SỐNG TRONG MỐI HẬN CỦA CHÍNH MÌNH

Cách đây vài năm, William Young viết một cuốn tiểu thuyết vừa thu hút người đọc, vừa là đề tài bàn cãi kịch liệt.  Quyển “The Shack” (Căn lều) kể câu chuyện một người đàn ông có đứa con gái nhỏ bị bắt cóc và rồi bị giết hại dã man.  Người cha, vật lộn với nỗi phẫn uất cay đắng, nhận được một mẩu nhắn bí ẩn mời ông đi một mình tới căn lều nơi con gái ông từng bị sát hại.  Nghĩ rằng sẽ gặp tên sát nhân ở đó, ông chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu khốc liệt.  Nhưng tại căn lều, ông lại gặp Chúa.

Những gì diễn ra sau đó là sự khắc họa về Chúa Ba Ngôi một cách hết sức ấm áp và phong phú về mặt thần học.  Nhưng Chúa cởi mở tuyệt vời, ấm áp, đầy che chở, nâng niu, thứ tha hết thảy mà nhân vật của William Young gặp có một điều kiện duy nhất, đầy khó khăn và không lay chuyển để được lên thiên đàng: người cha phải tha thứ, không chỉ kẻ đã giết hại con mình, mà là tất cả mọi người, tuyệt đối tất cả không chừa một ai, nếu ông muốn cuối cùng gia nhập cộng đoàn những người được ban ân phước.  Ông có thể lên thiên đàng, nhưng nếu ông tiếp tục mang mối hận trong lòng, ông sẽ không lên được.

Dù các phê bình gán cho ông những khiếm khuyết về mặt huấn đức gì đi nữa, ông vẫn hoàn toàn đúng, và đang mạnh mẽ thách thức khi đưa ra quan điểm căn bản này – xả bỏ hiềm hận và cay đắng là điều kiện không lay chuyển để lên thiên đàng.  Thật sự, tôi tin chắc rằng trong đời chúng ta sẽ tới một lúc nào đó chúng ta chỉ cần giữ lại ba từ trong vốn từ vựng tâm hồn của mình: Tha thứ, tha thứ, tha thứ.  Morris West, trong một tự truyện ngắn viết nhân kỷ niệm ngày sinh thứ 75 của mình, đã khẳng định điều này một cách rõ ràng. Ông nói, khi bước tới tuổi 75, bạn chỉ nên giữ lại một cụm từ trong toàn bộ vốn từ của mình mà thôi: Cảm ơn!  Tha thứ.

Lòng biết ơn là điều trái ngược với hiềm hận và chúng ta có quá ít lòng biết ơn trong đời sống của mình.  Thông thường chúng ta hay hiềm hận hơn là biết ơn.  Hơn nữa, thậm chí khi chấp nhận hiềm hận, chúng ta lại có xu hướng hợp lý hóa nó bằng một tín điều hay một nguyên cớ nào đó: “Tôi hận, nhưng mà có lý do!  Giận của tôi là giận chính đáng, giống như Chúa Giê-su khi Người lật đổ bàn của những buôn bán tiền trong đền thờ!” “Dĩ nhiên tôi giận, nhưng tại sao tôi lại không giận khi cứ phải nhìn những kẻ bảo thủ đã bóp nghẹt tinh thần cởi mở của các thế hệ vừa qua, rồi khăng khăng giữ thái độ thiếu khoan dung trong giáo hội lẫn cả trong đất nước này, họ lại càng không biết đến người nghèo!” “Dĩ nhiên tôi giận, nhưng tại sao tôi lại không giận khi nhìn những kẻ theo chủ nghĩa tự do đang làm những gì với giáo hội và với đất nước này! Cứ nhìn nạn nạo phá thai và hôn nhân đồng tính mà coi!”

Chúng ta cần phải thận trọng khi tự đánh bóng mình lên như vậy: Khác với Chúa Giê-su khi khóc cho thành Giê-ru-sa-lem, nước mắt của chúng ta thường không phải là nước mắt ấm áp của tình thương yêu và đau buồn trước tình trạng chia cắt và hiểu lầm.  Nước mắt của chúng ta, nếu thật sự chúng ta có khóc, thường là nước mắt lạnh lẽo của niềm cay đắng và hiềm hận vì cảm thấy bị đối xử không đúng, hay vì cảm thấy phải sống trong giáo hội và xã hội của mình với những người chúng ta coi là xấu bụng, lười biếng, ti tiện, hay đơn giản là dốt nát.  Đúng hơn, chúng ta giống như người anh của đứa con hoang đàng, người anh hầu như chỉ làm những điều đúng đắn, thể hiện ra ngoài là trung thành với các nghĩa vụ tôn giáo và luân lý của mình, nhưng bị trói chặt bởi niềm cay đắng và nỗi hiềm hận tận trong sâu thẳm đã khiến cho chúng ta khó có thể, hay thậm chí không thể vui sống, xả bỏ, thứ tha.

Quá ít người trong chúng ta thừa nhận mình mang nhiều nỗi hiềm hận trong lòng, rằng có những góc tâm hồn mình đầy cay đắng và phẫn uất, và rằng vẫn có những con người, những sự việc, sự kiện trong đời mà chúng ta chưa hề tha thứ được.

Do vậy, để ngụy trang nỗi hiềm hận của mình, chúng ta muốn tạo dáng vẻ hào hiệp và lòng tốt rồi phô ra ngoài.  Chúng ta có khuynh hướng phô ra với gia đình và bạn bè là chúng ta dễ thương đến độ không tiếc lời khen ngợi một ai đó, và sau đó, gần như trong cùng một câu, chúng ta thóa mạ ai đó, phỉ báng họ, nói xấu ác hoặc châm biếm một ai đó.  Khuynh hướng phân chia người khác ra thành “thiên thần” hay “quỷ dữ” chắc chắn là dấu hiệu của nỗi hiềm hận trong lòng.  Chúng ta ra vẻ tán dương người nào đó (một việc phô diễn nhằm bày ra cho mọi người thấy chúng ta là người rất dễ thương, hơn là nhằm nêu bật đức hạnh của người kia), và sau đó cay đắng oán thán người này người kia tệ bạc, rằng sao mà chúng ta bao giờ cũng bị dây với những kẻ ngu dốt.  Tán dương hay oán than đều chứng tỏ cùng một điều – chúng ta đang sống trong nỗi hiềm hận.

Lòng trung thực và khiêm tốn rốt cuộc sẽ phải đưa chúng ta đến chỗ thừa nhận điều này.  Tất cả chúng ta đều mang những nỗi hiềm hận nào đó; chúng ta không được tự lừa dối mình về điều này.  Chúng ta cần can đảm và trung thực để đối diện với sự thật đó.

Có lẽ chúng ta có thể rút ra được một bài học từ những nhóm như Hội những người nghiện rượu ẩn danh (Alcoholics Anonymous) và giới thiệu mình với nhau, hay với cha giải tội theo cách như sau:

“Tôi tên là Ron, tôi là một người hiềm hận.  Tôi hợp lý hóa việc này bằng cách tự nói với mình và người khác rằng nỗi hiềm hận của tôi là có lý, rằng tôi cũng như Chúa Giê-su, đá tung những cái bàn của những buôn bán tiền để làm  sạch nhà Chúa.  Nhưng tôi dần dần nhận ra rằng nghĩ như vậy là tự huyễn, đó đơn thuần chỉ là một cách hợp lý hóa các thương tổn của tôi.  Càng già, tôi càng nhận ra tôi giống người anh trai của đứa con hoang đàng; tôi đang đứng bên ngoài vòng tay ấm áp, vòng tay cộng đoàn.  Nhưng, đáng mừng là giờ đây tôi đang hồi phục.”

Rev. Ron Rolheiser, OMI

QUÊ NHÀ BẠC BẼO

Đức Giêsu trở về thăm quê nhà.  Ngày Sabbat, ngày lễ nghỉ hàng tuần, dân làng đến hội đường nghe đọc sách thánh và hát thánh ca từ 9 giờ đến 12 giờ trưa.  Đức Giêsu và các môn đệ cùng tiến vào hội đường cầu nguyện.  Đọc sách luật và thánh vịnh xong, Đức Giêsu đăng đàn giảng thuyết như một giáo dân tham dự vào chức tư tế.  Vẻ uy nghi trang trọng của Người khác thường.  Gương mặt Người luôn tỏa ra nét dịu hiền, mến yêu, đầy thiện cảm.  Giọng điệu tự nhiên của Người càng hấp dẫn dân chúng hơn.  Ý tứ Người trình bày đơn sơ trong sáng hợp với tâm trí mọi người.  Họ cảm thấy thấm thía sự kỳ diệu của nước Thiên Chúa, của lòng nhân ái Chúa Cha trên trời, của tình yêu.  Ngài đòi hỏi mọi người phải sống thương yêu nhau như anh em ruột thịt.  Họ ngạc nhiên thì thầm với nhau: “Bởi đâu ông ta được như thế?  Sao ông ta được khôn ngoan như vậy?  Ông ta làm được nhiều phép lạ như thế nghĩa là gì?”

