BẠO DẠN VỚI THIÊN CHÚA

Vài năm trước đây, một cô đã chia sẻ câu chuyện này tại một buổi họp.  Cô có một đứa con trai sáu tuổi được cô chỉ dẫn để cháu biết cầu nguyện.  Một trong những thói quen cô dạy là mỗi tối quỳ gối bên giường và nói to lên lời cầu nguyện, sau đó kết thúc lời cầu nguyện bằng lời cầu “chúc lành cho cha mẹ, ông bà.”  Một hôm, không lâu sau khi bắt đầu dạy như thế, cô đưa cậu bé vào phòng để nghe nó cầu nguyện và để ru nó ngủ.

Nhưng lúc đáng ra cậu bé quỳ gối cạnh giường và đọc lời cầu nguyện thì cậu từ chối và chui thẳng lên giường.  Mẹ hỏi: “Có chuyện gì vậy?  Con không cầu nguyện nữa à?”  Cậu bé thưa với vẻ điềm tĩnh đáng kinh ngạc: “Không, con không cầu nguyện nữa.  Sơ ở trường dạy chúng con rằng chúng con không cần phải cầu nguyện, bà nói là chúng con nên nói chuyện với Chúa… mà tối nay con mệt và không có gì để nói cả!”

zzChuyện này làm tôi nhớ lại câu chuyện về vua Đavid trong Kinh Thánh.  Một sáng nọ, vua cùng vài người lính trở về từ chiến trận, ông đến đền thờ, mệt lử và đói, nhưng thức ăn duy nhất ở đó là bánh thánh, mà theo luật đạo Do Thái, chỉ có các tư tế mới được ăn trong nghi lễ.  Vua hỏi vị thượng tế về số bánh này và bị cự tuyệt rằng không được ăn bánh này như thức ăn thường.  Đavid trả lời rằng vua biết thế, nhưng do hoàn cảnh và do Đức Vua được trao quyền quyết định thay Thiên Chúa trên mặt đất, nên vua ra lệnh vị thượng tế đem bánh lại cho mình.

Truyền thống Thánh Kinh bình luận về chuyện này như sau.  Vua được ca ngợi vì đã làm một việc tốt, vua biết Đức Chúa đủ nhiều để hiểu Chúa muốn bánh đó được dùng cho những mục đích ngoại lệ trong hoàn cảnh như thế.  Vua được ca ngợi bởi có một đức tin trưởng thành, không câu nệ lề luật quá đáng, không từ bỏ phán định đúng đắn của mình do sợ hãi hay do lòng mộ đạo, và vua biết Thiên Chúa đủ nhiều để biết rằng Ngài không phải là một luật để tuân theo nhưng là một sự hiện diện đầy yêu thương chỉ bảo và đổ tràn đầy sinh khí và sinh lực cho chúng ta.  Chúa Giêsu cũng ca ngợi vua Đavid vì hành động này khi dân chúng phàn nàn các môn đệ của Ngài bứt bông lúa trong ngày Sabbath.  Ngài nhắc tới hành động vua Đavid đã cho lính đói lả ăn bánh đã được làm phép và cho đó là một hành động của một hiểu biết sâu sắc, nghĩa là khi làm một việc tưởng như phạm thượng, nhưng thực sự thì vua David lại đang biểu lộ tấm lòng mật thiết với Thiên Chúa, cho nên những lời chỉ trích xuất phát từ nỗi sợ sệt nhắm vào vua lại phản tác dụng và tự chỉ ra chúng chỉ là những lời xuẩn ngốc.

Một trong những điều xác định một tình bạn trưởng thành chính là sự gần gũi và thân thiết, những việc tạo nên một mối liên hệ thẳng thắn hơn là một mối liên hệ sợ sệt.  Trong mối liên hệ trưởng thành, không có chỗ cho lòng sùng mộ hèn nhát hay tôn kính sai lầm.  Thay vào đó, chúng ta phải táo bạo với người bạn thân vì chúng ta biết ý nhau, hoàn toàn tin tưởng nhau, và ở một mức độ quan hệ nào đó, chúng ta không e ngại khi hỏi xin điều gì, không  thấy xấu hổ khi bày tỏ hết về bản thân, sẵn sàng chọc ghẹo nghịch ngợm, và (như vua David) chúng ta có thể suy diễn một cách có trách nhiệm suy nghĩ của người kia.  Khi ở trong một mối liên hệ trưởng thành với ai đó, chúng ta thoải mái và dễ chịu với người đó.

Đó cũng là những đặc tính của một đức tin trưởng thành và một một mối liên hệ trưởng thành với Thiên Chúa.  Theo thánh Gioan Thánh Giá, càng tiến sâu trong mối quan hệ với Thiên Chúa, đức tin của chúng ta càng trưởng thành, càng bạo dạn, càng gần hơn với Ngài.  Như vua David và như cậu bé nhỏ tôi vừa kể trên, lòng sùng mộ một cách sợ sệt đã được thay thế bằng một tình gần gũi lành mạnh. Và đây sẽ chẳng phải là kiểu gần gũi sinh khinh dễ, thứ chỉ nhằm lợi dụng người kia.  Đây là kiểu gần gũi với nền tảng là thân thiết, nghĩa là vừa giữ lòng tôn trọng, không bao giờ lợi dụng người kia, vừa dễ dàng vui vẻ dễ chịu hơn là sợ sệt và sốt sắng quá với người kia.

Nhưng, nếu thật như thế, thì chúng ta phải làm thế nào với một sự thật rằng Kinh Thánh đã dạy chúng ta “lòng kính sợ Đức Chúa là khởi đầu của khôn ngoan” và thêm một điều nữa là các truyền thống tôn giáo luôn luôn xem lòng mộ đạo là một đức tính tốt?  Sợ hãi và mộ đạo có ngăn trở “bạo dạn” với Thiên Chúa hay không?  Liệu vua Đavid có sai lầm khi bạo gan diễn giải ý định của Thiên Chúa.

Có một nỗi sợ và một lòng sùng mến lành mạnh trong tôn giáo, nhưng sẽ không được lành mạnh như thế trong một mối liên hệ đầy sợ sệt, chiếu luật, ngại ngùng, quá sốt sắng, hay quá nghiêm trọng.  Nỗi sợ và sùng mến lành mạnh trong tôn giáo biểu lộ chính chúng trong một mối liên hệ thẳng thắn.

Chúng ta đừng để mình bị phờ phỉnh bởi nỗi sợ và sùng mộ.  Nỗi sợ thường ngụy trang bằng sự tôn kính trong tôn giáo.   Sùng mộ có thể dễ dàng biến mình thành lắng sâu trong tôn giáo. Nhưng tình mật thiết chân thật vạch mặt cả hai.  Một mối liên hệ lành mạnh phải thẳng thắn, bạo dạn, không sợ sệt, thanh thản, vui thú, và hóm hỉnh.  Và đặc biệt càng phải như thế trong mối liên hệ giữa chúng ta với Thiên Chúa.

Fr. Ron Rolheiser, OMI

 

CON LẬT ĐẬT

zzĐôrêmôn là chuyện thiếu nhi khá nổi tiếng.  Trong tập chuyện, Nobita là một nhân vật gây nhiều sự chú ý cho các độc giả tí hon.

Trong tập truyện có một đoạn kể rằng một hôm Nobita đang chơi ngoàn sân vườn thì bỗng nhiên bị té ngã.  Nobita nằm vạ và không chịu đứng dậy.  Nobita gọi bà ngoại đỡ Nobita dậy.  Nhiều lần bà đã đỡ Nobita dậy nhưng lần này bà không ra đỡ chú bé mà còn nói : “Nobita này, cháu phải tự đứng dậy vì bà không sống lâu với cháu được.  Một lúc nào đó bà ngoại mất đi thì ai sẽ đỡ cháu dậy”.

Khi Nobita đứng dậy đi vào nhà thì Bà lấy một con lật đật ra để trước mặt Nobita và bà nói với Nobita: “Cháu có thấy con lật đật mà mẹ cháu mới mua cho cháu không?  Dù cho ai đẩy đưa nó thế nào đi chăng nữa thì một lát sau nó cũng thẳng đứng chứ không ngã, cháu làm sao phải tập đứng vững trên Nobita vậy”.

Lời khuyên của bà ngoại Nobita thật tuyệt vời.  Dẫu rằng cuộc đời này còn nhiều sóng gió nhưng ta phải sống thẳng đứng như hình tượng con lật đật vậy.  Không phải ta sống lật đật nhưng đứng vững như con lật đật.

**********************************

Thời gian và hoàn cảnh đã làm cho tôi nhớ nhiều về hình ảnh Nobita và con lật đật.  Hoàn cảnh tôi chắc có lẽ giống hoàn cảnh của nhiều người.

Cha mất sức lao động và hoàn cảnh không được sống gần cha bao nhiêu.  Mẹ lại mất sớm do căn bệnh hiểm nghèo.  Để rồi với hoàn cảnh như vậy hơn bao giờ hết và hơn những người còn đầy đủ cha mẹ thì tình thương của một người cha một người mẹ đối với tôi quý giá là dường nào.

Không nhắc đến cha đến mẹ thôi chứ mỗi lần nhớ đến mẹ hai hàng nước mắt cứ rưng rưng. Nhiều lúc cảm thấy mình vô duyên quá chừng, nhưng rồi nước mắt lại cứ chảy dài trên gò má của mình.

Vì thiệt thòi hơn nhiều người trong tình cảm như vậy nên hơn bao người khác là tôi thèm có một người mẹ, một người chị để nâng đỡ, để ủi an.  Điều đáng tiếc với tôi nữa là tôi có chị nhưng chị thiếu nhạy cảm của người phụ nữ nên chị cũng chẳng để tâm đến em mình là bao.  Tôi không hề trách thái độ của chị vì lẽ Chúa ban cho mỗi người mỗi tính, chẳng ai giống ai trên cõi đời này cả.  Với tính cách của chị, tôi chẳng phiền chẳng muộn mà ngược lại đôi lúc tôi lại lo ngược lại cho chị là đàng khác.

Lúc nào trong tôi cũng trào dâng một nỗi niềm thèm khát tình mẫu tử.  Và chắc có lẽ không cần phải giải thích thêm thì tình mẫu tử thiêng liêng và cao quý là dường bao.  Mẹ sẵn sàng đổi đời mình để dành cho đời con.  Mẹ dám mất chính mình để lo cho con. Tôi dám nói như vậy vì Mẹ tôi đã sống như vậy cho đến khi mà bà nhắm mắt xuôi tay.

Thế nhưng dần dần cũng quen với cảnh cô đơn, của sự trống vắng tình mẹ để rồi tôi cũng phải tự tập đứng trên đôi chân của mình.

Lúc đầu chẳng dễ chút nào cả vì từ bé lúc nào cũng mẹ, lúc nào cũng mẹ cả.  Khi đối diện với hoàn cảnh cay nghiệt, tôi phải hoàn toàn tự lập.

Hình ảnh Nobita và con lật đật đã giúp tôi đứng vững mỗi khi cuộc đời xô đẩy.

Ngay giây phút hiện tại và trong tương lai cũng vậy, tôi vẫn tự ý thức rằng tôi phải là tôi, dẫu xấu dẫu tốt, dẫu hèn, dẫu yếu, dẫu mang trong mình đầy dẫy những cái tham sân si của cuộc đời nhưng vẫn là tôi.  Nhất là tôi phải tự đứng trên đôi chân của mình.

Tôi hoàn toàn không phủ nhận tình cảm của người khác dành cho mình, nhưng tôi vẫn luôn ý thức rằng đó chính là mắm muối làm cho đời tôi nó mặn thêm.  Đó chính là hương là hoa cho đời tối đen như mực của tôi được thơm hơn.

Tôi vẫn nghĩ đến một ngày mai, ngày mà tôi ra trường phải đi đến những vùng sâu vùng xa để sống tròn đầy một người Kitô hữu giữa đời.  Nơi đó chẳng có ai bên cạnh cả.  Tôi phải đứng dậy như Nobita, như con lật đật.

Xin cảm ơn tác giả tập chuyện Đôrêmôn đã cho tôi một hình ảnh đẹp của Nobita, hình ảnh đẹp của con lật đật và lời khuyên của bà ngoại Nobita.  Hình ảnh ấy, lời khuyên là luôn là lời nhắc nhở tôi phải biết vực dậy trước những phong ba bão táp của cuộc đời.

Anmai, DCCT

 

THƯƠNG CẢM

Walter Payton là một trong những cầu thủ nổi tiếng của đội dã cầu Chicago Bears.  Ở Chicago, ông thường được gọi là “Sweetness” và cũng là một trong những cầu thủ giỏi nhất chơi cho đội Bears.  Về phương diện cá tính cũng như nghề nghiệp, ông xứng đáng với cái tên “Sweetness.”  Ông mất sớm, và sau khi từ trần không lâu, một bà trước đây ở Chicago gửi một lá thư cho tờ Dallas Morning News.  Bà kể khi tham dự một cuộc triển lãm xe hơi ở Chicago, ông Walter Payton đang đứng trên một cái bục, ký tên lưu niệm.  Một bé trai, khoảng 12 tuổi, đưa cho người giúp việc một trái banh dã cầu mà em đã đem theo từ nhà để được ông Payton ký tên vào đó.  Ông Payton ký tên, ném trái banh xuống cho bé trai này, và tiếp tục ký tên lưu niệm.  Ông không thấy rằng một thiếu niên cao lớn khác đã chụp lấy trái banh này và lẻn ra khỏi đám đông.  Em bé trai ôm mặt khóc.  Một phụ nữ đứng cạnh đó đã len qua đám đông để lưu ý người giúp việc về sự kiện xảy ra.  Ông này đã nói lại cho ông Payton biết về sự việc và ông Payton đã gọi em bé trai đến.  Ông hỏi tên và địa chỉ của em và cho biết ông sẽ gửi cho em một trái dã cầu có chữ ký của ông.  Người phụ nữ viết thư cho tờ báo đó nói:  Tôi chưa bao giờ được thấy nước mắt trở thành một nụ cười tươi rói sau khi em bắt tay ông Payton.  Bà kết luận:  Tôi tin rằng ông Payton không chỉ là “Mr. Sweetness” ở ngoài sân banh, nhưng còn trong mọi khía cạnh của cuộc đời ngắn ngủi của ông. (Lorraine Rukavina, Carrollton, Texas)

Trong một cách nào đó, tôi nghĩ rằng câu chuyện này cho chúng ta một cái nhìn về loại người của ông Walter Payton hơn là tất cả những thành tích thể thao của ông.  Nó cho thấy ông là một người có tâm tình và lòng thương cảm.  Nó cho thấy ông là một người có thể đặt mình vào hoàn cảnh của người khác.  Nó cho thấy ông là một người không chỉ thông cảm được sự đau khổ của người khác nhưng còn sẵn sàng thi hành điều gì đó cho sự đau khổ đó.  Nói tóm, nó cho thấy ông là loại người mà Đức Giêsu đã là và đã từng dậy dỗ các môn đệ: một con người biết thương cảm.

zzViệc phục hồi sự sống cho người con trai duy nhất của bà góa nghèo trong bài Phúc Âm hôm nay chỉ là một trong nhiều thí dụ về sự thương cảm đầy dẫy trong cuộc đời của Đức Giêsu.  Đó là một trong những nghĩa cử thúc giục Đức Giêsu đến với người khác và chữa lành cho họ.  Về điểm này, Donald Senior, một học giả Kinh Thánh, viết: Các Phúc Âm cho thấy rõ ràng rằng sự thương cảm là một động lực đằng sau công việc chữa lành của Đức Giêsu.  Sự thương cảm đã thúc giục Đức Giêsu chạm đến người cùi và chữa họ lành. (Mc 1:15-21).  Sự thương cảm với cái đói của đám đông đã khiến Người nuôi họ ăn. (Mt 14:14).  Sự thương cảm… khiến Người chiêu mộ các môn đệ để thi hành cùng một sứ vụ này. (Mt 9:36). Và sự thương cảm bà góa thành Nain đã đưa Đức Giêsu đến việc phục hồi sự sống con trai của bà. (Lc 7:13).

Điều đó đưa chúng ta đến một điểm quan trọng về các phép lạ chữa lành của Đức Giêsu.  Sự chữa lành người mù, sự chữa lành người điếc, sự phục hồi sự sống cho con trai bà góa – đây không chỉ là các dấu hiệu về lòng thương cảm của Đức Giêsu nhưng còn là dấu chỉ của một số điều khác nữa.

Đôi mắt sáng của người mù rồi cũng sẽ mờ dần với tuổi tác.  Thính giác rõ ràng của người điếc cũng sẽ mờ dần.  Và con trai bà góa sau cùng cũng sẽ chết khi đến tuổi già.  Vậy, điều gì quan trọng hơn, và bền vững hơn?  Đó là các dấu chỉ cho người ta biết Đức Giêsu là ai và Người đến thế gian để làm gì.  Đó là các dấu chỉ, đã được báo trước bởi các ngôn sứ, đó là Đức Giêsu là Đấng Mêsia được mong đợi từ lâu.  Đó là các dấu chỉ rằng Đức Giêsu đang khai mở Vương Quốc Thiên Chúa mà đã được mong đợi từ lâu.  Việc chữa lành người mù là một dấu chỉ cho dân chúng thời Đức Giêsu thấy được ánh sáng của một ngày mới.  Việc chữa lành người điếc là một dấu chỉ để họ mở tai lắng nghe những gì Đức Giêsu nói.  Việc phục hồi sự sống cho con trai bà góa là một dấu chỉ là họ phải tái sinh và bắt đầu một cuộc đời mới trong Vương Quốc Thiên Chúa.

Các phép lạ của Đức Giêsu là “tiếng báo động” trong lịch sử, nó làm chói tai những người thờ ơ lãnh đạm.  Đó là các dấu chỉ của sự ngự đến của Vương Quốc Thiên Chúa.  Và Vương Quốc này là gì?  Đó là một trật tự mới, trong đó tình thương sẽ thay thế hận thù, sự lưu tâm sẽ thay thế sự vô tâm, ánh sáng sẽ thay thế tối tăm, và sự sống sẽ thay thế sự chết.

Người đàn ông vô gia cư, người phụ nữ khát nước, trẻ em trần truồng, các tù nhân – giờ đây những người này sẽ tìm thấy một người bạn và người giúp đỡ, mà trước đây họ chỉ thấy người xa lạ, đi ngang qua họ như con tầu trong đêm tối.  Trật tự mới này sẽ tiếp tục.  Người Kitô chúng ta được kêu gọi để tiếp tục các phép lạ của Chúa Giêsu, và trở nên các dấu chỉ hy vọng, cùng nhau hoạt động để biến đổi thế giới chúng ta với tình thương và sự lưu tâm.  Trong phương cách cá biệt của chính chúng ta, chúng ta sẽ là người biết thương cảm, hàng ngày thi hành loại công việc mà ông Payton đã thi hành trong câu chuyện ở trên.

Trong những lời được cho là của Thánh Têrêsa Avila:  Đức Kitô giờ đây không có thân xác, nhưng có thân xác của chúng ta, không có đôi tay nhưng có đôi tay của chúng ta, không có chân nhưng có đôi chân của chúng ta.  Đôi mắt của chúng ta là đôi mắt mà qua đó lòng thương cảm của Đức Kitô nhìn đến thế giới.  Đôi chân của chúng ta là đôi chân mà trên đó Người bước đi để thi hành các việc tốt lành.  Đôi tay của chúng ta là đôi tay mà qua đó Người tiếp tục thi hành các phép lạ trong thế giới chúng ta.

LM Mark Link

VÒNG QUAY ĐỊNH MỆNH

“Anh có muốn một ly sữa không?”, tôi hỏi một cách nhẹ nhàng.

zzKhi hắn gật đầu, tôi trông thấy vết dơ dính trên tóc hắn và ngửi thấy mùi khói ám của điếu xì gà trên áo khoác của hắn.

“Hôm nay anh khỏe không?”, tôi hỏi tiếp và đưa cho hắn ly sữa.

Không một lời đáp lại. “Anh còn cần thêm gì nữa không?” Vẫn không có tiếng trả lời.

Việc này không chỉ xảy ra một lần mà là hàng chục lần rồi.  Khi còn thiếu niên, tôi làm cho chương trình “Bánh mì và Cá”, một chương trình do mẹ tôi sáng lập.  Chúng tôi phục vụ bữa ăn cho những người cần giúp đỡ, thường là những người lang thang ở Mineapolis, khu vực St. Paul.

Cho dù làm bất cứ cách nào để động viên tinh thần, tôi vẫn thường bị lúng túng trước thái độ những người này phản ứng với tôi.  Họ không nhìn tôi khi tôi nói chuyện với họ, và họ hiếm khi nào thấy biết ơn.  Tôi như muốn hét lên: “Này, chúng tôi đang làm những điều rất tốt cho mấy người.  Ít nhất mấy người phải cảm ơn chúng tôi chứ!”

Sau khi ngừng làm tình nguyện cho chương trình “Bánh mì và Cá”, tôi tự lèo lái số phận của mình. Hơn mười năm sau, tôi đã phấn đấu có một cuộc sống gần như hoàn hảo, một công việc dạy học, một người chồng tuyệt vời và có đứa con đầu tiên của chúng tôi, Derian.

Niềm hạnh phúc khi có được con bỗng bị đập vỡ khi bác sĩ khám phá ra Derian bị bệnh tim cần phẫu thuật ngay.  Làm sao điều này có thể xảy ra được?  Tôi tự hỏi và cảm thấy rất sốc.

Sau đó, Derian được chuẩn đoán bị mắc hội chứng CHARGE, một căn bệnh không di truyền, và tỉ lệ mắc phải chỉ là một trên mười hai nghìn trẻ em.  Khi ra khỏi bệnh viện, tôi nhận ra rằng không như những vấn đề khác của cuộc sống, với chuyện này tôi không thể làm chủ được.

Căn bệnh này không những ảnh hưởng đến tim của con tôi mà nó còn ảnh hưởng đến tai, mắt, mũi cũng như sự phát triểm của cả cơ thể.  Derian cần phải được điều trị thường xuyên, nghĩa là cần có bác sĩ đến thăm hàng kì và phải vào bệnh viện thường xuyên.

Mười ba tháng sau khi Derian được sinh ra, tôi sinh Connor, đứa con trai thứ hai của chúng tôi, và nhờ trời nó rất khỏe mạnh.

Những lần khám bác sĩ, những cuộc phẫu thuật cho Derian, và việc có đứa con thứ hai khiến tôi phải xin nghỉ dạy không lương.  Trong khi tiền bảo hiểm chỉ đủ trang trải một phần cho tiền thuốc, nhiều người cũng đã đến giúp đỡ và động viên tôi.  Có lần những sinh viên của tôi đã quyên góp được sáu trăm đô la chỉ trong một ngày.  Số tiền này đủ cho tôi trả tiền nhà trong hai tháng và có thể trang trải thêm cho Derian.

Mặc dù Rob là chủ của một cửa hàng quần áo nhưng với những khoản tiền nhà, tiền thuốc và trách nhiệm nuôi nấng của cha mẹ đã khiến anh bị hao tốn khá nhiều. Chúng tôi đã làm những gì tốt nhất có thể làm.  Nhưng đến mùa xuân 1995, chúng tôi quyết định đi tìm sự giúp đỡ.

Tôi có nghe về một chương trình giúp đỡ các bà mẹ và con nhỏ bằng những phiếu ăn.  Tôi đặt sự kiêu hãnh của mình qua một bên và đã xin một cuộc hẹn.

Vào sáng của buổi hẹn, chúng tôi đã phải bàn bạc mãi nên ăn mặc như thế nào để mình trông không giàu quá, nhưng cũng không nghèo quá.  Chúng tôi đã thử ít nhất ba bộ quần áo.  Chúng tôi biết rằng việc ăn mặc sẽ quyết định sự đánh giá khả năng làm mẹ của tôi: Không quá vững vàng, nhưng vẫn còn khả năng làm chủ và tự tin.

Cùng với hai đứa nhỏ, chúng tôi đã đi bộ một quãng dài đến điểm hẹn.  Tôi đăng ký và nhìn chung quanh xem những người khác ở khu vực chờ đợi, tự hỏi rằng hoàn cảnh của họ như thế nào.  Lúc đó tôi cảm nhận được vòng xoay nguy hiểm của định mệnh và xấu hổ trước những ấn tượng ngu dốt của tôi về người nghèo.  Và bây giờ thì đến lượt tôi trở thành người nghèo.  Tôi ghét nó.  Tôi không đáng để bị như thế và tôi không thể xoay sở được.  Tôi định nắm chặt lấy tay lũ trẻ và chạy đi.  Nhưng khi nhìn vào đôi mắt sáng của chúng, tôi biết tại sao tôi phải ở lại.

Lần đầu tiên trong đời tôi đã hiểu được vì sao những ngưởi mà tôi từng phục vụ lúc trước lại không tỏ ra biết ơn.  Có ai lại muốn ở trong cảnh khốn khổ này không?  Nó thật thấp kém, và sẽ tồi tệ hơn khi những người – như tôi lúc bé – lại có vẻ như đang ban phát ân huệ và ta phải nợ họ sự biết ơn.

Cầu xin sự giúp đỡ trong lúc cần nhất quả thật khó khăn vô cùng!  Tôi không bao giờ muốn có liên quan tới những người giúp đỡ tôi những thứ mà tôi rất cần.  Sẽ dễ dàng hơn rất nhiều nếu như đứng cách xa và giữ mọi thứ ở mức độ khách quan.

Tôi mím chặt môi khi tên mình được gọi.  Chuyện gì sẽ xảy ra nếu có ai đó nhận ra tôi?  Tôi sẽ rất nhục nhã nếu như ai đó biết tôi đang phải nhận phiếu ăn.  Sau ba tiếng đồng hồ hỏi và kiểm tra, tôi cũng đã có thứ tôi cần.  Và một cuộc tìm kiếm sự tồn tại ngày qua ngày đã bắt đầu; chúng tôi kiên quyết làm được nó.

Sau hai năm rưỡi đấu tranh, linh hồn nhỏ bé của Derian đã ra đi ngày 9 tháng Năm năm 1996.  Tôi biết nó đến với tôi vì nhiều lý do, và tôi sẽ không bao giờ quên những bài học đó: Lòng yêu thương và sự cảm thông cho người nghèo, không chỉ là sự thương hại nhất thời và bố thí.

Sau khi trải qua những giai đoạn khó khăn nhất của cuộc đời, Rob và tôi lập ra tổ chức “Tiết kiệm cho người nghèo” để tưởng nhớ Derian.  Nhiệm vụ của tổ chức là giúp đỡ những gia đình ở Minnesota với những trẻ em bệnh hiểm nghèo phải chịu nhập viện trong một thời gian dài bằng trả tiền thế chấp trong một lần.  Trong bốn năm đầu tiên, chúng tôi đã trợ cấp hơn một trăm trường hợp với mức trung bình tám trăm năm mươi đô la.

Chúng tôi thường không được cảm ơn khi trợ cấp một khoảng cho ai đó.  Nhưng điều này chẳng phiền gì, vì tôi biết được cuộc sống như thế nào khi đặt mình vào vị trí của họ.

Giờ đây tôi đã hoàn toàn hiểu được niềm vui của công việc tình nguyện không phải nằm ở từ “cảm ơn” hay cảm giác tốt đẹp mà là khi giúp được những người xung quanh lúc họ cần mình nhất.

Lasty Keech: “Mỗi một đứa trẻ được sinh ra với thông điệp rằng Thượng đế vẫn chưa làm nản chí con người.” Rabindranath Tagore

XEM LẠI CẨM NANG ĐỂ ĐI ĐƯỜNG DÀI

zzHai mươi lăm năm trước, tôi có viết một bài với tựa đề, Cẩm Nang Để Đi Đường Dài.  Gần đây khi đọc lại, tôi mừng vì sau một phần tư thế kỷ, các nguyên tắc này của tôi vẫn chưa thay đổi, chỉ có thêm sắc thái khác mà thôi.  Tôi vẫn đưa ra những lời khuyên hệt như thế, xem lại chúng với một chút hoài niệm, có sửa đổi vài điểm, nhưng một lần nữa, tôi hoàn toàn đồng ý với nó.

1. Sống biết ơn… đừng bao giờ vô tâm khi nhận được tặng vật!
Hãy cự lại tính bi quan và những điều sai quấy. Là thánh, có nghĩa là được sưởi ấm trong lòng biết ơn, không hơn không kém. Lời khen cao nhất bạn có thể tặng cho người trao quà, đó là bạn tận hưởng món quà đó.  Bạn nợ đấng Tạo Hóa một việc chính là hãy hưởng dùng mọi sự,  hãy sống hạnh phúc nhất có thể.  Đời sống không chỉ là một bài kiểm tra, nó còn có giá trị hơn thế.  Hãy thêm câu này vào lời cầu nguyện thường ngày của bạn: Xin cho chúng con lương thực hằng ngày, và cho chúng con hưởng dùng mà không vướng tội.

2. Đừng ngây thơ về Thiên Chúa… Thiên Chúa sẽ sắp đặt mọi thứ đầy đủ không sót điều gì!
Thiên Chúa không muốn là một phần cuộc sống của bạn, Ngài muốn là tất cả cuộc sống đó.  Đừng tin bất cứ lời nào nói về sự an ủi của tôn giáo.  Đức tin thắt lưng cho bạn và đưa bạn đi đến nơi bạn không muốn đến.  Hãy chấp nhận rằng đức hạnh sẽ liên tục nhắc nhở cho bạn về những gì bạn bỏ lỡ trong đời.  Hãy nhận lời khuyên này của Daniel Berrigan: “Trước khi chú tâm về Chúa Giêsu, trước hết, hãy xét mình, xem nội tâm mình tốt đẹp được đến đâu!”

3. Hãy tiến bước khi có thể… hay ít nhất cố dấn lên trước dù chỉ một bước!
Hãy nhìn những gì trong tầm mắt bạn, vậy là đủ để bước tiếp.  Biết trước mắt là một thời gian dài mập mờ.  Hãy thấy đủ với cuộc sống thường nhật.  Không cần thiết lúc nào cũng phải đầy hứng thú.  Một điều an ủi cho bạn là Chúa Giêsu từng khóc, các vị thánh từng phạm tội, và thánh Phêrô đã từng phản bội.  Giữ vững đạo đức như một kẻ ương bướng cũng được, điều duy nhất hủy hoại các giấc mơ chính là thỏa hiệp.  Hãy thường xuyên bắt đầu lại.  Trong mắt Thiên Chúa, chẳng ai lỗi thời cả; và trong việc hoán cải, chẳng có gì gọi là quá trễ.  Hãy biết rằng có hai kiểu bóng tối bạn có thể rơi vào: bóng tối sợ hãi của hoang tưởng sẽ đem lại buồn sầu, và bóng tối phôi thai của hoán cải sẽ đem lại sự sống.

4. Cầu nguyện… để Thiên Chúa kết chặt với bạn!
Đừng tin ý kiến của đám đông.  Hãy tin tưởng vào lời cầu nguyện.  Việc cầu nguyện sẽ cho bạn được đặt mình trên nền tảng một điều gì đó thâm sâu hơn.  Hãy sẵn sàng chết đi một ít để được gắn bó với Thiên Chúa vì Ngài đã chết để được gắn bó với bạn.  Hãy để tâm hồn mình là nơi giọt nước mắt của Thiên Chúa và của con cái Ngài hòa vào nhau thành những giọt nước mắt hy vọng.

5. Hãy yêu… nếu cuộc đời đủ rộng cho tình yêu đó, và thật sự nó đủ rộng như thế!
Hãy tạo một không gian cho tình yêu trong đời bạn.  Hãy nuôi dưỡng tình yêu đó một cách ý thức.  Biết rằng yêu bao nhiêu cũng không vừa.  Yêu mến chuyện thế gian chỉ có thể là một tình yêu sai lầm. Hãy nói điều này với người bạn yêu: “Ít nhất, bạn sẽ chẳng bao giờ chết!”  Hãy biết rằng, trên đời chỉ có hai bi kịch khốn khổ: Không yêu, và không nói cho người bạn yêu rằng bạn yêu họ biết bao.

6. Chấp nhận bản thân bạn… và đừng sợ bạn không hoàn hảo!
Hãy chấp nhận những giới hạn của con người.  Chỉ có Thiên Chúa mới hoàn hảo.  Nếu bạn yếu đuối, cô đơn, không có người để nương tựa, và không có câu trả lời cho những vấn đề của bạn, vậy thì; hãy lắng nghe.  Chấp nhận những khó khăn của cuộc sống không trọn hảo.  Có nhiều kiểu tử đạo.  Hãy nhận ra kiểu riêng của bạn.  Nếu bạn chết vì một lý do cao cả thì sẽ có một cái gì đó để bạn sống với nó!

7. Đừng có làm một cái xác di động… hãy dấn bước, đừng để dòng đời xô đẩy!
Hãy chấp nhận cái chết hằng ngày.  Đừng nắm cuộc đời như vật sở hữu riêng của mình.  Thói sở hữu giết chết niềm vui hưởng dùng, giết chết các mối liên hệ, và thậm chí giết chết cả bạn nữa.  Hãy sống biết ơn.  Hãy nhớ những cái chết của bạn, hãy đòi cho được sự tái sinh, hãy khóc cho những mất mát, để những gì đã cũ qua đi, và đón nhận lấy sinh khí cho cuộc đời hiện thực bạn đang sống.  Hãy dẹp bỏ những mơ mộng hão huyền, chúng chỉ làm khổ bạn mà thôi.  Hãy nhớ rằng thật khó để phân biệt được thời khắc chết đi và thời khắc tái sinh.

8. Đừng sống quá nghiêm khắc… hãy thường tự cho mình là một kẻ điên!
Tiếng cười của Thiên Chúa lấp đầy trống vắng trong mộ phần của chúng ta.  Hãy nhớ rằng, sống nặng nề thật dễ, nhưng sống nhẹ nhàng mới khó.  Tiếng cười là công kích trực tiếp đối với thực chất, giá trị, và khắt nghiệt của hỏa ngục.  Đừng nhầm lẫn giữa giễu cợt và cười đùa.  Hãy cười với người ta, chứ đừng cười vào người ta.  Hãy cười và cho mình nên khờ dại, điên rồ cũng tốt như một giấc ngủ say vậy.

9. Hãy gắn bó với gia đình… bạn đang đi chơi dã ngoại với cả nhóm!
Đừng đi một mình.  Hãy chống lại cám dỗ rằng cho rằng, hãy sống tâm linh nhưng đừng theo tôn giáo. Hãy thường xuyên “tái sinh” trong cộng đoàn.  Chấp nhận rằng phải có những mối dây ràng buộc. Hành trình của bạn bao gồm cả gia đình, giáo hội, tổ quốc, và toàn thể nhân loại.  Đừng bị quyến rũ bởi miếng mồi mang tên tự do tuyệt đối.  Tự do và ý nghĩa cuộc đời nằm ở chỗ biết vâng phục trong cộng đoàn: Cộng đoàn hạ thấp và giảm giá cái tôi, đặt bạn vào luyện ngục, và cuối cùng là thiên đàng.

10. Đừng sợ sống yếu đuối… sự cứu chuộc nằm ở những giọt nước mắt!
Toàn bộ giáo lý của Chúa Giêsu có thể đưa vào trong một từ: Chịu đựng.  Nếu quả tim bạn không dịu đi thì cuối cùng đầu óc bạn sẽ yếu.  Sự khắc nghiệt chỉ làm mọi chuyện xấu đi.  Sự mềm dịu sẽ nâng mọi chuyện lên.  Con chim bay được là vì nó mềm mại.  Tảng đá không nhấc lên được vì nó cứng.  Sự mỏng manh chính là sức mạnh.  Tính nhạy cảm xác định tâm hồn.  Sự dịu dàng xác định tình yêu. Nước mắt là nước muối, giọt nước nguồn gốc của chúng ta.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

THÁNH LỄ TRONG NHÀ THỜ VÀ THÁNH LỄ NGOÀI CUỘC ĐỜI

Đức Hồng Y Hellder Camara về ban phép Thêm sức cho trẻ em trong một xứ đạo.  Khi đến nơi, Ngài thấy cả xứ đạo đang quỳ gối lăn lộn trên đất, đấm ngực khóc lóc than van như trong cơn đại hoạ. Đêm trước, trong khi mọi người mê mải chuẩn bị đón Đức Hồng Y, kẻ trộm đã lẻn vào nhà thờ ăn trộm những bình đựng Mình Thánh.  Kẻ trộm đổ Mình Thánh Chúa ra vườn, lấy đi những bình mà họ tưởng làm bằng vàng.  Thật là một sự phạm thánh ghê gớm.

 Thế nhưng trong bài giảng hôm ấy, Đức Hồng Y đã làm cho mọi người kinh ngạc khi Ngài nói: Tại sao hôm nay anh chị em mới than khóc.  Hằng ngày biết bao lần Chúa Giêsu bị nhục mạ, bị hành hạ, bị chà đạp, bị giết chết trong những anh chị em nghèo khổ, vô gia cư, trong các trẻ em không cha mẹ, không gia đình, sao chẳng thấy ai than khóc?  Anh chị em không biết sao, những anh chị em ấy chính là Chúa Giêsu, là Thân Mình Chúa Giêsu, là Thánh Thể Chúa.

**************************************

zzNói như thế, Đức Hồng Y không có ý coi thường phép Mình Thánh Chúa.  Nhưng Ngài có ý nhắc cho ta một khía cạnh thường hay bị lãng quên trong khi cử hành bí tích.  Đó phải là cử hành bí tích không chỉ trong nhà thờ mà còn phải cử hành cả ngoài cuộc đời nữa.

Đọc bài Tin Mừng hôm nay, ta hãy lưu ý hai điểm:

1- Diễn tiến phép lạ hoá bánh ra nhiều giống hệt như diễn biến một Thánh Lễ.  Nếu Thánh Lễ gồm hai phần Phụng vụ Lời Chúa và Phục vụ Thánh Thể thì trong bài tường thuật hôm nay, Chúa Giêsu cũng đã giảng dạy dân chúng trước rồi mới ban bánh sau.  Dân chúng được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa trước khi được nuôi dưỡng bằng bánh đã được chúc phúc.  Đây quả là một Thánh Lễ cử hành giữa đời thường.  Một Thánh Lễ không có nhà thờ, chẳng có bàn thờ.

2- Cử chỉ và lời nói của Chúa Giêsu khi hoá bánh ra nhiều, khi lập phép Mình Thánh Chúa và khi dùng bữa với các môn đệ làng Emmau giống y như nhau.  Cả 3 đoạn văn trên đều tả Chúa Giêsu cầm lấy bánh, tạ ơn, rồi trao cho các môn đệ.

Tại sao có sự trùng hợp thế?  Thưa vì Chúa Giêsu muốn cho ta hiểu rằng: Bí tích không chỉ là một nghi lễ, nhưng là một sự thực.  Sự thực ấy phải đâm rễ sâu nơi cuộc đời, phản chiếu đời sống và đem lại lợi ích cho đời sống.

Nếu trong Thánh Lễ Chúa Giêsu ban phát lương thực nuôi linh hồn, thì ngoài cuộc đời, Người đã ban lương thực nuôi thân xác.

Nếu Thánh Lễ là một bữa tiệc huynh đệ, thì trong sa mạc hôm nay, Chúa Giêsu cũng đã tổ chức một bữa tiệc long trọng, mỗi bàn ăn gồm 50 người để họ chia sẻ với nhau không chỉ cơm bánh mà còn tâm tư tình cảm nữa.

Nếu trong Thánh Lễ, Chúa Giêsu dâng mình cho Đức Chúa Cha dưới hình bánh rượu, thì ngoài cuộc đời, Chúa Giêsu đã tự hiến mình trên thánh giá.

Nếu trong Thánh Lễ, Chúa Giêsu dưới hình bánh bị bẻ ra để phân phát, thì ngoài cuộc đời, thân xác Người cũng đã bị bẻ ra trong những sỉ nhục, roi đòn, đóng đinh.

Quả thật Chúa Giêsu đã dâng Thánh Lễ không chỉ trong nhà thờ, mà Người còn dâng Thánh Lễ ngoài cuộc đời.  Người không chỉ dâng một lễ vật nào đó, nhưng đã dâng chính bản thân mình.  Người chỉ cử hành một bí tích, nhưng chính bản thân Người đã trở thành bí tích.  Người không chỉ bẻ ra một tấm bánh mà còn bẻ chính thân mình ra để ban phát cho mọi người.  Chính vì thế mà lễ dâng của Người có giá trị.  Thái độ của Chúa Giêsu khiến ta phải suy nghĩ.

Làm sao ta có thể gọi Thánh Lễ là một bữa tiệc huynh đệ nếu ta vẫn còn giữ trong lòng những thù hận ghen ghét?  Làm sao ta có thể đi dự tiệc Thánh Lễ nếu chung quanh ta còn biết bao anh em đói khổ, thiếu thốn?  Làm sao ta có thể dâng Thánh Lễ nếu trong cuộc đời ta không hiến mình cho anh em?

