XIN NHỚ ĐẾN TÔI

“Đáng lẽ tôi đã được rửa tội từ lâu, nhưng vì vấn đề gia đình và làng xóm nên chưa được.  Dù vậy tôi rất ư là kitô hữu.”  Đó là lời của nhạc sĩ Văn Cao trong một cuộc gặp gỡ riêng tư năm 1990.  Cụ đã sung sướng khoe với mọi người như thế, và thẳng thắn nhìn nhận: “Chúng tôi đã được đào tạo, nhờ đức tin và âm nhạc Kitô giáo.”  “Chúng tôi” ở đây muốn ám chỉ giới trí thức và văn nghệ sĩ thế hệ của cụ.  Đức tin đã thấm vào con người tài hoa ấy, và làm sản sinh những tác phẩm bất hủ.

“Nếu tôi không hiểu Halêluia là gì, thì đã chẳng có bài “Làng tôi”, cụ bảo vậy.  Chẳng ai ngờ Văn Cao lại là con người say mê Giêsu, mà là Giêsu trên thánh giá.  Từ năm 1954, cụ vẫn treo một thánh giá trước mặt.  Giêsu trần trụi, Giêsu không còn gì.  Nhưng đối với Văn Cao, có ai hơn Giêsu?

zzBài Tin Mừng trong lễ Chúa Giêsu Vua vũ trụ lại đưa ta về với Chúa Giêsu trên thập giá.  Chẳng lúc nào Chúa làm vua rõ bằng lúc này. “Đây là vua người Do thái”, tấm bảng ghi như thế.  Nhưng kiểu làm vua của Ngài thật khác thường.  Không có vương miện, chỉ có vòng gai.  Không có cẩm bào, chỉ có trần trụi nhơ nhuốc.  Không có câu tán tụng, chỉ có lời nhạo báng khinh chê.  Bị treo trên thập giá, Đức Giêsu nghe những lời mời mọc, ngọt ngào và tinh vi như các cơn cám dỗ buổi đầu.  “Nếu ông là Đức Kitô thì hãy cứu lấy mình”. “Hãy xuống khỏi thập giá” (Mt 27,40).  Cứu lấy mình là điều Ngài chẳng hề nghĩ đến.  Chính vì Ngài thật là Con của Cha, nên Ngài không tự ý xuống khỏi thập giá như xưa Ngài đã từ chối nhảy xuống từ nóc Đền Thờ.

Đức Giêsu không muốn chúng ta tin Ngài vì những màn trình diễn ngoạn mục.  Ngài muốn chúng ta tin, vì Ngài đã buông mình cho Cha, đón nhận cái chết với niềm vâng phục tín thác.  Chính vào lúc hấp hối, mọi sự tưởng như sụp đổ, vị Vua bị đóng đinh lại hé lộ vương quyền của mình cho anh trộm lành có lòng thống hối, tin tưởng.  “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.”  Như thế kẻ gian phi lại là người đầu tiên được ơn cứu độ nhờ cái chết thập giá của Đức Giêsu.

Mừng lễ Chúa Giêsu Kitô Vua vũ trụ, chúng ta muốn khước từ những thần tượng giả mạo, muốn để Ngài làm vua của vũ trụ lòng mình.  Chúng ta muốn đưa Ngài đi vào mọi lãnh vực cuộc sống: văn chương, khoa học, nghệ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội…  Cần có đức tin mạnh mẽ mới thấy Chúa Giêsu vẫn không ngừng lôi kéo cả thế giới về với Ngài bằng trăm ngàn nẻo đường bất ngờ, trong đó có nẻo đường của cụ Văn Cao và anh trộm lành.

*************************************

Lạy Chúa Giêsu, Vua vũ trụ nếu Chúa là vua của hơn bốn trăm ngàn linh mục, nếu Chúa là vua của hơn tám trăm ngàn nữ tu, nếu Chúa là vua của một tỉ người công giáo, thì thế giới này sẽ đổi khác.

Chúng con không phải là một lượng men quá nhỏ.

Nếu khối bột chẳng được dậy lên, thì là vì men đã mất phẩm chất.

Chúng con phải chịu trách nhiệm về sự dữ trên địa cầu, có nhiều sự dữ do chính chúng con gây ra.

Chúng con chỉ kêu cầu cho Nước Chúa mau đến, nhưng lại không chịu xây dựng Nước ấy trên trần gian.

Lạy Chúa Giêsu Vua vũ trụ, chúng con thường cố ý thu hẹp vũ trụ của Chúa, giữ chặt Chúa ở trong nhà thờ, nên nhiều nơi vẫn vắng bóng Chúa, dù Chúa đã đến trái đất này từ 2000 năm.

Chúng con sợ Chúa đến làm phiền chúng con, và không cho chúng con được yên ổn.

Ước gì một tỉ người Công giáo chịu để Chúa chi phối đời mình và đưa Chúa đi vào những nơi Chúa chưa hề đến.  Như thế vũ trụ này trở thành vũ trụ của Thiên Chúa.

Sưu Tầm

THIÊN ĐÀNG – LUYỆN NGỤC & HỎA NGỤC

Đối với niềm tin vào Thiên Đàng – Luyện Ngục và Hỏa Ngục, người ta thường có ba thái độ:

Cứng lòng tin:  Chẳng có Thiên Đàng, cũng chẳng có Luyện Ngục hay Hỏa Ngục như Giáo Hội Công Giáo dạy! Có chăng là có Thiên Đàng nơi trần thế này mà thôi! Chết là hết, là kết thúc, xuôi tay nhắm mắt xong là hết đau khổ, hết lo lắng và hết … nợ đời!

Chính vì không tin vào thực tại của Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục ở đời sau, cho nên họ như những con thiêu thân chỉ biết lao đầu vào ăn chơi, hưởng thụ, trác táng, hút sách, phạm pháp, làm những việc vô luân thường đạo lý… Và cuối cùng khi chán ngán cuộc đời này, khi họ chán sống rồi thì … tự tử. Chấm hết!

Tin vào Chúa nhưng tin một cách lệch lạc: Tin vào Thiên Chúa và chỉ tin có Thiên Đàng mà thôi! Luyện Ngục và Hỏa Ngục không thể có được bởi vì Thiên Chúa là Tình Yêu (1 Ga 4:16), Ngài không bao giờ dựng nên những thứ khủng khiếp ấy để trừng phạt hay hành hạ con cái của Ngài. Luyện Ngục và Hoả Ngục là những thứ mà Giáo Hội dựng nên để hù dọa người ta mà thôi!  Vì không tin có Luyện Ngục và Hoả Ngục cho nên họ chẳng quan tâm gì đến việc đọc kinh xin lễ, và làm việc hy sinh, hãm mình … để cầu nguyện cho những người đã qua đời. “Tất cả những ai tin vào danh Đức Giê-su và chịu phép Rửa Tội thì chắc chắn được cứu rỗi, vậy cầu nguyện, đọc kinh, tham dự Thánh Lễ, hy sinh cho người quá cố để làm gì? Vô ích! Tốn thời giờ” Họ dùng Thánh Kinh để lý luận như vậy!

Tin nhưng lờ mờ: Những người thuộc nhóm này thì tin vào những lời giáo huấn của Giáo Hội về sự sống đời sau, tin chắc chắn có Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục, nhưng chẳng bao giờ họ hiểu rõ và hiểu đúng về thực trạng của Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục cả. Họ cũng chẳng hiểu Giáo Hội Công Giáo gồm có BA THÀNH PHẦN và sự liên đới chặt chẽ, và mối liên quan mật thiết giữa ba thành phần này trong Giáo Hội.  Còn bạn?  Bạn thuộc nhóm nào vậy? Tôi hy vọng là bạn không thuộc vào nhóm thứ nhất và thứ hai! Nếu bạn thuộc vào một trong hai nhóm này thì… Amen! Chỉ có Chúa Thánh Thần mới giúp bạn được thôi!

Còn nếu bạn thuộc vào nhóm thứ ba thì trong ngày lễ Các Thánh và lễ Các Linh Hồn hôm nay, mời bạn hãy cùng với tôi học hỏi và tìm hiểu sâu hơn về thực trạng của Thiên Đàng – Luyện Ngục và Hỏa Ngục, về BA THÀNH PHẦN của Giáo Hội và sự liên đới chặt chẽ, và mối liên quan mật thiết giữa ba thành phần này.

Rất nhiều người, trong đó có tôi, và không chừng có cả bạn nữa, đã từng nghĩ hay vẫn còn đang nghĩ Thiên Đàng – Luyện Ngục và Hỏa Ngục là những nơi chốn (places):

Thiên Đàng là một nơi trên trời cao, ở đó không có đau khổ, không có nước mắt mà chỉ có vui vẻ, hạnh phúc, hoan lạc, bình an và yêu thương. Ở trên Thiên Đàng các Thánh và các Thiên Thần suốt ngày suốt đêm chỉ ca hát, tán tụng và ngợi khen Thiên Chúa…

Luyện Ngục là một trại chuyển tiếp, một nơi tạm giam, nơi đây người ta phải chịu nóng nảy, chịu đau khổ, có cả cực hình nữa để chờ hễ mãn hạn thì được chuyển lên Thiên Đàng.

