GIEO LỜI YÊU THƯƠNG

Malcolm Dolkoff là một cậu bé nhút nhát, dễ bị tổn thương.  Cậu có rất ít bạn và luôn phải lủi thủi một mình.

Một lần, cô giáo đọc cho cả lớp một đoạn truyện ngắn.  Loài vật là bạn thân của con người, sau đó phân công mỗi học sinh tự viết đoạn kết cho câu chuyện.  Dolkoff thích lắm, ngay chiều hôm ấy cậu đã hoàn thành bài viết của mình.  Nhưng mãi cậu mới có đủ tự tin đem nộp truyện của mình cho cô giáo vào buổi học tuần sau.

Những gì cậu viết cũng như điểm số mà cô giáo đã cho không hề quan trọng.  Đối với cậu, điều quan trọng nhất mà cũng là điều cậu nhớ nhất lại chính là 4 chữ cô giáo đã phê: “Em viết hay lắm!”  Chỉ 4 chữ mà cũng đủ thay đổi toàn bộ cuộc đời cậu bé.  Trước khi nhận được 4 chữ đó, cậu chưa bao giờ có khái niệm về bản thân hay những điều mình đã làm.  Còn sau buổi học hôm ấy, cậu đã chạy thật nhanh về nhà, ngồi ngay vào bàn và bắt đầu viết một câu truyện ngắn, một câu truyện về tất cả những điều cậu đã từng mơ tới và không bao giờ dám nghĩ mình có thể biến những giấc mơ đó thành hiện thực.

Cậu viết ngày càng nhiều hơn và cứ được một truyện cậu lại mang ngay tới cho cô giáo của mình nhận xét.

Nhiều năm trôi qua, Malcolm Dalkoff đã trở thành một nhà văn nổi tiếng thay cho cậu bé tự ti ngày nào.  Cậu trở về thăm trường cũ và thăm lại cô giáo ngày xưa của mình.  Điều cậu phải cảm ơn cô không phải vì cô đã trở thành một người bạn của cậu mà chính là 4 chữ đầu tiên cô đã từng phê “Em viết hay lắm!”, bởi những chữ ấy đã có thể thay đổi cả một cuộc đời.

Có những lời nói, cử chỉ tưởng như vô tình lại trở thành nguyên nhân thay đổi cho cả một đời người.  Biết bao con cái rơi vào sự tự ti mặc cảm khi cha mẹ vô tình lặp lại lời chê trách đối với con.  Biết bao con người trở thành hung dữ khi cha mẹ luôn gieo vào tâm trí trẻ thơ những lời nói việc làm chất chứa đầy hiềm khích, bất công.  Và ngược lại, biết bao con người đã bẻ gãy ổ khoá tự ti mặc cảm để can đảm vào đời, khi nhận được một sự khích lệ, một sự cảm thông từ những người thân.  Biết bao con người đã hoàn thiện nhờ vào gương lành của tha nhân đã gieo vào lòng họ những lời nói, những việc làm tốt. Những lời nói, những việc làm của ta tưởng như vô tình nhưng thực ra nó vẫn âm thầm gieo vào lòng những người chung quanh ta để có thể biến đổi họ theo cách sống của chúng ta.

Cha ông ta vẫn thường nói: “Lời nói chẳng mất tiền mua – Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.”  Nói cho vừa lòng nhau không phải để lấy lòng nhau hay lừa dối lòng mình.  Nhưng là lựa lời để nói.  Nói để xây dựng con người.  Nói để giúp họ thăng tiến.  Đừng dùng lời nói làm đau lòng người khác, và cũng đừng dùng lời nói để kết án anh em.  Một lời nói có thể thay đổi cả đời người.  Hãy trao tặng cho anh em những lời nói thật chân tình và đầy ắp yêu thương.  Lời nói không mất tiền mua, không phải để chúng ta phung phí bừa bãi, nhưng biết quý trọng từng lời.  Lời nói thể hiện nét đẹp văn hoá nơi con người.  Hãy biết chắt lọc ngôn ngữ.  Hãy làm cho lời nói của ta có giá trị bằng cách biết dùng lời cho vừa lòng nhau.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy ra đi gieo vãi Lời Chúa.  Gieo trong kiên trì.  Dù đêm hay ngày.  Người gieo giống luôn gieo vào nhân thế hạt giống của tin mừng, hạt giống của yêu thương và hạnh phúc.  Nếu cô giáo của Malcolm Dolkoff không gieo vào lòng cậu bé lòng tin và nghị lực thì không có một nhà văn tài ba.  Người Kitô không gieo Lời Chúa thì làm sao có cánh đồng lúa bát ngát bông lúa vàng là tâm hồn các tín hữu?

“Đêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, thì hạt giống này nảy mần và mọc lên, bằng cách nào thì người ấy không biết.”  Sự kỳ diệu của hạt giống là vẫn âm thầm lớn lên theo quy luật tự nhiên và sẽ có một ngày nó trở thành cây cao bóng cả cho đàn chim trú ngụ.  Người Kitô hãy gieo trong kiên trì, gieo với niềm cậy trông để nhờ ơn Chúa lời ta nói, việc ta làm sẽ sinh hoa kết trái nơi môi trường chúng ta đang sống.

Xin Chúa giúp chúng ta luôn gieo vãi yêu thương trong hành trình cuộc sống của chúng ta, để mỗi bước chân chúng ta đi luôn để lại dấu ấn của yêu thương và hy vọng cho nhân thế.  Amen!

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

THÁNH ANTÔN PADUA, LINH MỤC-TIẾN SĨ HỘI THÁNH

Lòng tôn sùng rộng rãi và mạnh mẽ đối với thánh Antôn Padua thật lạ lùng so với những sự kiện đời ngài. Ngài sinh năm 1195 có lẽ gần Lisbonne, với tên gọi là Fernandô. Cha Ngài là hiệp sĩ và viên chức tại triều đình hoàng đế Alphongsô thứ II, vua nước Bồ Đào Nha. Fernandô được gởi đi học trường nhà thờ chánh tòa tại Lisbonne. Nhưng vào tuổi 15, Ngài gia nhập dòng thánh Augustinô.

Sau hai năm tại nhà dòng, Ngài xin được chuyển về Coimbra vì bạn bè đến thăm quá đông. Tu viện Coimbra có một trường dạy Thánh kinh rất danh tiếng. Tám năm trời Fernandô nỗ lực học hỏi và đã trở thành học giả sâu sắc về thần học và kinh thánh. 

1. Biến cố thay đổi

Ngày kia với nhiệm vụ tiếp khách, ngài săn sóc cho 5 tu sĩ Phanxicô đang trên đường tới Morocco. Về sau họ bị tàn sát dã man và thi hài họ được đưa về Coimbra để tổ chức quốc táng. Fernandô mong ước hiến đời mình cho cánh đồng truyền giáo xa xăm. Nôn nóng với ước vọng mới, Fernandô phải tiến một bước bất thường đầy đau khổ là rời bỏ dòng Augustinô để nhập dòng Phanxicô. Nhà dòng đặt tên ngài là Antôn và chấp thuận cho ngài tới Moroccô. Nhưng vinh dự tử đạo không được dành riêng cho ngài. Ngài ngã bệnh và phải trở về nhà. Trên đường về, con tàu bị bão thổi bạt tới Messina ở Sicily. Thế là An tôn nhập đoàn với anh em Phanxicô nước Ý. Có lẽ thánh nhân có mặt trong cuộc họp ở Assisi năm 1221, và gặp thánh Phanxicô ở đây. Ít lâu sau ngài được gởi tới viện tế bần ở Forli gần Emilia để làm những công việc hèn hạ.

2. Biến cố tiếp theo

Dầu vậy một biến cố bất ngờ khiến người ta khám phá ra khả năng đặc biệt của thánh nhân. Trong một lễ nghi phong chức ở Forli nhà giảng thuyết đặc biệt vắng mặt. Không ai dám thay thế. Cha giám tỉnh truyền cho An tôn lên tòa giảng. Antôn làm cho khán giả kinh ngạc. Người ta thấy ngay trước được rằng ngài là một nhà giảng thuyết bậc nhất. Hậu quả tức thời ngài được chỉ định làm nhà giảng thuyết trong cả Italia. Đây là một thời mà Giáo hội cần đến những nhà giảng thuyết hơn bao giờ hết để chống lại các lạc thuyết. Kể từ đó nhà tế bần Forli không còn gặp lại Antôn nữa. Ngài du hành không ngừng bước từ miền nam nước Ý tới miền Bắc nước Pháp, hiến trọn thời gian và năng lực cho việc giảng dạy. Sự đáp ứng của dân chúng đã khích lệ ngài nhiều, các nhà thờ không đủ chỗ cho người đến nghe. Người ta phải làm bục cho ngài đứng ngòai cửa. Nhưng rồi đường phố và quảng trường đã lại chật hẹp quá và người ta lại phải mang bục ra khỏi thành phố tới những cánh đồng hay sườn đồi, nơi có thể dung nạp những 20, 30, 40 ngàn người đến nghe ngài. Nghe tin ngài đến đâu, thì nơi đó tiệm buôn đóng cửa, chợ hoãn phiên họp, tòa ngưng xử án. Suốt đêm dân chúng từ khắp nơi đốt đuốc tụ về. Dường như bất cứ ai một lần chịu ảnh hưởng của thánh Antôn thì không có gì chống lại được sự lôi cuốn bởi các bài giảng của ngài.

