LÁ THƯ TÌNH YÊU CỦA CHA TRÊN TRỜI

Con yêu dấu

Có thể con không biết Cha, nhưng Cha biết rõ mọi điều về con (Tv 139, 1)
Biết cả khi con đứng con ngồi (Tv 139, 2)
Mọi nẻo con đi, Cha đều quen thuộc (Tv 139,3)
Từng sợi tóc trên đầu con, Cha cũng đều biết rõ (Mt 10, 29-31)
Vì con được dựng nên theo hình ảnh Cha. (St 1, 27)

Trong Cha, con sống, chuyển động và hiện hữu (Cv 17, 28)
Vì con thuộc dòng tộc của Cha. (Cv 17,28)
Cha biết con trước khi con thành hình trong dạ mẹ (Gr 1,4-5)
Cha đã chọn con khi thiết lập kế hoạch muôn đời. (Ep 1, 11-12)
Sự hiện hữu của con không phải là chuyện tình cờ,

vì mọi ngày của con đều được ghi trong sách của Cha (Tv 139, 15-16)
Cha xác định lúc con sinh ra và nơi con sẽ sống (Cv 17, 26)
Con được dựng nên lạ lùng và kỳ diệu. (Tv 139, 14)
Cha dệt hình hài con trong dạ mẫu thân con (Tv 139, 13)
Và đã kéo con ra khỏi lòng mẹ. (Tv 71,6)
Cha đã bị những người không biết Cha vẽ thành biếm họa (Ga 8, 41-44)
Nhưng Cha không xa cách hay cuồng nộ, mà chỉ là Tình Yêu, (1Ga 4,16)
Và điều Cha ước mong là tuôn đổ tình yêu ấy trên con (1Ga 3,1)

Chỉ vì con là con của Cha và Cha là Cha của con. (1Ga 3,1)

Cha ban tặng cho con nhiều hơn người cha dưới đất của mình (Mt 7,11)
Bởi vì Cha là người cha trọn hảo. (Mt 5,18)
Mọi ân huệ con nhận đều xuất phát từ tay Cha (Gc 1,17)
Vì Cha cung cấp và đáp ứng mọi nhu cầu của con. (Mt 6, 31-33)
Kế hoạch của Cha dành cho tương lai con luôn được hoàn thành trong hy vọng (Gr 29,11)
Vì Cha yêu thương con với một tình yêu muôn đời. (Gr 31,3)
Tư tưởng Cha dành cho con thì nhiều vô kể như cát trên bãi biển (Tv 139, 17-18)
Và Ta vui mừng vì con bằng tiếng hát. (Xp 3,17)
Cha không bao giờ ngưng làm điều lành cho con (Gr 32,40)
Vì con là sở hữu của riêng Cha. (Xh 19,5)
Cha lấy làm vui mà thi ân cho con (Gr 32,41)
và muốn tỏ cho con biết những điều lớn lao và diệu kỳ. (Gr 33, 3)

Nếu con tìm kiếm Cha hết lòng, thì con sẽ tìm thấy Cha (Tl 4, 29)

Hãy lấy Cha làm niềm vui của con và Cha sẽ cho con được phỉ chí toại nguyện (Tv 37, 4)
Vì chính Cha ban cho con những ý nguyện đó. (Pl 2, 13)
Cha có thể làm cho con nhiều điều hơn con có thể tưởng tượng (Ep 3, 20)
Vì Cha là Đấng khuyến khích con không ngừng. (2 Tx 2, 16-17)
Cha còn là người Cha từ bi lân ái và sẵn sàng nâng đỡ ủi an (2 Cr 1, 3-4)

Khi con gặp ưu phiền, Cha luôn ở cạnh con. (Tv 32, 18)
Như người mục tử ẳm bồng con chiên, Cha cũng bồng con cạnh lòng Cha (Is 40, 11)
Rồi đến ngày Cha sẽ lau sạch mọi giọt nước mắt con (Kh 21, 3-4)
Và sẽ xóa đi mọi đau khổ con đã chịu dưới đất này. (Kh 21, 3-4)
Cha là Cha của con, và Cha yêu con như Cha yêu người con Giêsu của Cha (Ga 17, 23)
Vì trong Giêsu, tình yêu Cha đã được mặc khải. (Ga 17, 26)
Ngài là hình ảnh trung thực về Cha (Dt 1, 13)
Ngài đến để làm chứng rằng Cha ở bên con, chứ không chống lại con (Rm 8, 31)
Và để nói với con rằng Cha không xét đến tội lỗi con. (2 Cr 5, 18-19)
Giêsu đã chết đế hòa giải Cha với con (2 Cr 1, 18-19)
Cái chết của Ngài là lời tỏ tình tối hậu của Cha đối với con. (1 Ga 4,10)
Cha đã hy sinh mọi sự để dành lại tình yêu của con (Rm 8, 31-32)
Nếu các con đón nhận Giêsu con Cha, thì con đón nhận Cha (1 Ga 2, 23)
Và không gì có thể tách con ra khỏi tình yêu của Cha. (Rm 8, 38-19)
Con hãy trở về và Cha sẽ tổ chức bữa tiệc Nước Trời lớn chưa từng thấy. (Lc 15,7)
Cha từng là Cha và sẽ mãi là Cha. (Ep 3, 14-15)
Và đây là câu hỏi của Cha: Con sẽ là con của Cha không? (Ga 1, 12-13)
Cha đang chờ đợi con. (Lc 15, 11-32)

Yêu con,
Cha của Con: Thiên Chúa Tối Cao

SỐNG TRỌN KIẾP NGƯỜI

Khi cất tiếng khóc chào đời, chúng ta khởi đầu hành trình dương thế hay bước vào kiếp người.  Hành trình cuộc đời của mỗi người dài ngắn khác nhau.  Có những hành trình nhẹ nhàng êm ả, nhưng cũng có những hành trình gai góc gian truân.  Dù ngắn hay dài, dù nhẹ nhàng hay vất vả, mỗi chúng ta đều phải cố gắng để sống trọn kiếp người.