Họ chẳng biết sự khôn ngoan và quyền phép của Đức Giêsu bởi đâu?  Họ tìm về nguồn gốc chỉ thấy “Mẹ ông là bà Maria, anh em họ hàng là Giacôbê, Giosê, Giuđa và Simon.”  Tất cả bà con lối xóm đều coi ông như bạn bè từ gần 30 năm nay ở Nagiarét này, một thôn ấp nhỏ bé chỉ có độ 150 gia đình nghèo nàn, tối tăm, mấy ai quan tâm đâu.  Ông lại là anh thợ mộc, con nhà lao động, làm thuê làm mướn, lang thang từ nhà này sang nhà khác, đóng bàn sửa ghế, ráp giường ghép tủ, đục đẽo cầy bừa, thành phần địa vị thấp kém trong xã hội.  Có bao giờ thấy ông nói năng, làm được gì hay lạ đâu?  Ông bỏ quê nhà đi lang thang mấy tháng, nay trở về, sao thay đổi chóng thế!

Ở Việt Nam, hồi năm 1945-1950, cũng có những ông canh điền, đầy tớ, mõ làng đi vắng hai ba tuần, trở về diễn thuyết rất hùng hồn.  Bởi đâu các ông đã ăn nói thao thao bất tuyệt như vậy?  Sau này, người ta mới biết các ông được đi huấn luyện học thuộc lòng mấy bài để về ra mắt dân làng, hô hào đấu tranh chống thực dân Pháp, chống bù nhìn Bảo Đại trói gà không nổi.

Còn Đức Giêsu, ai đã huấn luyện Ngài?  Ai đã ban quyền phép làm những việc kỳ diệu như thế?  Thân nhân bảo Ngài mất trí, kinh sư chụp mũ Ngài nhờ tướng quỷ mà trừ quỷ.  Dân chúng chỉ biết ngạc nhiên: chưa từng thấy ai ăn nói, hành động có uy quyền lạ lùng như vậy.  Môn đệ đi theo sát Ngài cũng chỉ biết hỏi: Ngài là ai mà bão biển phải tuân lệnh.  Chẳng thấy ai huấn luyện Ngài, chẳng thấy Ngài học tập kinh sư nào.  Chỉ thấy Ngài vào nơi thanh vắng, ngửa mặt lên trời cầu nguyện.  Trong âm thầm Ngài cầu nguyện cùng Chúa Cha trên trời.  Đó chính là bí quyết làm cho Ngài khôn ngoan và đầy quyền phép để trừ hàng ngàn quỷ dữ, chữa hàng trăm bệnh nhân mà loài người phải bó tay, cho kẻ chết sống lại, bắt cuồng phong lặng yên.

Dân làng biết Ngài khôn ngoan.  Kinh sư thấy Ngài trừ quỷ.  Môn đệ được Ngài cứu khỏi chết giữa biển cuồng phong.  Nhưng họ chẳng biết Ngài là con một Thiên Chúa, chẳng biết Ngài là Ngôi Hai Thiên Chúa, vì thương yêu loài người, đã xuống thế làm người sống với họ như anh em, như bạn bè, để cứu họ khỏi chết đời đời.

Còn Ngài, Ngài âm thầm, kiên nhẫn, nhỏ nhẹ nói với họ bằng câu ngạn ngữ: “Không ai là tiên tri cho xứ sở mình” vì “Gần chùa gọi bụt bằng anh.”

Họ chỉ biết nhìn Ngài theo lối nhìn bên ngoài đầy thành kiến, chẳng thấy được những điều sâu lắng bên trong, những cái tinh thần cao thượng, những mầu nhiệm thiêng liêng chân thật.

Chính những điều xâu xa bí ẩn mới làm ích rất lớn cho con người.  Chính những chất mầu mỡ nằm ẩn trong đất mới làm cho cây trái, hoa mầu trổ sinh tươi tốt, đâm chồi nẩy lộc, nuôi sống muôn người, muôn vật.  Chính những kho tàng nằm sâu trong lòng đất, như mỏ dầu, mỏ vàng, mỏ bạc, đồng, sắt, kim cương, đá quý mới là nguồn tài nguyên phong phú giúp phát triển nền văn minh nhân loại.  Chính những tài năng thượng đẳng, thiêng liêng trong con người như: tinh thần tự do, trí khôn sáng suốt, ý chí mạnh mẽ, tình cảm nhân từ mới có sức thăng tiến con người hơn chân tay, mắt mũi.  Thế nhưng loài người vẫn thích thờ bò vàng óng ánh hơn thờ Thiên Chúa siêu việt.  Lòng nghĩ “cái nết đánh chết cái đẹp”, mắt vẫn liếc lia lịa người đẹp hơn chiêm ngắm tượng Chúa trên thập giá.

Khi Đức Hồng Y Roncalli được bầu làm Giáo hoàng Gioan 23, một Giám mục khóc cho Giáo hội sắp đến ngày tàn.  Giáo Hội không còn ai lên lãnh đạo, phải bầu một ông già 77 tuổi về hưu lên đỡ vậy.  Nhưng chỉ vài ngày sau, báo chí đã đưa những tin giật gân về ông già hồn nhiên, vui vẻ, đang lo canh tân ngôi giáo triều cổ kính, bệ vệ và chẳng bao lâu Chúa Thánh Thần đã soi sáng cho Ngài tuyên bố họp Công Đồng Vatican 2, thực hiện cuộc canh tân vĩ đại cho Giáo Hội và cả thế giới.

Lạy Chúa Giêsu, xin mở con mắt đức tin cho mọi người được thấy những sự khôn ngoan, quyền phép lạ lùng của Thiên Chúa đang âm thầm hoạt động trong Giáo Hội, trong thế giới và cả trong vũ trụ, mà con mắt phàm trần không thể thấy được, để họ biết ca ngợi Chúa muôn đời.

Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm – Trích trong “Xây Nhà Trên Đá”

LÀM SAO BẠN CÓ THỂ NÓI KHÔNG VỚI THIÊN CHÚA?

Thiên Chúa giúp tôi bỏ hẳn tật nghiện trò chơi điện tử! (Tác giả: Wesley Falcao)

Tôi sống ở Brooklyn, New York, vào năm 2014, khi những giờ khắc ban đêm của tôi bị chiếm ngự bởi một trò chơi điện tử đang thu hút rất nhiều người chơi.

Trò chơi Counter-Strike (tấn công và trả đũa): Global Offensive (cuộc công kích toàn cầu) là một trò chơi hấp dẫn đầu tiên được gọi với biệt danh là CS: GO.  Tôi đã vướng vào nó suốt những năm sau thời cao đẳng, khi Hunter, một người bạn của tôi ở Boston, đã mời tôi chơi từ xa với anh ta và vài người bạn ở California.  Bí danh CS: GO được sử dụng thay cho tên thật.

Bởi vì sự khác biệt về thời gian của chúng tôi, phần chơi bắt đầu lúc 11 giờ đêm, khi tôi lên giường.  Không lâu sau đó, những giờ chơi kéo dài bắt đầu phá giờ ngủ, giờ cầu nguyện buổi sáng của tôi, và ngay cả việc tham dự Thánh lễ vào những ngày Chúa Nhật.  Khi tôi đi đến nhà thờ, sự trống rỗng và vô ích của thói quen chơi game của tôi càng tăng lên.

Ngay khi tiếp tục chơi, chắc chắn những đoạn văn trong Thánh Kinh sẽ đưa vào tâm trí tôi, một đoạn đặc biệt mà tôi vẫn nghe: Ông Cô-he-lét nói: “Phù vân, quả là phù vân.  Phù vân, quả là phù vân.  Tất cả chỉ là phù vân” (Gv1, 2).  Tôi biết chơi game đã chiếm nhiều thời gian của tôi, hơn cả Chúa.  Thế nhưng, trò chơi làm tôi cảm thấy luôn thành công và không thể bỏ được.

