MỖI NĂM MỚI, MỘT CUỐN SÁCH MỚI!

zzTôi còn nhớ rõ, cách đây ba năm, vào ngày cuối năm tất cả các Linh mục trong toàn Giáo phận chúng tôi, khoảng 1200 vị, lần đầu tiên được mời về Tòa Giám Mục để ăn Tất Niên với Ðức Giám Mục Giáo phận và bốn GM phụ tá cũng như các chức sắc của Tòa GM.  Vào cuối buổi gặp gỡ Ðức Giám Mục đã tặng mỗi Linh mục một cuốn sách được gói lại rất cẩn thận.  Riêng tôi khi nhận được quà của Ðức Giám Mục, tôi rất hãnh diện và cũng rất tò mò là không biết tựa đề cuốn sách là gì và nội dung ra sao.  Tôi chỉ đoán là chắc chắn nó phải có một ý nghĩa đặc biệt nào đó, vì là quà của Ðức Giám Mục Giáo phận kia mà!  Khi về đến nhà, tôi bèn mở gói quà ra xem, thì quả thật là một cuốn sách rất đẹp, được đóng bìa da và mạ vàng trông rất quí giá, nhưng lại không có tựa đề và trong sách cũng chỉ là những tờ giấy trắng bỏ trống, chứ không được in hay được viết gì vào đó cả.  Tôi vô cùng ngạc nhiên!  Tôi bèn thử đếm số trang của cuốn sách thì tất cả là 365 trang, đúng với số ngày của một năm.  Sau một hồi lâu ngẫm nghĩ tôi đã rất vui mừng, vì đã khám phá ra được ý nghĩa cao sâu của món quà. Vâng, cuốn sách đó đối với tôi, ngoài mục đích xử dụng, nó còn là một món quà mang đầy nghĩa của một Năm Mới!  Ðúng vậy, trong ngày đầu năm Thiên Chúa trao cho tất cả chúng ta và mỗi người trong chúng ta một cuốn sách mới với 365 trang giấy trắng tinh, chưa hề được viết gì vào đó cả.  Nhưng trước khi chúng ta được nhận cuốn sách mới, nhất thiết chúng ta phải trao “tận tay” Thiên Chúa cuốn sách cũ mà Người đã giao cho chúng ta trong năm vừa qua.

Dĩ nhiên, trước khi trao trả lại cho Thiên Chúa cuốn sách cũ đã được “ghi chép” đầy những sự kiện của cuộc sống trong suốt năm vừa qua, chúng ta cần phải tìm cho mình những giây phút thật yên tĩnh qua Thánh Lễ Misa hay Giờ Chầu Ðền Tạ cuối năm, để lật lại từng trang mang đậm những dấu ấn của con người chúng ta.  Tất cả những biến cố đã được ghi lại trong cuốn sách đời chúng ta, chắc chắn là những điều vui mừng đầy ấn tượng, nhưng bên cạnh đó cũng có những điều buồn hay không được vui lắm, và rất có thể là những điều làm chúng ta phải ân hận khi nhớ lại.  Vâng, những điều đã mang đến cho chúng ta những giờ phút hạnh phúc và vui sướng như các thành quả tốt đẹp trong công cuộc làm ăn, học hành thi cử, những ngày nghỉ hè vui, hay may mắn thoát khỏi một rủi ro nào đó, được bình phục sau cơn hoạn nạn.  Còn những điều buồn làm chúng ta phải đăm chiêu suy nghĩ và nuối tiếc, như những ngày đau ốm, thất bại, thua lỗ, hay mất đi vĩnh viễn người thân yêu, v.v…  Cuối cùng trên những trang giấy sổ đời của chúng ta trong năm qua có lẽ cũng đã ghi những điều đen tối làm cho chúng ta khi xem lại cũng vẫn cảm thấy đau lòng, thẹn thùng và hối hận.  Ðó là những yếu đuối, những sa ngã, những lỗi lầm, những điều làm phiền lòng Thiên Chúa và anh chị em đồng loại của mình!

Tất cả những sự cố đó đã được ghi rõ trên 365 trang của cuốn sách mà Thiên Chúa đã đặt vào tay mỗi người chúng ta vào ngày đầu của năm trước.  Những gì vào đầu năm ngoái còn là một tương lai mờ mịt, chưa biết được, thì nay lại thuộc vế quá khứ rồi!  Chúng ta không được phép coi thường vất bỏ cuốn sách năm cũ được ghi chép đầy những sự kiện đời chúng ta, nhưng phải thận trọng giữ gìn và cung kính dâng lại cho Thiên Chúa!

Và ngày đầu năm hôm nay chúng ta lại được trao cho một cuốn sách mới với 365 trang giấy trắng. Những trang giấy trắng đó sẽ lần lượt được ghi chép đầy đủ những sự kiện của đời chúng ta trong năm mới này.  Chính Thiên Chúa cũng sẽ viết lên đó những giòng chữ của những an bài của Người.  Cả những người đồng loại trong xã hội và những sự kiện của thời gian cũng sẽ viết lên đó phần đóng góp của mình.  Nhất là chính chúng ta, chúng ta sẽ cẩn thận lần lượt ghi lên từng hàng kẻ của những trang giấy trắng tất cả những gì xảy ra cho chúng ta, với những ý nghĩ, lời nói và hành động.  Nhưng tiếc thay, chúng ta vẫn luôn là những con người yếu đuối, với bao thiếu sót và bất toàn.

Trong ngày đầu năm hôm nay, chúng ta mong ước và cầu xin cho những trang giấy trắng của cuốn sách đời chúng ta trong năm mới này được ghi chép đầy đủ và chỉ có những sự kiện vui mừng mà thôi. Có lẽ ngay trong ngày Ðầu Xuân này đã có một số trang nào đó trong ba trăm sáu mươi lăm trang của cuốn sách, chúng ta đã dành để ghi những dự định và những mong ước đặc biệt mà chúng ta đã có sẵn kế hoạch rồi.  Ðó là những ngày Sinh Nhật của những người thân, ngày lễ thánh Quan Thầy, ngày Cưới Hỏi, ăn mừng Thượng Thọ, ngày mừng Ngân-Kim-Ngọc Khánh Hôn Phối hay Chịu Chức Thánh, v.v…  Các bạn đang vui mừng chờ đón đứa con đầu lòng, đứa con thứ sắp sinh?  Các bạn là sinh viên hay học sinh đang soạn sữa thi tốt nghiệp?  Hoặc các bạn đang soạn sửa về hưu?

Vâng, còn có biết bao nhiêu sự cố kèm theo những suy nghĩ và vấn nạn, những chờ đợi và ước mong, và cũng rất có thể kèm theo cả những lo lắng sợ hãi, sẽ được ghi lên những trang giấy trắng của cuốn sách mới.  Vậy, trước hết chúng ta có thể làm được gì tốt hơn là chạy đến cùng Thiên Chúa với những nguyện ước hợp lý và với tâm tình tin tưởng và phó thác?

Một câu hỏi khác cũng được đặt ra là: Liệu chúng ta có thể viết lên trên tất cả các trang của cuốn sách cho đến trang cuối cùng mang số 365 không?  Dĩ nhiên chúng ta ước mong và cầu chúc cho nhau điều đó!  Nhưng một điều chắc chắn là sẽ có nhiều người trong số những người khỏe mạnh và đau ốm hôm nay đang mừng Tân Xuân sẽ không thể tiếp tục mỗi ngày ngồi ghi chép vào cuốn sách được nữa.  Rất có thể người này kẻ nọ trong chúng ta chỉ ghi được đến trang thứ 100, 182 hay 347 và chấm tận! Những người còn trẻ trung và khỏe mạnh thường có nhiều khả năng hơn để viết vào cuốn sách cho tới trang cuối cùng, nhưng tuyệt đối không một ai có thể bảo đảm được 100% là những người đó sẽ nhất định lật đến trang cuối cùng của cuốn sách cũ và gấp lại để nhận cuốn sách mới khác!

Còn một điều chắc chắn cuối cùng nữa là tất cả những cuốn sách ghi sổ đời chúng ta, dù được ghi chép đầy các trang hay chỉ ghi được một số trang nào đó, tuyệt đối không bị ném vào đống giấy vụn hay bị đốt phá, nhưng là được trao lại cho Thiên Chúa.  Ðiều đó có nghĩa vừa là một điều vui mừng phấn khởi và đầy an ủi cho người này, nhưng đồng thời cũng rất có thể là sự kinh sợ và đáng tiếc cho kẻ khác vì tất cả đã quá muộn và lỡ làng rồi!

Nhưng tất cả chúng ta đều thâm tín một cách chắc chắn rằng chúng ta không cần phải chờ cho tới khi phải trao trả lại cuốn sách cũ cho Thiên Chúa và hồi hộp chờ kết quả của án lệnh công minh của Người, nhưng ngay trong ngày Ðầu Xuân của năm mới này chúng ta đã có thể biết trước được kết quả của án lệnh đó rồi:  Tất cả đều tùy thuộc vào những gì chúng ta ghi chép vào cuốn sách!

Chúc bạn một năm mới nhiều ơn Chúa và mọi may lành trong cuộc sống, và dĩ nhiên cầu chúc cho cuốn sách mới của đời bạn sẽ chỉ được ghi những sự kiện tích cực!