Ngài thường mạnh mẽ chống lại sự yếu đuối của hàng tu sĩ qua những tội nổi bật trong xã hội đương thời như: tính tham lam, nếp sống xa hoa, sự độc đoán của họ. Đây là một giai thoại điển hình: khi ngài được mời để giảng ở hội đồng họp tại Bourges, dưới sự chủ tọa của tổng giám mục Simon de Sully. Với những lời mở đầu “Tibi loquor cornute” (Tôi xin thưa cùng ngài đang mang mũ giám mục trên đầu), thánh nhân tố giác vị giám mục mới tới, làm mọi thính giả phải kinh ngạc.

Cũng tại Bourges, nên ghi lại một phép lạ lừng danh về một con lừa thờ lạy bí tích cực trọng. Với một người Do thái không tin phép Bí tích Mình Thánh. Thánh nhân nói:

– Nếu con lừa ông cưỡi mà quỳ xuống và thờ lạy Chúa ẩn mình dưới hình bánh thì ông có tin không?

Người Do thái nhận lời thách thức.  Hai ngày ông ta không cho lừa ăn rồi dẫn tới chỗ họp chợ, giữa một bên là lúa mạch và bên kia thánh Antôn kiệu Mình Thánh Chúa đi qua, con vật quên đói quay sang thờ lạy Chúa. 

Mùa chay cuối cùng thánh Antôn giảng ở Padua.  Và người ta còn nhớ mãi sự nhiệt tình mà thánh nhân đã khơi dậy.  Dân địa phương đã không thể nào tìm ra thức ăn lẫn chỗ ở cho đoàn người đông đảo kéo tới.  Nhưng sau mùa chay này, thánh nhân đã kiệt sức.  Ngài xin các bạn đồng hành đưa về nhà thờ Đức Maria ở Padua để khỏi làm phiền cho chủ nhà trọ.  Không nói được nữa,  ngài dừng chân ở nhà dòng Đức Mẹ người nghèo ở Arcella.  Tại đây, người ta đặt ngài ngồi dậy và giúp ngài thở.  Ngài bắt đầu hát thánh thi tạ ơn và qua đời giữa tiếng ca ngày 13 tháng 6 năm 1231 khi mới 36 tuổi.  Ngài được phong thánh một năm sau, ngày 30-5-1232.  Năm 1946, Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn phong ngài làm Tiến Sĩ Hội Thánh.

Năm 1263, trong ngày lễ thánh nhân, hài cốt thánh Antôn được đưa từ tu viện đến nhà thờ mới, dưới sự điều khiển của thánh Bonaventura.  Khi khai quật phần mộ, da thịt ngài đã tiêu tan hết, đặc biệt lưỡi thì còn y nguyên.  Thánh Bonaventura hôn kính “lưỡi đáng kính trọng” ấy, rồi thốt lên: “Bởi lưỡi thánh này đã ngợi khen Thiên Chúa và khuyên dụ nhiều người ngợi khen Thiên Chúa, nên Ngài đã gìn giữ lưỡi này còn nguyên vẹn cho đến bây giờ.”  Lưỡi ấy được đặt vào một bình bạc để trên cao cho mọi người tôn kính.  Từ đó, khách hành hương từ khắp nơi đến viếng nhà thờ và mộ thánh để cầu nguyện và xin ơn.  Thánh Antôn hằng ban ơn giáng phúc, chẳng những về thể xác mà nhất là về phần linh hồn.  Chính thánh Bonaventura đã chứng kiến và ca ngợi rằng: “Ai muốn nhờ phép lạ thì phải chạy đến cùng thánh Antôn.  Người cứu chữa lúc gian nan, giúp đỡ khi túng cực.  Hãy hỏi dân thành Pađua, hãy hỏi các khách hành hương, họ sẽ nói lên sự thật ấy. 

Người ta thường vẽ thánh Antôn bế Hài Nhi Giêsu vì Ðức Giêsu đã hiện ra với ngài.  Thánh Antôn là người hiểu biết thâm sâu, nhất là về Kinh Thánh, do đó Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã tuyên xưng ngài là “Tiến Sĩ Tin Mừng” hay Tiến Sĩ Kinh Thánh.

Thánh Antôn Padua đã hiến trọn thời gian và năng lực cho việc giảng dạy về tình yêu Chúa.  Ước gì mỗi chúng ta cũng biết noi gương thánh nhân, can đảm hiến thân cho tha nhân, cho Tin Mừng nước Cha.

Tổng hợp

Xin xem thêm sách thánh Antôn Padua

https://suyniemhangngay.net/ 2016/09/04/thanh-anton-padua/

CÔ ĐƠN VÀ TĨNH MẠC

Từ ít lâu nay, trong Hội thánh Công giáo đã xuất hiện một phong trào tu đức nhằm vào sự cô đơn.

Phong trào này đào tạo nên những con người:

  • Coi sự cô đơn của Chúa Giêsu là một yếu tố quan trọng của thân phận Đấng cứu Thế được sai vào đời.
  • Quan tâm cách đặc biệt đến những người cô đơn trong xã hội và Giáo Hội.
  • Biết dùng bất cứ cảnh cô đơn nào xảy đến cho chính mình, để thêm cậy tin và phó thác nơi Chúa giàu lòng thương xót.
  • Biết phân biệt cảnh cô đơn không cần thiết và cảnh tĩnh mạc cần thiết cho việc đạo đức.

Với mấy nhận thức trên đây, tôi xin kính mời mọi tín hữu nói chung và mọi môn đệ được gọi vào chức thánh nói riêng, hãy nhìn vào Chúa Giêsu của tuần thánh.  Hãy ngắm nhìn kỹ và suy nghĩ thực sâu, để chia sẻ đôi chút tâm tình của Người.  Bởi vì cô đơn và tĩnh mạc đang và sẽ là vấn đề lớn cho ta và cho cộng đoàn của ta.

  1. Sự cô đơn của Chúa Giêsu

Trong tuần thánh, cảnh nổi bật vây phủ Chúa Giêsu là cảnh cô đơn.

a) Quần chúng trước đây tung hô Người, nay quay lại nguyền rủa Người thậm tệ. Sự thay lòng đổi dạ đó đã gây cho Chúa Giêsu một sự cô đơn đầy sát khí. Nó đổ trên Người những bất hiếu, bất trung, vô ơn, độc ác.

b) Sự cô đơn của Chúa Giêsu do quần chúng gây nên lại càng nặng thêm do thái độ các môn đệ thân tín bỏ rơi Người. Kẻ thì bán Người, kẻ thì bỏ mặc Người bị bắt, kẻ thì chối Người.

c) Sự cô đơn của Chúa Giêsu càng trở nên bi đát, khi Người bị xét xử trước tòa đạo, tòa đời hồi đó. Những kẻ được nắm quyền do ơn trên, nay lại dùng chính quyền đó để kết án Người với sự hãnh diện của thứ đạo đức giả sành nghề.

d) Sự cô đơn coi như đẩy Chúa Giêsu xuống vực thẳm sâu nhất chính là khi Người cảm thấy như mình bị Chúa Cha từ bỏ. Chính Chúa Giêsu đã thốt lên một lời diễn tả nỗi khổ đó: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Người bỏ rơi con” (Mc 15,34).

  1. Sự tĩnh mạc của Chúa Giêsu

Khi Chúa Giêsu bị các nỗi cô đơn đè nặng trên mình, Người đã đối phó bằng sự đi vào cõi tĩnh mạc.

Trước hết là tĩnh mạc địa lý.  Người đi vào vườn Cây Dầu là nơi vắng vẻ.  Khi cầu nguyện, thì chỉ đi với ba môn đệ.  Nhưng rồi Người cũng không cùng với ba môn đệ cầu nguyện chung.  Người cầu nguyện một mình ở một chỗ tĩnh mạc, xa ba môn đệ.

Trong tĩnh mạc địa lý, Chúa Giêsu đi sâu vào tĩnh mạc nội tâm.  Sự tĩnh mạc này giúp Người cầu nguyện, thêm sức cho Người được chịu mọi đau khổ về thể xác và tinh thần.

Sự tĩnh mạc nội tâm này đã được nhận thấy ở sự rất ít nói của Chúa Giêsu, khi bị nhục mạ, bị vu khống, bị kết án.  Ban đầu, Người còn trả lời vắn tắt những câu tra vấn.  Sau đó, Người trả lời bằng sự im lặng.  Trên Thánh giá, Người chỉ nói mấy lời với nội dung yêu thương đối với loài người, và phó thác đối với Chúa Cha: “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).