Hỏa Ngục là một nơi sâu thẳm trong lòng đất, ở đó là nơi giam giữ đời đời những kẻ ác, những người không có passport vào Thiên Đàng hay Luyện Ngục. Nơi đây xăng dầu vừa nhiều, vừa rẻ, cho nên Sa-Tan và ma quỷ tha hồ dùng để thiêu đốt và trừng phạt những thường trú nhân ở trong vương quốc của chúng.

Nếu bạn đã từng nghĩ như tôi hoặc vẫn còn đang nghĩ Thiên Đàng – Luyện Ngục và Hỏa Ngục là những nơi chốn thì sai rồi!  Bạn cứ mở cuốn Toát Yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo do Đức Giáo Hoàng Benedictô soạn thảo thì sẽ thấy quan niệm về NƠI CHỐN của Thiên Đàng – Luyện Ngục và Hỏa Ngục như là những NƠI CHỐN là sai!

zzThiên đàng là tình trạng hạnh phúc tối thượng và vĩnh viễn. Ai chết trong ân sủng của Thiên Chúa và ai không cần bất cứ sự thanh luyện cuối cùng nào, sẽ được qui tụ quanh Chúa Giêsu và Đức Maria, các thiên thần và các thánh … được chiêm ngắm Thiên Chúa “mặt giáp mặt” ( 1 Cr 13,12) … sống trong sự hiệp thông tình yêu với Chúa Ba Ngôi và chuyển cầu cho chúng ta (Toát Yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo # 209).

Luyện ngục là tình trạng của những người chết trong tình thân với Thiên Chúa, nhưng, dù đã được đảm bảo ơn cứu độ vĩnh cửu, họ còn cần thanh luyện trước khi được hưởng hạnh phúc thiên đàng (Toát Yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo # 210).

Hoả ngục là [tình trạng] xa cách đời đời khỏi Thiên Chúa.… Đức Kitô diễn tả thực tại hoả ngục bằng những lời này: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời” (Mt 25:41) (Toát Yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo # 212).

Hy vọng bạn sẽ không bao giờ nghĩ rằng Thiên Đàng – Luyện Ngục và Hỏa Ngục như là những NƠI CHỐN nữa!

Bây giờ chúng mình tiếp tục tìm hiểu về mối liên hệ chặt chẽ giữa các thành phần trong Giáo Hội nhé! Nói về BA THÀNH PHẦN trong Giáo Hội: Giáo Hội Chiến Thắng, Giáo Hội Ðền Bù và Giáo Hội Lữ Hành, sách Toát Yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo # 195 dạy rằng:  Một số còn lữ hành trên trần gian; một số khác, đã rời bỏ đời này, hiện đang được thanh luyện, và cũng được trợ giúp bằng lời cầu nguyện của chúng ta; sau hết, một số khác nữa, đã được hưởng vinh quang Thiên Chúa và đang chuyển cầu cho chúng ta.  Tất cả cùng nhau làm thành một gia đình duy nhất trong Đức Kitô, là Hội thánh, để ca ngợi và tôn vinh Chúa Ba Ngôi.

Bạn thấy mối quan hệ rất chặt chẽ và tình liên đới mật thiết giữa chúng mình với các linh hồn nơi Luyện Ngục và với các Thánh ở trên Thiên Đàng chưa? Các linh hồn thuộc Giáo Hội Đền Bù hoàn tất giai đoạn thanh luyện chậm hay mau là nhờ vào sự cầu nguyện, hy sinh, hãm mình, thánh lễ, Kinh Mân Côi… của những người thuộc về Giáo Hội Lữ Hành, tức là chúng mình, những người còn sống ở trần gian.  Sau khi hoàn thành quá trình thanh luyện, các linh hồn được vào Thiên Đàng, lúc này các Ngài thuộc Giáo Hội Chiến Thắng sẽ cầu bầu, giúp đỡ cũng như chuyển cầu cùng Chúa cho chúng ta.

Nếu hôm nay bạn đã hiểu đúng về Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục và nhận ra mối liên hệ chặt chẽ và mật thiết giữa ba thành phần trong Giáo Hội thì tôi đề nghị với bạn hãy giúp đỡ các linh hồn nơi luyện ngục, bằng cách dâng lời cầu khẩn, đặc biệt là Thánh lễ, và cả những việc bố thí, ân xá và những việc hãm mình để cầu cho họ (Toát Yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo # 211).

Bạn có muốn con cháu, bạn bè, thân thuộc và tha nhân làm những việc như hy sinh, xin lễ, đọc kinh, lần hạt Mân Côi, Viếng Thánh Thể, cầu nguyện … cho bạn sau khi bạn nhắm mắt từ giã cõi đời này và nhất là khi bạn bị kẹt ở trong trại chuyển tiếp PURGATORY không? Nếu muốn thì tôi mạn phép đề nghị với bạn những công việc nhỏ bé sau:  Xin lễ, tham dự Thánh Lễ, xưng tội, rước Lễ, lần hạt Mân Côi, Chầu Thánh Thể … để cầu nguyện cho các linh hồn đã ra đi trước chúng ta …  Hy sinh, hãm mình, không mua những đồ xa xỉ phẩm, một gói thuốc lá, một chai rượu, một két bia, một bữa ăn ở nhà hàng… để dành tiền giúp cho các cơ quan từ thiện, trại cùi, các trẻ em khuyết tật…  Hy sinh không cãi lại cha mẹ, không nóng giận và kiên nhẫn với những người chung quanh.  Chăm sóc, quan tâm đến ông bà, cha mẹ hoặc đi thăm viếng người già, những người đau yếu, tật nguyền, kém may mắn…

“Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy” (Lc 6:31). Hy sinh, xin lễ, đọc kinh, lần hạt Mân Côi, Viếng Thánh Thể, cầu nguyện … cho các linh hồn là chúng mình đang làm cho chính chúng ta đấy!

LM Ansgar Phạm Tĩnh

 

SỐNG CHỨNG NHÂN TIN MỪNG

zzHôm nay Giáo Hội Việt Nam hân hoan và hãnh diện mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam vì 3 lý do:

– Hân hoan và hãnh diện vì các thánh là người Việt Nam, không gì vui mừng và hãnh diện, tự hào hơn, khi đất nước ta có những vị thánh góp mặt với Giáo Hội toàn cầu.

– Hân hoan và hãnh diện vì số lượng đông đảo các Thánh Việt Nam. Với 117 vị Thánh. Giáo Hội Việt Nam được xếp nhất nhì trong Giáo Hội hoàn vũ về số lượng các Thánh.

– Hân hoan và hãnh diện vì các Ngài là những chứng nhân anh hùng quả cảm.

Đọc lại tiểu sử các Ngài ta không khỏi cảm phục đức tin kiên cường của các Ngài. Vì trung thành với Chúa, các Ngài đã cam chịu thiệt thòi trong đời sống, mất hết chức quyền danh vọng và nhất là phải chịu muôn ngàn khổ hình, chịu mất mạng sống vì đức tin.

Có những vị như thánh Hồ đình Hy, làm quan lớn trong triều đình. Quan Án Phạm trọng Khảm, là những vị có chức có quyền trong xã hội đã thà mất chức quyền, mất danh vọng hơn mất đức tin. Vì Chúa, các Ngài không những đã sẵn sàng từ bỏ mọi quyền lợi trong xã hội mà còn sẵn sàng chịu mất mạng sống.

Có những vị như thánh Lê thị Thành, thân phận phụ nữ yếu ớt, gánh nặng gia đình, nhưng cũng đã sẵn sàng chịu mọi cực hình để minh chứng tình yêu đối với Đức Giêsu Kitô.

Có những vị đầu xanh tuổi trẻ như Tôma Thiện, Phaolô Bột, mười mấy tuổi đầu, tương lai còn dài, đường đời còn nhiều hứa hẹn. Nhưng các Ngài đã cương quyết khước từ tất cả, dâng hiến tuổi thanh xuân cho đức tin chân chính.

Là người Công Giáo Việt Nam. Chắc chắn mỗi khi đọc lại tiểu sử các Ngài, ta cảm thấy một dòng máu hào hùng trào dâng trong huyết quản. Bị cuốn hút bởi cuộc sống và cái chết cao đẹp, anh dũng của các Ngài, có lẽ ta cũng có đôi lần ao ước được như các Ngài: Sống cao đẹp, chết anh dũng.

Làm sao ta có thể có được cái chết cao đẹp như các Ngài. Ngày nay đâu còn cảnh cấm đạo, bắt đạo, giết người có đạo như thời vua quan ngày xưa. Ngày nay ta không còn hy vọng chết vì đạo. Ta chỉ còn một cách bắt chước, noi gương các vị tiền nhân anh hùng, đó là sống vì đạo.

Ngày nay, ta ít gặp những khốn khó như bị bắt bớ giam cầm, giết chết vì đạo. Nhưng để sống đạo trong xã hội hôm nay, ta gặp không ít khó khăn. Xin kể ra 2 khó khăn tiêu biểu.