Lm. Nguyễn Hữu Thy

 

ĐỔI MỚI CUỘC ĐỜI

Nhiều lần đài phát thanh, truyền hình, trong mục nói về giáo dục trẻ em, giới thiệu chương trình hoạt động của anh Thảo Đàn ở thành phố Hồ chí Minh. Trước đây, Thảo Đàn là một trẻ của đường phố, bỏ nhà đi lang thang bụi đời, tệ hơn nữa, vướng vào nghiện hút. Nhưng khi hiểu được tác hại của ma tuý, anh quyết tâm cai nghiện. Với ý chí cương quyết, anh đã hoàn toàn dứt bỏ được ma tuý. Chừa được ma tuý rồi, anh không chỉ hài lòng với việc làm lại cuộc đời cho bản thân, nhưng còn muốn dùng kinh nghiệm của mình để giúp đỡ các trẻ em đường phố. Với sự hỗ trợ của Nhà Nước và các tổ chức từ thiện, anh mở ra một trung tâm qui tụ 200 trẻ em đường phố. Tại đây, anh giáo dục cho các em hiểu biết những nguy hiểm đang rình rập các em, giúp các em bảo vệ quyền lợi của mình và nhất là tìm cách đưa các em hội nhập vào đời sống xã hội.

Điều mà Thảo Đàn đã làm cho bản thân mình và đang muốn làm cho các trẻ em đường phố, đó là đổi mới đời sống. Không biết anh có đạo hay không, nhưng anh đang thực hiện Lời Chúa trong các bài sách thánh hôm nay. Trong bài đọc thứ nhất, tiên tri Gio-na kêu gọi dân thành Ninivê đổi mới đời sống để được tha thứ. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu kêu gọi dân Do thái đổi mới đời sống để đón nhận Nước Chúa đang đến. Đáp lại lời Người, các môn đệ bước theo Đức Giêsu trong một đời sống mới. Cuộc đổi mới được tiến hành qua ba bước.

Bước thứ nhất: Nhận biết mình tội lỗi.

Tội lỗi như một cơn mê làm ta đắm đuối không nhận biết tình trạng tâm hồn của mình. Muốn đổi mới, cần phải thức tỉnh, nhìn rõ sự thực về mình, thấy rõ tình trạng tội lỗi, hiểu biết sự nguy hại của tội. Thảo Đàn bừng tỉnh sau những lầm lỡ, nhận thức mình đang đứng bên bờ vực thẳm, nên đã kịp dừng chân. Dân thành Ninivê, sau khi nghe tiên tri Giona rao giảng, ý thức về tình trạng nguy ngập của thành, nên đã chấm dứt tình trạng tội lỗi. Để biết rõ tình trạng tâm hồn, để nhận biết tội lỗi, cần phải siêng năng xét mình. Xét mình giống như ngọn đèn pha soi vào tất cả những ngõ ngách trong tâm hồn, phơi bày ra tất cả những gì còn ẩn giấu. Xét mình giống như cái cuốc đào bới những tầng lớp sâu thẳm của tâm hồn để lộ ra những tội lỗi còn bị thời gian, sự quên lãng và sự vô tình vùi lấp.

Bước thứ hai: Sám hối.

Khi đã nhận biết tội lỗi, tâm hồn phải tiến tới một thái độ tích cực hơn, đó là sám hối. Nhận thức tội lỗi giống như ta nhìn thấy một căn nhà rác rưới bẩn thỉu. Sám hối là bắt tay vào quét dọn sạch sẽ. Sám hối như giòng nước gột rửa linh hồn. Sám hối như chiếc dao mổ của bác sĩ cắt bỏ những ung nhọt gieo mầm mống bệnh tật. Sám hối càng mãnh liệt, tội lỗi càng lùi xa. Sám hối càng sâu xa, linh hồn càng mau chóng hồi sinh. Nhờ sám hối sâu xa, Thảo Đàn đã từ bỏ con đường nghiện ngập. Nhờ sám hối mãnh liệt, dân thành Ninivê đã bảo nhau, từ người già đến em bé đều xức tro, ăn chay cầu nguyện, quyết tâm từ bỏ con đường tội lỗi. Tâm hồn sám hối là tâm hồn được chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận ơn Chúa.

Bước thứ ba: Đổi mới cuộc đời.

Sám hối chân thành bao giờ cũng đi đến đổi mới cuộc đời. Vì sám hối là muốn đoạn tuyệt với con đường xưa cũ để bước vào một con đường mới. Vì tâm hồn sám hối không những muốn sửa chữa lại những lỗi lầm quá khứ mà còn quyết tâm xây dựng một tương lai tươi mới,trong sạch hơn, tốt đẹp hơn, ích lợi hơn. Vì muốn hoàn toàn đổi mới, Thảo Đàn không chỉ tránh xa nhưng còn dấn thân giúp người khác đâú tranh chống tệ nạn xã hội. Vì muốn đổi mới cuộc đời, các tông đồ đã từ bỏ nếp sống cũ, từ giã những người thân, bỏ hết tài sản để lên đường đi theo Chúa. Con đường mới là con đường theo thánh ý Chúa, con đườngzz dẫn ta đi trong tình yêu mến Chúa và yêu mến anh em. Tình yêu mến sẽ làm cho đời sống ta có ý nghĩa và trở nên phong phú vì sẽ đem lại những hoa quả thiêng liêng. Bước đi trên con đường mới, ta sẽ đón nhận được Nước Chúa đang đến. Bước đi trên con đường mới, ta sẽ góp phần đem Nước Chúa đến với anh em.

Đầu năm mới, ai cũng có ước mong mọi sự mới mẻ. Không gì đẹp hơn một tâm hồn đổi mới. Để đổi mới tâm hồn, ta hãy nhận biết tội lỗi và ăn năn sám hối. Với ơn Chúa giúp và với quyết tâm đổi mới, ta sẽ nhìn thấy những việc cần phải làm. Với những việc làm do Chúa Thánh Thần hướng dẫn, ta sẽ thực sự bước vào Năm Mới với cả tâm hồn đã được đổi mới.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đổi mới mọi sự trong ngoài của chúng con.

TGM. Ngô Quang Kiệt

 

LỜI CUỐI

Trong cuộc sống,

Đôi khi ta phải biết nhìn xuống để thông cảm cùng người khác.  Không nên lúc nào cũng nhìn lên để oán đời và thù hằn số phận.

Năm thứ hai trường nữ hộ sinh, lớp tôi phải làm bài kiểm tra.  Các câu hỏi không có gì là khó, duy câu cuối cùng làm tôi bật ngửa: “Chị cho biết tên của bà lao công trong trường ?”.

Kỳ cục!

Bà lao công có liên quan gì tới chuyện đỡ đẻ và chăm sóc sản phụ?  Ngày nào mà tôi chẳng gặp bà: Bà già lắm, mặt nhăn nheo khắc khổ, hầu như suốt ngày chỉ cắm cúi lau quét nhà.  Nhiều khi vừa đi vứa tán chuyện ở hành lang, chúng tôi không thèm để ý đến bà lão đang còng lưng lau dọn.  Thấy bà né sang bên, lòng tôi có lần cũng thấy hơi ân hận.  Một lần, một bạn vội quá vấp té, đổ cả ly nước, bà lắp bắp: “các cô vội, cứ làm việc của mình đi.  Đây là việc của già mà!”.

Chỉ có thế thôi thì làm sao tôi biết họ và tên của bà?  Mà có biết cũng chẳng để làm gì.  Tôi không trả lời câu hỏi ấy và tự nghĩ miễn là mình trả lời xuất sắc những câu hỏi liên quan tới chuyên môn… là không có gì đáng trách.

Giáo sư nói khi trả lại bài,

“Hầu hết các em đều làm bài được.  Nhưng tôi e, khi tốt nghiệp, sẽ toàn là các “người máy” ra trường thôi.  Đó là một thảm họa!” Chúng tôi xôn xao, không hiểu thầy muốn nói gì.

Thầy tiếp: “Nghề của các em là… chăm sóc, giúp đỡ những sản phụ trong giờ phút đau đớn và cũng là hạnh phúc nhất đời họ.  Các em là thiên thần hộ mệnh cho những sinh linh mới.  Nỗi đau của họ cũng là nỗi đau của các em.  Nghề này cần những con người nhạy cảm, biết quan tâm, nâng đỡ mọi người… cho dù những kẻ được nâng đỡ ấy có là các mệnh phụ, ngôi sao hay chỉ là một bà quét rác…”.

ZZThầy thêm: “Một bà lão cần mẫn phục vụ các em năm này qua năm khác, mà các em cũng không thèm biết tên, hoàn cảnh của bà…  Đây là một điều đáng để cho các em suy nghĩ.  Vì thế, thầy cho rằng toàn bộ số bài kiểm tra của lớp ta đều không đạt yêu cầu”.

Một bài học nhớ đời đối với tôi

Còn bạn,

Có bao giờ bạn đã quan tâm đến người khác không? Cho dù họ là những người đang sống “dưới bậc” của bạn?  Nếu chưa, tôi nghĩ bạn hãy bắt đầu cũng chưa muộn mà.

