Trần Hưng Đạo gạt bỏ mối thù nhà, đến làm hoà với Trần Quang Khải.  Một hôm, Trần Hưng Đạo sang thăm Trần Quang Khải, tự tay nấu nước tắm cho Trần Quang Khải và nói: “Hôm nay được hân hạnh tắm cho Ngài quốc công”. Trần Quang Khải vui vẻ trả lời: “Hôm nay hân hạnh được tướng công tắm cho”.  Từ đó hai người hoà thuận.  Cùng chung vai sát cánh phục vụ đất nước.  Nhờ sự đoàn kết của hai tướng tài, quân ta đã đánh thắng giặc Nguyên.

**********************************************

 Sự đoàn kết của Trần Hưng Đạo và Trần Quang Khải rất phù hợp với bài Tin Mừng của Chúa Nhật 7 Phục Sinh.  Hôm nay, Chúa tha thiết cầu nguyện cho con cái Chúa hiệp nhất.

zzChúa tha thiết với sự hiệp nhất vì Chúa biết rằng: Có hiệp nhất mới xây dựng được cộng đoàn vững mạnh.  Tục ngữ Việt Nam có câu: “Thuận vợ thuận chồng, tát bể đông cũng cạn”.  Có đoàn kết làm việc gì cũng xong.  Chia rẽ làm suy yếu cộng đoàn.  Làm cho công việc trì trệ.  Và có khi làm tan rã cộng đoàn.

Chúa tha thiết với sự hiệp nhất vì Chúa biết rằng có hiệp nhất trong nội bộ mới có thể truyền giáo thành công.  Hiệp nhất chính là dấu chỉ của môn đệ Chúa như Lời Chúa đã dạy: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ của Thầy, là các con thương yêu nhau”.  Qua dấu chỉ hiệp nhất, người ngoài mới nhận biết Chúa.  Thời sơ khai, khi nhìn thấy các tín hữu đầu tiên sống đoàn kết yêu thương, người ngoại đạo đã bảo nhau: “Kìa xem họ yêu thương nhau biết bao”.  Từ đó có nhiều người xin vào đạo để được sống trong cộng đoàn hiệp nhất yêu thương.

Sau cùng, Chúa tha thiết với sự hiệp nhất, vì Chúa muốn ta được hạnh phúc.  Có hiệp nhất mới có hạnh phúc.  Hạnh phúc của ta là được sống sự sống của Thiên Chúa.  Sự sống bắt nguồn từ Thiên Chúa Ba Ngôi.  Ba Ngôi hiệp nhất với nhau đến nỗi trở thành một.  Như lời Chúa Giêsu nói: “Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy.  Thầy và Cha Thầy là một”. Cho đến độ: “Ai thấy Thầy là thấy Cha”.

Sự hiệp nhất giữa Ba Ngôi là nguồn mạch sự sống, nguồn mạch hạnh phúc của ta.  Tuy nhiên để được thông phần vào sự sống hạnh phúc đó, ta phải hiệp nhất yêu thương nhau.  Thiên Chúa là Tình Yêu, là sự Hiệp Nhất.  Muốn được hoà nhập vào nguồn mạch hạnh phúc đó, ta cũng phải đoàn kết yêu thương nhau.  Chỉ những ai có tinh thần hiệp nhất yêu thương mới có thể gia nhập cộng đoàn hiệp nhất yêu thương của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Hiệp nhất yêu thương không là một món hàng làm sẵn, nhưng là một tiến trình xây dựng dài lâu.  Xây dựng bằng từ bỏ ý riêng.  Xây dựng bằng nhịn nhục tha thứ.  Xây dựng bằng hy sinh quên mình.  Vì thế để đạt đến yêu thương đòi hỏi phải rất nhiều phấn đấu.  Phấn đấu của bản thân.  Phấn đấu của cả tập thể.  Nếu biết phấn đấu để hiệp nhất, ta sẽ xây dựng được cộng đoàn vững mạnh, ta sẽ truyền giáo thành công và nhất là ta sẽ được tham dự vào sự sống và hạnh phúc của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin thương hiệp nhất chúng con. Amen.

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

LỄ THĂNG THIÊN

Sau khi sống lại 40 ngày, và sau những lần gặp gỡ với các môn đệ, Đức Giê-su đã thực hiện lời Người đã nói trước, người đã từ biệt các ông và lên Trời.