Khó khăn thứ nhất đó là chủ nghĩa cá nhân ngày càng phát triển. Ai cũng muốn thăng tiến bản thân và gia đình của mình. Ai cũng lo làm ăn. Học hành, xây dựng cho bản thân. Cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Những nhu cầu của bản thân ngày càng nhiều. Rõ ràng là ngày nay người ta kiếm được nhiều tiền hơn trước, có nhiều tiện nghi hơn trước, xe cộ tốt hơn, nhà cửa đẹp hơn. Nhưng chưa bao giờ người ta thấy thỏa mãn, đầy đủ. Vì thế càng ngày người ta càng đóng kín vào bản thân, không có thời giờ nghĩ đến người khác. Trong khi đó những người nghèo thì càng nghèo hơn, những người yếu càng mệt hơn, những người bệnh càng khổ hơn. Họ không đủ sức chạy theo cuộc tranh đua quyết liệt của chủ nghĩa cá nhân. Họ bị đẩy lùi ra phía sau. Họ bị gạt ra ngoài lề xã hội. Để lựa chọn sống theo Phúc Âm, để trung thành với Lời Chúa dạy, ta phải bỏ quên một phần thân mình, gia đình mình để nghĩ đến, giúp đỡ, vực dậy những anh em kém may mắn. Đó là điều không dễ.

Khó khăn thứ hai là kinh tế thị trường ngày càng phát triển. Đồng tiền đang trở thành một thước đo gía trị con người. Đồng tiền đang trở thành một quyền lực chi phối toàn bộ đời sống con người. Ai cũng muốn có nhiều tiền, và để có nhiều tiền, nhiều người đã không từ chối một phương cách nào: lường gạt, lừa đảo, làm hàng gỉa, buôn thuốc phiện, tham nhũng, hối lộ. Tiền bạc quả là một cơn cám dỗ đang làm chao đảo thế giới, tàn phá những giá trị, biến chất con người.

Đứng trước nhu cầu và ham mê tiền bạc, người Công Giáo muốn trung thành với Phúc Âm, muốn sống trọn vẹn đức tin, bắt buộc phải có sự lựa chọn. Thà cam chịu nghèo khổ còn hơn nhận những đồng tiền phi nhân bất nghĩa. Thà cam chịu thiếu thốn còn hơn đánh mất đức tin. Thà lao động cực khổ để kiếm miếng cơm manh áo chân chính hơn là chạy theo những đồng tiền dễ dãi để chối từ Phúc Âm và Luật Chúa.

Quả thực xã hội mới, đang tạo ra những cơn bắt bớ mới. Để trung thành với Chúa, với Phúc Âm ta cũng phải lực chọn quyết liệt. Những chọn lựa đó làm cho chúng ta đau đớn không kém gì những khổ hình. Những hy sinh vì Phúc Âm đó cũng khiến lòng ta rỉ máu không kém gì chịu tử hình. Các Thánh tử đạo chỉ chọn lựa một lần. Còn chúng ta chết mòn mỏi mỗi ngày trong những chiến đấu, những từ bỏ đớn đau. Sống Phúc Âm trong thời đại mới đúng là một cuộc tử đạo liên tục.

Sống vì đạo như thế cũng cao đẹp và anh hùng không kém gì chết vì đạo. Sống vì đạo như thế, ta cũng góp phần làm chứng nhân cho Chúa, cho Phúc Âm không kém gì chết vì đạo.

Lạy các Thánh Tử Đạo Việt Nam, xưa các Ngài đã anh dũng hy sinh cuộc đời, dâng hiến máu đào làm chứng cho Phúc Âm. Xin giúp chúng con hôm nay cũng biết can đảm, hy sinh sống theo Phúc Âm để làm chứng cho Chúa trong đời sống hằng ngày. Amen.

TGM Ngô Quang Kiệt

CHỜ ĐỢI CHÚA TRONG NIỀM TIN

Bạn có kinh nghiệm động đất bao giờ chưa? Ở những nơi có động đất người ta kinh hãi vô cùng.

Trong một làng kia, khi một trận động đất lớn xảy ra, gây thiệt hại nhiều về nhà cửa và nhân mạng.  Có một người đàn bà trong làng vẫn tỏ ra bình thản.  Mấy người láng giềng của bà rất ngạc nhiên và hỏi:

–   Sao chị có vẻ bình tĩnh như vậy? Chị có bí quyết nào cho chúng tôi biết với. Vì sao chị không lo sợ gì cả?

Bà ấy trả lời:

–   Không! Tôi chẳng có bí quyết gì đâu.  Tôi chỉ mừng là tôi có Chúa, Ðấng quyền uy có thể làm rung chuyển cả quả đất này.

*****************************

Bạn thân mến, Trong năm vừa qua, hàng ngàn người đã thiệt mạng bởi những tai ương hoạn nạn xẩy ra đó đây trên thế giới. Có nhiều người cho rằng đây là những dấu hiệu của ngày tận thế sắp xẩy ra trongzz một ngày gần đây.  Vì Chúa đã nói khi ngày tận thế đến, “sẽ có những trận động đất lớn mọi nơi, sẽ có ôn dịch đói khát, những hiện tượng kinh khủng từ trên trời và những điềm lạ cả thể” (Lc 21:11). Điều này khiến cho lòng chúng ta phải băn khoăn và tự vấn, phải chăng ngày tận thế đã đến gần? Nhưng trong thực tế, chúng ta sẽ không bao giờ biết rõ ngày giờ Chúa đến, như Lời Chúa đã phán: “Về ngày giờ ấy không ai biết, kể cả thiên thần trên trời, và cả Con Người nữa, chỉ Thiên Chúa Cha biết” (Mt 24:36)

Nghĩ đến ngày tận thế, nhiều người cảm thấy rùng mình kinh khiếp.  Cũng trong đoạn Phúc âm hôm nay, Chúa nói: “Khi anh em nghe có chiến tranh, loạn lạc thì đừng sợ hãi” (Lc 21:9). Chúa luôn luôn biết chúng ta suy tưởng và cảm nghĩ gì; Ngài biết chúng ta đang sống trong tình trạng lo lắng và sợ hãi. Nỗi lo lắng băn khoăn về tương lai là một chuyệt rất tự nhiên. Theo lẽ thường, bất cứ điều gì chúng ta không thể nắm chắc trong tầm tay đều làm cho chúng ta cảm thấy băn khoăn lo lắng. Trong tâm tư chúng ta có thể có những khúc mắc về tương lai như: Tận thế bao giờ đến ? Nếu ngày tận thế đến, tôi có sẳn sàng chưa?…v.v. Chúng ta không nên lo lắng sợ sệt ngày Chúa đến, nhưng ngược lại hãy nên rộng mở cánh cửa tâm hồn để sẳn sàng đón Chúa. Nếu chúng ta sống trong tâm tình phó thác cậy trông vào sự quan phòng của Thiên Chúa thì không có điều gì đáng cho chúng ta phải lo ngại. Quá khứ, hiện tại, và tương lai của chúng ta đều nằm trong vòng tay yêu thương quan phòng của Thiên Chúa.

Lo lắng để dọn mình sẵn sàng cho ngày Chúa đến là điều cần thiết và rất quan trọng; vì Chúa đã nói: “Vậy các ngươi hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày giờ Chủ các ngươi đến. Hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm sẽ vào, hẳn ông đã tỉnh thức và không để chúng đào ngạch khoét vách nhà ông. Vì thế các ngươi cũng vậy, hãy sẵn sàng vì vào chính giờ các ngươi không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24:42-44). Nhưng tại sao chúng ta lại sợ đến ngày tận thế? Phải chăng vì chúng ta đã chưa ý thức sự hiện diện của Chúa trong từng biến cố thường ngày của chúng ta? Mỗi người hãy gắn liền cuộc đời của mình với sức sống thần linh của Thiên Chúa; để qua những biến cố hân hoan vui mừng cũng như buồn phiền đau khổ, chúng ta đều nhìn ra bàn tay yêu thương và quyền năng của Chúa trên cuộc đời chúng ta. Những ai vẫn kết hiệp với Chúa trong cuộc sống hằng ngày cũng sẽ được kết hiệp với Chúa trong ngày Chúa đến. Và Chúa sẽ đến trong vinh quang để đem sức sống của Ngài cho chúng ta như lời Ngài đã phán: “Ta đến để chúng được sống và sống dồi dào.” (Jn 10:10)

Hãy để Chúa dẫn dắt chúng ta trên con đường thánh ý của Ngài. Nếu Chúa cùng đồng hành với chúng ta trên bước đường đời thì dù hôm nay, ngày mai, hoặc năm tới tận thế cũng chẳng sao.

Chúng ta hãy can đảm để sống từng giây phút trong niềm vui và an bình. Hãy phó thác và giữ vững niềm tin nơi Chúa trong mọi biến cố thăng trầm của cuộc sống. Để qua những việc hết sức tầm thường của cuộc sống trần thế, chúng ta sẽ nhìn ra sự cao cả phi thường của Thiên Chúa.

