ĐỒNG HÀNH VỚI CHÚA

Trong Đệ Nhị Thế Chiến, anh là một thanh niên đã sống một cuộc sống cuồng loạn trong một trang trại.  Cuối cùng anh đã lập gia đình và ổn định cuộc sống.  Vào thời điểm đó, anh được hoán cải và bắt đầu thay đổi cuộc sống.

Mấy năm sau đó, nói chính xác hơn là vào năm 1942, anh nhận được lệnh gọi nhập ngũ qua bưu điện. Anh phải đi khám sức khỏe để tòng quân.  Sau khi khám sức khỏe, anh trở về nhà.  Anh nhận thấy chiến tranh là một hành động vô luân và thật là sai lầm khi phải cầm súng.  Anh đi gặp một vị linh mục để xin ý kiến và ngài cho biết đó là bổn phận phải chiến đấu để bảo vệ tổ quốc.  Anh cảm thấy không thỏa mãn với lời khuyên bảo đó.

Anh đến gặp Đức Giám Mục và ngài cũng nói như vị linh mục vậy.  Đức Cha cho biết đó là một cuộc chiến tranh để bảo vệ tổ quốc, chống lại một chính thể độc tài vô thần, nên anh có bổn phận phải gia nhập quân ngũ.  Lời khuyên bảo đó cũng không có sức thuyết phục anh.

Anh vẫn tin tưởng chiến tranh là điều không chính đáng, không thể biện minh được.  Vì thế thật sai lầm đối với anh là một Kitô hữu phải đi đánh giặc. Vợ anh và nhiều bạn hữu của anh cũng khuyên nhủ anh nên hợp tác với chính quyền.

Sau cùng, anh nhận được lệnh của quân đội buộc anh phải trình diện nhập ngũ.  Anh quyết định thông báo cho biết là anh không tuân lệnh.  Do đó anh bị bắt, bị xét xử theo quân luật, bị kết tội mưu phản và nhận lãnh bản án tử hình.

Chính Phủ Đức Quốc Xã đã thi hành bản án ngày 9 tháng 8 năm 1943 tại Bá-linh.  Anh là người Áo, với danh xưng là Franz Yeagersteter.  Không giống như vị linh mục và giám mục đã khuyên bảo, anh xác tín việc tham gia vào cuộc chiến của Hitler là điều vô luân và anh đã chết vì niềm tin của mình.

Ngày anh lên đoạn đầu đài, anh đã viết một lá thư trần tình cho biết tại sao anh đã hành động như thế.  Anh viết: “Tôi tin tưởng đó là điều Chúa đã kêu gọi tôi làm và tôi đã dâng hiến cuộc đời của tôi như một hy lễ đền tội cho Đức Quốc Xã.  Tôi ngước mắt nhìn trời là nơi tôi sẽ tới và rồi từ đó tôi sẽ  nhìn xem các con tôi trong tương lai và được biết chúng sẽ hỉểu tại sao cha chúng đã làm điều đó.

**********************************

Để khuyên bảo những Kitô hữu vào buổi ban đầu, Thánh Phaolô đã nói: “Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống cùng Người.  Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người.” (2Tm 2:11-12).  Thánh Phaolô đã nói như thế, do kinh nghiệm bản thân.  Ngài đã chịu đựng nhiều gian khổ trước khi làm nên những việc lớn lao.

Như người ta thường nói: “Một con tim nhút nhát không thể nào chinh phục được quả tim vàng.”  Kitô giáo không phải là một tôn giáo dành cho những con tim nhút nhát.  Chúng ta phải chịu đựng nhiều hy sinh gian khổ trong cuộc đời thường, đầy chông gai thử thách, trước khi có thể vào Nước Thiên Chúa.

Đó là định luật của cuộc sống, vừa khắt khe vừa hùng tráng.  Không thể có triều thiên mà không có thánh giá, không thể có chiến thắng mà không đổ mồ hôi, máu và nước mắt.  Không thể có Chúa nhật Phục Sinh mà không có Thứ Sáu Tuần Thánh, không thể có sống lại nếu không có chết đi.

Khi đọc câu chuyện trên, có thể bạn không thích người đó vì anh không chiến đấu cho một cuộc chiến chính đáng, và đó cũng là cuộc chiến chính đáng đối với Đức Quốc Xã.  Mọi cuộc chiến được xem là chính đáng vì lý do luân lý, đối với những người chiến đấu cho những cuộc chiến đó.  Họ đã chiến đấu ở nước Áo để bảo vệ Kitô giáo, chống lại chế độ Cộng Sản vô thần của Nga Sô Viết.  Đó là điều chính quyền tuyên truyền cho dân chúng và nhiều người đã tin theo.

Nhưng thử nói lại điều đó cho những nạn nhân các lò hỏa thiêu của Đức Quốc Xã và những người đã mất tất cả trong Đệ Nhị Thế Chiến, chắc chắn không lọt tai chút nào.  Sự đứng lên chống lại cuộc chiến đó của Franz Yeagersteter khiến chúng ta ngày nay ca tụng anh là người anh hùng cao cả.

Không có chỗ để thỏa hiệp ở đây.  Một người có thể giữ ngày Sabbat cho dẫu không ai tuân giữ hết, hoặc xem lễ Chúa nhật cho dẫu bạn bè từ khước.  Người ta có thể sống quảng đại, quan tâm và vị tha đối với người khác, hoặc thảo kính và phụng dưỡng cha mẹ trong tuổi già.

Người ta có thể không làm chứng gian, không nói dối, trộm cắp hay ngoại tình.  Người ta có thể không bị lãng phí bởi nếp sống tiêu thụ và giới trẻ có thể khước từ việc nghiện ngập, xì ke, ma túy và dấn thân vào những tương giao đặt cơ sở trên những nguyên tắc luân lý vững chắc.

Người ta có thể đương đầu với những trào lưu thế tục, cho dẫu phải đứng lên một mình, hơn là chạy theo quần chúng.  Bạn có thể ngẩng đầu lên cao trong khi những người chung quanh cúi thấp đầu xuống.  Người ta có thể sống cũng như mọi người nhưng lại khác biệt mọi người, tức là “hòa nhi bất đồng”.  Người ta có thể đi con đường hẹp, ít người đi và có thể trở thành một nhà lãnh đạo hơn là người theo bén gót.

Người ta có thể sống và chết cho một lý tưởng cao đẹp, như sống cho Chúa Kitô trong một bối cảnh trần tục.  Khi chúng ta vấp ngã, và điều đó thường xuyên xảy ra, chúng ta có thể chỗi dậy, với ơn Chúa phù trợ, bằng lời cầu nguyện hằng ngày để tiếp tục đoạn đường kế tiếp.