Cuộc sống này đầy phong ba bão táp.  Sống ở đời phải can đảm kiên trung và chấp nhận những thử thách ấy.  “Lửa thử vàng, gian nan thử đức.”  Chắng có ai sống trên cõi đời này mà không gặp gian nan.  Những vĩ nhân được ca ngợi trong lịch sử, cũng như những vị thánh của Giáo Hội, đều là những người “từ đau khổ lớn lao mà đến.”  Họ không nản lòng trước những khó khăn, nhưng bình tâm trước những vu khống, bao dung tha thứ cho những xúc phạm, sống hiền hòa kể cả với địch thù.  Có người khi đứng trước khó khăn tưởng chừng như ngõ cụt của cuộc sống, đã tiêu cực tìm đến cái chết như một phương pháp giải thoát, để lại đau khổ cho những người thân.  Người ta nói “Thử thách của can đảm không phải là dám chết mà là dám sống và thực hiện ước mơ của mình.”  Tự kết liễu cuộc đời được xem như hèn nhát, nhất là trước những thất bại do chính mình gây ra.  Nếu sai lỗi mà tìm đến cái chết, thì làm sao còn cơ hội để sửa lại?  Những người kiên trì can đảm, vững vàng vươn lên sau vấp ngã, chắc chắn sẽ thành công để tiếp tục bước đi, để sống trọn kiếp người.

Giáo Hội công giáo thường phong thánh cho những tín hữu đã có một đời sống thánh thiện, mẫu mực.  Việc phong thánh chỉ được thực hiện cho những người đã chết, vì sự thánh thiện chỉ được chứng minh và xác nhận khi một người đã sống trọn kiếp người nơi dương thế.  Luật Giáo Hội cũng quy định, địa phương, nơi người tín hữu đó qua đời mới có quyền thỉnh nguyện xin Toà Thánh tôn phong.  Lý do vì chỉ những ai chứng kiến người tín hữu ấy sống đạo đức cho đến hết đời mới chứng minh người ấy có thực sự thánh thiện hay không.  Đơn cử trường hợp Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.  Ngài là người Việt, nhưng trong những năm tháng cuối đời, ngài làm việc tại Rôma.  Vì thế Giáo phận Rôma được quyền làm hồ sơ và dâng thỉnh nguyện lên Đức Thánh Cha để ghi nhận sự thánh thiện và phong chân phước cho ngài.  Hiện nay, tiến trình phong chân phước đã hoàn thiện ở cấp giáo phận Rôma.  Ngài được gọi với danh xưng “Tôi tớ Chúa” và hồ sơ đã được trình lên Đức Thánh Cha cho những bước kế tiếp.  Vị Hồng y đáng kính của chúng ta, cũng như biết bao tín hữu khác đang được xét duyệt để tôn phong, đã sống trọn kiếp người.

Ngôn ngữ Việt Nam gọi một người vừa qua đời là “mãn phần”, tức là đã đầy đủ, trọn vẹn thời gian và hoàn thành phận vụ của mình trên dương thế.  Tuy vậy, có người mãn phần mà chưa trọn kiếp, nghĩa là những người chết mà còn những dang dở trăm chiều.  Có người sống thất đức, suốt đời làm những điều xấu xa, cuối đời không thể nhắm mắt.  Người khác ra đi trong lúc còn vương vấn nợ đời.  Đó là những món nợ vật chất, nhưng cũng là những món nợ ân nghĩa mà mình nỡ phủi tay theo kiểu “qua sông dìm đò”, “qua cầu rút ván.”  Có những người sống vô trách nhiệm với gia đình và những người thân, đến cuối đời trăn trở một mối ân hận khôn nguôi.  Họ muốn chuộc lại lầm lỗi nhưng quá muộn, chẳng còn cơ hội nữa.  Rất may trong cuộc sống đầy bon chen này, thời nào cũng có những người cố gắng sống nhân hậu.  Họ ý thức rằng “gieo nhân nào, gặt quả nấy.”  Dù còn nhiều khó khăn, nhưng họ vẫn cố gắng giữ cái tâm trong sáng, hiếu thảo với cha mẹ ông bà, chân thành với bạn bè lối xóm.  Đến khi mãn phần, họ ra đi thanh thản, để lại cho hậu thế tiếng thơm.  Đúng như người ta nói: “Hãy sống sao để khi ta sinh ra, ta cất tiếng khóc, mọi người cười, và khi ta ra đi, ta cười mãn nguyện trong lúc mọi người khóc.”  Những người trút hơi thở cuối cùng khi đã chu toàn bổn phận với cuộc đời, thanh thản ra đi để lại những kỷ niệm đẹp, nhất là tình thương mến dạt dào nơi những người quen biết, đó là những người đã sống trọn kiếp người.

