BẢNH THẬT SỰ

Trái tim tôi như đang bị bóp nghẹt lại.  Khi mẹ tôi và tôi bước vào cửa hiệu, tôi chỉ có một ý nghĩ duy nhất trong đầu: Mình hy vọng chiếc xe đạp xinh xắn màu hồng vẫn còn ở đó.  Nó sẽ là chiếc xe đạp đầu tiên trong đời tôi.  Nhưng vì chỉ còn một tuần là đến Giáng Sinh và các của hiệu đều đông nghẹt khách hàng, nên mẹ tôi khẽ nhắc tôi rằng có thể chiếc xe đạp mà tôi muốn đã được bán rồi.

Tôi cảm thấy bụng đang đánh lô tô lên, và hai đầu gối run lẩn bẩy.  Tôi lo lắng tới nỗi phải bắt chéo hai ngón tay khi tới gần gian hàng xe đạp.  Bụng tôi thắt lại khi nhìn thấy nó ở gần cuối dãy để xe.  Nó đấy!  Chiếc xe đạp màu hồng bóng loáng của tôi!  Nó mới tinh và đẹp quá, thế là tôi phải nhét tay vào túi để tránh sờ vào làm bẩn nó.

Tuần lễ đó trôi qua thật chậm chạp.  Ngoài việc nhà trường cho nghỉ học, điều duy nhất chúng tôi mong đợi là chuyến đi từ thiện của trường tới nhà mở dành cho trẻ em đường phố.  Chúng tôi đã làm một số đồ chơi cho bọn trẻ sống ở đó.  Tôi ngạc nhiên khi thấy một con số rất lớn trên danh sách – chà, có quá nhiều trẻ em không có một mái nhà thật sự để huởng ngày Giáng Sinh.

Tuy nhiên, nói đúng ra, tôi không nghĩ nhiều đến việc giúp đỡ đám trẻ đường phố bằng nghĩ đến chiếc xe đạp.  Tôi nóng lòng chờ hết kỳ nghỉ đông để mỗi ngày đạp xe đến trường cho mọi người nhìn thấy. Ít ra cũng có một lần tôi là đứa trẻ bảnh nhất.

Trong khi chờ xe buýt tới đưa chúng tôi đến nhà mở để phân phát quà cho bọn trẻ, tôi ngồi vào bàn học của mình và viết thư cám ơn mẹ tôi.  Tôi giải thích rằng tôi chưa bao giờ muốn có một vật gì như muốn chiếc xe đạp đó.  Khi tôi vừa viết xong lá thư, bác tài xế cũng vừa đến và đưa chúng tôi ra xe. Tôi ngồi kế bên một đứa bạn, cậu ta khoe rằng sẽ được món quà Giáng Sinh là ván trượt tuyết.  Chúng tôi nói về sự hồi hộp trước những món quà tuyệt vời đó.

Chúng tôi trò chuyện suốt đoạn đường, và miệng vẫn còn huyên thuyên khi bước qua cánh cửa của nhà mở.  Đột nhiên, tôi im bặt, bỏ ngang câu nói dở dang.  Tôi bàng hoàng khi nhìn thấy bọn trẻ gầy gò và ăn mặc rách rưới.  Tôi cảm thấy buồn bã khi nhìn chung quanh nhà mở.

Cô giáo khuyến khích chúng tôi tìm một đứa trẻ đang sống ở đây và trò chuyện với nó.  Tôi để ý tới một con nhỏ ngồi lặng lẽ trong góc phòng.  Khi tôi bước lại gần, hình như nó không muốn lên tiếng chào hỏi, nhưng tôi cảm thấy mình nên nói gì đó với nó.  Tôi bắt đầu bằng việc hỏi xem nó có hồi hộp chờ Giáng Sinh đến không.  Tôi kể rằng tôi sắp nhận được món quà là một chiếc xe đạp.  Đột nhiên, mắt nhỏ sáng lên, miệng nở nụ cười thật tươi.  Nó nói với tôi rằng nó sẽ là đứa hạnh phúc nhất trên đời nếu có một chiếc xe đạp.

Rồi nhỏ kể cho tôi nghe về cuộc đời mình . Nói đúng ra, nó không có tuổi thơ như một đứa trẻ bình thường.  Nó chưa bao giờ biết mùi vị của việc sống trong một gia đình thật sự, với những con vật nuôi của riêng nó… là như thế nào.  Cha mẹ nó đều nghiện rượu và thường xuyên gặp khó khăn về tiền bạc. Họ dời chỗ ở liên tục, hoặc vì không thể trả nổi tiền thuê nhà, hoặc bị đuổi ra khỏi nhà bởi một lý do nào đó.  Mọi việc tồi tệ đến nỗi cuối cùng họ bỏ rơi nó và nó phải vào ở nhà mở này.

Nó không còn ai để gọi là gia đình nữa.

Tôi biết việc nhỏ muốn có một chiếc xe đạp là điều không thể.  Ai sẽ mua cho nó?  Cha mẹ nó đi rồi, và nó sống trơ trọi một mình trên thế gian này ngoại trừ những người quản lý nhà mở.  Tôi cảm thấy xót xa cho nó quá.

Hai chúng tôi mải mê nói chuyện đến nỗi cô giáo phải đến vỗ vai tôi, nói rằng đã đến giờ chúng tôi ra về.  Tôi chộp lấy cái cặp, chúc nó một mùa Giáng Sinh vui vẻ, và nhận được những món quà mà mình muốn.  Trước khi rời phòng, tôi quay đầu nhìn lại và mỉm cười với nó.

Đêm đó, tôi nằm trên giường nhớ lại những gì con nhỏ kể cho tôi nghe về cuộc sống tại nhà mở.  Tôi nghĩ tới cuộc đời nó rồi nghĩ tới cuộc đời tôi.  Nói chung, tôi chỉ biết đòi, đòi và đòi… và cho rằng mình vẫn chưa có đủ.  Bây giờ tôi gặp một con nhỏ bằng tuổi tôi, hầu như nó chẳng nhận được một thứ gì và nó cho rằng đó là điều bình thường.  Bây giờ tôi mới hiểu tại sao người ta hay nói rằng tôi là một con người may mắn.

Suốt ba ngày sau, tôi cứ suy nghĩ xem có cách nào để giúp cuộc đời nhỏ bạn tốt đẹp hơn.  Rồi, ngay đêm trước Giáng Sinh, trong lúc ngồi nghe linh mục giảng trong nhà thờ, ý tưởng bất chợt nảy ra.  Tôi muốn tặng cô bạn mới chiếc xe đạp mới của tôi – mà tôi vẫn chưa nhận được!

zzKhi tôi giải thích tất cả mọi chuyện với mẹ, bà nhìn tôi cười – một nụ cười mà tôi không thể diễn tả được – một nụ cười mà tôi chưa thấy bao giờ.  Mẹ tôi tìm tờ báo nói về ngôi nhà mở mà tôi đã đến thăm.  Và sáng ngày Giáng Sinh, hai mẹ con tôi tới nhà mở với chiếc xe đạp mới nằm gọn trong cốp xe.

Tôi bước vào với cảm giác nuối tiếc rằng mình sẽ không con chiếc xe đạp nữa, nhưng trong lòng tôi cũng cảm thấy vui sướng.  Khi tôi tìm thấy nhỏ đó, nó vẫn ngồi lặng lẽ trong góc phòng như ngày hôm trước.  Đầu nó cúi xuống, có vẻ buồn rầu lắm.  Tôi bước tới gần, nói:

– Chúc Giáng Sinh Vui Vẻ.

Rồi tôi nói tôi có một món quà cho nhỏ.

Mặt nó sáng bừng và nó mỉm cười khi ngước lên nhìn tôi.  Ánh mắt nó vui vẻ hơn lần trước.  Tôi nắm tay nhỏ và dẫn ra cửa.  Dựng ngay bên ngoài là chiếc xe đạp màu hồng của tôi với chiếc nơ to tướng màu đỏ.  Tôi mong chờ được thấy nó toét miệng nhe răng cười thật tươi, nhưng thay vào đó, tôi thấy một giọt nước mắt trong veo lăn xuống má nó.  Nó sung sướng đến nỗi phải bật khóc.  Nó luôn miệng cám ơn tôi.  Và lúc đó tôi biết rằng điều tôi vừa làm mới là “bảnh” thật sự.  Tôi biết mình đã biến con nhỏ thành đứa trẻ hạnh phúc nhất trên đời.

Nhưng tôi không hề biết rằng, việc tôi cho chiếc xe đạp duy nhất – mà tôi có – đã thay đổi cách suy nghĩ của tôi về cuộc sống.  Qua thời gian, tôi thấy mình không còn tham lam như trước đây nữa.

Giờ đây tôi đã biết: Nhận một món quà tuyệt vời sẽ làm tôi cảm thấy sung sướng, nhưng thật lòng tặng một món quà cho người khác còn khiến tôi sung sướng gấp bội lần.

Tôi cũng biết rằng tôi đã hy vọng nhiều vào chiếc xe đạp đó để hình ảnh tôi có vẻ bảnh hơn.  Mặc dù tôi không còn dịp đạp xe đến trường để khoe mẽ, mẹ tôi rất tự hào về tôi và những người khác cũng vậy.  Về lâu về dài, lòng tốt của tôi có nhiều ý nghĩa hơn là một chiếc xe đạp – hoặc bề ngoài bảnh bao.