Cho tôi thêm một tháng nữa.  Vấn đề là tôi đã ở trong tầm với của bảng xếp hạng Master Guardian Elite – một huy hiệu danh dự trong số những người bạn cùng chơi CS: GO của tôi.  Xếp hạng Counter strike dựa trên sự kết hợp của kỹ năng và thành tích.  Mức này sẽ tăng lên khi người chơi dành nhiều thời gian để chơi game.  Nếu trò chơi tạm ngưng trong một tháng, anh ta phải dành thời gian lấy lại danh hiệu của mình.  Điều này trở trở thành niềm khích lệ cho anh vượt qua nhiều trò chơi, để nâng cao kỹ năng và cấp bậc của mình.  Đây là lý do tại sao tôi không muốn dừng trò chơi, mặc dù lương tâm luôn cắn rứt tôi.

Đến tháng 9 năm 2014, tôi đã chơi game này trong vòng năm tháng.  Tôi biết nó đã gây rối cuộc sống của tôi, nhưng mỗi lần tôi nghĩ đến việc từ bỏ, tôi sẽ đến gần với bảng xếp hạng Elite và quyết tâm lại.  Vào ngày cuối tháng, đó là thời điểm tĩnh tâm của những người Công giáo mà tôi đã tham dự vài năm liên tiếp.  Khi tôi rời khỏi trung tâm tĩnh tâm, tôi đã nói với Chúa: “Hãy cho con một tháng nữa để đạt được bậc Thầy Guardian Elite.  Sau đó, con sẽ trở lại với Chúa.”  Sự quyến rũ của trò chơi đã làm chấn động tôi, nên tôi không có ý chí để thay đổi.

Vạch ra con đường.”  Vào buổi tĩnh tâm, tôi được xếp vào một nhóm thảo luận với tên “Q.”  Một người bạn trong nhóm của tôi hỏi tôi những gì đang xảy ra trong cuộc đời tôi.  Đột nhiên, tôi nói với anh ấy rằng tôi đã chơi rất nhiều CS: GO.  Tôi đã đề cập đến việc lương tâm của tôi bị thúc đẩy đi đến việc từ bỏ.  Tôi vẫn tiếp tục giữ im lặng về sự thật là càng chơi nhiều, tôi càng trở nên cáu gắt và ích kỷ.  Tôi không nói về việc chơi game đã phá rối chương trình làm việc của tôi, và tách rời tôi ngày càng cô lập hơn với những người Công giáo ở cùng độ tuổi của tôi, những người đã có một ảnh hưởng tích cực trong cuộc đời tôi.

Trong suốt bữa tối, một người khác đã hỏi tôi về buổi thảo luận nhóm của tôi.  Tôi đã nói với anh “Q”, điều này đã nhắc nhở anh về một tác giả của cuốn sách Giảng viên: Qoheleth.  Anh ta cười đáp lại “Nhóm Q về Qoheleth!”  “Phù vân chỉ là phù vân, tất cả là phù vân.”  Tất cả mọi người và cả tôi đã cười một nụ cười giễu cợt.  Tôi đã được đụng chạm rằng Chúa sẽ cám ơn tôi và trái tim tôi sẽ được mở ra nhiều hơn.

“Hãy bước vào con đường và vác Thánh Giá” Thiên Chúa đã nói với tôi trong tĩnh lặng.  “Hãy rời khỏi mọi điều đang nắm giữ con – bất kỳ tội lỗi nào, bất kỳ ràng buộc nào – và ăn năn hối lỗi.”  Đó là thời điểm quyết định đối với tôi.  Tôi đã ngồi xuống với một quyển Kinh Thánh và bắt đầu đổ tràn những suy nghĩ của tôi với Chúa.

Nói vâng với Thiên Chúa.  Lạy Chúa, Chúa biết con thích game này biết chừng nào.  Con đã nói với Chúa rằng con sẽ từ bỏ nếu con không hoàn thành thứ hạng Elite vào cuối tháng 10.  Nhưng con biết đó sẽ là một việc làm vô nghĩa nếu con lại mất thêm một tháng để theo đuổi điều đó.  Hơn nữa, con còn không biết sau tất cả những điều đó, con có thể từ bỏ nó hay không.

Tôi cảm thấy thật nặng nề.  Tôi đã hy vọng Thiên Chúa sẽ không đòi tôi phải từ bỏ, nhưng Ngài đã làm điều đó.  Chúa biết rằng đó sẽ là nỗi đau đớn cho tôi khi phải từ bỏ, nhưng điều đó sẽ đau đớn hơn nếu tôi vẫn tiếp tục nói vâng với tất cả những gì đang làm phá vỡ mối tương quan của tôi với Chúa.  Thay vào đó, bây giờ, Chúa đang ban cho tôi một cơ hội để làm mới lời thưa vâng của tôi đối với Ngài.  Trong cuốn Thánh Kinh của tôi, tôi đã đọc một đoạn từ thư Thánh Phaolo: “Bring to completion this act of grace (Hãy hoàn thành hành động ân sủng này)” (2 Cr 8,6).  Sau đó tôi nhớ lại một video tôi đã xem trên Youtube, của một người nào đó đã trải nghiệm về sự biến đổi, và đã gia nhập vào Đạo Công Giáo.  Người ấy nói rằng: “Làm sao khi nhìn vào Chúa Giêsu đang bị treo trên thập giá, đang đổ máu vì tội lỗi của tôi, mà tôi có thể nói không với Ngài?” Tôi đã nhắm mắt lại, và niềm khao khát cháy bỏng chơi CS:GO cuối cùng đã chấm dứt.  Lời cầu nguyện của tôi đã được biến đổi.

Lạy Chúa Giêsu, nếu Chúa cũng đang hỏi con về điều này, con sẽ nói vâng.  Chúa đã chết cho con, và Chúa không muốn bất cứ điều gì gây trở ngại cho mối quan hệ của con với Chúa.  Con xin đầu hàng.  Xin Chúa chấp nhận lễ hy sinh này của con.  Lạy Chúa, con yêu Chúa.

Một Người đói khát Thiên Chúa.  Đáp lại lời thúc đẩy (tiếng nói) của Chúa trong buổi tĩnh tâm, tôi đã nhận ra khả năng để từ bỏ việc chơi.  Thật là khó khăn để có thể từ bỏ chính mình khỏi đồng đội mà tôi đã trở thành những người bạn, nhưng Thần Khí đã ban cho tôi sức mạnh để chia sẻ với họ rằng Chúa đã nói với tôi từ bỏ game.  Một trong những người bạn của tôi đáp lại bằng nụ cười giễu cợt “Chúa đang nói với tôi là bạn nên tiếp tục chơi.”  Nhưng tôi biết trong thâm tâm rằng tôi cần giữ vững quyết định của mình.

Toàn bộ kinh nghiệm ấy đã dạy tôi rằng Thiên Chúa thực sự là một vị thần hay ghen tương, Ngài ghét nhìn thấy con cái mình sống với những niềm vui vô nghĩa (x. Xh, 20, 5).  Vào lần tĩnh tâm đó, tôi đã nhận ra rằng Chúa nhớ đến tôi trong suốt những đêm tôi bị thu hút vào cuộc chơi CS: GO.  Tôi nghĩ rằng đó là lý do tại sao Ngài cám ơn tôi vì tôi đã đến tham dự cuộc tĩnh tâm.

Tôi rất hạnh phúc được nói rằng những thao thức của tôi đã được thế chỗ bằng những nhận thức chắc chắn rằng Chúa yêu tôi.  Tôi cũng đã khám phá ra được những khao khát mới trong tâm hồn mình.  Thay vì khao khát tìm kiếm thành công trong những trò chơi, một lần nữa tôi lại dành nhiều thời gian ở với Chúa và đón nhận quà tặng bình an, niềm vui đầy ảnh hưởng của Chúa trong cuộc đời tôi.  Thật là một sự trao đổi tuyệt vời!

Wesley Falcao lives in South Orange, New Jersey.
Chuyển dịch: Nhóm Sr. Học viện Thánh Toma
Hội Dòng Đa Minh Tam Hiệp

LÝ DO ĐỂ TÔN SÙNG THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

Lòng sùng kính mà người Công giáo dành cho Thánh Tâm Chúa Giêsu là điều phù hợp vì vài lý do.

