MỌI VẬT ĐỀU VỀ PHE THIÊN CHÚA (có Youtube)

Nếu đứng về phía Thiên Chúa, ta sẽ không ngã lòng vì phía mà ta đã chọn sẽ luôn luôn chiến thắng, không bao giờ bị chê cười.  Thiên Chúa là Đấng chiến thắng, và sự dữ là kẻ chiến bại.  Thực tại luôn luôn đứng về phía Thiên Chúa.

Sự dữ nhất thiết là bất ổn, bởi lẽ nó đi ngược lại bản chất của mọi vật.  Mọi định luật về bản tính con người của ta thúc đẩy ta hướng về phía thánh thiện, tương tự như việc giữ gìn sức khoẻ vậy.  Nếu ta chăm sóc thân xác đúng cách, hợp vệ sinh, ắt chúng ta khoẻ mạnh.  Nếu ta không tuân thủ, ắt sẽ đau ốm bệnh hoạn… và hẳn ít người sẽ chịu khó săn sóc thân thể nếu chưa từng bị trừng phạt và nhắc nhở do việc vi phạm cố ý các quy tắc vệ sinh gây nên.

Ta hoàn toàn tự do, có thể phá vỡ lề luật Thiên Chúa đã thiết lập, ở lãnh vực này hoặc lãnh vực khác.  Nhưng ta sẽ không tránh né được sự trừng phạt do việc phá luật đó.  Nhảy từ cửa sổ xuống đất không hề phá được luật hấp dẫn, nhưng liệu đấy, coi chừng mất mạng đó!  Nên nhớ là bao giờ thiên nhiên cũng đứng về phía Thiên Chúa; nó có thể cưỡng lại ý muốn của ta, nhưng không khi nào chống lại Thiên Chúa.  Và điều này cũng đúng như thế trong lãnh vực luân lý lẫn vật lý.

Khi người ta phạm tội, Thiên Chúa không cần can dự ra tay trừng phạt, bởi lẽ ta không thể nào chống lại Thiên Chúa mà không tự chống lại mình.  Đó là bản chất con người được Thiên Chúa tạo ra như thế.  Nếu ta phá vỡ qui luật tiết độ, ta sẽ bị nhức đầu.  Thiên Chúa không phái cơn nhức đầu đó đến cho ta bằng một chiếu chỉ đặc biệt nào cả, Ngài đã thiết lập sẵn trong ta qui luật này: hễ làm điều xấu, sẽ nhận được hậu quả xấu xa.  Thi sĩ Francis Thompson diễn tả rằng ngay cả các đồ vật cũng chống lại ta khi ta không dùng chúng đúng với mục đích của Chúa.  Ông ta đã gọi các đồ vật đó là các “đầy tớ”:

“Tôi đã cám dỗ các đầy tới của Ngài,
Để rồi chỉ thấy tính kiên định của chúng phản lại tôi.
Bởi chúng trung thành với Ngài
Chúng hờ hững với tôi.
Ra chúng chân thật mà lại phản bội,
Chúng lừa dối mà lại chân thành.”

Khi thánh Phêrô chối Chúa, gà gáy làm ông đau khổ.  Cả đến con gà cũng chống lại Phêrô.  Thiên nhiên đứng về phe Thiên Chúa mà!

Khi ta chối bỏ lề luật luân lý, ta sẽ chịu đau khổ…  Không hẳn vì ta cố ý làm xấu cho bằng vì ta đã thách thức một sức mạnh dũng lực hơn ta: đó là thực tại.  Khi phạm tội, ta gây nên một hậu quả mà ta không định trước được; đối với các hành động thiện hảo thì lại không gây ra các hậu quả đó.  Ví dụ, nếu tôi dùng cây viết chì để viết, nó vô hại.  Nhưng nếu tôi dùng nó để đục lon sữa bò, nó sẽ gãy ngay thôi.  Tôi đã dùng cây viết chì ngược với mục đích của nó, thế là tôi phá huỷ nó.

Nếu tôi sống với mục đích cao thượng hơn… phù hợp với chân lý và tình yêu… tôi sẽ hoàn thiện cuộc đời tôi.  Nếu tôi chỉ biết sống theo bản năng thú vật, ắt tôi sẽ ê chề tựa như thể tôi dùng dao lam để gọt đá tảng vậy.

Sự dữ hằng tàn phá chính bản ngã ta.  Nếu tôi sống đúng như tôi phải sống, tôi sống thành nhân.  Nếu tôi sống tuỳ hứng, tôi trở thành thú vật, một con vật bất hạnh.  Đây chẳng phải là kết quả do tôi xếp đặt, thế mà tôi vẫn không thể nào thoát khỏi được.  Người ăn nhậu triền miên không hề có chủ tâm tàn huỷ sức khoẻ mình; nhưng thực sự kẻ ấy đang cố huỷ diệt mình.  Kẻ tham mê ăn uống không kể gì đến bệnh tật về tiêu hoá, nhưng thực sự kẻ ấy sẽ mắc loại bệnh ấy.  Tên ăn trộm không muốn bị bắt bỏ tù, nhưng rồi hắn sẽ vô tù.

Khi người lữ khách chối từ tuân theo các bảng chỉ dẫn đường đi, dĩ nhiên anh ta vẫn có thể tiếp tục dấn bước nhưng cuối cùng rồi sẽ thất vọng vì không đến được đích.  Sự vô trật tự là một ông thầy nghiêm khắc, chậm rãi nhưng chắc chắn.  Dân Tây Ban Nha có một câu tục ngữ “Ai phỉ nhổ Thiên Chúa là phỉ nhổ chính mình.”  Sự dữ có thể chiến thắng trong chốc lát.  Trận đầu nó thắng đấy, nhưng kết cục nó sẽ thua.

Caesar đã xây dựng đường xá hầu đánh thắng, chinh phục toàn thế giới bằng quân sự, nhưng trên những con đường này, thánh Phêrô và Phaolô đã đi rao giảng Tin mừng.  Bởi vậy, cuối thế kỷ này ta sẽ chứng kiến các nhà khoa học và triết gia sẽ lục lọi các giỏ rác trong các đại học hầu nhặt nhạnh những Chân lý thánh thiện mà thế kỷ 18 và 19 đã loại bỏ.

Bởi lẽ sự thiện thì trường tồn, còn sự dữ thì tiêu vong.

Đức cha Fulton Sheen
(Nguyên tác: Way to Happiness)

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

AI ĐỔI ĐỜI AI (có Youtube)

Cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu Phục Sinh trên đường đi Damas đã đổi đời Phaolô.  Từ một người nhiệt thành với truyền thống tổ tiên, làm Phaolô hăm hở đi bắt các Kitô hữu về “trị tội”, trở thành một tông đồ hăng say làm chứng tin mừng Đức Giêsu Phục Sinh.  Niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh làm Phaolô và các Kitô hữu trở thành những con người khác, như dấu chỉ Thiên Chúa đang hiện diện và yêu thương con người.

I. Phaolô làm chứng Đức Giêsu đã phục sinh

 Trước khi ngã ngựa trên đường Damas, Phaolô là một người rất đặc biệt.  Ngài là một biệt phái, nghĩa là, một người rất nhiệt thành với lề luật Do Thái, và sẵn sàng làm tất cả để bảo vệ lề luật.  Phaolô đã từng là người giữ áo cho những người ném đá thánh Têphanô.  Phaolô đã được phép của các người cầm quyền để đi lùng bắt các Kitô hữu Do Thái đem về Yêrusalem để trị tội.  “Có lúc, những người bắt bớ các con, cứ tưởng rằng đó là việc tôn thờ Thiên Chúa” (Ga.16, 2).  Nhưng với biến cố Damas, Phaolô đã trở thành con người khác.

Trước khi gặp gỡ Đức Giêsu Phục Sinh, với Phaolô, Do Thái giáo là tôn giáo duy nhất đúng.  Tất cả những gì trái với quan niệm truyền thống cha ông để lại, là sai lầm và phải loại bỏ.  Những ai cố tình đi theo một niềm tin khác, phải bị trừng phạt.  Đó là lý do tại sao Phaolô đi lùng bắt Kitô hữu ở Damas. Sau biến cố Damas, Phaolô đã thay đổi cái nhìn và thay đổi lập trường sống.  Do Thái giáo vẫn đúng đó, nhưng “cái khác” vẫn có thể là sự thật.  Đức Giêsu Phục Sinh là một thực tại mà Phaolô đã được gặp gỡ, cảm nghiệm, và rồi trở thành chứng nhân cho Ngài.  Phaolô được ơn mở mắt để nhìn ra thực tại Đức Giêsu Phục Sinh; qua biến cố ngã ngựa, ông không thể phủ nhận được điều trước đó ông đã một mực chối từ, ông đã nhận ra sự thật, và kể từ đó Phaolô đã rao giảng cho dù bị ghét và bị tìm giết.