Brittany Anne Reese, 15 tuổi

DUNG MẠO ĐỨC KITÔ

Thánh Gioan Tiền Hô là một vị tiên tri cương trực.  Ngài không hề run sợ trước thế lực, cường quyền. Ngài chỉ quan tâm một điều: làm chứng cho chân lý.  Khi Hêrôđê Antipas cướp vợ của người anh, thánh nhân đã không ngần ngại lên tiếng công kích hành động vô luân của nhà vua.  Vì thế mà thánh nhân bị bắt giam trong ngục Machéronte.  Khi bị giam trong ngục, thánh nhân vẫn theo dõi những hoạt động của Chúa Giêsu.  Hôm nay thánh nhân sai môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu một câu hỏi gây ngỡ ngàng cho ta: “Ngài có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải chờ đợi một Đấng khác?”

Thật lạ lùng đến khó hiểu.  Người đi mở đường, người giới thiệu Đấng Cứu Thế nay lại nghi ngờ Người mà mình giới thiệu.  Đó là bi kịch của thánh Gioan Tiền Hô.  Câu hỏi cho thấy thánh nhân ở trong một tâm trạng hoang mang.  Đức tin của ngài chao đảo.  Nửa tin nửa ngờ.

Sự hoang mang của thánh Gioan Tiền Hô đến do hai nguyên nhân sau:

1) Nguyên nhân thứ nhất: Chúa Giêsu có những việc làm khác với lời Gioan loan báo.

Thánh Gioan Tiền Hô đã loan báo một Đấng Cứu Thế uy nghiêm, đến để trừng phạt nhân loại.  Trong Phúc Âm tuần trước, thánh nhân đã răn đe người Do Thái: Búa rìu đã để sẵn ở gốc cây, cây nào không sinh trái sẽ bị đốn cho vào lò lửa.  Thiên Chúa đến cầm sàng mà rê thóc.  Thóc sẽ được cho vào kho, còn rơm, trấu sẽ bị cho vào lò lửa đốt đi.  Sứ điệp quả thật là dữ dội, bởi loan báo ấy đã gây xôn xao sợ hãi.  Thế mà khi Chúa Giêsu đến, Người đã hành động khác hẳn.  Không oai phong, quyền lực, Chúa Giêsu tỏ ra là Đấng Cứu Thế tràn đầy lòng nhân từ: “Người không bẻ gẫy cây lau bị dập, không dập tắt tim đèn còn khói.”  Gioan Tiền Hô loan báo sự trừng phạt.  Nhưng Chúa Giêsu lại đến để cứu chữa, tha thứ.  Chúa Giêsu nói: “Con người đến không phải để lên án, nhưng để cứu chữa.”  “Chỉ những người bệnh mới cần đến thầy thuốc.”  Thật là trái ngược.  Trách nào Gioan chẳng hoang mang.

2) Nguyên nhân thứ hai: Gioan bị giam trong tù.

zzÔng bị ngược đãi, tất nhiên.  Hơn nữa ông cảm thấy mình thất bại.  Đi rao giảng sự công chính nhưng chỉ gặp bất công.  Đi rao giảng ơn giải thoát nhưng lại bị giam cầm.  Hết rồi những sứ điệp rực lửa.  Hết rồi thời hy vọng tràn đầy.  Thê thảm hơn nữa, ông tự hỏi: Sao Đấng Cứu Thế không đến giải thoát mình?  Sao Ngài để cho sứ giả của Ngài mòn mỏi trong tù?  Sao Ngài để cho bạn hữu bị khinh miệt cười chê?  Lời sấm của Isaia còn rành rành: “Đấng Cứu Thế sẽ mở cửa phóng thích tù nhân.”  Thế mà sao chờ đợi hoài chẳng thấy.  Và Gioan nghi ngờ: hay Ngài không phải là Đấng Cứu Thế.  Bị giam cầm, bị ngược đãi, Gioan còn có thể chịu được.  Nhưng mối nghi ngờ gặm nhấm, thiêu đốt tâm hồn ông.  Ông e sợ mình đã lầm đường, lầm người.  Không nén lòng được, ông đã sai môn đệ đến hỏi thẳng Chúa Giêsu: “Ngài có phải là Đấng Cứu Thế, hay chúng tôi phải chờ đợi một Đấng khác?”  Câu hỏi táo bạo nhưng quan trọng, vì quyết định cả ý nghĩa cuộc đời Gioan.

Trước câu hỏi ấy, Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp.  Nhưng chỉ yêu cầu các sứ giả về thuật cho Gioan những việc Ngài làm: “Cho kẻ mù xem thấy, kẻ què đi được, người cùi lành lặn, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng.”

Với câu trả lời ấy, Chúa Giêsu nhắc Gioan nhớ lại lời sấm của Isaia về Đấng Cứu Thế.  Đồng thời cũng thanh luyện cái nhìn của ông về dung mạo Đấng Cứu Thế.

Đấng Cứu Thế không phải là vị vua oai phong từ trời ngự xuống trên đám mây.  Nhưng chỉ là một hài nhi bé nhỏ sơ sinh xuất hiện giữa loài người như một mầm cây bé bỏng.

Đấng Cứu Thế không phải là vị vua sang trọng ngự trong cung điện nguy nga.  Nhưng chỉ là anh thợ mộc nghèo hèn sống trong một làng quê hẻo lánh.

Đấng Cứu Thế không phải là vị quan tòa oai nghiêm hét ra lửa, thở ra khói.  Nhưng chỉ là một lương y hiền từ đến chữa lành những vết thương, an ủi những ưu sầu, nâng đỡ người yếu đuối, tha thứ kẻ tội lỗi.

Đấng Cứu Thế không đến trong vinh quang huy hoàng, trong chiến thắng rực rỡ.  Nhưng chỉ âm thầm và tình nghĩa như một người bạn thân thiết.

Đấng Cứu Thế không đến trong hàng ngũ những người quý phái có địa vị cao trọng trong xã hội. Nhưng lui tới với những người bé nhỏ nghèo hèn, những thành phần bị gạt ra bên lề xã hội.

Câu trả lời của Chúa Giêsu khiến tôi tỉnh ngộ.  Chúa Giêsu đã cho tôi một hình ảnh trung thực về dung mạo Đấng Cứu Thế.  Qua câu trả lời đó, Chúa Giêsu cũng muốn nói với tôi rằng: Nếu con muốn Giáo Hội là hình ảnh đích thực nguyên tuyền của Thày, con hãy xây dựng một Giáo Hội không quyền lực, không tiền bạc, không phô trương.  Hãy làm cho Giáo Hội mang dung mạo của Thày: một dung mạo khiêm tốn, nghèo hèn, bình dị, thân ái và nhân từ.  Nếu con muốn tiếp tục sứ mạng của Thày, hãy chạy trốn quyền lực, hãy sợ hãi tiền bạc, hãy tránh thói phô trương.  Hãy yêu thích những việc âm thầm bé nhỏ.  Trước hết hãy đến với những người nghèo hèn.  Hãy bắt đầu bằng tình thương.  Vì chỉ có tình thương mới cứu được thế giới.

Ta đang chờ đón Chúa đến.  Hãy cảnh giác.  Chúa không đến trong một biến cố kinh thiên động địa. Chúa không có những pha biểu diễn ngoạn mục.  Chúa không đến trong những thành công rực rỡ. Chúa không đến trong uy tín hay quyền lực.  Chúa sẽ chỉ đến rất âm thầm, bé nhỏ nhưng đầm ấm tình người.  Chúa sẽ đến trong một bàn tay kín đáo nâng đỡ.  Chúa sẽ đến trong một nụ cười khích lệ.  Chúa sẽ đến trong một cái bắt tay thân ái.  Chúa đến chỉ thoáng qua.  Nơi nào có dấu hiệu của tình thương, nơi đó đang vẽ nên dung mạo của Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con nhận ra dung mạo đích thực của Chúa, để con biết đón tiếp Chúa trong Mùa Giáng Sinh năm nay. Amen!

TGM Ngô Quang Kiệt

HỘP SÔCÔLA NHÂN ANH ĐÀO

Đó là một Giáng sinh kinh khủng!  Trước Giáng sinh năm đó, vào ngày 30 tháng 6 năm 1997, con trai đầu lòng của tôi, Cameron, được chẩn đoán là bị ung thư máu.

Sau cuộc di chuyển đầy đau đớn bằng trực thăng quân đội đến bệnh viện Walter Reed, trải qua ba lượt hóa trị khốc liệt, bị cắt phổi, và chịu đựng một cuộc xét nghiệm tủy xương hết sức kinh hoàng… cháu được chuyển đến bệnh viện trường Đại học Duke.  Vào ngày 4 tháng Mười hai, Cameron được thay máu.  Đó cũng là nỗ lực cuối cùng.

Bây giờ đang là đêm Giáng sinh.  Chúng tôi đón lễ tại một căn phòng nhỏ trong khu điều trị. Những năm trước, chúng tôi dành hàng tuần liền để làm bánh trái chuẩn bị cho ngày lễ này.