Cách nay hai ngàn năm, có một người đã đi trọn kiếp người trong sự thánh thiện và trong hy sinh tự hiến, đó là Đức Giêsu Kitô.  Người là Con Thiên Chúa nhập thể để cứu độ con người.  Thánh Gioan, tác giả của Tin Mừng thứ bốn, đã ghi lại lời Chúa Giêsu khi hấp hối: “Mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19,30). Người đã hoàn tất chương trình cứu độ của Thiên Chúa Cha, khi đón nhận thập giá và chết thảm thương như một người tử tội.  Qua cuộc khổ nạn và cái chết của Người, lời Kinh Thánh từ ngàn xưa được ứng nghiệm. Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng trong tâm tình vâng phục Chúa Cha và yêu mến con người.  Cái chết của Chúa Giêsu, cũng theo Tin Mừng thánh Gioan, được diễn tả như một nghĩa cử của lòng hiếu thảo với Chúa Cha: “Người gục đầu trao Thần Linh” (Ga 19,30).  Thần Linh là Ngôi Ba Thiên Chúa, xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con.  Ngài cũng là Tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con. Tình yêu ấy đã trở thành một ngôi vị trong Ba Ngôi Thiên Chúa.  Giờ đây, trên thập giá, Chúa Giêsu “trao Thần Linh”, tức là trao sự sống và tình yêu cho Chúa Cha.  Đây vừa là một nghĩa cử hiếu thảo, vừa là một cử chỉ của tình yêu mến và vâng phục hoàn toàn.  Trên thập giá, Đức Giêsu là mẫu mực cho mọi con người, là lời mời gọi hãy sống vì người khác, hãy cho đi mà không cần tính toán, hãy yêu thương mà không mong đáp đền.  Vị Ngôn sứ thành Nagiarét đã sống trọn kiếp người “Sống ở đời, Trời gọi ai, nấy dạ.”  Câu nói bình dân này diễn tả huyền nhiệm của sự chết.  Chẳng ai biết thời điểm của sự chết.  Cũng chẳng ai biết sẽ chết trong hoàn cảnh nào.  Dù trẻ hay già, dù sang hay hèn, Ông Trời gọi ai thì người ấy đi, chẳng ai đi thay được, cũng không ai nấn ná khất lần.  Khi biết rằng cái chết là bất chợt, mỗi chúng ta hãy tỉnh thức và sẵn sàng.  Đó cũng là lời mời gọi của Chúa Giêsu trong Tin Mừng (x. Mt 24,42-51).  Dù không biết đó là lúc nào, nhưng chắc chắn giờ chết sẽ đến.  Nếu giờ ấy là thời điểm kinh hoàng đối với những ai chủ quan sống trong đam mê hận thù, thì lại là giây phút hân hoan hội ngộ đối với những ai cố gắng sống trọn kiếp người.

Nghĩ về cuộc sống tương lai, mỗi chúng ta được mời gọi sống tốt hiện tại, vì tương lai là kết quả của những gì chúng ta đang cố gắng thực hiện ngày hôm nay.  Tác giả của những câu chuyện ngụ ngôn người Pháp, ông La Fontaine, đã viết: “Hãy sống vô tư nhưng không khinh suất; vui tươi nhưng không ầm ĩ; can đảm nhưng không liều lĩnh; tin tưởng và vui vẻ cam chịu nhưng không theo thuyết định mệnh.”  Cuộc sống hằng ngày đầy gian nan phức tạp, nhưng cũng là cơ hội để chúng ta rèn luyện bản thân và từng bước trưởng thành.  Người tín hữu tin rằng, môi trường sống hằng ngày cũng là nơi họ được Chúa sai đến để làm chứng cho Ngài.  Hiền hòa nhân hậu, bác ái khiêm nhường, bao dung tha thứ… những đức tính căn bản này vừa giúp chúng ta phản ánh sự thánh thiện và lòng nhân từ của Thiên Chúa, vừa giúp cho chúng ta sống trọn kiếp người.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

ĐỒNG KẼM ĐỒNG XU CỦA TÔI ĐÂU?

Trong những ngày cuối niên lịch phụng vụ, khi mà Hội Thánh muốn mọi Kitô hữu suy niệm nhiều về các chân lý thời sau hết (tứ chung), chúng ta được mời gọi hướng tư tưởng về ngày “phán xét”, khi mỗi người đều phải “đứng trước mặt vị thẩm phán chí công.”  Để chuẩn bị cho ngày đó, vấn nạn sẽ là: vị Thẩm Phán sẽ dùng tiêu chuẩn nào để phán xét tôi, cái “chí công” của Ngài sẽ ra sao?  Trình thuật Mác-cô hôm nay về “đồng xu đồng kẽm của bà góa” được đặt ngay trước bài giảng dài về cánh chung trong chương 13, chắc hẳn phải soi chiếu một điều gì đó vào các vấn nạn trên.  Mong rằng nó sẽ mang lại một giải đáp đầy an ủi mang tính Tin Mừng thật sự cho cái viễn tượng phán xét, thường vẫn tạo nên bao hãi hùng kinh khiếp.