Đức Giêsu Phục Sinh đã đổi đời Phaolô.  Từ một người không tin vào Đức Giêsu, Phaolô trở thành chứng nhân nhiệt thành của Đức Giêsu Phục Sinh.  Từ một người lùng bắt người khác, giờ đây lại là kẻ bị lùng bắt.  Biến cố gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh trên đường đi Damas đã làm Phaolô thành một người hoàn toàn khác, đến độ ngài nói: “Kể từ khi tôi biết Đức Giêsu Phục Sinh, tôi coi mọi sự như phân bón.  Kể từ khi biết Đức Giêsu, tôi coi mọi sự như thua lỗ bất lợi cả trước cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô Chúa tôi” (Pl.3, 8-9).  Phaolô đã được Thiên Chúa biến đổi qua cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu Phục Sinh.

II. Đời sống của một người tin vào Đức Giêsu Phục Sinh

 Trong thư thứ nhất của thánh Gioan, Kitô hữu được nhắn nhủ: “Chúng ta đừng yêu bằng lời nói và miệng lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm.”  Đức tin phải chi phối cách sống của Kitô hữu.  Đức tin không có việc làm là đức tin chết.  Đức tin của Kitô hữu không chỉ là chấp nhận một mệnh đề là đúng, nhưng còn là cái biết chi phối toàn bộ đời sống của họ.  Chính việc làm của Kitô hữu giúp cho người khác thấy đức tin của họ.

Lời Chúa trong thư của thánh Gioan hôm nay còn cho Kitô hữu hiểu hơn nữa về Thiên Chúa và về con người.  Nếu lòng chúng ta không cáo tội chúng ta, thì chúng ta được mạnh dạn đến cùng Thiên Chúa; nhưng nếu lòng chúng ta cáo tội chúng ta, thì chúng ta biết Thiên Chúa là Đấng cao cả hơn lòng chúng ta, và Người biết mọi sự.  Thiên Chúa nhân từ và yêu thương chúng ta hơn chúng ta có thể tưởng được.  “Như trời cao hơn đất bao nhiêu, tư tưởng của Ta cũng vượt xa tư tưởng của các ngươi bấy nhiêu.”  Đừng bao giờ ép Thiên Chúa phải phạt người khác theo phán đoán của mình.  Thiên Chúa không phạt ai cả, Ngài chỉ biết yêu thôi.  Đau khổ là do con người làm cho nhau hoặc tự chuốc lấy cho mình mà thôi.

Thiên Chúa là Đấng Tuyệt Vời mà con người không thể hiểu thấu.  Ngài nhân từ yêu thương con người hơn con người có thể nghĩ có thể ngờ.  Ngài yêu thương con người ngay khi con người còn là tội nhân, xấu xa hư hỏng.  Không ai có thể ngờ Ngài đã cho Đức Giêsu phục sinh.  Không ai dám ngờ rằng Thiên Chúa có thể chấp nhận để con người giết Con Ngài.  Không ai dám ngờ rằng Thiên Chúa vẫn yêu thương con người đến độ Lời của Ngài nhập thể làm người, ngay cả khi con người đang phản bội và xa lánh Ngài.  Thiên Chúa nhập thể là điều vượt sức hiểu của con người, và vượt ngay cả sức hiểu biết của thiên thần.  Thiên Chúa là Đấng vượt quá lòng chúng ta có thể ngờ, và bây giờ Ngài vẫn đang tiếp tục làm những điều kỳ diệu và tuyệt vời cho mỗi người chúng ta, trong đời mỗi người chúng ta.

III. Thầy là cây nho các con là nhành

Tương quan giữa Thiên Chúa, Đức Giêsu, và chúng ta, được Tin Mừng theo thánh Gioan diễn tả như tương quan giữa người trồng nho, cây nho và nhành nho.  Đức Giêsu là cây nho, chúng ta là nhành.  Một nhành chỉ sống được và sinh hoa trái nếu nhành đó liên kết với thân cây, để lấy nhựa sống từ cây.  Giữa chúng ta và Đức Giêsu, có một mối dây rất gần gũi và mật thiết, như nhành và cây.  Nhành nào tách khỏi cây, sẽ khô héo và chết.  Tương tự vậy, chúng ta sẽ khô héo và chết nếu chúng ta không liên kết với Đức Giêsu.  Đức Giêsu là sức sống của mỗi người chúng ta.

Thiên Chúa như người chủ vườn nho.  Ngài chăm sóc cây nho và nhành nho.  Ngài muốn cây nho nhành nho sinh nhiều hoa trái.  Ngài chăm bón cắt tỉa, để nhành nho sinh trái nhiều hơn.  Hình ảnh Thiên Chúa như người chủ vườn rất quen thuộc đối với Đức Giêsu.  Người chủ vườn trông nom, chăm bón vun trồng để cây nho nhành nho sinh trái.  Thiên Chúa chăm sóc mỗi người chúng ta như vậy.  Nếu Ngài có cắt tỉa, là để chúng ta sinh nhiều hoa trái hơn.

Tương quan giữa Đức Giêsu và Thiên Chúa như tương quan giữa cây nho và ông chủ vườn.  Cây nho luôn tùy thuộc chủ vườn.  Người chủ vườn luôn quan tâm và chăm bón để cây nho có nhựa sống cung cấp cho nhành cây, để sinh nhiều hoa trái.  Đây là hình ảnh, nó chỉ diễn tả phần nào sự thật.  Thiên Chúa luôn có sáng kiến tuyệt vời, để làm những điều kỳ diệu, và ngay cả có thể làm cho những cành nho như thể khô đét có được sức sống và sinh trái.  Thiên Chúa là người chủ vườn tuyệt vời.  Thiên Chúa làm chúng ta có sức sống và sinh trái qua Đức Giêsu.

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

THÁNH MARCÔ, THÁNH SỬ (có Youtube)

Thánh Marcô, mặc dù mang tên Roma, nhưng lại là người Do Thái, và còn được gọi theo tên Do Thái là Gioan.  Tuy không thuộc nhóm Mười Hai Tông Đồ, nhưng rất có thể ngài đã quen biết Chúa Giêsu.  Nhiều văn gia Giáo Hội phát hiện ra chữ ký kín ẩn của thánh Marcô trong Phúc Âm của ngài, trong trình thuật người thanh niên bỏ chạy với một mảnh vải trên người, khi Chúa Giêsu bị bắt trong vườn Cây Dầu: ý nghĩa ở đây là chỉ có mình thánh Marcô đề cập đến chi tiết ấy.  Điều này còn trùng hợp với một chi tiết khác: Marcô là con trai bà Maria, một góa phụ giàu có, sở hữu ngôi nhà, nơi các tín hữu Jerusalem tiên khởi thường tụ họp.  Theo một truyền thống cổ xưa, ngôi nhà này chính là ngôi nhà có phòng Tiệc Ly, nơi Chúa Giêsu đã ăn bữa Tiệc Ly và thiết lập bí tích Thánh Thể.

Marcô có bà con với thánh Barnabas; ngài đã đồng hành với thánh Phaolô trong cuộc truyền giáo lần thứ nhất, và ở bên cạnh vị Tông Đồ dân ngoại trong những ngày cuối đời của ngài.  Tại Roma, Marcô còn làm môn đệ của thánh Phêrô.  Trong Phúc Âm của ngài, với ơn linh hứng Chúa Thánh Thần, thánh Marcô đã trung thành trình bày giáo huấn của vị Tông Đồ trưởng.  Theo một truyền thống cổ xưa được thánh Jerome kể lại, sau khi hai thánh Phêrô và Phaolô chịu tử đạo, thánh Marcô đã sang Alexandria, giảng đạo, thành lập giáo đoàn và trở thành giám mục tiên khởi ở đó.  Vào năm 825, thánh tích của ngài được dời từ Alexandria về Venice, thành phố hiện nay nhận ngài làm quan thầy.

  1. Marcô, người phụ tá của thánh Phêrô.

Ngay từ khi còn rất trẻ, Marcô đã thuộc vào nhóm các tín hữu tiên khởi ở Jerusalem, những người quen biết và được sống bên cạnh Đức Mẹ và các Tông Đồ.  Mẹ của ngài là một trong những phụ nữ đã lấy tài sản chu cấp cho Chúa Giêsu và mười hai Tông Đồ.  Marcô cũng có bà con với thánh Barnabas, một trong những nhân vật chính yếu trong thời kỳ đầu, và là người đầu tiên dìu dắt ngài trong công cuộc rao giảng Phúc Âm.  Marcô đồng hành với thánh Phaolô và thánh Barnabas trong hành trình truyền giáo lần thứ nhất, nhưng khi đến đảo Cyprus, Marcô cảm thấy không thể tiếp tục được nữa nên đã từ giã và trở về Jerusalem.  Thánh Phaolô dường như rất thất vọng về tính thay đổi của Marcô.  Về sau, khi trù định cho hành trình truyền giáo lần thứ hai, thánh Barnabas muốn đem theo Marcô, nhưng thánh Phaolô nhất định không chịu vì nhớ lại sự việc trước đó.  Cuộc tranh luận giữa thánh Phaolô và thánh Barnabas căng thẳng đến nỗi sau cùng hai vị đã chia tay, mỗi người tiến hành chương trình của riêng mình.

Khoảng mười năm sau, chúng ta lại thấy Marcô tại Roma, lần này ngài giúp đỡ thánh Phêrô.  Lời thánh Phêrô đã viết trong thư: con tôi là Marcô, minh chứng mối liên hệ lâu bền và gần gũi giữa hai vị.  Thời gian ấy, Marcô là thông dịch viên cho vị Tông Đồ trưởng, việc này đem lại một lợi điểm mà chúng ta nhận ra trong Phúc Âm được ngài viết sau đó ít năm.  Mặc dù không ghi lại một bài giáo huấn dài nào của Chúa, nhưng bù lại, thánh Marcô đã mô tả rất sinh động về những biến cố trong cuộc sống của Chúa Giêsu với các Tông Đồ.  Trong các trình thuật của ngài, chúng ta thấy hiện lên những thị trấn nhỏ ven bờ biển Galilê; chúng ta cảm nhận được những lời bàn tán của đám đông đi theo Chúa Giêsu, chúng ta như thể tiếp xúc với những cư dân của các địa phương ấy, nhìn thấy những việc kỳ diệu của Chúa Giêsu, và những phản ứng tự phát của nhóm Mười Hai.  Tóm lại, chúng ta thấy mình như giữa đám đông dân chúng, được chứng kiến các biến cố Phúc Âm.  Qua những mô tả sinh động, thánh Marcô đã in đậm vào linh hồn chúng ta một hấp lực dịu dàng nhưng không sao cưỡng lại của Chúa Giêsu mà dân chúng và các Tông Đồ đã cảm nghiệm được trong cuộc sống với Thầy Chí Thánh.  Thánh Marcô đã trung thành ghi lại những hồi tưởng thân mật của thánh Phêrô với Thầy Chí Thánh: những ký ức ấy không phai nhòa theo năm tháng, nhưng càng ngày càng sâu đậm và sinh động hơn, càng thấm thía và hứng thú hơn.  Có thể nói Phúc Âm thánh Marcô là tấm gương sinh động về giáo huấn của thánh Phêrô.

Thánh Jerome cho chúng ta biết, theo thỉnh nguyện của các tín hữu Roma, Marcô, môn đệ và thông ngôn của thánh Phêrô, đã viết Phúc Âm theo những gì ngài đã được nghe thánh Phêrô giảng dạy.  Và chính thánh Phêrô, sau khi đã duyệt bản Phúc Âm ấy, đã dùng quyền bính chấp thuận cho sử dụng trong Giáo Hội.  Đây thực sự là sứ mệnh chính trong cuộc đời thánh Marcô: trung thành ghi lại những lời giảng của thánh Phêrô.  Ngài đã để lại cho hậu thế biết bao ích lợi!  Ngày nay, chúng ta thực sự phải mang ơn thánh Marcô vì nhiệt tâm ngài đã đặt vào công việc và lòng trung thành với ơn linh hứng của Chúa Thánh Thần!  Ngày lễ kính thánh Marcô là dịp để chúng ta xét lại việc hằng ngày chúng ta đọc Phúc Âm, lời Chúa nói trực tiếp với chúng ta, như thế nào.  Chúng ta có thể tự hỏi đã bao lần chúng ta đã sống như người con hoang đàng, hoặc áp dụng cho mình lời cầu khẩn của anh mù Bartimaeus: Lạy Chúa, xin cho con được nhìn thấy – Domine, ut videam!  Hoặc lời thỉnh nguyện của người cùi: Lạy Thầy, nếu Thầy muốn, xin cho tôi được sạch – Domine, si vis, potes me mundare!  Bao lần chúng ta cảm thấy tận đáy lòng rằng Chúa Kitô đang nhìn và mời gọi chúng ta hãy sát bước theo Người, kêu gọi chúng ta hãy vượt thắng một thói xấu nào đó làm chúng ta xa cách Người, hoặc như các môn đệ trung thành, hãy sống nhân ái hơn nữa với những người khó hòa hợp với chúng ta?

  1. Là khí cụ của Chúa, chúng ta phải luôn sẵn sàng thực hiện một cuộc khởi đầu mới.

Thánh Marcô đã giúp đỡ thánh Phêrô nhiều năm tại Roma, ở đó, chúng ta còn thấy ngài phụ giúp thánh Phaolô nữa.  Quả thế, con người mà thánh Phaolô thấy không thể sử dụng trong hành trình truyền giáo lần thứ hai thì nay lại là một niềm an ủi, và là một người bạn trung thành.  Vào khoảng năm 66, thánh Tông Đồ đã viết cho Timothy: Con hãy đem Marcô đi với con, vì anh ấy rất hữu ích cho công việc phục vụ của cha.  Sự kiện đảo Cyprus một thời hết sức ảm đạm, thì nay dường như đã bị quên lãng hoàn toàn.  Giờ đây, thánh Phaolô và thánh Marcô là bạn hữu và đồng sự của nhau trong công cuộc quan trọng là mở rộng vương quốc Chúa Kitô.  Thực sự đây là một tấm gương lớn lao và cũng là một bài học tuyệt vời cho chúng ta học biết: đừng bao giờ kết luận dứt khoát về một ai, khi nào cần thiết một ai, chúng ta hãy biết cách nối lại mối dây thân hữu mà đã có lúc xem như đã tan rã hoàn toàn!

Giáo Hội hôm nay nêu lên mẫu gương thánh Marcô.  Thật là một hy vọng và ủi an khi chiêm ngưỡng đời sống vị sử gia thánh thiện này.  Mặc dù có những yếu đuối, nhưng chúng ta vẫn có thể như ngài, tin tưởng vào ơn Chúa và sự phù trợ của Mẹ Giáo Hội.  Những thất bại và những hành vi nhát đảm của chúng ta, dù lớn hoặc nhỏ, phải làm chúng ta khiêm tốn hơn, liên kết chúng ta mật thiết hơn với Chúa Giêsu, và kín múc từ nơi Chúa nguồn sức mạnh mà chúng ta đang thiếu thốn.

Chúng ta đừng để những bất toàn nên cớ làm chúng ta xa cách Chúa hoặc từ bỏ sứ mạng tông đồ, mặc dù đôi khi chúng ta đã không đáp ứng đúng mức với ơn Chúa, hoặc chúng ta đã ngần ngại khi được nhờ cậy.  Những hoàn cảnh như thế, nếu có khi nào xảy ra, chúng ta không nên ngạc nhiên, bởi vì như lời thánh Phanxicô Salê đã nói, Không có gì phải ngạc nhiên vì bệnh tật là bệnh tật, yếu đuối là yếu đuối, và gian ác là giac ác.  Tuy nhiên, hãy hết sức gớm ghét điều bạn đã xúc phạm đến Chúa, và với lòng tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa, hãy quảng đại quay lại con đường mà bạn đã từ bỏ. Những thất bại và những hành vi nhát đảm rất quan trọng.  Chúng khiến chúng ta trở về bên Chúa để nài xin ơn tha thứ và trợ giúp của Người.  Nhưng Chúa vẫn tin tưởng chúng ta, và chúng ta vẫn cậy trông ơn Chúa, nên chúng ta hãy lập tức làm lại và quyết tâm trung thành hơn trong tương lai.  Với ơn phù trợ của Đức Mẹ, chúng ta sẽ biết cách rút ra điều hữu ích từ những yếu đuối, nhất là khi kẻ thù, những kẻ không bao giờ nghỉ ngơi, ra sức làm chúng ta thất đảm và từ bỏ cuộc chiến.  Chúa Giêsu muốn chúng ta thuộc về Người mặc dù chúng ta đã có một lịch sử yếu đuối với những sai phạm.

  1. Sứ vụ tông đồ.

Hãy đi khắp thế gian và rao giảng Tin Mừng cho mọi thụ tạo.  Hôm nay, chúng ta đọc những lời này trong Ca Nhập Lễ.  Đây là sứ vụ tông đồ Chúa đã ban và thánh Marcô đã ghi lại.  Về sau, được ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy, thánh nhân đã minh chứng lệnh truyền ấy đã được thực hiện khi ngài chép Phúc Âm: Các tông đồ ra đi và rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và củng cố tin mừng bằng những phép lạ kèm theo.  Đó là những lời thánh Marcô kết thúc Phúc Âm của ngài.

Thánh Marcô đã trung thành với sứ vụ tông đồ mà ngài đã nghe qua lời giảng của thánh Phêrô: Hãy đi khắp thế gian.  Chính thánh Marcô và Phúc Âm của ngài đã là một thứ men hiệu quả cho thời đại ngài.  Chúng ta cũng phải trở nên một thứ men tốt cho thời đại chúng ta.  Nếu sau lần nhát đảm, thánh nhân đã không khiêm nhượng và dũng cảm làm lại, có lẽ giờ đây chúng ta không có những kho tàng lời giảng và việc làm của Chúa Giêsu để thường xuyên suy gẫm, và nhiều người, nếu không nhờ ngài, chắc cũng chẳng bao giờ biết được Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ của nhân loại.

Sứ mạng của thánh Marcô – cũng như của các Tông Đồ, của các nhà truyền giáo, của các tín hữu tốt lành luôn ra sức sống đúng với ơn gọi của mình – chắc chắn không phải là một sứ mạng dễ dàng.  Chúng ta biết ngài đã chịu tử đạo.  Ắt hẳn thánh nhân đã trải qua kinh nghiệm chịu bách hại, mệt mỏi, và hiểm nguy trong việc theo bước Chúa.