Nay thì bánh Giáng sinh được gia đình và bạn bè gửi đến, vì tôi muốn dành hết thời gian ở cạnh Cameron để an ủi cháu trong những lúc buồn tẻ.  Trước đó cháu đã bị cách ly trong nhiều tuần vì cháu không có hệ miễn nhiễm, vốn là hậu quả của những lần hóa trị và các loại thuốc giúp tạo tủy xương mới.  Vài món quà gởi đến trước ngày lễ theo đường bưu điện được mở ra ngay tức thì.  Chúng tôi cần có bất cứ thứ gì từ đâu đó để tạo cho cháu chút niềm vui.

6 giờ chiều ngày Giáng sinh luôn luôn là thời khắc kỳ diệu.  Vào cùng giờ đó, gia đình chúng tôi ở Iowa, Wisconsin, California, hay Washington D.C. đều đồng loạt mở quà.  Điều này mang lại cho chúng tôi cảm giác sum họp gần gũi, dù đang ở cách xa nhau.  Cha và mẹ kế của Cameron, rồi các anh chị em của nó cũng đang mở quà ở tại nhà mỗi người ở Fayetteville, bang North Carolina.  Giáng sinh này chỉ có Cameron và tôi trong căn phòng nhỏ trang trí đơn sơ.

Do yêu cầu của môi trường vô trùng ở bệnh viện, những thành viên khác trong gia đình không được phép có mặt.  Cuộc sống của Cameron giờ đây gắn liền với những tiếng o o đều đều của thiết bị lọc máu và tiếng bíp bíp của sáu chiếc bơm truyền máu nối vào ống thông trong tim.  Dù vậy, Cameron vẫn luôn tỉnh táo.  Chờ đến đúng 6 giờ chiều, Cameron mới mở quà.  Nó muốn duy trì thói quen truyền thống này của gia đình.  Tôi đưa cho cháu ít món quà mà trước đó tôi đã để dành lại.  Cháu rất vui.

Cameron thận trọng với sang phía bên kia chiếc giường bệnh viện, đưa cho tôi một cái hộp nhỏ màu xanh lá.  Chiếc hộp được gói rất đẹp, rõ ràng là được một cửa hàng bán quà lưu niệm thực hiện.  Các góc cạnh ngay ngắn, trên hộp có đính một mẩu ruy-băng thòng xuống, với cái khuy móc bằng vàng chạm nổi.  Tôi ngạc nhiên hỏi, “Cho mẹ hả?”

“Dạ,” cháu trả lời.  “Nếu con không có quà gì để biếu mẹ trong lễ Giáng sinh thì đâu còn là con nữa.”  Tôi nghẹn ngào gần như không nói được.  “Làm sao mà con có được vật này?  Con nhờ một cô y tá ra cửa hàng lưu niệm mua phải không?”

Cameron nằm xuống giường cười tinh nghịch, “Không phải.  Hôm qua, khi mẹ về nhà vài tiếng đồng hồ để tắm rửa, con đã lén đi xuống dưới lầu.”

“Cameron!  Con đâu được phép đi ra khỏi phòng!  Con có biết rằng con rất yếu không?  Họ để con đi như vậy sao?”

“Đâu có!” Cháu cười to hơn, “Chẳng ai nhìn thấy cả.  Con cứ thế mà đi thôi.”

Đây quả là một thành tích không nhỏ, vì sau khi thay máu, Cameron càng trở nên yếu ớt hơn. Cháu không bước được, nhất là khi không có ai đỡ.  Cháu phải có một nghị lực thật phi thường mới có thể một mình đi qua hết khu điều trị, đẩy theo mình cả một dàn treo thiết bị thuốc men và các bơm truyền dịch.

Làm thế nào nó có thể đi xuống được chín tầng lầu để đến cửa hàng bán quà lưu niệm trong bệnh viện?  “Đừng lo, mẹ.  Con mang cái mặt nạ thở, và chống một cây gậy.  Ồ, khi trở lên, họ quay con một trận ra trò.  Con chẳng cần phải len lén đi lên gì cả.  Họ đã túa ra đi tìm con.”

Tôi ôm thật chặt chẳng chiếc hộp và bật khóc. “Mở ra đi mẹ,” cháu bảo tôi.  “Món quà nhỏ bé thôi mà.  Nhưng nếu mẹ không có được món quà nào trong ngày này thì còn gì là Giáng sinh nữa.”

Tôi mở chiếc hộp sôcôla nhân anh đào do cửa hàng lưu niệm gói. “Đó là thứ mẹ vẫn thích phải không?” cháu hỏi.

Tôi âu yếm nhìn đứa con trai mười tám tuổi đã chịu bao nhiêu đau đớn ngay sau khi vừa tốt nghiệp trung học.  Lòng hiếu thảo của cháu đã khiến tôi vô cùng cảm động.  Tôi vội nói, “Đúng rồi. Đúng là thứ mẹ thích.”  Cháu cười khúc khích, “Mẹ thấy không, ngay cả khi ở trong bệnh viện, mẹ con mình vẫn giữ được những truyền thống gia đình.”

“Con trai ạ, đây là món quà quí nhất mà mẹ từng nhận được trong đời,” tôi nói với cháu những lời phát xuất từ chính lòng mình.  “Chúng ta sẽ bắt đầu một truyền thống mới.  Từ nay, mỗi Giáng sinh chúng ta chỉ tặng quà là sôcôla nhân anh đào để ghi nhớ kỷ niệm Giáng sinh năm 1997 này trong bệnh viện Đại học Duke, ghi nhớ cuộc chiến đau đớn của con với bệnh ung thư máu, nhớ nỗi kinh hoàng chúng ta đã phải chịu và niềm hạnh phúc khi chúng ta vượt qua được hoạn nạn.”  Truyền thống mới đã được khai sinh từ đó, ở chính trong bệnh viện này, mẹ con tôi cùng ăn sôcôla nhân anh đào.  Đó thật là một mùa Giáng sinh tuyệt vời!

Cameron qua đời vào ngày 4 tháng 3 năm 1998, sau hai cuộc thay máu không thành công.  Cháu rất dũng cảm.  Không bao giờ cháu chịu đầu hàng bệnh tật.  Không bao giờ cháu chịu bỏ cuộc.

zzGiáng sinh năm nay là Giáng sinh đầu tiên tôi không còn có cháu.  Giáng sinh đầu tiên tôi không có quà của cháu để được mở ra.

Còn đây là món quà của tôi gởi tặng bạn.  Một hộp sôcôla nhân anh đào.  Tôi mong rằng khi gói quà này được mở ra, nó sẽ nhắc bạn nhớ rằng tinh thần của ngày lễ Giáng sinh là được sum họp với gia đình, bè bạn, tạo nên truyền thống, hoặc mở đầu những truyền thống mới, nhưng trên tất cả những thứ tốt đẹp ấy là tình thương yêu.

Đông Phương – Nam Phương

 

 

 

Ðức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội: Niềm hy vọng của nhân loại

Vào tháng 11 năm 1848, các cuộc cách mạng bạo động sôi xục diễn ra trên khắp Âu Châu cuối cùng đã lan tràn tới Rome.  Những người quá khích đã ám sát thống đốc tiểu bang và bao vây Tòa Thánh.  Ðức Thánh Cha Piô 9 phải thoát đi lánh nạn ở Ghêta, thuộc vương quốc Naples.

Ba tháng sau đó, ngay trong khi còn đang phải đi tị nạn, Ðức Piô 9 đã gửi cho tất cả các Giám Mục trên khắp thế giới một bức thư tựa đề Ubi Primum.  Điều đáng ngạc nhiên là Đức Piô đã không dùng lá thư để nói đến việc ngài đi tị nạn hoặc những khủng hoảng chính trị và xã hội đang đe dọa Giáo Hội, nhưng là để mời tất cả các Giám Mục cùng cầu nguyện và góp ý với ngài trong việc công bố tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Chọn thời điểm này để công bố một tín điều quan trọng, Đức Piô 9 đã chứng tỏ rằng Giáo Hội không hề bị lay chuyển bởi những xáo trộn chính trị và những khủng hoảng xã hội.

Nhờ lòng sùng kính Đức Mẹ một cách đặc biệt, ngài đã đem Giáo Hội đi từ những lo âu đến vui mừng.

Đức Thánh Cha Piô 9 viết: “Đức Maria đã luôn luôn che chở các tín hữu khỏi những hoạn nạn lớn lao nhất, khỏi những cạm bẫy và tấn công của kẻ thù, đã cứu vớt họ khỏi mọi đổ vỡ…  Và tương tự như vậy, trong tình hình hiện tại, Đức Mẹ mong muốn ngăn cản và xóa tan mọi bão tố hiểm nguy của ác thần đang chống phá Giáo Hội.”

Trải qua nhiều thế hệ, qua nhiều bàn luận có khi rất gay go sôi nổi trong Giáo Hội, niềm tin nơi sự vô nhiễm nguyên tội của Đức Mẹ vào thời gian đó đã trở nên hiển nhiên.  Chẳng hạn, trước đó ngay tại Mỹ vào năm 1846, các Đức Giám Mục đã nhận Đức Mẹ Vô Nhiễm là bổn mạng của quốc gia Hoa Kỳ.   Vì thế đối với Đức Piô 9, trên phương diện đức tin, thời điểm để công bố tín điều quan trọng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội đã chín mùi.