*****************************

Lạy Chúa, cuộc đời con Chúa đã an bài. Con xin phó thác quá khứ, hiện tại, và tương lại đời con trong ân tình Chúa. Lạy Chúa, Chúa là cùng đích và là tất cả của đời con, xin ban cho con một tấm lòng luôn khát khao yêu mến Chúa.  Xin Chúa hãy giữ gìn và ban cho con một tâm hồn trong sạch để bất cứ lúc nào Chúa đến con đều sẵn sàng. Amen

Sr. Vũ Mai Oanh, OP

 

NẾU CHÚA GỌI CON VỀ …

Nếu bạn tin rằng bạn phải chết, rằng có một cõi đời đời, rằng bạn chỉ có thể chết một lần, và nếu [lúc bạn được Chúa gọi về] bạn có sai lầm lỗi, lầm lỗi ấy sẽ là mãi mãi, không thể sửa chữa lại được, tại sao bạn lại không biết lựa chọn để bắt đầu ngay bây giờ là làm tất cả với sức lực của mình để bảo đảm một cái chết tốt? – Thánh Alphonsus di Liguori.

ZZCái chết là một điểm dừng mà tất cả chúng ta ai cũng sẽ đến, và ai ai cũng biết điều đó, thế nhưng chúng ta lại làm tất cả để gạt nó sang một bên.  Chúng ta sợ nó đến nỗi chúng ta tìm mọi cách, thậm chí ngay cả mê tín dị đoan để thay đổi định mệnh của mình, tất cả để trốn tránh cái chết.  Thậm chí có nhiều nơi người ta mê tín đến nỗi đành lòng hạ danh giá của người con dâu đã có thai khi rước dâu về nhà bằng cách rước dâu vào ngõ sau để ngăn ngừa cái chết trong gia đình.  Đúng là một lối suy nghĩ ngớ ngẩn.  Sự chết là gì đối với mỗi người chúng ta mà tại sao chúng ta lại sợ nó đến như vậy?  Còn tệ hại hơn nữa là khi biết mình sợ cái chết mà còn dùng nó để lấn át và lấy quyền hành trên người khác. Thật sự chúng ta có bao giờ nhìn lại cái chết và tự hỏi nó có ý nghĩa gì đối với mỗi người chúng ta?  Có bao giờ chúng ta mang nỗi sợ hãi ấy vào cầu nguyện xin Chúa dạy cho chúng ta biết sự thánh thiêng của cái chết, để rồi chúng ta không lạm dụng nó cũng như không để nó làm chủ đời mình một cách ngớ ngẩn không?

Chúng ta thường nói “Sống gửi thác về”, nhưng trên thực tế con người chúng ta không thật sự đón nhận hành trình đi về đó.  Chúng ta chưa nhìn cái chết như là một cái gì đó thánh thiêng để rồi chúng ta biết đón nhận nó như là một ân huệ quý báu Chúa ban.  Nếu chúng ta biết đón nhận, chúng ta mới biết nhìn sự chết như là một người bạn thân luôn đồng hành với mình trên mọi ngóc nghách của cuộc sống. Thật sự nó là như vậy.  Cái chết chẳng bao giờ rời ta và luôn theo ta như hình với bóng cho đến khi chúng ta được Chúa gọi về.  Cái “Chết” như là một người bạn đồng hành thiêng liêng luôn thúc đẩy chúng ta hướng đến sự hoàn hảo và tinh tuyền của tạo dựng và cái giá cứu chuộc của Con Một Thiên Chúa.  Qua đó sự “Chết” sẽ giúp chúng ta chọn cách sống cho mỗi một hơi thở trong cuộc đời.

Chúng ta nhìn lại cuộc đời của Chúa Giêsu khi xưa Ngài sống mọi giây phút trong cuộc đời làm người với Thiên Chúa Cha.  Nhưng khi phải đối diện cái chết, Ngài cũng tỏ ra sợ hãi trong cái yếu đuối của một con người, và Ngài đã xin các môn đệ ở với Ngài.  Nhưng sau khi vật lộn với sự yếu đuối đó, Ngài đã chọn đối diện cái chết của Ngài với Thiên Chúa Cha và Ngài đã xin uống chén đắng đó theo ý Cha Ngài (cf. Lc 22:42).  Khi Chúa Giêsu đón nhận cái chết theo ý Cha Ngài, Ngài đối diện với những gì sẽ tới (bắt bớ, sỉ nhục, đánh đòn, vác thập giá, và đóng đinh) trong bình an.  Hơn nữa, trên thập giá Ngài đã chọn để được chết ở trong tay Cha Ngài, “Lạy Cha Con xin phó hồn con trong tay Cha” (Lc 23:46). Nếu Chúa Giêsu là người cho chúng ta thấy chúng ta có thể đối diện với sự chết trong tâm tình tin yêu và phó thác, mỗi ngươi chúng ta cũng được mời gọi để xin ơn để bắt chước Ngài.

Như vậy thì mỗi buổi sáng thức dậy, chúng ta hãy xin ơn để được đồng hành với người bạn đời “Chết”, và xin Chúa dùng bạn “Chết” để nhắc nhở chúng ta phải sống với Chúa hôm nay như thế nào hầu chúng ta biết sẵn sàng đáp lại khi Ngài hỏi ta, “Con ơi, con đang ở đâu và đang làm gì?”, và chúng ta có thể trả lời với Ngài rằng, “Con đang ở trong sự hiện diện của Cha”.  Lắm lúc chúng ta nghĩ là chúng ta chỉ có thể ý thức được rằng chúng ta đang sống trong sự hiện diện của Chúa khi chúng ta đọc kinh, cầu nguyện, hoặc tham dự thánh lễ, nhưng đó chỉ là một phần cuộc sống của chúng ta.  Chúng ta có thể chọn để ở trong sự hiện diện của Chúa trong mọi nơi mọi lúc.  Chẳng hạn như chúng ta chọn để lo lắng và chú ý đến con cái và người thân, hơn là để mình bị thu hút vào TV, ngay cả khi mọi người đang cùng ngồi coi TV chung với nhau.  Hãy để ý đến những tâm tình khó chịu, không muốn rời TV khi ai đó đang cần sự giúp đỡ của ta, và xin ơn để được đáp trả nhu cầu của người thân trong yêu thương hơn là bị bắt buộc.

Vì nếu chính lúc này, Chúa gọi chúng ta về và hỏi, “Tâm tình con đang ở đâu với Cha?” thì câu trả lời sẽ tùy thuộc vào lựa chọn của mình trong lúc ấy.  Câu trả lời đó có thể là “Con đang kiềm chế sự khó chịu của con để con được nhìn thấy và phục vụ Chúa trong người thân”, hay là “Con đang thật sự cảm nhận ra tình thương của Chúa dành cho con qua người bạn” hay là “Con đang mệt mỏi bực bội vì đứa con của con không cho con ngồi yên để coi TV” hay là “Con đang ngồi coi bộ phim không tốt cho lứa tuổi của các con của con, nhưng vì con chưa có biết hy sinh và nhà chỉ có một cái TV nên con cứ để cho các con của con cùng coi” hay là “Con đang giận đội banh kia tại vì chúng chơi dở mà con đang bị thua độ.”  Câu trả lời nào là câu trả lời của mỗi người trong giờ phút linh thiêng ấy?

Trong phong tục Á Đông của chúng ta cũng thường hay dùng cái chết để đoạt lấy quyền hành trên người khác, hay làm khuất đi những gì chúng ta không muốn nhìn thấy.  Những người trẻ đang yêu thì dùng cái chết để đe dọa, để đòi hỏi được chiều chuộng hay muốn được lấy người kia làm sở hữu.  Còn những bậc cha mẹ lớn tuổi thì dùng cái chết để bắt con cái làm theo những gì mình muốn để xoa dịu nỗi âu lo hay xấu hổ của mình khi mình không còn một cách khuyên bảo nào khác.  Có những bậc cha mẹ muốn thấy con cái mình lập gia đình trước khi mình chết để cho mình cảm thấy được yên thân và an tâm, và dùng sự gần đất xa trời để cố tình đẩy con mình vào một tình cảm mà mình cảm thấy không có ổn.  Và cũng có những cha mẹ dùng tuổi tác già nua của mình để bắt con cái phục tùng và làm như ý mình muốn.  Ở đây chúng ta không nói là mình không nên lo lắng cho con cái, nhưng chúng ta cũng nên dâng sự lo lắng và xấu hổ của mình cho Chúa.  Chúng ta xin ơn để nhận ra rằng trước khi con mình là con của mình, con mình đã là con của Chúa, và khi mình muốn cho con mình được tốt đẹp hoàn hảo thì Chúa là Đấng Sinh Thành còn muốn cho đứa con của Ngài được tốt đẹp và hoàn hảo gấp bội.

Ước gì mỗi người chúng ta biết ngồi lại và suy tư về cái chết với Chúa, và xin Ngài dạy cho chúng ta ý nghĩa và sự thánh thiêng của sự chết, để qua sự hiểu biết đó chúng ta biết chọn sống mỗi giây phút với Ngài hầu chúng ta cũng được ngồi trong lòng Tổ Phụ Abraham như anh Larazô nghèo khó trong câu chuyện “Người phú hộ và anh Larazô” ở Luca chương mười sáu.