Sưu tầm

CHIẾC VÁY NHỎ

Chiếc xe tải còi cọc của chúng tôi leo lên cái đồi dốc đứng để đến một vùng đất trồng cà phê màu mỡ ở vùng núi Honduran.  Phía bên phải là một vùng quê đẹp tuyệt vời.  Nhưng chỉ khi bạn nhìn gần hơn, bạn sẽ thấy được những ngôi nhà đổ nát.  Phía tay trái của tôi lại là những căn lều tạm bợ của mười bảy gia đình nông dân, những người đã bị cơn bão Mitch cướp đi mọi thứ khi nó quét qua vùng đất này chín tháng trước.

421Hai ngày sau cơn bão, những hội cứu trợ và từ thiện đã tiếp tế lương thực ngay cho những hộ dân cư này.  Nhưng sự cứu trợ tạm thời này không thể cung cấp nơi cư trú mới hay những nguồn thu nhập mới cho họ.

Chúng tôi tháo dỡ hai mươi túi quần áo được gửi từ hội từ thiện ở Mỹ.  Người đồng đội và tôi, mội người xách một túi trong khi người dẫn đầu thông báo với người dân: “Chúng tôi đến để tặng quần áo. Các bạn hãy đến đây.”

Mọi người tụ tập lại quanh những chiếc túi của chúng tôi.  Tôi nhìn quanh và cố gắng ước lượng kích cỡ của một cái váy vải cô-tông nhỏ.  Một bé gái với những vệt sáng trên tóc – có lẽ là do bị thiếu dinh dưỡng – đưa tay ra một cách mắc cỡ.  Tôi ướm thử cái váy lên vai cô bé.  Nó trông có vẻ vừa vặn. Tôi giúp cô bé mặc váy và cài nút áo vào.  Chiếc váy vừa như in.  Cô gái nhỏ đã từng chỉ mặc mỗi chiếc quần ngắn và mang dép, giờ đây bước đi với chiếc váy mới và tươi cười rạng rỡ.

Tôi nhìn em gái ấy trèo lên đồi và đi dạo quanh cửa lều của em.  Em cứ mãi nhìn xuống và giơ váy ra ngắm.  Đôi tay em vuốt ve, mân mê cái váy như bất ngờ trước một món quà tuyệt vời mà em có được.  Tôi cúi đầu xấu hổ.  Cái tủ ở nhà tôi đầy những quần áo.  Thế nhưng tôi đã bao nhiêu lần than vãn rằng mình thiếu quần áo rồi?  Tôi có dám mặc một cái áo trong hai ngày để đi học không, hay là tôi sẽ cảm thấy mắc cỡ?

Khi tôi đăng ký cho chuyến du lịch mùa hè “Những sứ mệnh của thiếu nhi toàn thế giới” tới Honduras này, tôi đã biết được rằng những điều kiện sống khó khăn không phải là một thứ mà tôi mong đợi.  Cái nóng, mưa rào, muỗi, thức ăn không hợp khẩu vị là những thứ để thử thách chúng tôi. Cứ mỗi đêm kết thúc kỳ huấn luyện hai tuần, chúng tôi lại tập hợp và cười nói, hát hò.  Đội của chúng tôi học cách xếp gạch, trộn xi măng, làm mộc, rèn sắt và ngay cả làm đồ gốm nữa để chuẩn bị cho bốn tuần ở Honduras.

Tại sao tôi lại phải làm việc vất vả dưới mặt trời nóng bỏng ở một nơi xa lạ trong khi tôi có thể nằm thư giãn bên bờ hồ?  Tôi đã có được câu trả lời khi nhìn thấy cô gái nhỏ bước đi với chiếc váy cô-tông xinh xắn – có lẽ là cái váy đầu tiên em được mặc.  Nó mang lại cho tôi sự vui sướng hơn cả cảm giác tôi có được khi ở bãi biển.  Có thể chúng tôi sẽ không làm thay đổi được gì nhiều ở Honduras, nhưng chắc chắn rằng vùng đất đó đã làm thay đổi chúng tôi.

Jinny Pattison

************************************

Lạy Chúa xin hãy dạy con:
Tìm an ủi người hơn được người ủi an,
Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết
Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.
Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh,
Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân…!

ĐẾN MÀ XEM

Có hai người bạn thân thiết cùng quyết chí lên đường tìm cho kỳ được điều quý giá nhất trên đời. Mỗi người đi một ngả và hẹn sẽ gặp lại nhau khi đã đạt được ước nguyện.

Người thứ nhất lặn lội đi tìm viên ngọc mà ông cho là quý giá nhất. Ông băng rừng vượt biển, đi đến bất cứ nơi đâu nghe nói có bán đá quý. Cuối cùng, ông đã thỏa mãn vì tìm mua được một viên ngọc tuyệt hảo. Trở lại quê hương, ông có ý chờ đợi người bạn thân, vừa để khoe viên ngọc của mình, vừa tò mò muốn biết điều quý giá của bạn mình là gì.

Nhiều năm trôi qua mà người bạn vẫn bặt vô âm tín. Ông đi khắp nơi để mong thụ giáo với các bậc hiền nhân để hỏi xem: “Muốn tìm gặp được Thiên Chúa thì phải làm gì? ”. Ông cũng tìm đọc các sách đạo đức, nghiền ngẫm suy tư, nhưng rồi ông vẫn chưa gặp được Thiên Chúa… Một ngày kia, đang thơ thẩn đi dọc theo một con lạch nhỏ, ông bỗng thấy một con vịt mẹ và một đàn vịt con đang bơi lội. Ðàn vịt con cứ muốn tách ra đi riêng để mò tôm tép, vì thế, vịt mẹ cứ phải kiên nhẫn lặn lội tìm hết đứa con này đến đứa con kia, muốn chúng phải quay về với đàn. Ngẫm nghĩ một lúc, ông chợt mỉm cười rạng rỡ và vội vã lên đường trở về quê hương với hai bàn tay trắng .

Vừa gặp lại nhau, người bạn tìm được ngọc quý đã buột miệng hỏi: “Nào, anh hãy cho tôi xem món đồ quý giá nhất mà anh đã tìm được. Tôi nghĩ đó phải là một cái gì tuyệt diệu, bởi vì trông anh thật hạnh phúc mãn nguyện !”

Người bạn trở về với hai bàn tay trắng nhưng tâm hồn thì tràn ngập hân hoan liền cất tiếng trả lời: “Tôi đã đi tìm Thiên Chúa, và cuối cùng tôi mới hiểu ra rằng: chính Thiên Chúa, Người đã đi tìm gặp tôi !”

(Trích từ “Như Lòng Chúa Khoan Dung”)

***

405Bạn thân mến! Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay tường thuật hai môn đệ Anrê và Gioan cũng lên đường đi tìm kiếm những điều qúy giá nhất trên cuộc đời này. Hai ông đã nghe theo lời nói của thầy mình là Gioan Tẩy Giả nói về Đức Giêsu khi Ngài đi ngang qua. Gioan đã giơ cao tay chỉ về Đức Giêsu và giới thiệu Ngài cho môn đệ của mình được biết: “Ðây là Chiên Thiên Chúa” (Ga.1:36). Anrê và Gioan nghe thấy thầy mình giới thiệu Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa, hai ông đã bỏ thầy mình lại phía sau lưng và lên đường bước đi theo Đức Giêsu. Không biết hai ông đã đi theo Ngài bao lâu và bao xa. Chỉ biết họ rụt rè không biết bắt đầu câu chuyện thế nào. Ðức Giêsu thấy sự lúng túng dễ thương của họ. Chính Ngài đã mở đầu cuộc đối thoại: “Các anh tìm gì thế ?” Họ đáp: “Thầy ở đâu ?”. Đức Giêsu trả lời “ Đến mà xem” (Ga.1:38-39)

Các anh tìm gì thế ? Câu hỏi này bắt hai ông phải trở lại với lòng mình, phải ý thức về nỗi khát khao hy vọng trong lòng mình. Tôi đang tìm kiếm điều gì? Tiền bạc, tiếng tăm, danh vọng, thỏa mãn? Hay tôi đang tìm một “ai đó” cho đời tôi một hướng đi?

Thưa Thầy, Thầy ở đâu? Câu trả lời này cũng là một câu hỏi mà khi nghe thoáng qua ta thấy thật nhớ ngẩn, vì chẳng liên hệ đến câu hỏi “các anh tìm gì thế”. Nhưng khi để ý và lắng nghe câu nói ta mới hiểu ra được ý muốn của hai ông: “Chúng tôi muốn biết nhà của Thầy, muốn đến thăm Thầy”. Ðến nhà một người là đi vào thế giới của người đó. Hai ông không chỉ muốn biết Ðức Giêsu qua lời giới thiệu của Gioan, qua kinh nghiệm gặp gỡ Đức Giêsu của Gioan… nhưng hai ông còn muốn đích thân gặp gỡ Ngài trong riêng tư thân mật, trong kinh nghiệm gặp gỡ của riêng mình

Hãy đến mà xem. Ðức Giêsu không giấu hai ông về thế giới của Ngài. Ngài không dùng lý thuyết dài dòng mà rất cụ thể, rất thực tế: “Ðến mà xem” “Trăm nghe không bằng một thấy”.