Trong khi đó tại Âu Châu, các cuộc cách mạng ý thức hệ, các ảnh hưởng gia tăng của chủ thuyết vô thần, sự tôn thờ khoa học và vật chất đã liên tục gây ra những khủng hoảng lớn liên tiếp xảy ra từ Paris qua Frankfurt, Vienna, Budapest và Rome.  Do đó tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm đã chẳng được chú ý đến.  Tuy nhiên, Đức Piô vững lòng tin nơi một sức mạnh âm thầm nhưng rất mạnh mẽ đang che chở Giáo Hội, dựa vào một sự kiện mà ngài đã biết, là vào năm 1830, một nữ tu trẻ ở Paris đã được diện kiến Đức Maria.

zzĐức Trinh Nữ hiện ra đầu mang vương miện và mặc áo trắng tuyền, đứng trên qủa địa cầu, chân đạp trên đầu con rắn.  Một vòng sáng hình bầu dục bao quanh Trinh Nữ, trên đó có hàng chữ “Lạy Mẹ Maria tinh tuyền lúc thụ thai, cầu cho chúng con là những người chạy đến xin Mẹ che chở.”

Nữ tu, mà sau này trở thành thánh nữ Catherine Labouré, đã nghe trong lòng một lời chỉ bảo hãy làm mẫu ảnh dựa trên những gì đã được diện kiến.

Đức Piô rất tôn kính mẫu ảnh này và lòng tôn kính đó đã thúc đẩy ngài khi thảo bức thư cho các giám mục như đã nêu trên.  Mẫu ảnh đó đúng là một hào quang huy hoàng nổi bật giữa những tăm tối đang đe dọa Giáo Hội.  Đức Maria đã tỏ mình ra ứng nghiệm với tất cả những điều đã được viết về Mẹ trong Kinh Thánh:  một Evà mới trong sách Sáng Thế Ký và một Hoàng Hậu trong sách Khải Huyền, nghĩa là từ đầu cho đến cuối của toàn bộ Kinh Thánh.

Đức thánh cha Piô 9 trở lại Rome vào năm 1850 với lòng cảm tạ Đức Mẹ đã che chở Giáo Hội trong những sóng gió vừa qua.  Ngài bắt tay ngay vào việc soạn thảo tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, sau khi được các Đức Giám Mục nồng nhiệt phúc đáp thư của ngài.  Đã có tổng cộng 603 giám mục ưng thuận và chỉ có 4 vị không đồng ý.

Bốn năm sau đó, vào ngày 8 tháng 12, 1854 cùng với sự hiện diện của các giám mục trên thế giới, Đức Thánh Cha Piô 9 đã chính thức công bố niềm tin của Giáo Hội nơi việc Thiên Chúa đã tạo sinh Đức Mẹ tinh tuyền, vô nhiễm nguyên tội.

Ngày nay giữa một thế giới khủng hoảng lan tràn vì sa đọa và chiến tranh hận thù, tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội là niềm hy vọng của nhân loại.

Đức cha Fulton Sheen nói: “Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội được công bố vào thời điểm mà thế giới văn minh đang mù quáng chạy theo những thần tượng đối nghịch.  Kác-Mác cho ra đời chủ thuyết cộng sản vô thần và đấu tranh giai cấp; Darwin phổ biến thuyết tiến hóa, theo đó con người bắt nguồn từ loài vật, và John Stuart Mill chủ trương một quan niệm cực đoan về quyền lợi cá nhân.  Những chủ thuyết này có cùng một ước vọng muốn gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi niềm tin của nhân loại, cho rằng con người không cần đến Thiên Chúa.  Họ phủ nhận tội tổ tông và cho rằng con người tự mình có khả năng trở nên toàn thiện.

Đức cha Fulton Sheen kết luận rằng: “Nói cách khác, con người tự vỗ ngực cho rằng họ tất cả đều vô nhiễm nguyên tội”.  Trong những ngày đi tị nạn, Ðức Piô đã thấy trước chiều hướng nguy hiểm này. Do đó khi soạn thảo tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, ngài muốn soạn một hiến chương mới cho thế giới, để kháng cự lại những tà thần của thời đại.

Tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội luôn nhắc nhở chúng ta về sự nguy hiểm của ma qủi và tội lỗi, đồng thời cũng cho ta một hy vọng, một lời hứa là chúng ta được che chở và bảo vệ.

Tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội đã khởi sự một thế kỷ mới trong việc kính mến và tôn sùng Ðức Trinh Nữ Maria, mà cao điểm là việc công bố tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác lên Trời vào năm 1950.  Hai tín điều thật quan trọng: tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội khởi đầu và tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời kết thúc cuộc đời Ðức Mẹ ở trần gian.  Qua hai tín điều này Giáo Hội nhắn nhủ chúng ta nhìn vào gương của Ðức Mẹ để nhận ra ý nghĩa và cùng đích của cuộc đời.  Nhờ ân sủng của Thiên Chúa, chúng ta được cứu khỏi tội lỗi, được thánh hóa, được ban cho khả năng biết yêu mến và được hứa cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu.

Sau cùng, chính Ðức Mẹ là người đã xác tín với chúng ta về tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội.  Ðầu năm 1858, tức là chỉ 4 năm sau khi tín điều được công bố, Bernadette một cô gái quê mùa và thất học tại Lộ Ðức, một làng nhỏ nơi miền núi Pyréné bên Pháp đã được diện kiến Ðức Mẹ.  Khi được Bernadette hỏi tên, Ðức Mẹ mỉm cười trả lời: “Ta là Ðấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.”

Vũ Tiến – http://www.donghanh.org/main/dsdt/dsdt_VoNhiem.htm

CÁC SỨ ĐIỆP CỦA GIOAN TIỀN HÔ

Các nước đang phát triển có hướng đô thị hóa rất mạnh.  Dân quê bỏ đồng ruộng ra thành thị.  Chính phủ lo đô thị hóa nông thôn.  Càng phát triển, người ta càng có khuynh hướng tiêu thụ rất mạnh: ăn sang, mặc đẹp.  Vậy mà Phúc Âm hôm nay đưa ra hình ảnh thánh Gioan Tiền Hô, một người sống trong sa mạc, ăn châu chấu, uống mật ong rừng, mặc áo da thú.  Phải chăng là Phúc Âm đã lỗi thời, đi ngược với đà tiến hóa của nhân loại?

Để trả lời cho vấn nạn này, trước hết ta hãy cùng nhau đào sâu những sứ điệp Phúc Âm được nhắn gửi qua đời sống của thánh Gioan Tiền Hô.  Thánh Gioan Tiền Hô tự nhận mình chỉ là tiếng kêu trong sa mạc.  Đây không phải là một tiếng kêu vô hồn vô nghĩa.  Nhưng là tiếng kêu có nội dung, là những sứ điệp gửi đến loài người.

1) Sứ điệp thứ nhất mà thánh Gioan Tiền Hô muốn nhắn gửi ta, đó là: hãy vào sa mạc.

zzVào sa mạc là sống với thiên nhiên, sống hòa hợp với đất trời, bảo vệ cây cỏ, dã thú.  Trong nền văn minh tiêu thụ hiện nay, người ta khai thác tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên mà không nghĩ đến tái tạo.  Thiên nhiên đang bị hủy diệt, rừng xanh đang lâm nguy, súc vật đang kêu cứu.  Trong bối cảnh ấy, sứ điệp của thánh Gioan Tiền Hô có giá trị như một thức tỉnh con người trước sức tàn phá của nền văn minh tiêu thụ.

Vào sa mạc là tìm nơi yên tĩnh mà nghỉ ngơi.  Vì các đô thị lớn đã hoàn toàn bị ô nhiễm: ô nhiễm vì tiếng động, ô nhiễm vì khói xăng, ô nhiễm vì rác rưởi, ô nhiễm vì bụi bặm.

Thế nhưng sứ điệp của thánh Gioan Tiền Hô vượt lên trên những nhu cầu của xã hội, của sức khỏe để nhắm vào đời sống tâm linh con người.  Nhịp sinh hoạt trong xã hội công nghiệp càng ngày càng tăng tốc độ.  Con người luôn luôn vội vả đuổi theo công việc.  Vì thế dễ rơi vào tình trạng sống hời hợt bề mặt.  Không có thời giờ lắng xuống bề sâu.  Vào sa mạc tâm linh, tức là tạo cho mình một thời gian và một không gian yên tĩnh.  Dứt lìa những bận bịu lo toan trong cuộc sống để trở về với mình, đối diện với lòng mình.

Sa mạc không có đường đi.  Nên người đi vào sa mạc sẽ đi theo con đường Chúa chỉ dẫn.  Như xưa dân Do Thái lang thang 40 năm trong sa mạc, không biết đường đi, chỉ biết đi theo áng mây cột lửa nên đã tìm thấy đường đi về với Chúa, đã gặp được Chúa, đã thành dân của Chúa.  Như tiên tri Êlia chạy trốn trong sa mạc đã chẳng tìm được đường thoát thân.  Nhưng đã được Chúa chỉ cho con đường hy vọng.  Như Chúa Giêsu ăn chay cầu nguyện 40 đêm ngày, nên đã tìm thấy con đường của Chúa Cha là hy sinh, khiêm nhường, sống trọn tình con thảo.

Cũng vậy, người vào sa mạc tâm linh sẽ gặp mình và trong sâu thẳm lòng mình sẽ gặp được Chúa.  Vì Chúa còn thân thiết với ta hơn chính bản thân ta.  Vì Chúa còn sâu xa hơn chính nội tâm ta.

2) Sứ điệp thứ hai mà thánh Gioan Tiền Hô muốn nhắn gửi ta, đó là: hãy sống khổ hạnh.

Ta tưởng sống khổ hạnh đã đi vào quá khứ.  Thực ra các nước văn minh đang đi vào con đường của thánh Gioan Tiền Hô.  Một trong các vấn đề lớn của người phương tây hiện nay là giữ sao cho khỏi lên cân, để khỏi bị cholesterol, để khỏi bị chứng bệnh xơ cứng động mạch, để ngăn chặn bệnh tiểu đường, để khỏi bị mỡ bao tim, người ta đã phải kiêng ăn, bớt uống.

Ăn uống đơn sơ đạm bạc không những có lợi cho sức khỏe mà còn giúp ta tiết kiệm để chia sớt với những vùng thiếu ăn, thiếu mặc.  Nhưng vượt lên trên tất cả sức khỏe thân xác lẫn đạo đức liên đới xã hội, nếp sống khổ hạnh trước hết và trên hết nhắm phục vụ đời sống tâm linh.  Ăn uống là nhu cầu căn bản của con người.  Nó thuộc về bản năng sinh tồn.  Ăn uống đứng đầu các khoái lạc.  Khi làm chủ được ăn uống, người khổ hạnh cũng dễ tiến tới làm chủ được bản thân.  Chế ngự được bản năng ăn uống, ta sẽ dễ chế ngự được tham, sân, si khác trong con người.  Đó là bước khởi đầu trên con đường đức hạnh dẫn ta đến gặp Chúa và trở nên thân thiết với Chúa.

3) Sứ điệp thứ ba mà thánh Gioan Tiền Hô muốn nhắn gửi ta, đó là: hãy sám hối.

Phải sám hối vì con người là lầm lỗi, là xa lạc.  Các thánh chính là những vị không ngừng sám hối để đổi mới bản thân cho phù hợp với những đòi hỏi của Tin Mừng.

Phải sám hối vì đó là điều kiện tiên quyết để đón nhận Tin Mừng, để được vào Nước Trời.

Có hai đặc tính giúp xác định một sám hối đúng nghĩa:

Đặc tính thứ nhất là triệt để.  Sám hối không phải là ngồi đó mà than khóc.  Nhưng là thay đổi đời sống.  Không phải thay đổi một phần mà thay đổi trọn vẹn.  Là đổi mới hoàn toàn.  Sám hối phải triệt để như dân thành Ninivê, bỏ hết việc ăn chơi, bỏ đàn hát, đọc kinh cầu nguyện, xức tro, mặc áo nhặm.  Sám hối phải triệt để như Phaolô, bỏ hẳn ngựa, gươm, bỏ hẳn nếp sống cũ, bỏ hẳn con đường cũ, để tin nhận Đức Kitô, sống một nếp sống hoàn toàn mới.  Sám hối phải triệt để như Giakêu, bán hết gia tài, đền bồi gấp bốn, chia sẻ với người nghèo…

Đặc tính thứ hai là cấp bách.  Không từ từ do dự vì thời giờ đã tới hồi cấp bách.  Cái rìu đã đặt sẵn ở gốc cây.  Cái sàng đã đặt sẵn ở sân lúa.  Cây không sinh trái sẽ bị đốn ngay.  Trấu sẽ bị sàng lọc ra ngoài.

Như vậy, con người và sứ điệp của thánh Gioan Tiền Hô không hề lỗi thời.  Những sứ điệp sa mạc, sứ điệp khổ hạnh và sứ điệp sám hối vẫn luôn hiện thực.  Những sứ điệp ấy soi sáng con đường ta đi, phải tu sửa để gặp được Thiên Chúa Cứu Độ.  Cuộc đời gương mẫu của thánh nhân là sức nóng vừa lôi cuốn vừa thúc giục ta.  Vì thế Chúa Giêsu đã khen Ngài là “ngọn đèn chiếu sáng và tỏa nóng”.  Ánh sáng của Ngài báo hiệu một bình minh chói lọi huy hoàng.  Sức nóng của Ngài dẫn ta đến tận nguồn lò lửa.  Lò lửa ấy sẽ chiếu sáng, sẽ đốt cháy mọi trái tim trong tình yêu và sẽ thanh luyện ta nên tinh tuyền.  Bình minh ấy, lò lửa ấy chính là Mặt Trời Công Chính, là Chúa Giêsu mà chúng ta đang chờ mong trong đêm tối cuộc đời này. Amen!

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

VỌNG MÙA HỒNG ÂN

zzLịch phụng vụ một lần nữa dẫn đưa chúng ta trở lại cuộc hành trình vào thuở ban đầu, khi mà mọi người đang mong chờ Vị Cứu Tinh.  Hành trình bắt đầu đồng nghĩa với hành trình nhìn lại chính mình. Lắm khi ta tự hỏi sao cứ phải bắt đầu khi mà ta đã đi quá xa so với điểm bắt đầu ấy?  Phải, vì ta đã đi quá xa nên bây giờ cần nhìn lại và trở về để tìm lại đường hướng thuở ban đầu và để biết ta đang đi đúng hay sai.  Thành thử ra, có thể nói rằng mùa vọng là mùa của hồng ân.

Bất cứ ai biết nhìn lại mình thì sẽ cảm được mùa hồng ân này.  Nhìn lại để thấy mình rõ hơn.  Nhìn lại để biết mình đang ở đâu trong cuộc đời này.  Nhìn lại để xem thử cuộc sống của mình có thật sự khao khát Chúa không?  Nhìn lại để thấy cuộc đời mình cần Vị Vua Cứu Thế đến cỡ nào.  Quả thật, cuộc đời ta tựa hồ như con thuyền trôi nổi trên đại dương trần thế.  Lắm khi nó đi ngang qua vùng trời bình yên của đại dương.  Nhưng cũng lắm khi con thuyền ấy bị bão táp, phong ba… Sau mỗi lần như thế, con thuyền hư hao, cần được sửa chữa để tiếp tục hành trình cuộc đời.  Vì thế, mùa vọng mời gọi con thuyền đời ta nên nghỉ ngơi và tự duyệt xét lại chính mình và thấy được những sai sót, những lỗ hổng của con thuyền nhằm có đủ sức bước đi trong một năm Phụng Vụ mới.

Mùa hồng ân càng có ý nghĩa khi ta không chỉ biết nhìn lại mà còn hành động.  Biết được những chỗ hư hao của con thuyền là một chuyện, nhưng ta có muốn sửa nó không lại là chuyện khác.  Thánh Gioan Tẩy Giả mời gọi chúng ta hãy sửa lối cho thẳng để Người đi (Mt 3,3).  “Sửa lối” là động từ diễn tả hành động, nghĩa là không phải chỉ ngồi đó tự đấm ngực, khóc lóc, kêu than, mà hãy tự đứng dậy, đảm đương những sai sót của mình và khắc phục nó.  Thuyền đời của mỗi người cần được sửa chữa cụ thể, rõ ràng thì mới có thể có đủ nghị lực, lòng can đảm và sẵn sàng đối mặt với bão táp ở tương lai.

Mùa hồng ân còn mời gọi mọi người hãy để Chúa làm trung tâm đời mình.  Tư thế của một người mong chờ Chúa đến là tư thế của hy vọng, của sự giải thoát.  Người sống trong niềm mong chờ luôn khắc khoải mau đến thời điểm mong chờ.  Lúc đó, mọi mong chờ sẽ vỡ òa trong cõi lòng sâu thẳm nơi lòng người hy vọng.  Thế nên, người chờ mong Chúa đến cũng luôn sống trong niềm hy vọng ấy và trong bất cứ mọi hành động của đời thường đều hướng về Chúa.

Xin hãy để Vị Cứu Tinh làm cầu nối giữa ta với Chúa Cha trong những giờ phút nhìn lại mình.  Xin hãy để Đấng Thiên Sai dẫn ta đến hành động đích thực trong việc sửa sai.  Xin hãy mang Chúa về lại trong đời sống của mỗi người chúng ta.

Quốc Đạt, S.J.

 

CHỜ CHÚA ĐẾN

zzMùa vọng là mùa của chờ đợi và hy vọng.  Đây là thời gian chuẩn bị đón mừng lễ Giáng sinh, mừng Con Thiên Chúa đến trong thế gian để mang lại sự hòa bình, thịnh vượng và hạnh phúc nhân loại. Trong mỗi chúng ta luôn khát khao được sống yêu thương, an lành và hạnh phúc, nhưng trong thực tế thì không phải ai cũng đạt được những điều mình mong ước trong cuộc sống.  Thế thì, đâu là ý nghĩa của việc chờ đợi và hy vọng trong Mùa Vọng này?

Vào Mùa vọng năm 2008, tôi có dịp đi vào những vùng sâu, và viếng thăm những người nghèo.  Tôi đến thăm một bé trai 9 tuổi bị bệnh ung thư máu, em đã nằm trên giường bệnh nhiều năm, thân hình tàn tạ chỉ còn da bọc xương, em đang chờ đợi cái chết sẽ xẩy đến trong một thời gian ngắn nữa thôi. Lúc ấy, tôi thầm nghĩ trong lòng, tôi sẽ giúp đỡ và đưa em đi bệnh viện để em có thể sống được lâu hơn, vì nhà em quá nghèo, đến nỗi gia đình không có tiền để mua một hộp sữa cho em uống.  Tôi hỏi người mẹ có cho em ăn gì chưa?  Chị ta trả lời: “Hôm nay, nhà em không còn gì để ăn”  Nghe lời chị ta nói, lòng tôi bị thắt lại.  Ngôi nhà thì rách nát, tả tơi, ngay cả chỗ em nằm cũng không được bảo đảm. Khi nhìn thấy hoàn cảnh đứa bé, tôi rất cảm động trước nỗi bất hạnh của em.  Tôi đến cầm lấy tay và đỡ em ngồi dậy.  Tôi nhìn đôi mắt của em, hai dòng nước mắt chảy xuống gò má gầy gò, và lúc đó tôi cũng không thể cầm được nước mắt của mình.  Mặt dù, tôi không thể nói được điều gì với em, nhưng tôi tin chắc rằng, em sẽ hiểu được tình cảm của tôi dành cho em.  Trước khi từ giã em ra về, tôi có hứa với em rằng, tôi sẽ trở lại để đưa đi bệnh viện.  Đó là điều mong ước nhỏ nhoi của tôi.  Thế nhưng, tôi chưa kịp quay trở lại, thì em đã vĩnh viễn ra đi.

Cậu bé đã từng có những hy vọng và chờ đợi.  Hy vọng một tương lai tốt đẹp.  Chờ đợi một phép lạ xẩy ra để em được sống, nhưng tất cả đều vô vọng, và em đã kết thúc cuộc đời.  Và tôi luôn mang trong mình một nỗi khắc khoải về những gì mình chưa làm được với một lời hứa.  Từ kinh nghiệm này giúp tôi liên tưởng đến ý nghĩa của sự chờ đợi và hy vọng một cách khôn ngoan.  Chờ đợi không chỉ là mong đợi những điều tốt có thể sẽ xảy ra trong tương lai, mà là biết nhận ra những ân ban của Thiên Chúa ban cho ta và thực hành trong cuộc sống hiện tại này.  Giá trị của cuộc sống hiện tại của con người là kết quả cho cuộc sống tương lai vĩnh cửu.  Chờ đợi không chỉ đón nhận những điều tốt mà thôi, nhưng là còn phải chấp nhận những gì ngoài ý muốn của mình.  Hơn nữa, chờ đợi không phải là ngồi đó để than van, trách móc, tủi hờn cho số phận, nhưng phải biết tìm kiếm và im lặng để lắng nghe được tiếng Chúa nói trong ta, và thực hiện bằng việc làm cụ thể.

Mùa vọng là cơ hội tốt để cho chúng ta nhìn lại thời gian qua, sống với giá trị hiện tại, và hướng tới tương lai vĩnh cửu.  Lời Chúa nhắc bảo chúng ta là hãy sẵn sàng và tỉnh thức trong mỗi hoàn cảnh và thời khắc, vì chúng ta chẳng biết giờ Chúa đến với mỗi người chúng ta.  “Các con hãy giữ mình, kẻo lòng các con ra nặng nề, vì chè chén say sưa và lo lắng việc đời, mà ngày đó thình lình đến với các con, như chiếc lưới chụp xuống mọi người sống trên mặt đất.  Vậy các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để có thể thoát khỏi những việc sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người!”  Và ngày đó, Thiên Chúa phán xét chúng ta về lòng bác ái và yêu thương.

Chân lý cuối cùng của cuộc đời là tình yêu: Tình yêu Thiên Chúa và tình yêu con người.  Vì yêu thương con người, Con Thiên Chúa đã xuống thế làm Người, sống kiếp con người với chúng ta, và Ngài chết cho con người để mang lại hòa bình, thịnh vượng và hạnh phúc cho nhân loại, thì giờ đây Chúa cũng đang ở cùng chúng ta, và nơi những người anh em.  Những người bất hạnh đang bị bỏ rơi, những người già bệnh tật, cô đơn, những trẻ em mồ côi đang cần có tình thương.

Có những mảnh đời đã đi qua đời tôi, nhưng tôi vẫn vô tình, thờ ơ, lãnh đạm, vô cảm, vì cái tôi chật hẹp và ích kỷ.  Hình ảnh cậu bé ngày xưa vẫn còn đọng lại trong tôi như là một lời nhắc nhớ.  Chờ Chúa đến không phải chỉ là ước mong những điều tốt đẹp cho mình, nhưng là phải biết chia sẻ, cảm thông, yêu thương.  Chờ Chúa đến không phải là lúc ta ngồi đó để than vãn, oán trách cho số phận mà là hãy sẵn sàng, tỉnh thức, cầu nguyện và làm việc bác ái trong Mùa Vọng này.

LM John Nguyễn

 

HÃY SẴN SÀNG

Vào một ngày của tháng 10 năm 1992, một số người Nam Hàn tụ tập ở các nhà thờ để chờ ngày tận thế đến vào lúc nửa đêm.  Có người đã bán nhà và xin nghỉ việc, nhưng dĩ nhiên đó không phải là ngày tận thế.  Kinh Thánh chẳng hề nói tận thế đến vào lúc nào.  Đức Giêsu cũng bảo là Ngài không biết (Mt 24,36).  Chính vì thế Kitô hữu không tin những lời đồn thổi, nhưng kiên tâm chờ đợi trong hy vọng.

zzĐây không phải là thứ nơm nớp chờ đợi, khoanh tay, nhưng là thứ chờ đợi bằng cách sống hết mình để chuẩn bị cho trái đất đón Chúa trở lại.

Mùa Vọng là thời gian đặc biệt để tập sống chờ đợi.  Không phải chỉ là chờ mừng lễ Giáng sinh mà nhất là chờ đợi Chúa đến kết thúc dòng lịch sử.

Ngày tận thế và ngày Chúa quang lâm là một.  Đó là một ngày đáng sợ, không phải vì những hiện tượng kinh khủng sẽ xảy ra, nhưng vì là ngày Chúa đến phán xét kẻ sống người chết.

Ngày đó còn là một ngày hội vui: ngày vui của Chúa Giêsu toàn thắng vinh quang, ngày vui của những người được cứu chuộc, ngày vui của cả vũ trụ vật chất được giải phóng.

Tận thế là cánh cửa mở ra trời mới đất mới.  Tất cả được đưa vào thế giới vĩnh cửu.

Có lẽ chúng ta hôm nay mong chờ Chúa đến ít hơn các Kitô hữu thuở ban đầu.  Chẳng ai thích nghĩ đến ngày tận thế.  Tận thế bị coi là chuyện tương lai xa vời.  Cuộc sống hiện tại có vô số mối lo âu và hy vọng: ăn uống, cưới vợ, lấy chồng, làm ruộng, xay bột.

Thật ra, nghĩ đến ngày tận thế cũng cần như nghĩ đến cái chết của mình.

Cái chết dạy người ta biết cách sống.  Ngày tận thế dạy người ta biết cách xây dựng thế giới trên nền tảng vĩnh cửu, trên những giá trị trường tồn.

Đối với Kitô giáo, ngày tận thế không phải là ngày buồn, ngày của hủy diệt và tang tóc, nhưng là ngày của thân xác được sống lại, ngày khai sinh một thế giới mới không bị hận thù và chết chóc đe dọa.

Ngày tận thế là ngày Chúa quang lâm.  Chúng ta phải sẵn sàng ra đón Ngài.  Sẵn sàng là cùng với Chúa xây dựng một trái đất đầy tình thương và công lý.  Sẵn sàng là biến trái đất thành con đường dẫn tới Thiên đàng.

Ngày Chúa quang lâm là một ngày bất ngờ, nhưng nó sẽ ít bất ngờ đối với những ai biết sẵn sàng chờ đợi.

**************************************

Lạy Chúa Giêsu, nếu ngày mai Chúa quang lâm, chắc chúng con sẽ vô cùng lúng túng.

Thế giới này còn bao điều khiếm khuyết, dở dang, còn bao điều nằm ngoài vòng tay của Chúa.

Chúa đâu muốn đến để hủy diệt, Chúa đâu muốn mất một người nào

Xin cho chúng con biết cộng tác với Chúa xây dựng một thế giới yêu thương và công bằng, vui tươi và hạnh phúc, để ngày Chúa đến thực là một ngày vui trọn vẹn cho mọi người và cho cả vũ trụ.

Xin nuôi dưỡng nơi chúng con niềm tin vững vàng và niềm hy vọng nồng cháy, để tất cả những gì chúng con làm đều nhằm chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại.