Thứ nhất, khi chúng ta tôn kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, chúng ta nhận ra sự viên mãn của nhân tính nơi Đức Kitô.  Nhưng chúng ta còn đang làm nhiều hơn vậy:  Đối với dân Israel xưa, trái tim được coi là trung tâm của con người.  Nơi Thánh Tâm Chúa Giêsu, chúng ta tập trung tầm nhìn vào Đức Kitô theo chiều sâu của chính Ngài.

Hai lý do khác là ngọn lửa luôn liên kết với trái tim, nhấn mạnh rằng sự hy sinh trên Thập Giá là tế vật linh thiêng, là lễ toàn thiêu, mặc dù không có lửa.  Và chính ngọn lửa luôn là biểu tượng của bản chất Thiên Chúa trong Cựu Ước.  Rất phù hợp khi trái tim, phần cốt lõi của con người, được liên kết với lửa thiêng nơi Thiên Chúa làm người.  Theo cách nào đó, ngọn lửa nơi Thánh Tâm lại trở thành biểu tượng cho cả nhân tính và thần tính của Đức Kitô – sự hy sinh và Thiên Chúa là Đấng thiêu đốt nó.

Tuy nhiên, có một lý do để sùng kính Thánh Tâm là phù hợp và có nguồn gốc từ Cựu Ước.  Cựu Ước có đoạn liên kết trái tim với Lời Chúa và lửa.

Thứ nhất, Tv 39:2-5 cho biết:

Tôi đã nói: “Mình phải giữ gìn trong nếp sống, để khi ăn nói khỏi lỗi lầm; tôi quyết sẽ ngậm tăm, bao lâu người gian ác còn đối mặt.”  Tôi câm lặng làm thinh chẳng hé môi, mà không ích lợi gì, nên cơn đau lại càng nhức nhối.  Nghe trong mình NUNG NẤU tự tâm can, càng nghĩ ngợi, LỬA CÀNG BỪNG CHÁY, miệng lưỡi tôi phải thốt nên lời: “Lạy Chúa, xin dạy cho con biết: đời sống con chung cuộc thế nào, ngày tháng con đếm được mấy mươi, để hiểu rằng kiếp phù du là thế!”

Trong đó, lòng khao khát Thiên Chúa giống như một loại lửa.  Phép ẩn dụ là một xu hướng, vì lửa biểu hiện Thiên Chúa – hãy nghĩ tới bụi cây cháy nói với Môsê, lửa thiêu trên Núi Sinai, và lửa nuốt lấy sự hy sinh của Ngôn sứ Êlia.

Lửa được đặt vào trái tim.  Trái tim của Thánh Vịnh gia “cháy âm ỉ.”  Ngôn sứ Giêrêmia cảm thấy như thể “lửa cháy trong lòng.”  Lòng ước muốn Thiên Chúa chiếm lấy chúng ta.  Điều đó không ở ngoại biên, cũng không là mong muốn lý trí hoặc niềm đam mê thoáng qua.

Thánh Vịnh gia và Ngôn sứ Giêrêmia đều cố gắng kiềm chế lửa, nhưng họ đều thất bại.  Ở đây, sự tương đương về lửa giúp giải thích lý do: Lửa không thể bị kiềm chế nhưng lan tỏa và bùng lên, do đó lòng ước muốn Thiên Chúa cũng chiếm lĩnh họ.  Điều đó cũng có trong cách đặc biệt nhất: Lửa phát ra bằng lời nói với Thiên Chúa.  Bởi vì những lời này cũng được ghi lại trong Kinh Thánh – Kinh Thánh là Lời Chúa.

Thánh Vịnh gia đã cố gắng “khóa” miệng mình.  Tiếng kêu thảm thiết của Thánh Vịnh gia đã chuyển thành lời cầu nguyện.  Ngôn sứ Giêrêmia cũng đã cố gắng lặp lại việc đề cập Thánh Danh Thiên Chúa.  Nhưng lửa trong tâm hồn ông khiến ông phải ca vang bài ngợi khen Thiên Chúa.  Trong cả hai trường hợp, lửa ước muốn Thiên Chúa phát ra thành lời cầu nguyện dâng lên Thiên Chúa.

Kinh nghiệm của Thánh Vịnh gia và Ngôn sứ Giêrêmia cho biết rằng tôn thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu là điều hoàn toàn hợp lý.  Đức Kitô là Con Người hoàn hảo, Ngài trải nghiệm ước muốn Thiên Chúa trọn vẹn và diễn tả điều đó hoàn hảo nhất.  Ngài cho chúng ta biết cách thắp lửa trái tim để lửa đó cháy bùng lên thành lời cầu nguyện tự hiến.

Đức Kitô không chỉ là mẫu mực mà còn là nguyên nhân.  Thánh Tâm Chúa Giêsu phải thắp lửa yêu mến Chúa trong tâm hồn chúng ta và bùng cháy thành lời cầu nguyện.

Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu bừng cháy lửa yêu dành cho chúng con, xin đốt lòng chúng con cháy lửa yêu mến Ngài!

Stephen Beale
Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
Tháng Sáu – 2018

CỘNG TÁC VỚI ƠN CHÚA

Chuyện kể rằng một bà già bị đau răng, bà đã làm Tuần chín ngày để kính thánh Antôn, vì người ta nói: Thánh Antôn “chuyên trách” về bệnh này.

Hết tuần chín ngày bà vẫn còn đau.  Lúc đó một vị linh mục đến thăm.  Bà liền hỏi:

– Xin cha nói cho con biết: có phải thánh Antôn chuyên trách bệnh đau răng không?

Vị linh mục nói:

– Bà hãy nghe tôi: Đây là địa chỉ của nha sĩ. Hãy đến đó và nói là tôi giới thiệu, họ sẽ làm không công cho bà.

Bà già la lên:

– Trời đất ơi, một ông linh mục vô thần.

Thánh Antôn tự nhủ:

– Kể ra cũng đau lòng, để nhận lời cầu nguyện của bà, chính ta đã gởi đến cho bà vị linh mục này. Thế mà…! 

************************

Nếu bà già trong câu chuyện suy niệm bài Tin Mừng hôm nay, chắc bà sẽ không làm cho thánh Antôn phải thất vọng.  Người phụ nữ xuất huyết trong bài Tin Mừng và bà già đau răng trong câu chuyện trên, cả hai đều tin tưởng vào Chúa.  Nhưng niềm tin của họ có sự khác biệt rất lớn.  Người phụ nữ xuất huyết nghĩ mình phải làm điều gì đó chứ không chỉ tin suông.  Bà đến với Chúa chứ không chờ Chúa đến với mình.  Bà già đau răng thì cầu nguyện rồi chờ phép lạ.  Bà không chịu làm gì nữa.

Ông Giairô cũng tin rằng Chúa có thể cứu sống con gái ông.  Ông làm hết sức mình.  Con gái ông hấp hối không thể đến với Chúa được, nên ông đã xin Chúa đến chữa cho con gái ông.

Cộng tác với ơn Chúa là điều kiện để Chúa ban ơn.  Chúng ta không thể chỉ thụ động chờ Chúa làm phép lạ, nhưng hãy sử dụng hết những phương tiện bình thường Chúa ban.  Phần còn lại tùy Chúa định liệu cho ta.  Thánh Ignatio de Loyola đã cho chúng ta lời khuyên bất hủ này: “Hãy làm như thể mọi việc tùy thuộc chúng ta, và hãy cầu nguyện như thể mọi việc tùy thuộc Thiên Chúa.”  Mc Kenzie nói: “Khi ta cố gắng làm những gì có thể, Thiên Chúa sẽ làm những điều ta không thể.”

Thiên Chúa ban cho chúng ta quyền tự do, Người không thể thúc ép, nhưng để chúng ta toàn quyền sử dụng tự do của mình.  Thiên Chúa không đối xử với chúng ta như những con bù nhìn, nhưng luôn coi trọng chúng ta như những cộng tác viên của Người.

Trong các phép lạ Chúa làm, Người đều cần sự cộng tác của con người.

– Trong tiệc cưới Cana, Chúa chỉ làm phép lạ khi người ta đã “múc nước đổ đầy các chum” (Ga 2,7).

– Trong phép lạ về bánh, Người chỉ làm cho bánh hóa nhiều khi “có 5 chiếc bánh và 2 con cá” (Mc 6,35-43).

– Khi chữa mắt cho người mù, Người chỉ thoa bùn vào mắt anh, còn phần anh phải đi rửa ở hồ Silôê mới được sáng mắt (Ga 9,1-40).