Thẩm Phán chí công sẽ xét xử theo tiêu chuẩn nào?  Người ta vẫn thường dạy rằng Thiên Chúa phán xét mỗi người theo công tội họ đã làm trong cuộc sống: nếu là người lương thiện ngay lành, tôi sẽ được thưởng, còn nếu làm điều dữ điều trái, tôi sẽ bị luận phạt muôn đời muôn kiếp.  Căn cứ theo tiêu chuẩn này, tôi sẽ là người hoàn toàn trách nhiệm và chủ động về thưởng phạt; ơn thánh Chúa nếu có, cũng chỉ đóng vai trò trợ giúp.  Tuy nhiên Giáo lý Công giáo lại dạy rằng, ơn cứu độ của Đức Kitô là cần thiết (essential) cho hết thảy mọi người, vì mọi người đều phạm tội.  Nếu quả thật như thế, thì quan niệm phán xét trên có cái gì đó không ổn!  Không một ai, cho dầu có cố gắng tu luyện tới đâu đi nữa, có thể ra trước tòa phán xét “xúng xính trong bộ áo thụng… đáng chiếm ghế danh dự” vì đinh ninh rằng khi còn sống mình đã thu tích đủ “công nghiệp” để đáng được thưởng công.  Trước mặt vị Thẩm phán chí thánh chí công đó, mọi người đều chỉ là: “đầy tớ vô dụng” (Lc 17:10).  Thế nhưng may mắn thay trong ngày phán xét, vị Thẩm Phán lại cũng chính là Giêsu đang “ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho đền thờ… quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao.”  Người sẽ không khen thưởng những kẻ bỏ thật nhiều tiền vào thùng, nhưng lại đề cao “một bà góa nghèo”, vì bà đã dâng cúng vào đền thờ “hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu” mà bà đã “rút ra từ cái túng thiếu của mình.”  Như thế để chuẩn bị sẵn sàng cho ngày ra trước vị Thẩm Phán chí công, tôi rất cần biết cái “rút ra từ cái túng thiếu của mình” đó có nghĩa là gì?  Làm thế nào để Ngài cũng sẽ gọi các thần thánh lại, chỉ vào tôi và nói: “tên nghèo nàn đốn mạt này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết!”

“Đồng tiền kẽm… rút ra từ cái túng thiếu” chắc chắn không phải là: các việc lành phúc đức tôi đã làm được trong đời, các thành công hoành tráng để có thể xứng đáng được “người ta chào hỏi” tung hô trên thiên quốc; đó phải mãi mãi vẫn là những gì vô giá trị như đồng kẽm, đồng xu trước mặt người đời, nhưng lại vô cùng quí hóa trước mặt Thiên Chúa từ nhân.  Phải chăng đó là: những cố gắng, những nỗ lực vươn lên khỏi sự thấp hèn yếu đuối tột cùng của mình… nhưng đã thất bại, vẫn hoàn toàn sụp đổ chẳng đi tới đâu.  Sẽ chẳng bao giờ có ai trong đời, ngay cả chính tôi, đánh giá cao những điều đó, nếu không có cặp mắt “quan sát” vô cùng chí công nhưng rất mực nhân hậu của Đức Kitô từ nhân.  Có thể như đa phần  mọi người, tôi phải thừa nhận: bất chấp những nỗ lực cố gắng, đời mình thành đạt không nhiều, nhưng thất bại thì lắm; “Điều tôi muốn thì tôi không làm, còn điều tôi ghét thì tôi cứ làm” (Rm 7:15).  Rất nhiều khi tôi thấy mặc cảm và thất vọng vô cùng về các yếu đuối, sa ngã mình vướng mắc.

May mắn thay, trong niềm tin vào Thiên Chúa từ nhân, suy đi nghĩ lại, tôi còn thấy: đời mình – và rất có thể nhiều mảnh đời khác cũng thế – không thiếu những đồng kẽm đồng xu của các nỗ lực vô vọng này; vì tuy được tạo dựng “nhân chi sơ tính bản thiện”, và mang trong người “hình ảnh của Thiên Chúa”, kiếp sống ô trọc nào mà không tránh khỏi các bất toàn yếu đuối?  Do đó điều quan trọng nhất trong đời chưa hẳn là tránh được tội lỗi, nhưng là làm sao tranh thủ được cặp mắt “quan sát” đầy từ tâm ấy, cặp mắt từng nhận ra giá trị của “đồng kẽm” nơi bà góa, đồng xu nơi Phê-rô, nhưng lại không tìm thấy nơi các Biệt phái, thượng tế.  Chỉ có thế thôi, và ngày phán xét sẽ đâu còn gì đáng sợ nữa!

Mẹ Tê-rê-sa Calcutta hay lặp lại câu nói sau đây: “Chúa không muốn nhìn thấy bao nhiêu việc bác ái tôi đã làm, nhưng Ngài muốn nhìn thấy bao nhiêu bác ái tôi đã nỗ lực đem vào các công việc của tôi”.  Hình như Lời Chúa hôm nay cũng nhắc lại cùng một chân lý đó: Chúa không phán xét tôi căn cứ vào những gì tôi đạt được, nhưng cặp mắt nhân ái của Người muốn tìm thấy nơi tôi những đồng kẽm nhỏ nhoi của nỗ lực vươn lên thầm kín trong mọi tình huống cuộc đời.  “Còn bà này thì rút ra từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản” hẳn mang nội dung rất an ủi đó chăng?

Nếu quả là như thế thì, cho những người yếu đuối và tội lỗi như tôi, Tin Mừng đích thực là đây: Tin Mừng có khả năng làm cho đứa con hoang đàng hay tên cướp bị tử hình trên thập giá thay vì hãi sợ, sẽ ra trước vị Thẩm Phán “đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu rỗi” (Lc 21:28).