Trích từ “Manna”

 

MỘT MÙA LỄ TẠ ƠN

Có lẽ bạn đã nghe qua câu chuyện về ngày Lễ Tạ Ơn đầu tiên, nhưng có thể bạn không quen thuộc với cách nào mà nó đã mở rộng như một ngày lễ quốc gia.  Vào mùa thu năm 1621, những Người Hành Hương của Thuộc Địa Plymouth đã mời những người bạn Wampanoag của họ tới một bữa tiệc để cám ơn Thượng Đế cho một mùa gặt dư dật mà sẽ nuôi sống họ suốt mùa đông.  Chỉ vài tháng trước đây, mùa đông khắc nghiệt đầu tiên của họ ở Plymouth đã tàn phá những Người Hành Hương không chuẩn bị, giết hết phân nửa thuộc địa.  Bây giờ họ được tràn đầy với lòng biết ơn rằng mùa đông này khác hẳn.  Để ăn mừng mùa màng và thờ phượng Thượng Đế mà không có nỗi lo sợ của sự thất mùa, họ đã dùng ba ngày để ăn mừng và cầu nguyện.

Những Người Hành Hương đã lập lại tiệc ăn mừng mùa màng này vào những năm tiếp sau đó.  Truyền thống của lễ tạ ơn hằng năm đã zzhình thành và lan tràn khắp New England, và sau đó tới những thuộc địa khác.  Nhưng cho đến năm 1863, khi Tổng Thống Abraham Lincoln đã ban Lời Tuyên Ngôn của Lễ Tạ Ơn đã nhấn mạnh đến sự quan trọng của việc công nhận Thượng Đế như là Đấng cung cấp tất cả những ơn phước mỗi năm, do đó Lễ Tạ Ơn đã trở thành một ngày lễ hằng năm được công nhận toàn quốc.  Tổng thống đã bắt đầu bài diễn văn của ông bằng những lời sau đây:

“Một năm nữa lại sắp chấm dứt.  Chúng ta đi vào những ngày tháng cuối của năm nay với tràn đầy phước lành, với hoa quả của đồng ruộng và bầu trời an lành.  Ngoài những phước lành đó, chúng ta còn được nhiều phước lành khác, những ân phước lạ thường.  Những ân sủng lớn lao có thể thâm nhập hay đi thấu vào những tấm lòng vốn thờ ơ trước sự quan phòng và dẫn đắt kỳ diệu của Thiên Chúa Toàn Năng, và khiến những tấm lòng thờ ơ đó phải mềm đi.”

Ông Lincoln đã biết ơn bởi vì những sự kiện của năm đó đã xoay chuyển phong trào của Chiến Tranh Dân Chủ, và nó cuối cùng dường như một quốc gia bị gián đoạn lại thấy một cách giải quyết.  Giống như những Người Hành Hương, ông Lincoln đã thấy những lần khó khăn và muốn diễn tả thái độ của ông với Thượng Đế cho sự cung cấp cứu trợ.  Ông đã kết luận bằng cách qui ra ngày thứ Năm cuối cùng của tháng Mười Một là ngày quốc gia cho Lễ Tạ Ơn.

Truyền thống này đã được duy trì bởi hầu hết những vị tổng thống theo sau cho đến khi những người chủ kinh doanh trong thời-kỳ Khủng Hoảng đã yêu cầu ông Franklin D. Roosevelt để kéo dài mùa buôn bán cho Giáng Sinh bằng cách xem Lễ Tạ Ơn một tuần sớm hơn vào năm 1939.  Sau hai năm của Lễ Tạ Ơn sớm, sự lạm dụng công cộng đã làm cho Quốc Hội vào năm 1941 đã đưa ra quy luật củng cố ngày thứ Năm thứ tư của mỗi tháng Mười Một là ngày Lễ Tạ Ơn.

Trong mùa Lễ Tạ Ơn này, bạn nên cảm tạ Thượng Đế điều gì?  Câu trả lời là bất cứ điều gì và mọi điều.  Hãy cảm ơn Ngài cho gia đình của bạn, những người bạn của bạn, thức ăn bạn ăn và trần nhà che đầu bạn.  Nhưng quan trọng hơn hết, bạn có thể cám ơn Ngài vì món quà tuyệt vời là Chúa Giêsu Kitô.

Kinh Thánh nói với chúng ta rằng sự cứu rỗi không phải là một điều mà có thể tự chúng ta kiếm được, nhưng được ban cho chúng ta một cách nhưng không bởi Thiên Chúa “Chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa; cũng không phải bởi việc anh em làm, để không ai có thể hãnh diện.” (Ê-phê-sô 2:8-9).  Bởi vì chúng ta tất cả đều là những tội nhân, chúng ta không thể nào đến được với Thiên Chúa dựa vào những công lao của chính chúng ta, nhưng bởi vì tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta, Ngài đã ban cho chúng ta một con đường để chúng ta được cứu – qua sự chết và sự sống lại của Con Ngài, là Chúa Giêsu Kitô. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3:16).

Lạy Chúa, cám ơn Chúa vì tất cả những gì mà Ngài đã ban cho chúng con, cám ơn Chúa vì món quà đặc biệt là Người Con Duy Nhất Ngài đã ban cho thế gian.

*****************************************

Hãy cảm tạ Chúa khi quần áo bạn bị chật, vì điều đó chứng tỏ bạn không thiếu ăn.
Hãy cảm tạ Chúa khi bạn phải vất vả thu dọn sau một bữa tiệc, vì điều đó cho thấy bạn còn có bạn bè và người thân ở bên mình.
Hãy cảm tạ về số tiền thuế bạn phải đóng hàng tháng, vì chứng tỏ bạn không thất nghiệp.
Hãy cảm tạ khi bạn phải làm vườn, cắt cỏ, vì như thế là bạn đang sở hữu ngôi nhà mình ở.
Hãy cảm tạ khi bạn phải trả tiền sưởi trong mùa đông vì chứng tỏ bạn đã được sưởi ấm.
Hãy biết ơn Chúa khi bạn phải giặt giũ quần áo, vì như thế là bạn có dư quần áo để mặc.
Hãy cảm tạ Chúa khi bạn tìm được một chỗ đậu ở cuối bãi đậu xe, vì bạn còn có sức khỏe, có thể bước đi trên đôi chân của mình.
Hãy cảm tạ Chúa khi trong nhà thờ có người hát lạc giọng, vì nó cho thấy tai bạn vẫn còn bén nhạy.
Hãy cảm tạ Chúa khi có người phê phán phàn nàn chính quyền, vì chứng tỏ bạn đang được sống trong một xứ tự do, bạn có thể nói lên ý kiến của mình mà không sợ gì cả.
Hãy cảm tạ Chúa khi bạn bị đồng hồ đánh thức mỗi sáng, vì điều đó chứng tỏ là bạn vẫn còn sống.

Sưu tầm

SỐNG LÀ CHUẨN BỊ CHẾT

Suy tư về cái chết là suy tư về cái sống.  Chết là một phần của sự sống bỡi lẽ trong sự sống đã có sự chết.  Nó là cánh cửa nối liền hai thế giới như cửa sông đưa giòng nước vào nguồn biển rộng mênh mông.  Nó là người bạn trung thành nhất của chúng ta.  Nó là người bạn duy nhất không bao giờ quên chúng ta và nó có thể đến viếng thăm chúng ta bất cứ lúc nào, vào sáng sớm tinh sương hay vào lúc đã về xế chiều.

Chúng ta không cần nói đến những cái chết đến với chúng ta từ những nguyên nhân bên ngoài như do tai nạn, sự mưu sát, hay một nguyên nhân nào khác không cần biết.  Chỉ cần nói đến sự chết đang nằm sẵn trong bản tính con người chúng ta.  Như một hoa trái zzđang chín dần, mỗi ngày sống là một bước đi chúng ta đang tiến dần về với cái chết đang chờ đợi mỗi người chúng ta.  Bên cạnh đó, trong cuộc sống hằng ngày cũng còn có rất nhiều những mất mát, những thua thiệt khiến chúng ta cũng đã chết đi phần nào trong con người chúng ta như mỗi khi chúng ta phải lựa chọn hay mỗi khi phải ra đi.  Mỗi lúc lựa chọn là mỗi lúc phải quyết định từ bỏ.  Từ bỏ khiến chúng ta phải mất đi một phần những cái thuộc về chúng ta và điều đó làm chúng ta đau khổ và chết đi không ít.  Mỗi khi chúng ta phải lên đường ra đi vì công việc hay vì cuộc sống cũng vậy.  Chúng ta phải dứt bỏ tình cảm quen thuộc, dứt bỏ sự quyến luyến tự nhiên mà một khi đã quen nhau chỉ muốn ở gần nhau.  Sự ra đi lúc nầy quả thật là một sự thương đau và cũng là một sự chết đi trong lòng không ít cho người phải ra đi, vì không có ra đi nào không làm lòng mình tê tái, cũng không có ra đi nào không để lại nỗi nhớ thương.  Nhưng chưa hết, không phải chỉ lúc chúng ta ra đi chúng ta mới cảm thấy đau thương mà cả sự ra đi của những người thân yêu chúng ta cũng để lại những cảm giác thương đau rất nhiều.  Mỗi người chúng ta thảy đều có kinh nghiệm nầy: cứ mỗi lần có một người bạn thân hay một người trong gia đình chúng ta vĩnh viễn ra đi, chúng ta thấy gì trong con người chúng ta?  Chúng ta cảm thấy con người chúng ta cũng chết đi với họ, bằng chứng là chúng ta thấy mất hẳn sinh lực, mất hẳn tinh thần, cũng như mất hẳn niềm vui để sống.