Củ Khoai

GIÔNG BÃO CUỘC ĐỜI

Đứa cháu họ của tôi qua đời chỉ ba tuần truớc ngày đám cưới.  Hai mươi bốn tuổi, trai tráng, khôi ngô, đời tràn ngập sức sống.  Bỗng một chiều, cháu mệt.  Vào bệnh viện, rồi ra đi.  Để người con gái sắp cưới ở lại, ôm nỗi đau khó diễn tả.  Mong một ngày làm vợ và làm dâu chưa thành.  Cô khóc không còn nước mắt.  Có ngàn giọt nước mắt người thân đến chia sẻ, nhưng không thể giúp vơi niềm đau.  Cô dựa vào lòng chị tôi, người mẹ chồng tương lai, để tìm sức mạnh.  Nhưng chị tôi cũng yếu đuối như người con gái ấy.  Cả hai ôm nhau đứng trước cơn giông bão cuộc đời quá lớn, có sức phá vỡ tất cả nghị lực và cuốn trôi tất cả niềm tin. “Chúa ở đâu trong cơn giông bão ấy?”zz

Những người đạo đức trong xứ đến an ủi chị, “Có lẽ là thánh ý Chúa, anh chị cố gắng chấp nhận.”  Chị tôi ngậm ngùi, không dám phản ứng trước lời an ủi.  Trong đáy sâu tâm hồn, chị thầm hỏi “Tại sao lại là Thánh Ý Chúa?”  Rồi chị thinh lặng trong nỗi đau.  Ngày tháng qua đi, chị vẫn chưa hiểu nổi tại sao bão tố đến với gia đình chị.  Đau khổ vẫn mãi mãi là một nhiệm mầu sâu thăm thẳm chưa có câu trả lời thỏa đáng.  Bước đi trong niềm tin xen lẫn nước mắt vẫn là hành trình của người Kitô Hữu.

Đôi khi, người ta tìm được chút ánh sáng trong những trang sách xưa cũ.  Kinh thánh kể về một gia đình đơn côi trong một làng nghèo ở Bethania.  Làng này nghèo hơn tất cả các làng nghèo chung quanh vùng phụ cận Giêrusalem.  Một trong những lý do Chúa Giêsu hay lui tới làng này, là vì họ nghèo.  Chúa muốn đem ơn cứu độ đến cho dân nghèo.  Làm bạn, kết thân, rồi gắn bó với họ.

Có một gia đình đơn côi, không cha không mẹ.  Gia đình của ba chị em Matha, Maria và Lazarô.  Rồi một ngày, Lazarô lâm bịnh rồi ra đi khi Chúa Giêsu chưa kịp đến.  Hai người chị Matha và Maria, tuổi còn xuân xanh, đối diện với sóng gió cuộc đời.  Người em trai duy nhất ngã xuống, mảnh nương tựa của cảnh đời đơn côi rạn vỡ.  Hụt hẫng, hoang mang, giông bão cuộc đời kéo đến.  Thách đố số phận; thách đố niềm tin.  Những ngày đưa tang về thấy căn nhà trống vắng, thiếu tiếng nói cười của người yêu thương.  Lời nguyện trong đêm từ nay xen lẫn nhiều nước mắt.

Phúc âm ghi rõ, người mà Thầy thương mến đang ốm nặng.  Biết người mình yêu mến đang lâm nguy tại sao Chúa không đến ngay?  Tôi cứ mãi băn khoăn, sao người thầy thương mến lại phải đối diện với những nỗi đau mênh mông đến thế.  Sao người thầy thương mến phải nằm trong mồ?  Những lần khác Chúa đến đúng giờ, nhưng khi người thân yêu đau khổ, Chúa lại đến trễ.  Tại sao Chúa lại để người theo Chúa phải nằm trong nhiều nấm mồ của cuộc đời?  Mồ bệnh tật, mồ thất bại, mồ bị phản bội, mồ cô đơn, và nhiều nấm mồ khác.

Tôi không có câu trả lời thỏa đáng, chỉ mong tìm một chút ánh sáng từ câu chuyện Tin mừng: đó là Thiên Chúa không làm ngơ trước đau khổ.  Phải tin tưởng điều này mới mong có ngày bước ra khỏi những nấm mồ cuộc đời.  Nếu không, bệnh viện tâm thần sẽ không còn chỗ chứa.  Ngài hiện diện qua sự nâng đỡ của tình người và nhất là qua ân sủng.  Thánh Phaolô cũng cảm nhận, “Ơn ta đủ cho con.

Đứng Bên Thập Giá

Ngành tâm lý ngày nay giúp hiểu rằng, đau khổ được biến đổi nhờ sự nâng đỡ của người khác.  Có nghĩa là, không phải đau khổ nào cũng đưa con người đi đến một kết quả xấu.  Nếu đau khổ được nâng đỡ bởi tình yêu và nhờ ân sủng, một cuộc biến đổi sẽ diễn ra.  Do đó, đau khổ lớn nhất không phải là chính biến cố đau khổ, nhưng phải đi qua đau khổ trong cô đơn mới là kinh nghiệm đớn đau nhất.  Hai ngàn năm trước, phúc âm đã dọi vào cuộc đời ánh sáng này, khi trình bày cảnh thập giá có bóng dáng của người thân yêu. “Ðứng gần thập giá Ðức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của bà thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala.” (Ga 19, 25)  Sự hiện diện yêu thương này đã giúp Đức Giêsu đi trọn con đường đau khổ ở một giây phút hệ trọng nhất của sứ mạng.

Vậy đau khổ có khi không còn là vì do Chúa trừng phạt như người ta hay nghĩ, nhưng có khi lại là lời mời gọi để đi đến tận cùng của thân phận làm người.  Lắm khi trong đau khổ, người ta lại cảm nghiệm được giá trị thật của cuộc sống.  Như Gandi có lần diễn tả, một con người muốn đạt đến chiều cao của tâm linh, người ấy có khi phải đụng chạm đến cái vực sâu khốn khổ của thân phận làm người.  Chúa để người thân của mình đối diện đau khổ, học những bài học từ đau khổ, và để can đảm sống niềm tin giữa những dằng co trong đó xen lẫn cả đắng cay và ngọt ngào.  Cuộc đời này chưa phải là vĩnh cửu của Thiên Đàng.

Có khi Thiên Chúa để tôi bước vào mầu nhiệp đau khổ để cảm nghiệm sự bất hạnh của một nhân loại đang thật quá đau khổ.  Nếu như thế, giông bão của cuộc đời có khi là một sứ mạng để bắt đầu biết yêu thương.  Tôi sợ sứ mạng này, đó là những “chén đắng” cho đời tôi, nhưng có khi lại là niềm nâng đỡ cho anh chị em mình đang đau khổ.

Chén đắng này Chúa uống cạn, để giúp tôi hiểu về đau khổ.  Hôm nay, Chúa mời gọi tôi nếm  từ từ. Tôi hiểu như thế, nhưng chưa bao giờ nói với chị mình tại sao chị phải uống chén đắng của đời mình. Hy vọng một ngày nào đó khi nắng bình minh của tâm hồn rọi chiếu, chị sẽ khám phá cho chính mình ý nghĩa của từng nỗi đau của một người mẹ mất đi đứa con yêu thương, nhưng trong sâu thẳm vẫn tin rằng Chúa vẫn không bỏ rơi mình.

Nguyễn Thảo Nam
http://tinvahyvong.blogspot.com/

 

 

MẤT HẾT CẢ ĐỜI NGƯỜI

Chiều hôm ấy, một nhà bác học đứng trên bãi biển thấy nước phẳng lặng, trời trong veo, ông liền gọi một ngư phủ lấy thuyền chèo đưa ông ra khơi.  Hai người cùng trò chuyện: Nhà bác học hỏi người chèo thuyền có biết đọc không?   Người chèo thuyền trả lời: “Không”.

Nhà bác học nói: “Vậy thì anh mất hết nửa đời người rồi, uổng quá!  Vì biết đọc sách, người ta sẽ tiếp thu được biết bao điều hay, học thêm được bao nhiêu điều mới lạ”.

Rồi ông bắt đầu kể cho người ngư phủ: Nào là lòng sâu của biển cả, nào là tuổi đời cũng như độ bơi của bao nhiêu loài cá.  Người ngư phủ thích thú lắng tai nghe.  Nhưng kìa, trên vòm trời xanh thấy điểm nhiều mây đen từ đâu bay đến, rồi từng cơn gió mạnh quấy động mặt nước, biển nổi sóng.  Gió càng thổi mạnh, mây càng hạ thấp.  Người ngư phủ đâm ra lo sợ và báo cho nhà bác học hay một cơn giông tố sắp xảy đến.  Nói chưa dứt thì một làn sóng mạnh đã lật úp chiếc thuyền nan của hai người. Người ngư phủ lớn tiếng hỏi nhà bác học:

– “Thưa ông, ông có biết bơi không?” – “Tôi không biết bơi”, nhà bác học trả lời.

– “Thưa ông, thế thì ông mất hết cả đời người rồi!”

Người ngư phủ lại hỏi thêm:

– “Thưa ông, ông có tin đời sau không?”