Trong sự cô đơn và tĩnh mạc nội tâm, Chúa Giêsu đã rất quan tâm đến những người khác bằng tình yêu thương.

  1. Sự quan tâm của Chúa Giêsu đối với những cảnh cô đơn

a) Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã an ủi các môn đệ: “Thầy không để các con phải mồ côi” (Ga 14,18). “Thầy để lại bình an cho các con. Bình an mà Thầy ban cho các con không giống bình an mà thế gian ban tặng” (Ga 14,27).  “Nếu Thầy không đi, Đấng Bảo trợ sẽ không đến với các con.  Nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với các con” (Ga 16,7).  Hơn nữa, Chúa Giêsu đã lập Bí tích Thánh Thể và Bí tích Truyền Chức Thánh để ở lại với nhân loại một cách gần gũi đầy an ủi.

b) Trên thánh giá, Chúa Giêsu đã nghĩ tới cảnh cô đơn của mẹ Người. Nên Người đã trối thánh Gioan cho Đức Mẹ, và trối Đức Mẹ cho thánh Gioan và nhân loại.

c) Trên thánh giá, Chúa Giêsu thấy rõ cảnh con người bị tội lỗi xiềng xích là cảnh cô đơn đáng phải sợ nhất, nên Người đã xin Chúa Cha tha tội cho những kẻ làm khổ Người, đặc biệt là Người nhận lời kẻ trộm chịu đóng đinh bên hữu Người. Ông sẽ được cùng Người vào chốn trường sinh.

Trên đây là vài chia sẻ vắn tắt cho một vấn đề đã xưa, nhưng hiện đang là thời sự chi phối bầu khí đạo đức trong xã hội và trong Giáo Hội.

Thực vậy, theo các nhà khảo sát xã hội và quan sát tình hình tôn giáo, thì hiện nay:

  • Số người rơi vào cảnh cô đơn càng ngày càng đông.
  • Số người bị loại trừ cũng đang có chiều hướng gia tăng.

Cảnh cô đơn và cảnh bị loại trừ diễn ra ngay trong gia đình, trong các cộng đoàn xã hội, cả trong những cộng đoàn tôn giáo.

Động cơ đẩy người ta vào cảnh cô đơn và loại trừ càng ngày càng phức tạp.

Nếu chúng ta không tỉnh thức và cầu nguyện, thì cảnh cô đơn và loại trừ sẽ phát sinh và phát triển mạnh trong Hội Thánh Việt Nam ta.  Đang khi đó, cảnh tĩnh mạc sẽ lại bớt đi.  Lỗi phần nào là do các phong trào không lành mạnh trong xã hội, nhưng cũng một phần do chính những nhẹ dạ hoặc ác ý của một số thành phần thuộc nội bộ Giáo Hội ta.

Xin nhớ rằng: Ác quỷ Satan rất khôn khéo trong việc phá Hội Thánh Chúa.  Phá dưới mọi hình thức. Hiện nay hình thức Satan ưa dùng, là gây nên cảnh cô đơn và loại trừ trong chính nội bộ, đang khi đó chúng lại gây nên cảnh náo động hướng ngoại, thay cho tĩnh mạc cầu nguyện.  Nếu đúng như vậy, thì vấn đề chúng ta nên để tâm nhiều hơn trong tu đức là hãy đón Chúa Giêsu chịu tử nạn vào tâm hồn ta.

Khi Người là sự sống của ta, thì chính Người sẽ đổi mới ta.  Nhờ Người, ta sẽ biết khiêm tốn nhìn nhận mình chỉ nắm được một phần nhỏ của các sự thực, để ta sẽ sống bé nhỏ trong việc góp phần xây dựng sự hiệp nhất trong Hội Thánh có nhiều khác biệt, trên đường hành hương nhiều khi cô đơn và tĩnh mạc.

Dù cô đơn, dù tĩnh mạc, chúng ta tuyệt đối phó thác cuộc đời chúng ta nơi Chúa tình yêu. “Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa” (Dt 10,9).

Gm. G.B. Bùi Tuần

CHỐNG CÁC TAY SAI CỦA QUỶ VƯƠNG

Nếu tôi là Đức Giêsu, tôi sẽ buồn phiền chán nản vô cùng: vừa bị thân nhân gia đình bôi nhọ là: “Ông ấy mất trí”, lại bị nhóm kinh sư từ thành đô Giêrusalem đến xem xét rồi chụp mũ: “Ông ấy bị quỷ vương Bengiêbút ám nhập và dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ”.

Đó là những bẫy rất tâm lý và cực kỳ nguy hại của sa tan, để đánh bại chương trình cứu độ của Đấng Cứu Thế như nó đã đánh bại chương trình sáng tạo của Thiên Chúa.  Trước kia nó đã mặc lốt con rắn cuốn lôi con người bỏ Thiên Chúa mà theo nó phạm tội ăn trái cấm (Bài đọc 1).  Bây giờ, nó núp bóng dưới dạng thân nhân, và kinh sư âm mưu tráo trở công việc cứu độ của Đức Giêsu biến thành công việc của nó.  Đức Giêsu đã mạnh mẽ phản kháng những lừa bịp độc hại của sa tan.  Người liền gọi dân chúng, những con người hiền lành chất phát đến nghe để Người giải tỏa cho họ khỏi nọc độc bịp bợm của rắn quỷ, bằng kiểu luận lý dễ hiểu, ai cũng có thể thấy rõ được: “Nước nào chia rẽ, nước ấy sẽ mất; nhà nào chia rẽ, nhà ấy sẽ tan”.

Một tiền đề sát với đời sống cụ thể của họ và rất sắc bén để dẫn tới áp dụng kết luận: “Vậy satan chống lại satan, satan tự chia rẽ satan, thì chúng không thể tồn tại, tất nhiên chúng dẫn đến diệt vong”.

Người đau đớn quay sang nói với bọn kinh sư, tay sai của quỷ rằng: “Nếu Ta nhờ Bengiêbút mà trừ quỷ thì bè phái các người nhờ ai mà trừ quỷ?  Bởi thế, chính họ sẽ xét xử các ngươi”.

Đồng thời Người cũng cho họ thấy rõ sự thật hiển nhiên là: “Ta đã nhờ Thiên Chúa mà trừ quỷ thì quả là nước Thiên Chúa đã đến trên các ngươi” (Mt. 12, 27-28).

Nói đến đây, đáng lẽ ra các kinh sư là những người thông Kinh thánh, họ phải nhớ ra việc Elia xưa đã nhờ Thiên Chúa mà trừ diệt những kẻ dựa vào quỷ Bengiêbút thời vua Akhap và Ôkhôgia vua Israen. Ôkhôgia khi bị đau liệt, ông đã sai sứ giả đi cầu khẩn Bengiêbút.  Thiên Chúa đã thúc giục tiên tri Elia đi đón sứ giả và nói: Ở Israel không có Thiên Chúa sao mà các ngươi lại đi cầu khẩn Bengiêbút?  Cho nên Thiên Chúa phán thế này: Ngươi sẽ chết trên giường ngươi nằm.  Ôkhôgia cố chấp không nghe lời cảnh cáo của Elia, còn sai quan quân tất cả hai lần trăm người đến bắt Elia.  Elia đã nói: Nếu ta là người của Thiên Chúa, thì lửa hãy từ trời xuống thiêu đốt các ngươi đi.  Và lửa từ trời đã thiêu đốt sạch bọn chúng, và cả nhà vua cũng chết, trừ đoàn sứ giả thứ ba biết khấn xin người của Thiên Chúa thì được sống (2V. 1, 2-17).

Những hạng người cầu khẩn tà thần ma quỷ, những người khăng khăng cố chấp những tà thuyết mù quáng, những hạng người ác ý thay trắng ra đen, xuyên tạc công việc của Thiên Chúa sang công việc của quỷ thần, những hạng người đó đã xúc phạm đến Chúa Thánh Thần, chúng chẳng bao giờ được tha thứ, chúng lì lợm đến diệt vong.

Chỉ có những người ngay lành thiện chí như dân chúng, biết nhận ra lẽ phải, biết lắng nghe lời Thiên Chúa, biết đón nhận những việc lành phúc đức, mới thực sự “là mẹ, và anh em của Đức Giêsu”.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết siêng năng chạy đến xum họp chung quanh bàn tiệc thánh Lời và Mình Máu Thánh Chúa, như đám đông dân chúng xưa kia đã ngồi vây quanh Người để lắng nghe.  Xin cho chúng con nhận biết và thực thi thánh ý Thiên Chúa để được vinh phúc trở nên là mẹ và anh em với Người.  Người hằng sống và hiển trị cùng Chúa Cha và Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.

Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm (trích trong “Xây Nhà Trên Đá”)

MỪNG RỠ VÁC LÊN VAI

Dụ ngôn về con chiên bị lạc mất được đọc trong lễ Thánh Tâm.  Đức Giêsu nói dụ ngôn đơn sơ này vì thấy những người Pharisêu và các kinh sư khó chịu khi Ngài đón tiếp các tội nhân và hồn nhiên ăn uống với họ.  Ngài không xa lánh họ vì họ dám đến gần Người để nghe (Lc 15, 1-2).