Nhưng tại sao Đức Giê-su dạy các môn đệ làm phép Rửa đã, sau đó mới giảng dạy cho họ? Tại sao không nói Chúa về Thiên đàng mà lại lên Trời, dễ làm người ta hiểu lầm ở một điểm nào trên không gian? Tại sao cho đến lúc này vẫn có những môn đệ còn hoài nghi?  Theo Ma-thêu thì Đức Giê-su lên Trời tại Ga-li-lê-a, vậy tại sao thánh Luca (Lc 24,50-53) lại nói Chúa lên Trời ở Bê-ta-ni-a?

  1. zzGa-li-lê-a

Mat-thêu không có ý nhấn mạnh tới địa danh nơi Chúa lên Trời, nhưng tác giả muốn nhấn những sự kiện có liên quan tới công trình cứu thế của Đức Giê-su tại Ga-li-lê-a:

Ga-li-lê-a là một địa danh rộng lớn thuộc phía bắc It-ra-en, nơi có đủ các thứ dân sinh sống. Đây là khu vực mà người It-ra-en ở Giê-ru-sa-lem coi khinh, cho là vùng đất của dân ngoại.  Nơi đây được coi như trung tâm của các giao tiếp, sắc tộc, ngôn ngữ, thương mại, hoà trộn tín ngưỡng và vô tín ngưỡng.

Ga-li-lê-a được coi là điểm hẹn lí tưởng giữa Thiên Chúa và con người: Trên núi Si-nai, nơi Môi-sen đã ở trên đó 40 ngày đêm và được Thiên Chúa mạc khải cho 10 điều răn.  Ngôn sứ I-sa-i-a và sau này là thánh Mat-thêu nhắc tới địa danh Ga-li-lê-a như một điểm sáng: “Hỡi Ga-li-lê-a miền đất của dân ngoại, những dân đang ngồi trong bóng tối tử thần được nhìn thấy ánh sáng” (Is.9,1).

Ga-li-lê-a gắn liền với sứ vụ của Đức Giêsu: Na-da-ret nằm trong vùng đất Ga-li-lê-a, nơi gia đình Đức Giê-su sinh sống, lớn lên và làm việc.  Trên núi Ô-liu, nằm phía đông Giê-ru-sa-lem, là nơi Đức Giê-su thường xuyên đến để cầu nguyện.  Tại đây còn có vườn Giêt-si-ma-ni, có làng Bê-ta-ni-a, nơi Người đã cho La-da-rô chết bốn ngày sống lại, có ngọn núi Bet-pha-giê nơi khởi điểm cuộc rước Đức Giê-su long trọng vào thành Giê-ru-sa-lem và tiên báo thành này bị tàn phá không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào.

Galilêa còn là dấu chỉ hẹn cuối cùng của Đức Giê-su với các môn đệ: Cũng có mây mù che phủ, như đã từng che phủ Môi-sen trên núi Si-nai, cũng như Đức Giê-su với ba môn đệ yêu dấu ở Ta-bo-rê; cũng con số 40 kì diệu: 40 ngày trên núi Si-nai của Môi-sen hay 40 ngày chay tịnh của Chúa; 40 ngày sau khi Đức Giê-su sống lại, Người đã gặp gỡ lần cuối với các môn đệ như đã chỉ định trước: “Các bà hãy mau về nói với các môn đệ rằng người đi Ga-li-lê-a trước các ông” (Mt.28,7).

Như vậy Ga-li-lê-a là nơi Chúa Giê-su đã sống gương mẫu, rao giảng chân lí, thành lập Giáo Hội và tuyển môn đệ.  Đức Giê-su đã làm xong nhiệm vụ và đi trước để dọn chỗ cho những ai tiếp tục sứ mệnh Người giao phó.

  1. Cõi Trời

Chúa Giê-su về Trời, là về nơi Người phát xuất: Ngài đã hoàn thành nhiệm vụ của Người ở trần gian, Người cần được hưởng vinh quang với Ba Ngôi Thiên Chúa.  Mười một Tông đồ đã đến điểm hẹn, có một số còn hoài nghi.  Thực ra tất cả các môn đệ đều khởi đầu từ chỗ hoài nghi rồi đến tin tưởng, và dám đổ máu mình ra để chứng tỏ niềm tin đó.  Các ngài vẫn còn những hạn chế của con người, như Phê-rô, Tô-ma, hay hai môn đệ Em-mau; các ngài còn phải được học hỏi các màu nhiệm mặc khải, các ngài phải được thử thách đủ, trước khi làm nhiệm vụ.  Các Tông đồ còn được chứng kiến Thầy mình về Trời để các ông hi vọng.  Chỉ có sự thật mới thuyết phục được các ngài theo Chúa; tất cả nói lên rằng, Đức tin là một hành động hoàn toàn tự do dành cho con người.