Nhà bác học vừa lặn hụp chống chọi dưới làn sóng vừa trả lời:

– “Đời sau là cái gì.  Im đi!  Để ta chết!”

Nhưng người ngư phủ lại nói thêm: “Thưa ông, thế thì ông chẳng những mất cả đời nầy mà còn mất cả đời sau nữa.  Thật vô phúc cho ông!” Một cơn sóng lớn đã cuốn hút nhà bác học vào lòng sâu biển cả.

************************************************

Thưa anh chị em,

Đời như ví như cuộc vượt biển trùng khơi: Có khi phẳng lặng, có khi đầy sóng gió.  Trong cuộc đời ấy, có người tin rằng: Sau cuộc đời dương thế còn có cuộc đời mai sau.  Nhà bác học trong câu chuyện trên đây cũng như những người theo phái Sađốc trong Tin Mừng hôm nay đại diện cho hạng người không tin có cuộc sống đời sau.  Còn người ngư phủ đại diện cho hạng người tin có cuộc sống bên kia cái chết, trong đó có chúng ta.

Chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính: “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”.  Đó là tột đỉnh của niềm hy vọng mà Chúa Kitô đem lại cho chúng ta.  Vì nếu không có sự sống lại và cuộc sống đời sau thì tất cả đời người đều vô nghĩa.

Hầu hết các tôn giáo đều nghĩ rằng: Chết chưa phải là hết.  Con người sau khi chết sẽ được đưa sang một thế giới khác, hoặc được dẫn đến một nơi khác để tiếp tục sống.  Nhưng đời sau, đối với họ, là đêm tối, buồn thảm và không có gì hấp dẫn cả.  Lý do là vì đó là thế giới của sự chết, của âm phủ.

Các tôn giáo khác có thể tin có sự sống đời sau, nhưng không có tôn giáo nào nói đến sự phục sinh của người chết như Kitô giáo.  Ngay cả Do Thái giáo, niềm tin vào sự phục sinh của người chết cũng không dứt khoát rõ ràng.  Bài đọc I hôm nay trích sách Maccabêô đã nói lên niềm tin nầy: Anh em Maccabêô đã thưa với nhà vua đang định giết hại họ: “Vua chỉ cất mạng sống chúng tôi ở đời nầy, nhưng Vua vũ trụ sẽ làm cho chúng tôi là những kẻ đã chết vì lề luật của Ngài, được sống lại trong cuộc sống đời đời”.  Vào thời Chúa Giêsu, người Biệt phái cũng tin như vậy.  Nhưng những người thuộc phái Sađốc lại không tin có sự sống lại.  Chẳng những không tin mà họ còn chế nhạo những ai tin thân xác con người ngày sau sẽ sống lại.  Vì vậy, hôm nay họ kéo đến chất vấn Chúa Giêsu để “chọc quê” Ngài.  Vì nếu có sự sống lại của kẻ chết thì sau này một người đàn bà đã lần lượt lấy bảy anh em làm chồng theo luật pháp, sẽ là vợ của ai?  Chúa Giêsu đã giải đáp bằng cách cho họ biết rằng cuộc sống sau phục sinh không phải là một sự tái diễn của cuộc sống trên trần gian.  Thân xác phục sinh sẽ là một thân xác được biến đổi, không còn đau ốm bệnh tật, không còn già cả và chết chóc nữa. Những người phục sinh sẽ giống như các thiên thần, không còn cần phải cưới vợ lấy chồng để có con cái nối dõi tông đường nữa.

Chúa Giêsu còn dựa vào Ngũ Thư để chứng minh rằng Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết mà là Chúa của kẻ sống.  Nếu Thiên Chúa đã là Thiên Chúa của các Tổ phụ Abraham, Isaac và Giacop thì các Tổ phục là những người đang sống với Chúa, đang có sự sống lại.  Ở đây, Chúa Giêsu đã không tả rõ sự sống lại như thế nào.  Điều ngài muốn khẳng định ở đây, đó là “Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống”.  Và trong suốt cuộc đời của Chúa Giêsu qua những lời giảng dạy và nhất là qua thái độ của Ngài, Chúa Giêsu đã muốn cho người ta hiểu rằng Thiên Chúa là Đấng ban sự sống, Đấng làm cho sống.  Và ngay cả những người tội lỗi, Ngài cũng không muốn họ phải hư mất, trái lại, muốn họ hối cải để được sống và sống một cách dồi dào.  Những phép lạ chữa bệnh hay làm cho kẻ chết sống lại của Chúa Giêsu là những dấu chỉ về một Thiên Chúa yêu chuộng sự sống.  Và khi Chúa Giêsu đón nhận cái chết trên thập giá, đó cũng là để toàn thắng cái chết, và để trả lại cho loài người sự sống đời đời.  Chỉ có căn cứ vào những gì chúng ta biết về Chúa Kitô Phục Sinh, chúng ta mới thấy rõ về cuộc sống của chúng ta sau khi chết.  Chúng ta sẽ được sống lại với Ngài.

Chính vì Chúa Kitô đã sống lại mà chúng ta xác tín vào sự phục sinh của những người đã chết. “Thiên Chúa của các Tổ phụ Abraham, Isaac và Giacop là Thiên Chúa của kẻ sống”.  Những người mà chúng ta gọi là đã chết là những người đang sống và sẽ sống đời đời với Thiên Chúa hằng sống.  Chối bỏ sự sống lại của những người đã chết là chối bỏ Thiên Chúa hằng sống và chân thật.

Anh chị em thân mến,

zzThiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống.  Một lời đầy an ủi cho tất cả chúng ta.  Đừng thất vọng trước cái chết của một người Kitô hữu, của những người thân yêu chúng ta.  Sự chia ly chỉ có trong một thời gian và tất cả sẽ gặp lại nhau.  Lúc đó, chúng ta sẽ thấy một tình trạng mới của những người con Chúa là được giống như các thiên thần và nhất là nên giống Chúa Kitô trong vinh quang phục sinh.

Còn sống trên trần gian, chúng ta hãy tín thác vào Thiên Chúa hằng sống.  Ngài luôn yêu thương chúng ta và muốn cho tất cả chúng ta, ngày sau sẽ được sống với Ngài mãi mãi.  Ngay bây giờ, hãy đáp lại lời mời gọi của Chúa bằng một đời sống tốt đẹp hơn, tin tưởng và hy vọng vào Đấng sẽ phục sinh chúng ta trong cuộc sống hạnh phúc đời đời.

“Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau.”  Amen!

Sưu tầm

GIÁO HỘI THANH LUYỆN

zz “Yêu mến người chết”, đó là thực thi bác ái, giáo hội đã định hướng như vậy cho con cái mình.

Tháng cầu cho các tín hữu đã qua đời: “Ngay từ buổi đầu của Kitô giáo.  Hội thánh lữ hành đã hết lòng kình nhớ, dâng lời cầu cho những người đã qua đời, vì cầu nguyện để họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một ý nghĩ lành thánh (2Mcb 12,45).  Chúng ta hãy dâng thánh lễ và các việc lành để cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời.”

Vâng! đó là lời của giáo hội, đã nhắc nhở con cái mình, thực thi đức bác ái với người đã chết, “yêu người chết”.  Xin trích dẫn lời của giáo hội để xác tín điều thiêng liêng đối với người đã khuất, dù người thân ruột thịt, hay người chưa từng quen biết.  Lời cầu nguyện của người còn sống rất cần thiết cho họ.  Tôi cầu nguyện, xin lễ cho ông bà, cha mẹ tôi, người thân, ân nhân, bạn hữu của tôi thì không sai.  Nhưng còn những người khác thì sao có thể là những người tôi chưa từng thấy, chưa từng gặp, hoặc đã gặp, nhưng chưa quen.  Tất cả và tất cả, họ là những người đã từng hiện diện trên cõi đời nầy, mà nay đã khuất.  Tôi phải có bổn phận cầu nguyện cho họ.

Đức ái Kitô giáo, trổi vượt hơn chính là ở điểm nầy.  Vì không phải chết là hết, cũng có nghĩa là hết, hết còn trong thân xác, nhưng tín lý dạy rằng, con người được Thiên Chúa dựng nên là bất tử, cả hồn và xác, cũng chính vì điều nầy mà Thiên Chúa đã ban Đấng Cứu Thế cho nhân loại.

Có nghĩa là thân xác con người là dấu chỉ hy vọng bởi linh hồn bất tử, siêu linh và huyền nhiệm bởi được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, Đấng siêu nhiên và toàn năng, là nguồn sống cho loài thụ tạo.  Vì vậy, linh hồn cũng như thân xác của con người không thể chết được, chỉ qua một gian đoạn phải nghỉ ngơi, bởi sự hữu hạn của nó.

Tín lý của niềm tin Kitô giáo hệ tại điểm nầy, vì qua Đức Kitô, cùng với Đức Kitô và trong Đức Kitô, con người không thể chết, nhưng họ cần được nâng đỡ.  Bởi tính xác thịt nặng trĩu và tình yêu Thiên Chúa trên hết mọi sự chưa đủ trưởng thành trong họ, vì vậy cho nên họ chưa nên trọn hảo trước Thánh Nhan Thiên Chúa.