Từ nơi Đức Giêsu toát ra một sự hấp dẫn những ai bị xã hội loại trừ.  Họ biết mình được Ngài yêu thương đón nhận.  Họ biết mình có chỗ trong trái tim nhân hậu của Ngài.  Dụ ngôn con chiên bị mất là dụ ngôn về một trái tim.  Trái tim nhói đau của người có đàn chiên một trăm con, và mất một.  Anh không coi nhẹ sự mất mát này, vì anh quý từng con chiên.  Con chiên bị lạc mất làm anh nặng lòng, không yên, dù một con trong đàn chiên trăm con có thể chẳng là gì cả.

Trái tim nhói đau cũng là trái tim tìm kiếm.  Để tìm kiếm, anh phải để lại chín mươi chín con kia trong hoang địa.  Có thể anh phải gửi đàn chiên mình cho người bạn chăn nuôi.  Lòng của anh bây giờ tập trung hoàn toàn vào con chiên lạc mất, đến độ có vẻ như anh bỏ rơi những con còn  lại.  Ta chẳng rõ anh đi tìm ở những nơi nào và bao lâu.  Hẳn anh đã đến mọi nơi mà con chiên này có thể ẩn nấp.  Điều chắc chắn là anh đã muốn tìm nó cho kỳ được (c. 4).  Anh không muốn bỏ dở nửa chừng cuộc tìm kiếm vất vả này.

Trái tim âu lo tìm kiếm cũng là trái tim nhảy mừng khi tìm thấy.  Thấy bóng dáng con chiên lạc từ một hố sâu, hay nghe tiếng kêu quen thuộc của nó từ bụi rậm, điều đó làm anh quên hết mọi nhọc nhằn. Niềm vui rộn lên trong lòng anh.  Cách anh biểu hiện niềm vui là vác con chiên tìm thấy trên vai, và để nó ngang đầu mình, mặt mình.  Có thể anh không muốn dắt nó đi vì anh sợ nó mệt, thay vì anh không muốn mất nó một lần nữa.

Trái tim nhảy mừng cũng là trái tim muốn chia sẻ niềm vui.  Khi về nhà, anh đã mời bạn bè, hàng xóm lại và nói với họ: “Hãy chung vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên bị mất” (c. 6).  Niềm vui lớn quá nên không thể giữ riêng trong lòng mình được.  Niềm vui đòi nói ra, đòi chia sẻ để được nhân lên.  Trái tim của Đức Giêsu là trái tim của người chăn chiên, buồn khi mất chiên, vất vả đi tìm và nhảy mừng khi tìm thấy.  Khi ngồi ăn với những tội nhân trên đường hoán cải, Đức Giêsu nếm trải niềm vui tột độ của người tìm được chiên.  Tiếc thay những người Pharisêu không muốn chung vui với Ngài.  Họ không hiểu được niềm vui của cả thiên đàng khi một tội nhân hoán cải.  Đơn giản vì Thiên Chúa quý từng người và không muốn mất một ai.  Chỉ mong mỗi linh mục có trái tim của Giêsu, người mục tử nhân hậu.

************************

Lạy Chúa,

Xin cho con quả tim của Chúa
Xin cho con đừng khép lại trên chính mình, 

nhưng xin cho quả tim con quảng đại như Chúa 
vươn lên cao, vượt mọi tình cảm tầm thường 
để mặc lấy tâm tình bao dung tha thứ. 
Xin cho con vượt qua mọi hờn oán nhỏ nhen, 
mọi trả thù ti tiện.

Xin cho con cứ luôn bình an, trong sáng, 
không một biến cố nào làm xáo trộn, 
không một đam mê nào khuấy động hồn con.

Xin cho con đừng quá vui khi thành công, 
cũng đừng quá bối rối khi gặp lời chỉ trích. 
Xin cho quả tim con đủ lớn 
để yêu người con không ưa. 
Xin cho vòng tay con luôn rộng mở 
để có thể ôm cả những người thù ghét con.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu

TÌNH CHÚA (có Youtube)

Vào tháng 12 năm 1987 một cơn động đất lớn đã xảy ra ở xứ Armênia thuộc Liên Xô cũ giết chết hằng ngàn người.  Trong số những người bị chôn dưới đống gạch vụn có 2 mẹ con bà Suzanna.  Mẹ con may mắn nằm lọt vào trong một khoảng trống nhỏ.  Tất cả lương thực họ có chỉ là một hũ mứt nhỏ.  Nhưng chẳng bao lâu hũ mứt cũng hết sạch.  Lúc đó đứa con 4 tuổi kêu lên: “Mẹ ơi con khát quá.”  Bà Suzanna không biết tìm đâu ra nước cho con.  Nhưng tình máu mủ đã gợi cho bà một sáng kiến táo bạo: bà dùng một miếng kính vỡ cắt đầu ngón tay mình cho máu chảy ra và đưa vào miệng đứa con cho nó mút.  Một lúc sau nó lại kêu khát, bà lại cắt một đầu ngón tay nữa.  Cứ như thế cho đến khi người ta cứu 2 mẹ con ra.  Sau khi ra ngoài, bà mẹ cho biết rằng: “Lúc đó tôi biết thế nào tôi cũng chết.  Nhưng tôi muốn con tôi sống”

Câu chuyện trên thật cảm động.  Nhưng vẫn không cảm động bằng việc Đức Giêsu tự hiến dâng thịt máu mình cho chúng ta.  Bà Suzanna đã lấy máu của mình nuôi con khi bà biết rằng chắc chắn bà sẽ chết.  Thay vì chết cách vô ích.  Bà đã hy sinh dòng máu của mình để cho đứa con được sống.  Đó là sự hy sinh trong một tình thế bó buộc.  Còn Đức Giêsu thì không có gì bắt buộc cả: Ngài đến trần gian để chết cho loài người.  Càng ngày Ngài càng tiến gần đến cái chết.  Tuy nhiên bất cứ lúc nào Ngài cũng có thể thoát khỏi cái chết ấy.  Dù vậy Ngài vẫn cương quyết đi đến cái chết và cương quyết lấy thịt máu mình làm lương thực nuôi sống loài người chúng ta.  Thật đúng là: “Không có tình yêu nào cao trọng cho bằng tình của người dám chết cho người mình yêu thương.”  Điểm thứ hai khác biệt giữa bà Suzanna với Đức Giêsu là: việc bà Suzanna hy sinh máu mình cho đứa con chỉ xảy ra một lần; còn việc Đức Giêsu ban thịt máu Ngài cho chúng ta xảy ra hằng ngày, như lời Ngài đã truyền dạy “Chúng con hãy làm việc này để nhớ đến Ta.”  Mỗi lần Giáo hội dâng Thánh lễ là mỗi lần việc hy sinh của Đức Giêsu được lập lại, lập lại không chỉ như một tưởng niệm mà lập lại với tất cả hiệu quả có nó.  Hiệu quả ấy là như lời Đức Giêsu đã nói: “Ai ăn Thịt Ta và uống máu Ta thì sẽ được sống muôn đời.”

Một điều đáng buồn là lòng chúng ta đã thành chai đá trước tấm lòng của Chúa mà lẽ ra phải khiến chúng ta hết sức cảm động.  Ngày nay ở phương Tây, số giáo dân Pháp, chỉ còn có 10% giáo dân dự lễ Chúa Nhật.  Còn bên Việt Nam chúng ta, số người bỏ lễ Chúa Nhật cũng càng ngày càng nhiều.  Trong số những kẻ còn đi lễ thì nhiều người đứng ngoài nhà thờ, vừa dự lễ vừa trò chuyện và hút thuốc.  Hình như rất nhiều người đi lễ chỉ vì sợ phạm tội trọng.

Khi Nữ Tu Têrêxa Calcutta sang Liên Xô xin mở trụ sở bác ái, Bà đã gặp các vị lãnh đạo chính quyền và đã được đồng ý nhanh chóng.  Tuy nhiên khi bà xin cho có Linh mục tại những trụ sở đó thì các vị ấy đã ngần ngại.  Lúc Mẹ Têrêxa giải thích: Nguồn sức mạnh của các Nữ Tu chúng tôi là do Mình Thánh Chúa.  Nhờ mỗi ngày được rước Mình Thánh Chúa nên các Nữ Tu chúng tôi có sức hy sinh quên mình để phục vụ những người nghèo khổ.  Do đó cần phải có Linh mục để mỗi ngày dâng Thánh Lễ và cho chúng tôi rước lễ.  Mẹ Têrêxa và các nữ tu của Bà là những người đã cảm nghiệm được Lời Chúa phán khi lập phép Mình Thánh Chúa “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì sẽ được sống muôn đời.”

Hôm nay lễ Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu.  Chúng ta ôn lại tình yêu bao la của Đức Giêsu khiến Ngài chịu chết vì chúng ta và trước khi chết đã ban Mình và Máu Ngài làm thương thực nuôi linh hồn chúng ta.

Nhưng chúng ta cũng nhận thấy sự giảm sút lòng sốt sắng của chúng ta đối với việc dự lễ và rước lễ.  Chúng ta thờ ơ với một thứ lương thực quý giá mà Chúa đã ban.  Chúng ta bỏ mất biết bao ơn ích do việc rước lễ mà nhiều người đạo đức rất quý chuộng.

Giờ đây chắc chúng ta biết mình phải làm gì:

– Trước hết, là những người làm cha mẹ, làm ông bà, chúng ta hãy nhắc nhở và khuyến khích con cháu mình thường xuyên tham dự Thánh Lễ và Rước lễ sốt sắng.

– Phần chúng ta, mỗi khi dự lễ và Rước Lễ, chúng ta hãy cố gắng sốt sắng.  Đừng làm một cách máy móc theo thói quen, nhưng hãy đặt hết tâm tình vào đó.

Để kết thúc, xin trích đọc sau đây tâm tình của một người đã biết cách dự lễ và rước lễ sốt sắng: “Mỗi Thánh Lễ, tôi lại cảm thấy có điều gì đó cần thống hối cách đặc biệt.  Mỗi Thánh Lễ, tôi lại thấy mình muốn đặt lên đĩa Thánh một chút cố gắng riêng tư, đau khổ, mơ ước, thao thức…  Tôi không đi dự Thánh Lễ với hai bàn tay trắng, nhưng với lễ vật là chính cuộc đời tôi.  Trong mỗi Thánh Lễ, Lời Chúa lại tác động đến tôi, những lời nói đã nghe nhiều lần tôi nhớ rằng Ngài đã trở nên tấm bánh bẻ ra cho tôi, và tôi cũng phải trở nên tấm bánh bẻ ra cho anh chị em tôi.”

Sưu tầm

************************

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
Chúa đến với chúng con
dưới dạng tấm bánh bình thường.
Tấm bánh chẳng nói gì, chỉ biết lặng lẽ chờ đợi.
Tấm bánh hiện diện là để phục vụ cho con người.
Tấm bánh quá đỗi mong manh, nhỏ bé,
có thể bị ẩm mốc làm hư hoại,
và tan rất mau sau khi được nhận lãnh.

 Lạy Chúa Giêsu, có cái gì tương tự 
giữa phận làm người và phận làm bánh của Chúa. 
Xin cho chúng con biết cách 
đến với con người hôm nay : 
đơn sơ, khiêm hạ, 
không chút vinh quang hay quyền lực. 
Nhờ ăn tấm bánh của Chúa, 
chúng con cũng trở nên tấm bánh ngon, 
được bẻ ra để đáp ứng khẩu vị của nhiều người.

 Ước gì chúng con dám rước Chúa
đi vào mọi vùng mờ tối của lòng mình,
để sự hiện diện của Chúa trong con được lớn lên.
Và ước gì chúng con trở thành
những Nhà tạm di động,
đem Chúa đến cho đồng bào
và quê hương chúng con.  Amen. 

Rabbouni

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

THÁNH THỂ VÀ THÁNH GIÁ (có Youtube)

  1. Đất, nước, đá

Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã dùng đất nắn nên hình hài (St 2,7).  Từ đó Tổ Tông loài người mang tên Đất (St 4,25;5,1-3).  Ađam, tiếng Do thái nghĩa là đất.

Để cứu Dân Ngài thoát khỏi nô lệ Aicập, vượt qua Biển Đỏ khô chân, lập giao ước Sinai với dân, Thiên Chúa đã dùng Môsê.  Môsê, tiếng Do Thái nghĩa là nước (Xh 2,10).

Khi xây dựng Giáo Hội, Thiên Chúa lại dùng một con người đánh cá tầm thường, khi thì hùng hổ tuốt gươm bảo vệ Thầy Giêsu (Lc 22,50), khi thì sợ hãi chối quanh trước một đầy tớ gái (Lc 22,56-57).  Người ấy Chúa Giêsu đặt tên là Đá (Mt 16,18).  Kêpha, tiếng Do Thái nghĩa là đá.

Như vậy, lịch sử sáng tạo, lịch sử cứu độ của Thiên Chúa quyện đan với những cái tên tầm thường: Đất, Nước, Đá.

Người Việt Nam chúng ta cũng dùng những tiếng tầm thường ấy để nói lên Một Điều Linh Thiêng.  Linh thiêng đến độ bao anh hùng liệt nữ đã hy sinh mạng sống mình cho điều linh thiêng đó: Đất Nước Việt Nam. (x. Chút mắm muối cho bữa cơm hàng ngày, trang 252).

  1. Bánh và rượu

Chúa Giêsu đã dùng bánh rượu làm nên Mình và Máu Thánh của Người.  Bông lúa và trái nho là những sản phẩm thông thường và cần thiết nhất mà ruộng đất cống hiến cho con người.  Bánh và rượu có thể tầm thường nhưng lại là những gì gần gũi và cần thiết nhất cho cuộc sống hàng ngày của con người.  Chính Chúa Kitô đã muốn trở nên gần gũi và cần thiết đó.  Người muốn bánh và rượu trở nên Thịt Máu Người để nuôi sống chúng ta hàng ngày.

Tình yêu Chúa Kitô làm nên sáng kiến tuyệt vời.  Vì yêu thương hết mọi người, Chúa đã muốn trở nên bé nhỏ tầm thường trong thân phận một người thợ mộc ở Nazareth để có thể ở giữa mọi người, từ kẻ hèn cho đến người sang trọng, từ người thánh thiện cho đến kẻ tội lỗi, từ người Do thái cũng như dân ngoại.  Để trở thành của ăn nuôi mọi người, Chúa đã muốn trở thành tấm bánh ly rượu.  Chỉ khiêm tốn và giản dị thế thôi để mọi người có thể ăn, chứ không phải là một bữa ăn đắt giá dành cho bậc quyền quý sang giàu.

Khi sinh ra đời, Chúa đã chọn cái chuồng bò.  Khi sống ở Nazareth Chúa đã muốn làm một người thợ giữa những người lao động khác.  Khi bắt đầu rao giảng tin mừng, Chúa đã chọn những người tầm thường trong xã hội làm bạn đồng hành, làm bạn tâm phúc thừa kế sự nghiệp.  Trong giờ sau hết, Chúa đã chọn tấm bánh ly rượu, chọn khung cảnh một bàn ăn giữa bạn bè, chọn một tư gia để Tạ Ơn, trong đó người vừa là chủ tế vừa là của lễ.  Và Chúa muốn Giáo Hội tiếp tục lễ Tạ Ơn theo cách thức của Người bằng những phương tiện đơn sơ là tấm bánh ly rượu.

Chỉ cần một bông lúa, một chùm nho đủ làm nên tấm bánh ly rượu.  Không cần cái gì cao sang đắt giá, to lớn như con bò, con bê, con cừu mà đạo Do thái vẫn tế lễ trong đền thờ.  Với tấm bánh ly rượu, Chúa Giêsu còn muốn cho của lễ Tạ Ơn phải chính là sản phẩm hoa màu ruộng đất, lao công con người, của ăn thức uống căn bản và phổ biến nhất của con người.

Chúa Giêsu là bông lúa, là chùm nho mọc lên từ ruộng đất thế gian, nơi Người nhập thể làm người.  Người đã biến đổi trong thân thể Người là Con Thiên Chúa và cũng là con loài người tất cả tinh hoa của ruộng đất, trở thành bông lúa chùm nho.  Từ bông lúa bị nghiền nát; từ chùm nho bị ép.  Nghĩa là từ cuộc khổ nạn và cái chết trên thập giá, Chúa Giêsu đã trở thành tấm bánh, thành ly rượu đem lại sự sống đời đời cho nhân loại.  Chối từ cám dỗ của Satan hoá đá thành bánh, nhưng Chúa Giêsu đã tự ý biến đổi đời mình thánh Tấm Bánh để nuôi dưỡng con người.

“Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống.”  Chắc hẳn không ai hiểu câu nói này theo kiểu các yêu tinh muốn ăn thịt Đường Tăng, trong truyện Tôn Ngộ Không.  Yêu tinh quyết tâm bắt cho được Đường Tam Tạng để ăn thịt.  Nó tin rằng ăn thịt vị cao tăng này thì sẽ được trường sinh bất tử.  Tôi nghĩ rằng giả như có ai giết Chúa Giêsu để ăn thịt Người (theo kiểu các yêu tinh ăn thịt Đường Tăng) thì người ấy vẫn chết như thường, và về mặt tâm linh thì cũng chẳng được ích lợi gì.  Vì câu nói “Thịt Tôi thật là của ăn, và máu Tôi thật là của uống” của Chúa Giêsu không thể hiểu theo nghĩa vật chất.  “Thịt và Máu” ở đây không phải là thịt và máu huyết vật chất.  “Của ăn và của uống” ở đây cũng không phải là của ăn và của uống vật chất.  Những từ đó phải hiểu theo nghĩa tâm linh.  Chúa Giêsu chính là lương thực đem lại sự sống và sự phát triển tâm linh thật sự.