“Hãy tạ ơn Chúa vì Ngài nhân lành, vì tình thương của Ngài bền vững muôn năm!” Lạy Chúa, con muốn cất lời ca ngợi lòng thương xót hải hà của Chúa, khi sống và nhất là trong giờ chết.  Lòng thương xót đó cho phép con không mạc cảm trước những yếu đuối thiếu xót của mình, hơn nữa còn có khả năng biến chúng thành nguồn an ủi và hy vọng cho đến muôn đời.  Xin cho con đừng bao giờ xa rời cặp mắt yêu thương đó, bây giờ và trong giờ lâm tử. Amen.

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

ĐỨA BÉ LƯỢM VE CHAI

(Câu chuyện đứa trẻ ăn xin cho cuộc sống của những mẹ mìn)

Thường  thì khoảng 10 giờ đêm tôi mới bắt đầu cuộc hành trình “lang thang” đi tìm chỗ các trẻ bụi đời sinh sống nên… tối 28 tết, tôi hoà mình với dòng người tấp nập dạo bộ ra trung tâm Sài Gòn. Khu vực vườn hoa Tao Đàn và vườn hoa Nguyễn Huệ chật kín người. Con đường Lê Lợi rộng thênh thang nhất Thành Phố cấm không cho xe lưu thông chỉ dành cho người đi bộ. Những chiếc lồng đèn vĩ đại treo hai bên đường càng làm sống động hơn không khí tết. Các nam thanh nữ tú, với áo quần muôn màu muôn sắc với đủ các kiểu dáng (đúng là tết “hội nhập”), mà hầu hết là không hợp với vóc người và văn hoá Việt Nam cứ bám sát vào nhau, đến độ tôi ước tính ngay cả con vi khuẩn nhỏ nhất của máy vi tính cũng không thể chui qua được những khoảng cách giữa hai con người ấy. Rồi đến những người da trắng, nhiều không thể đếm nổi. Họ hoà lẫn trong dòng người – họ nhảy múa theo tiếng nhạc được phát ra hết công xuất từ những chiếc loa hai bên đường. Không những chỉ có các đôi nam nữ ham vui, mà các cặp sồn sồn thì cũng không thiếu. Có điều hình như họ vẫn còn bẽn lẽn trong cách “thân thiện” của họ trước đám đông – họ chất phác hơn trong các cử chỉ, tay họ chỉ chỏ những mới lạ được dựng dọc theo con đường và khẽ nói vào tai nhau khi có chuyện cần.  Đối lập với họ là những bạn trẻ tuổi trung học, họ đi với nhau theo từng nhóm và nơi nào có họ, nơi đó ồn ào náo nhiệt, và ánh đèn của máy chụp hình liên tục sáng lên! À, cũng còn nữa, đó là thành phần… như tôi. Những kẻ lẻ loi một mình – những kẻ không có bồ hay gia đình – những kẻ độc thân vô điều kiện và những kẻ độc thân có điều kiện.

Vừa thả bộ vừa miên man suy nghĩ bỗng một hình ảnh đập vào mắt tôi. Hình ảnh này khác với các hình ảnh khác. Không phấn son, không lòe loẹt áo quần, không điện thoại cầm tay, không máy hình, không dầy dép, nói chung là không… có gì đặc biệt.  Chỉ khác lạ. Một em nhỏ khoảng độ 7 hay 8 tuổi, hai tay xách hai bịch sốp đựng đầy những chai nước suối, hay lon coca đã uống hết được người ta vất xuống đường và kẹp vào nách một ít chai còn lại. Cứ đi khoảng một hai bước, những cái chai kia lại rớt xuống, và em lại ngồi xuống nhặt lên, rồi lại đi, lại rớt và lại nhặt.

– Thằng nhóc này tránh ra cho tao chụp hình coi. Một nhóm bạn trẻ quát vào mặt cậu bé. Vừa dứt lời, một cô gái mặc váy thật đẹp lấy chân đá các bình nhựa đó qua một bên rồi sửa lại y phục làm điệu trước ống kính máy hình một cách rất… vô tư như không có gì xảy ra.

Cậu bé không nói gì, hai tay cầm hai bịch sốp và vội vã đuổi theo những cái chai nhựa đang lăn long lóc và bị dòng người đông nghẹt đá qua đá lại. Tôi nhìn thật kỹ, cậu lủi bên này rồi chạy bên kia, mà vẫn chưa chụp được cái chai. Vì mỗi khi cậu vừa trờ tới thì đã có một đôi chân nào đó đá nó đi chỗ khác. Nhìn cậu đuổi theo những cái chai mà tôi gần như ngộp thở. Ờ mà sao tôi dở thế nhỉ?  Sao tôi không giúp cậu bé mà cứ đứng trơ ra như đá nhìn xem chuyện gì xảy ra.

Cậu vẫn cứ đuổi theo cái chai nhựa cho đến khi một cái chân cổ thụ chặn cái chai lại cho cậu. Cậu ngước mắt nhìn lên, một người da trắng cao to đang đứng trước mặt. Cậu khiếp người, không dám nhìn lên mà tính toan bỏ đi. Bỗng người đàn ông đó cúi xuống cầm lấy cái chai, đưa cho cậu rồi lấy hết đồ trong cái túi nylong thật lớn mà ông đang cầm trên tay ra, rồi đưa cho cậu cái túi đó và giúp cậu bỏ hết tất cả các chai nhựa và lon coca vào đó – sau đó tôi còn thấy ông cho cậu một ít tiền, cười vui vẻ vỗ vào vai cậu, nói một vài câu gì đó rồi đi.