Tuy nhiên những điều đó sẽ không xảy đến, nếu chúng ta không chấp nhận cho mình một kỷ cương và sức mạnh nội tâm, cũng như có ý muốn chấp nhận gian khổ để được dẫn tới Vương Quốc của Chúa.

**********************************

Lạy Chúa, xin ban cho con thêm sức mạnh và can đảm để dám đồng hành với Chúa, dám sống và chết cho niềm tin của mình.  Amen!

Huong Vinh

Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi

Trong một xứ đạo miền quê xa xôi hẻo lánh, đa số dân chúng là người ít học và  nghèo khổ.  Trong thánh lễ ngày Chúa Nhật, cha xứ giảng một bài giảng rất hùng hồn về Chúa Ba Ngôi. Trước khi kết thúc bài giảng, cha xứ hỏi:

-Ông bà anh chị em có hiểu được gì về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi không?

Cả nhà thờ im lặng, nhưng có một bà cụ già đứng lên nói:

– Thưa cha, cha giảng rất hay, con không hiểu gì hết nhưng con cũng xin nói lên những việc làm của con về việc tôn kính Chúa Ba Ngôi. Lúc nhỏ, con cũng được học giáo lý, được nghe các dì phước dạy về Chúa Ba Ngôi và con đã làm trong cuộc sống của con là:  Mỗi ngày trước khi đi ngủ con dành ra chỉ ba phút, chỉ ba phút ngắn ngủi thôi vì suốt ngày con phải làm việc cực nhọc, tối về mệt mỏi, con không còn đọc kinh nhiều được nữa, vì thế con chỉ có ba phút thôi rồi ngủ ngon lành.

Phút đầu tiên con nhìn lại những khuyết điểm: nào là con gây lộn với người hàng xóm, nào là con tức giận với chồng với con trong gia đình …con nhìn lại những sự thiếu sót lỗi lầm đó và con dâng điều đó lên cho Chúa Cha.

Phút thứ hai con nhìn lại xem con có làm điều gì tốt trong ngày hôm đó không: những việc tốt như con cho người hàng xóm một cộng hành, cho một em bé một cái bánh, dỗ một đứa bé khóc vì nhớ mẹ đi ruộng chưa về … những việc tốt nhỏ nhặt đó con cũng xin dâng lên cho Chúa Giêsu và con nói với Chúa, mặc dầu con có nhiều tật xấu, nhưng con cũng có những việc lành nho nhỏ, con xin góp những việc lành nho nhỏ đó để cộng tác với việc cứu chuộc của Chúa, để đền bù một chút tội lỗi con.

Phút thứ ba con so sánh xem việc tốt, việc xấu con đã làm trong ngày, con lại thấy việc xấu nhiều hơn việc tốt, nhưng con cũng dâng hết lên cho Chúa và con nói: Lạy Chúa Thánh Thần, xin  thánh hoá và biến đổi cuộc sống của con mỗi ngày một tốt hơn.

– Như thế đó, con chỉ có làm bấy nhiêu đó thôi để sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi.

Trích bài giảng của một linh mục

* * * * *

Bạn thân mến! Làm sao giải thích được mầu nhiệm Chúa Ba ngôi ? Một Chúa duy nhất, nhưng lại có Ba Ngôi : Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh thần. Ba Ngôi phân biệt, tách biệt, khác biệt đến nỗi không hề lẫn lộn, không bao giờ hòa trộn, nhưng lại chỉ là một Thiên Chúa. Làm sao giải thích ? làm sao để hiểu cho được? Nhưng dù cho có khó khăn đến đâu đi nữa, dù cho mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi vẫn chỉ là một huyền nhiệm đối với trí khôn hạn hẹp, với suy nghĩ non nớt của con người , thì không phải vì thế mà ta không thể biết gì về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Xin mời bạn cùng với tôi, chúng ta hãy lần theo dấu chân ngược xuôi rao giảng của Chúa Giêsu trong Tin Mừng để hiểu thêm về mầu nhiệm cao cả này .

Qua Chúa Giêsu, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi được diễn tả qua sự hiệp thông trong tình yêu “Cha Con”. Tình yêu đó là keo sơn gắn bó Chúa Cha và Chúa Con trở nên một. “Ta và Chúa Cha là một” (Ga.10:30) . Đó là lời giảng dạy của Chúa Giêsu nơi hành lang Solomon của đền thờ Giêrusalem ngày xưa. Cũng tại nơi đây, Chúa Giêsu cũng đã hé mở cho chúng ta biết một sự hiệp thông trọn vẹn: Chúa Cha ở trong Ta và Ta ở trong Chúa Cha” (Ga. 10:38). Đó phải là sự hiệp thông trọn vẹn trong tư tưởng, trong lời nói và trong cả việc làm .

Qua Chúa Giêsu, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi được diễn tả cụ thể hơn và dễ hiểu hơn qua công cuộc cứu chuộc. Qua Ðấng hóa thân làm người, Thiên Chúa Cha được diễn tả là đấng yêu thương và nhân hậu, bao dung và tha thứ. Ngài đau khổ vì tội lỗi con người vấp phạm, Ngài đau khổ khi con người đau khổ… chính vì thế : “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con một của Người, để tất cả những ai tin vào Con của Ngài, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời…” (Ga 3, 16).

Qua Chúa Giê-su, chúng ta được biết về Thánh Thần của Ngài. Trong bữa ăn cuối cùng, Chúa Giêsu hứa ban Thánh Thần là “Ðấng Bảo Trợ” từ Chúa Cha cho các môn đệ  (Ga.14: 26). Sau khi chết và sống lại, Ngài hiện ra nhiều lần với các môn đệ, thổi hơi vào các ông để ban Thánh Thần và sai các ông đi làm nhân chứng cho Ngài (Ga.20:22). Và trong ngày Lễ Ngũ Tuần,  các môn đệ đang ở trong tình trạng hoang mang sợ sệt, Chúa Thánh Thần đã đến bên các ông, biến các ông từ những kẻ nhút nhát trở nên những người mạnh dạn loan báo Tin Mừng.

Bạn thân mến, đối diện với Thiên Chúa, con người quá bé nhỏ. Mầu nhiệm về Thiên Chúa như một bầu trời mênh mông cao cả, trí tuệ con người như một cánh chim tung mình trong bầu trời mênh mông ấy. Cánh chim không thể che phủ cả bầu trời. Nếu muốn che phủ bầu trời, cánh chim phải lớn bằng cả bầu trời…

* * * * *

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi, xin cho cuộc sống của con mỗi ngày được trở nên giống hình ảnh của Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi,  hình ảnh của hiệp nhất; của yêu thương và nhân hậu; của bao dung và tha thứ. Amen.