Thiên Chúa muốn chúng ta sử dụng hết các khả năng của mình, và Người sẵn sàng can thiệp khi cần. Ngạn ngữ Tây phương có câu: “Hãy tự giúp mình trước rồi Trời sẽ giúp sau.”

************************

Lạy Chúa, Chúa yêu thương chúng con với trái tim của người cha người mẹ, Chúa để chúng con hoàn toàn tự do đáp lại tình yêu Chúa.  Xin cho chúng con luôn biết sống ngoan ngoãn, thảo hiếu, đẹp lòng Chúa.  Xin dạy chúng con biết cộng tác với ơn Chúa, để được Chúa ban thêm ơn trợ giúp trong những cơn gian nan khốn khó.  Amen!

Thiên Phúc – Trích trong “Như Thầy Đã Yêu”

HAI CUỘC ĐỔI ĐỜI

Hôm nay chúng ta mừng kính thánh Phêrô và Phaolô tông đồ.  Các ngài là cột trụ của Hội Thánh.  Các ngài là những viên đá tảng, đá quý để xây dựng toà nhà Hội thánh vững chắc và toả rạng cho khắp năm châu.

Các ngài là cột trụ của niềm tin cho toàn thể Hội thánh.  Một niềm tin không gì có thể lay chuyển đến nỗi “ma quỷ cũng không thắng nổi.”  Một đức tin can trường đến nỗi dầu có chịu nhiều thiệt thòi, dầu có phải trải qua những gian truân cùng khốn: tù đầy, đói rét hay phải bôn ba rày đây mai đó, phải vượt qua biết bao phong ba bão tố, các ngài vẫn vui lòng chấp nhận vì được thông phần đau khổ với Thầy Giêsu.

Hai con người này tuy được sự giáo dục khác nhau, và hấp thụ hai nền văn hoá khác nhau, nhưng họ lại đi chung một đường, và cùng chung một lý tưởng.  Cuộc đời các ngài đều phải lội ngược dòng để làm lại cuộc đời, để thay đổi cách sống sao cho phù hợp với niềm tin của mình.

Thực vậy, nhìn vào đời sống hai trụ cột của Hội thánh, chúng ta thấy: một Phêrô đã từng sa ngã.  Ông đã từng can ngăn không muốn cho Chúa nộp mình chịu chết.  Ông đã đi đến tận tùng của sa ngã là hành vi chối Chúa đến ba lần trong cùng một đêm.  Một Phaolô đã hăng say lùng bắt các môn đệ của Chúa.  Chính ông đã đồng loã với những người quá khích ném đá vị tử đạo đầu tiên là Stephano.  Thế nhưng, ý Chúa nhiệm mầu.  Tình yêu của Chúa đã thắng vượt những yếu đuối của Phêrô và Phaolô.  Chúa đã dùng muôn nghìn cách để đổi đời các ngài.  Chúa đã tạo cho các ngài cơ hội để chuộc lại lỗi lầm.  Chúa đã nói cùng Phêrô: “một khi con trở lại hãy củng cố đức tin của anh em con.”

Theo Thánh Kinh kể lại: Sau khi chối Thầy lần thứ ba, từ trên pháp đình Chúa nhìn xuống Phêrô, Ngài biết hết!  Phêrô chột dạ.  Phêrô nhớ lại lời Thầy: “Nội trong đêm nay, trước khi gà gáy con đã chối Thầy ba lần.”  Tức thì, Phêrô lầm lũi ra khỏi pháp đình, nước mắt tuôn trào, tâm hồn nặng trĩu, một cái gì đó đã chết trong ông.  Vâng, đã chết rồi, niềm tự hào, tự tin quá mức.  Còn lời nào biện minh cho hành động hèn nhát của ông.  Còn đâu lời khẳng khái: “mọi người có bỏ Thầy, riêng con thì không bao giờ.”  Ông chỉ là cát bụi, ông biết mình chỉ là cát bụi, hèn yếu và rất dễ sa ngã.  Nhưng đêm hôm đó, một biến cố trọng đại đã “đổi mới” tâm hồn Phêrô.  Lòng ăn năn bộc phát và lòng khiêm nhường chân thành đã biến Phêrô thành người thuyền trưởng trên con tàu Giáo hội.

Còn Phaolô thì sao?  Sau khi ngã ngựa đau đớn bởi một luồng sáng chói loà.  Mắt ông không còn thấy gì nữa, ông như kẻ bị mù trong ba ngày.  Nhưng thật ra, tâm hồn ông lại sáng.  Ông đang thấy và thấy rất rõ.  Đó là Đức Giêsu, Người đã Sống lại thật, lên trời ngự bên hữu Chúa Cha.  Đó là sự thật mà ông phải chấp nhận.  Một sự thật mà từ nay ông phải làm chứng về những điều đã nghe, đã thấy, và đã biết.

Vâng, có thể nói, nhờ sự đổi mới cuộc đời của Phêrô và Phaolô mà cả thế giới được đổi mới.  Văn hoá Kitô giáo đã làm mới lại bộ mặt địa cầu.  Có thể nói ở đâu đó vẫn có những người chưa tin vào Chúa nhưng họ đã được thấm nhuần văn hoá Kitô giáo, vẫn còn có những người được đổi mới cuộc đời nhờ vào lời Chúa và sức mạnh của Tin Mừng.  Ở đâu đây vẫn còn những tâm hồn thất vọng, lầm than nhưng họ đã bừng lên niềm hy vọng nhờ những giá trị tin mừng mà Kitô giáo mang lại cho họ.

Mừng kính hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, mỗi người chúng ta được mời gọi tiếp nối truyền thống của các tông đồ mang Tin Mừng đến khắp cùng trái đất.  Mỗi người chúng ta cũng là những viên đá sống động, góp phần xây dựng toà nhà Hội thánh.  Dù nhỏ bé, yếu hèn và bất lực, nhưng Chúa sẽ dùng tuỳ theo nhu cầu của Ngài.  Chính Ngài sẽ đổi mới cuộc đời chúng ta bằng ân sủng và tình thương của Ngài, để nhờ đó chúng ta cũng có khả năng đổi mới môi trường chúng ta đang sống.  Đồng thời chúng ta hãy cầu nguyện nhiều hơn cho Đức Thánh Cha, cho các giám mục là những Đấng kế vị thánh Phêrô và các tông đồ.  Xin Chúa ban thêm sức mạnh, nghị lực và ơn khôn ngoan, để các ngài luôn là điểm tựa cho niềm tin của chúng ta. Amen!

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

LÀM SAO MÀ ANH EM VẪN CHƯA CÓ LÒNG TIN?

Lời Chúa trong đoạn Tin Mừng hôm nay thánh Maccô thuật lại một hành trình trên biển để “sang bờ bên kia” của Chúa Giêsu và các môn đệ.  Hành trình này được ví như hành trình đức tin của mỗi chúng ta.  Hành trình trên biển gặp sóng gió là chuyện không lạ lắm đối với những người thường xuyên đi biển và sống bằng nghề biển như các môn đệ.  Tuy nhiên, chiếc thuyền của Chúa Giêsu và các môn đệ hôm nay không gặp những con sóng ngọn gió hiền lành bình thường, mà là gặp “cuồng phong”… “sóng ập vào”… “thuyền đầy nước”… Các môn đệ lo lắng như “chết đến nơi rồi”, còn Chúa Giêsu thì “chẳng lo gì”…  Các môn đệ kêu cầu đến Chúa và Chúa đã ra tay uy quyền, Chúa mắng các môn đệ “làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?”

Chúng ta ngắm nhìn xem, tại sao Chúa Giêsu lại mắng các môn đệ chưa có lòng tin?

Qua trình thuật này chúng ta có thể hiểu rằng, giữa Chúa Giêsu và các môn đệ đã có một tương quan rất thân thiện với nhau rồi.  Cùng làm việc và cùng thi hành sứ vụ chung với nhau.  Tuy nhiên, chúng ta cũng dễ dàng cảm nghiệm rằng, dường như tương quan ấy chỉ mới có ở bề mặt bên ngoài, có nghĩa là các môn đệ mới chỉ gặp gỡ, gần gũi làm việc chung, mới tương quan trên bình diện công việc và cuộc sống, chứ các môn đệ chưa đi vào tương quan sâu sắc, chưa hiểu hết Chúa như thế nào, quyền năng của Ngài ra sao?

Chúa mắng các môn đệ “chưa có đức tin” quả thật là phải lẽ, vì hành trình của các ông đang có Chúa đó, nhưng các ông chẳng ý thức về sự hiện diện đồng hành của Ngài, các ông không nhận biết quyền năng của Chúa, các ông cũng chẳng trông cậy vào Ngài…  Sóng gió ập đến, các môn đệ mới sực nhớ đến Chúa, và rồi các ông vội trách Chúa “chẳng lo gì”.

Cuộc sống thường ngày của chúng ta dường như cũng thế, chúng ta ít khi ý thức sự hiện diện của Chúa, chúng ta thường đi với Chúa cách vô ý thức, coi như Chúa không biết gì, Chúa chẳng quan tâm.  Đến lúc nguy khó mới nhớ chạy đến Chúa và kêu la rối rít.  Thái độ sống này, chắc chắn sẽ bị Chúa mắng là “chưa có lòng tin.”  Tuy nhiên, một thái độ ngược lại cũng đáng quan tâm.  Cuộc sống đôi lúc chúng ta cũng rơi vào tâm trạng thất vọng nặng nề, chúng ta cũng chẳng còn nhớ đến Chúa, và quên rằng Ngài ở bên chúng ta và chờ chúng ta khiêm tốn lên tiếng kêu cầu Ngài.  Thái độ chỉ kêu đến Chúa khi gặp khó khăn, hoặc là thất vọng đến quên cả Chúa mà lầm lũi bước đi đó là thái độ “chưa có lòng tin.”

Thánh Maccô thuật tiếp, sau khi các môn đệ kêu đến Chúa, tin tưởng vào quyền năng của Chúa, Chúa bắt đầu ra tay.  Nhưng sau khi Chúa ra tay truyền sóng biển im lặng, thì các ông hoảng sợ và nói với nhau: “Vậy người này là ai…?”

Gặp sóng gió, các môn đệ hoảng sợ, không tin đủ vào Chúa.  Sau khi Chúa tỏ quyền năng thì các ông lại thắc mắc “Ngài là ai?”  Điều này chứng tỏ nền tảng đức tin của các môn đệ chưa vững chắc, đi bên Chúa, gặp gỡ Chúa nhưng không khao khát tìm biết Chúa là ai?  Lẽ ra các ông phải tìm hiểu về Chúa, biết Chúa là ai khi bắt đầu cất bước theo Ngài!  Còn nghi ngờ vào chính Thiên Chúa thì chắc chắn là chưa có lòng tin.  Tin Chúa là phải học cho biết Ngài là ai và đi vào trong tương quan sâu để cảm nghiệm Ngài như ta đã được học biết.  Tin vào Chúa là hiểu điều Chúa làm, mong điều Chúa muốn và phó thác cho Ngài cuộc sống của ta.

Sau phép lạ Chúa làm truyền sóng biển im lặng, chắc chắn các môn đệ phải tìm được câu trả lời Chúa là ai khi quan sát sự kiện và khi tương quan gần gũi song hành với Chúa.  Vậy mà không hiểu sao các ông lại còn hoảng sợ và thắc mắc “ông này là ai?”  Câu hỏi này chứng tỏ lòng tin của các ông chưa có và bị Chúa mắng thì cũng không oan uổng gì.

Bởi vì các môn đệ chưa có lòng tin, nên chưa ý thức sự hiện diện của Chúa.  Chưa có niềm tin nên còn nghi ngờ “ông này là ai?”  Chưa có lòng tin nên còn dành quyền điều khiển và kiểm soát hành trình.  Khi các môn đệ dành quyền kiểm soát và điều khiển hành trình đời mình, thì Chúa dành cho họ ưu tiên đó, Ngài nghỉ ngơi.  Giả như chúng ta tin tưởng trao phó cho Chúa để Ngài điều khiển và an tâm nghỉ ngơi, thì chính lúc ấy Chúa sẽ giang tay ra hành động, Ngài chở che, bao bọc và cứu giúp.

Thái độ của những người “chưa có lòng tin” là thái độ của những người ưa thích đảo lộn tình thế, đứng vào vị trí điều khiển của Chúa, quên đi vai trò lệ thuộc của chính bản thân mình.

Có lòng tin là ý thức Chúa hiện diện trong mọi nẻo hành trình; Có lòng tin là trả lời xác tín với mọi người về chính Chúa, bằng sự cảm nghiệm của chính cá nhân mình; Có lòng tin là để Chúa điều khiển và kiểm soát cuộc sống của mình; Có lòng tin là khiêm tốn kêu xin khi gặp gian nan khốn khó.

Giờ đây, chúng ta khiêm tốn dâng lên Chúa lời nguyện xin ơn đức tin:

Lạy Chúa Giêsu,

Chúng con cám ơn Chúa vẫn hiện diện trong cuộc sống chúng con.
Xin cho chúng con tin vào quyền năng Chúa vẫn hiển trị trong cuộc đời chúng con.
Lạy Chúa, cuộc sống quanh chúng con có biết bao điều xảy đến.
Tất cả đều nằm dưới bàn tay tình thương quan phòng của Chúa.
Xin Chúa giúp chúng con biết cùng với vạn vật dâng lời ca khen quyền năng Chúa.
Xin giúp chúng con biết đón nhận ân ban của Chúa trong sự khiêm tốn thẳm sâu.
Xin dạy chúng con biết chạy đến với Chúa khi gặp những gian nan thử thách,
Xin giúp chúng con biết bám vào Chúa để đi qua những giông bão trong cuộc đời.
Lạy Chúa, Chúa luôn nâng đỡ những ai kêu cầu Chúa.
Chúng con xin phó dâng cuộc sống trong tình thương quan phòng của Chúa. Amen.

Trích trong “Tin Vui Xuân Lộc”

LỄ SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ

Câu trả lời đúng nhất là lời Chúa Giêsu nói về ngài.  Phúc Âm thánh Luca viết: “Khi những người ông Gioan sai đến đã ra về, Đức Giêsu bắt đầu nói với đám đông về ông Gioan rằng: Anh em đi xem gì trong hoang địa?  Một cây sậy phất phơ trước gió chăng?  Hẳn là không! Thế thì anh em đi xem gì? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng?  Những kẻ áo quần lộng lẫy, đời sống xa hoa thì ở trong cung điện.  Thế thì anh em đi xem gì?  Một vị ngôn sứ chăng?  Đúng thế đó.  Mà tôi nói cho anh em biết: Đây còn hơn ngôn sứ nữa!  Chính ông là người Thiên Chúa đã nói tới trong Kinh Thánh rằng: “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến” (Lc 7,24-27).

Theo lời Chúa Giêsu phán trên đây, thì thánh Gioan là vị ngôn sứ, được Chúa sai đi dọn đường cho Đấng Cứu Thế.

Với những tước vị đó và với những trọng trách đó, thánh Gioan Baotixita là một nhân vật có một không hai trong Phúc Âm.  Lịch sử của ngài cũng minh chứng như vậy.

Con đường thiêng liêng ngài đã đi không thuộc riêng cho ngài, nhưng nó là một kho tàng chung.  Mỗi người có thể học được nơi ngài một bài học mà mình thấy cần.

Riêng đối với tôi, bài học mà ngài dạy tôi kỹ nhất để nên đạo đức, đó là biết dùng con đường thời gian của mình.

Con đường thời gian của thánh Gioan Baotixita chia thành ba giai đoạn:

– Giai đoạn thứ nhất là thời gian ngài được Chúa đào tạo và tự đào tạo.

– Giai đoạn thứ hai là thời gian ngài thi hành nhiệm vụ rao giảng.

– Giai đoạn thứ ba là thời gian ngài hy sinh hiến tế, kết quả của giai đoạn rao giảng.

Thánh Gioan đã biết dùng thời gian một cách khôn ngoan trong từng giai đoạn cuộc đời của ngài.

1/ Giai đoạn thứ nhất là thời gian đào tạo

Thánh Gioan Baotixita đã biết dùng thời gian để cho Chúa đào tạo và tự đào tạo mình.  Đào tạo bằng lối sống khổ chế, chiêm niệm và vui hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên trong sa mạc yên tĩnh.

Lối sống đó lấp kín thời gian.  Qua lối sống ấy, ngài lắng nghe ý Chúa.  Tâm hồn ngài được Chúa kéo về hướng chân thiện mỹ.  Qua nhiều ngày, lối sống đó trở thành thói quen.

Trong sa mạc, ngài đón nhận được các ơn của Chúa, nhưng rất có thể ngài cũng gặp các chước ma quỷ cám dỗ.  Đây là dịp ngài thu lượm kinh nghiệm về những đấu tranh giữa thiện và ác.  Muốn cho mình luôn thuộc về sức mạnh sự thiện và thắng vượt được thế lực sự ác, ngài phải tỉnh thức, cầu nguyện, cậy nhờ ơn Chúa.  Mỗi thành công là một kinh nghiệm về sự phải từ bỏ tội lỗi, để trở về với Chúa.

Thời gian đào tạo mình cho ngài thấy: Đào tạo là việc lâu dài.  Không sách vở nào thay thế được kinh nghiệm bản thân.  Không trường sở nào thay thế được thời gian tập luyện.

2/ Giai đoạn thứ hai là thời gian thánh Gioan Baotixita thi hành nhiệm vụ rao giảng

Trong giai đoạn này, thánh Gioan Baotixita đã rất tận dụng thời giờ cho nhiệm vụ của mình.  Đề tài rao giảng đầu tiên được nêu lên rất rõ.  Đó là sám hối, đền tội.

Về việc sám hối, ngài đòi phải chịu phép rửa và đền tội bằng những việc bác ái, chia sẻ công bằng.  Ngài nói: “Ai có hai áo, thì hãy chia cho người khác.  Ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy” (Lc 3,11)… Với những người thu thuế, ngài bảo: “Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho mình” (Lc 3,13).

Tiếp liền với việc sám hối, thánh Gioan Baotixita chuyển sang đề tài đợi chờ Đấng Cứu thế.  Đợi chờ bằng thái độ khiêm tốn hạ mình, và tôn vinh Đấng Cứu thế: “Tôi làm phép rửa cho anh em bằng nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến.  Tôi không đáng cởi quai dép cho Người” (Lc 3,16).

Khi vừa thấy Chúa Giêsu đến từ đàng xa, Gioan Baotixita liền nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian” (Ga 1,29).  Ngài quả quyết như vậy, không phải bằng trực giác, mà bằng chứng cớ rõ ràng: Tai ngài đã nghe lời trên trời báo, và mắt ngài đã thấy Thánh Thần ngự xuống trên Đức Kitô (x. Ga 1,31-34).

Ngài rao giảng với tư cách người làm chứng.  Ngài rao giảng với lửa thiêng từ nội tâm phát ra.  Ngài làm chứng bằng chính đời sống đạo đức khác thường của ngài.  Có thể nói: Lời giảng của ngài đã được chuẩn bị từ nhiều năm tháng kết hợp với Chúa.

3/ Giai đoạn thứ ba là thời gian hy sinh hiến tế, kết quả của việc rao giảng

Trong thời gian này, Gioan Baotixita nếm niềm vui do thành công và nỗi buồn khổ do thất bại.  Phúc Âm thánh Luca viết: “Nghe Gioan giảng, toàn dân, kể cả những người thu thuế, đều nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng công chính và đã chịu phép rửa của ông.  Còn những người Pharisêu và các nhà thông luật thì khước từ ý định của Thiên Chúa về họ, và không chịu phép rửa của ông” (Lc 7,29-30).  Bị giới đạo đức và thông luật trong đạo khước từ, Gioan Baotixita cảm thấy đau xót.

Cơn đau đớn càng tăng thêm, khi Gioan Baotixita bị vua Hêrôđê bắt bỏ tù.  Cảnh đó xảy ra bất ngờ.  Gioan Baotixita đón nhận với lòng phó thác.  Thời gian này, Gioan Baotixita sống đời hiến tế.  Sau cùng, ngài hy sinh mạng sống trong đớn đau xác hồn.

Trong suốt giai đoạn bị thử thách này, Gioan Baotixita dùng thời gian một cách khác.  Đó là hết lòng tin cậy vào Chúa, hết lòng quảng đại chịu đau khổ vì Chúa.

Những suy nghĩ trên đây đưa tôi kết luận này: Thời giờ là vàng.  Chúa đã trao cho thánh Gioan Baotixita một số vàng thời gian.  Ngài đã dùng số vàng đó để sinh lời lãi.  Lời lãi rất lớn, lời lãi rất quý, lời lãi rất nhiều cho Nước Trời.

Mỗi người chúng ta cũng đã nhận được thứ vàng quý là thời gian.  Kẻ nhiều người ít.  Chúa đợi chúng ta nộp cho Người số lời lãi phải có.  Chúng ta đã sinh lời lãi thế nào?  Điều đó tùy ở sự chúng ta biết dùng thời gian của mình một cách thông minh, theo đúng định hướng hợp ý Chúa.

Sưu tầm

TIẾNG KÊU CỦA HỮU HẠN

Điều gì làm cho bạn xúc động nhất?

Vừa có người hỏi tôi câu này trong một cuộc thảo luận.  Trong một buổi thảo luận, tất cả chúng tôi đều được hỏi câu này: Lúc nào bạn cảm nhận tình thương trong lòng mình một cách tự nhiên nhất?

Với tôi, câu trả lời thật đơn giản.  Tôi xúc động nhất khi thấy sự bất lực, khi tôi thấy ai đó hay sự gì đó bất lực không thể lo được cho nhu cầu hay bảo vệ phẩm giá của mình.  Có thể đó là một đứa trẻ, đói bụng và kêu khóc, quá nhỏ để tự ăn và bảo vệ phẩm giá của mình.  Có thể là một bà trong bệnh viện, bệnh tật, đau đớn, không cách nào khá hơn được, cũng như không thể giữ phẩm giá của mình.  Có thể là một người thất nghiệp, gặp vận hạn, không tìm được công việc, một người lạc lõng trong khi mọi người khác có vẻ đang rất tốt.  Có thể là một cô bé trên sân chơi, bất lực khi bị chọc ghẹo và ăn hiếp, chịu đựng bị làm nhục.  Hay có thể là một chú mèo con, đói bụng, bất lực, nhìn tôi với đôi mắt nài nỉ, không thể tự kiếm ăn mà cũng chẳng biết nói.  Sự bất lực xoáy sâu vào tâm hồn.  Tôi luôn luôn xúc động đến tận những nơi sâu nhất lòng mình, mỗi khi chứng kiến sự bất lực, nài van của sự hữu hạn.  Tôi cho rằng tất cả chúng ta cũng thế.

Chúng ta đều giống nhau.  Đây cũng là điều đã lay động Đức Maria ở tiệc cưới Cana, khi Mẹ đến nói với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi!”  Lời thỉnh cầu này của Đức Mẹ có nhiều ý nghĩa.  Một là lời thỉnh cầu cụ thể ở một dịp cụ thể trong lịch sử: Mẹ đang cố gắng cứu chủ tiệc cưới khỏi bị bẽ mặt, khỏi bị chuốc nhục nhã.  Chắc chắn, việc hết rượu là tỏ ra nghèo kém, dù là thiếu tiền hay thiếu tính toán, nhưng dù gì thì cũng làm cho chủ nhà mất mặt trước quan khách.  Như hầu hết mọi câu chuyện trong Tin mừng, câu chuyện này có một ý nghĩa thâm sâu hơn.  Đức Mẹ không chỉ ngỏ lời thay cho một chủ nhà cụ thể hay một dịp cụ thể.  Mẹ nói chung cho tất cả, như mẹ của nhân loại, lên tiếng thay cho tất cả chúng ta “tiếng kêu của hữu hạn” theo lời John Shea.

Hữu hạn là gì?  Như chúng ta có thể thấy, hữu hạn tương phản với vô hạn, với sự không có gì giới hạn được, chính là Thiên Chúa.  Thiên Chúa, chỉ mình Ngài là không hữu hạn.  Chỉ mình Thiên Chúa là tự đủ.  Chỉ mình Thiên Chúa là không bao giờ bất lực, và chỉ mình Ngài không bao giờ cần bất kỳ ai giúp sức.  Chỉ mình Thiên Chúa không bao giờ bị đau bệnh, đói khát, mệt mỏi, cáu tức, kiệt lực, suy tàn thể xác và tinh thần, và cả cái chết.  Chỉ mình Thiên Chúa không bao giờ chịu sự mất phẩm giá của một nhu cầu không được đáp ứng, của bị đè nén, của sự bất lực không thể hiện được bản thân, không được trân trọng, của sự khó chịu bối rối, bị bắt nạt, hay sự bất lực không thể làm gì cho mình, cũng như sự than van câm lặng.