Hai ông đã nhận lời mời ngay lập tức. Họ đã đến xem và đã ở lại. Ta chẳng rõ chi tiết của cuộc gặp gỡ hạnh ngộ này: Đức Giêsu đã nói gì với họ? Họ đã nhìn thấy điều gì trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của Đức Giêsu? Chắc chắn đây phải là một kỷ niệm không quên của hai ông với Đức Giêsu, một kinh nghiệm gặp gỡ hết sức riêng tư và độc đáo với Đức Giêsu…Vì kết quả của cuộc gặp gỡ hạnh ngộ này là: “Chúng tôi đã thấy Ðấng Mêsia”.(Ga.1:41)

Nếu ta muốn gặp gỡ Đức Giêsu, chỉ có một cách duy nhất là hãy tìm đến với Ngài và ở lại bên Ngài trong tình thân mật. Kinh nghiệm gặp gỡ Đức Giêsu của Anrê và Gioan phải là kinh nghiệm của mọi người Kitô. Ta phải tìm đến với Ngài và ở lại bên Ngài, phải đích thân mặt đối mặt với Ngài.

Tuyệt đỉnh ơn gọi của người Kitô trước hết không phải là làm việc cho Chúa, nhưng là được mời gọi để sống thân mật với Ngài trong tình Cha-Con thắm thiết, được mời gọi để ở bên cạnh Ngài, để Ngài uốn nắn dạy dỗ rồi sau đó mới là làm việc cho Ngài, để Ngài sai đi lên đường rao giảng Tin Mừng trong Nước của Ngài.

Nhiều lúc ta tưởng đến Nhà Thờ vào ngày Chúa Nhật là đã đáp lại tiếng Chúa mời gọi, nhưng không phải thế. Chúa không mời gọi ta chỉ đi Lễ như trả nợ. Chúa muốn ta thực sự gặp gỡ Người, tiếp xúc thân mật với Người, sống thân thiết với Người trong tình con thảo.

Xin mời bạn cùng với tôi, chúng ta cùng nhau đi vào lòng mình để nhìn ra “Hành Trình Ðức Tin” của ta . Đó phải là một hành trình đi về và gặp gỡ Thiên Chúa. Sau bao nhiêu năm giữ đạo, tôi đã đi đến đâu ? Đã bao nhiêu lần tôi được gặp gỡ Thiên Chúa? Hôm nay tôi có sống gần Chúa hơn ngày hôm qua không ? Hãy đến với Chúa, Ngài đang chờ đợi ta. Ngài đang mời gọi ta. Ngài đang mở rộng vòng tay, mở rộng trái tim để đón ta đến sống trong tình yêu của Ngài. Tình yêu ấy là hạnh phúc muôn đời và là tất cả của đời ta.

***

Lạy Chúa! Sau khi gặp gỡ Chúa, Anrê đã vội vã đi tìm em là Phêrô và dẫn em mình đến với Đức Giêsu. Từ đó, Anrê luôn bước theo Ðức Giêsu. Ông đã đem chính mạng sống của mình làm chứng cho tình yêu Đức Giêsu. Ông đã đổ máu ra để chứng thực cho tình yêu ấy.

Xin cho con biết noi gương bắt chước Anrê: luôn khát khao gặp gỡ Chúa, luôn hăng say giới thiệu Chúa cho anh chị em của con, và nhất là biết can đảm để đứng lên làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa. Amen

(Tổng hợp từ R. Veritas)

 

ANRÊ – VỊ TÔNG ĐỒ GIÀU TÌNH BẠN

(Ga 1, 41 – 42)
Ông đang lắng nghe Gio-an Tẩy Giả. Ông là một trong những người đã đến để nghe vị tiên tri man dã này. Ông nghe rõ Gio-an đang nói, tay chỉ về phía Giê-su: “Đây Chiên Thiên Chúa…” (Ga 1, 29 – 36).

Tò mò và kích thích, ông theo Giê-su. Đức Giê-su thấy ông theo bèn hỏi ông muốn gì. An-rê và bạn ông thưa rằng họ muốn tiếp chuyện với Người. Chắc hẳn không chỉ là một buổi nói chuyện bình thường vì họ còn nhớ rõ thời giờ: “Lúc đó khoảng giờ thứ mười” ( Ga 1, 39 )… Một giờ đầy ý nghĩa đối với An-rê, giờ của quyết định, giờ của cơ hội, giờ thay đổi cả cuộc đời ông.
Ông ra về với một niềm xác tín: “Giê-su là Chiên Thiên Chúa,” Giê-su là Đấng Mê-si-a, Đấng được Thiên Chúa sai đến mà bao thế hệ hằng mong đợi.

Bấy giờ An-rê chỉ còn nghĩ đến một người: đó là em trai mình, Si-môn Phê-rô. Ông bắt buộc phải nghĩ đến Phê-rô. Ông đã sống dưới bóng của chính người em ruột mình từ tấm bé: luôn luôn là Phê-rô thế này, Phê-rô thế nọ. Lúc nào cũng Phê-rô. Phê-rô là trung tâm điểm. Phê-rô là vì sao sáng. Phê-rô là kẻ đứng đầu. An-rê biết rằng Phê-rô có những khả năng mà mình không có. Dù sao thì cậu em Phê-rô cũng phải gặp Chúa Giê-su: “Trước hết, ông đến gặp em mình” ( Ga 1, 41).

An-rê là môn đệ đầu tiên theo Chúa Giê-su nhưng lại không hề được ghi đầu trong bất cứ danh sách Tông Đồ nào. Luôn luôn là Phê-rô đứng đầu, rồi mới đến An-rê. Trong Tin Mừng Mác-cô và Tông Đồ Công Vụ, tên ông ghi đến hạng thứ tư.