  1. Từ Thánh Giá đến Thánh Thể

Cuộc tử nạn của Chúa Giêsu chính là một hy lễ dâng lên Thiên Chúa Cha.  Trong hy lễ này, Người vừa là tư tế vừa là lễ vật.  Trên Thập giá, Chúa Giêsu đã đổ máu ra.  Bằng cái chết cứu độ, Người đã thiết lập giao ước mới.  Tự nguyện làm “Con Chiên Vượt Qua” bị sát tế, Chúa Giêsu đã lập phép Thánh Thể để lễ vật bị sát tế ấy là chính Người trở nên của ăn tâm linh nuôi dưỡng con người.

Chúa Giêsu ở giữa nhân loại trong Bí tích Thánh Thể.  Để trở nên nguồn sống tâm linh trong Thánh Thể, Chúa Giêsu đã đi qua Tử nạn và Thập giá.

Thánh Thể là Mình Chúa hy sinh bị nộp, bị giết vì chúng ta: “Đây là Mình Thầy hy sinh vì anh em.” Chén Máu của Chúa là Máu giao ước đổ ra, Máu của Đấng Cứu thế bị giết chết trên thập giá.  Bởi đó Thánh Thể và Thánh Giá là hai mầu nhiệm của một tình yêu tự hiến của Chúa Kitô.  Không có Thánh giá, Thánh thể không có ý nghĩa.  Không có Thánh thể, Thánh giá chỉ là thất bại.

Thánh thể và Thánh giá Chúa Kitô là hai cớ vấp phạm cho trí tuệ con người suốt hơn 20 thế kỷ qua. Thánh Giá Đức Kitô là sự điên rồ đối với người Hy Lạp đi tìm sự khôn ngoan, là dại dột đối với người Do Thái tìm dấu lạ và mãi mãi là mầu nhiệm thẳm sâu với lý trí.

Thánh Thể, bánh rượu nên Mình và Máu Chúa Kitô.  Sự hiện diện đích thực của Con Thiên Chúa, làm lương thực vĩnh cửu thì càng lại là mầu nhiệm khó hiểu đối với đầu óc con người không có niềm tin.  Khi nghe lời tuyên bố của Chúa Giêsu: “Thịt Ta là của ăn, Máu Ta là của uống cho sự sống muôn đời.” Người Do thái đã phản ứng rất mạnh: “Làm sao ông có thể lấy thịt máu của ông cho chúng tôi ăn được?” (Ga 6,52); “Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao?  Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống?” (Ga 6,42).  Trước phản ứng dữ dội của họ, Chúa Giêsu không rút lời, không cải chính, nhưng còn giải thích và khẳng định thêm “Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại ngày sau hết” (Ga 6,54); sâu xa hơn là con người được đi vào sự kết hiệp mật thiết với Người: “Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi thì ở lại trong Tôi và Tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6,56).  Trước mạc khải này, nhiều môn đệ liền nói: “Lời này chướng tai qua, ai mà nghe nổi?” (Ga 6,60).  Từ lúc đó, “Nhiều môn đệ rút lui, không còn đi với Người nữa” (Ga 6,66).

Như thế, người ta chỉ nhìn nhận Chúa Giêsu về phương diện con người, phủ nhận bản tính Thiên Chúa của Người.  Chúa Giêsu cho dân chúng và các môn đệ thấy rõ mầu nhiệm Phục sinh trong Bánh Hằng Sống “Lời Thầy nói với anh em là Thần khí và là sự sống.  Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt có ích gì” (Ga 6,63).  Quả thật, chúng ta chỉ có thể hiểu được Bí tích Thánh Thể qua mầu nhiệm Nhập Thể, Tử Nạn, Phục Sinh mà thôi.

Vậy có thể nói, cả mầu nhiệm Đức Kitô đều hội tụ trong Bí tích Thánh Thể.  Từ công cuộc nhập thể làm người, rao giảng tin mừng, đến khổ hình thập giá, sống lại vinh quang; Đức Kitô đang ngự bên hữu Chúa Cha và ban lương thực thần thiêng đều hàm chứa trong Bí tích Thánh Thể.  Bí tích Thánh Thể gói trọn cuộc đời Chúa Kitô và không có gì thuộc về Người mà không hội tụ trong Bí Tích Thánh Thể.

Từ Thánh Giá đến Thánh Thể là hành trình của con đường tình yêu tự hiến.  Thánh lễ là cử hành hy tế cứu độ của Chúa Giêsu từ mầu nhiệm Thánh Giá đến tình yêu Thánh Thể.  Hiểu như thế để khi dâng Thánh Lễ hay chầu Mình Thánh Chúa, chúng ta tham dự tích cực linh động với tất cả trí lòng tin yêu.  Khi tham dự Thánh lễ, chúng ta hãy đem theo hy lễ đời mình để kết hiệp với Hy lễ của Chúa Kitô.  Khi rước lễ là chúng ta gặp gỡ Đấng hy sinh chịu chết, là kết hợp với Đấng đã yêu đến cùng.  Chúng ta được mời gọi sống như Chúa Giêsu, biết bẻ ra, chia sẻ, phục vụ và hiến trao.

Đất nước đá cũng như bánh và rượu là những thực tại tầm thường trong cuộc sống, nhưng một khi đã gắn với lịch sử cứu độ là nó trở nên những điều kỳ diệu.

Cuộc sống chúng ta với Thiên Chúa cũng thế.  Sống đời sống thiêng liêng, siêu nhiên một cách tự nhiên.  Sống đời sống tự nhiên một cách thiêng liêng, siêu nhiên.

Lạy Chúa Giêsu, con cám ơn Chúa đã cho con hàng ngày được ăn một miếng Bánh đơn sơ, nhỏ bé để con được kết hợp mật thiết với Thiên Chúa Vô Cùng.  Xin cho cho tâm hồn con luôn kết hợp với Chúa, để được Chúa dẫn vào cuộc sống muôn đời.  Amen!

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

BÀI HỌC VỀ TÌNH MẸ

Lễ Đức Mẹ Thăm Viếng là ngày đưa chúng ta vào tình yêu sâu thẳm của Chúa Giêsu và Đức Mẹ.  Qua cuộc thăm viếng này, các bà mẹ có thể tận hưởng niềm vui sâu xa của ơn gọi làm mẹ, niềm vui của việc chăm sóc lẫn nhau trên hành trình này.  Sau khi được truyền tin và xin vâng theo kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, Đức Mẹ đã vội vã đi thăm người chị họ Êlisabét.

Trình thuật Lc 1,39-45 cho biết: Hồi ấy, bà Maria vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa.  Bà vào nhà ông Dacaria và chào hỏi bà Êlisabét.  Bà Êlisabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy tràn Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc.  Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?  Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng.  Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.”

Có nhiều điều thu được từ đoạn văn hay này.  Đó là sự đến với nhau của hai người phụ nữ, được liên kết bằng niềm vui và lời hứa cứu độ.  Hai người phụ nữ cùng chia sẻ tặng phẩm là thiên chức làm mẹ.  Một người mang thai một người sẽ mở đường cho Đấng Cứu Thế, một người mang thai một người là Đấng xóa tội trần gian và là Êva Mới.  Hai phụ nữ đón tiếp nhau với tư cách là thân nhân, với mối quan hệ thâm sâu.  Cuộc gặp gỡ của họ mời gọi chúng ta đến gần Thiên Chúa không chỉ bằng tặng phẩm là sự công bố của họ, mà còn bằng tình yêu thương dành cho nhau.  Tính chất phụ nữ và làm mẹ của họ là tấm gương sáng cho mọi người, cách riêng các bà mẹ có thể học hỏi nhiều hơn qua cuộc thăm viếng này.

Mẹ Maria vội vã lên đường

Đức Mẹ là người lặng thầm trong Kinh Thánh, nhưng Đức Mẹ chứng tỏ là một phụ nữ thể hiện sứ vụ và mục đích: Đức Mẹ vội vã lên đường.  Đức Mẹ biết sự cấp bách đối với công việc của Thiên Chúa trên thế gian này.  Sau khi chấp nhận lời mời gọi của Thiên Chúa là làm Mẹ của Đấng Cứu Thế, Đức Mẹ mau mắn đi thăm chị Êlisabét.  Mẫu gương của Đức Mẹ là mẫu gương quan trọng đối với những người mẹ.  Xung quanh chúng ta có nhiều thứ cần chú ý.  Con cái và người chồng luôn cần chúng ta quan tâm.  Thi thoảng chúng ta có thể xao lãng và có thể gây “tổn hại” cho gia đình.  Chúng ta phải nhận biết khi nào cần vội vã.