Mọi sự khác đều hữu hạn.  Như thế, là con người, chúng ta là đối tượng của sự bất lực, bệnh tật, than khóc, đui mù, đói khát, mỏi mệt, cáu tức, suy tàn và cái chết.  Hơn nữa, trong tất cả mọi sự này, chúng ta cũng là đối tượng bị mất phẩm giá.  Vậy nên, nhiều lời lẽ và hành động của chúng ta là tiếng khóc của sự hữu hạn, tiếng khóc cần giúp đỡ, tiếng khóc của đứa trẻ đòi ăn, đòi hơi ấm, che chở, và bảo vệ khỏi bị mất phẩm giá.  Dù cho chúng ta không ngừng ngụy biện hơn về nhân tính của mình, nhưng trong mức độ nào đó, tất cả chúng ta vẫn là con mèo con, ngước đôi mắt nài nỉ xin được cho ăn, và khi những người giàu có, khỏe mạnh, kiêu căng, và những ai có vẻ như không cần giúp đỡ làm tất cả mọi sự để khẳng định mình tự đủ, thì nó chẳng gì hơn là những nỗ lực giữ cho sự bất lực tạm xa mình.  Dù cho có mạnh mẽ và tự đủ đến thế nào đi chăng nữa, thì tự bản thân chúng ta hẳn phải tin rằng mình hữu hạn và khả tử, không có ngoại lệ nào cả.  Sự mệt mỏi, bệnh tật, suy tàn, cái chết và những cơn đói khát đau đớn cuối cùng sẽ tìm đến chúng ta, tất cả chúng ta.  Rượu của chúng ta cuối cùng rồi cũng hết. Và chúng ta hy vọng có ai đó như Đức Mẹ nói thay cho chúng ta rằng: “Họ hết rượu rồi!”

Chúng ta có được bài học nào qua điều này?

Thứ nhất, nhìn nhận sự hữu hạn của mình có thể cho chúng ta một tự nhận thức lành mạnh hơn.  Nhận biết và chấp nhận sự hữu hạn của mình có thể giúp chế ngự nhiều nản lòng, bồn chồn, và cảm giác tội lỗi sai lầm trong đời chúng ta.  Tôi từng có một linh hướng là một nữ tu cao niên, đã thách thức tôi sống theo châm ngôn này: Đừng sợ, bởi con là bất xứng.  Chúng ta cần tha thứ cho bản thân, bởi vì chúng ta có giới hạn, bởi chúng ta là con người, hữu hạn, và không thể cho mình cũng như cho những người chung quanh mình tất cả những gì chúng ta cần.  Nhưng sự bất xứng là một tình trạng có thể tha thứ được, chứ không phải là một lỗi phạm luân lý.

Khi nhìn nhận và chấp nhận sự hữu hạn của mình, không chỉ là tự tha thứ cho sự bất lực của bản thân, nhưng còn thách thức chúng ta lắng nghe rõ ràng hơn tiếng kêu của hữu hạn quanh chúng ta.  Và dù đó là tiếng khóc của đứa trẻ sơ sinh, sự nhục nhã trong đôi mắt một người tìm việc, sự hoang tàn trong đôi mắt người bệnh liệt giường, hay đơn giản là đôi mắt nài nỉ của một chú mèo nhỏ, thì chúng ta cần phải, như Đức Mẹ, lo cho họ, và bảo đảm có ai đó giúp cho họ khỏi bị mất phẩm giá, bằng cách mở lời: “Họ hết rượu rồi!”

Rev. Ron Rolheiser, OMI

TRUYỀN THUYẾT VỀ NGƯỜI CHA

“Một cách bản năng, những đứa trẻ muốn được cảm nhận rằng cha chúng luôn ở phía sau chúng vững chãi như một quả núi, nhưng cũng vì người cha giống như ngọn núi, nên bọn trẻ phải ngước lên nhìn.”
Dorothy Thompson

Khi ông Trời bắt đầu tạo ra người cha đầu tiên trên thế gian, ngài chuẩn bị sẵn một cái khung thật cao.  Một nữ thần đi ngang qua ghé mắt coi và thắc mắc: “Thưa ngài, tại sao người cha lại cao đến như vậy? Nếu ông ta chơi bi với trẻ con thì phải quỳ gối, nếu ông ấy muốn hôn những đứa con mình lại phải cúi người.  Thật bất tiện!”  Trời trầm ngâm một chút rồi gật gù: “Ngươi nói có lý.  Thế nhưng nếu ta để cho người cha chỉ cao bằng những đứa con, thì lũ trẻ sẽ biết lấy ai làm tầm cao mà vươn tới?”

Thấy Trời nặn đôi bàn tay người cha to và thô ráp, vị nữ thần lại lắc đầu buồn rầu: “Ngài có biết đang làm gì không?  Những bàn tay to lớn thường vụng về.  Với đôi bàn tay ấy, người cha chật vật lắm mới có thể găm kim băng đóng tã, cài nút áo cho con trai, thắt chiếc nơ hồng cho con gái.  Bàn tay ấy không đủ khéo léo để lấy những mảnh dằm nằm sâu trong da thịt mềm mại của trẻ.”  Ông Trời mỉm cười đáp: “Nhưng đôi bàn tay to lớn vững chãi đó sẽ dìu dắt bọn trẻ qua mọi sóng gió, cho tới lúc chúng trưởng thành.”

Vị nữ thần đứng bên cạnh nhìn Trời nặn người cha với một đôi vai rộng, lực luỡng. “Tại sao ngài phí thế?” nữ thần thắc mắc.  “Thế người cha sẽ đặt con ngồi đâu khi phải đưa nó đi xa?  Lấy chỗ đâu cho đứa con ngủ gật gối đầu, khi đi xem xiếc về khuya?”  “Quan trọng hơn, đôi vai đó sẽ gánh vác cả gia đình,” ông Trời đáp.

Ông Trời thức trắng đêm để nặn cho xong người cha đầu tiên.  Ngài cho tạo vật mới ít nói, nhưng mỗi lời phát ra là một lời quyết đoán.  Tuy đôi mắt của người cha nhìn thấu mọi việc trên đời, nhưng lại bình tĩnh và bao dung.  Cuối cùng khi đã gần như hoàn tất công việc, Trời thêm vào khóe mắt người cha vài giọt nuớc mắt.  Nhưng sau một thoáng tư lự, Ngài lại chùi chúng đi.  Thành ra người đời sau không mấy khi thấy được những giọt lệ hiếm hoi của người cha, mà chỉ có thể cảm và đoán được rằng ông ta đang khóc.

Xong việc, ông Trời quay lại nói với nữ thần: “Ngươi thấy đó, người cha cũng đáng yêu như người mẹ mà ta đã dồn bao công sức để tạo ra.”

Sưu tầm

************************

Lời cầu nguyện của một người cha

Ôi lạy Thiên Chúa là Cha của con ở trên trời,
thật là một điều kỳ diệu khi Ngài gọi con làm một ngươi cha giống như Ngài ở dưới đất.

Chúa ơi, con chỉ là một đứa bé thơ trong sự hiện hữu của Ngài.
Chúa thì mạnh mẽ, con lại yếu đuối.
Chúa thật thánh thiện, con lại tội lỗi.
Chúa thật khôn ngoan và đầy yêu thương, con thường hay u tối và đầy ích kỷ
Cho dù với tất cả những bất toàn của con như thế,
nhưng Chúa vẫn mời gọi con làm một người cha ở trần thế.

Xin Chúa ban ân sủng để con có thể hướng dẫn gia đình của con
theo con đường của Chúa qua Giáo Hội,
bằng những lời nói, việc làm, và đời sống cầu nguyện hàng ngày của con.

Xin Chúa ban ơn để con có can đảm dám đẩy hai chữ “GIA TRƯỞNG”
ra khỏi con người của con, ngõ hầu mang lại sự yêu thương, bình an trong gia đình.

Chúa ơi, Xin ban thêm sức mạnh để con luôn biết đặt vợ và các con,
lên trên những khát vọng và những thú vui của riêng mình,
nhờ đó con có thể quan tâm đến nhu cầu của những người trong gia đình,
giống như Chúa đã quan tâm đến từng người chúng con.

Và những khi cần đến sự cứng rắn và kỷ cương trong đời sống gia đình,
xin giúp sức để con không nóng nẩy và thiếu kiên nhẫn,
nhưng ngược lại biết bình tâm, kiên nhẫn và động viên mọi người bằng một con tim
tràn đầy yêu thương giống như Chúa.  Amen!

Phó Tế Giuse Nguyễn Xuân Văn
Ngày phụ mẫu – Father’s day