Tình yêu của Thiên Chúa không gì có thể so sánh được, đứng trên tội lỗi của con người, nhưng sự thanh luyện là cần thiết, vì sự thanh luyện chính là tình yêu của Thiên Chúa.  Tình yêu đòi buộc sự công bằng, sự thanh khiết, sự liêm chính.  Như vậy, lửa thanh luyện là một phương tiện của tình yêu. Vì bản chất sinh ra bởi tội, lại được cứu độ bằng Máu, được thanh tẩy bởi Nước, Máu, Tình yêu, nhưng con người vẫn chưa trở nên hoàn thiện, thì giờ đây con người phải được luyện bằng lửa.  Lửa tình yêu là phương tiện cuối cùng dành cho con người sau khi lìa đời.

Thánh là tất cả những con người đang hưởng Nhan Thánh Thiên Chúa trên Nước Trời, nhưng những linh hồn nơi luyện ngục cũng là những linh hồn được cứu rỗi, đang chờ ngày nên thánh, vì mỗi linh hồn nơi luyện tội được siêu thoát về Trời có nghĩa là ngày họ được nên thánh.  Tuy nhiên, họ chưa đủ sức nên thánh, vì vậy sự lập công của người còn sống trên trần gian, gọi là giáo hội lập công sẽ tiếp sức với họ, giúp vào việc nên thánh của họ, để khi họ được nên thánh, là khi họ được vào Thiên Quốc, họ sẽ là những vị thánh của Thiên Chúa, lúc bấy giờ tình yêu của Thiên Chúa sẽ lan tỏa trên linh hồn họ,và lời cầu bàu của họ sẽ sáng giá như những vị thánh hiện thời, mà chúng ta tôn kính.

Như vậy, lửa luyện tội không phải là hình thức trừng phạt, khác với lửa hỏa ngục, lửa luyện tội là nơi tạo cơ hội cuối cùng cho những người không còn cơ hội lập công, nhưng nhờ vào các Thánh trên Thiên Đàng, các người lành dưới thế cầu bàu cùng Thiên Chúa là Cha Nhân lành, để nhờ tình yêu liên kết, của Thiên Chúa, của các thánh, của nhân thế, mà họ sớm được giảm sự thanh luyện, để hưởng Thánh Nhan muôn đời.

Sự đau khổ của các đẳng linh hồn nơi luyện hình không hẳn nhiên là sức thiêu đốt của lửa, mà là sự chưa được hưởng Thánh Nhan Thiên Chúa.  Sự xa cách tình yêu của Thiên Chúa, họ không được sống trong ân sủng như người trên trần gian, vì vậy, chúng ta phải hy sinh nhiều lần có thể, để cầu nguyện cho họ.  Họ không được rước Chúa, không được nhận lãnh những ân phúc như người trần gian hằng ngày, vì vậy gọi là giáo hội đau khổ.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến để cứu chuộc những người tội lỗi, và ban cho họ nhiều cơ hội lập công, nhưng họ vẫn không ý thức, và còn thờ ơ.  Vì vậy khi họ được gọi về, thì họ chưa đầy đủ, nên họ phải chịu sự thanh luyện, đó cũng là một phương tiện của tình yêu, tuy không được chủ động.  Nhưng nhờ lời bầu cử của các thánh trên Trời, và các người lành dưới thế, xin Chúa thương xót họ bằng tình thương mà Chúa đã ban cho họ là cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa, để họ được sớm giải thoát. Amen!

P. Trần Đình Phan Tiến

 

NẾU CHỈ CÒN

Tôi chọn bài hát “Nếu chỉ còn một ngày để sống” của Nhạc sĩ Hoài An với những ca từ gợi ý để suy niệm trong thánh lễ tại nghĩa trang tối nay.

Nếu chỉ còn một ngày để sống, người đưa tôi về đến quê nhà.
Để tôi thăm làng xưa nguồn cội, cho tôi mơ, mơ tiếng Mẹ Cha.
Nếu chỉ còn một ngày để sống, người cho tôi một khúc kinh cầu.
Người tôi thương êm ấm môi cười, cho con tôi bước đời yên vui.
Nếu chỉ còn một ngày để sống, làm sao ta trả ơn cuộc đời.
Làm sao ta đền đáp bao người, nâng ta lên qua bước đời chênh vênh.
Nếu chỉ còn một ngày để sống, làm sao ta chuộc hết lỗi lầm.
Làm sao ta thanh thản tâm hồn, xuôi đôi tay đi giữa hừng đông.
Nếu chỉ còn một ngày để sống, muộn màng không lời hối lỗi chân thành.

zzBuồn vì ai ta làm ai buồn, xin bao dung tha thứ vì nhau.
Nếu chỉ còn một ngày để sống, chợt nhận ra cuộc đời quá đẹp.
Phải chăng ta có lúc vội vàng, nên ra đi chưa được bình an.
Cho tôi như bóng mây, lang thang qua cõi này.
Cho tôi được ngắm sao trên trời, giữa hương đồng cỏ nội.
Cho tôi như khúc ca, bay đi xa rất xa.
Cho tôi được cảm ơn cuộc đời, cảm ơn mọi người.
Cho tôi được sống trong tim người, bằng những lời ca.

Tối nay, chúng ta dâng lễ hiệp thông cầu nguyện cho anh chị em đang an nghỉ nơi Đất Thánh này.  Không gian tĩnh mịch, trầm lắng và thánh thiện.  Cảnh vắng lặng của một thế giới an bình.  Khói hương quyện bay trên các phần mộ. Nhớ về các những người thân yêu đã khuất bóng. Những kỷ niệm lung linh nhập nhoà soi vào trí nhớ bao thân thương hình bóng những người đã an giấc ngàn thu.

Ngày 1/11, có lễ kính Các Thánh là những Đấng thuộc Giáo Hội vinh hiển trên thiên đàng.  Ngày 2/11 là lễ nhớ Các Đẳng là những vị thuộc Giáo Hội thanh luyện.  Chúng ta đang sống thuộc Giáo Hội lữ hành chiến đấu.  Bây giờ, tôi và anh chị em đứng ở giữa, chưa đi lên mà cũng chưa xuống dưới.  Cứ coi như tôi là gạch nối giữa hai nơi trong nguyện cầu, tưởng niệm.  Rồi đây tôi sẽ thuộc về một trong hai cộng đoàn này.

Tháng 11, ngước lên cao, tôi khẩn xin Các Thánh cầu thay nguyện giúp; nhìn xuống dưới, tôi liên kết với Các Đẳng bằng kinh nguyện thánh lễ và việc lành phúc đức.  Như vậy, tháng cầu hồn là tháng cử hành thực tại thánh, một liên hệ thánh của Giáo Hội hiệp thông.

Bài ca “Nếu chỉ còn” thay lời cho người đã ra đi nói lời tri ân với người đang sống: Cho tôi được cảm ơn cuộc đời, cảm ơn mọi người.  Cho tôi được sống trong tim người, bằng những lời ca.

Những người đã ra đi yên nghĩ trong lòng đất, họ cần điều gì nhất?  Họ cần đến lòng thương xót Chúa. Họ cần chúng ta nhớ đến họ bằng tình yêu thương của trái tim.  Họ muốn chúng ta đừng quên họ nhưng hãy nhớ đến họ bằng kinh nguyện và thánh lễ.  Ông bà cha mẹ, những thân bằng quyến thuộc cần chúng ta cầu nguyện tưởng nhớ đến họ.  Người đã khuất sống mãi trong trái tim tình yêu, trong lòng nhớ ơn thiết nghĩa của chúng ta.  Giọt nước mắt khi người ta khóc, chính là những viên kim cương lấy từ trái tim để tặng cho người mình nhớ thương đã an nghỉ.

Tôi nhớ lời một ca khúc “Không Tên” của Nhạc sĩ Vũ Thành An: “Triệu người quen có mấy người thân, khi lìa trần có mấy người đưa?”  Sống mà không được nhớ tới là sống trong lạnh lẽo của mộ sâu. Đau khổ nhất của người đang sống chính là cô đơn, là không được ai nhớ đến.  Thiệt thòi lớn nhất của người đã chết là bị quên lãng.  Người đã chết chẳng cần ăn mặc, không nói năng, không nỗi niềm, không đi đứng.  Họ đã bước vào cõi thinh lặng ngàn thu.  Họ chỉ cần chúng ta nhớ đến và cầu nguyện. Họ muốn chúng ta cho họ những bông hoa tưởng nhớ, những nụ hoa cầu nguyện, những mật hoa bác ái, những hương hoa hy sinh.

Người Công Giáo được khuyến khích thực hiện những điều thiết thực, như xin Lễ, dự Lễ, đọc kinh cầu nguyện, làm việc lành phúc đức… để chuyển cầu cho những người đã ra đi mà còn đang vướng mắc một vài trở ngại nào đó khiến họ chưa hoàn toàn chia sẻ vinh quang và hạnh phúc với Thiên Chúa. “Cầu nguyện cho người chết để họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một ý tưởng lành thánh” (2 Mcb 12, 46; GH, 50).  Khi cầu nguyện cho họ, chúng ta không chỉ giúp họ, mà còn làm cho lời họ chuyển cầu cho chúng ta hiệu quả hơn” (GLCG, số 958).  Những việc lành phúc đức cho chúng ta một cảm giác hạnh phúc và ý nghĩa bởi vì thân nhân của chúng ta đã và sẽ còn được tưởng nhớ đến mãi.