Khi truyền lệnh: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”.  Chúa Giêsu không chỉ truyền cho ta cử hành Thánh Lễ trong nhà thờ.  Người còn muốn cho ta dâng Thánh Lễ cả ngoài cuộc đời.  Nghĩa là phải chia sẻ, chịu mọi đau khổ, biết khiêm nhường nhịn nhục, biết sống đoàn kết yêu thương, biết hiến mình vì anh em.

Việc cử hành Thánh Lễ ngoài cuộc đời cũng quan trọng như việc cử hành Thánh Lễ trong nhà thờ. Hơn nữa, nếu thiếu việc cử hành ngoài cuộc đời, những nghi lễ trong nhà thờ sẽ trở thành bùa chú, giả dối và phản chứng.

**************************************

Xin cho bí tích Thánh Thể trở thành một sự thực trong đời sống.  Xin cho chúng ta biết thờ lạy Chúa Giêsu không phải chỉ trong hình bánh mà còn nơi những anh em bé mọn trong cuộc đời.  Xin cho chính đời sống ta trở thành một bí tích, chịu bẻ ra để đem lại lợi ích cho anh em.  Amen!

TGM Ngô Quang Kiệt

NGÃ RẼ

zzĐang chơi với mấy đứa nhỏ trong sân nhà bỗng dưng nhìn thấy từ cổng bước vào bóng người quen quen.  Tiến gần bên một chút thì ra là hai thầy ở Tập Viện.  Các thầy đang ở Tập Viện mà xuất hiện vào giờ này chắc là có chuyện gì đây chứ không phải là bình thường.

Khi hỏi ra thì được biết là thầy nọ chở thầy kia ghé chào những người thân quen để thầy kia lên đường trở về với gia đình, sau quyết định rẽ ngã con đường ơn gọi mà mình đi tìm kiếm.  Thế là sau nhiều năm trời theo đuổi ơn gọi, tìm kiếm thánh ý Chúa trên cuộc đời mình, hôm nay thầy kia chính thức chào anh em, chào người thân để rẽ sang một ngã khác của cuộc đời.

Trong khi tâm sự, Em cho tôi biết Em cảm thấy bình an với chọn lựa của Em.  Em can đảm đến trình với vị phụ trách về suy nghĩ và chọn lựa của Em.  Hôm nay Em chia tay để trở về lại đời thường như nhiều người ngoài bốn bức tường của tu viện.

Em đã đi khuất khỏi cổng nhà nhưng hình bóng của Em còn vương vương đâu đó.

Nói đúng ra chẳng ai muốn mình phải “rẽ ngã” sau chặng đường dài tìm kiếm.  Tìm kiếm điều gì đó đã khó, và khó hơn là tìm kiếm ơn gọi, chọn lựa một ơn gọi cho cả cuộc đời dài của mình.

Người đào tạo cũng như người được đào tạo phải “làm việc” thật nhiều để tìm ra hướng đi của người được đào tạo.  Nói là “làm việc” nhưng “việc làm” ấy không do bởi con người, nhưng phải nhìn dưới chiều kích của ơn Chúa, vì lẽ ai ai cũng biết ơn gọi là một huyền nhiệm. Phải có ơn Thánh Chúa, phải chìm sâu trong đời sống cầu nguyện mới có thể nhận ra được ơn gọi của mình, chứ không phải là chuyện giản đơn.  Nếu chỉ vì một chút tình cảm riêng tư, chỉ vì một chút cái gì đó gọi là mang tính cá nhân, mang cảm tính của con người để người đào tạo quyết định, thì người đào tạo phải trả lẽ trước mặt Chúa trước quyết định của mình.  Ngược lại, người được đào tạo vì lý do nào đó mà không can đảm trình bày cho người có trách nhiệm thì cũng khổ.

Nhớ lại gần chục năm trước, những anh em bạn cũng phải chia tay với anh em cùng lớp để chuyển sang hướng khác của cuộc đời. Những lần chia tay ấy, hình như lòng của ai cũng chùn lại.  Kẻ ở người đi ai cũng ngậm ngùi vì những năm dài gắn bó với nhau: kinh nguyện, cơm nước, thể thao và thậm chí giận hờn cũng có nhau.

Sau ngã rẽ ấy, anh em lại mỗi người một ngã, người thì tiếp tục theo con đường tận hiến, người thì theo con đường sống ơn gọi hôn nhân gia đình.  Ơn gọi nào cũng cao quý, ơn gọi nào cũng tốt đẹp cả.  Chuyện quan trọng là ta có nhận ra và sống đúng ơn gọi mà Chúa mời gọi ta hay không mà thôi.

Nếu chọn đời hôn nhân, thật đẹp khi sống đời hôn nhân chung thuỷ và hạnh phúc.

Nếu chọn đời tận hiến, thật đẹp khi sống trọn vẹn đời tận hiến, thuỷ chung với Chúa, khiêm nhường phục vụ Chúa qua tha nhân, qua anh chị em đồng loại.

Nghĩ về Em, một chút gì đó cảm phục vì Em đã can đảm nói lên suy nghĩ của Em, nói lên tấm lòng thật của Em.  Bên cạnh Em còn đó những người vì lý do này hay lý do khác đã không can đảm như Em.  Tệ hơn nữa là họ chọn cho mình một con đường, mà họ cảm thấy bất an, nhưng bên ngoài họ vẫn nguỵ tạo cho sự bình an.  Họ đã không can đảm để rẽ như Em.  Khi không can đảm để rẽ như Em, người ấy không chỉ gây khổ cho mình mà còn gây khổ cho cộng đoàn, cho giáo xứ mà ta được gửi đến để phục vụ, để sống đời tận hiến.

Chuyện quan trọng không phải là tu hay không tu, nhưng quan trọng là ta có tìm ra Thánh Ý của Chúa trên đời, và ta có thật sự hạnh phúc trong ơn gọi đó hay không.  Nếu như Chúa muốn ta sống đời tận hiến mà ta chọn con đường hôn nhân thì cũng trục trặc khi sống với đời sống ấy.  Nếu như Chúa muốn ta sống đời hôn nhân mà ta gượng ép sống đời tận hiến thì cũng là bất hạnh.  Tu không phải là tu một ngày mà tu cả cuộc đời.  Nếu ta không hạnh phúc mà cứ kéo lê cuộc đời ta trong đời ơn gọi thì cả cuộc đời ta sẽ lê lết với chọn lựa không dứt khoát của ta.

Chọn lựa cho ơn gọi thật là khó.  Một số người vẫn quở trách người rẽ ngã về đời thường là ăn cơm nhà Chúa mà phản bội Chúa, nhưng họ không hiểu ơn gọi là huyền nhiệm, là bởi ơn Chúa chứ không do tự con người.  Vì áp lực của gia đình, của bè bạn, của dòng tộc nên đôi khi người ta không can đảm quyết định.

Chúc mừng Em vì Em đã can đảm sống thật với chính mình.

Con đường phía trước của Em còn nhiều gian khó để hội nhập, nhưng thà khó một lần cho xong, còn đỡ hơn là kéo lê cuộc đời không hạnh phúc.

Nguyện chúc Em sống “ngã rẽ” mới bình an hạnh phúc, và cũng xin ơn Thánh Chúa đổ tràn trên Em trên con đường mới này.

Thanh Tâm

CƠN THỊNH NỘ CỦA CÁC THÁNH

Trong tác phẩm có tựa đề “Quyển Phúc Âm thứ 5”, tác giả người Ý là ông Pomilio có tưởng tượng một câu chuyện như sau: Ngày kia, các thánh trên Thiên Ðàng không còn chịu đựng nổi những xúc phạm của con người đối với Thiên Chúa nữa, cho nên các Ngài mới họp công nghị để tìm cách chặn đứng tội lỗi của nhân loại…

Sau không biết bao nhiêu buổi họp, cuối cùng các thánh mới đồng thanh biểu quyết rằng việc Con Thiên Chúa chịu chết trên thập giá vẫn chưa đủ để cứu rỗi con người.  Do đó, cần phải dùng đến sức mạnh may ra mới trừng trị và thuyết phục được loài người.

Các Ngài họp lại thành một đạo binh hùng mạnh và xâm nhập vào trái đất.  Chỉ trong nháy mắt, đạo binh các thánh đã chinh phục được thế giới.  Các Ngài giao việc cai trị trái đất cho một số người công chính còn sót lại giữa loài người.  Còn tất cả những kẻ gian ác, tội lỗi, các ngài tập trung lại trong một thung lũng lớn.  Tại đây, các ngài dựng lên những dàn hỏa thiêu vĩ đại để tiêu diệt tất cả những người tội lỗi.  Các ngài tin chắc rằng sau cuộc thanh lọc này, dòng giống con người trên mặt đất sẽ chỉ có những người công chính…

zzKhi mọi sự đã sẵn sàng để tiến hành cuộc tiêu diệt, thì giữa đám người tội lỗi, các thánh bỗng thấy một người đang vác thập giá.  Hắn đang ra hiệu cho những người khác đến giúp dỡ hắn…  Nhìn thấy cảnh tượng ấy, các thánh càng bực tức hơn nữa.  Tại sao một người tội lỗi lại bị xử theo hình phạt chỉ được dành riêng cho Con Thiên Chúa mà thôi?  Nghĩ như thế, cho nên các thánh mới triệu kẻ vác thập giá đến, trói chân tay hắn lại và giải đến trước mặt thánh Phêrô để xét xử.

Vừa thoáng nhìn qua kẻ vác thập giá, vị thủ lãnh các tông đồ đã nhận ra ngay Thầy mình.  Các thánh ngỡ ngàng không ít, khi được thánh Phêrô tiết lộ rằng Con Thiên Chúa đang lẫn lộn giữa những người tội lỗi.  Các ngài mới nhớ lại lời của Ngài: “Con Người không đến để cứu thoát những người công chính mà chính là những người tội lỗi”.  Chúa Giêsu cũng nói các thánh rằng Ngài đã quyết định chết một lần nữa cho các tội nhân, bởi vì trên trần gian, không có một người nào có thể cứu thoát kẻ có tội khỏi cơn thịnh nộ của các thánh.

***************************************

Chúng ta dễ rơi vào hai thái cức trái nghịch nhau: Thái độ của những người biệt phái và thái độ của Giuda, kẻ bán nộp Chúa.

Thái độ của những người biệt phái được Chúa Giêsu phác họa qua hình ảnh của một người tự cao tự đạo vào Ðền Thờ cầu nguyện.  Người này kể ra bao nhiêu công trạng của mình và nhìn một cách khinh bỉ về người thu thuế đang nép mình ở phía cuối Ðền Thờ.  Thái độ ấy tiêu biểu ấy cho chính cái nhìn mà đôi khi chúng ta cũng có đối với người khác.  Chúng ta hãnh diện về đời sống đạo đức của chúng ta và kết án những yếu hèn, thiếu sót của những người xung quanh…

Ðối nghịch với thái độ kiêu ngạo của người biệt phái là thái độ thất vọng của Giuda.  Sau khi đã bán nộp Chúa, Giuda mới nhận ra lỗi lầm của mình.  Ông không còn tin tưởng ở lòng Nhân Từ của một Thiên Chúa có thể tha thứ tất cả tội lỗi của ông và có thể mang lại cho cơ may để sống tốt đẹp hơn.

Tựu trung, cả hai thái độ đều có chung một mẫu số: Ðó là đóng khung trong chính bản thân để khước từ mọi ân sủng của Chúa.

Qua cuộc sống của mình, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đặt tất cả tin tưởng, phó thác vào Tình yêu của Thiên Chúa.  Dù tội lỗi chúng ta có ngập tràn, Tình yêu của Thiên Chúa vẫn luôn có sức xóa sạch tất cả. Tình yêu của Ngài mạnh hơn cả hỏa ngục và sự chết…  Qua cách cư xử của Chúa Giêsu với tội nhân, chúng ta cũng được mời gọi để nên trọn lành như Cha chúng ta trên Trời, đó là luôn biết tha thứ và cảm thông đối với những bất toàn, yếu đuối và tội lỗi của con người…

R. Veritas

***************************************

Lạy Chúa,

Điều làm tôi khắc khoải chính là Ngài,
Bởi thấy muôm vàn tủi hổ, Ngài phải chịu trên thập giá kia
Bởi thấy những thương tích thể ấy, trên thân mình Ngài.
Sau cùng, bởi chính tình yêu của Ngài, làm khắc khoải hồn tôi.
Cho dù không có thiên đàng, tôi vẫn yêu mến Ngài!
Cho dù không có hoả ngục, tôi vẫn kính sợ Ngài!
Để tôi yêu mến Ngài, chẳng cần Ngài ban gì cho tôi!
Bởi vì giờ đây, tôi không có khát  mong nào khác,
Là được yêu mến Ngài mãi mãi, không bao giờ thay đổi, Amen!

Thánh Phanxicô Xaviê

TOÀN BỘ SỰ THẬT

“Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em, nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi.”

zzĐức Giêsu khi sắp về với Cha, đã chấp nhận giới hạn của các môn đệ.  Ngài chưa nói hết được những điều Ngài muốn nói, nhưng Ngài không muốn ép họ phải cố hiểu.  Cần có thời gian, và nhất là cần Thánh Thần…

Đức Giêsu chấp nhận ra đi khi việc huấn luyện còn dang dở.  Ngài chấp nhận mình không phải là vị thầy duy nhất: Sau này, Thánh Thần sẽ dạy anh em mọi điều (Ga 14,26).  Ngài cũng chẳng phải là Đấng Bảo Trợ duy nhất vì còn một Đấng Bảo Trợ khác đến sau Ngài (x. Ga 14,16).

Ngài đã vén mở cho các môn đệ thấy sự thật, sự thật về Cha, về bản thân mình và về con người.  Nhưng Ngài biết rằng cần có Thánh Thần từ từ dẫn dắt các môn đệ mới hiểu thấu và đi vào toàn bộ sự thật.

Vì lợi ích của họ, Đức Giêsu sẵn sàng ra đi (x. Ga 16,7), để nhường chỗ cho Đấng Cha và Ngài sai đến.  Đức Giêsu chẳng tìm mình, và Thánh Thần cũng vậy.

Thánh Thần chỉ có sứ mạng là đưa con người đến với Cha và Con là Đức Giêsu.  Ngài chẳng tìm vinh quang cho mình, nhưng chỉ tìm tôn vinh và làm chứng cho Đức Giêsu.  Cha cũng chẳng tìm mình.  Cha chẳng giữ gì làm của riêng.  “Mọi sự Cha có đều là của Thầy” (c.15) Cha là nguồn mạch luôn trào dâng qua Con.  Con là Con vì đón nhận tất cả từ Cha.  Tình yêu liên kết Cha và Con là Thánh Thần.

Khi chiêm ngắm thế giới của Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta thấy đó là một cộng đoàn lý tưởng.  Mỗi ngôi vị đều sống cho hai ngôi vị kia.  Yêu thương và hiệp thông với nhau đòi từ bỏ.  Nhưng từ bỏ lại làm cho mỗi ngôi vị trọn vẹn là mình, và sống trong hạnh phúc viên mãn.

Thiên Chúa của Kitô giáo là một cộng đoàn yêu thương, nhưng thế giới của Thiên Chúa Ba Ngôi lại không khép kín.  Thế giới ấy vươn ra ngoài mình, để cho hạnh phúc tuôn đổ trên toàn bộ công trình sáng tạo.

Cha yêu loài người đến độ sai Con Một làm người.  Con yêu loài người đến độ dám sống và chết cho họ.  Thánh Thần yêu loài người đến độ luôn ở bên để ủi an nâng đỡ.  Cả Ba Ngôi cùng nhau lo cho loài người.  Ước mơ lớn nhất của Ba Ngôi là đưa cả nhân loại đi vào thế giới thần linh của mình, để mỗi người được hưởng hạnh phúc làm con trong Chúa Con.

Thiên Chúa Ba Ngôi là tình yêu mở ra, chia sẻ, mời gọi.  Tình yêu đích thực bao giờ cũng khiêm hạ đợi chờ.  Chúng ta tự hỏi mình có sẵn sàng mở ra để Chúa đi vào thế giới của mình và để mình đi vào thế giới của Chúa không?

**************************************

Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi nhuận, xin dạy con biết phục vụ âm thầm.
Giữa một thế giới say mê thống trị và chiếm đoạt, xin dạy con biết yêu thương tự hiến.
Giữa một thế giới đầy phe phái chia rẽ, xin dạy con biết cộng tác và đồng trách nhiệm.
Giữa một thế giới đầy hàng rào kỳ thị, xin dạy con biết coi mọi người như anh em.
Lạy Chúa Ba Ngôi, Ngài là mẫu mực của tình yêu tinh ròng, xin cho các Kitô hữu chúng con trở thành tình yêu cho trái tim khô cằn của thế giới.
Xin dạy chúng con biết yêu như Ngài, biết sống nhờ và sống cho tha nhân, biết quảng đại cho đi và khiêm nhường nhận lãnh.
Lạy Ba Ngôi chí thánh, xin cho chúng con tin vào sự hiện diện của Chúa ở sâu thẳm lòng chúng con, và trong lòng từng con người bé nhỏ.