Cứ theo định luật tự nhiên, con người được sinh ra, lớn lên, già đi và chết.  Đó là định luật chung của con người.  Không ai có thể sống mãi mà không chết ngay dầu các vua chúa ngày xưa đã cố gắng đi tìm thuốc trường sinh bất tử nhưng họ cũng không tránh khỏi định luật khắc nghiệt ấy.  Vì thế, chối từ sự chết là lừa dối chính mình.  Để sống cách trọn vẹn, người ta phải can đảm chấp nhận sự sống lẫn sự chết.  Sự sống quá tự nhiên đến nỗi chúng ta không nghĩ đến ngày nó kết thúc.

Thái độ của con người đối với sự chết luôn là một sự giằng co giữa sự lôi cuốn và sự khước từ.  Mọi người đều nhận ra rằng sự sống là mỏng manh, là ngắn ngủi và nó có thể kết thúc bất cứ lúc nào.

Chính những tư tưởng về sự chết đưa chúng ta đến vấn nạn nầy: Cái gì là chính yếu, là trường cửu đối với con người chúng ta?  Chúng ta cần phải làm gì để đối đầu với cái chết đang đến với chúng ta?  Vì thế, phản ảnh về sự chết là học cách chúng ta phải sống hôm nay.

Người xưa đã sống đời sống như có một sự sống khác quan trọng hơn là cuộc sống ở đây và bây giờ, khiến họ sống cách xa cuộc sống hiện tại.  Nhưng đối với giới trẻ hôm nay, họ không thể chấp nhận cuộc sống như thế.

Thật vậy, nếu chối từ cuộc sống chúng ta đang sống hiện tại hoặc chỉ chú trọng đến cuộc sống hôm nay mà không nghĩ đến ngày mai chúng ta sẽ chết, cả hai đều không thực tế.  Vì thế, một số các nhà tâm lý học có khuynh hướng KiTô giáo hiện đại đang có khuynh hướng nầy: Sống là chuẩn bị cho con người đi về với cái Chết.  Chính tư tưởng nầy đã giúp rất nhiều người thoát khỏi khủng hoảng trầm trọng khi con người đối diện với cái chết, và nhờ đó cũng đã giúp nhiều người chuẩn bị sẵn sàng để lên đường ra đi cách an bình về với Thiên Chúa và về với những người thân yêu của họ bên kia thế giới.  Cũng chính những tư tưởng nầy đã giúp rất nhiều nhà giàu sang phú quí thực thi đức bác ái, biết dùng của cải đời nầy để mua lấy nước trời bằng cách chia xẻ phần nào những của cải của họ cho những người nghèo khổ và nhờ thế nhiều người bất hạnh đã có được một đời sống tương đối xứng đáng với phẩm giá con người hơn.

Nói đến đây, tôi nhớ đến câu chuyện về hành vi thiếu bác ái của một người bạn đồng nghiệp của tôi. Câu chuyện xem ra quá bình thường nhưng đã để lại một ký ức không mấy tốt đẹp cũng như đã để lại một sự hối hận suốt đời cho người bạn già của tôi.  Hy vọng nó có thể giúp chúng ta có thêm kinh nghiệm sống cho những ngày còn lại của chúng ta trên trần gian nầy.

Trong chuyến du hành sang Hy Lạp, trên con đường từ Athens đến Kalambaka, người bạn già của tôi đã kể cho tôi nghe câu chuyện của ông như sau:

Chiều hôm đó, khi đi ngang qua một làng nhỏ của người da đen trong sa mạc Sahara.  Như thường lệ, khi có một người khách đến, mọi người trong làng chạy ra vây bao quanh xe khách hoặc tò mò, hoặc để giành lấy những thực phẩm mà du khách thường mang theo để tặng họ.  Hôm đó, tôi có nhìn thấy một ông lão già đang run lập cập vì lạnh.  Nói về cái lạnh trong sa mạc xem ra là khó tin nhưng thực tế là thế.  Sahara thường được gọi là xứ lạnh vào đêm nhưng rất nóng dưới ánh quang mặt trời.  Mặt trời lặn rồi, ông lão lạnh cóng.  Bấy giờ, tôi có ý nghĩ cho ông ta một trong những chiếc mền của tôi, nhưng tôi lại để tư tưởng đó qua đi vì tôi nghĩ đêm đến tôi cũng sẽ cóng lạnh như vậy.  Dầu tôi lý luận: ông có thể quen với thời tiết ở đây hơn tôi, nhưng một chút bác ái trong tôi cũng đã khiến tôi suy nghĩ lần nữa, tốt hơn là cho ông ta một chiếc dẫu tôi có lạnh hơn một chút.  Tuy vậy, khi tôi rời bỏ ngôi làng, những chiếc mền vẫn còn nằm nguyên vẹn trên chiếc xe của tôi.  Bấy giờ, lương tâm tôi bắt đầu cắn rứt.

Khi đến nơi tôi có ý định đến, tôi rảo một vòng đi tìm một chỗ để yên nghỉ và tôi đã tìm được một nơi vừa ý thích.  Tôi cố gắng nằm yên tựa chân lên một hòn đá lớn, nhưng rồi tôi vẫn không yên tâm được. Tôi nhớ cách đó một tháng, một người da đen đã bị nghiền nát bởi một tảng đá to rơi xuống.  Nên tôi đã ngồi dậy để xem tảng đá chỗ tôi đang nằm có bảo đảm không.  Tôi thấy nó không được cân bằng cho lắm nhưng không đến nỗi nguy hiểm.

Tôi lại nằm xuống.  Nếu tôi kể lại điều mà tôi mơ thấy, có lẽ bạn sẽ cảm thấy lạ lùng.  Điều đáng buồn cười là tôi mơ thấy tôi đang ngủ dưới một hòn đá lớn và rồi vào một lúc, tôi thấy hòn đá di động và rơi xuống trên tôi.  Tôi nghe thấy tiếng xương kêu răng rắc và tôi cảm thấy mình sắp chết vì cả thân xác bị nghiền nát dưới tảng đá ấy.  Nhưng tôi ngạc nhiên vì không cảm thấy mình đau đớn gì cả, chỉ có một điều là không thể cử động được.  Bấy giờ tôi thấy ông lão đang run rẩy trước mặt tôi.  Không do dự một chút nào cả, tôi vội vàng lấy ngay một chiếc mền không được dùng đến đang nằm đàng sau tôi để trao cho ông.  Tôi cố gắng giang tay ra để đưa nó cho ông.  Nhưng viên đá khổng lồ ấy khiến tôi ngay cả một cử động nhỏ cũng không thể làm được.  Tôi sợ quá nên chợt tỉnh giấc.  Chính cơn ác mộng ấy đã giúp tôi suy nghĩ và hiểu được luyện ngục là gì, cũng như đã hiểu được nỗi khổ đau của các linh hồn là không còn có thể làm được điều mà trước đây họ có thể và lẽ ra nên làm.

Có ai biết được bao nhiêu năm trời sau đó tôi cứ phải bị ám ảnh và ray rứt trong lương tâm mỗi khi nhìn thấy chiếc mền như một bằng chứng cho sự ích kỷ của tôi cũng như cho sự chưa đủ trưởng thành của tôi để vào nước của Tình Yêu?

Tôi cố gắng nghĩ đến bao lâu tôi đã phải ở dưới hòn đá khổng lồ ấy?  Và có sự đáp trả cho tôi rằng cho đến khi tôi có thể làm được một hành động của tình yêu trọn vẹn.  Bấy giờ, tôi cảm thấy mình hoàn toàn bất lực.

Tôi đưa mắt hướng nhìn đi nơi khác và tôi đã nhìn thấy những bia đá đang nằm trước mặt tôi không gì khác hơn là những nấm mồ của những người đã nằm xuống.  Họ cũng vậy, cũng bị xét xử theo hành động trọn vẹn của tình yêu của họ, và giờ đây họ nằm ở đó đang mong chờ Vị Cứu Thế đến giải cứu họ trong ngày sau hết.

Hành động trọn vẹn của tình yêu là gì?  Là Chúa Giêsu đi lên đỉnh đồi Calvê để chết cho hết thảy chúng ta.  Như những phần tử của nhiệm thể, chúng ta cũng sẽ được hỏi để cho thấy chúng ta có đủ tình yêu trọn vẹn ấy để theo Ngài lên đỉnh đồi Calvê không?  Sự khước từ làm những việc bác ái cho những người anh em chúng ta nói lên cho chúng ta thấy rằng chúng ta còn có cả một con đường dài nữa phải đi.  Nếu chúng ta đã có thể đi qua một người anh em đang run rẩy vì lạnh, một người anh em đang gặp hoạn nạn bên vệ đường, làm cách nào chúng ta có thể dám chết đi cho những người anh em khác như Chúa đã chết đi cho hết thảy chúng ta.

Nếu chúng ta không muốn nằm lâu bất động dưới những viên đá khổng lồ đó thì bây giờ ngay khi còn sống, hãy làm những gì chúng ta có thể làm được cho những người anh em chúng ta để làm hành trang chuẩn bị sẵn sàng cho ngày Chúa gọi chúng ta lên đường về bên kia thế giới.

LM Lê Văn Quảng