zzCó lẽ suốt đời mọi việc đều xảy ra như thế.
Ở trường, Phê-rô là người trả lời nhanh nhất.
Ngoài sân chơi, Phê-rô là quản trò.
Khi giao thiệp, bạn bè vây quanh Phê-rô.
Trong công việc chài lưới, Phê-rô giải quyết mọi việc.
Phê-rô ra lệnh và An-rê trong bóng mờ lủi thủi thi hành.
Khi gặp An-rê, người ta thường hỏi:
“Anh tên là gì? À, nhớ ra rồi, anh là anh của Phê-rô”.
Đóng vai phụ đâu phải là dễ, nhất là phải đóng suốt đời,
ngày này qua ngày khác,
tuần này qua tuần nọ,
tháng này đến tháng kia,
trong mọi việc,
trong mọi lúc,
trong mọi nơi.
Sống nấp bóng một người em chói lòa đâu phải dễ!
Và bây giờ, An-rê đã khám phá ra Đức Giê-su Ki-tô trước:
được một lần ông sẽ đứng đầu,
được một lần ông có dịp nổi.
Nếu ông biết rằng ông đứng đầu trong một trường hợp ngoại lệ,
nếu ông biết rằng thế giới sẽ chống lại ông,
thì chắc hẳn ông đã không đưa Phê-rô đến gặp Chúa.
Nhưng An-rê không phải loại bi quan yếm thế, ông đã học cách tạo nên những âm thanh tuyệt diệu trên những phím đàn hạng hai.
Đầu tiên ông An-rê đến gặp em mình và nói rằng: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a..” rồi ông đưa Si-môn Phê-rô đến gặp Đức Giê-su. (Ga 1, 41-42).
Ông không do dự, không nghi ngờ,
Ông khẳng định.
Nếu ông nghi ngờ, thì hẳn Phê-rô đã không bị thuyết phục.
Nhưng An-rê nói như đinh đóng cột:
“Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a.”
Phê-rô nghe anh mình nói, ông lắng nghe với tất cả con người nóng bỏng và hướng ngoại của mình.
Chúng ta dễ hiểu vì sao An-rê phải là một con người đóng vai phụ. Đời sống của An-rê đã khiến ông em phải nể phục:
An-rê êm dịu, trầm tĩnh và khiêm nhường.
Phê-rô không cười vào mặt, không mỉa mai An-rê.
Phê-rô đã chấp thuận để An-rê dẫn đến gặp Đức Giê-su.
Có thể An-rê không có tài thuyết phục của Phê-rô,
nhưng ông đã đem Phê-rô đến gặp Chúa.
Có thể không bao giờ chúng ta có một Phê-rô
nếu tiên vàn không có một An-rê.
Chúng ta gặp lại An-rê trong Kinh Thánh vài tháng sau.
Một đám đông đã nghe Chúa giảng suốt ngày. Trời đã xế và Người phải trở về. Đối với một số người, đường đi xa xăm lắm. Những người đàn bà đã thấm mệt, những đứa trẻ đã lả người. Họ không còn lương thực.
Tông Đồ của Chúa Giê-su nghĩ ngợi hoang mang. Rồi An-rê bước tới, (Ở đây, Phúc Âm lại ghi rõ “An-rê, anh của Si-môn Phê-rô” (Ga 6, 8) để nhận diện ông: suốt đời, ông chỉ là một bóng mờ!) An-rê nói: “Đây có một em bé với 5 chiếc bánh và 2 con cá…” (Ga 6, 9).
“Đây có một em bé…” Có lần các môn đệ thấy các em bé quấy rầy Chúa Giê-su nên đuổi các em đi. Trong số các môn đệ ấy, chắc chắn không có anh đâu, anh An-rê nhỉ? Anh luôn chú ý đến các trẻ em.
Chỉ mình anh mới nhìn ra một cậu bé lẫn lộn giữa năm ngàn người lớn và đưa em ra. Anh đã đưa bàn tay vạm vỡ cho em nắm gọn với ấm áp chân tình.
Anh kể cho em nghe những kỹ thuật đưa mồi, bắt cá, kéo lên thuyền, và anh cũng không quên nói về những lần “lưới người” mà anh đóng góp. Và lúc này, em bé đã lấy bữa ăn trưa nghèo nàn đạm bạc để muốn cùng anh chia sẻ.
Vậy là chúng ta đã hai lần gặp được An-rê, một An-rê chân thành, tươi mát, ấm áp, hiền hòa, khiêm tốn. Và rồi lần thứ ba, chúng ta sẽ gặp lại An-rê nhằm vào ngày lễ cuối cùng của cuộc đời Đấng Cứu Thế.
Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem vinh dự tràn đầy. Vài người gốc Hy-lạp đến Giê-ru-sa-lem (Ga 12, 20). Họ đến dự lễ Vượt Qua. Họ nghe nói về Giê-su Na-da-rét. Họ muốn gặp Người. Phi-líp không biết phải làm gì, không biết Chúa Giê-su có bỏ thì giờ để tiếp dân ngoại không. Chẳng phải sứ vụ của Người là hoàn toàn cho dân Do-thái đó sao?
Hay là đến hỏi Phê-rô và Gio-an xem sao? Không được! Phi-líp đoán rằng thế nào họ cũng trả lời như sau: “Bảo những người Hy Lạp đó về đi. Chúa Giê-su đến cho dân Do-thái, Người không có giờ đâu.” Rồi một ý nghĩ lóe lên trong đầu: Ừ nhỉ, sao mình không hỏi An-rê? An-rê là một người biết điều, ông ta biết sẽ phải làm gì. An-rê lại là một người bạn tốt, ông sẽ giúp ý kiến hợp tình hợp lý.
Và Phi-líp đã nói với An-rê. Thế là An-rê, không một giây do dự, cùng Phi-líp, đã dẫn những người gốc Hy-lạp đến gặp Chúa Giê-su, và chắc hẳn đó là điều làm Chúa hài lòng.
“Và người ta sẽ từ Phương Đông, Phương Tây, từ Phương Bắc, Phương Nam mà đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa” (Lc 13, 29). “Còn Thầy, một khi Thầy được giương lên khỏi mặt đất, Thầy sẽ kéo mọi người lên với Thầy” (Ga 12, 32).
Ngoài ba lần ấy, chúng ta không còn gặp lại An-rê nữa.
Ngoài danh sách các Tông Đồ, không nơi nào khác có tên ông. Ông chỉ xuất hiện có ba lần và lần nào cũng chỉ có một việc là đem một ai đó đến gặp Chúa.
Đầu tiên, ông tự đem chính mình và em mình.
Kế đến là một cậu bé.
Và sau cùng là những người khách Hy-lạp.
An-rê, người bạn chân tình.
An-rê, người giới thiệu kẻ khác cho Chúa Giê-su.
Thiếu ông là thiếu mất sự thành công.
Những An-rê mang những Phê-rô cho Giáo Hội.
Những An-rê không phải là những người được chú ý,
được quảng cáo,
được rọi đèn,
được hoan hô…
Họ không phải là những vai chính,
họ chỉ là những vai phụ.
Họ là những người bị quên lãng:
“Tôi nhớ ra anh rồi !… Anh là anh ruột của Phê-rô.”
Họ suốt đời đóng vai phụ.
Họ là những con người tầm thường,
nhưng thiếu họ thì không có gì hoàn tất.
Họ là những người khả năng hạn hẹp,
những người mà Chúa chỉ ban cho 1 nén.
Không được 5,
không được 10,
nhưng nén bạc duy nhất đó được họ sử dụng cho Chúa,
chứ không nằng nặc giữ lấy cho mình.
Chúng ta nhớ đến những Phê-rô,
còn những An-rê chúng ta quên đâu mất!
Những An-rê không viết được những Thánh Thư nảy lửa,
không giảng được những bài giảng hùng hồn,
không đem về cho Chúa một lần 3.000 linh hồn khi xuất hiện,
không làm một phép lạ cỏn con nào…
nhưng họ đem được cho Chúa một Phê-rô,
để Phê-rô viết Thánh Thư,
rao giảng Lời Chúa,
rửa tội hàng ngàn,
làm phép lạ trong lòng nhân thế.
Chúng ta nhớ đến những Phê-rô,
còn những An-rê chúng ta quên đâu mất!
Thánh Âu-tinh đã trở lại và là người đặt nền tảng thần học cho Giáo Hội. Nhưng ít ai nhớ tới bà mẹ Mô-ni-ca suốt 20 năm trời cầu nguyện, hãm mình để xin ơn trở lại cho con mình.
Mô-ni-ca thì nhiều người quên, nhưng Âu-tinh chắc ai cũng nhớ.
Vị linh mục tại Paris đã hướng dẫn Charles de Foucauld và đem ngài trở về với Chúa. Cha ấy tên gì? Tôi quên mất rồi!
Chúng ta nhớ đến những Phê-rô,
còn những An-rê chúng ta quên đâu mất!
Không những Chúa Giê-su đã chọn An-rê, Người lại chọn An-rê là môn đệ đầu tiên. Vì sao? Vì những người 1 nén cần thiết cho Nước Trời.
Không thể làm được gì nếu không có một nhóm thân thiện, những đoàn người khiêm nhường, sẵn sàng giới thiệu Chúa Giê-su.
Trong lịch sử Giáo Hội, có những giai đoạn cần đến những Phê-rô, Phao-lô, I-nha-xi-ô, Phan-xi-cô Xa-vi-ê… Nhưng con đường trường kỳ vẫn là con đường rao giảng từ người này đến người kia, từng người một.
Trong chương trình của Thiên Chúa không thể thiếu vắng An-rê, Chúa cần đến An-rê với tài năng chỉ có “một nén.”
Không phải ai cũng có thể là Phê-rô, nhưng bất cứ ai cũng có thể là An-rê. Đó là lý do vì sao Chúa chọn An-rê. Đó là đường lối mà 13 Tông Đồ đã thay đổi thế giới.
Những tín hữu đầu tiên đã tản mác ra, không lên tòa giảng nói năng hùng hồn, nhưng chỉ kể lại đơn sơ mộc mạc chứng tích Chúa Giê-su qua đời sống chứng nhân tận hiến và chân tình. Và vô tình hay hữu ý, họ đã noi gương An-rê, đi từ người này đến người khác, giới thiệu những linh hồn cho Chúa Ki-tô, và chính họ đã đảo lộn thế giới. (Cv 17, 6).
Chúa Ki-tô cần con người,
Chúa Ki-tô cần những An-rê.
Không phải Chúa cần đến những người thông suốt thần học,
Không phải những kẻ có bằng cấp cao,
Không phải những người uyên bác trong mọi vấn đề…
Nhưng Chúa cần những người giàu tình bạn chân thành
những người tài năng có “một nén”
những người với một trái tim, một tâm hồn,
những người với một đam mê, một mục đích…
những người sống, làm chứng, ra đi để kể câu truyện:
“Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a…”
Chúa Ki-tô kêu gọi mọi giáo hữu đi khắp nơi để loan báo Tin Mừng rằng Thiên Chúa đã đến thế gian trong Đức Giê-su,
rằng Người đã đau khổ, đã chết,
rằng Người đã sống lại từ cõi chết,
và đã sống lại cho đến muôn đời.
rằng đây là biến cố lớn nhất lịch sử,
là bằng chứng rõ ràng nhất của tình yêu.
“Kẻ nào chiếm được các linh hồn, kẻ ấy khôn ngoan”.
Đó là con đường duy nhất để thay đổi thế giới,
con đường của những An-rê giàu tình bạn,
những người chỉ nhận được có “một nén” tài năng.
An-rê, anh đang ở đâu?
Có những người đang chờ gặp Chúa Giê-su của anh…

Trần Duy Nhiên

NGÔI LỜI ĐÃ TRỞ NÊN NGƯỜI PHÀM

Cảnh sát thành phố Los Angeles ở Mỹ đã từng lùng sục mọi hang cùng ngõ hẻm tối tăm để tìm một em nhỏ tên Thad.  Nhiều người ở Mỹ và Canađa đã góp tiền, thực phẩm để tặng cho em khi người ta chuyển đến “Cơ quan Bảo vệ Trẻ em Thành phố” một bức thư đầy lỗi chính tả của em.  Em viết như sau:

“Thưa Ông “dà” Noen, Giáng Sinh này xin ông giúp đỡ bố mẹ con.  Bố con không còn đi làm nữa.  Bây giờ nhà con không có nhiều thức ăn.  Mẹ con phải cho chúng con ăn những thức ăn đáng lẽ mẹ ăn…

Con muốn được lên “chời” để ở chung với các thiên thần.  Ông mang con lên “chời” nhé.  Bố mẹ con sẽ không phải mua đồ ăn cho con nữa.  Điều đó sẽ làm cho bố mẹ con “xung xướng”.  Xin Ông mang cho bố con một chỗ làm và ít thức ăn…

Con sẽ không ngủ đâu.  Khi Ông cho bố con một việc làm và cho mẹ con ít thức ăn, con sẽ đi với Ông và bảy tuần lộc… Con gởi lời chúc Giáng Sinh vui vẻ đến Bà Noen và các chú lùn nữa.

Ký tên: Thad.

Người ta vẫn chưa tìm ra em Thad y như rất nhiều người Do Thái đã không tìm ra trẻ Giêsu nghèo khó năm xưa.  Họ đâu dám đi ra ngoài vì sợ trời lạnh, họ không dám đến những khu nhà tối tăm, bẩn thỉu vì sợ dơ quần áo.  Họ giống như những người giàu thời đại chúng ta chỉ muốn ở yên trong nhà, tự mãn với những nệm êm, chăn ấm, với những bữa tiệc, những cây thông đủ ánh đèn màu, với những chương trình tivi hấp dẫn.  Những người giàu ấy sẽ phải khóc vì không nhận được ơn bình an và ơn cứu độ của Chúa Hài Đồng.

zzChúng ta không cần tìm kiếm ở đâu xa xôi, vì Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta.  Quả thực, Thiên Chúa không phải chỉ làm người giả hiệu, mà Ngài đã cắm lều ở giữa chúng ta.  Để nhận ra điều đó, chúng ta hãy bước đến hang đá.  Hẳn nhiên đó chỉ là biểu tượng.  Nhưng là một biểu tượng nhắc nhớ một biến cố lịch sử duy nhất.  Một cảnh sống nghèo nàn, thanh bạch đến thiếu tất cả, giữa một đêm tối không đèn, không đóm, nơi một góc trời không tên không tuổi.  Hai người bạn trẻ, hai người lao động đơn sơ nằm nhờ trên đống rơm giữa những con vật hiền lành.  Một hài nhi mới sinh trong một cuộc hành trình bất đắc dĩ.  Nhưng Thiên Chúa đó!  Thiên Chúa không yêu thương chúng ta từ trời cao.  Ngài đã đến cắm lều ở giữa chúng ta, trong da thịt Đức Giêsu Nazarét.  Điều mà không ai có thể tưởng tượng ra, đó là Thiên Chúa liên đới trọn vẹn với số phận mạt kiếp của chúng ta.  Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta, như là một người nghèo nhất tại Bêlem trước khi trở thành người rốt hết trên thập giá.  Giáng Sinh nhắc nhớ cuộc gặp gỡ thân tình có một không hai đó giữa Thiên Chúa và con người như một huyền nhiệm, như một trao đổi kỳ diệu.

Và như vậy, thưa anh chị em, chúng ta thấy Thiên Chúa “người” hơn chính chúng ta.  Ngài ở dưới đất. Đừng đi tìm Ngài trên khung trời cao!  Chúng ta là như vậy đó: Khi tình yêu quá lớn, nghĩa là quá khiêm tốn thì chúng ta lại không dám nhận ra, không dám chấp nhận.  Chúng ta không chấp nhận để cho Thiên Chúa yêu thương chúng ta đến mức Ngài đến gặp chúng ta trong huyền nhiệm Nhập Thể của Ngài.  Nhưng dù chúng ta có muốn hay không, thì từ nay Thiên Chúa đã đi vào cuộc sống của ngõ hẹp, của chuồng chiên bò, của hang đá, máng cỏ.

Và nếu Thiên Chúa đã tự hạ gần gũi như vậy, tầm thường như vậy, thì không có gì xảy ra trong đời thường của chúng ta lại ở ngoài ánh sáng thần linh của Thiên Chúa, “ánh sáng cho nhân loại, ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và ánh sáng ấy là sự sống.”  Khi đất này đã được sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa trong Đức Giêsu bao trùm, thì đất này đã là túp lều của Con Thiên Chúa nhập thể.  Mọi đóng góp cho đất này đã trở thành nơi ở, chẳng những ở được mà còn ở tốt cho Thiên Chúa và cho con cái loài người của Ngài, là một điều không ai được khước từ nếu không muốn phủ nhận niềm tin của mình và mầu nhiệm Giáng Sinh.  Không có con người nào là con người bị loại ra ngoài tình yêu của chúng ta nếu chúng ta không muốn cho đức ái chỉ là chữ viết trên giấy.  Không có cảnh đời nào là cảnh đời chúng ta phải chạy trốn, nếu chúng ta thật sự muốn sống lòng cậy trông của mình.  Chúng ta thường đi gặp Chúa ở ngoài cuộc sống cụ thể, hằng ngày, trong khi Thiên Chúa đã nhập thể làm người trong cuộc sống cụ thể hằng ngày đó.

Chính vì thế mà những người Mỹ, những người Canađa, những cảnh sát ở thành phố Los Angeles vẫn chưa tìm ra được em Thad khi họ nhận được bức thư em gởi cho ông già Noen.  Bởi em Thad là hiện thân của bao nhiêu em bé và gia đình nghèo đói trên trái đất này, nơi Thiên Chúa đã làm người và cư ngụ ở giữa chúng ta trong những gia đình, những em bé khốn khổ đó.

Anh chị em thân mến, tôi không tin là chúng ta có thể gặp được Chúa trong nhà thờ nếu đã không gặp cho được Ngài trong cuộc sống qua một khuôn mặt nào đó, như khuôn mặt của các em bé mồ côi, khuôn mặt của những ông già bà cụ cô thân cô thế, khuôn mặt của những con người ốm đau, bệnh tật, của những người nghèo đói, của những người bị bỏ rơi, bị loại trừ, thiếu vắng tình thương…  Bởi vì, đối với chúng ta, cụ thể mà nói, quê hương này là nơi Thiên Chúa làm người để anh em đồng bào chúng ta không phân biệt giai cấp, được làm con Chúa; là nơi Thiên Chúa hẹn gặp chúng ta; là nơi chúng ta phải gặp Ngài qua chứng từ về ánh sáng, để nhờ ánh sáng anh em đồng bào chúng ta sẽ nhìn thấy Ánh sáng của Tình thương, Ánh sáng của sự sống.

Trích trong “Niềm Vui Chia Sẻ”

 

NHỮNG LÁ THƯ CHẾT

Cách đây ít năm, một thành phố nước Anh có thanh niên tên là Fred Armstrong.  Chàng làm ở bưu điện và người ta gọi chàng là trưởng ban thư chết vì chàng có nhiệm vụ giải quyết những lá thư đề sai địa chỉ hoặc thiếu sót hay khó đọc.  Chàng sống trong một ngôi nhà cũ với cô vợ nhỏ nhắn.  Một đứa con gái nhỏ và một cậu con trai còn bú sữa.  Sau cơm tối, chàng thích phì phèo tẩu xì gà rồi kể cho cả nhà nghe những kỹ thuật mới nhất trong việc khám phá địa chỉ của những cánh thư lạc.  Chàng tự coi mình như một người thám tử.  Trong khung trời hiền hòa của chàng chẳng có gợn mây mù nào.

Cho đến một sáng kia, cậu con trai của chàng ngã bệnh.  Thoạt nhìn thấy đứa bé, bác sĩ có vẻ suy tư. Và chỉ trong vòng bốn mươi tám tiếng đồng hồ là cục cưng của chàng không còn nữa.

Fred Armstrong buồn bã, tâm hồn chàng tan nát điếng nghẹn.  Bà mẹ và cô bé Maria cũng khổ sầu không kém, nhưng họ quyết tự kiềm chế và vui sống với những gì còn lại.  Nhưng ông bố thì không vậy.  Cuộc đời của chàng bây giờ quả là một cánh thư chết không định hướng.  Mỗi sáng đi làm việc như một người mộng du, ai hỏi chàng mới nói, mà nói rất ít.  Chàng làm việc trong yên lặng, ăn một mình, ngồi như tượng đá ở bàn cơm, và đi ngủ thật sớm.  Nhưng người vợ biết là chàng thức gần trắng đêm, mắt mở thao láo ngó lên trần nhà.  Ngày lại ngày, tháng năm qua, tháng chạp đến, chàng càng tỏ ra thờ ơ suy nhược hơn nữa.

Bà vợ cố gắng thuyết phục chồng.  Nàng bảo: “Tuyệt vọng như vậy là bất công đối với kẻ chết cũng như với người sống.”  Nàng sợ thái độ lầm lì đó sẽ đưa chàng tới bệnh viện tâm thần.

Giáng Sinh đã gần tới.  Một buổi chiều xám ngắt.  Fred đang phân loại thư từ thì thấy có một lá thư dứt khoát là không thể chuyển được.  Địa chỉ của người nhận nguệch ngoạc bằng bút chì như sau:

“Kính gởi Ông già Noel Bắc Cực.”

Armstrong định xé vất nó vào sọt rác nhưng có một thúc đẩy nào đó khiến chàng mở thư và đọc:

“Ông già Noel thân mến,

zzNăm nay nhà cháu buồn lắm.  Vậy ông khỏi mang quà tới cho cháu nữa.  Mùa xuân vừa rồi, thằng cu nhà cháu về trời.  Cháu chỉ xin mỗi điều là khi ông tới nhà cháu, ông mang dùm đồ chơi về trời cho em cháu.  Cháu để đồ chơi của nó ở gần lò sưởi góc bếp: con ngựa gỗ, cỗ xe lửa và hết mọi thứ khác.  Em cháu thích phi ngựa ghê lắm, ông mang hết về cho nó và đừng để gì cho cháu cả.  Nhưng xin ông cho ba cháu cái gì để ba cháu giống như hồi trước.  Xin ông làm cho ba cháu lại hút xì gà và tiếp tục kể chuyện cho cháu.  Cháu nghe ba nói với má là chỉ có “đời đời” mới làm cho ba cháu lành được thôi. Vậy xin ông gởi cho ba cháu một ít cái “đời đời” nhé.  Cháu hứa sẽ rất ngoan ngoãn.

Ký tên
Marian.”

Tối hôm đó, trên những con đường phố sáng rực đèn.  Fred Armstrong rảo bước thoăn thoắt.  Vào đến sân nhà chàng bật quẹt châm xì gà.  Khi vừa mở cửa, chàng xả một hơi thuốc dài.  Làn khói giống như một vòng hào quang quanh đầu hai mẹ con Marian đang trố mắt ngạc nhiên.  Chàng lại tươi cười như trước.

************************************

Cuộc sống của mỗi người chúng ta đều phải trải qua những thăng trầm không thể tránh khỏi.  Có những tháng ngày xem ra vô vọng không còn thiết sống.  Có những lúc mây mù bao phủ khiến chúng ta không còn thấy đâu là lối thoát . Đôi khi qúa tuyệt vọng, chúng ta tự hỏi: tại sao Thiên Chúa để xảy ra nhiều đau khổ và bất công như thế?  Thực ra, Thiên Chúa không tạo ra đau khổ, cũng không gây ra bất công, bởi vì Ngài là tình yêu thương và là sự công bằng vô biên.

Nhiều khi chúng ta có cảm tưởng Thiên Chúa không nhận lời mình cầu xin.  Nhưng chúng ta quên rằng cầu nguyện không phải là xin Thiên Chúa làm theo ý chúng ta, mà là tự đặt mình trong tư thế sẵn sàng thực thi ý Chúa.  Chương trình của Ngài vượt quá trí hiểu hẹp hòi và cái nhìn thiển cận của chúng ta.

Kitô giáo có một nghịch lý rất lớn, đó là kêu gọi con người nhìn vào Thập giá như biểu tượng của hy vọng, nhìn vào đau khổ và cái chết như khởi đầu của ơn phúc.  Chắc chắn, Chúa Giêsu không phải là người rao giảng sự chết chóc.

Kitô giáo không phải là đạo của khổ đau.  Đức Kitô cũng không tự mình đi tìm cái chết; mãi mãi cái chết ấy vẫn là một bản án bất công của con người dành cho Thiên Chúa.  Ngài cũng không đòi chúng ta phải đi tìm thập giá, Ngài chỉ khuyến khích: “Hãy vác lấy thập giá mình mỗi ngày.”

Mà kỳ thực, có cuộc sống nào mà không có đau khổ.  Có ai thóat khỏi khổ đau?  Từ khi Ngôi Hai giáng sinh và cứu chuộc, thập giá đã biến thành nguồn ơn cứu rỗi, cái chết đã trở thành Tin Mừng.  Tin Mừng chính là Thiên Chúa luôn yêu thương dìu dắt con người trong mọi nghịch cảnh của cuộc sống.

Từ đây, thất vọng đã bừng sáng lên niềm hy vọng.  Những đau khổ của chúng ta sẽ không đi vào quên lãng, nhưng mang lại cho chúng ta niềm hạnh phúc mai sau.

C. Delavigne đã nói: “Sống là chiến đấu mà phần thưởng ở trên trời.” Cervatès còn xác quyết: “Ở đâu có đời sống thì ở đó có niềm hy vọng.” Chính trong niềm hy vọng mà chúng ta nhìn thấy hoa trái của hạt giống mình đã gieo vãi.  Bên kia những vất vả, mất mát, thử thách đau khổ, người Kitô hữu luôn được mời gọi để nhìn thấy những ánh sao của niềm hy vọng, như Ba Vua tìm lại ánh sao sau khi lạc mất.

************************************

Lạy Chúa Hài Đồng, Chúa đã Giáng Sinh để chia sẻ những khổ đau của nhân loại chúng con.  Xin cho con đừng bao giờ thất vọng, ngã lòng vì những đau khổ thử thách, nhưng cho con luôn cảm nghiệm được tình Chúa yêu thương và được lớn lên trong niềm tin tưởng phó thác.  Xin ban thêm cho con niềm hy vọng và nâng đỡ con trong cuộc sống.  Xin củng cố trong con niềm tin tưởng, lạc quan, để mỗi khi tiếp xúc với con, mọi người sẽ thấy bừng sáng lên niềm hy vọng vào cuộc sống.  Amen!

Thiên Phúc

 

ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐÓN TIẾP CHÚA

Ngày 17 tháng 12 vừa qua, ta đã đọc bài Phúc Âm nói về gia phả Đức Giêsu, trong đó Chúa Giêsu sinh bởi dòng dõi vua Đavít.  Hôm nay, Phúc Âm lại trình bày cho ta một gốc tích khác của Người: Chúa Giêsu sinh ra bởi Đức Maria do quyền năng của Chúa Thánh Thần.  Phải chăng thánh sử Matthêu mâu thuẫn khi đưa ra hai gốc tích khác nhau như thế?

zzThánh sử Matthêu không mâu thuẫn, nhưng khi trình bày cho ta hai gốc tích khác nhau của Chúa Giêsu, thánh sử có một dụng ý thần học.  Chúa Giêsu là Thiên Chúa, nên việc thụ thai phải do quyền năng của Chúa Thánh Thần.  Nhưng Chúa Giêsu cũng là người nên phải sinh ra bởi một con người. Thiên Chúa ban Con Một cho loài người.  Đức Maria đã đại diện loài người lãnh nhận.  Nhưng quyền năng Chúa Thánh Thần tác động trên Đức Maria chỉ diễn ra trong riêng tư, âm thầm.  Chính thánh Giuse đưa Chúa Giêsu ra công khai khi nhận Ngài vào dòng tộc Đavít.  Qua trung gian của thánh Giuse, Chúa Giêsu đã chính thức gia nhập gia đình nhân loại, trong một đất nước, trong một dân tộc, trong một dòng họ.  Tên tuổi của Người được ghi trong lịch sử của dân tộc, của dòng họ, của gia đình. Vận mệnh của Người gắn chặt với dân tộc, dòng họ, gia đình ấy.  Người thực là Emmanuel, là “Thiên Chúa ở với chúng ta”.

Nhờ đâu mà thánh Giuse và Đức Maria được diễm phúc là những người đầu tiên, đại diện nhân loại tiếp đón Đấng Cứu Thế.  Qua bài Phúc Âm Truyền Tin và bài Phúc Âm hôm nay, ta thấy thánh Giuse và Đức Maria có những đặc điểm sau đây.

1) Các Ngài có tâm hồn khiêm nhường sâu xa.

Đức Maria là một thiếu nữ có tâm hồn khiêm nhường.  Từ nhiều thế kỷ qua, lời sấm về Đấng Cứu Thế vẫn được truyền tụng trong dân Do Thái.  Thiếu nữ nào cũng mong được làm mẹ Đấng Cứu Thế.  Đó là một hạnh phúc, một vinh dự không chỉ cho cá nhân mà còn cho cả gia đình, cho dòng họ, cho đất nước.  Vậy mà khi nghe thiên thần loan báo tin làm mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Maria chỉ khiêm tốn thưa: “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền.”  Khi bà Êlisabeth ca tụng Ngài, Đức Maria đã đáp lại: “Vì Chúa đã đoái thương phận tôi tớ thấp hèn.  Người nâng cao những người bé nhỏ.”  Đức Maria nhận ra sự thật là: Nếu Ngài được ơn Chúa ban thì không phải vì công trạng của mình, nhưng do lòng từ bi thương xót của Chúa.  Vì khiêm tốn, nên Đức Maria âm thầm ghi nhớ tất cả mọi việc Chúa làm, mọi lời Chúa phán.  Ghi nhớ để suy gẫm trong lòng.  Càng suy gẫm lại càng thêm khiêm nhường.  Càng khiêm nhường lại càng kín đáo.

Thánh Giuse cũng có tâm hồn khiêm nhường không kém.  Đọc Phúc Âm, ta có cảm tưởng là thánh Giuse luôn tự rút lui vào trong bóng tối.  Ngài luôn sống âm thầm khiêm tốn trong công việc tầm thường của thợ thuyền.  Sự khiêm tốn ấy đặc biệt thể hiện trong bài Phúc Âm hôm nay.  Khi biết tin Đức Mẹ đang mang thai Đấng Cứu Thế, thánh Giuse đã âm thầm bỏ đi.  Ngài không dám tự cho mình cái vinh dự được làm cha Đấng Cứu Thế.  Ngài không dám chiếm hữu quyền làm cha của Thiên Chúa. Ngài không dám mạo nhận công việc của Chúa Thánh Linh.  Ngài là người công chính vì khiêm tốn sống đúng thân phận của mình.  Ngài là người công chính vì trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa.

2) Các Ngài mau mắn vâng lời Thiên Chúa.

Các Ngài có chương trình cho đời sống.  Chương trình ấy được suy nghĩ kỹ lưỡng vì được thực hành nghiêm chỉnh.  Đức Maria khấn giữ mình đồng trinh.  Thánh Giuse muốn sống âm thầm trong bóng tối.  Nhưng khi nghe biết thánh ý Thiên Chúa các Ngài đã mau mắn xin vâng, bỏ dở chương trình riêng tư, chuyển hướng cuộc đời để thi hành thánh ý Thiên Chúa.  Đức Maria đã thưa “xin vâng” bất chấp những đau khổ, khó khăn đang chờ đón.  Thánh Giuse đã mau mắn vâng lời dù thánh ý Thiên Chúa chỉ mơ hồ giữa bóng đêm dày đặc, trong một giấc mộng lãng đãng mơ hồ.

Vì Chúa, các Ngài đã từ bỏ ý riêng mình.  Vì Chúa, các Ngài đã thay đổi toàn bộ đời sống.  Thay đổi quyết liệt.  Từ bỏ dứt khoát.  Vâng lời mau mắn.

Thái độ của các Ngài rất gần với thái độ của Chúa Giêsu.  Chúa Giêsu xuống trần trong một thái độ tự hạ mình thẳm sâu.  Dù là Thiên Chúa, Người đã không đòi cho mình quyền được ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã tự hạ làm một người bé nhỏ nghèo hèn.  Người luôn vâng lời Đức Chúa Cha, vâng lời cho đến chết trên thập giá.

Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.  Giống nhau thì tìm đến nhau.  Chúa Giêsu xuống trần trong một thái độ khiêm hạ và vâng phục thánh ý Chúa Cha đã tìm được nơi cư trú tâm đắc nơi Đức Maria và thánh Giuse, hai tâm hồn khiêm nhường và tuyệt đối vâng lời.

Lạy Chúa Giêsu bé nhỏ, bây giờ thì con đã hiểu biết phải dọn một máng cỏ như thế nào cho Chúa. Chúa muốn con khoét một hang sâu khiêm nhường trong lòng con, trải trên đó những sợi cỏ vâng lời mau mắn.  Như thế con sẽ được hạnh phúc đón tiếp Chúa, Đấng rất khiêm nhường và rất vâng lời. Amen!

TGM Ngô Quang Kiệt

TIẾNG CHUÔNG ĐÊM TÌNH YÊU

Hằng năm, cứ đúng 12 giờ đêm Noel thì trong một ngôi nhà thờ cổ kính nọ, tiếng chuông Sinh Nhật sẽ ngân vang du dương, thánh thót như điệu nhạc thiên quốc, nhưng với điều kiện là phải có một món quà quý giá, hiếm lạ và đẹp nhất được đặt trên bàn thờ dâng Chúa Hài Nhi thì mới hy vọng được nghe tiếng nhạc đó.

Đã bao mùa Giáng Sinh qua đi mà tiếng chuông du dương ấy vẫn chưa trở lại với dân chúng xứ này, họ vẫn nghe tiếng gió thổi vi vu giữa bầu trời tuyết lạnh.  Chuyện về tiếng chuông lạ cũng được đồn thổi sang vùng lân cận và có hai anh em kia tên là Peter và John quyết định cả năm hy sinh dành dụm để có thể đem quà tặng Chúa Hài Nhi nhân dịp lễ Giáng Sinh với hy vọng được nghe tiếng chuông ngân nga.

Hôm vọng lễ, từ sáng sớm hai anh em đã khoác áo ấm, trùm khăn, đội nón đi bộ đến nhà thờ đó, bất chấp lớp tuyết cao cả thước phủ hai bên đường.  Đến chiều hai anh em vừa đến cổng thành thì gặp một cụ già ngã quỵ bên đường nằm bất động trên đống tuyết, bà không còn đủ sức để lê bước vì không có sự giúp đỡ của một ai trong thành.  Peter liền dừng lại cúi xuống tìm cách nâng bà dậy nhưng không thể được vì cậu quá nhỏ, sức yếu.  Sau cùng, Peter nói với em:

– Nếu chúng ta để bà một mình ở đây bà sẽ chết cóng, anh sẽ ở lại đây ôm bà để sưởi ấm cho bà, em hãy cầm lấy đồng tiền nhỏ này đem đặt trên bàn thờ, đó là món quà của anh em mình tặng Chúa Hài Đồng.  Lễ xong, em tìm người đến đây để giúp bà cụ.

Rồi quay sang bà lão, Peter an ủi:

– Bà hãy can đảm lên, đợi đến sau lễ sẽ có người hảo tâm ghé đến giúp bà.

Đêm hôm đó, nhà thờ chật ních đoàn người bốn phương tìm về dự lễ.  Đến cuối lễ, người người lần lượt tiến lên bàn thờ dâng Chúa Hài Đồng món quà quý giá và hiếm lạ.  Cuối cùng, có một ông vua tiến lên bàn thờ, trên tay vua là một triều thiên bằng vàng với mọi thứ đá quý và những hạt kim cương lấp lánh.  Mọi người im lặng nín thở, thầm nghĩ là thế nào cũng được nghe tiếng chuông ngân nga, nhưng họ thất vọng ngay sau đó vì chỉ nghe tiếng gió hú mà thôi.  Họ thì thầm với nhau, có lẽ chúng bị mắc kẹt đến muôn đời.  Ca đoàn nhà thờ chuẩn bị hát bài tạ lễ.  Tiếng đàn phong cầm vừa đệm được mấy nốt nhạc thì bỗng dưng im bặt.  Từ lúc đó, trên tháp chuông cao ngất người ta bắt đầu nghe những tiếng chuông ngân nga khi bổng khi trầm thật du dương thánh thót như điệu nhạc thiên quốc.

Mọi người hồi hộp trong thinh lặng, họ đưa mắt nhìn về phía bàn thờ xem có ai đem lễ vật quý nào cho Chúa Hài Đồng chăng?  Và họ trố mắt ngạc nhiên khi thấy một cậu bé khiêm tốn, lặng lẽ đặt lên bàn thờ đồng tiền nhỏ bé mà anh Peter đã đưa cho nó tặng Chúa Hài Đồng.

**************************************

zzChắc không phải đồng tiền nhỏ của hai anh em Peter và John đã dành dụm cả năm để dâng Chúa Hài Đồng đã làm cho tiếng chuông Sinh Nhật vang lên thánh thót du dương, mà chính là nghĩa cử bác ái của Peter, chính là hơi nóng, thân nhiệt của anh sưởi ấm cụ bà giữa trời tuyết lạnh, nhất là chính nhịp đập yêu thương của trái tim Peter quá mạnh đến nỗi tiếng chuông giáo đường phải vang lên điệu nhạc thiên quốc.

Phép lạ của Thiên Chúa thường bắt đầu bằng những đóng góp nhỏ bé và âm thầm của con người: Bà góa Sarepta đã dâng cúng một ít bột mì cho tiên tri Elia, và kể từ đó “đấu bột của nhà bà không vơi và hũ dầu cũng không cạn.”  Chỉ cần 5 cái bánh và 2 con cá của cậu bé, Chúa đã làm cho hơn 5.000 người ăn no nê.  Nếu chúng ta sẵn sàng dâng cho Chúa một chút những gì chúng ta có thì biết bao người chung quanh sẽ được hưởng chung phép lạ của Thiên Chúa.

Có lẽ nhân loại của chúng ta không chết đói vì thiếu lương thực cho bằng vì thiếu tình thương.  Những người đang chờ chết cũng là những người đang chờ từng nghĩa cử yêu thương của đồng loại.  Những người giàu sang nhưng không biết chia sẻ cũng là những người đang chết dần trong tính ích kỷ.  Con người cần có lương thực để sống, nhưng cũng rất cần có tình thương để tồn tại.  Nếu mỗi người, ai cũng đóng góp phần ít ỏi nhỏ bé của mình, thì có lẽ thế giới này sẽ bớt lạnh lẽo hơn vì lòng ích kỷ.

Không ai nghèo đến nỗi không có gì để cho người khác.  Vì trao ban đích thực không phải là trao ban của cải vật chất, bởi vì của cải tự nó không phải là con người.  Quà tặng đích thực chính là bản thân, trao ban đích thực là trao ban chính mình.  Có hiểu như thế thì chúng ta mới thấy rằng dù nghèo hèn đến đâu, ai cũng có một cái gì đó để trao ban.

Thánh J. Chrysostone đã khẳng định: “Sự vĩ đại của bác ái không được đo lường theo số lượng mà theo sự phóng đạt của tâm hồn.”  Pasquien Quesuel cũng đồng tình khi ông viết: “Trái tim phải thực hiện bác ái khi bàn tay làm không được”.

Chúng ta hãy bắt đầu bằng món quà nhỏ mọn, âm thầm có khi vô danh, không ai biết tới.  Một giọt nước nhỏ bé là điều không đáng kể trong đại dương bao la, nhưng nếu không có những giọt nước nhỏ kết tụ lại, thì đại dương kia cũng chỉ là sa mạc khô cằn mà thôi.

Sưu tầm