Trích trong ‘Manna’

 

ME THẦU

zzTrung tuần tháng Tư tôi qua Lào thăm Me Thầu. Me Thầu là dì ruột và cũng là vú đỡ đầu của tôi. Đây là một trong những tháng nóng nhất ở Lào nên ba ngày Tết người trẻ thường ra đường chơi tạt nước – là một nét đặc trưng của Tết Lào.  Me Thầu là nữ tu Dòng Chị Em Bác Ái.  Người dân gọi các nữ tu là Khún Me, hồi xưa họ cũng gọi ngài như vậy, nhưng bây giờ họ gọi là Me Thầu vì đã 86 tuổi rồi.  Me Thầu nghĩa là bà ngoại.  Tôi thích cách gọi này hơn vì nó gần gũi và thân thiện với văn hóa người dân xứ Lào này.

Tôi tháp tùng Me Thầu đi lên Luang Prabang (Nước Đức Phật) ở bắc Lào, Me Thầu là trưởng cộng đoàn đang trông coi nhà các em mồ côi và các em dân tộc nghèo ở Vientiane.  Nay lại đảm đương thêm một công tác mới lo cho các em dân tộc mồ côi và các em khuyết tật câm điếc ở Luang Prabang.  Từ Vientiane bay đến Luang Prabang chỉ mất 30 phút, còn đi xe khoảng 10 tiếng.

Tôi lên Luang Prabang ở nhà với ba soeur và khoảng 20 em dân tộc mồ côi hoặc nghèo được các soeur dạy dỗ và nuôi ăn học.  Còn trường nội trú nuôi khoảng 45 em khuyết tật câm điếc ở cách đó khoảng hai cây số, cứ chiều chiều tôi qua đó đá banh với mấy em.  Có hôm 4, 5 em gái cũng ra đá banh.  Các em rất thích được ở đây, vì ở thôn làng các em bị người dân coi rẻ rúng, như một án phạt của ông trời, nên sống tự ti mặc cảm.  Chỉ có cha mẹ của các em mới ráng hiểu xem con mình ra dấu như vậy có nghiã là gì, còn người ngoài thì chẳng ai buồn đoái hoài tới.  Sống ở đây các em được đối xử tốt lành, được ăn uống đàng hoàng, được học chữ, học nghề.

Hôm trước tôi sửa lại mấy cái laptop cũ do câu lạc bộ của Úc cho trường khuyết tật.  Có vài cái tôi sửa hoài mà không xong, nên Me Thầu chở ra trường huấn nghệ khác để nhờ sửa.  Người sửa máy cũng là một người khuyết tật hai chân và là thầy dạy vi tính ở đó.  Khi Me Thầu đến thầy vui lắm, hỏi ra mới biết Me Thầu cũng nuôi nấng và nâng đỡ cho thầy nhiều năm trước, khi thầy còn đang theo học ở trường huấn nghệ này.  Bây giờ học xong và được nhà trường mời ở lại để dạy cho các học sinh khác, còn những người bạn học của thầy thì đi làm ở các tiệm sửa máy trong thành phố.

Khu vực nhà các soeur và các em này chỉ có nước vào buổi tối.  Khoảng giữa khuya mới có nước cho đến mờ sáng, nên đêm đêm phải ráng thức dậy hứng nước vào thùng để có nước sử dụng trong ngày.  Phòng của tôi có phòng tắm riêng, có hai cái xô và một cái thau, nên nửa đêm tôi cũng thức dậy hứng nước đồng thời giặt áo quần, vì ban ngày không có nước để giặt.  Mùa này nóng quá nên dù chỉ phơi trong phòng tắm qua đêm mà áo quần cũng khô.  Có đêm tôi ngủ say cho đến gần sáng, tuy nước vẫn còn chảy nhưng không còn trong như những hôm trước vì hồ lấy nước đã cạn xuống.

Vùng này được coi như là “vùng trắng”, vì không có được mấy người Công Giáo.  Giáo hội ở đây rất khiêm tốn, chỉ có Đức Giám Quản Tông Tòa (Prefect) và ba Soeur hiện diện mà thôi.  Một hôm đi ngang qua một tòa nhà có cái nóc to cao rất giống nhà thờ, tôi hỏi có phải nhà thờ chính tòa không.  Các soeur phì cười, nói nhà thờ, nhà nguyện, còn chưa có thì lấy đâu ra mà có nhà thờ chính tòa.  Gần đây có một số anh chị em công nhân Công Giáo Việt Nam qua Lào làm việc nên cuối tuần Đức Giám Quản đến làm lễ cho khoảng 40 người.

Mấy năm trước tôi qua Lào Me Thầu tương đối còn khoẻ.  Nhưng bây giờ mỗi khi đi hơi lên dốc một chút hay đường đất gồ ghề thì phải chống gậy, lên xe xuống xe cần người đỡ phụ, tuy vậy đầu óc ngài vẫn còn minh mẫn.  Nhìn Me Thầu với chừng ấy tuổi mà Giáo Hội lại trao cho một sứ mạng quan trọng và nặng nề như thế.  Lên đường mở mang một vùng trắng mới thấy Giáo Hội Lào thiếu người biết chừng nào, mới thấy Thiên Chúa cần những tâm hồn đáp trả lời mời gọi lên đường biết bao.  Thập niên trước khi Đức Giám Quản còn là linh mục, ngài có lên vùng này mấy lần, và bị bắt nhốt vì ngài giảng đạo cho bà con trên vùng đất bắc Lào này.  Nay thì đỡ hơn, chính quyền đồng ý cho các soeur lên đây mở trường nội trú và huấn nghệ cho các em khuyết tật, nên bây giờ các soeur Dòng Chị Em Bác Ái hiện diện ở vùng trắng này danh chính ngôn thuận.

Đã nhiều năm nay, Me Thầu xin Nhà Dòng gởi người đến làm phụ tá cho Me Thầu để sau này có thể thay thế gánh vác sứ vụ ở Vientiane cũng như ở Luang Prabang.  Nhưng đến bây giờ Nhà Dòng vẫn chưa có người để gởi đến, Me Thầu thao thức lắm.  Tôi đến thăm Me Thầu mười ngày và thấy cánh đồng trắng bát ngát làm tôi cũng thao thức nhiều.  Khi tôi chơi banh chơi cầu với các em, các em nói chuyện bằng tay với nhau rất nhanh, còn tôi mù tịt cáng mai, muốn nói với các em một điều gì đó quả là khổ sở.  Có một lần đang chơi đá banh, tôi ráng hú gọi một em trở về vị trí hậu vệ, nhưng kêu cỡ nào cũng vậy thôi, vì em có nghe được đâu?  Nhìn các em mải mê chơi banh làm tôi chợt nghĩ lại chính mình.  Biết bao lần Chúa cũng hú gọi tôi mà tôi đâu có nhận ra vì đang mê mẩn chạy theo những quyến luyến của sự đời.

Nhìn Me Thầu với chừng nấy tuổi đời mà vẫn gắng sức mỗi ngày thưa “Xin Vâng” như Mẹ Maria để cho Chúa tiếp tục vẽ bức họa đời mình theo Thánh Ý của Ngài, ngắm nhìn cuộc đời Me Thầu tôi cứ suy nghĩ hoài.  Không biết khi nào tôi mới chịu cho Chúa cái tự do mà chính Chúa đã thương trao ban cho tôi, để Ngài được hoàn toàn tự do vẽ bức họa đời tôi theo Ý Ngài.

Lạy Chúa, nhìn cánh đồng trắng bát ngát và chắc Chúa cũng đang thao thức tìm những tâm hồn dấn thân làm sứ giả Tin Mừng, thay mặt Chúa ban phát tình yêu và ân sủng, đến dạy dỗ và nâng đỡ những kẻ mồ côi và khuyết tật bị xã hội khinh thường.  Xin cho mỗi người chúng con biết mặc lấy nỗi thao thức của Ngài, và xin nhắc nhớ mỗi người chúng con biết hồi tâm để bớt chạy theo những quyến luyến lệch lạc, và để nhận thức tiếng mời gọi của Đấng Ban Sự Sống.  Amen!

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.

May 1, 2013