Chúa lên Trời là đi từ chỗ hữu hình vào nơi vô hình: Nói Chúa lên Trời, là nói theo kiểu thế gian. Người ta thường quan niệm trời là tất cả không gian ngoài trái đất, trời là nơi Đấng Tạo Hoá ngự trị và điều khiển muôn loài.  Tuy nhiên, Trời đây không phải là một điểm nào, không phụ thuộc chiều cao của không gian vật lý, không phụ thuộc vào quy luật của vũ trụ, thời gian, có thể cân đong đo đếm. Chúa lên Trời không phải là lánh xa trái đất, đến ngự trị trong một vì tinh tú hào quang, Chúa lên Trời là thay đổi từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái siêu nhiên.  Trời hay Thiên đàng là một, Người hiện diện khắp mọi nơi.

Đức Giê-su về Trời để nhận nhiệm vụ mới: Người duy trì sự hiện diện của Người nơi nhân loại: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”(Mt 28,20).  Đức Giê-su được trao toàn quyền trên trời, dưới đất, vũ trụ hữu hình và vô hình.  Người đánh bại cái chết, Người làm Vua vũ trụ, Đấng sáng tạo và bảo tồn vũ trụ, không có gì nằm ngoài quyền của Người.

  1. Thế gian

Đức Giê-su đã về Trời và trao lại nhiệm vụ cho Giáo Hội. Người đã lệnh cho mọi người trên trái đất phải thi hành chỉ thị của Người:

Vậy anh em hãy đi giảng dạy cho muôn dân và làm cho họ trở thành môn đệ Thầy.  Môn đệ đây được hiểu là các Kitô hữu. Đức Giê-su gọi các môn đệ và muốn họ nhân rộng ra, tăng mạnh lên.  Chúa tạo dựng con người và muốn cho họ hưởng hạnh phúc.  Các Tông đồ được coi là người kế nghiệp Chúa Ki-tô, là những thợ gặt lành nghề.  Họ phải biết đưa mọi người vào Nước Chúa.  Chúa từ chối Sa-tan với tất cả vinh hoa của nó, Người muốn các Tông đồ tiếp tục chinh phục toàn thể vũ trụ để đưa mọi người vào Nước Trời hạnh phúc mà Người đi trước dọn chỗ, để mọi người có thể tận hưởng muôn đời.

Hãy làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và  Thánh Thần.  Đức Giê-su muốn thâu nạp nhiều môn đệ qua phép Thanh Tẩy.  Người đã thánh hoá nước, để nước có sức thánh hoá nhờ Thánh Linh. Người muốn họ nối kết với nhau trong một tập thể, mà Ba ngôi Thiên Chúa là mối dây, là tình yêu liên đới, là sức sống sung mãn dồi dào trong toàn thể, cũng như từng cá nhân.  Không thể nhân danh cá nhân nào, không nhân danh thụ tạo nào, thần thánh nào, mà là nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa, để họ được gia nhập vào gia đình thánh thiện của Chúa.

Hãy dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.  Việc Đức Giê-su đặt nhiệm vụ này cuối cùng, không phải là Người dạy họ phải làm theo thứ tự như vậy, đó chỉ là câu nói nhằm mục đích kêu gọi môn đồ.  Người muốn họ phải hiểu biết đầy đủ, để chia sẻ Lời dạy của Chúa, phải biết được giá trị của việc làm, để thực thi nhiệm vụ của một môn đệ.

Nhiệm vụ Chúa giao phó cho các Tông đồ cũng là nhiệm vụ của chúng ta.  Chúa không muốn riêng ai quản lí màu nhiệm Mạc khải, Chúa ra lệnh mỗi người phải mạnh dạn ra đi rao giảng và làm chứng về Người, hầu được hưởng phúc Nước Trời với Thiên Chúa Ba Ngôi.

 Jos Trần Xuân Chiêu

****************************************

Lạy Chúa, xin Chúa cho chúng con tin bằng trái tim, tuyên xưng bằng miệng và bày tỏ bằng việc làm, rằng Chúa ngự trong chúng con ngõ hầu nhân loại thấy rõ những việc lành chúng con làm mà tôn vinh chúc tụng Cha chúng con trên trời.  Vì Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con, Đấng muôn đời vinh hiển.  Amen!

Origênê

 

 

 

LỜI MẸ NHẮN NHỦ CON

zzMẹ đã cho con sự sống, nhưng không thế sống thay con
Mẹ có thể dạy con nhiều điều, nhưng không thể bắt con học được.
Mẹ có thể chỉ đường cho con, nhưng không thể ở đó đễ dẫn con đi.

Mẹ có thể cho phép con tự do, nhưng không thể chịu trách nhiệm vì về tự do ấy.
Mẹ có thể đưa con đến nhà thờ, nhưng không thể bắt con tin.
Mẹ có thể dạy con phải trái, nhưng không thể mãi mãi quyết định thay con.

Mẹ có thể mua cho con quần áo đẹp, nhưng không thể làm cho con xinh đẹp nội tâm
Mẹ có thể  cho con lời khuyên, nhưng không thể ép con đón nhận.
Mẹ có thể dạy con chia sẻ, nhưng không thể  bắt con đừng ích kỷ.

Mẹ có thể dạy con lòng tôn kính, nhưng không thể buộc con tôn kính một ai.
Mẹ có thể khuyên con chọn bạn, nhưng không thể chọn bạn thay con.
Mẹ có thể dạy con về giới tính, nhưng không thể giữ con trong sạch.

Mẹ có thể nói con nghe về cuộc đời, nhưng không thể xây dựng tiếng thơm cho con.
Mẹ có thể nói con nghe về rượu chè, nhưng không thể nói ‘không’ thay con.
Mẹ có thể cảnh báo với con về ma túy, nhưng không thể ngăn cản con dùng đến nó.

Mẹ có thể nói với con về mục đích thanh cao, nhưng không thể đạt được thay con.
Mẹ có thể dạy con lòng tử tế, nhưng không thể buộc con phải tử tế.
Mẹ có thể cảnh báo cho con về tội lỗi, nhưng không thể biến con thành người đạo đức.

Mẹ có thể yêu con như đứa trẻ, nhưng không thể đặt con vào gia đình của Chúa.
Mẹ có thể nguyện cầu cho con, nhưng không thể biến Đức Giêsu thành Chúa của con.
Mẹ có thể  nói với con phải sống thế nào, nhưng không thể  cho con sự sống đời đời.

Mẹ có thể suốt đời yêu con với tình yêu vô điều kiện… và Mẹ sẽ mãi mãi yêu con!

 

 KINH THÁNH NÓI VỀ “MẸ”

St 3,20 “Adam đặt tên cho vợ là Êva, vì bà sẽ là MẸ chúng sinh.”
Xh 20,12 “Hãy tôn kính CHA MẸ ngươi, để cho ngươi được sống lâu trên mảnh đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa Ngươi, ban cho ngươi.”
Lv 19,3 “Các người phải tôn kính CHA MẸ, và phải giữ ngày Sabbat, vì Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa các ngươi.”
Dn 5,16 “Hãy tôn kính CHA MẸ, như lệnh truyền của Đức Chúa, Thiên Chúa ngươi, để cho ngươi được sống lâu và khoẻ mạnh trên mảnh đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa ngươi, ban cho nguơi.”
2V 4,30 “MẸ cậu bé nói: “có Đức Chúa hằng sống và có ngài đang sống đây, tôi xin thề sẽ không rời xa ngài” Thế là ông (Giê kha di) đứng dậy và đi theo bà.”
Cn 10,1 “Châm ngôn của vua Salomôn: Con khôn là CHA vui sướng, con dại làm MẸ buồn phiền.”
Is 66,13 “Như MẸ hiền an ủi con thơ, Ta cũng an ủi ngươi như vậy.”
Ed 16,44 “Những kẻ trích châm ngôn sẽ trích câu châm ngôn này về ngươi: ‘MẸ nào con nấy.’”
Lc 1,43 “Bởi đâu tôi được hân hạnh MẸ của Chúa đến thăm tôi?”
Lc 2,51 “Người cùng xuống Nazareth cùng CHA MẸ và vâng phục các ngài.  Còn MẸ Ngài thì hằng ghi nhớ tất cả các điều ấy trong lòng.”
John 19:26-27 “Khi thấy MẸ và môn đệ mình thương đứng cạnh đấy, Đức Giêsu nói với MẸ rằng: “Thưa Bà, đây là con Bà,” và nói với môn đệ: “Đây là MẸ anh.” Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.”

Sưu tầm

ĐỀN THỜ CAO QÚY NHẤT

zzMột hôm, đang lúc đùa vui với các thiên thần, Thiên Chúa ra cho họ câu đố vui có thưởng.  Ngài nói: “Ta muốn chơi trò chơi cút bắt với loài người.  Các con nghĩ xem đâu là nơi ẩn trốn tốt nhất mà con người khó tìm ra Ta được?”

Thế là các thiên thần tranh nhau trả lời.  Vị thì nói là Chúa hãy ẩn trốn ở đáy biển khơi, khó tìm lắm! Vị khác lại nói là Chúa hãy ẩn mình trên những đỉnh núi cao, chẳng ai leo tới đó được!  Vị thì nói là Chúa hãy ẩn khuất giữa những lớp mây trời, loài người không ai nghĩ tới… “Thế nhưng Chúa chỉ cười và cuối cùng, Ngài nói: “Sai bét hết.  Chỗ ẩn nấp tốt nhất Ta có thể chọn để loài người không phát hiện được Ta, đó là ngay trong tâm hồn của họ!” (phỏng theo Cha Anthony de Mello)

***********************************

Ngày xưa thánh Augustino cũng khắc khoải đi tìm Chúa suốt ba mươi năm đầu đời.  Ngài miệt mài tìm Chúa trong văn chương, trong triết lý, trong những học thuyết sai lầm và cả trong những đam mê thế tục… nhưng chẳng gặp được nên cảm thấy khắc khoải buồn sầu.  Mãi đến tuổi ba mươi, ngài mới được ánh sáng chân lý chiếu soi và được đón nhận Chúa.  Bấy giờ ngài cảm thấy an bình hạnh phúc nhưng đồng thời cũng lấy làm hối tiếc vì biết Chúa quá muộn: “Lạy Chúa, con yêu Chúa quá muộn màng. Chúa vẫn ở trong con, đang khi con mải lo tìm Chúa bên ngoài”.

Chúa ở trong con, còn con thì đi tìm Chúa bên ngoài!  Thật là trớ trêu và trái khoáy, giống như ta đang để chùm chìa khoá trong túi mà lại lục lọi tìm kiếm khắp nơi.

Cũng như thánh Augustinô xưa, nhiều lần trong cuộc đời, chúng ta lại đi tìm Chúa bên ngoài đang khi Chúa vẫn ở trong chúng ta.

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su dạy ta biết có Ba Ngôi Thiên Chúa ngự trong chúng ta: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy.  Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14, 23); lại có cả Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ cũng luôn hiện diện trong ta cùng với Chúa Cha và Chúa Con: “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần mà Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại những gì Thầy đã nói với anh em”

Thế là thân xác hèn mọn của chúng ta đã được nâng lên hàng vương cung thánh đường thiêng liêng cao trọng, vì đã được Ba Ngôi Thiên Chúa chọn lựa làm nơi cư ngụ của Ngài.

Đây là ngôi đền thờ thật cao cả, thật quý giá, cao vượt hơn hết mọi đền thờ khác trên thế gian.

Đem đền thờ bản thân người Kitô hữu so sánh với các đền thờ nổi tiếng do bàn tay con người xây dựng ngót hai ngàn năm qua, thì những đền thờ vật chất kia triệu lần thua kém.

Đền thờ nầy rất cao cả vì đây là đền thờ sống, được chính Thiên Chúa thiết kế và thi công, được dựng nên theo hình ảnh của Ngài; còn những đền thờ kia chỉ là gạch đá vô tri.

Đền thờ nầy rất cao cả vì được Chúa Giê-su đổ máu ra mà cứu chuộc.  Không đền thờ vật chất nào được diễm phúc như thế.

Đền thờ nầy rất cao cả vì được Chúa Giê-su hiến thánh bằng bí tích rửa tội, được Chúa Thánh Thần xức dầu qua bí tích thêm sức…

Và mai đây, ngôi đền thờ nầy sẽ được đưa lên cõi thiên đàng vinh hiển, trong khi những đền thờ bằng vật chất nguy nga đồ sộ và nổi tiếng trên mặt đất nầy, cho dù được xây bằng đá quý, được nạm bằng vàng ngọc kim cương sẽ tàn lụi với thời gian.

***********************************

Lạy Chúa Giê-su, xin cho con biết quý trọng thân xác con là ngôi đền thờ uy linh cao cả có Ba Ngôi Thiên Chúa hằng ngự trị.  Xin cho con biết thanh tẩy đền thờ đáng quý trọng nầy nếu nó bị ra nhơ uế vì tội lỗi và thói hư.  Xin cho con biết tôn tạo, nâng cấp đền thờ nầy bằng các nhân đức và phẩm chất cao đẹp.  Và nhất là xin cho con hằng biết đến gặp gỡ và kết hợp với Chúa đang hiện diện trong ngôi đền thờ là chính bản thân con. Amen!

LM Ignatio Trần Ngà

ĐI ĐẠO…

Cha ông ta đã khéo vận dụng từ ngữ để diễn tả những thực tại tâm linh.  Từ ngữ xem ra bình dân mà nội dung phong phú, sâu sắc.  Khi Tin Mừng được truyền giảng tại quê hương, các ngài đã gọi đó là ĐẠO.  ĐẠO là “tôn giáo”, “đạo giáo” mà cũng là ĐƯỜNG phải đi để đạt ĐẠO.  Như thế, ĐẠO là ĐƯỜNG mã cũng là ĐÍCH, vì người có ĐẠO cần phải sống cho phải ĐẠO, sống theo ĐẠO lý, sống có ĐẠO đức để đạt tới ĐẠO làm người, ĐẠO làm con Chúa.  ĐẠO là ĐÍCH mà cũng là CỘI NGUỒN.  Ai sống tốt lành đạo đức được coi như người ĐẠO gốc, ĐẠO dòng, người sinh ra trong gốc gác, dòng dõi của ĐẠO.  Ai đón nhận Tin Mừng và rửa tội thì được gọi là THEO ĐẠO.  Rồi khi ĐẠO đã thành nếp sống thì gọi là ĐI ĐẠO.  Ai không đi ĐẠO thì được gọi là ĐI LƯƠNG (sống theo LƯƠNG TÂM?)  Người nào sống ngược với đạo đức, lễ giáo, luân thường thì bị coi là “quân VÔ ĐẠO.”  Ai chống đối, phá rối, ngăn cản, làm cho tục hóa đạo giáo thì bị gọi là “quân PHẢN ĐẠO, RỐI ĐẠO, BÁNG ĐẠO…”

Khi suy nghĩ về đời sống Đạo Chúa Kitô tại Việt Nam, có lẽ chúng ta cũng thử bàn qua về ba từ mấu chốt trong một chuỗi từ ghép liên quan đến ĐẠO trên đây: Giữ đạo, sống đạo, truyền đạo.

Giữ Đạo

Đạo đã được truyền vào nước ta khoảng 500 năm trước.  Cha ông chúng ta đã đón nhận Đạo với niềm tin đơn thành, sốt mến.  Liền sau khi theo Đạo, cha ông chúng ta đã tích cực đi Đạo, nghĩa là tin nhận và sống theo đạo lý mới.  Đạo lý mới được cụ thể hóa bằng những điều phải tin và phải giữ.  Vậy theo Đạo, đi Đạo đồng nghĩa với tin Đạo và GIỮ ĐẠO.  Nhưng rồi việc theo Đạo không phải là thuận lợi mà đã gặp những chống đối, bắt bớ, cấm cách, bách hại…  Chân lý của Đạo bị xuyên tạc, bóp méo, bôi nhọ…  Các nhà truyền giáo bị cấm giảng Đạo, các tín hữu bị buộc phải bỏ Đạo, chối Đạo… Lúc này đi Đạo vẫn mang nghĩa là GIỮ ĐẠO, nghĩa là giữ gìn bảo vệ sự tinh tuyền giáo lý của Đạo, giữ gìn lòng hăng say và can đảm truyền Đạo, giữ gìn lòng trung thành với Đạo, dù có phải máu chảy đầu rơi, thây phân trăm mảnh…

Sống Đạo

zzĐạo cần phát triển về chiều sâu, cần thấm nhập vào đời sống, cần trở thành thịt thành máu, thành tim thành óc của mỗi tín hữu, cần bén rễ sâu vào mọi ngóc ngách của môi trường sống… Đi đạo lúc này không chỉ dừng lại ở việc giữ Đạo mà cần phải sống Đạo, làm cho Đạo trở thành cuộc sống, và làm cho cuộc sống chuyên chở Đạo.  Đạo không chỉ là một loạt những điều cần tin, cần giữ, cũng không chỉ đóng khung trong khuôn viên nhà thờ nhà thánh, mà Đạo đi sâu vào mọi góc cạnh, như hơi thở của linh hồn, linh hồn của thể xác…  Tinh thần Đạo được thể hiện không chỉ trong kinh nguyện mà cả trong cuộc sống hàng ngày nơi phố xá, làng mạc, trường học, công sở, chợ búa, đồng nương, nghệ thuật, văn hóa, chính trị…

Truyền Đạo

Đạo là kho tàng, kho báu.  Người đi Đạo như tìm được ngọc quý, bỏ mọi sự để theo Đạo, để có Đạo.  Nhưng Đạo không phải là một kho tàng quý báu để chôn cất giấu giếm.  Đạo cần được chi ra, lan rộng.  Đi Đạo, thấm nhuần Đạo, thì không thể không tìm thấy niềm vui hạnh phúc “có Đạo,” không thể không thấy được trách nhiệm cần phải chia Đạo cho người khác, vì cốt lõi của Đạo là Bác Ái, một tình yêu rộng rãi, sẻ chia, vô điều kiện.  Đạo là Lửa từ trời, càng chia càng cháy, càng loan càng sáng.  Ngọn lửa chia ra, bay xa không tắt đi, yếu đi mà cháy thêm, sáng thêm.  Nếu nó chỉ cháy mình nó, có lẽ nó sẽ vụt tắt một ngày, vì dầu của nó thì hữu hạn, gỗ của nó cũng có chừng.  Đi Đạo là Truyền Đạo, vì không Truyền Đạo là ngược lại với bản tính của có Đạo, đi ngược với ơn gọi lãnh nhận trong Bí Tích Rửa Tội, đi ngược với điều răn Bác Ái Kitô giáo.

Suy nghĩ về cuộc sống Đạo, ta thấy thực ra giữ Đạo, sống Đạo hay truyền Đạo không phải là những khía cạnh tách rời hoặc loại trừ nhau.  Sống Đạo không có nghĩa là bỏ giữ Đạo, truyền Đạo cũng chẳng phải là xao lãng việc giữ Đạo và sống Đạo.  Đó là ba khía cạnh như kiềng ba chân của việc đi Đạo.  Sống Đạo làm cho việc giữ Đạo đi vào chiều sâu, và truyền Đạo làm cho việc sống Đạo lớn lên về chiều rộng.  Càng sống Đạo thì việc giữ Đạo càng sốt sắng, nhiệt thành và càng truyền Đạo thì việc sống Đạo càng khởi sắc, hăng say.  Đi Đạo là giữ Đạo, sống Đạo và truyền Đạo vậy.  Đạo là Đường nên cần phải lên đường, cần phải đi…

Dominic Trần

***********************************************

Lạy Chúa, xin Chúa cho chúng con tin bằng trái tim, tuyên xưng bằng miệng, và bày tỏ bằng việc làm, rằng Chúa ngự trong chúng con ngõ hầu nhân loại thấy rõ những việc lành chúng con làm mà tôn vinh chúc tụng Cha chúng con trên trời.  Vì Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con, Đấng muôn đời vinh hiển.

 

Origênê (Trích Lời Kinh Từ Cuộc Sống – p.110)

 

CỤC TẨY VÀ BÚT CHÌ

Có người hỏi: vì sao bút chì có tẩy? Chẳng phải câu trả lời đã quá rõ ràng rồi sao: để xóa đi những chữ viết sai, viết chưa đẹp hoặc để xóa hoàn toàn một đoạn văn nào đó! Vậy có bao giờ bạn tự hỏi mình: phải chăng trong cuộc sống này, chúng ta cũng cần có một cục tẩy cho riêng mình? Để xóa đi những sai lầm của người khác và của chính bản thân ta!  Có lúc chúng ta keo kiệt, không dùng đến cục tẩy đó khiến cho những trang giấy cuộc đời nhem nhuốc những dòng gạch và xóa!

Bất cứ ai cũng có lúc gặp sai lầm, bất cứ ai cũng gây ra những lỗi lầm khắc sâu trong lòng người khác! Có người ghi nhớ để rồi mãi mãi khắc khoải vì vết thương đó!  Có người để nó bị thời gian xóa đi, trống trơn phẳng lặng để viết lên những bài viết cuộc đời đặc sắc hơn, ý nghĩa hơn!

Người ta nói rằng cuộc đời là một trang giấy trắng, và chính chúng ta sẽ quyết định viết nó như thế nào!  Khi một đứa trẻ mới vào lớp một, cô giáo không cho chúng viết bằng bút bi, mà viết bằng bút chì!  Bởi vì sao bạn nhỉ?  Vì bàn tay yếu ớt của các bé nhất định sẽ có lúc viết những nét nghuệch ngoặc, sai từ này từ khác!  Và khi đó, bé sẽ dùng tẩy để tẩy đi những chữ viết chưa đúng, chưa đẹp của mình!  Chúng ta cũng vậy, không ai sinh ra đã có thể viết lên những bài ca cuộc đời một cách  hoàn chỉnh!  Có lúc chúng ta vì vội vã mà đi sai phương hướng dẫn đến những hậu quả khôn lường, có lúc vì chủ quan mà mắc sai lầm không thể sửa chữa!  Làm thế nào đây?  Ngồi trách móc bản thân và hứng chịu những lời trách móc của người khác?  Như vậy có giải quyết được gì không?