MEMORIAL DAY: NGÀY TƯỞNG NHỚ CÁC CHIẾN SĨ TRẬN VONG

Một bà mẹ vô cùng đau khổ trước cái chết của con mình ngoài chiến trận.  Bà đã tìm tới Minh Sư để được an ủi.  Ngài kiên nhẫn ngồi nghe, trong khi bà kể về câu chuyện thương tâm của mình.

Sau cùng Minh sư nói bằng một giọng cảm thông dịu dàng:

“Tôi không thể lau khô được nước mắt của bà. Tôi chỉ có thể chỉ vẽ cho bà cách thánh hóa những giọt nước mắt đó.”

(Anthony de Mello, S.J. – Trích trong “One Minute Wisdom”)

* * * * *

Bạn thân mến, hằng năm cứ vào ngày thứ Hai cuối cùng của tháng Năm, người dân nước Mỹ lại tưởng nhớ đến sự hy sinh cao cả của những người lính đã nằm xuống trong tất cả các cuộc chiến của quê hương đất nước. Bao nhiêu giọt nước mắt đã chảy xuống khóc thương cho những người đã hy sinh tính mạng của mình vì tự do, vì trách nhiệm danh dự và vì an nguy và thịnh vượng của quê hương xứ sở này.

Ngày hôm nay, cả nước nghiêng mình nhớ về những người con, những bậc cha ông và tổ tiên của quê hương đất nước đã ra đi trong suốt mấy mùa chinh chiến.  Chắc hẳn không ai trong chúng ta mà không ngậm ngùi tiếc thương những bạn trẻ nam nữ đã khoác trên mình bộ quân phục, đã sống những giây phút oai hùng nhất và đã hy sinh gục ngã trên chiến trường, để lại cha mẹ vợ con côi cút trong thương nhớ không nguôi …

Ngày hôm nay, người dân nước Mỹ cùng nhau tụ tập quây quần bên những nấm mộ thiêng liêng của các tử sĩ, đã lặng lẽ đặt vòng hoa trên những cụm đất khô lạnh, đã thay thế những bông hoa  khô héo bằng những bình hoa rực rỡ nhất của mùa xuân, và quan trọng hơn cả,  đã  tham dự các nghi thức, các  thánh lễ ngoài nghĩa trang để tưởng nhớ và tri ân, để mặc niệm và cầu nguyện cho các bậc tổ tiên và cha ông, cho các thế hệ đàn anh, cho các bạn đồng ngũ, và cho những người bạn trẻ nam nữ đã gục ngã ngoài mặt trận vì quê hương đất nước, và vì một ngày thái bình và hoan ca trên khắp thế giới….

Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người đã thí mạng mình vì bằng hữu.” (Ga.15:13). Đó là tình yêu cao cả nhất mà Thiên Chúa, qua Đức Giêsu, đã nêu gương và đã trao ban tình yêu đó cho con người.  Đó cũng là tình yêu thương và sự hy sinh cao cả mà những tử sĩ đã thực hiện cho sự an nguy và thịnh vượng của mỗi người dân trên quê hương xứ sở này, trong đó có bạn và tôi đang được thụ hưởng . Có lẽ, giờ đây đã quá muộn màng để nói lên lời cám ơn đối với những người tử sĩ đã nằm sâu trong lòng đất, nhưng sẽ không bao giờ quá trễ để ghi ơn và tưởng nhớ đến họ.

Xin mời bạn cùng với tôi, chúng ta hãy đốt lên nén hương lòng để ghi nhớ công ơn và sự hy sinh cao cả của các tử sĩ tổ tiên, các bậc cha anh và các bạn trẻ đã hy sinh mạng sống của mình cho sự an nguy của bạn và tôi trên quê hương đất nước này.

* * * * *

Lạy Chúa, Xin hãy thánh hóa những giọt nước mắt đang tuôn chảy trên khuôn mặt thơ ngây của những người con đã mất cha mất mẹ trong cuộc chiến. Xin hãy lau khô những giọt nước mắt của những người vợ góa bụa và của những bậc cha mẹ đã mất đi những người con thân yêu trong gia đình.  Và xin hãy đoái thương che chở và dẫn đưa hương hồn của các tử sĩ tổ tiên, các bậc cha anh và các bạn trẻ về nơi an nghỉ đời đời bên Chúa! Amen.

Linh Xuân Thôn

CĂN NHÀ SAU LƯNG HỒ THAN THỞ

Trong cái lạnh của  tháng ba Đà Lạt, tôi mon men theo con dốc nhỏ tìm đến nhà Sen, cô bạn học chung khoa báo chí trường Đại học Tổng Hợp Đà Lạt năm xưa.  Căn nhà của ba mẹ con Sen nằm côi cút trong một con đường nhỏ sau lưng Hồ Than Thở.  Sen ly dị được một năm nay, một mình gồng gánh đi làm ở Đài để nuôi hai bé: Thanh, 8 tuổi và Khoa, 5 tuổi.  Chồng Sen mê rượu và hay đánh đập mấy mẹ con.  Cứ nghĩ thương hai con lớn lên trong cảnh không cha, nên Sen cố sống và nhịn nhục.  Nhưng rồi chồng Sen lại có người đàn bà khác.  Anh ta hối thúc Sen làm thủ tục ly dị, chia nhà, chia con… Sen lặng lẽ chấp nhận mọi yêu cầu, và thầm mong mỏi một điều: được nuôi nấng hai con…

Đang miên man suy nghĩ về hoàn cảnh của Sen và chuẩn bị sẽ nói gì, kể chuyện gì vui cho bạn nghe, tôi chợt nghe tiếng trẻ nhỏ cười giòn tan.  Thanh va Khoa đang phơi cơm nguội ngoài hiên, thấy tôi, Thanh cười giòn và gọi lớn:

– Cô My, Cô My, lâu quá!  Mẹ ơi, cô My !

Thanh năm nay 8 tuổi.  Tôi nghe Sen kể tuy nhỏ tuổi như vậy nhưng con bé rất ư “người lớn”.  Hồi tòa còn đang xử ai sẽ được quyền nuôi con khi hai vợ chồng Sen ly dị, Sen đã khóc lên khóc xuống khi chồng Sen muốn mỗi người nuôi một đứa.  Cực khổ mấy Sen cũng không ngại, chỉ ngại hai con lớn lên không có tình anh chị em, sợ con ở với dì ghẻ sẽ khổ… Thế rồi, tòa xử cho Sen được nuôi cả hai.  Sen vui không tả siết và thật bất ngờ khi bà chánh án đến và đưa cho Sen coi một lá thư viết trên giấy học trò với những chữ to như gà mái.  Đó là thư bé Thanh viết gởi cho bà chánh án, trong thư em kể cho bà nghe ba em hay đánh đập mẹ và tụi em thế nào, bỏ tụi em ở trường không đón về hoài, và rằng em chỉ có thể sống với mẹ và bé Khoa.  Cuối thư em lấy mực lăn hai dấu tay nhỏ xíu của mình và của bé Khoa để làm ấn tín.  Nhìn lá thư và chữ ký có một không hai của con, Sen bật khóc thành tiếng.  Khóc cho tâm tình của con, khóc cho những khó khăn sắp tới của ba người và khóc cho phận mình.

Căn nhà của ba mẹ con Sen thật nhỏ, thật trống, nhưng ấm áp lạ thường.  Khói bốc lên từ bình trà arteso mà bé Thanh pha để mẹ đãi khách, tiếng cười nói của Khoa làm tan đi cái thương cảm ảm đạm trong lòng mà tôi dành sẵn cho mẹ con Sen khi đặt chân đến cửa.  Thanh mời tôi ăn cơm nguội, một món ăn chơi sang trọng của hai chị em nó.  Cơm nguội Thanh làm thật ngon, vừa ăn, giòn tan, và không dầu mỡ.   Không chờ tôi hỏi bí quyết, con bé sung sướng kể từng giai đoạn làm cơm nguội:

– Cơm nguội bỏ đi, cô phơi nắng nhé, xong thì bỏ lên chảo, cho chút dầu, chiên qua giống như cơm chiên, cho nước mắm, đường, và ớt vào, nêm vừa ăn.

Tôi khen con bé giỏi và đảm đang.  Thanh cười nheo mắt, lém lỉnh đáp lại với giọng Bắc kì tếu táo:

– Thì cứ vất ra đấy thì nó phải tự thôi!

Nói xong, con bé quay sang dòm mẹ, dường như nó sợ trong lời nói đó có gì khiến Sen buồn và suy nghĩ nên vội nắm lấy tay Sen, nó đỡ lời ngay:

– Nhưng cũng phải có sự hổ trợ nữa Cô ạ !

Sen kể cho tôi nghe đôi lúc Sen có cảm tưởng bé Thanh giống như mẹ của Sen vậy.  Nó lo cơm nước cho Sen khi Sen đi làm về, nó trông và dạy dỗ em Khoa những lúc Sen bận việc, thậm chí nó còn vun vén cho Sen, mong Sen tìm được một chỗ dựa tốt hơn.  Tôi thấy vui và an tâm phần nào cho Sen vì thấy hai con của bạn quá ngoan, quá hiểu biết và hiếu thảo.  Dường như Chúa luôn là một người ngộ nghĩnh trong việc sắp đặt cuộc sống con người, Chúa lấy đi của Sen hạnh phúc của một người vợ được chồng yêu thương chiều chuộng nhưng bù lại, Ngài cho Sen hai kho tàng quý giá, đó là bé Thanh và bé Khoa.

Sen không có Đạo, cả dòng họ bên Sen lẫn bên chồng cũ đều là cán bộ nhà nước, không ai biết Chúa.  Nhưng thật lạ lùng, bé Thanh con Sen lại có một niềm ao ước kì quặc.  Con bé ao ước được đi nhà thờ.  Lần nào lên Đà Lạt chơi, tôi cũng rủ bé Thanh đi chơi loanh quanh, nhưng con bé lúc nào cũng từ chối.  Vậy mà lần này khi đang nói chuyện và tỏ ý muốn đi dâng hoa cho Đức Mẹ để cầu nguyện cho người thân vừa bị tai nạn giao thông, con bé liền năn nỉ xin đi theo.  Sen nói:

– Con bé lạ kì! Cứ đòi Sen dắt đi nhà thờ.  Sen đâu có biết ai trong đó đâu.

Bé Thanh nhìn mẹ, nói lớn:

– Con thích đi nhà thờ. Con muốn đi lễ.  Con muốn biết Chúa.

Tôi nổi da gà vì câu nói ngây thơ gọn lỏn của con bé.  Là người theo Đạo bốn mươi mấy năm trời nhưng chưa khi nào tôi lại dám nói lớn tiếng, về Chúa, về nhà thờ như con bé.  Tôi thấy khóe mắt mình cay xè, trong cái căn nhà nhỏ bé, nghèo nàn và đơn chiếc, trong cái lạnh và u buồn của một cuộc hôn nhân đổ vỡ, trong cái mất mát tình cha con của một cô bé 8 tuổi, tôi lại tìm thấy ánh sáng đức tin mạnh mẽ và hồng ân Chúa đang tuôn đổ cho tất cả.

Tiễn tôi ra bến xe Đà Lạt, Sen đưa vội bịch nylon đựng cơm nguội và nói với theo:

– Thanh nó biếu cô My. Nó bảo trời mùa này hay mưa, sẽ không có nắng để phơi cơm nguội.

Chúa ơi, xin cho con là một tia nắng sưởi ấm những hạt cơm nguội đơn sơ thanh khiết nơi hiên nhà bé Thanh.  Xin cho con biết không ngừng nỗ lực để mang Chúa đến với những tâm hồn đang khao khát Chúa lạ thường .  Amen!

Ngạo, San Jose

SỐNG THÁNH TRONG ĐỜI THƯỜNG

Khi mừng lễ các thánh Nam Nữ như vậy, trước tiên, Mẹ Giáo Hội muốn nhắc nhở cho con cái biết rằng có một sự hiệp thông rất mật thiết giữa ba thành phần trong Giáo Hội: Giáo Hội Lữ Hành, Giáo Hội Thanh Luyện và Giáo Hội Chiến Thắng.  Nói cách khác, có một mối liên hệ thiêng liêng hỗ tương giữa những người còn đang sống ở trên dương thế này với những linh hồn đang chịu thanh luyện trong Luyện Tội, và với các thánh đang hưởng vinh phúc trên Thiên Đàng (x. GLTYGHCG, số 195 & Lumen Gentium, số 49).

Thứ đến, chúng ta hãy tạ ơn Chúa vì ân sủng của Chúa tràn ngập trên cuộc đời các thánh, để từ ân sủng của Chúa, các ngài đón nhận và tỏa hương nhân đức trong cuộc sống, đồng thời lưu truyền lại cho con cháu hôm nay.  Thật vậy, khi nói về sự ảnh hưởng của các thánh Tử Đạo, Tertuliano nhận xét: “Máu các vị Tử Ðạo là hạt giống trổ sinh nhiều tín hữu.”  Chúng ta có được đời sống đức tin như ngày hôm nay là do ơn Chúa ban và biết bao hy sinh của các bậc tiền nhân.

Tiếp theo là: noi gương các ngài để ngày càng tiến tới sự trọn lành.  Thánh Augustino đã nói một câu thời danh: “Ông nọ bà kia nên thánh được, còn tôi, tại sao không?”  Sống thánh và làm thánh là bổn phận, trách nhiệm của chúng ta.  Thánh Giêrađô đã nhất quyết phải làm thánh khi từ giã người mẹ của mình để lên đường theo các cha dòng Chúa Cứu Thế đi tu, ngài đã viết một mảnh giấy để lại rằng: “Mẹ ở lại, con đi làm thánh!”  Như vậy, việc nên thánh là trách nhiệm của chúng ta, và cũng là đòi hỏi của Thiên Chúa: “Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ta  là Đấng Thánh” ( Lêvi  19,2; 1 Tx 4,3 ; 1 Pr 1, 16…).

Cuối cùng, trong một xã hội đang chạy đua với kinh tế thị trường, coi thường đạo lý; một xã hội bất công lan tràn; thượng tôn hưởng thụ và khoái lạc dẫn đến tình trạng vô cảm, vô tâm, vô tình…  Nên thánh trong thời đại của chúng ta ngày hôm nay chính là khẳng khái triệt để không sống theo lối sống sa hoa hưởng thụ, lối sống dẫm đạp lên nhau, lối sống nín thở qua cầu, nói chung lối sống chỉ biết lo cho cái bụng mà quên đi trái tim.  Các thánh khi xưa là những người hoàn toàn khước từ những gì là mau qua chóng hết để tìm cho mình một kho tàng vĩnh cửu trên Trời là niềm vui, bình an và hạnh phúc vĩnh cửu.

Mừng lễ các thánh hôm nay, chúng ta hãy xin với các thánh là những bậc tổ tiên của chúng ta, xin các ngài nâng đỡ, bầu cử cho chúng ta để chúng ta cũng được hạnh phúc như các ngài trên Thiên Quốc.  Và có lẽ không gì làm cho các ngài vui và Chúa được tôn vinh cho bằng chúng ta noi gương các ngài để nên thánh.  Vì thế, trong việc giáo dục con em của mình, mong thay trong mỗi giáo xứ hay gia đình nên có những sách truyện, cuốn phim, tranh ảnh của các thánh, đây là những phương tiện bổ trợ rất hữu ích cho việc giáo dục Kitô giáo và cho đời sống đức tin nơi thế hệ mai sau.

Mong thay lời dốc quyết của thánh Giêrađô khi xưa: “Mẹ ở lại, con đi làm thánh!” cũng là sự quyết tâm của chúng ta.  Tuy nhiên, chúng ta không ngừng xin Chúa ban ơn trợ lực để chúng ta vượt qua được những cám dỗ hầu tiến tới sự trọn lành như các thánh trên Trời.

Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Chúa vì quyền năng và tình thương của Chúa trên các thánh.  Vì lời chuyển cầu của Mẹ Maria và các thánh, chúng con xin Chúa ban cho chúng con cũng được dồi dào ân sủng như các thánh mà hôm nay chúng con mừng kính, hầu mai ngày, chúng con được cùng các ngài xum họp để tôn vinh, thờ lạy và chúc tụng Chúa không ngừng.  Amen!

Jos. Vinc. Ngọc Biển

TỚI NGUỒN SỰ SÁNG

Người mù ngồi ăn xin bên vệ đường.  Cảnh tượng này cho ta thấy đời anh bị bao phủ bởi nhiều thứ bóng tối.

Trước hết là bóng tối thể lý.  Không có đôi mắt, đời anh chìm trong tăm tối.  Không biết thế nào là ánh sáng.  Không biết thế nào là cảnh thiên nhiên.  Không nhìn được khuôn mặt của những người thân.  Không tự mình làm gì được.  Không tự mình sinh sống được.  Chẳng biết có ánh sáng ban ngày.  Đời anh chìm ngập một bóng đêm.  Bóng đêm dày đặc không một chút ánh sáng.  Bóng đêm triền miên không bao giờ chấm dứt.  Tất cả là một màu đen.  Thế giới màu đen.  Quần áo anh mặc màu đen.  Khuôn mặt mọi người đều màu đen.  Cơm anh ăn hằng ngày cũng màu đen.  Một màu đen muôn thưở.

Kế đến là bóng tối xã hội.  Vì tàn tật anh trở thành người dư thừa trong xã hội.  Anh bị loại trừ khỏi xã hội.  Chỉ còn ngồi bên vệ đường mà ăn xin.  Như cây cỏ mọc bên đường thôi.  Thậm chí khi Chúa đến, mọi người nô nức đón Chúa.  Còn anh chỉ kêu lên thôi cũng đã bị người ta cấm đoán, đe nẹt rồi.  Anh không có quyền gì hết.  Vì anh chỉ là thân phận sống nhờ ở đậu.

Sau cùng là bóng tối tâm lý.  Cuộc đời anh không có lối thoát.  Anh bị kết án suốt đời chịu giam cầm trong bóng tối.  Làm sao thoát ra được khi anh không thể tự mình làm gì.  Khi mọi người kể cả những người thân ruồng bỏ anh.  Khi xã hội gạt anh ra bên lề cuộc sống.

Nhưng Đức Kitô đem đến cho anh ánh sáng ngập tràn.

Người chiếu vào đời anh ánh sáng hy vọng.  Tuy chưa được gặp Chúa, nhưng chỉ nghe những lời Chúa giảng, những việc Chúa làm anh đã tràn trề hy vọng.  Chúa có thể giải thoát anh khỏi định mệnh tăm tối vây bọc cuộc đời anh.  Người có thể đưa anh tới miền ánh sáng.  Tương lai anh sẽ thay đổi.  Cuộc đời anh sẽ tươi sáng.  Anh tràn ngập niềm hy vọng.  Niềm hy vọng trở thành ánh sáng chiếu soi cuộc đời anh.

Người chiếu vào đời anh ánh sáng đức tin.  Tuy chưa gặp Chúa nhưng anh đã hoàn toàn tin tưởng vào Chúa.  Không tin sao được vì chỉ có Chúa là Đấng duy nhất có thể cứu anh khỏi bóng tối.  Vì thế thoạt nghe tiếng Chúa anh đã kêu van lớn tiếng xưng tụng Người là Con Vua Đavít nghĩa là Đấng Cứu Thế.  Có lẽ những người đi đón Chúa hôm ấy đều có đôi mắt sáng.  Nhưng không ai có ánh sáng đức tin.  Vì không ai tin Chúa là Đấng Cứu Thế.  Trừ anh mù.  Mắt anh mù nhưng đức tin của anh sáng.  Nên anh là người duy nhất lớn tiếng tuyên xưng Chúa là Đấng Cứu Thế.  Niềm tin của anh thật mãnh liệt.  Dù bị mọi người chung quanh ngăn cản, niềm tin ấy không những không bị suy yếu mà còn càng trở nên mạnh mẽ hơn.  Bị mọi người đe dọa, cấm cản, niềm tin của anh càng vững vàng không gì có thể lay chuyển được, nên anh càng kêu to hơn.

Người đã chiếu vào đời anh ánh sáng tình yêu.  Chúa là tình yêu.  Chúa không nghe bằng tai nhưng nghe bằng trái tim.  Vì thế giữa đám đông hỗn độn của thành Giêricô phồn hoa, Chúa vẫn nghe được tiếng kêu van của một người con bé nhỏ ngồi bên vệ đường.  Không những Chúa nghe thấy tiếng lòng khốn khổ của anh mà Chúa còn ưu ái gọi anh đến.  Thật là một cử chỉ ưu ái quá sức tưởng tượng.  Giữa đám đông trong một thành phố phồn hoa, Chúa chẳng gọi ai trừ ra người mù ngồi bên vệ đường.  Chúa chẳng chờ đợi ai trừ ra chờ đợi người con nhỏ bé tội nghiệp bị bỏ rơi nhất thành phố đến với Chúa.  Đời anh chưa được ai yêu thương như thế.  Đời anh chưa được ai quan tâm như thế.  Đời anh chưa được ai mời gọi như thế.  Đời anh chưa được ai chờ đợi như thế.  Và Chúa còn hỏi anh muốn gì.  Đời anh chưa được ai âu yếm như thế.  Tình yêu Chúa làm cho đời anh bừng sáng.  Anh tìm thấy tất cả ý nghĩa cuộc đời khi gặp được Chúa.

Chúa đem ánh sáng đến cho anh.  Chúa là tất cả đời anh.  Anh không cần gì khác nữa.  Anh vất bỏ cả áo choàng là tài sản duy nhất.  Vì anh đã khám phá ra kho tàng quý giá nhất đời.  Anh đứng phắt dậy mà đến với Chúa vì tuy mắt chưa nhìn thấy mà lòng anh sáng như sao băng.  Và nhất là anh đi theo Chúa cho đến cùng vì Chúa chính là ánh sáng cho đời anh.  Chúa sẽ dẫn đường anh đi.  Đi đến sự thật và đến sự sống.

Đời sống tôi có nhiều bóng tối vì tôi chưa tin vào Chúa.  Đời sống tôi bế tắc vì tôi chưa đặt niềm hy vọng vào Chúa.  Đời tôi mệt mỏi chán chường vì tôi chưa yêu mến Chúa.  Hãy tin tưởng vào Chúa.  Ánh sáng đức tin sẽ chiếu soi đường đời tôi đi.  Hãy hy vọng vào Chúa.  Niềm hy vọng là ánh sáng ấm áp cho cuộc đời.  Hãy yêu mến Chúa.  Tình yêu Chúa là ánh sáng hướng dẫn mọi tư tưởng, lời nói, việc làm của tôi.  Hãy noi gương anh mù thành Giêricô bỏ tất cả mà theo Chúa.  Sống bên Chúa đời tôi sẽ ngập tràn ánh sáng.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

LỄ HIỆN XUỐNG

Một thanh niên đến gặp cha sở và phàn nàn:  “Cha có tấm hình nào của Chúa Thánh Thần không.  Mấy bức tranh vẽ Chúa Thánh Thần như chim bồ câu hoặc lưỡi lửa chẳng có ý nghĩa gì với con cả.  Con muốn có một tấm hình của Chúa Thánh Thần để treo trong phòng và cầu nguyện với Ngài.”

Cha sở ngẫm nghĩ một lát và nói với anh ta: “Con có tấm hình nào của Chúa Giêsu không?”  Anh mau mắn “Có chứ cha!  Nhiều lắm, nào là Thánh Tâm Chúa, Chúa Chăn Chiên, Chúa Thương Xót, Chúa Chịu Nạn, con đều có đủ cả.”  Cha sở gật gù: “Con cứ về chiêm ngắm mấy hình đó cũng được. Chẳng phải Chúa Giêsu đã nói ‘ai thấy Thầy thì thấy Cha Thầy sao?’  Nếu ai thấy Chúa Con là thấy Chúa Cha, thì ai chiêm ngắm Chúa Giêsu cũng là thấy Chúa Thánh Thần.  Không phải là Ba Ngôi chỉ có một bản tính thôi sao?”  Nhưng anh ta có vẻ chưa được thuyết phục.

Thấy thế, cha sở hẹn anh tuần sau gặp lại.  Đúng hẹn, anh ta đến và cha sở trao cho anh một khung hình bọc kín, ở ngoài có ghi hàng chữ:  “Mỗi lần nhìn vào đây con phải nở nụ cười.”  Mở ra, anh ta thấy có một tấm gương, trên khung có ghi: “Gặp gỡ Chúa Thánh Thần là gặp gỡ Chúa Kitô nội tại.   Con chính là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần.  Hãy nhìn vào khuôn mặt tươi vui của mình và ý thức rằng Ngài đang hiện diện trong con.  Rồi con cố gắng sống thế nào để tỏ cho mọi người thấy sự hiện diện của Chúa Thánh Thần ở trong con.”

****************************

Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy trong Ba Ngôi Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần là Đấng trừu tượng nhất, khó hình dung nhất, tuy gần nhưng thật xa.  Tuy cụ thể như gió, như lửa, như hơi thở…. như những thứ gì đó thật gần gũi trong đời sống con người nhưng lại khó mà nắm bắt trong thế giới hiện thực này.  Giáo lý Kitô giáo dạy chúng ta rằng Ngôi Ba Thiên Chúa không phải là một Thiên Chúa trừu tượng, được che giấu ở nơi xa xôi nào đó trên thiên đàng.  Nhưng Ngôi Ba Thiên Chúa chính là Đấng ngự ở ngay trong tấm lòng, trong nhân cách của mỗi người chúng ta, là Đấng đang làm việc ngày đêm nơi tâm hồn mỗi người để thánh hoá chúng ta trở nên giống hình ảnh của Thiên Chúa hơn.

Mầu nhiệm Hiện Xuống mời gọi chúng ta đáp trả lại sự hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi mỗi tâm hồn bằng cách mở rộng lòng ra để Ngài canh tân thửa đất cằn cỗi.  Dù tin hay không, dù tìm kiếm hay không, Chúa Thánh Thần vẫn đang, đã và sẽ tiếp tục hiện diện và làm việc trong đời sống người Kitô.  Như chàng thanh niên trong câu chuyện trên, vấn đề không phải là sự hiện diện của Chúa Thánh Thần mà là sự đáp ứng của anh mỗi khi nhìn vào khuôn mặt trong gương..

Mừng lễ Hiện Xuống, chúng ta không chỉ mừng một biến cố xảy ra cho các môn đệ của Chúa Kitô 2000 năm trước.  Đó còn là dịp chúng ta tỉnh thức về vai trò của Chúa Thánh Thần trong đời sống chúng ta.  Thánh Phaolô quả quyết rằng: “Không ai có thể tuyên xưng ‘Đức Giêsu là Chúa’ nếu người ấy không ở trong Thần Khí.  Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm nên mọi sự trong mọi người. Thần Khí Thiên Chúa tỏ mình ra nơi mỗi người một cách là vì  ích chung” (1 Cor 12:3-7).

Lễ Hiện Xuống đem đến cho chúng ta linh đạo của mỗi ngày và ở bất cứ đâu.  Lễ Hiện Xuống có thể biến đổi đời sống chúng ta và làm cho chúng ta có thể vượt bất cứ con sông nào ở trước mặt chúng ta, nhìn vào mặt bất cứ đám đông nào và cứ tiến tới, bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào vì lợi ích của Tin Mừng.

************************************

Lạy Chúa Thánh Thần,
xin ban sức sống cho chúng con.                                  
Xin cho cuộc đời kitô hữu của chúng con
đừng rơi vào sự đơn điệu nghèo nàn,
vào những lối mòn quen thuộc,

nhưng xin canh tân
và tái tạo chúng con mỗi ngày.

Xin nuôi chúng con bằng những thức ăn mới,
cho chúng con khám phá ra
những chiều sâu khôn dò của Ðức Kitô
và ý nghĩa thâm thúy của Tin Mừng.

Lạy Chúa Thánh Thần là Ðấng ban sự sống,
thế giới hôm nay luôn bị đe dọa
bởi bạo lực, khủng bố, chiến tranh ;
mạng sống con người bị coi rẻ.

Xin cho chúng con biết say mê sự sống,
và gieo vãi sự sống khắp nơi.

Ước gì Chúa ban cho nhân loại
một lễ Hiện Xuống mới
để con người có thể hiểu nhau hơn
và đón nhận nhau trong yêu thương

(Trích Manna năm C)
Bảo Lộc

AI LÀ THÁNH?

Minh Sư rất yêu thích những người tầm thường chất phát và hay nghi ngờ những người nổi tiếng đạo đức thánh thiện. Một ngày kia có một đệ tử đến hỏi ý Minh Sư về vấn đề hôn nhân, Ngài bảo:

– “Con phải cầm chắc là đừng bao giờ cưới một bà thánh.”

Người đệ tử ngạc nhiên hỏi lại:

– “Thưa Thầy! Tại sao không bao giờ?”

Minh Sư vui vẻ trả lời:

– “Bởi vì đó là cách chắc chắn nhất để biến con thành một người tử đạo.”

( Anthony de Mello, trích trong One Minute of Wisdom)

* * * * *

Bạn thân mến! Qua câu chuyện vui trên đây, chúng ta tự hỏi:

– Các thánh là ai ? Họ là những người nào?

– Đó là những người đã sống một đời sống gương mẫu, đã “yêu mến” nhiều và đã hy sinh nhiều đến quên mình, đã được Giáo Hội chính thức nhìn nhận và tôn phong để làm gương sáng cho các tín hữu noi theo.

Chắc hẳn các thánh không phải là những con người hoàn hảo, toàn thiện, tinh tuyền không vướng mắc lỗi lầm, thiếu sót hay tật xấu nào. Các thánh không phải là những người bất thường, kỳ dị, cũng không phải là những siêu nhân, những con người phi thường vượt lên trên đám đông nhân loại… Nhưng các thánh là những người bình thường như mọi người, có tất cả những yếu đuối và vấp ngã như mọi người, nhưng nhờ ơn Chúa giúp, họ đã chiến đấu không ngừng nghỉ để tiến tới mẫu mực của sự thánh thiện là chính Ðức Giêsu Kitô.

Không thể nghi ngờ: chỉ một mình Thiên Chúa là thánh và Ðức Giêsu Kitô là tấm gương phản chiếu trọn vẹn sự thánh thiện của Thiên Chúa. Người kitô sẽ là thánh nếu biết liên kết với Thiên Chúa nhờ Ðức Giêsu Kitô. Và người kitô cũng được mời gọi để được trở nên hoàn thiện giống như Cha trên trời, trở nên thánh thiện như Đấng Thánh ở trên trời

* * * * *

Lạy Chúa, Đời sống đạo đức thánh thiện không phải là đời sống chỉ dành riêng cho những linh mục, tu sĩ mà dành cho tất cả mọi người chúng con. Xin giúp con biết nhận ra “ơn gọi trở nên thánh” của mình, biết ý thức được mình là men cho bột, là muối cho đời, là ánh sáng cho thế gian, là môi miệng, là tay chân, là trái tim của Chúa Giêsu ở trần gian này, để qua đó khắp nơi trên mặt đất vang lên lời chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa là cha chúng con ở trên trời.  Amen.

BƯỚC CHÂN CỦA KIẾN

Này em,
có bao giờ em để ý
bước chân của loài kiến không nhỉ?

Loài kiến ấy
nhỏ bé
tầm thường
tưởng chừng như vô dụng
trong vũ trụ bao la.

Thế mà,
bước chân của kiến
lại là những bước chân
vĩ đại
và đẹp đẽ
vô cùng!

Ấy là
những bước chân
tìm đến nhau;
những bước chân
đem lại hòa bình;
những bước chân
tìm về hiệp nhất.

Dù ngược, dù xuôi
kiến tìm về gặp gỡ đồng loại
ôm hôn chào nhau
bằng nụ hôn thánh thiện (1Tx 5:26).

Này em,
có bao giờ em để ý
tình thương của loài kiến không nhỉ?

Vâng,
đã có đôi lần
em băn khoăn tự hỏi:
“Loài kiến có biết yêu thương không?”

Nhưng,
thật bất ngờ!
Có ngày Chúa đã cho em thấy
và nhận ra rằng:
Kiến cũng biết yêu thương!

Tình thương kiến vô lường
Ai có ngờ đâu được
Kiến tha xác anh em
Về nơi nao ai biết?
Anh em đã chết rồi
Tha về chi hả kiến?
Xác kia không sống nữa
Sao kiến không thấy “sợ?”
Sao không bảo là “ma?”
Sao kiến không tránh xa?
Sao lại mang về “nhà?”

Kiến tha xác anh em
Với dáng điệu trang trọng
Trong ôm ấp, yêu thương
Kiến tha ở trước đầu.