Tự dưng tôi cảm thấy xấu hổ – Xấu hổ cho chính tôi và cho tất cả người Việt Nam. Không một ai giúp cậu bé đáng thương kia, mà phải để một du khách, một con người không cùng ngôn ngữ làm cái điều mà đúng ra chúng ta phải làm. Ôi cái câu ca dao “Nhiễu điều phủ lấy giá gương – Người trong một NƯỚC phải thương nhau cùng” đâu rồi nhỉ. Vừa nghĩ đến đó tôi quyết định làm quen với cậu bé…

– Chào cháu, chú có thể làm bạn với cháu được không?

Tôi tiến lại gần đứa bé và cất giọng. Thằng bé không trả lời, nhìn tôi có vẻ sợ hãi “không tin tưởng” và tiếp tục bước đi. Tôi đuổi theo, lấy tay giữ nhẹ nó lại và nói:

– Nãy giờ chú để ý cháu đó. Chú thấy thương cháu một mình – mà chú cũng một mình, nên chú muốn làm bạn với cháu đêm nay, được không?

Thằng bé có vẻ vẫn còn bán tín bán nghi, nhìn tôi chằm chằm. Tôi “tán” tiếp:

– Chú không có bạn bè ở thành phố này, chú thật sự muốn làm bạn với cháu mà. Chú muốn mời cháu đi ăn tối với chú. Hai chú cháu mình qua chợ đêm Bến Thành ăn nhé.

Thằng bé vẫn không nói gì.  Mặc kệ, tôi nhẹ nhàng đưa tay ra cầm lấy hai cái bịch nylong đựng đầy các đồ “ve chai” của nó, tay kia cầm tay nó và dẫn nó đi. Thằng bé nhìn quanh có vẻ sợ hãi nhưng vẫn không nói gì. Nó đi theo tôi, nhưng đầu vẫn cứ ngoái lại đằng sau như có điều gì không ổn. Tôi hỏi:

– Cháu tìm gì vậy? Hay cháu có bạn, có muốn chú mời bạn cháu cùng đi không?

– Dạ không.

Thằng bé nói câu đầu tiên. (và sau này tôi mới biết cũng là câu đối thoại cuối cùng với tôi).

Cứ mỗi tối tôi ra chợ Bến Thành ăn đêm thì các quán tha hồ tranh thủ mời, có khi họ còn ra giữa đường chèo kéo, thế mà tối nay… chẳng ai thèm đả động với tôi một câu. Nhưng tôi hiểu, vì tôi đã quen với cái cảnh này lắm rồi, nên tôi dẫn thằng bé vào góc trong cùng của một cái quán để tránh những cái nhìn… “soi mói”. Thế mà chúng tôi cũng không tránh được những cái liếc mắt khó chịu từ những người đang ăn cho đến chị chủ quán. Tôi hỏi thằng bé muốn ăn gì, nó lắc đầu không nói (hay không biết). Tôi đánh liều gọi hai tô bún bò giò heo và thêm một ít móng heo để gặm. Mong rằng sẽ câu giờ để có cơ hội nói chuyện với thằng bé. Thằng bé vẫn không nói gì. Nó vừa ăn mà vừa lấm lét nhìn chung quanh và nhìn ra đường. Ngay cả người “giỏi bắt chuyện” như tôi mà cũng không thể nào cậy răng nó ra được thêm chữ nào. Tôi hỏi thì một là nó lắc đầu, hai là nó gật đầu. Tôi vận dụng hết tài năng khéo léo của mình, khả năng giao tiếp cho đến những đòn tâm lý học. Tất cả đều vô hiệu…

– (Văng tục…) Mày trốn hả? Biến đi đâu nãy giờ? Ai cho mày vô đây. (Văng tục…) Tao đánh chết “…” mày bây giờ. (Văng tục…) bộ mày đói lắm hả…

Người đàn bà sang sảng vừa nói vừa tát thằng bé tới tấp. Tôi không kịp phản ứng gì thì thằng bé đã bị người đàn bà đó kéo ra khỏi tiệm ăn. Tôi đang tính đuổi theo thì…

– Đóng kịch rồi chạy hả.

Chị chủ quán kéo tay tôi lại và hét lên. Tôi móc túi lấy ra tờ 200,000 (hai trăm ngàn) đưa cho chị và chạy ra khỏi quán. Thấy tôi chạy sau người đàn bà túm cổ thằng bé bẻ ngược lại chỉ thẳng vào mặt tôi và quát to.

– Mày mà chạy theo, tao (văng tục…) tao bẻ cổ nó.

Tôi khựng lại, đứng nhìn bà ta túm cổ áo thằng bé kéo đi mà lòng đau xót.  Tôi lê bước trở lại cái quán ăn hồi nãy, ngồi xuống bàn, thở dài, miên man suy nghĩ, nước mắt tuôn hồi nào cũng không hay.  Tiếng một người đàn bà ngồi kế bàn tôi cất lên.

– Ôi thôi, cậu khóc làm gì. Chuyện đó xảy ra như cơm bữa ở Sài Gòn.  Mấy con mẹ đó là mấy con mẹ mìn. Tụi nó về quê thuê mấy đứa con nít lên đây đi ăn xin, rồi nộp tiền cho nó. Cậu ở bển (chắc ý nói tôi ở nước ngoài) nên ngây thơ thôi.