Đức Mẹ nhắc chúng ta rằng công việc của người mẹ là “việc thánh.”  Nuôi dạy con cái là để dẫn đưa chúng về trời, công việc căng thẳng lắm.  Vội vã theo nghĩa ở đây là sự bận rộn.  Rất thường xuyên theo văn hóa Tây phương, chúng ta kết hợp sự bận rộn với sự thánh thiện hoặc sự quan trọng.  Chạy từ sự kiện này tới sự kiện khác không là cách vội vã được đề cập ở đây.  Đó là hấp tấp, ôm đồm.  Vội vã muốn nói ở đây là hướng tới chồng con với lòng yêu thương, quan tâm chăm sóc chồng con, và cho họ những thứ họ cần.  Đó là cách chọn lựa hiện diện giữa họ và nhiệt tâm sống theo ơn gọi của mình.  Điều đó không có nghĩa là chúng ta không cảm thấy mệt mỏi, mà là lý do chúng ta cần cầu nguyện và thường xuyên lãnh nhận các bí tích để duy trì sự cân bằng trong đời sống tâm linh.

Các bà mẹ được mời gọi chăm sóc nhau

Nhiều khi người mẹ có vẻ là cuộc đấu tranh đơn độc.  Đó là thực tế rất nhiều người mẹ duy trì theo loại văn hóa mà chúng ta tách khỏi người khác.  Đó là điều rất thật đối với những người mẹ chỉ ở nhà nội trợ, nhưng có thể họ vật lộn với công việc nhiều lần trong sự đơn độc như thế.  Người mẹ này cần người mẹ khác.  Phụ nữ là những thụ tạo xã hội.  Chúng ta cần thảo luận về những gì đang diễn tiến trong cuộc sống và với con cái.  Chúng ta cần những người mẹ khác cho chúng ta biết rằng cách cư xử riêng là điều bình thường.

Trong sự cô lập của chúng ta, chúng ta có thể bắt đầu cảm thấy mất trí nhớ hoặc con cái trở nên xa lạ.  Thực tế con cái có thể khá xa lạ, đó là một trong các lý do mà việc làm mẹ như vậy là sự mạo hiểm vừa vui vẻ, vừa tiêu khiển, vừa mệt mỏi.  Là những người mẹ, chúng ta không cạnh tranh với nhau.  Chúng ta hân hoan kết hiệp với Nhiệm Thể Đức Kitô và sống liên đới với nhau.  Sự cô độc mà chúng ta cảm thấy là vì nhu cầu này không được thỏa mãn trong xã hội vội vã, cá nhân, và biệt lập.  Nhưng bạn không đơn độc một mình đâu!

Vào ngày lễ Đức Mẹ Thăm Viếng, rõ ràng Đức Maria và Thánh Êlisabét tìm thấy sự bình an, niềm vui, và sự thoải mái khi gặp nhau.  Họ liên kết với nhau bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần.  Chúng ta cũng được kết hiệp nhờ Chúa Thánh Thần.  Những người mẹ cần chia sẻ với nhau về niềm vui, nỗi buồn, sự đấu tranh, đau khổ, thành công và thất bại.  Chúng ta cần cùng nhau đồng hành trên con đường thánh thiện này.  Chúng ta không thể chỉ đạt được sự thánh thiện.

Về phương diện bản thể học (ontology), con người là các thụ tạo xã hội.  Nhờ tặng phẩm của việc Con Thiên Chúa nhập thể, chúng ta được liên kết với nhau trong tình đoàn kết sâu sắc với Đức Kitô và với nhau.  Chúng ta cũng được tạo nên để cùng bước đi với nhau.  Tình bạn và gia đình là những tặng phẩm quý giá.  Đã đến lúc chúng ta bắt đầu cùng nhau ca tụng ơn gọi làm mẹ để chúng ta có thể sống trong niềm vui của Đức Kitô, Đấng liên kết chúng ta.

Mẹ Maria đến với mỗi người chúng ta

Đức Mẹ đến thăm chị họ Êlisabét, Đức Mẹ cũng đến thăm mỗi chúng ta.  Đức Mẹ là Mẹ của chúng ta và yêu thương chúng ta bằng tất cả Thiên Tình Mẫu Tử.  Lễ Đức Mẹ Thăm Viếng nhắc nhở chúng ta phải có thói quen cầu xin Đức Mẹ nâng đỡ.  Việc làm mẹ đòi hỏi tình nhân ái, sự kiên nhẫn, sức chịu đựng, sự thận trọng, sự khôn ngoan, và mọi đức tính khác.

Việc làm mẹ “cắt tỉa” chúng ta với các mức độ mạnh mẽ nhất.  Chúng ta sở hữu tính vị kỷ bởi vì sự sa ngã của Nguyên Tổ luôn “giằng xé” chúng ta vì chồng con.  Đây là một quá trình lành thánh, nhưng đôi khi cũng là một quá trình khiến ta cảm thấy bị ám ảnh và quá sức.  Đức Mẹ là sự hướng dẫn cho những người mẹ.  Đức Mẹ không bỏ mặc chúng ta hoặc làm cho chúng ta thất vọng.  Đức Mẹ luôn dẫn chúng ta đến với Con Yêu Dấu của Đức Mẹ, nâng đỡ chúng ta trên con đường nên thánh.  Hãy cầu xin và tin tưởng vào cách hướng dẫn đầy yêu thương và khôn ngoan của Đức Mẹ.

Lễ Đức Mẹ Thăm Viếng là cơ hội tuyệt vời để chúng ta tìm hiểu và đào sâu ơn gọi làm vợ và làm mẹ.  Đó là con đường Thiên Chúa ban cho chúng ta để làm cho chúng ta vâng theo Thánh Ý Ngài.  Đức Mẹ dạy chúng ta cách hành động vội vã trong cuộc sống hằng ngày, nhờ đó chúng ta có thể ưu tiên những điều hướng dẫn gia đình và đưa chúng ta tới cuộc sống thánh thiện hơn.

Đức Maria và Thánh Êlisabét cho chúng ta biết sức mạnh của việc giao tiếp qua Chúa Thánh Thần, và cho chúng ta biết rằng chúng ta là những người giao tiếp với nhau.  Chúng ta không là những ốc đảo, không đơn độc nuôi dưỡng các thánh, mà chúng ta cùng nhau tiến về Quê Hương Thiên Đàng.

Kính mừng Mẹ Maria đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Mẹ… Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.

Constance T. Hull,
bản dịch của TRẦM THIÊN THU, từ CatholicExchange.com

BỨC TRANH MIÊU TẢ MẦU NHIỆM CHÚA BA NGÔI CỦA CHÍNH THỐNG GIÁO NGA (có Youtube)

“Đó là điều vô lý nhất và không thích hợp khi miêu tả Chúa Cha với hình tượng người đàn ông có bộ râu màu xám, và Người con duy nhất của Ngài có hình ảnh chim bồ câu ở giữa, bởi vì không ai đã nhìn thấy Chúa Cha vì thiên tính của Ngài, và Chúa Cha không có xương có thịt […] và Chúa Thánh Thần bản chất không phải là chim bồ câu, nhưng bản chất là Thiên Chúa.”  (Đại Thượng Hội Đồng Moscow, 1667)

Đối với Giáo Hội Chính Thống Nga, việc miêu tả Thiên Chúa Ba Ngôi trong nghệ thuật là một vấn đề gây tranh cãi trong hàng ngàn năm qua.  Mặc dù Công Đồng Nicaea năm 787 cho phép các họa sĩ vẽ về Thiên Chúa, tuy nhiên Giáo Hội Chính Thống Nga vẫn không hài lòng với những bức họa phổ biến về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.

Họ cảm thấy hình tượng người đàn ông với bộ râu màu xám và chim bồ câu (thường được dùng để mô tả Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong hội họa) không thể xứng với mầu nhiệm khôn thấu về Thiên Chúa Ba Ngôi.  Thay vì sử dụng những hình ảnh phổ biến này, họ đã chọn bức tranh (icon) Chúa Ba Ngôi của Andrei Rublew như cách diễn tả thích hợp về Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Rất khó để những người bên ngoài Chính thống giáo hiểu được những bức tranh icon của Chính Thống Giáo Nga, và với cái nhìn đầu tiên, bức tranh có vẻ không diễn tả hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi.  Bối cảnh trung tâm của bức ảnh xuất phát từ sách Sáng Thế, khi ông Abraham tiếp đón ba vị khách lạ vào lều của mình, “Và Đức Chúa hiện ra với Abraham tại cụm sồi Mamre … Ông ngước mắt lên và … kìa, ba người đàn ông đứng gần ông.  Vừa thấy, ông liền từ cửa lều chạy ra đón khách, sụp xuống đất và nói … [Ông Abraham] đã lấy [bánh, sữa chua, sữa tươi, và thịt bê đã làm] mà đãi khách; và ông đứng hầu dưới gốc cây trong khi họ dùng bữa” (Sáng thế ký 18: 1-8).

Bức ảnh của Rublev miêu tả cảnh tượng trên với hình ảnh ba thiên thần, có giáng vẻ giống nhau, ngồi quanh một chiếc bàn.  Phía sau là ngôi nhà của Abraham và một cây sồi phía sau ba vị khách.  Trong khi bức ảnh này mô tả một sự kiện trong Cựu Ước, thì Rublev đã sử dụng đoạn Kinh Thánh này để phác họa hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi, phù hợp với các nguyên tắc nghiêm ngặt của Giáo Hội Chính Thống Nga.