Em nào có ngờ đâu
Loài kiến nhỏ như thế
Lại có tình, có nghĩa
Với anh em đồng loại.
Thật đáng phục lắm thay!
Thật khâm phục lắm thay!

*********************************

Bạn thân mến,

Bước chân bạn là bước chân nào?

Bước chân vội vã của Maria Mađalêna đem dầu thơm đến viếng mồ vào rạng đông ngày thứ nhất trong tuần?  Hay bước chân hối hả, vui mừng về báo tin cho các môn đệ rằng: Ðức Kitô Giêsu đã chỗi dậy từ cõi chết?

Hay bước chân chạy vội vã đến mồ của Phêrô và Gioan để rồi hăng say đi loan báo tin mừng Chúa sống lại?

Hay bước chân mệt nhọc, thất vọng như hai môn đệ trên đường Emmau và rồi hăng hái lên đường trở lại Giêrusalem loan tin vui Phục sinh ngay sau khi nhận ra Ðức Kitô lúc Người bẻ bánh?

Hay bước chân nhiệt thành của Phaolô đem tin mừng cứu chuộc đến cho dân ngoại?

Bạn ạ,

Bạn và tôi tất cả đều được mời gọi đưa bước để gieo rắc tin mừng Chúa Kitô Giêsu phục sinh.  Thế bước chân chúng ta là bước chân nào?

“Ðẹp thay trên đồi núi bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ.” (Isaia 52:7)

NYKT

CHỨNG NHÂN TÌNH YÊU

Một truyền thuyết kể lại rằng:  Khi Chúa Giêsu về đến trời, thân thể Người vẫn còn đầy thương tích, không chỗ nào lành lặn.  Các thiên thần vừa thấy thì quỳ xuống trước mặt Người tỏ lòng thương kính Người, vì không ngờ Người phải mang thương tích trầm trọng đến thế.

Một lúc sau, thiên sứ Gáp-ri-en tâu:

– Lạy Chúa, Chúa chịu thương tích đau khổ như vậy mà thiên hạ có biết sự hy sinh và tình thương hải hà của Chúa không?

– Chỉ một ít thôi, phần đông họ chưa biết Ta là ai, làm gì cho họ.

Thiên sứ ngạc nhiên tâu tiếp:

– Thế Chúa về trời, làm sao họ biết Chúa hy sinh chịu chết cho họ?

– Ta có bảo Phêrô, Giacôbê, Gioan và số bạn hữu đi nói họ biết, rôì đến lượt họ một khi đã biết được thì đi nói với người khác nữa. Nhờ đó, cả thế gian sẽ biết tình yêu Ta dành cho họ.

Thiên sứ nghe thế càng bối rối, vì qúa rõ loài người yếu đuối hèn nhát:

– Lạy Chúa, nếu lỡ Phêrô, Giacôbê, Gioan và số bạn hữu mệt mỏi thất bại ngã lòng, rồi số người mới được nghe nói về Chúa lần hồi quên mất rồi sao? Chúa không dự bị kế hoạch nào à?

–  Ta đã dự liệu tất cả.  Nhưng Ta tin chắc Phêrô, Giacôbê, Gioan sẽ không làm Ta thất vọng, và những người được họ loan báo cũng sẽ không làm Ta thất vọng.

**************************

Đúng như Lời Chúa tiên đoán:  Phêrô, Giacôbê, Gioan và những kẻ được nghe các ông loan báo Tin mừng đều không phụ lòng Người .  Họ đã đi khắp thế giới rao truyền Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh, đã lấy máu mình làm chứng cho đức tin.  Tiếp nối bước chân họ là những bước chân các vị thừa sai, bỏ quê cha đất tổ đến những miền đất xa lạ để tiếp tục mang Tin Mừng đến cho mọi người.  Máu họ đã đổ xuống trên quê hương Việt Nam, máu những người bản xứ được tiếp nhận Tin Mừng cũng đổ xuống để minh chứng cho điều họ tin.  Còn con cháu của những vị thánh Tử Đạo thì sao?  Họ đang sống cuộc đời như thế nào?  Họ có tiếp tục làm chứng cho đức tin của mình không?  Họ có làm cho Chúa Giêsu Thăng Thiên thất vọng hay không?

Làm chứng cho tình yêu Chúa, đó không chỉ là bổn phận của riêng Phêrô, Giacôbê, Gioan, của hàng linh mục, giáo sĩ, tu sĩ… nhưng là nhiệm vụ của tất cả những người tin vào Chúa qua phép rửa.  Ai cũng có thể làm chứng cho Chúa qua cuộc sống hiện tại của mình, đó là ơn gọi nên thánh giữa đời.  Chẳng cần phải bỏ gia đình, bỏ công ăn việc làm đi vào một vùng đất xa xôi mới gọi là rao truyền Tin Mừng.  Lời Chúa được rao giảng hữu hiệu nhất qua cuộc sống của chính mình, từ trong gia đình, bạn bè, cộng đoàn, hãng xưởng….  Người Samaria tốt lành chẳng hề có ý định rao giảng điều chi, nhưng qua hành động nhân ái của ông với đồng loại mà ông đã trở thành nhân chứng sống của tình yêu.

Chúa Giêsu về trời dù biết rằng các môn đệ đang rất cần Ngài, Ngài về Trời mang theo một niềm tin mãnh liệt vào loài người yếu đuối.  Ngài biết nếu họ có tình yêu, tin vào tình yêu và với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần thì họ sẽ làm được.  Hơn 2000 năm qua, hạt giống Tin Mừng, hạt giống Tình Yêu của Giêsu đã được gieo vãi khắp nơi và sẽ được tiếp tục gieo rắc khắp chân trời góc bể, nhưng Chúa vẫn tiếp tục chờ đợi trên trời cao!  Chờ đợi sự góp tay của những người con thụ động đang nhắm mắt, bịt tai lặng im trước lời mời gọi yêu thương.

Sưu Tầm

**************************

Lạy Chúa Giêsu Thăng Thiên, Ngài biết con cần Ngài biết bao trong cuộc sống trăm nghìn thử thách này, thế mà Chúa vẫn về Trời để lại sứ mạng lớn lao lên đôi vai nhỏ bé.  Chúa ơi, con tin vào Lời Chúa hứa, tin vào sức mạnh Chúa Thánh Thần Ngài sẽ ban cho con.  Xin cho con được trở thành nhân chứng tình yêu qua cuộc sống mà con đang phải cố gắng vươn lên từng giây, từng phút.  Dù là một ánh sáng leo lét, nhưng xin cho ánh sáng đó được thắp lên giữa lòng cuộc đời.   Amen!

Lang Thang Chiều Tím