– Vâng, cháu không biết. Cháu thấy tội đứa bé nên cho nó ăn và tính cho nó ít tiền thôi.

– Trời, cậu này thiệt á. Cậu có cho nó 1 ngàn hay 100 ngàn cũng vậy thôi. Nó đâu có gì vui đâu vì tất cả cũng vô tay mấy con mẹ đó hết trơn.

Trời!!! Đó là tiếng (than) duy nhất có thể thoát ra từ cửa miệng của tôi khi lê bước trên 2 blocks đường ngắn về khách sạn. Tôi vẫn biết rằng cuộc đời có nhiều trái ngang nhưng… chẳng lẽ… những gì tôi mới chứng kiến cũng là sự thật? Vâng nó là một sự thật rất phũ phàng mà tôi mới nhận ra…

* * * * *

Bạn thân mến, không biết bạn đọc xong đoản khúc này thì tâm trạng của bạn ra sao? Nhưng đối với tôi, đứa bé đó sẽ sống mãi, vâng sẽ sống mãi, ít nhất là trong tâm hồn của tôi. Tôi sẽ mãi nhớ về em, sẽ mãi cầu nguyện cho em, và ước mong… Vâng! tôi chỉ ước mong một ngày nào đó tôi sẽ được ôm em vào lòng và “chú cháu” mình sẽ hàn huyên, sẽ nói thật nhiều.

Ước gì! Vâng, ước gì mỗi người chúng ta sống được lời Chúa khi Ngài nói: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” Mt 24:40.

(LM. Martino Nguyễn Bá Thông – www.hayyeuthuongnhau.org) 

BUỒN VUI CÙNG KIẾP NGƯỜI

Cuộc đời của con người ta là gì?  Phải chăng là những niềm vui – nỗi buồn tiếp nối, nỗi buồn – niềm vui đan xen.  Vui – buồn, buồn – vui là những cung bậc trầm bổng làm nên cuộc sống, những giai điệu hòa âm vang lên nơi cuộc đời, những sắc màu vẽ nên kiếp người, những ngôn ngữ để diễn tả và những dấu chỉ để nhận biết sức sống nội tại nơi con người.

Với kinh nghiệm hiện sinh còn non kém trên đường đời, và các giá trị của đời người.  Cảm nghiệm tâm linh còn yếu ớt của một người đang đi trên hành trình kiếm tìm Thiên Chúa.  Xin được nhìn cuộc đời với một góc nhìn hẹp, tầm nhìn còn thiển cận với cái tâm còn nông cạn, về niềm vui – nỗi buồn cùng kiếp người.

  1. Buồn với kiếp người

Buồn với kiếp người, vì con người chẳng khác gì con vật, vẫn còn đó nơi bản thân những hơn thua, đấu đá, tranh giành.  Con người vẫn không thoát khỏi vòng vây “Thắng làm vua, thua làm giặc.”  Con người nhiều khi vẫn chưa nhận ra những giới hạn căn bản của kiếp người: “Ngài định giới hạn rồi, sao có thể vượt qua!” (G 14,5)

Buồn với kiếp người, vì con người loay hoay, bôn ba, lo toan, tính toán trong cuộc đời, nhưng đích điểm đời mình sẽ tới thì lại chẳng lo, chẳng tính, để rồi một ngày: “Thật nó chẳng khác chi con vật một ngày kia phải chết.” (Tv 49,21); “Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục, mạnh giỏi chăng là được tám mươi, mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ, cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi” (Tv 90,10).  Buồn với kiếp người, vì con người có tình yêu nhưng có mấy ai biết yêu thực sự, dám yêu thực sự, đi trọn con đường tình yêu nơi mình: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).

Buồn với kiếp người, vì con người biết sống đời sống đức tin  nhưng nhiều khi chưa biết hành trình tử đạo, sống tử đạo là gì: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” (Lc 9,23)

Buồn với kiếp người, vì con người nhận ra bản thân là bất toàn, mỏng dòn, yếu đuối nhưng con người dường như vẫn chưa bắt được mạch sống là phải sống với – sống vì – sống cùng ai đó: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.” (Mt 16,25)

Buồn với kiếp người, vì con người khi còn chức tước, khi còn danh vọng thì “người hầu, kẻ hạ” nhưng khi hết thời thì cũng chẳng khác chi một con người tầm thường và bình thường: “Cả khi cười, lòng vẫn vương sầu muộn, sau niềm vui lại đến nỗi buồn phiền” (Cn 14,13).

Và còn nhiều điều buồn và đáng buồn hơn nữa…

  1. Vui cùng kiếp người

Vui cùng kiếp người, vì con người biết bản thân mình là gì, bản thân mình được định nghĩa như thế nào và mang phẩm giá cao trọng làm sao: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,27).

Vui cùng kiếp người, vì con người nhận ra cuộc đời này là gì: “Cuộc sống con người nơi dương thế chẳng phải là thời khổ dịch sao?  Và chuỗi ngày lao lụng vất vả đâu khác gì đời kẻ làm thuê?” (G 7,1)

Vui cùng kiếp người, vì con người biết tìm ra niềm vui thực sự trong cuộc đời này là gì và đến từ đâu: “Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại!  Ta thấy mình chan chứa một niềm vui.” (Tv 126,3); “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa.  Tôi nhắc lại: vui lên anh em!” (Pl 4,4)

Vui cùng kiếp người, vì con người biết ơn, biết cảm động và thán phục trong cuộc đời xuôi ngược và lắm muộn phiền này những tấm lòng, những nghĩa cử tuyệt vời, những giá trị chân chính: “Halêluia. Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 107,1).  Vẫn còn đó nhiều niềm vui mà con người vẫn chưa nhận ra… Trong niềm vui, chúng ta nhận ra:  “Ôi! cuộc đời sao tuyệt vời và nhẹ nhàng đến thế.”