Bao nhiêu tư tưởng cao siêu, bao nhiêu câu chuyện yêu đương đẹp như thần thoại cũng đều gói gọn trong cỗ quan tài.  Bao nhiêu khối óc vượt nhân thế, bao nhiêu tính toán siêu vời cũng vỏn vẹn trong chiếc quan tài.  Mênh mông như cuộc đời sau cùng cũng im lặng trong lòng đất.  “Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”, ai cũng về với cát bụi thôi.  Nghĩa trang là nơi an bình yên tĩnh cho mọi người.

Tháng 11, Giáo Hội mở kho tàng ân phúc của Thiên Chúa, tạo dịp để các tín hữu mở rộng tấm lòng hướng về người đã khuất.  Các nguồn ân đại xá hay tiểu xá dành cho các linh hồn nơi luyện hình chính là những quà tặng của ân tình.  Trao cho người đã khuất, dù chỉ là một món quà mọn cũng là vô giá, vì các linh hồn trong luyện hình giờ đây không thể làm được gì cho bản thân.  Mầu nhiệm Giáo Hội thông công là một trong những mầu nhiệm đẹp của tình yêu.

Được sống và được yêu là điều hạnh phúc nhất.  Sự sống là hồng ân Chúa ban.  Và nếu chỉ còn một ngày để sống, tôi sẽ làm gì?

Lời ca ước mong: Xin đưa tôi về đến quê nhà để tôi thăm làng xưa nguồn cội, để tôi nghe tiếng nói của Mẹ Cha, của người thân yêu.  Xin cho tôi một khúc kinh cầu, xin chuộc hết lỗi lầm để thanh thản tâm hồn, xuôi đôi tay đi giữa hừng đông.

Nếu chỉ còn một ngày để sống, chợt nhận ra cuộc đời quá đẹp.  Đẹp vì hồng ân sự sống, đẹp vì tình người chan hòa, đẹp vì hiệp thông trong mầu nhiệm thánh lễ nối kết người đang sống và người đã an giấc ngàn thu.

Tối nay, bên những người thân yêu đang an nghỉ nơi đây, xin nói thay cho họ những lời này: Cho tôi được cảm ơn cuộc đời, cảm ơn mọi người.  Cho tôi được sống trong tim người, bằng những lời ca.

Giáo hội dành tháng 11 cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, nên tháng 11 là tháng của niềm hy vọng Phục sinh.  Đây là thời gian mà mỗi khi thắp nén nhang trên phần mộ người chết, nhìn theo làn khói nhẹ toả bay ta cũng nâng tâm hồn lên tới Chúa là nguồn sự sống của mình. Và mỗi khi đặt bó hoa tươi trên phần mộ người thân yêu, ta thấy được mùa xuân vĩnh cửu đang bừng lên từ khắp những nấm mồ chung quanh.  Quả thật: sự sống thay đổi chứ không mất đi.  Chết là cửa để bước vào cuộc sống vĩnh cửu.  Chuyến đi đời đời ấy lại tùy thuộc vào những tích, những công phúc đã lập trong cuộc sống tại thế này.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến trần gian để cứu chuộc con người.  Nhờ lời bầu cử của Các Thánh trên trời, và lời cầu nguyện của người lành dưới thế, xin Chúa thương xót những tín hữu đang còn thanh luyện bằng tình thương mà Chúa đã ban cho họ là cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa, để họ được sớm về hưởng nhan thánh Chúa. Amen.

LM Giuse Nguyễn Hữu An

 

 

ÁNH MẮT YÊU THƯƠNG

zzMỗi khi đọc câu chuyện ông Giakêu, tôi ngỡ ngàng trước ánh mắt của Chúa Giêsu khi Ngài nhìn lên ông Giakêu trên cây sung.  Ánh mắt ấy có sức mạnh kỳ lạ.  Ánh mắt ấy chất chứa bao tâm tình.  Chỉ trong một ánh mắt cuộc đời Giakêu hoàn toàn biến đổi.

Đó là ánh mắt quan tâm.  Chúa Giêsu vào thành Giêricô.  Giêricô là một thành phố rộng lớn, người đông đúc, buôn bán sầm uất.  Một đám đông lớn đi theo Chúa Giêsu.  Trong khi đó ông Giakêu thật bé nhỏ.  Nên ông phải leo lên cây sung để nhìn Chúa.  Thật lạ lùng.  Giữa đám đông mênh mông ấy, Chúa vẫn nhìn thấy ông Giakêu, dù ông thấp lùn.  Giữa muôn người, Chúa chỉ tìm Giakêu.  Lại còn biết rõ tên ông.  Điều đó chứng tỏ Chúa quan tâm tới Giakêu, dù ông bé nhỏ trong một đám đông hỗn độn.  Giakêu chắc chắn cảm thấy ấm lòng vì ánh mắt quan tâm của Chúa.

Đó là ánh mắt khiêm nhường.  Hãy tưởng tượng cảnh Chúa ngước lên nhìn Giakêu.  Chúa nhìn lên.  Giakêu nhìn xuống.  Thật là một cảnh tượng phi thường.  Người có tầm vóc cao lớn phải ngước nhìn lên mới gặp ánh mắt người thấp bé.  Thiên Chúa phải ngước mắt nhìn lên mới gặp được phàm nhân.  Đấng vô cùng thánh thiện phải ngước mắt nhìn lên mới gặp kẻ tội lỗi tầy trời.  Tạo hóa phải ngước mắt nhìn lên mới gặp được thụ tạo.  Đấng Cứu Độ phải ngước mắt nhìn lên mới gặp được kẻ cần được cứu.  Đấng tha tội phải ngước mắt nhìn lên mới gặp được kẻ cần được thứ tha.  Thật là một sự khiêm nhường thẳm sâu.  Giakêu chắc chắn phải choáng váng vì ánh mắt khiêm nhường của Chúa.

Đó là ánh mắt tha thứ.  Nguyên một việc quan tâm tìm kiếm cũng đã chứng tỏ Chúa tha thứ cho ông rồi.  Huống hồ Chúa còn khiêm tốn ngước nhìn lên.  Hơn thế nữa Chúa còn ngỏ lời muốn đến thăm nhà ông.  Giakêu chưa tìm Chúa thì Chúa đã tìm Giakêu.  Giakêu chưa gọi Chúa thì Chúa đã gọi Giakêu.  Giakêu chưa mời thì Chúa đã ngỏ ý đến nhà.  Giakêu chưa xin lỗi thì Chúa đã tha thứ.  Ánh mắt tha thứ mới khoan dung độ lượng và ấm áp làm sao.  Giakêu chắc chắn tràn đầy niềm hối cải khi nhìn vào ánh mắt tha thứ của Chúa.

Đó là ánh mắt tin tưởng.  Chúa Giêsu nhìn Giakêu bằng ánh mắt tin tưởng.  Tin tưởng nên không nhìn về quá khứ mà chỉ hướng về tương lai.  Chúa quên hết tội lỗi của ông.  Hơn thế nữa Chúa tin rằng ông sẽ nên người tốt.  Chúa tin rằng ông sẽ làm lại cuộc đời.  Chúa tin vào tương lai của ông.  Nên Chúa đã nhìn ông.  Nên Chúa tha thứ cho ông.  Nên Chúa kết thân với ông.  Trước ánh mắt tin tưởng của Chúa, chắc chắn Giakêu sẽ cương quyết làm lại cuộc đời.

Đó là ánh mắt yêu thương.  Tất cả sẽ không thể giải thích được nếu không có tình yêu.  Chúa quan tâm tới Giakêu vì Chúa yêu thương ông, như người mục tử tốt lành đi tìm con chiên lạc.  Chúa khiêm nhường vì Chúa yêu thương ông, như người cha cõng con trên vai.  Chúa tha thứ vì Chúa yêu thương ông, như người cha sẵn sàng chờ đón đứa con hoang đàng.  Chúa tin tưởng vì Chúa yêu thương ông, như người mẹ không khi nào nói rằng con mình xấu, dù nó phạm tội trăm lần.  Chúa nhìn ông bằng ánh mắt yêu thương.  Ngập tràn trong yêu thương, trái tim Giakêu bừng lên ngọn lửa yêu thương.  Đời ông được đốt cháy trong yêu thương.  Nên ông đã đáp lại tình yêu thương của Chúa.  Vì yêu mến Chúa mà ông yêu thương đồng loại.  Yêu thương nên đền bù thiệt hại.  Yêu thương nên chia sẻ chân thành.

Lạy Chúa, Chúa luôn nhìn con bằng ánh mắt yêu thương. Xin cho con biết nhìn vào mắt Chúa, nhận ra tình yêu thương của Chúa và biến đổi cuộc đời như ông Giakêu.

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt