THÁNH RITA CASCIA (1381-1457)(có Youtube)

(Trung thành trong đau khổ suốt đời qua nhiều giai đoạn: thiếu nữ, vợ, mẹ, góa, nữ tu)

Trong nhiều thế kỷ, Thánh Rita ở Cascia là một trong những vị thánh nổi tiếng của Giáo Hội Công Giáo. Người ta thường gọi ngài là “Vị Thánh Bất Khả,” vì bất cứ điều gì nhờ ngài cầu bầu đều được Thiên Chúa nhận lời.

Thánh Rita sinh năm 1381, tại thành Cascia thuộc tỉnh Umbria, nước Ý.  Cha mẹ có tinh thần đạo hạnh cảm ơn Chúa đã cho sinh con như món quà quí.

Cô muốn dâng mình đi tu, nhưng cha mẹ lại bắt cô lập gia đình.  Ban đầu cô hơi bực mình, nhưng Rita hiểu đây là ý Chúa, nên cô bằng lòng.  Rita kết hôn năm 12 tuổi, với một thanh niên quý tộc.  Anh ta là người khô đạo, thường xuyên hành hạ vợ mình.  Tuy nhiên, với tâm hồn đạo hạnh, Rita vẫn yêu thương làm tròn bổn phận của người vợ.

Cuối cùng, vì đức hạnh của Rita, người chồng đã thay đổi nếp sống và tận tâm yêu mến bà.  Đời sống gia đình kéo dài được 18 năm.  Chúa đã chúc lành cho Rita và cho bà sinh 2 con trai.  Bà trở thành người vợ và người mẹ tốt lành tận tụy.

Vì có sự bất hòa trong đại gia đình dòng họ, một hôm, chồng bà đã bị kẻ thù giết chết, bà rất đau khổ, nhưng trong tinh thần Công giáo, bà tha thứ cho kẻ thù đã giết chồng.

Hai con trai của bà khi đến tuổi được phép mang khí giới, chúng không giống như mẹ, chúng quyết tâm nuôi mộng giết kẻ thù để trả hận cho cha mình.  Bà lại đau khổ, khuyên can các con và vì biết không thể làm lay chuyển được kế hoạch giết người của chúng, bà đã ngày đêm cầu xin Chúa cất chúng về khi chúng đang còn trong ân sủng của Chúa và chưa phạm tội ác.  Chúa đã nhận lời bà.  Trong một năm, cả hai đứa lìa đời.

Sau khi con chết, bà xin vào tu trong nhà dòng nữ Augustinô ở Cascia, nhưng nhà dòng đã ba lần từ chối không nhận bà vì không còn là trinh nữ.  Bà tha thiết cầu nguyện đêm ngày xin Chúa cho bà được thuộc về Chúa như người Bạn Trăm năm.  Người ta kể rằng, một đêm kia ba vị thánh (Gioan Tẩy giả, Augustinô, Nicholas Tolentino) hiện ra dẫn bà tới nhà Dòng Madalena, đưa bà vào trong khuôn viên của tu viện dù đã kín cổng cao tường. Thấy vậy, các nữ tu tin rằng ý Chúa muốn ngài được chấp nhận vào dòng.

Trong 40 năm ở nhà dòng, bà sống trong cầu nguyện và chiêm ngắm, hầu hạ người bệnh và người nghèo, làm việc tay chân được bề trên chỉ định.  Bà ước ao chia sẻ những khổ đau cùng Chúa Kitô nên sau 25 năm tu, Chúa đã ban cho bà được chia sẻ một chút là cho một cái gai trong mũ gai của Chúa cắm vào trán bà.  Từ đó, trên trán của bà có vết thương rướm máu.  Các bề trên của bà nghĩ rằng đó là hiện tượng bệnh phong cùi, nên tách riêng bà ra khỏi cộng đoàn nhà dòng và cho bà sống trong một căn phòng nhỏ trong góc tu viện.  Bà mang vết thương này trong 15 năm, âm thầm chịu đựng ngày đêm và cảm tạ những ơn Chúa Giêsu Kitô đã đặc biệt ban cho bà.  Bà bị đau đớn khổ sở cho đến lúc nhắm mắt lìa đời ngày 22 tháng Năm năm 1457 khi 76 tuổi.

Người ta gọi bà Rita là: Người đem hòa bình.  Thánh của những trường hợp vô vọng.  Bà thánh xin nhiều quá (“Peacemaker,” “Saint of the Impossible,” the “Saint Who Asks Too Much”).  Ngài đặc biệt được tôn kính ở nước Ý ngày nay, và được coi là quan thầy của những trường hợp khó khăn, nhất là có liên hệ đến hôn nhân.

Ngài được phong chân phước năm 1626 và được phong thánh năm 1900, và được coi như “Viên ngọc quí của thành Umbria.”  Lòng sùng kính thánh nữ Rita không những lan ra khắp nước Italia mà còn ra nhiều nước khác, nêu gương cho phụ nữ mọi thời, mọi nơi, qua nhiều giai đoạn…

Sưu tầm

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

Ý NGHĨA CUỘC SỐNG (có Youtube)

Chúa Thánh Thần đem lại gì cho chúng ta.  Đó là câu hỏi chúng ta cùng nhau tìm hiểu.  Và ơn huệ đầu tiên Ngài đem lại đó là đức tin.  Chính đức tin sẽ tạo nên nơi chúng ta một cái nhìn mới.

Kể từ nay, chúng ta không còn cúi mặt nhìn xuống đất, mà còn có thể ngước mắt nhìn lên trời.  Và qua những thực tại trần gian, chúng ta sẽ tìm thấy những giá trị siêu nhiên.  Chúa Thánh Thần sẽ mở ra một chân trời mới, sẽ hướng dẫn chúng ta bước vào cõi sống đời đời.  Hẳn rằng đã hơn một lần chúng ta băn khoăn và tự hỏi: Hỡi người, người là ai?  Tại sao người lại sống trên mặt đất này.  Rồi người sẽ đi về đâu?  Mục đích cuộc sống của người là gì?  Ý nghĩa cuộc sống của người là gì?

Có một nhà hiền triết nọ cũng đã suy tư như thế.  Hôm đó, ông đi lang thang trong rừng, miệng không ngừng lặp lại câu hỏi: Đâu là ý nghĩa của cuộc sống?  Bỗng một con họa mi bay đến và nói: Ý nghĩa cuộc sống ư?  Chỉ là tiếng hót véo von.  Rồi nó bay đi nhưng vẫn còn vương lại những âm thanh dễ mến.  Nghe vậy, chú chuột chù phản đối: Đời là một cuộc chiến đấu không ngừng với bóng tối.

 Thế nhưng chị bướm lại lắc đầu không chịu: Cuộc sống chỉ là hưởng thụ và vui thú.  Bấy giờ bác ong mật phát biểu: Cuộc sống không chỉ là vui thú, mà còn là lao động, lao động nhiều hơn vui chơi.  Cô phượng hoàng thì vỗ cánh và nói: Chẳng ai có lý hết, đời sống chính là tự do, được tung bay trên khắp khoảng trời xanh.  Cụ tùng bách thì lắc đầu và bảo: Đời sống là một cố gắng để vươn cao.  Nhưng cô hồng nhung lại quả quyết: Cuộc đời chỉ là những tháng ngày trau chuốt cho vẻ đẹp được thêm duyên dáng.  Còn chàng mây lang thang lại thở dài: Đời sống chỉ là những lần chia ly, khổ đau, cay đắng và nước mắt.  Còn bà sóng thần thì bảo: Đời là một sự đổi thay không ngừng.

Nhà hiền triết hốt hoảng và chạy trốn khỏi khu rừng để không còn nghe tiếng nói của muôn loài trước một vấn nạn chưa được giải quyết.

Còn chúng ta thì sao?  Rất có thể chúng ta cũng đã băn khoăn như nhà hiền triết, để rồi cảm thấy như bế tắc, không tìm ra đáp số cho bài toán.

Thế nhưng với biến cố Hiện xuống, các môn đệ đã nhìn rõ vấn đề, đã thấu suốt được những chân lý mà Chúa Giêsu đã truyền dạy.  Với ơn Chúa Thánh Thần chúng ta cũng sẽ nếm thử được niềm an bình và nỗi mừng vui, bởi vì chúng ta xác tín rằng: quê hương chúng ta không phải ở mặt đất này, nhưng là ở chốn trời cao.  Cuộc sống tạm bợ phù du này sẽ kết thúc để rồi mở ra một chân trời hạnh phúc, kéo dài tới vĩnh cửu.  Nhờ đức tin lãnh nhận, chúng ta có được cái nhìn mới và biết đánh giá đúng mức những thực tại trần gian, biết xử dụng chúng để xây dựng cuộc sống siêu nhiên.

Thánh Cyrillo đã so sánh: Chúa Thánh Thần tác động trong chúng ta như ánh sáng mặt trời tác động trên con mắt.  Nếu đi từ bóng tối ra ánh sáng, chúng ta sẽ nhìn thấy nhiều vật trước kia chúng ta không nhìn thấy.  Cũng vậy, với Chúa Thánh Thần chúng ta sẽ nhìn xem tất cả bằng cặp mắt siêu nhiên, chúng ta sẽ khám phá ra những giá trị thiêng liêng cho cuộc sống tạm gửi này, để rồi chúng ta sẽ không dừng lại, sẽ không đầu tư cho những vui thú chóng qua, nhưng sẽ tìm kiếm và đầu tư cho hạnh phúc vĩnh cửu.

Ngày xưa Chúa Thánh Thần bay lượn trên nước và đã biến cái đám hỗn mang thành một vũ trụ có trật tự thế nào, thì bây giờ Ngài cũng bay lượn, cũng hiện diện trong tâm hồn để biến con người tội lỗi, vô trật tự của chúng ta thành một Kytô hữu đích thực, Ngài sẽ cởi bỏ con người cũ của chúng ta, biến chúng ta trở nên một tạo vật mới, một con người mới.  Vậy con người mới ấy là như thế nào?  Chắc hẳn bề ngoài chúng ta vẫn như trước vẫn giống với mọi người, có đầu, có mắt, có trái tim, nhưng cách thức chúng ta nhìn ngắm, cách thức chúng ta suy nghĩ, cách thức chúng ta yêu mến thì lại hoàn toàn thay đổi, như lời tiên tri Êgiêkiel đã diễn tả: Ta sẽ rảy nước tinh tuyền trên các ngươi và các ngươi sẽ được trong sạch.  Ta sẽ cất khỏi các ngươi trái tim bằng đá, nhưng sẽ ban cho các ngươi một trái tim bằng thịt.  Ta sẽ ban cho các ngươi một trái tim mới và một thần khí mới.

Với Chúa Thánh Thần ngự trong tâm hồn, chúng ta sẽ nhìn cuộc sống, nhìn những người anh em, nhìn thế giới, nhìn dòng lịch sử một cách khác.  Chúng ta sẽ nhìn những khổ đau, những thử thách và những đắng cay một cách khác.  Chúng ta sẽ tìm thấy được những giá trị siêu nhiên của chúng.

Bởi đó, hãy mở cửa đón nhận Chúa Thánh Thần, hãy lắng nghe tiếng nói của Ngài, hãy bước đi dưới sự soi dẫn của Ngài, hãy sống theo những gì Ngài chỉ bảo.  Đừng dập tắt ngọn lửa của Ngài, để nhờ đó, Ngài sẽ hun đúc đức tin, để nhờ đó chúng ta biết đánh giá đúng mức những thực tại trần gian.

Xin hãy đến!  Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài hãy đến, thay đổi đời sống tâm linh chúng con, xin giúp chúng con tìm ra ý nghĩa đích thực cuộc sống mình.  Xin hãy đến làm sức mạnh nâng đỡ để chúng con đủ can đảm đi theo Chúa mỗi ngày cho đến trọn đời.  Amen!

Sưu tầm

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

ĐẤNG QUI TỤ MUÔN LOÀI (có Youtube)

Trong Cựu ước, tác giả sách Sáng thể đã kể lại một trang sử buồn của lịch sử nhân loại, đó là câu chuyện tháp Baben.  Vì con người kiêu ngạo, muốn xây tháp chọc trời.  Chúa đã làm cho ngôn ngữ của họ trở thành hỗn loạn.  Kết quả là họ không hiểu nhau.  Cây tháp Baben được gọi là cây tháp gây phân tán (x. St 11,1-9).

Thế rồi, kể từ trang sử buồn ấy, con người ngày càng xa Chúa và xa nhau.  Nhân loại bị trượt dài trong đường dốc sa đọa.  Người Do Thái nhắc tới tháp Baben như một kinh nghiệm đau thương.

Trong Tân ước, tác giả Công vụ kể với chúng ta một biến cố trọng đại, đó là câu chuyện lễ Ngũ Tuần tại Giêrusalem (Bài đọc I).  Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa, đã ngự xuống liên kết muôn người nên một.  Họ đã hiểu nhau mặc dù khác biệt về nguồn gốc.  Người Kitô giáo gọi Lễ Ngũ Tuần là lễ Hiện Xuống, ghi nhớ sự kiện Chúa Thánh Thần từ trời đến ở với cộng đoàn tín hữu, đến với Giáo Hội.  Nếu tháp Baben trong Cựu ước là biểu tượng của sự phân tán, thì Lễ Ngũ Tuần của Tân ước là điểm quy tụ.

Kể từ ngày lễ Ngũ Tuần năm xưa, Chúa Thánh Thần không ngừng hoạt động để quy tụ muôn dân về một mối.  Chúa Thánh Thần chính là ngôn ngữ chung cho toàn thể nhân loại.  Ngôn ngữ đó là Tình Yêu, vì Ngài là Tình Yêu của Thiên Chúa.  Tình yêu lấp đầy mọi ngăn cách, san bằng mọi núi đồi, phá tung mọi ranh giới.  Nhờ Chúa Thánh Thần, Tin Mừng của Đấng Phục Sinh được loan báo cho mọi tạo vật, mọi nền văn hóa.  Chúa Thánh Thần đã liên kết mọi người trong một Đức tin và làm thành Giáo Hội của Chúa Kitô.

Thánh Phaolô đã dùng hình ảnh một thân thể gồm nhiều chi thể để nói về Giáo Hội (Bài đọc II).  Nhờ sự liên kết của Chúa Thánh Thần, mọi tín hữu được quy tụ nên một thân thể.  Mặc dù khác biệt về chức năng, mọi chi thể đều phải liên kết với nhau và làm cho thân thể được khỏe mạnh.  Năng lực sống để điều khiển thân thể hoạt động, chính là Chúa Thánh Thần.  Ngài nối kết và làm cho những khác biệt trở nên hài hòa với nhau.  Lịch sử Giáo Hội hai ngàn năm nay đã chứng minh hoạt động của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội.

Thánh Gioan kể lại việc Chúa ban Thánh Thần cho các môn đệ qua cử chỉ “thổi hơi” trên các ông, qua biểu tượng này, Chúa Thánh Thần được diễn tả như hơi thở, như làn gió mát và như sự sống.  Bài đáp ca trong thánh lễ hôm nay cũng khẳng định vai trò quan trọng của Chúa Thánh Thần đối với mọi loài tạo vật: “Ngài rút hơi thở chúng đi, chúng chết ngay, và chúng trở về chỗ tro bụi của mình.  Nếu Ngài gửi hơi thở tới, chúng được tạo thành, và Ngài canh tân bộ mặt trái đất” (Tv 103,29).  Bởi vậy, đời sống Đức tin của chúng ta cần có Chúa Thánh Thần nâng đỡ và hướng dẫn.  Nhờ Ngài mà chúng ta không sợ lạc đường.  Nhờ Ngài mà chúng ta có thể trung tín với Chúa cho đến hơi thở cuối cùng.  Cũng nhờ Ngài mà chúng ta mới biết cách cầu nguyện thế nào cho có hiệu quả.

Nếu Chúa Thánh Thần là Đấng quy tụ muôn loài, thì những ý đồ gây chia rẽ thù oán là đi ngược lại với hoạt động của Ngài.  Sống ở đời, chúng ta luôn bị giằng co giữa một bên là giáo huấn của Chúa, một bên là cám dỗ của thế gian.  Thánh Phaolô khuyên nhủ giáo dân Thêxalônica: “Anh em đừng dập tắt Thần Khí… Hãy cân nhắc mọi sự: điều gì tốt thì giữ; còn điều gì xấu thì bất cứ hình thức nào cũng phải lánh cho xa” (1Tx 5,19).

Lễ Hiện Xuống được cử hành trong tháng Năm, là tháng dâng hoa kính Đức Mẹ.  Đức Maria đã hiện diện với Giáo Hội trong ngày lễ Ngũ Tuần.  Chúa Thánh Thần ngự đến trong khi các tông đồ quây quần xung quanh Đức Mẹ để cầu nguyện.  Trong suốt chặng đường dài của lịch sử Giáo Hội, Đức Mẹ vẫn hiện diện để che chở Giáo Hội và nâng đỡ các tín hữu.  Đức Phaolô VI đã tôn vinh Trinh nữ Maria với tước hiệu “Mẹ Giáo Hội.”  Chúng ta hãy cầu xin Mẹ chúc lành cho Giáo Hội hoàn vũ, cách riêng Giáo Hội Việt Nam chúng ta.  Mỗi người hãy dâng lên Đức Mẹ đóa hoa lòng, thể hiện qua tâm tình yêu mến, siêng năng lần hạt Mân Côi và thực thi bác ái đối với tha nhân.  Đó là những đóa hoa không tàn úa với thời gian, nhưng luôn tươi đẹp và tỏa ngàn sắc hương trước dung nhan Mẹ.

“Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”, cùng với việc trao ban bình an, Chúa Giêsu phục sinh còn trao ban cho chúng ta sức mạnh của Người.  Nhờ được trang bị bằng sức mạnh là Chúa Thánh Thần, đến lượt mình, chúng ta có thể làm chứng cho Chúa trong cuộc sống hôm nay.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin quy tụ chúng con trong tình hiệp nhất yêu thương.  Amen!

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

LỜI  NGUYỆN XIN TĨNH LẶNG (có Youtube)

Hãy làm thinh và biết Ta là Đức Chúa.

Kinh thánh quả quyết với chúng rằng nếu chúng ta làm thinh thì sẽ biết Chúa, nhưng có được sự lặng yên thì nói dễ hơn làm.  Như Blaise Pascal từng nói, “Mọi khốn khổ của con người là do chẳng ai có thể ngồi yên trong một tiếng đồng hồ.”  Đạt được sự tĩnh lặng có vẻ là việc quá tầm của chúng ta, và như thế chúng ta gặp một song đề: chúng ta cần tĩnh lặng để tìm Chúa, nhưng cần Chúa giúp để tìm sự tĩnh lặng.  Nghĩ như thế, tôi xin gợi ý các bạn một lời nguyện xin sự tĩnh lặng.

Lạy Thiên Chúa của tĩnh lặng…

Xin làm tĩnh lặng những bồn chồn tuổi trẻ của con, tĩnh lặng cơn đói khát cứ ập vào con, cơn đói khát muốn nối kết với mọi người, muốn thấy và thưởng nếm mọi thứ, cơn đói khát khiến con mất bình an những buổi tối cuối tuần.  Xin tĩnh lặng những giấc mơ tự đại muốn mình nổi bật với người khác.  Xin cho con ơn sống hài lòng hơn với bản thân con.

Xin tĩnh lặng cơn bồn chồn khiến con thấy mình quá nhỏ bé.  Xin cho con biết rằng đời con là đủ, và con không cần đòi hỏi về mình, dù cho cả thế giới đang cố lôi kéo con làm thế với vô vàn những hình ảnh tiếng động khắp nơi.  Xin cho con ơn sống bình an trong cuộc đời mình.

Xin làm tĩnh lặng tính dục của con, chỉnh đốn những khao khát bừa bãi, dục vọng của con, nhu cầu không ngơi muốn được thân mật hơn nữa của con.  Xin tĩnh lặng và chỉnh đốn những dục vọng trần tục của con mà không cần phải xóa bỏ chúng đi.  Xin cho con biết nhìn người khác mà không phải với con mắt tình dục ích kỷ.

Xin tĩnh lặng những lo âu, trăn trở của con và đừng để con lúc nào cũng sống ngoài giây phút hiện tại.  Xin cho con biết ngày nào có mối lo của ngày ấy.  Xin cho con ơn biết rằng Chúa đã gọi con trong yêu thương, viết sẵn tên con trên thiên đàng, và con được tự do sống mà không cần lo lắng.

Xin tĩnh lặng nhu cầu muốn bận rộn luôn mãi của con, muốn kiếm việc gì đó để làm, muốn lên kế hoạch cho ngày mai, muốn hoạt động mọi phút giây, muốn tìm cái gì đó để lấp đầy khoảng thinh lặng.  Xin cho con biết thêm tuổi thêm khôn ngoan.  Xin làm nguôi đi những cơn giận âm ỉ vô thức của con vì thấy quá nhiều mong muốn của mình chưa thành sự.  Xin tĩnh lặng sự chua cay vì thất bại của con.  Xin giữ con khỏi ghen tương khi con cay đắng chấp nhận những giới hạn của cuộc sống mình.

Xin cho con ơn chấp nhận những thất bại và hoàn cảnh của mình.

Xin tĩnh lặng nỗi sợ chính mình, nỗi sợ trước những thế lực tăm tối đang đe dọa con trong vô thức.  Xin cho con can đảm để đối diện với bóng tối cũng như ánh sáng của chính mình.  Xin cho con ơn đừng sợ sự phức tạp của mình.

Xin tĩnh lặng nỗi sợ hiện tại của con là sợ mình không được yêu thương, sợ con không xứng đáng để yêu.  Xin làm tĩnh lặng sự hoài nghi dằn vặt rằng con luôn là kẻ ngoài cuộc, rằng cuộc sống thật bất công, rằng con không được tôn trọng và thừa nhận.  Xin cho con ơn biết rằng con là con yêu dấu của Chúa, Đấng yêu thương con vô điều kiện.

Xin tĩnh lặng trong con nỗi sợ vô cớ đối với Chúa, để con đừng thấy Chúa xa cách và đáng sợ, mà thay vào đó là nhìn thấy Chúa nồng ấm và thân thiện.  Xin cho con ơn liên kết với Chúa thật hồn nhiên, như một người bạn mà con có thể chuyện trò, đùa giỡn, vui vẻ và thân thiết.

Xin tĩnh lặng trong con những suy nghĩ bất dung, về những giận hờn từ quá khứ, những bội bạc, lăng mạ mà con phải chịu.  Xin tĩnh lặng trong con những tội mà chính con đã phạm.  Xin tĩnh lặng trong con những tổn thương, cay đắng và giận hờn.  Xin cho con sự tĩnh lặng từ sự tha thứ, từ con và cho con.

Xin tĩnh lặng những nghi ngờ, lo lắng về sự hiện diện của Chúa, về lòng trung tín của Chúa.  Xin tĩnh lặng trong con xung lực muốn để lại dấu ấn, muốn tạo nên gì đó bất tử cho bản thân mình.  Xin cho con ơn biết tin tưởng, ngay cả trong tối tăm và nghi hoặc, rằng chính Chúa sẽ cho con sự sống đời đời.

Xin tĩnh lặng tâm hồn con để con biết Chúa là Thiên Chúa, và cho con biết Chúa đã tạo dựng và gìn giữ mọi hơi thở của con, rằng Chúa yêu thương con cũng như hết thảy mọi người, rằng Chúa muốn cuộc sống chúng con bừng nở, Chúa muốn chúng con hạnh phúc, Chúa yêu thương và chăm lo hết mọi người, rằng chúng con sẽ được an bình trong bàn tay nhân từ của Chúa, ở đời này và đời sau.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

CÁM ƠN MẸ (có Youtube)

Người ta nói rằng trẻ em là tặng phẩm quý giá nhất.  Tôi tin rằng những người mẹ cũng là tặng phẩm cao quý nhất.  Những người mẹ là tặng phẩm yêu thương, hạnh phúc, niềm vui, lòng can đảm, chăm sóc và nâng đỡ.  Chúng ta không thể tự chọn mẹ hoặc gia đình để chúng ta sinh ra, nhưng mẹ của chúng ta chọn cách quan tâm chăm sóc chúng ta.  Tôi may mắn có được người mẹ là mọi thứ mà đứa con có thể hy vọng.

Mẹ sinh tôi khi bà còn đang là sinh viên năm hai tại một trường đại học ở Nashville, Tennessee.  Bà có thể bỏ học để về nhà ở thành phố New York, nhưng bà không thể làm như vậy.  Có lần bà kể với tôi rằng tôi là nguồn cảm hứng và động lực thúc đẩy bà hoàn tất những gì bà đã khởi đầu.  Mẹ tôi vừa đi học vừa đi làm thêm để lo cho tương lai của tôi, và bà cũng muốn có tấm bằng đại học.  Khi tôi còn nhỏ, bà thường đem tôi theo đến lớp học cho tới lúc tôi lớn hơn để có thể vào nhà trẻ.  Tôi biết ơn mẹ vì mẹ đã quyết định làm gương cho tôi noi theo.

Hàng ngày tôi vẫn thắc mắc rằng nếu không có mẹ thì không biết đời tôi sẽ ra sao.  Đời tôi sẽ khốn khổ chăng?  Chắc hẳn vậy.  Và câu hỏi đó đã được trả lời vào một ngày hè.  Đó là ngày mẹ tôi đi làm khi đang mang thai em tôi.  Hôm đó tôi rất phấn khởi!  Thế nhưng mẹ bị sảy thai và em tôi chết.  Hôm đó tôi cũng có thể mất luôn mẹ, nhưng thật may là mẹ còn sống.  Điều này khiến tôi suy nghĩ nhiều và nhận biết mẹ thực sự có ý nghĩa thế nào đối với tôi.

Sau đó không lâu, cha mẹ tôi chia tay.  Đây là cú “sốc” đối với tôi.  Dù tôi mới 4 tuổi, nhưng tôi vẫn nhớ mãi ngày hôm đó, y như mới xảy ra hôm qua vậy.  Cảnh gia đình ly tan là cú “sốc” nặng đối với tôi, và tôi nguyền rủa em tôi, vì tôi cho rằng cái chết của em tôi đã khiến cha mẹ chia tay.  Giá mà nó còn sống, chúng tôi sẽ là một đại gia đình hạnh phúc!

Dù cha mẹ tôi chia tay, nhưng hai người vẫn cùng nhau nuôi dưỡng tôi.  Mẹ tôi trực tiếp và đích thân lo cho tôi mọi thứ.  Vì tôi mà mẹ tôi vẫn giữ mối quan hệ tốt với cha tôi.  Điều này khuyến khích tôi không coi mẹ là điều dĩ nhiên phải có.  Đó là lý do tôi biết ơn mẹ tôi.

Mẹ ơi, qua bao gian nan khốn khó, mẹ vẫn như một người bạn tốt nhất của con.  Mẹ động viên con theo đuổi ước mơ của mẹ, và mẹ dạy con những bài học sống qua các hành động của mẹ.  Mẹ ơi, con cảm ơn mẹ là nguồn cảm hứng để con đi theo con đường đúng trong cuộc sống, mẹ cũng đã giúp con có những cách chọn lựa đúng, và để con va chạm với những thử thách xem chừng như mạo hiểm vậy.

Mẹ ơi, con chưa bao giờ hiểu được mẹ có ý nghĩa thế nào đối với con cho tới lúc con ngồi viết những dòng này.  Con muốn mẹ biết rằng con mãi mãi kính yêu mẹ.  Con hy vọng rằng khi con trưởng thành, con có thể là người mẹ tốt đối với con của con như mẹ đã là người mẹ tốt đối với con vậy.

Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ Thank You Mom)

************************

Lạy Chúa, xin cho con trở thành những bậc cha mẹ tốt lành và hoàn hảo. 

Xin giúp con biết tìm hiểu con cái của con, biết nhẫn nại lắng nghe các cháu muốn nói gì, và thông cảm tìm hiểu những khúc mắc ưu tư tuổi trẻ của con mình.

Xin cho con biết lịch sự nhã nhặn với các con của con như con muốn các cháu luôn nhã nhặn lịch sự với con. 

Xin cho con can đảm thú nhận những lỗi lầm của mình, và xin các con của con tha thứ cho con khi con đã hành động sai quấy đối với các cháu.

Ước gì con không bao giờ vô tâm phi lý va chạm tự ái của các con của con. 

Xin cho hằng giờ hằng phút, bằng tất cả lời nói và việc làm, con chứng minh cho các con của con thấy sự thành thật và ngay thẳng sẽ phát sinh hạnh phúc.

Xin cho con biết trao tặng các con của con tất cả những điều mong ước phải lẽ, và giữ gìn con luôn luôn can đảm, biết từ chối bất cứ một đặc ân nào có thể làm hại các cháu sau này.

Xin cho con của con đừng bao giờ khinh khi bố mẹ vì thất học hoặc ngôn ngữ xứ người không thông, nhưng cho các cháu biết nhận ra cả cuộc đời của con vất vả khổ nhọc cũng chỉ vì để lo cho các cháu có một cuộc đời tốt đẹp hơn của con.

Xin đừng để con của con quên giòng giống Lạc Hồng và quê hương Việt Nam, nơi tổ tiên bao đời gầy dựng, song cho các cháu luôn nhận thức được mình vẫn là người Việt Nam máu đỏ da vàng với bốn ngàn năm lịch sử dựng nước.

Cuối cùng, xin Chúa cất hết những mặc cảm đang đè nặng trong tâm hồn con vì dị biệt ngôn ngữ, vì mặc cảm phải luôn nhờ vả con cái, vì nhiều điều con còn ấm ức trong lòng không nói ra được.

Xin cho con biết xử sự công bình vô tư, ân cần và đồng hành với con cái để các cháu thực sự quý trọng con.

Xin cho con là bậc cha mẹ xứng đáng để các con của con yêu thương con và bắt chước con. 

Và lạy Chúa, xin cho con một tâm hồn thanh thản, an bình và nhận ra được cuộc sống gia đình nơi đây là quà tặng Chúa ban cho con.  Amen!

 Sưu tầm

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

Ý NGHĨA VIỆC CHÚA LÊN TRỜI (có Youtube)

“Các tông đồ ra đi rao giảng khắp nơi” (Mc 16,20)

Theo Thánh Luca, biến cố Chúa về trời mang chở một ý nghĩa sâu xa, nhằm biến đổi các tông đồ và khởi sự sứ vụ rao giảng Tin mừng của toàn thể Hội Thánh.  Thánh Luca thuật lại biến cố này để kết thúc Tin mừng và cũng để khởi đầu sách Tông đồ Công vụ.

Việc Chúa Thăng Thiên mang lại một âm hưởng sâu xa nơi các môn đệ.  Đối diện trước biến cố này, các ông ngỡ ngàng, mắt vẫn còn đăm đăm ngước lên trời cao (Cv 1,10), và chưa thể hình dung sự việc xảy ra như thế nào.  Nhưng sau đó, các ông đã hiểu.  Chính xác hơn, là các tông đồ đã dần dần hiểu ra và tiến sâu vào thế giới của huyền nhiệm khi nhớ lại những lời Đức Giêsu đã căn dặn.  Cuối cùng, “Các ông bái lạy Người.  Các ông trở về Giêrusalem lòng đầy hân hoan, và họ ở trong đền thờ, ngày đêm chúc tụng Chúa (Lc 24,52-53).

Thoạt đầu, phản ứng của các tông đồ khiến chúng ta dễ đặt nghi vấn.  Đức Giêsu vừa “rời bỏ” các ông.  Sự ra đi nào cũng để lại biết bao sầu thương và nỗi nhớ.  Các ông buồn, nhưng sau đó các ông lại “ngập tràn niềm vui.”  Tại sao các tông đồ lại có phản ứng trái chiều mau lẹ đến thế?  Chúng ta nhớ lại trong diễn từ ly biệt, ở phần cuối chương 13 của Tin mừng Gioan, Đức Giêsu báo trước là Ngài sẽ bỏ lại các ông, và tâm hồn các ông sẽ xao xuyến.  Nhưng sau đó Ngài trấn an và nói về Thánh Thần, là nguyên lý chữa trị những sầu buồn và tuyệt vọng (Ga 14-17).  Ngài nói với các học trò của mình đừng lo lắng, các ông sẽ không mất Ngài, nhưng Ngài vẫn ở với các ông mọi ngày cho đến tận thế qua một dạng thức khác, nhờ Thánh Thần.

Việc Chúa về trời khơi dậy niềm vui.  Các tông đồ sớm nhận ra rằng khi Đức Giêsu trở về với Chúa Cha, họ sẽ lãnh nhận được nhiều đặc phúc.  Trước hết, đó là quà tặng Thánh Thần.  Lời hứa về Chúa Thánh Thần sẽ được thực hiện tròn đầy.  Các tông đồ nhìn xem Chúa lên trời, nhưng lòng đầy vui mừng bởi vì các ông nhớ lại lời hứa của Chúa về “ Đấng sẽ đến.”  Những nghi ngại và sợ hãi dần tan biến.  Các tông đồ thâm tín rằng Ngài đã trỗi dậy từ cõi chết và vẫn đang sống.  Qua sự phục sinh của Đức Kitô, các tông đồ trải nghiệm niềm vui, và hy vọng về sự chiến thắng trước mãnh lực tử thần.  Họ tín thác vào Chúa.  Vì thế, sự ra đi của Đức Giêsu để trở về với Chúa Cha đem lại cho họ niềm vui.  Niềm vui đó được cắt nghĩa với những lý do sau.

1. Đức Giêsu lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha. Chính Chúa Cha đã sai Ngài đến trần gian.  Ngài đã tiếp nhận cái chết một cách bi thương và đã được quyền năng Chúa Cha làm cho sống lại.  Cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu là bằng chứng chắc chắn về ơn cứu độ và sự tha thứ tội lỗi (Do Thái 10,22-24).  Đây là căn nguyên niềm vui nơi các môn đệ cũng như nơi chúng ta.

2. Khi Chúa Giêsu về trời, Ngài đảm nhận vai trò trung gian giữa con người với Chúa Cha. Nhờ Ngài và với Ngài, chúng ta được thông dự vào thế giới thần linh cùng Chúa Cha (1Ga 2,1).

3. Khi Chúa lên trời, vương quốc vĩnh cửu của Ngài bắt đầu khai mở. Đó là vương quốc đánh bại kẻ thù là Satan và ác thần.  Thánh Phêrô đã viết: “ Đấng đang ngự bên hữu Thiên Chúa sau khi đã lên trời, đã bắt các thiên sứ và toàn thể thần minh phải phục quyền (1P 3,22).

4. Cuối cùng, khi Đức Giêsu lên trời, Hội thánh được phú ban năng quyền để thực thi sứ mệnh Chúa trao phó. Khi nói về việc Đức Giêsu sống lại và lên trời, Thánh Phaolô trong thơ gửi giáo đoàn Êphêsô đã khẳng quyết: “Thiên Chúa đã đặt tất cả mọi sự dưới chân Đức Giêsu và đặt Người làm đầu toàn thể hội Thánh, mà Hội Thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn” (Eph 1,22-23).

Đức Giêsu được đưa về trời, khai mở vương quốc bất diệt.  Ngài là Vua, là Chúa tể hoàn vũ và Satan không thể làm được gì đối với vương quốc ấy.  Satan cám dỗ con người để chúng ta quên đi Đức Kitô là Vua vũ trụ.  Ma quỷ làm mọi cách để cắt đứt sự liên lạc giữa chúng ta với Ngài.  Sách Tông đồ Công vụ thuật lại, trước khi bị ném đá đến chết, Thánh Stêphanô đã ngước mắt lên trời và thấy Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Chúa Cha.  Các sách tân ước đều khải thị cho chúng ta hình ảnh Đức Giêsu Đấng Cứu thế, là Vua hoàn vũ, là Vua chiến thắng, để mời gọi chúng ta tin vào Ngài.

Trước sự kiện Chúa lên trời, tâm hồn các tông đồ ngập tràn niềm vui, chứa chan niềm hy vọng, và sẵn lòng rộng mở để thực thi sứ mạng mà Đức Giêsu đã chuyển giao.  Đây là ba nét căn bản đã làm đổi thay các tông đồ một cách toàn diện: Niềm vui, niềm hy vọng, và việc thực thi sứ mạng rao giảng.

Chớ gì mỗi người chúng ta hôm nay, cũng như các tông đồ năm xưa, có thể trải nghiệm niềm vui, và niềm hy vọng.  Đồng thời, tiếp nối dấu chân của các tông đồ, chúng ta hân hoan lên đường thực thi sứ mạng cứu thế mà Chúa Giêsu đã chuyển giao cho chúng ta trước khi Ngài trở về với Chúa Cha.

Keith Witfield – Lm. GB. Văn Hào SDB, chuyển ngữ

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

TÂM SỰ CỦA NGƯỜI CHA ĐẠO ĐỨC CÓ ĐỨA CON GÁI DUY NHẤT GIA NHẬP DÒNG KÍN (có Youtube)

Ông Matthew Wenke là một tín hữu Công giáo đạo đức.  Ông thường cầu nguyện cho ơn gọi tu trì, nhưng ông không nghĩ chính Nora, người con gái duy nhất dễ thương của ông lại theo ơn gọi này.  Nora gia nhập đan viện thánh Giuse của các nữ tu Passionist ở Kentucky và tháng 8 năm 2015, cô đã được lãnh tu phục và bây giờ được gọi là sơ Frances Marie.  Ông Wenke  đã trải qua những giờ phút đau lòng từ khi con gái cưng bày tỏ quyết định đi tu.  Ông đã phấn đấu và cầu nguyện rất nhiều để can đảm dâng con lại cho Chúa và cuối cùng ông đã có được niềm vui khi nhìn thấy con mình hạnh phúc trong ơn gọi đời thánh hiến.  Ông đã chia sẻ những suy nghĩ của mình về câu chuyện này.  Ông bắt đầu:

“Nếu con gái của những người khác thích đi tu, tôi sẽ không đặt câu hỏi gì cả.  Tôi sẽ tôn trọng quyết định của họ và thật lòng vui mừng cho họ.  “Đó là một ơn gọi cao trọng và đẹp đẽ!”, “Thật là một cuộc sống có ý nghĩa với mục đích thánh thiện!”, tôi không nghi ngờ chút nào về điều này.  Nhưng khi tôi nghe biết ý định vào dòng kín của con gái tôi, ngay lập tức tôi nghĩ: “Trời ơi, ba hy vọng con có ơn gọi … làm sao con có thể về thăm nhà thường xuyên?”  Suy nghĩ đầu tiên của tôi không phải là về việc hoàn thành ơn gọi và đời sống thiêng liêng của Nora.  Ý nghĩ đầu tiên của tôi là tôi có thể sẽ thiếu vắng sự hiện diện của con gái tôi trong nhà của mình, và sự đồng hành dịu dàng và vui tươi của nó.  Tôi nghĩ những điều này vì tôi biết về đời sống đan tu khi tôi đọc cuốn “Nhật ký một tâm hồn của thánh Têrêsa,” trong đó chị thánh kể khi vào đan viện, chị phải nói lời tạm biệt với người cha đang đau đớn và chị Celine.  Tạm biệt luôn là thời khắc khó khăn đối với tôi.

Tôi quan sát sự tự tin và an bình thiêng liêng của Nora trong chọn lựa ơn gọi của nó, khi Nora lần đầu thăm các nữ tu dòng Passionist trong tuần phân định “Đến và xem” trong tháng 11 đến 12 năm 2013, rồi 3 tháng như thỉnh sinh từ tháng 2 đến 5 năm 2014.  Tôi đã lo sợ rằng phải tạm biệt với đứa con gái duy nhất của tôi.  Trong khi chờ đợi và cầu nguyện trong thời gian này, tôi tự hỏi: Tôi có nên thử giữ nó ở lại nhà?  Tôi có nên làm cho nó thấy có lỗi với sự đau đớn và buồn sầu của tôi?…  Tôi nghĩ ngợi về sự ích kỷ đó, sự kiểm soát và lạm dụng quyền lực của tôi.  Tôi nghĩ về tội lỗi mà tôi cảm thấy nếu tôi nhìn vào con gái của tôi, bị gài bẫy bởi sự ích kỷ của tôi.  Ý tưởng này làm tôi hoảng sợ!  Tôi cảm giác thế nào nếu ai đó đã gài bẫy tôi bằng tình cảm, không cho tôi tự do chọn ơn gọi và cách sống của tôi?  Tôi biết là tôi có thể tức giận với người đó và cảm thấy đau đớn vì không đáp lại tiếng gọi yêu thương thu hút của Chúa.  Tôi nhìn vào con gái tôi: một linh hồn trong trắng.  Một phụ nữ có đời sống thiêng liêng sâu sắc, muốn phân định tiếng Chúa gọi một cách tự do.  Nó ao ước hòa mình với ý muốn của Chúa mà tôi đã cầu nguyện, cho mọi con cái của tôi … trở thành những môn đệ đích thực, chúng tôi phải mở lòng với mọi chọn lựa, không chỉ cho chúng tôi, nhưng cho tất cả những người chúng tôi yêu quý.

Khi Nora trở về nhà sau 3 tháng thỉnh sinh ở Kentucky, nó không bao giờ trở về hoàn toàn.  Thân xác nó ở nhà nhưng lòng nó thuộc về đan viện ở Kentucky.  Nó yêu chúng tôi như trước và cố gắng để ở nhà.  Tuy vậy, sau một hay hai ngày, nó nói với tôi, đây không còn là cuộc sống của nó nữa.  Nó nói: “Con không có cuộc sống ở đây nữa; con cần đến với công việc mà Chúa dành cho con và nó không phải là ở đây nữa.  Tôi bị sốc và phần nào mềm lòng bởi những lời của nó.  Nhưng tận đáy sâu, tôi biết sự thật về chúng.  Tôi bắt đầu chuẩn bị cho lần ra đi cuối cùng của nó vào cuối tháng 7, khi mà Nora sẽ bắt đầu năm đệ tử.  Vào cuối thời gian này, nếu nó vẫn cảm thấy được gọi vào tu đan viện, nó sẽ không bao giờ trở về nhà ở Olean, New York nữa.

Những lời của Nora nhắc tôi nhớ đến lời Chúa Giêsu nói với Mẹ Maria và thánh Giuse: “Cha mẹ không biết là con phải lo chuyện của cha con sao?”  Chắc chắn những lời này làm họ đau đớn một ít, nhưng ho biết sự thật thiêng liêng sâu sắc.  Giống Chúa Giêsu, Nora vâng lời theo kế hoạch ở với chúng tôi cho đến cuối tháng 7.  Từ tháng 5 cho đến 26 tháng 7, khi chúng tôi trở lại Kentucky, tôi đã cầu xin sự can đảm, đức tin và tình yêu để cho con gái tôi đi, để dâng lại cho Chúa đứa con gái mà Ngài cho tôi mượn gần 19 năm nay.  Đứa con gái duy nhất của tôi.  Thiên Chúa đã trao con của Người cho tôi.  Tôi có thể trao lại Nora xinh đẹp của tôi vào cánh tay Người không?

Tôi không dối các bạn là tôi đã khóc, đã khóc, không biết bao nhiêu lần, khi tôi nhìn vào đứa con gái đáng yêu của tôi đang lần hạt Mân Côi bên cạnh tôi mỗi tối.  Nước mắt tôi trào ra khi tôi nhìn nó trong giờ kinh sáng hay kinh Truyền tin vào ban trưa.  Tôi nhớ tiếng nói và thật sự tập trung vào sự thật là nó đang ngủ vào ban đêm, an toàn trong phòng của nó, dưới mái nhà tôi.  Không có ngày nào trong hai tháng này mà tôi không tranh thủ có sự hiện diện của nó.  Tôi trân trọng thời gian với con gái tôi.

Tôi đã suy tư nhiều về cuộc sống chiêm niệm.  Trong khi tôi vẫn lo sợ nói lời chia tay với Nora, tôi có thể hiểu hứng thú và niềm vui của nó, và cả ghen tị với nó trong những lúc ồn ào hỗn loạn ở nhà hay khi làm việc.  Tôi nghĩ là một phần đời sống tinh thần của tôi sẽ liên kết với Nora khi nó đến ngôi nhà mới, và lời cầu nguyện của nó ở đan viện sẽ liên kết với lời cầu nguyện của chúng tôi ở nhà hay trong Thánh lễ.  Tôi cầu nguyện: “Chúa yêu quý, xin cho con can đảm, niềm an ủi và tình yêu sâu sa để chúng con thực hiện điều này.”

Ngày 27 tháng 7 đã đến.  Tin mừng hôm đó thực thích hợp  – mọi người tìm kiếm những viên ngọc quý và mua thửa ruộng để sở hữu gia tài.  Nora đã tìm thấy tình yêu dành cho Chúa và ao ước cho Người tất cả và được Người sở hữu hoàn toàn!  Con gái tôi là kho tàng ít có… viên ngọc này sẽ được kết vào chuỗi của những viên ngọc quý.  Mỗi viên ngọc là duy nhất; không có viên nào đẹp hơn viên khác.  Tất cả làm thành sự hoàn hảo của chuỗi ngọc.  Tôi suy gẫm bài sách thánh này và quan sát nó với niềm vui, sự ngạc nhiên, niềm vui tỏa sáng của Nora khi trở lại đan viện.  Không có điều xấu nào có thể mang đến niềm vui, bình an và sự xuất thần rõ ràng mà Nora dường như đang cảm nghiệm.  Tôi cầu xin để cũng có thêm nhiều sự can đảm và niềm vui trong tôi.  Chúa đã ban cho tôi những điều này.  Tôi bị sốc vào buổi sáng Nora vào đan viện; niềm vui và tình yêu của nó lan truyền.  Tôi không thể nghĩ về chính tôi.  Tôi chỉ có thể nghĩ về niềm vui, sự vô vị lợi của con gái tôi và dâng nó cho  Chúa.  Không có điều gì buồn cả.  Nora vào nhà dòng với nụ cười và chúc lành của tôi và tôi vinh danh Chúa vì Người gọi con gái yêu quý của tôi.  Nó thuộc về Người.  Tôi và bạn cũng thế! (Aleteia  06/11/2016)

Hồng Thủy (VietVatican)

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

YÊU THƯƠNG LÀ MỘT CHUYẾN ĐI (có Youtube)

Khi nhận chức Giám mục ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi đã chọn cho tôi một Lời Chúa làm khẩu hiệu.  Tôi nhớ trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ của Người rằng: “Thầy trao ban cho anh em một giới răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy yêu thương anh em” (Ga 13, 34).  Có thể là tình hình lúc tôi thụ phong Giám mục là rất phức tạp, nên chính Chúa đã soi cho tôi chọn “Giới luật yêu thương” trích từ Lời Chúa trên đây làm khẩu hiệu, để ơn gọi Giám mục của tôi có phương hướng rõ ràng và chắc chắn.

Tôi đã sống theo hướng đó.  Qua 43 năm, bây giờ, tôi nhìn lại ơn gọi đó, tôi thấy yêu thương là một chuyến đi.  Tôi đi từ ngày này sang ngày khác, với niềm khao khát góp được phần nào trong việc xây dựng yêu thương cho những nơi tôi phục vụ.  Tôi thấy thế này:

Mỗi ngày là một ngày mới.  Mỗi ngày của tôi bắt đầu từ thánh lễ bàn thờ.  Trong thánh lễ bàn thờ, tôi được Chúa đốt lên trong tôi niềm khao khát Chúa.  Tôi khao khát được gặp Chúa.  Tôi khao khát tìm thấy Chúa.  Tôi khao khát cho mọi người đều được gặp Chúa, để nhờ Chúa mà được cứu độ và được bình an.

Sau thánh lễ bàn thờ là thánh lễ cuộc đời.  Cuộc sống mỗi ngày của tôi được tôi coi là một thánh lễ cuộc đời.  Trong thánh lễ cuộc đời, tôi cũng được Chúa đốt lên trong lòng niềm khao khát Chúa.

Cứ thế, ngày nọ sang ngày kia, tôi trở thành con người khao khát Chúa.  Từ khao khát Chúa, tôi khao khát những giá trị đạo đức, trong đó có yêu thương như Chúa đã yêu thương.  Lòng khao khát đó chính là lời cầu nguyện.  Chúa thương đến với tôi qua nhiều ngả, nhất là qua Lời Chúa và qua những con người sống yêu thương.

Ngày nào, tôi cũng gặp được Lời Chúa và những người yêu thương.  Tôi đón nhận những món quà đó, để đào tạo mình.  Đón nhận như thế chính là một việc quan trọng để sống ơn gọi yêu thương.  Tôi cảm tạ Chúa cách riêng, vì nhiều người yêu thương không xa tôi.  Họ là người yêu thương, trước khi làm việc yêu thương.  Tôi tin họ có Chúa trong mình một cách nào đó.  Khi khiêm nhường đón nhận những gương sáng của họ, tôi cảm thấy mình được hạnh phúc, vì được trở nên tốt hơn, và vì thấy xã hội cũng được bình an hơn.

Từ đón nhận tôi thực thi việc cho đi.  Cho đi của tôi là phục vụ.  Tôi phục vụ mọi người, nhất là nhằm mục đích giúp cho họ gặp được Chúa là tình yêu cứu độ giầu lòng thương xót.  Để đạt được mục đích đó, tôi luôn chia sẻ Lời Chúa và luôn đề cao yêu thương.  Yêu thương, nên tôi coi cầu nguyện và hy sinh cho những người mình phục vụ, là điều cần thiết.  Yêu thương, nên tôi coi những việc lành nhỏ bé phục vụ, là một chọn lựa thích hợp cho tôi.  Yêu thương, nên tôi coi thái độ mà Chúa Giêsu đã nói trong dụ ngôn người Samaria tốt lành (x. Lc 10, 29- 37) là điều rất phải quan tâm.  Những người bị trọng thương nằm ở vệ đường như được tả trong dụ ngôn, hiện nay là vô số, dưới nhiều hình thức khác nhau.  Ai có trái tim yêu thương, sẽ nhận ra họ, để mà cứu họ, không cách này thì cách khác.

Tôi nhớ có lần, ai đó đã nói: Cứu người thì phải cụ thể và quảng đại.  Tôi muốn thêm “và cũng phải khôn ngoan.”  Nếu không khôn ngoan, thì không chừng việc cứu sẽ không có hiệu quả, thậm chí còn có thể trở thành nguy hại cho người mình muốn cứu.  Nói đến khôn ngoan, tôi nghĩ đến khôn ngoan của Chúa Thánh Thần.  Chúa Thánh Thần hiện nay đang ban ơn khôn ngoan cho nhiều người, nhiều nhóm, để họ biết cách cứu người theo thánh ý Chúa.  Chỉ có điều là chúng ta có xin vâng sự chỉ dẫn của Chúa Thánh Thần hay không.  Rất nhiều lần, khi xét mình, tôi thấy tôi tưởng mình xin vâng Chúa Thánh Thần, nhưng đó là tưởng lầm.  Tôi phải sửa lại.  Cũng Chúa Thánh Thần giúp tôi sửa lại.

Với sự biết mình có nhiều điều cần sửa lại, tôi càng ngày càng nhận ra điều này: “Yêu thương là một chuyến đi.  Chuyến đi của yêu thương là rất dài, rất phức tạp.  Học mãi vẫn chưa đủ, nhận lãnh mãi vẫn chưa đủ, cho đi mãi vẫn chưa đủ.  Nhưng được chút nào vẫn là hạnh phúc.  Tôi cần cảm tạ Chúa vì hạnh phúc đó.  Còn phần chưa đủ, thì tôi cậy trông ở Chúa.  Như vậy, tôi được bình an, để bước thêm mãi, cho dù chuyến đi sẽ còn dài.

Tôi thấy yêu thương là một chuyến đi dài, nhiều nhọc nhằn, có nhiều bất ngờ, với những hậu quả khó lường.  Vì thế, tôi luôn nép mình dưới bóng Mẹ Maria.  Xin Mẹ dắt dìu tôi như đứa con bé nhỏ của Mẹ.  Có Mẹ ở bên, tôi thấy trong suốt chuyến đi này, tôi rất cần tỉnh thức và cầu nguyện, để nghe được Chúa Thánh Thần soi đường chỉ lối.

Ngay chính lúc này, khi tình hình đang tăng thêm nhiều bất ổn ngấm ngầm, tôi càng được Mẹ khuyên hãy tỉnh thức và cầu nguyện nhiều hơn, bởi vì yêu thương sẽ gặp rất nhiều trắc trở, do ngoại cảnh và do nội bộ.  Nếu chẳng may trắc trở lại do chủ quan của người môn đệ Chúa gây nên, thì sẽ rất nguy hiểm.  Nỗi sợ của tôi là chính đáng.  Biết sợ chính là một ơn Chúa ban.

Trong một tình hình, mà rất nhiều người không còn sợ Chúa, thì nỗi sợ của tôi được coi là hữu ích cho chuyến đi yêu thương.  Tôi sợ, nên tôi bám vào Chúa, tôi tìm đến Chúa, tôi xin Chúa cứu.

Và khi chắc chắn mình được Chúa thương, thì tôi chắc chắn đó là hạnh phúc và hy vọng cho tôi.  Hạnh phúc và hy vọng đó theo tôi suốt hành trình yêu thương.  Đi về cõi sau, sẽ ở bên Chúa đời đời vô cùng vô tận.

Gm. Gioan B Bùi Tuần
Long Xuyên, ngày 13.4.2018

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

NIỀM TÂM SỰ CỦA CHÚA GIÊSU (có Youtube)

Lệnh truyền của Chúa Giêsu là một lời tâm sự của người yêu nói với người yêu, đó là: “Các con hãy ở lại trong tình yêu của Thầy” (Ga 15,9).

Lệnh truyền này không mang tính nghiêm khắc nhưng là trao ban, là chia sẻ hạnh phúc của tình yêu.  Chúa Giêsu đã nâng các tông đồ lên ngang tầm với mình, Ngài nói: “Thầy không gọi các con là tôi tớ, Thầy gọi các con là bạn hữu.”  Từ hàng tôi tớ trở nên bạn hữu là sự cách nhau một trời một vực.  Người tôi tớ không được phép biết việc chủ làm; người tôi tớ chỉ biết hầu hạ.  Ngược lại, bạn hữu là người chia sẻ, là người đồng hành.  Nhưng từ tôi tớ lên bạn hữu, con người đâu có thể thực hiện được, nếu không phải là chính Thiên Chúa nâng con người lên.  Vậy lý do nào để Chúa Giêsu kết luận điều này?  Ngài giải thích: “Vì tất cả những gì Cha Ta nói với Ta, Ta cũng tỏ cho các con biết” (Ga 15, 15).  Chúa Giêsu đã không dấu điều gì.  Đó là tiếng nói của người yêu để trao cho các tông đồ, và qua các tông đồ tiếng nói của Chúa Giêsu đến với toàn thể Hội Thánh, đến với toàn thế giới về một sứ điệp Tình yêu dành cho tất cả mọi người, rằng: “Thiên Chúa yêu thương con người và yêu đến tận cùng.”

Tại sao lại gọi là “Yêu đến tận cùng?”  Vì lời mời gọi của Chúa Giêsu đã nêu rõ “Các con hãy ở lại trong tình yêu của Thầy.”  Ở lại trong tình yêu của Thầy có nghĩa là Chúa Giêsu gìn giữ, Chúa Giêsu thánh hóa.  Chúng ta được ở lại trong tình yêu của Thầy, cũng đồng nghĩa với việc chúng ta nên bạn hữu với Thầy.  Trò lại được gọi là bạn hữu.  Tất cả những điều này là đặc tính của tình yêu.  Tình yêu đích thực không tính toán, luôn đi bước trước, quảng đại cho đi và chấp nhận tất cả.  Chúa Giêsu đã không đòi một điều kiện nào, ngoại trừ một yếu tố duy nhất là “Các con hãy giữ lệnh truyền của Thầy” (Ga 15,10).  Và lệnh truyền của Thầy rất ngắn gọn, đầy đủ mà không ra ngoài tình yêu. “Điều Thầy truyền là các con hãy yêu thương nhau” (Ga 15,17).

Đức Giêsu không chỉ dạy chúng ta ở lại trong tình yêu của Chúa mà còn trao cho chúng ta một mẫu gương để chúng ta “hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 15,12).  Với một tiêu chuẩn và cách thức trên, Đức Giêsu đã tự hạ mình xuống để trao ban cho con người những gì là cao cả nhất của Thiên Chúa.  Vì Thiên Chúa là tình yêu.  Thế nên, trao ban cho con người là Thiên Chúa đã nâng con người lên bằng với Ngài.  Chúng ta không hiểu theo nghĩa tuyệt đối việc Chúa Giêsu đã dùng ngôn ngữ của loài người để diễn tả.  Gọi là bạn hữu, có nghĩa là nâng lên ngang hàng, để đồng hưởng một tình yêu như Đức Giêsu là đầu nói với thân mình, hay như Đức Giêsu là chồng nói với Hội Thánh là hiền thê.  Vậy còn gì nữa mà Ngài không cho chúng ta giá trị của một tình yêu đích thực?  Còn gì nữa để chúng ta dám đòi hỏi?  Cho nên, Đức Giêsu đưa ra lệnh truyền hôm nay không phải là một mệnh lệnh nghiêm khắc nhưng chúng ta khẳng định lại một lần nữa, đó là một niềm tâm sự.

Một niềm tâm sự của một người đã cho người mình yêu đến tận cùng.  Đây cũng là tiêu chuẩn để trắc nghiệm: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người dám hiến mạng vì người mình yêu” (Ga 15,13).  Đức Giêsu đã cho đến tận cùng.  Cho Máu, cho Nước từ Trái Tim Ngài chảy ra; cho quyền năng của Thiên Chúa hạ cố đến viếng thăm con người.  Cho tình yêu đích thực của Thiên Chúa đến với một tình yêu bất trung, bội phản, và hay thay đổi của con người.  Cho hạnh phúc vĩnh cửu đi vào trong thế giới của con người.  Một hạnh phúc của con người nay còn, mai mất nay lại được đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu đời đời.  Chẳng lẽ, chúng ta không thấy tất cả những điều ấy là một huyền nhiệm sao?  Chúng ta không thấy đó là một đặc tính đích thật của tình yêu, trao ban, hiến thân hay sao?  Vì vậy, chúng ta không còn gì để nói, không còn gì để đòi hỏi mà chỉ còn lãnh nhận với lòng biết ơn.  Và lòng biết ơn đó là gì?  Là hãy sinh hoa trái cho Thiên Chúa.  Hoa trái ấy không phải là tự chúng ta làm được nhưng là hoa trái mà Chúa sẽ ban cho, chúng ta đừng để hư mất.  Ngoài ra, Chúa Giêsu còn tiên liệu trước cho chúng ta trong những gì vượt quá khả năng của con người, Ngài căn dặn: “Những gì các con xin Cha nhân danh Thầy, Người sẽ ban cho các con” (Ga 15, 16).  Vì vậy, hãy lấy danh Đức Giêsu Kitô để xin và Thiên Chúa Cha sẽ ban cho chúng ta.

Điều mà Chúa Giêsu tâm sự: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu các con” “ở lại trong tình yêu của Thầy”, chính là để bảo vệ và nâng đỡ.  Thế nên chúng ta được ở lại trong tình yêu của Thiên Chúa là Cha.  Với tất cả điều này, người Ki tô hữu hôm nay không còn gì phải phàn nàn, không còn gì phải lo âu hay sợ hãi.  Họ được từng bước mời gọi, họ được từng bước trao ban.  Chúng ta hãy cố gắng mỗi ngày, không phụ tình yêu thương của Chúa:

– Hãy biến những trìu tượng thành thực tế;

– Hãy hiện thực hóa khái niệm về một tình yêu cao vời và siêu nhiên;

– Hãy thực hành trong chính những người thân yêu của gia đình, những người bé mọn trong xã hội để chứng tỏ tình yêu Thiên Chúa đã được thể hiện trong đời sống của mỗi người chúng ta;

– Hãy đáp lại lời mời gọi của Chúa bằng việc chúng ta đối xử với nhau theo gương của Đức Giêsu Kitô đã yêu và đã ban trao.

Một lần nữa, Chúa lại cho chúng ta một đơn vị, một mô hình thực tế nhất và dễ dàng nhất để chúng ta thực hiện mỗi ngày, đó là YÊU THƯƠNG NHAU.  Với tiêu chí đó, chúng ta sẽ không thiếu bất kỳ một cơ hội nào, chúng ta không thiếu một giây phút nào, vì lúc nào chúng ta cũng có thể yêu thương nhau.  Và đó cũng sẽ là những nét đặc trưng để chúng ta đáp lại tình yêu cao vời và nhiệm mầu của Thiên Chúa.

Lạy Chúa Giêsu Kitô,

Chúng con chỉ còn biết im lặng, để tôn thờ và yêu mến Chúa.  Vì Chúa đã dùng tất cả quyền năng và thượng trí, để trao cho chúng con một tình yêu lớn lao.

Xin cho chúng con biết thực hành trong đời sống mỗi ngày, với Chúa và với nhau, để chúng con không phụ tình yêu thương muôn đời của Chúa, để cho mỗi người chúng con được ở lại trong tình yêu Chúa đến muôn đời.

Xin cho mỗi người chúng con khi được lời Chúa hứa, là được bảo đảm cho sự sống đời đời.  Và trong tình yêu ấy, chúng con cũng sẽ hy vọng được gặp lại nhau như Chúa đã yêu chúng con, và chúng con được ở lại trong tình yêu Chúa muôn đời.  Amen!

Lm. Phêrô Nguyễn Hồng Phúc

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

TÌM HIỂU GỐC TÍCH THÁNG HOA ĐỨC MẸ (có Youtube)

Là người Công giáo Việt Nam, nhất là những người đã lớn lên trong một xứ đạo miền Bắc, Trung hoặc Nam, có lẽ không ai lạ gì sinh hoạt tôn giáo trong tháng Năm, tháng Hoa Đức Mẹ.  Khi ngàn hoa xanh, đỏ, trắng, tím, vàng nở rộ trong cánh đồng, thì con cái Mẹ cũng chuẩn bị cho những đội dâng hoa, những cuộc rước kiệu, để tôn vinh Mẹ trên trời.  Những điệu ca quen thuộc trìu mến bỗng nổi dậy trong tâm hồn cách thân thương, nhất là bài “Đây Tháng Hoa” của nhạc sĩ Duy Tân với điệu  2/4 nhịp nhàng:

“Đây tháng hoa, chúng con trung thành thật thà.  Dâng tiến hoa lòng mến dâng lời cung chúc.  Hương sắc bay tỏa ngát nhan Mẹ diễm phúc.  Muôn tháng qua lòng mến yêu Mẹ không nhòa.

– Đây muôn hoa đẹp còn tươi thắm xinh vô ngần.  Đây muôn tâm hồn bay theo lời ca tiến dâng.  Ôi Maria, Mẹ tung xuống muôn hoa trời.  Để đời chúng con đẹp vui, nhớ quê xa vời.

– Muôn dân trên trần mừng vui đón tháng hoa về.  Vang ca tưng bừng ngợi khen tạ ơn khắp nơi.  Ánh hồng sắc hương càng tô thắm xinh nhan Mẹ.  Sóng nhạc reo vang tràn lan đến muôn muôn đời”.

Nếu có ai tự hỏi: Tháng Hoa có từ đời nào?  Do ai khởi xướng? thì câu trả lời cũng không khó khăn gì.

Gốc tích như thế này:

Vào những thế kỷ đầu, hàng năm, khi tháng Năm về, người Rôma tôn kính sự thức giấc sau mùa đông dài của thiên nhiên bằng những cuộc tổ chức gọi là những ngày lễ tôn kính Hoa là Nữ thần mùa Xuân.  Các tín hữu Công giáo trong các xứ đạo đã thánh hóa tập tục trên.  Họ tổ chức những cuộc rước kiệu hoa và cầu nguyện cho mùa màng phong phú.

Có nơi người ta tổ chức các cuộc “Rước xanh.”  Người ta đi cắt các cành cây xanh tươi đang nở hoa,  đưa về trang hoàng trong các nhà thờ và đặc biệt các bàn thờ dâng kính Đức Mẹ.  Các thi sĩ cũng như các thánh đua nhau sáng tác những bài hát, bài giảng ca tụng những ngày lễ đó cũng như ca tụng Đức Mẹ.

Đến thế kỷ 14, linh mục Henri Suzo dòng Đaminh, vào ngày đầu tháng 5, đã dâng lên Đức Mẹ những việc tôn kính đặc biệt và lấy hoa trang hoàng tượng Đức Mẹ.

Thánh Philipe đệ Nêri, cũng vào ngày 1 tháng 5, thích tập họp các trẻ em lại chung quanh bàn thờ Đức Mẹ, để cùng các bông hoa mùa xuân, Ngài dâng cho Đức Mẹ các nhân đức còn ẩn náu trong tâm hồn non trẻ của chúng.

Đầu thế kỷ 17, tại Napoli, nước Ý, trong thánh đường kính thánh Clara của các nữ tu Dòng Phanxicô, tháng Đức Mẹ được cử hành công cộng: Mỗi chiều đều có hát kính Đức Mẹ, ban phép lành Mình Thánh.  Từ ngày đó, tháng Đức Mẹ nhanh chóng lan rộng khắp các xứ đạo.

Năm 1654, cha Nadasi, dòng Tên, xuất bản tập sách nhỏ khuyên mời giáo hữu dành riêng mỗi năm một tháng để tôn kính Đức Mẹ Chúa Trời.

Đầu thế kỷ 19, hết mọi xứ trong Giáo hội đều long trọng kính tháng Đức Mẹ.  Các nhà thờ chính có linh mục giảng thuyết, và gần như lấy thời gian sau mùa Chay là thời gian chính thức để tôn kính Đức Mẹ.  Trong việc này linh mục Chardon đã có nhiều công.  Không những ngài làm cho lòng sốt sắng trong tháng Đức Mẹ được phổ biến trong nước Pháp mà còn ở mọi nước Công giáo khác nữa.

– Đức Giáo Hoàng Piô 12, trong Thông điệp “Đấng Trung gian Thiên Chúa”, cho “việc tôn kính Đức Mẹ trong tháng Năm là việc đạo đức được thêm vào nghi thức Phụng vụ, được Giáo hội công nhận và cổ võ”.

– Đức giáo Hoàng Phaolô 6, trong Thông điệp Tháng Năm, số 1 viết: “Tháng Năm là Tháng mà lòng đạo đức của giáo dân đã kính dâng cách riêng cho Đức Mẹ. Đó là dịp để bày tỏ niềm tin và lòng kính mến mà người Công giáo khắp nơi trên thế  giới có đối với Đức Mẹ Nữ Vương Thiên đàng.

Trong tháng này, các Kitô hữu, cả ở trong thánh đường cũng như nơi tư gia, dâng lên Mẹ từ các tấm lòng của họ những lời cầu nguyện và tôn kính sốt sắng và mến yêu cách đặc biệt.  Trong tháng này, những ơn phúc của Thiên Chúa nhân từ cũng đổ tràn trên chúng ta từ ngai tòa rất dồi dào của Đức Mẹ” (Dictionary of Mary, Catholic book Pub. 1985, p. 236)

Một câu truyện cũ đáng ta suy nghĩ:

Ở thành Nancêniô trong nước Pháp, có một gia đình trung lưu.  Vợ đạo đức, chồng hiền lành nhưng khô khan.  Vợ luôn cầu xin Chúa mở lòng cho chồng sửa mình , nhưng chồng cứng lòng mãi.  Năm ấy đầu tháng Hoa Đức Mẹ, bà sửa sang bàn thờ để mẹ con làm việc tháng Đức Mẹ.  Chồng bà bận việc làm ăn, ít khi ở nhà, và dù ông ở nhà cũng không bao giờ cầu nguyện chung với mẹ con.  Ngày lễ nghỉ không bận việc làm thì cũng đi chơi cả ngày, nhưng ông có điều tốt là khi về nhà, bao giờ cũng kiếm mấy bông hoa dâng Đức Mẹ.

Ngày 15 tháng Sáu năm ấy, ông chết bất thình lình, không kịp gặp linh mục.  Bà vợ thấy chồng chết không kịp lãnh các phép đạo, bà buồn lắm, nên sinh bệnh nặng, phải đi điều trị ở nơi xa.  Khi qua làng Ars, bà vào nhà xứ trình bày tâm sự cùng cha xứ là cha Gioan Vianey.

Cha Vianey là người đạo đức nổi tiếng, được mọi người tặng là vị thánh sống.  Bà vừa tới nơi chưa kịp nói điều gì, cha Gioan liền bảo:

– Đừng lo cho linh hồn chồng bà. Chắc bà còn nhớ những bông hoa ông vẫn đem về cho mẹ con bà dâng cho Đức Mẹ trong tháng Hoa vừa rồi chứ?

Nghe cha nói, bà hết sức kinh ngạc, vì bà chưa hề nói với ai về những bông hoa ấy, nếu Chúa không soi cho cha, lẽ nào người biết được?

– Cha sở nói thêm: Nhờ lời bà cầu nguyện và những việc lành ông ấy đã làm để tôn kính Đức Mẹ, Chúa đã thương cho ông ấy được ăn năn tội cách trọn trong giờ chết. Ông ấy đã thoát khỏi hỏa ngục, nhưng còn bị giam trong luyện ngục, xin bà dâng lễ, cầu nguyện, làm việc lành thêm cầu cho ông chóng ra khỏi nơi đền tội nóng nảy mà lên Thiên đàng.

Nghe xong lời cha Gioan,  bà hết sức vui mừng tạ ơn Đức Mẹ. (Sách Tháng Đức Bà, Hiện Tại xuất bản, 1969, trang 10).

Nếu chỉ vì mấy bông hoa mọn dâng kính Đức Mẹ cũng được Đức Mẹ ban ơn cứu rỗi lớn lao như vậy, thử hỏi, những ai trong tháng Năm này tham dự dâng Hoa, rước kiệu, đọc kinh Mân côi, hơn nữa, họ dâng lên Mẹ những hoa tin, cậy, mến, hy sinh, đau khổ, bệnh nạn… chắc sẽ còn được Đức Mẹ ban muôn ơn trọng hơn nữa vì Mẹ thích những bông hoa Xanh của lòng Cậy, hoa Đỏ của Lòng mến, hoa Trắng của lòng trong sạch, hoa Tím của hãm mình, hoa Vàng của niềm tin, hoa Hồng của kinh Kính mừng lắm lắm.

Thánh Anphongsô Ligori quả quyết rằng: “Nếu tôi thật lòng yêu mến Mẹ, thì tôi chắc chắn được lên thiên đàng”.

Thánh Bênado diễn tả văn vẻ hơn: Được Mẹ dẫn dắt, bạn sẽ không ngã.  Được Mẹ che chở, bạn sẽ không sợ.  Được Mẹ hướng dẫn, bạn sẽ an lòng.  Được Mẹ ban ơn, bạn sẽ đạt đích mong chờ.

Lm. Đoàn Quang, CMC

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.