Lúc ấy chúng ta cần biết tẩy đi những sai lầm mắc phải, và làm lại từ đầu với những bước đi thận trọng hơn!  Không ai có thể trưởng thành mà chưa một lần vấp ngã hay mắc sai lầm!

Mỗi em bé trước khi biết đi cũng trải qua quá trình chập chững với không ít lần vấp ngã!  Đừng tự trách bản thân mình quá nhiều bạn ạ!  Cũng như đừng trách móc những người khác, khiến họ cảm thấy mình kém cỏi, mà mất hết niềm tin vào chính bản thân họ!  Hãy biết chấp nhận sai lầm như một điều tự nhiên trong cuộc sống, để đối mặt với sai lầm và thất bại một cách nhẹ nhàng hơn!  Bạn biết đấy, cục tẩy sinh ra để xóa đi những chữ viết chưa được tròn trịa, chưa được chính xác, thì chúng ta cũng hãy dùng cục tẩy của mình – sự bao dung và thứ tha –  để tẩy đi những sai lầm của mình và người khác mắc phải!

Đừng quá khắt khe với người khác, cũng đừng chỉ nhìn vào những sai lầm của họ mà đánh giá con người họ!  Bất kỳ ai cũng có lúc mắc phải sai lầm, quan trọng là họ biết mình sai để sửa.  Còn chúng ta đừng chỉ biết nhìn vào những sai lầm đó, mà hãy nghĩ đến những gì họ đã cố gắng, đã nỗ lực để làm tốt công việc của mình!

Có câu chuyện về chiếc bánh bị cháy, bạn đã nghe bao giờ chưa nhỉ?  Một người phụ nữ phải làm việc 8h/ngày, lại còn chăm sóc gia đình và làm hết mọi công việc của một người nội trợ!  Một ngày nọ cô mệt nhoài với hàng tá công việc ở cơ quan khiến cô có cảm giác như kiệt sức!  Về nhà cô còn phải dọn dẹp nhà cửa và nấu ăn cho chồng và con của cô!  Khi người chồng đón con từ trường về, cũng là lúc cô nướng xong mẻ bánh quy trong lò!  Thế nhưng vì quá mệt nên cô đã để quên nó một lúc, khiến cho một vài chiếc bị cháy!

Lúc ăn tối, đứa con quan sát xem có ai nói gì về những chiếc bánh cháy đó không, nhưng chẳng có ai lên tiếng cả!  Khi dọn bát đĩa, người vợ ngỏ ý xin lỗi về những chiếc bánh cháy nhưng người chồng dịu dàng nói: có gì mà em phải xin lỗi chứ, hơn nữa mùi vị những chiếc bánh ấy rất ngon!  Người vợ mỉm cười hạnh phúc!

Khi đưa con đi ngủ, nó thì thầm hỏi bố nó: có thật bố thích ăn bánh quy cháy không?  Không con ạ, anh ta nói với con!  Nhưng hôm nay mẹ con rất mệt, mà vẫn phải chuẩn bị bữa ăn cho bố con chúng ta! Không nên làm mẹ buồn, mà một vài chiếc bánh cháy có ảnh hưởng đến ai đâu chứ!

Thế đấy, có bao nhiêu người không để ý đến một vài chiếc bánh cháy trên đĩa bánh?  Không nhiều lắm phải không bạn!  Cũng như vết mực đen trên tờ giấy trắng!  Có lúc chúng ta chỉ biết nhìn vào những sai lầm, khuyết điểm của người khác để rồi lên tiếng chỉ trích mà quên rằng họ đã cố gắng rất nhiều!

Hãy sống bao dung hơn bạn nhé, để cục tẩy của bạn mòn dần theo năm tháng, đừng bao giờ để cục tẩy của bạn mãi mãi như mới xuất xưởng!  Bởi vì nếu không sử dụng đến nó cuộc đời của chúng ta sẽ chi chít những vết gạch xóa sau những lần mắc sai lầm!  Một tờ giấy như vậy có đẹp đẽ gì không?  Hãy để nó là một tờ giấy được viết nên bởi những trải nghiệm, những thử thách, quyết tâm và cả sự tha thứ và bao dung nữa, bạn nhé!

Sưu tầm

**********************************************

zz Chúa ơi,
Tha thứ cho con,
và dạy con biết cách tha thứ
chính con
và những người khác.

Mong những vì sao
làm đầy bầu trời
làm đầy con.  Amen!