Các biểu tượng của hình ảnh phức tạp và có ý nghĩa tổng quát niềm tin thần học của Giáo Hội trong Thiên Chúa Ba Ngôi.  Trước hết, ba thiên thần giống hệt nhau về hình dạng tương ứng với tín điều Ba Ngôi tuy riêng biệt, nhưng cùng một bản thể duy nhất.  Tuy nhiên, mỗi thiên thần trong bức tranh mặc một trang phục khác nhau, diễn tả sự riêng biệt của mỗi ngôi vị.  Trên thực tế, việc Rublev mô tả Thiên Chúa Ba Ngôi trong hình ảnh thiên thần cũng là một lời nhắc nhở về bản tính của Thiên Chúa, Đấng là thần linh thuần túy.

Các thiên thần được sắp xếp từ trái sang phải theo thứ tự như khi chúng ta tuyên xưng đức tin trong Kinh Tin Kính: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Thiên thần đầu tiên mặc áo màu xanh, tượng trưng cho bản tính thần linh của Thiên Chúa và áo choàng màu tím, chỉ vương quyền của Chúa Cha.

Thiên thần thứ hai và là vị quen thuộc nhất, là người mặc quần loại đặc trưng của Chúa Giêsu trong truyền thống icon.  Màu đỏ tượng trưng cho nhân tính của Chúa Kitô, trong khi màu xanh là biểu hiện thiên tính của Người.  Cây sồi phía sau nhắc nhở chúng ta về cây sự sống trong Vườn Eden cũng như thập giá mà trên đó Chúa Kitô đã cứu thế giới khỏi tội lỗi của Adam.

Thiên thần thứ ba mặc một chiếc áo màu xanh (thiên tính), và áo choàng xanh lá cây.  Màu xanh lá chỉ trái đất và nhiệm vụ đổi mới địa cầu của Chúa Thánh Thần.  Xanh lá cũng là màu phụng vụ trong lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, theo truyền thống Chính Thống Giáo và Byzantine.  Hai thiên thần bên phải bức tranh đầu hơi cúi, diễn tả một thực tế là Chúa Con và Chúa Thánh Thần xuất phát từ Chúa Cha.

Trung tâm của bức tranh là chiếc bàn, tượng trưng cho một bàn thờ.  Đặt trên bàn là một chiếc bát hoặc chén bằng vàng, có chứa thịt bê mà Abraham đã chuẩn bị cho khách.  Thiên thần ở giữa có lẽ đang làm phép bữa ăn.  Tổng hợp các điều đó nhắc nhở chúng ta về bí tích Thánh Thể.

Tuy bức tranh không minh họa trực tiếp mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, nhưng đây là một trong những bức tranh uyên thâm nhất từng được vẽ.  Truyền thống Chính Thống Giáo và Byzantine vẫn dùng nó như cách miêu tả chính về Thiên Chúa Ba Ngôi.  Bức tranh thậm chí được đánh giá cao trong Giáo hội Công giáo La Mã, và thường xuyên được các giáo lý viên sử dụng để dạy người khác về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi.

Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm, và sẽ luôn là như vậy khi chúng ta đang còn hiện diện trên trái đất.  Tuy nhiên, đôi khi chúng ta thấy được cái nhìn thoáng qua về sự sống thần linh của Thiên Chúa, và bức tranh của Rublev đã giúp chúng ta có được giây phút ngắn ngủi để nhìn vào phía sau bức màn mầu nhiệm.

Cát Trắng
The Russian Icon that Reveals the Mystery of the Trinity

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

MẦU NHIỆM TÌNH YÊU

Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi chính là mầu nhiệm tình yêu thương.

Từ đời đời, Chúa Cha yêu Chúa Con.  Tình yêu ấy lớn lao đến nỗi Chúa Cha đã sinh ra Chúa Con giống hệt như mình.  Con là hình ảnh hoàn hảo, nguyên tuyền của Cha.  Con là chính Cha, nên Đức Giêsu nói: “Ai thấy Thầy là thấy Cha” (Ga 14,9).  Cha có gì thì ban tất cả cho Con.  Nên sau này Đức Giêsu đã nói: “Tất cả những gì của Cha đều là của Con” (Ga 16,15).  Tình Cha yêu Con thật lớn lao, kỳ diệu.  Tình Con đáp lại tình Cha cũng nồng nàn tha thiết không kém.  Những gì Con nhận được do tình yêu của Cha thì Con dâng lại cho Cha tất cả.  Đức Giêsu vì yêu mến Chúa Cha, nên đã vui lòng xuống thế làm người để cứu chuộc nhân loại.  Trọn cuộc đời, Người luôn tìm thánh ý Chúa Cha để thi hành.  Người luôn tâm niệm: “Lương thực của Thầy là làm theo ý Đấng sai Thầy” (Ga 4,34).  Người từ bỏ hết ý riêng mình để chỉ làm theo ý Chúa Cha.  Người nên một với Đức Chúa Cha trong tâm tình, trong tư tưởng, trong hành động.  “Cha ở trong Con và Con ở trong Cha” (Ga 14,10).  Trong giờ hấp hối, dù sợ hãi cái chết đến độ mồ hôi máu tuôn ra, nhưng Đức Giêsu vẫn luôn vâng theo ý Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu có thể được, thì xin cho Con khỏi uống chén này.  Xin đừng theo ý Con, nhưng theo ý Cha mà thôi” (Mt 26,39).  Thánh Phaolô đã tóm tắt về cuộc đời Người: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.  Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Phil 2,6-8).  Tất cả thái độ vâng phục nói lên sự dâng hiến trọn vẹn cho Chúa Cha.  Tình yêu nối kết Chúa Cha và Chúa Con là Chúa Thánh Thần.

Ba Ngôi là lò lửa tình yêu lúc nào cũng ngùn ngụt cháy.  Ba Ngôi là nguồn mạch tình yêu không bao giờ vơi cạn.  Cuộc trao đổi cho đi và nhận lãnh làm cho tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa ngày càng sung mãn dồi dào.  Tất cả mọi tình yêu đều bắt nguồn từ Chúa Ba Ngôi.  Tất cả mọi tình yêu muốn trung thực và bền vững đều phải học theo khuôn mẫu tình yêu Chúa Ba Ngôi.  Hạnh phúc là ta được tham dự vào bầu khí yêu đương của Chúa Ba Ngôi.  Hạnh phúc sẽ đến khi mọi người biết yêu thương nhau trong tình yêu của Chúa Ba Ngôi.

Hôm nay, khi truyền cho ta đi rửa tội cho mọi người nhân danh Chúa Ba Ngôi, Đức Giêsu muốn ta đem tình yêu rửa sạch những oán ghét hận thù đang tàn phá thế giới.  Người mong ta đem ngọn lửa tình yêu thắp sáng những góc tối tăm chiến tranh, chia rẽ.  Người mong ta đem mưa tình yêu tưới gội những vùng đất khô cằn vì thiếu vắng tình thương tha thứ.  Người muốn cho tình yêu lên ngôi ngự trị trong hết mọi tâm hồn.

Phần ta, những môn đệ của Chúa, mỗi khi ta làm dấu Thánh giá nhân danh Chúa Ba Ngôi, ta hãy xin Ba Ngôi Thiên Chúa in tình yêu thánh thiện của Người vào tâm hồn ta.  Xin cho ta được tham dự vào tình yêu vô cùng sung mãn của Người.  Xin cho ta trở nên một đốm lửa trong lò lửa yêu thương của Người.  Được cháy trong lò lửa tình yêu Chúa Ba Ngôi, ta sẽ trở nên giống như Người, luôn biết cho đi, luôn biết dâng hiến, luôn mưu tìm hạnh phúc cho tha nhân.

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

************************

Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi nhuận,
Xin dạy con biết phục vụ âm thầm.
Giữa một thế giới say mê thống trị và chiếm đoạt,
Xin dạy con biết yêu thương tự hiến.
Giữa một thế giới đầy phe phái chia rẽ,
Xin dạy con biết cộng tác và đồng trách nhiệm.
Giữa một thế giới đầy hàng rào kỳ thị,
Xin dạy con biết coi mọi người như anh em.

Lạy Chúa Ba Ngôi,
Ngài là mẫu mực của tình yêu tinh ròng,
Xin cho các kitô hữu chúng con
Trở thành tình yêu cho trái tim khô cằn của thế giới.
Xin dạy chúng con
Biết yêu như Ngài,
Biết sống nhờ và sống cho tha nhân,
Biết quảng đại cho đi
Và khiêm nhường nhận lãnh.

Lạy ba ngôi chí thánh,
Xin cho chúng con tin vào sự hiện diện của Chúa
ở sâu thẳm lòng chúng con,
và trong lòng từng con người bé nhỏ.

Nguyễn Cao Siêu, S.J.