Chúng ta hãy cám tạ Thiên Chúa, cũng như các tín hữu thời các Tông Đồ, vì sức mạnh và niềm vui Chúa Kitô đã được truyền lại đến ngày nay cho chúng ta.  Mọi thế hệ Kitô hữu, mọi cá nhân đều được mời gọi lãnh nhận sứ điệp Phúc Âm và truyền thụ lại cho người khác.  Ơn Chúa không bao giờ thiếu: Non est abbreviata manus Domini – Cánh tay Chúa không bị thu ngắn.  Người tín hữu biết Chúa đã thực hiện các phép lạ từ nhiều thế kỷ trước kia, và hiện nay Người vẫn đang thực hiện.  Với ơn Chúa giúp, mỗi người chúng ta cũng sẽ thực hiện những phép lạ nơi tâm hồn thân nhân, bạn bè, và những người quen biết, nếu chúng ta sống trong mối kết hợp với Chúa Kitô qua lời cầu nguyện.

*********************

Lạy Chúa là Thiên Chúa của chúng con,
Có rất nhiều điều trong chúng con đã che lấp lời của Chúa
Và ngăn trở chúng con trở thành Giáo Hội thật sự của Chúa.
Hôm nay, chúng con cầu xin Chúa:
Xin hãy gọi chúng con, như Chúa đã gọi Máccô xưa kia,
Để chúng con nói và sống Lời Chúa.
Xin Chúa hãy linh ứng chúng con qua Chúa Thánh Thần
Và xin hãy dạy chúng con sống trong hy vọng
Rằng vương quốc của Chúa sẽ đến
Và ở lại giữa chúng con
Nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con
Bây giờ và muôn đời.

Sưu tầm

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

GIÀU SANG, QUYỀN LỰC (có Youtube)

Thời trước, người ta ít nói đến “sống trên đời” cho bằng việc rỗi linh hồn.  Họ không lưu tâm nhiều đến những vấn đề kinh tế, chính trị như chúng ta ngày nay.  Họ chú tâm nhiều về những vấn đề luân lý, đạo giáo.  Ngày nay, sức lôi cuốn của Trời Cao đã giảm bớt đối với nhiều người, và người ta quan tâm gắn bó với trần thế nhiều hơn.  Khát vọng tìm kiếm Thiên Chúa đã và đang nhường chỗ cho khát vọng săn đuổi giàu sang, quyền lực.  Thần tượng của thế kỷ này không phải là các thánh, mà là những kẻ đạt tới “đỉnh cao”.

Xoay quanh việc xác định tầm mức quan trọng cho các tiêu chuẩn thành công trên đời này, người ta có hai thái độ trái ngược nhau.  Liệu có nên tôn sùng và tìm kiếm sự thành công, cho đó là điều thiện hảo nhất trong cuộc đời hay không?  Hay ngược lại, phải kết án chuyện đó bởi vì nó xấu xa?  Những kẻ đầy tham vọng chấp nhận thái độ cực đoan đầu.  Thái độ sau là của hai nhóm phản kháng: nhóm vô chính phủ – lên án mọi thứ quyền bính, và nhóm Cộng sản – phỉ báng mọi người giàu có.

Chỉ có một tiêu chuẩn đúng đắn và đầy đủ lý lẽ để đánh giá các quan điểm trên đây.  Đó chính là cuộc đời của Chúa chúng ta.  Những chuyện thuật lại trong Tin Mừng cho thấy rằng quyền lực và giàu sang đều là những lý tưởng và tham vọng chính đáng, nhưng chúng phải tuân theo một số qui định mà thế gian này thường không đếm xỉa gì đến.  Những qui định này được mặc khải cho ta qua cuộc đời ẩn dật của Chúa Giêsu tại Nazareth.  Đó là hai điều này: không ai có thể cầm giữ quyền bính nếu kẻ ấy không học biết vâng phục, như Đức Kitô hằng vâng phục cha mẹ mình vậy.  Và không ai có thể tận hưởng giàu sang được nếu kẻ ấy không học biết cách từ bỏ nó, như Chúa đã làm, Ngài đã chọn cho mình một nghề khởi đầu là nghề thợ mộc nghèo nàn.

Vậy thì, ở đây là Uy Quyền đã trở thành Hèn Kém, Chủ trở nên nô lệ, vị Chúa Tể trở nên kẻ phục vụ.  Qui phục Chúa Cha là khúc dạo đầu cho các phép lạ và quyền lực kế tiếp.  Và chúng ta cũng phải bắt chước như thế.  Hết thảy mọi thứ quyền lực… chính trị, công nghệ, xã hội, kinh tế… đều phải qui phục Quyền Năng trên cao và phải khép mình vào kế hoạch của Thiên Chúa trước đã, sau đó mới có thể chính đáng qui phục kẻ khác được.  Quyền lực không phải được kiểm tra từ phía dưới, kiểu như thái độ thách thức vô chính phủ hoặc đảo chánh, mà chính nó phải biết tự giới hạn từ trên xuống.  Quyền lực trần thế có quyền yêu cầu mọi người tuân phục chỉ khi nào biết vâng phục Đấng Toàn Năng trên cao.  Quyền bính trần thế được tôn trọng khi phù hợp với ý muốn của Đấng Tạo Hoá.  Kẻ cầm quyền chỉ được tôn phục khi họ biết tôn kính Thiên Chúa.

Với giàu sang cũng vậy: Chúa đã dạy ta rằng không ai trở nên giàu sang nếu họ không học biết từ bỏ nó.  Những năm ẩn dật ở Nazareth không phải có ý nhắn nhủ ta phải tôn vinh sự nghèo khổ, cam chịu những điều kiện sống tồi tệ nhếch nhác, hoặc sống gian khổ trong cảnh đói rách bần hàn.  Chúa chúng ta nghèo khó thật sự.  Ngài lao động cật lực mới kiếm đủ ăn đủ mặc.  Ngài là một thợ mộc nghèo nàn, nhưng Ngài cũng là một Thiên Chúa giàu sang, làm chủ cả thế giới.  Ngài còn là vị Thiên Chúa quyền uy nhưng lại tự mình trở nên hèn kém.  Giàu sang và quyền uy tự bản thân của chúng đều không có gì xấu xa, bởi vì chúng thuộc về Thiên Chúa.

Bởi thế người Cộng sản căm thù kẻ giàu có chỉ vì họ giàu.  Người Cộng sản không hề tìm thấy sự tán đồng của Kitô giáo trong việc đó.  Không ai có quyền khinh miệt người giàu có, nếu cũng như Chúa, họ đã chứng tỏ rằng mình không bị đam mê chiếm hữu ràng buộc… và như thế, họ cũng không muốn miệt thị ai cả.  Cuộc sống đạm bạc ở Nazareth không phải là để lên án sự phú quý hoặc tôn vinh sự nghèo hèn: mà là minh họa cho học thuyết tuyệt diệu về việc từ bỏ.  Các môn đệ theo Chúa Kitô, họ cũng dứt bỏ được của cải để tìm kiếm vinh quang Thiên Chúa, dù rằng sản nghiệp của họ chỉ vỏn vẹn một ít ngư thuyền và lưới đánh cá, và quí báu nhất là ý chí của họ.

Thiên Chúa không hề xúi kẻ nghèo chấp nhận sự nghèo đói, hay bảo ta phải đi tìm kiếm bần cùng.  Ngài không tôn vinh người nghèo cũng như kẻ giàu.  Nhưng Ngài đã khen ngợi người nghèo khó kia, kẻ đã một thời gian giàu sang, nay vui lòng sống nghèo khổ… chính người nghèo, do sẵn sàng từ bỏ mọi sự, mà trở thành có mọi sự – kẻ nào không muốn gì cả, lại có tất cả.  Bởi vì Thiên Chúa không hề khuyên răn phải “từ bỏ” sự phú quý để được sự “hư không”; đúng hơn, Ngài thừa nhận việc đánh đổi sự phú quý để được giàu có lớn lao hơn trên Nước Trời.  Ngài không bảo “Phúc cho kẻ nghèo” hay “Phúc cho kẻ giàu.”  Ngài bảo “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó.”

Cuộc đời ẩn dật ở Nazareth không chỉ nói lên lý lẽ đơn giản về “thanh bần” hoặc “yếu hèn trong sự thánh thiện”; bản thân những điều này không phải là nhân đức theo nghĩa của đạo Công giáo.  Bài học Nazareth dạy ta biết về sự giàu sang của những ai đạt tới tinh thần khó nghèo bằng sự từ bỏ, và về quyền lực của những ai biết trở nên hèn kém để phục vụ anh em.  Chúa của chúng ta là Đấng duy nhất từ xưa tới nay đã đồng hành với thế giới mà hết thảy những người, giàu hoặc nghèo, chủ hoặc tớ, mạnh mẽ hay yếu đuối đều được quyền gọi Ngài là Chúa, đều có quyền thành tâm gọi Ngài là đồng loại với mình, Ngài là Người như ta.

Đức cha Fulton Sheen
(Nguyên tác: Way to Happiness)

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

TẠI SAO HỌ KHÔNG ĂN CHAY?

Ngày xưa người Ai Cập thường ăn chay để được trẻ trung hơn; người Hy Lạp ăn chay để tinh thần được linh lợi hơn; người thổ dân Nam Mỹ ăn chay để biểu lộ lòng can đảm. Các nghệ sĩ vẽ tượng thánh người Nga thường ăn chay để vẽ cho đẹp hơn.  Những sự kiện lý thú này cũng như nhiều sự kiện khác nữa được tìm thấy trong quyển sách hấp dẫn của Bác sĩ Allan Cott nhan đề: “Chay tịnh: phương pháp kiêng cử đích thực” (Fasting: The Ultimate Diet.)

Tờ bìa của quyển sách được mọi người ưa thích này có ghi “Ăn chay có thể giúp chúng ta cảm thấy khoẻ mạnh hơn về mặt thể lý cũng như về mặt tâm linh. Thật thế, trái với mọi người thường lầm tưởng, đối với những người trưởng thành, việc ăn chay trong một thời gian dài cũng không làm hại cho sức khoẻ của họ.  Ngược lại, ăn chay đem cho họ nhiều lợi ích. Bác Sĩ Cott kể ra hai trường hợp thú vị để minh hoạ điều ông nói:  Những người lính Nhật ẩn náu trong vùng rừng núi Philippines hơn 30 năm sau thế chiến thứ 2 vì không muốn đầu hàng đồng minh, vẫn khoẻ mạnh hơn nhiều so với các chiến hữu của họ đã trở về nhà sinh sống.  Và dân chúng anh quốc trong thời kỳ thực phẩm khan hiếm suốt thế chiến thứ 2 phải ăn theo khẩu phần thế mà vẫn trông thật tráng kiện.  Khi chế độ khẩu phần chấm dứt thì tình trạng sức khoẻ trong nước bắt đầu tồi tệ và những bệnh tật hầu như không thấy xuất hiện trong thời kỳ ăn theo khẩu phần nay bắt đầu lộ diện.  Bác sĩ Charler Goodrich cho rằng trở ngại chính khiến ngày hôm nay người ta không làm được gì hết.  Nỗi sợ này, theo ông, nằm sâu trong mỗi người chúng ta.

************************

Ngoài việc ăn chay vì những lý do tự nhiên như để trẻ trung hơn, khỏe mạnh hơn và để biểu lộ lòng can đảm–người xưa còn ăn chay vì những lý do về tâm linh nữa. Hầu hết mọi tôn giáo trên thế giới đều tán dương việc ăn chay. Truyền thuyết kể rằng Đức Phật vì ăn chay nhịn đói nên đã gầy guộc đến nỗi khi hóp bụng lại, ngài có thể chạm vào xương sống của mình.  Bắt chước Chúa Giêsu ăn chay 40 ngày trong sa mạc, các kitô hữu sơ khai cũng ăn chay để ăn năn tội và cầu xin sự trợ giúp đặc biệt của Chúa.  Dân Do Thái ngày xưa cũng ăn chay vì những lý do tương tự: để ăn năn tội, để biểu lộ lòng thương tiếc kẻ chết, để chuẩn bị và hối thúc Đấng Mesia và Nước Chúa đến.  Vì thế chúng ta không ngạc nhiên khi thấy người ta tranh luận sôi nổi về vấn đề ăn chay trong bài Phúc Âm hôm nay.  Bài Phúc Âm không kể rõ lý do các môn đệ thánh Gioan tẩy giả ăn chay nhưng có lẽ họ làm thế là để chuẩn bị cho việc Đấng Mesia và Nước Thiên Chúa sắp đến. Thực thế, thánh Gioan tẩy giả đã báo cho các môn đệ ngài một điều vĩ đại đang xảy ra. Điều này giải thích được câu trả lời của Chúa Giêsu khi Ngài nói: “điều trọng đại đang xảy ra. Đấng Mêsia đã đến, vương quốc đang cận kề.  Lý do ăn chay giờ đây không còn giá trị nữa”. Bây giờ mà vẫn ăn chay thì khác nào tiếp tục băng bó cánh tay sau khi nó đã lành hẳn rồi, khác nào tiếp tục che dù sau khi cơn mưa đã tạnh!

Điều trên đây nêu cho chúng ta một điểm quan trọng: việc sống đạo của chúng ta đôi khi giống hệt lối sống đạo của dân Do Thái ngày xưa.  Họ ăn chay là để chuẩn bị chờ đón Đấng Mêsia và nước Thiên Chúa đến, thế mà khi Đấng Mêsia và Nước Chúa đến, họ vẫn cứ tiếp tục ăn chay.  Có lẽ vì đã có thói quen ăn chay quá lâu, nên họ quên mất lý do đầu tiên của việc ăn chay, để rồi việc ăn chay giờ đây chỉ còn là một thói quen máy móc.

Các nhà tâm lý cảnh giác chúng ta đừng để thói quen và tập quán chế ngự một số lãnh vực trong đời sống chúng ta. thực ra, thói quen vô cùng hữu ích cho chúng ta trong một số lãnh vực nhưng đồng thời cũng có thể gây tác hại trong một số lãnh vực khác.

Tôn giáo là một lãnh vực cần đến thói quen, chẳng hạn thói quen cầu nguyện mỗi ngày thực vô cùng ích lợi. Tuy nhiên trong một số lãnh vực khác, thói quen lại gây tác hại, chẳng hạn vịêc nhúng tay nước thánh và làm dấu thánh giá khi bước vào giáo đường có thể trở nên quá lớn, quá thường đến nỗi chúng ta có thể làm điều đó mà chả suy nghĩ gì hết.  Chúng ta trở nên quá máy móc đến nỗi không còn nhớ đến ý nghĩa của việc chúng ta làm nữa.

Chúng ta có thể trở nên giống đám dân Do Thái thời Chúa Giêsu.  Họ đã không nhận ra lý do khiến họ ăn chay nữa. Cũng vậy, chúng ta có thể không còn nhận ra lý do tại sao chúng ta dùng nước thánh làm dấu thánh giá khi chúng ta bước vào nhà thờ.  Vì thế, thỉnh thoảng chúng ta cần hồi tâm suy nghĩ lại.  Chúng ta cần nhớ lại lý do chúng ta dùng nước thánh làm dấu “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.  Điều này nhắc ta nhớ lại ngày ta được rửa tội bằng nước với lời đọc “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.  Vì thế dùng nước làm dấu thánh giá trên mình nhằm giúp chúng ta ý thức lại Bí tích rửa tội của chúng ta

Chúng ta biết rằng thói quen và tập quán rất hữu ích trong một số lãnh vực thuộc đời sống Tôn Giáo của chúng ta. Tuy nhiên nếu chúng ta không cành giác, chúng sẽ trở nên vô cùng tác hại. Chẳng hạn chúng ta có thể thực hành một số hành vi tôn giáo cách máy móc đến nỗi làm mà không nghĩ gì hết, chúng không còn ý nghĩa gì đối với chúng ta nữa hết; Khi đó chúng ta sẽ bị rơi vào tình trạng nguy hiểm giống như đám người do Thái trong bài Phúc Âm hôm nay. Họ đã quên mất lý do ăn chay của họ. Họ đã quên mất rằng đó chỉ là dấu hiệu cho thấy lòng khao khát chuẩn bị đón chờ Đấng Mesia và nước Thiên Chúa đến.

************************

Lạy Chúa xin đừng để chúng con cầu nguyện và thực hành các nghi thức tôn giáo một cách máy móc theo thói quen.  Xin cho mọi lời nói và nghi thức tôn giáo mà chúng con thực hành được thực sự là những hành vi thờ phượng có ý thức.  Chúng con nguyện xin nhờ Chúa Kitô Chúa chúng con. Amen.

Lm Mark Link

BUỔI TRÌNH DIỄN KHÔNG ÐẠT

Một nghệ sĩ trẻ tuổi đang trình diễn đàn dương cầm trước cử tọa ngồi chật cả thính phòng.  Tất cả đều im lặng như nín thở để theo dõi từng nốt nhạc.

Theo lời quảng cáo, thì đây là lần trình diễn đầu tiên để giới thiệu một tài năng mới. Những ngón tay đẹp của nghệ sĩ không ngừng di động trên các phím đàn, hòa điệu với những âm thanh trầm bổng của dòng nhạc.

Bản đàn vừa chấm dứt, tất cả mọi người đứng dậy vỗ tay hoan hô nồng nhiệt.  Và nhiều giọng nói yêu cầu của cử tọa xin trình diễn tiếp thêm nữa.  Phải, tất cả mọi người đều đứng dậy bày tỏ lòng hâm mộ.  Nhưng chỉ trừ có một cụ già ngồi ở hàng ghế đầu có thái độ khác.  Cụ không đứng dậy vỗ tay tán thưởng, mà vẻ mặt lại để lộ chút không vui.

Trong khi đó trên sân khấu chàng nghệ sĩ trẻ tuổi rời dương cầm, bước ra ngoài tấm màn lớn đang từ từ kéo lại, cúi sâu chào khán thính giả, rồi vội vàng ẩn mình vào trong.

Chàng đến nhanh bên ông giám đốc tổ chức cuộc trình diễn, nói nhỏ:

– Không, tôi trình diễn chẳng hay gì cả, tệ lắm.

Ông giám đốc trả lời:

– Anh lầm rồi, mọi người vỗ tay hoan hô anh lâu như thế, mà anh bảo trình diễn dở nghĩa là làm sao?

Chàng nghệ sĩ trẻ nói tiếp:

– Không, tôi trình diễn không đạt. Ông có biết cụ già ngồi ngay hàng ghế đầu đấy không?  Cụ là thầy dậy của tôi đó.  Cụ không đứng dậy hoan hô, mà vẻ mặt còn có chút buồn nữa.  Ðó là dấu hiệu cho tôi biết chắc chắn là tôi chưa trình diễn hay đủ.

************************

Có thể so sánh cuộc đời mỗi người chúng ta với cuộc trình diễn của chàng nghệ sĩ này.

Thiên Chúa đã trao cho mỗi người chúng ta những tài năng khác nhau, và đã ban cho nhiều ơn, nhiều phương thế để huấn luyện ta sử dụng những tài năng ấy cho tốt đẹp, làm trổ sinh những hoa trái bổ ích.  Cách này hay cách khác, mỗi người chúng ta đã sử dụng những tài năng đó phục vụ anh chị em chung quanh.  Có thể anh chị em lên tiếng khen tặng ta, kính phục ta, hoan hô ta, như những khán thính giả từ ngoài nhìn vào.

Nhưng, như chàng nghệ sĩ kia chỉ nhìn vào thái độ của thầy mình để xem mình đã trình diễn đạt hay chưa, thì mỗi người người chúng ta cũng vậy, chúng ta cần nhìn lên Chúa để xem mình đã sống cuộc sống của mình một cách thành đạt chưa.

Chỉ có phán xét của Thiên Chúa là công bằng, không thiên tư.  Ngài là vị Thiên Chúa ẩn khuất, nhưng Ngài thấu suốt mọi sự, mọi hành động của chúng ta.  Chỉ mình Ngài mới đánh giá đúng từ bên trong.  Chúng ta cần qui chiếu về Ngài, về những lời dậy của Ngài được ghi trong sách Phúc Âm, để có thể biết mình đã sử dụng những tài năng Chúa ban cách tốt đẹp nhất chưa.

Ước chi mỗi ngày, mỗi giây phút trong cuộc sống, chúng ta đặt mình trước nhan Ngài sống trong sự hiện diện của Ngài và dâng mọi hành động lớn nhỏ cho Ngài.

Mỗi người chúng ta hãy nhớ rằng, vào phút cuối đời, khi chúng ta xuất hiện trước nhan Ngài cách vĩnh viễn, thì lúc đó, như trong Phúc Âm Ngài đã kể, Ngài sẽ phán xét các hành động của ta theo mẫu mực lối sống yêu thương.

R. Veritas

************************

Lạy Chúa là Đấng thấu suốt mọi sự, chỉ có Chúa mới hiểu rõ tâm can của mỗi người chúng con.  Có những lúc con hoạt động hăng say cho hội đoàn giáo xứ, được cha xứ anh chị em ngợi khen, nhưng khi nhìn Thầy con biết rằng mình không thể dối lòng để nhìn nhận rằng mình đang phục vụ cho cái tôi của mình để được mọi người biết tới, để được vị nể khâm phục.  Có những khi con cho người nghèo bạc trăm, bạc ngàn, được nghe lời cám ơn rối rít nhưng khi nhìn mắt Thầy con biết mình chỉ mới cho đi một dấu phẩy những gì mình đang có.  Lạy Chúa Giêsu, khi nhìn vào ánh mắt Thầy thì con thấy được chính con, xin cho con đủ can đảm để luôn nhìn thẳng vào mắt Thầy mỗi khi con làm việc gì cho Chúa và tha nhân.  Xin cho con đừng nản bước mỗi khi bắt gặp được ánh mắt thất vọng của Thầy mình.  Amen!

TỘI CON ĐÃ ĐƯỢC THA

Chuyện xảy ra ở bên Phi Châu.  Có một tín hữu da đen hết lòng tin nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế.  Anh thường kể chuyện Ơn Cứu Chuộc cho bạn bè nghe.  Một hôm, đang khi vác bao khoai từ ngoài đồng về, giữa đường anh gặp một người bạn.  Người này chẳng những không tin Chúa mà còn chế diễu niềm tin của anh.  Khi hai người gặp nhau, anh bạn liền mở lời trêu chọc:

– Làm sao anh biết mình đã được cứu chuộc?

Tín hữu da đen suy nghĩ giây lát và anh đã tìm ra lời giải.  Anh cố ý chạy tới trước để bao khoai rơi xuống phía sau, và hỏi người bạn:

– Làm sao tôi biết bao khoai đã rơi xuống trong khi tôi không ngó lại đàng sau?

Người bạn nhanh nhẩu đáp:

– Dễ thôi, vì gánh nặng trên vai anh đã nhẹ đi, lẽ nào anh lại không biết?

Tín hữu da đen gật đầu đắc chí:

– Gánh nặng đã nhẹ đi đương nhiên phải biết. Cũng thế, trước khi tin Chúa tôi cũng có một gánh nặng tội lỗi trong lòng.  Nhưng nay gánh nặng ấy không còn nữa.  Tôi đã được nhẹ nhàng thanh thản và tin rằng Chúa đã cứu chuộc tôi.

******************

Khi Đức Giêsu nói với người bất toại:  “Hỡi con, tội con đã được tha” (Lc 5,20), chắc hẳn anh cũng cảm thấy bình an, thanh thản vì biết mình được Chúa cứu.  Cuộc đời tưởng chừng như khép lại với người bất toại, nhưng khi gặp được Chúa thì một sức sống mới lại dâng trào.  Anh như cảm thấy trút được gánh nặng.  Trước hết, là gánh nặng của bệnh bất toại, sau nữa là gánh nặng của tội lỗi, vì người Do Thái cho rằng:  nguyên nhân của mọi bệnh tật là do tội lỗi.

Sau khi tuyên bố tha tội, Đức Giêsu đã cho người bất toại được lành bệnh.  Như vậy, việc chữa lành bệnh nhân chính là bằng chứng lời tha tội thực sự có hiệu quả.  Nếu hiệu quả hữu hình là việc lành bệnh mọi người đều thấy, thì hiệu quả vô hình là lời tha tội cũng làm cho mọi người phải tin nhận.

Một khi người bất toại chấp nhận lời tha tội của Đức Giêsu, thì chính anh cũng sẽ tin nhận Người là Đấng Cứu Thế, là Thiên Chúa thật, và là “Con Người” mà tiên tri Daniel đã loan báo.

Một khi người bất toại chỉ cầu mong được lành bệnh, mà Đức Giêsu còn ban ơn tha tội cho anh, thì anh chỉ còn biết “sửng sốt mà ngợi khen Thiên Chúa” khôn cùng.

Chúng ta hãy bằng lòng để cho Đức Giêsu thực hiện nơi chúng ta những gì Người đã làm cho người thanh niên bất toại

Hãy đến với Đức Giêsu trong Bí tích Giải tội, để lắng nghe Người nói với chúng ta những gì Người đã nói với kẻ bất toại:  “Hỡi con, tội con đã được tha”.

Hãy để lòng mình cảm nghiệm sự bình an, thanh thản của ơn tha thứ như người bất toại đã từng cảm nhận sau khi được chữa lành.

Hãy mở rộng lòng để đón nhận sự tha thứ, sự tha thứ đến vô cùng của Thiên Chúa.

Thánh Phaolô đã chia sẻ:  “Bẩm sinh chúng tôi là những kẻ đáng chịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa như những người khác.  Nhưng Thiên Chúa giàu lòng xót thương và rất mực yêu mến chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng cho chúng ta được cùng sống với Đức Kitô.  Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ” (Ep 2,4-5)

******************

Lạy Chúa, chúng con tin nhận Chúa là Đấng Cứu Chuộc chúng con.  Lòng thương xót Chúa muốn lôi kéo chúng con vào quê hương vĩnh cửu, nhưng chúng con lại mải mê chạy theo phù vân thế trần.  Xin tha thứ tội lỗi chúng con, cho chúng con cảm nghiệm được phúc bình an của lòng thương xót của Chúa.   Amen!

Thiên Phúc

SỰ YẾU ĐUỐI VÀ BẤT TOÀN CỦA CON NGƯỜI

Mời các bạn nghe mẫu chuyện vui sau đây:

Với vẻ mặt đầy lo âu, vị tu sĩ trẻ đến gặp tu viện trưởng của mình thú tội như sau:

– Thưa cha, từ mấy tháng nay, con thường gặp người phụ nữ mà con yêu thương.

Tu viện trưởng hỏi:

– Cô ta có yêu con không?

Vị tu sĩ trả lời:

– Thưa, có! Cô ta thương con lắm!

Tu viện trưởng nói:

– Thôi được, ta muốn con đi gặp cô ta, nhưng lần này con phải nói với cô ta rằng con là một tu sĩ, con đã thánh hiến cho Thiên Chúa và con phải sống độc thân. Con cũng phải nói dứt khoát với cô ta rằng con phải giã từ cô vì một lý tưởng cao cả hơn.

Vị tu sĩ trẻ đi ra vườn, nơi vẫn thuờng hẹn với cô gái, nhưng khi vừa thấy cô gái mà mình yêu thương và thường gặp hôm nay lại đẹp đến lạ lùng.  Vị tu sĩ đã bị cuốn hút hoàn toàn và không thể nói lên mục đích của mình đến đây là để tuyên bố chấm dứt mối quan hệ hiện nay.  Vị tu sĩ trẻ trở về gặp tu viện trưởng của mình và thưa lại rằng:

– Thưa cha, con đã không thể nói với nàng những điều cha đã căn dặn con, vì khi vừa nhìn thấy nàng đẹp lộng lẫy, con không thể để cho nàng đi.

Tu viện trưởng nói:

– Thật tội nghiệp cho con! Sự yếu đuối của con người đã ngăn cản không cho con dứt khoát cắt đứt liên hệ với cô ta.  Vậy, con hãy để ta làm thay cho con.  Ta sẽ giả làm con và sẽ đi gặp cô ta, ta sẽ thay con để nói lời cắt đứt quan hệ với cô ta.

Thế là vị tu viện trưởng giả làm vị tu sĩ trẻ ra vườn gặp cô gái.  Tu viện trưởng nhủ thầm: ”Đây quả là một cô gái có vẻ đẹp cuốn hút đến lạ thường”.  Phần cô gái, tưởng rằng người ngồi bên cạnh mình là vị tu sĩ trẻ, người mà cô yêu thương, nên cô thì thầm với tu viện trưởng những lời rất đỗi ngọt ngào.   Cô nói:

– Anh yêu, chúng ta hãy cưới nhau đi.

Thay vì trả lời cô gái như đã khuyên người tu sĩ trẻ, vị tu viện trưởng mau mắn nhận lời cô gái và hỏi lại:

– Khi nào chúng ta sẽ làm lễ cưới?

******************

Có thể trong cuộc đời không hiếm những lần chúng ta làm cố vấn cho anh chị em ta.  Chúng ta thường dễ dàng đưa ra những lời khuyên rất lý tưởng mà ít để ý đến tâm trạng, nỗi đau, những ưu tư, khắc khoải và khả năng chịu đựng cũng như hoàn cảnh của khổ chủ.  Chúng ta dễ dàng khuyên người khác, muốn kẻ khác phải sống như thế này thế nọ, mà chính mình thì không làm được như vậy.  Như vị tu viện trưởng trong câu chuyện vui ở trên, chỉ khi đặt mình vào hoàn cảnh vị tu sĩ trẻ, ông mới phần nào hiểu được tâm trạng và những khó khăn thử thách mà vị tu sĩ trẻ phải đương đầu.  Sự yếu đuối và bất toàn nơi mỗi người chúng ta không phải là một điều xấu, nhưng nó mời gọi chúng ta hãy sống trong cảm thông với anh chị em chung quanh.  Chúa đặt để chúng ta mỗi người trong một hoàn cảnh riêng.  Mỗi người đều mang cho mình cả những ưu điểm lẫn khuyết điểm, điểm mạnh cũng như điểm yếu, cả sở trường lẫn sở đoản.  Điều quan trọng là chúng ta phải giúp nhau vượt qua tất cả những khó khăn, giới hạn của nhân tính.

Uớc gì những yếu đuối và giới hạn của chúng ta cũng như của những người chúng ta gặp gỡ làm cho mỗi người chúng ta xích lại gần nhau trong sự cảm thông và tình thương quảng đại, để  ”người yêu người, sống để yêu nhau”.

Chúa Giêsu, tuy là Thiên Chúa, nhưng Ngài vẫn mang lấy tất cả những nỗi yếu hèn của một con người để cảm thông và chia sẻ với con người trong những cái cùng khốn nhất.  Mỗi chúng ta hãy noi gương đời sống thánh thiện và yêu thương của Người để sống như Người.

******************

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã lặn thật sâu trong bản tính yếu hèn của con người để nâng chúng con lên, cho hưởng sự toàn hảo trong thiên tính của Ngài. Xin ban Thánh Thần tình yêu của Ngài xuống trên chúng con, giúp chúng con đón nhận những yếu đuối và những khác biệt nơi những người khác, và dùng hết khả năng của mình để tự lướt thắng bản thân cũng như giúp anh chị em đạt đến sự cùng đích của sự hoàn hảo là quê trời vĩnh cửu.

R. Veritas

NGƯỜI VỢ PHI THƯỜNG

Trong một túp lều tranh lụp xụp tại một xóm nghèo thuộc vùng ngoại ô của thành phố Bombay, một người đàn bà đáng thương phải sống những ngày hẩm hiu với đàn con thơ dại.

Chồng bà là một người cha gia đình tục tằn thô bạo, chỉ biết ăn chơi nhậu nhẹt và cờ bạc, không thiết chi đến bổn phận đối với gia đình.  Ông vắng nhà suốt ngày.   Các con của ông chỉ thấy ông trở về mỗi buổi tối trong cơn say mèm hoặc trong trận lôi đình đập đánh, chửi rủa.

Những lúc như thế, bà vợ chỉ biết đem các con giấu đi để bảo toàn tính mạng cho chúng. Ngày ngày bà cực nhọc vá may, hoặc vất vả giặt giũ từ nhà này sang nhà khác để kiếm tiền nuôi con.

Trong thinh lặng, bà nhẫn nhục cam chịu mọi bạc bẽo và những trận đòn oan ức của chồng.

Rồi vào một buổi tối kia ông trở về nhà muộn hơn thường lệ, nhưng tỉnh táo và ít say sưa hơn.  Vừa bước tới hiên nhà ông nghe tiếng thì thầm từ trong túp lều ra.  Một nỗi nghi ngờ xâm chiếm tâm hồn ông.  Máu ghen bừng bừng nổi dậy và ông ta tự nhủ: “Thật vô phúc cho kẻ nào rơi vào tay ta”.

Ông liền đứng lại trước cửa và ghé tai vào vách, trố mắt nhìn qua khe lá hở.  Quanh ngọn đèn dầu leo lét ông thấy các con nhỏ quây quần bên cạnh vợ ông.  Ông nghe rõ tiếng bà nói với các con:

– Các con hãy đọc thêm một kinh Lạy Cha để cầu nguyện cho người cha tốt lành của các con.

Trước khung cảnh đầm ấm tình mẫu tử đó, bỗng chốc lửa hung ác trong trái tim ông như tắt ngụm. Tâm hồn cứng cỏi của ông trở nên như sáp ong mềm ra trước hơi nóng.  Mắt ông như bừng sáng sau một cơn mê ngủ dài.

Ông đã nhận ra tấm lòng tốt và tình yêu quảng đại của vợ ông, người mà từ trước đến nay ông vẫn ngược đãi.  Vợ ông không những đã tha thứ, mà còn tìm cách xóa bỏ hình ảnh xấu về ông bằng cách in vào tâm trí các con mình hình ảnh tốt của ông như một người cha.

Ông cảm thấy như có cục than hồng đốt cháy trên đầu ông.  Và từ ngày đó ông nhất quyết trở nên một người cha tốt lành, người chồng chung thủy và có tinh thần trách nhiệm, như vợ con ông hằng nghĩ tốt về ông.

******************

Câu chuyện trên đây cho chúng ta thấy đâu là sức mạnh của lòng tha thứ.  Tha thứ đổi mới tâm hồn, làm phát sinh sự sống mới, gây thêm lòng can đảm, để bắt đầu con đường sống mới.

Lòng tha thứ quảng đại và vô điều kiện của người mẹ, người vợ trong câu chuyện trên đây là phản ảnh lòng thương tha thứ vô biên của Thiên Chúa được mặc khải cho chúng ta qua Kinh Thánh, nhất là nơi bản thân Chúa Giêsu.

Là hồng ân mà Thiên Chúa ban cho con người tội lỗi, Chúa Giêsu cũng mời gọi ta chia sẻ sức mạnh của Ngài.

Mỗi Kitô hữu cũng là một ơn tha thứ mà Thiên Chúa muốn trao tặng cho người khác.

Mỗi ơn tha thứ là một cuộc biến đổi.  Chúa Giêsu kêu mời chúng ta cùng với Ngài thực thi sứ mệnh trao ban ơn tha thứ hầu biến đổi anh chị em chúng ta nên người con thật tốt lành và trọn vẹn đáng yêu của Chúa Cha, cũng như chính chúng ta đã được tha thứ và biến đổi.

R. Veritas

******************

Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết sống yêu thương, tha thứ và quảng đại như người vợ trong câu chuyện trên.  Xã hội hiện đại ngày nay với bao gia đình tan vỡ, con cái phải đứng trước sự chọn lựa ở với cha hoặc với mẹ, chỉ vì không còn hình bóng của tình yêu, lòng tha thứ, sự chịu đựng lẫn nhau trong gia đình.  Lạy Thiên Chúa Tình Yêu, xin chúc phúc cho gia đình của mỗi người chúng con để mỗi gia đình Kitô hữu trở nên một gia đình Nazarét hạnh phúc đầm ấm khi xưa.  Xin dạy chúng con, những người vợ người chồng, không chỉ biết yêu thương và nhớ đến nhau trong ngày Lễ Tình Yêu khi chúng con còn là tình nhân, mà chúng con sẽ yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày trong suốt cuộc đời chúng con.  Amen!

ÁNH TRĂNG TÂM LINH

‘‘Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.’’

Trăng ở trên cao, nhưng trăng cũng ở dưới đáy bờ ao.  Trăng trên cao và trăng ở bờ ao cũng là một ánh trăng.  Tôi cầu Chúa trên cao, nhưng tôi cũng gặp gỡ Chúa nơi bờ ao tâm hồn.  Tôi gọi Chúa là Ánh Trăng Tâm Linh.

Niềm vui của bờ ao là niềm vui có ánh trăng soi chiếu.  Cái đẹp của dòng nước đêm trăng là cái đẹp nhờ ánh trăng rọi soi.  Niềm vui của người Kitô hữu cũng là niềm vui cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm hồn sâu thẳm.  Vẻ đẹp của người Kitô là vẻ đẹp của ơn Trời thánh hoá. Cuộc gặp gỡ giữa một Thiên Chúa trên cao, và một bờ ao tâm hồn dệt nên một khúc Tình Thánh thật đẹp.

Trăng luôn mở lối tìm đến, không phân biệt chọn lựa bờ ao.  Dù ao đục, ao trong, hay ao sâu ao cạn, trăng chẳng bao giờ chối từ ghé thăm.  Cứ mỗi lần trăng lên, thì cũng là mỗi lần trăng ước mong dọi xuống, để bờ ao mỉm cười.  Thiên Chúa cũng chẳng bao giờ phân biệt bờ ao tâm hồn của tôi.  Dù ao tôi đục, dù ao tôi trong; dù ao tôi sâu, hay dù ao tôi cạn, Thiên Chúa vẫn đến, vẫn ở, và làm cho ao đời tôi chan chứa niềm vui.

Thi ca, âm nhạc đã dùng ánh trăng như nguồn sáng tác bất tận trong văn chương Việt Nam.  Tôi cũng muốn tìm nơi đó một vẻ đẹp tâm linh.  Sinh ra trong một làng quê nghèo với luỹ tre bờ ruộng, có hình ảnh ánh trăng bên luỹ tre xanh.  Khi trăng lên cao, cũng là lúc trăng lặn xuống thật sâu trong dòng sông cô quạnh.  Hình ảnh đó đã đi vào đời tôi như một kỷ niệm của tuổi ấu thơ.

Niềm vui của lũ trẻ miền quê là niềm vui mộc mạc đùa hát bên nhau dưới mỗi  mùa trăng lên. Miền quê không có ánh điện như thị thành, chỉ luẩn quẩn bên những chiếc đèn dầu hiu hắt, nên mỗi khi trăng lên, nó đưa tuổi thơ ra khỏi cái hiu hắt của khói đèn, xoa dịu cái mỏi mệt của kiếp nghèo.

Rồi xa quê hương, tôi cảm thấy như mất mát cái êm đềm của một thời thơ trẻ. Mất đi cái thơ của những đêm trăng với những câu hò, câu hát của tuổi trẻ miền quê. Trên đường tìm về những kỷ niệm ấy, tôi may mắn gặp  được Ánh Trăng Tâm Linh. Tôi đi tìm kỷ niệm, tôi gặp một mùa Trăng.  Rồi Ánh Trăng soi dẫn, đưa tôi về kỷ niệm.  Từng kỷ niệm có ánh sáng trên cao soi chiếu; từng kỷ niệm có Đấng trên cao dẫn lối soi đường.

Niềm tin của tôi hôm nay cũng được dệt nên từ  những kỷ niệm đơn sơ ấy.  Đức tin là một tổng hợp của kinh nghiệm và kỷ niệm.  Kinh nghiệm hôm nay, ngày mai chỉ còn là kỷ niệm.  Nhưng một niềm tin không xây trên kỷ niệm là niềm tin rỗng.  Một niềm tin không dựa trên kinh nghiệm là niềm tin chao đao.  Đi về kỷ niệm là đi về  lối xưa, vậy mà lối xưa lại khơi dậy trong tim một dòng tâm tư cho hôm nay bước tới.

Ôn lại đời mình có khi vui sướng, nhưng cũng có lúc thật xót xa.  Nên cần gẫm suy dưới ánh sáng tâm linh để cảm nghiệm được niềm an ủi xoa dịu.  Bản chất của Trăng không những chỉ tạo nên vẻ đẹp, không những chỉ dẫn lối soi đường, nhưng còn xoa dịu, an ủi vỗ về.

Ao không đi tìm trăng, vì biết mình giới hạn, xấu xí.   Nhưng trăng lại tìm đến với ao để kết giao tình đời. Đạo Kitô là đạo Mạc Khải từ trên cao. Nhưng Thiên Chúa của Kitô lại chẳng muốn sống ở trên cao: ‘‘ Vì loài người chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế ’’ Câu tuyên xưng tôi vẫn ngâm nga mỗi tuần như một cảm nghiệm bởi lòng tin. Dù đời tôi tội lỗi, dù tâm tư ê chề, Trăng vẫn một mực ghé thăm.

Yêu thương là như thế.  Không nhìn nhau với ánh mắt chê trách xét đoán, nhưng đón nhận tất cả trong con tim.  Chúa không nhìn tôi như tôi hay nhìn về chính mình: cái nhìn của mặc cảm tự ti, rồi từ đó tôi nhìn Chúa cũng sợ hãi, xa cách.  Ngài chấp nhận con người của tôi với tất cả bất toàn yếu đuối.  Bờ ao đời tôi ngày nào đó có được trong hơn một tí, đó cũng là do ân sủng của màu Trăng Tâm Linh soi chiếu.  Đừng vội kiêu hãnh với chút nước trong ao!

Tôi thường hay nói ‘‘trăng tàn’’ khi trăng khuất về đỉnh núi.  Thực chất trăng chẳng bao giờ tàn.  Trăng vẫn là ánh trăng vĩnh cửu.   Có nhiều lúc tôi cảm thấy Chúa vắng bóng, tâm hồn cũng vọng  lên tiếng nói của nghi nan: Có Chúa hay không ?  Chúa ở đâu, sao Ngài để tôi cô đơn?  Tôi thắc mắc, tôi nghi ngờ, nhưng Chúa vẫn hiện hữu.  Cũng như tôi gọi ‘‘trăng tàn’’ nhưng thực chất trăng chẳng bao giờ tàn, chỉ khuất núi mà thôi.

Nghi nan là tín hiệu của một niềm tin đang hao mòn.  Nhưng hao mòn của niềm tin không có nghĩa là mất đức tin.  Niềm tin cũ phải bị hao mòn và chết đi bởi những nghi nan, để niềm tin mới bắt đầu bước tới, mạnh mẽ  hơn, sâu sắc hơn và xác tín hơn.  Mỗi một ngày, trong cơ thể cũng có bao nhiêu tế bào phải chết đi, để thay thế cho những tế bào sống sung mãn khác vươn lên.  Niềm tin có lẽ cũng đi qua một quá trình tiến hoá như thế.

Có nhiều lần tôi cứ mãi băn khoăn, làm sao mình có thể cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm hồn sâu thẳm?  Bây giờ tôi hiểu.  Chỉ có ân sủng mới giúp tôi cảm nghiệm.  Trăng là ơn huệ.  Chẳng ai có thể dùng Magic để kéo ánh trăng về nhưng trong cái bất lực ấy lại có cả một mùa hy vọng, vì mây đen cuộc đời không thể che mờ ánh trăng.

Vì thế, mỗi một mùa trăng lên, tôi lại nhớ tới Ánh Trăng Tâm Linh.  Mỗi một lần nghe câu ca dao ngân nga:

‘‘Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi’’

Tôi lại nhớ đến cuộc hẹn hò ân tình giữa Thiên Chúa và bờ ao tâm hồn của mình, rồi cất tiếng thầm thì:

Cảm tạ Chúa đã cho tuổi thơ đời con những ánh trăng xinh và niềm vui mộc mạc bên luỹ tre xóm làng.  Cảm tạ Chúa đã cho con Ánh Trăng Tâm Linh soi dẫn đời con trong dòng đời cô quạnh. Xin cho con biết giữ lại ánh Trăng Tâm Linh ấy nơi bờ ao tâm hồn.

Con không muốn đổ đi những ánh trăng đẹp, vì con biết ao đẹp chỉ là nhờ có Trăng.  Đôi lúc vô tình, con cũng hành động như người con gái ấy, ‘‘Múc ánh trăng vàng đổ đi”.  Nhưng con tin rằng, dù con có đổ đi một đời, thì nguồn trăng vẫn không bao giờ vơi cạn trong ao, nó chỉ làm cạn nước đời con thôi Chúa ơi.

Xin cho con biết giữ lại mãi vừa trăng vừa nước như một hẹn hò yêu thương, để ao đời con mỗi ngày được gạn bớt chất cặn của bùn lầy tội lỗi, cho những rong rêu ích kỷ càng ngày được vơi dần, để ao hồn con thêm trong, trong như ánh trăng từ trên cao soi chiếu.

Nguyễn Thảo Nam