  1. Góc nhìn của bản thân về nỗi buồn nơi đời sống gia đình

Nơi đời sống gia đình, chúng ta mới thực sự bắt gặp một tình yêu tạm nói là “đẹp.”  Tình yêu biết ra khỏi bản thân mà sống cho, sống vì người khác.  Tình yêu của cha mẹ dành cho con cái, con cái đối với cha mẹ là tình yêu tuyệt đẹp vì tất cả chỉ muốn cho người thân yêu của mình trở nên tốt và tốt hơn.  Nơi gia đình mọi người “chấp nhận” nhau, “tặng ban, hy sinh” cho nhau, cùng đồng hành với nhau qua các biến cố vui – buồn, sướng – khổ, thành công – thất bại, hy vọng – thất vọng,… mọi người trong gia đình luôn “chấp nhận, đón nhận” cùng nhau, “cho đi, tặng ban” cho nhau trọn vẹn mà không tính toán, đổi chác.  Mọi người trong gia đình luôn hy sinh, lo lắng cho nhau không phải một ngày, hai ngày nhưng là trót cả cuộc đời và suốt cả cuộc đời.

Vì đời sống gia đình rất gần gũi, thân thương với mỗi người nên ai ai cũng có thể cảm nhận được tình yêu nơi gia đình.  Xin được nêu một vài nhận định, góc nhìn của bản thân về đời sống gia đình.  Góc nhìn chỉ giới hạn trong nỗi buồn.

Buồn nơi gia đình, vì nhiều khi người thân chỉ biết lo cho nhau, tặng ban cho nhau mà dám chấp nhận chà đạp, xúc phạm, hủy hoại, bóc lột, tham nhũng, bất công, gây đổ vỡ cho người khác.  Buồn nơi gia đình, vì vẫn còn đó những sự không hòa hợp giữa cha mẹ với con cái, anh em, chị em nhiều khi vẫn còn “khắc khẩu” với nhau, tranh giành, đấu đá với nhau.  Không bao giờ có một gia đình nào mà trọn vẹn trong niềm vui thực sự, đừng hy vọng sẽ không có những bão tố, thử thách.  Buồn nơi gia đình, vì vẫn còn đó những trốn tránh, thoát ly, từ bỏ gia đình để đi tìm một lối sống, cách sống khác mà không phải là gia đình, nền tảng là gia đình.

Cuộc đời làm người của chúng ta cần thiết biết bao những giá trị căn bản và cao đẹp ấy buồn – vui.

Giuse Vũ Duy An
Học viện TSĐT

CUỘC SỐNG ĐỜI SAU

Lễ các thánh ngày hôm nay và sự tưởng nhớ các tín hữu đã ly trần có một số điểm chung, và vì lý do này, mà hai thánh lễ được đặt sát kề nhau.  Cả hai thánh lễ đều nhắn nhủ với chúng ta những điều về thế giới bên kia.  Nếu chúng ta không tin vào sự sống đời sau, thì việc cử hành lễ các thánh, chưa nói gì đến việc viếng nghĩa trang, sẽ chẳng xứng đáng gì cả.  Chúng ta đi viếng thăm ai hoặc vì sao chúng ta lại thắp nến và mang hoa tới cho họ?

Do đó, những sự kiện trong ngày hôm nay mời gọi chúng ta đi vào một sự phản tỉnh khôn ngoan.  Thánh vịnh đã viết: “Xin dạy con biết đếm ngày con sống để con biết tìm kiếm sự khôn ngoan trong tâm hồn.”  “Cuộc đời chúng ta trôi qua như chiếc lá mùa thu” (G. Ungaretti).  Vào mùa xuân năm sau, cây sẽ tiếp tục nẩy nụ bung hoa và khoác trên mình những cánh lá mới; thế giới sẽ vẫn diễn tiến sau lưng chúng ta, nhưng với những con người mới.  Lá thu không tìm được sự sống mới, nó tan biến tại nơi nó rụng xuống.  Điều ấy có xảy ra với chúng ta không?  Đó là điểm mà phép loại suy đi đến bước đường cùng.  Chúa Giêsu đã hứa: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tìn ta thì dẫu có phải chết cũng sẽ được sống.”  Đây là thách đố lớn lao cho niềm tin, không chỉ cho người Kitô hữu, mà còn cho người Do Thái giáo và người Hồi giáo, cho tất cả những ai tin vào Thiên Chúa.

Những người đã xem phim “Bác sĩ Zhivago” chắc sẽ nhớ bài hát nổi tiếng do cô ca sỹ Lara hát trong phần nhạc nền.  Bản dịch từ tiếng Ý có nghĩa: “Tôi không biết đó là gì, nhưng có một nơi tôi sẽ không bao giờ trở lại…”  Bài hát nhắm đến ý nghĩa của cuốn tiểu thuyết nổi tiếng do Pasternak viết mà bộ phim đã dựa vào đó để dàn dựng: Đôi tình nhân tìm thấy nhau, tìm kiếm nhau, nhưng định mệnh (ta có thể tìm thấy chính mình trong thời đại rối ren của cuộc cách mạng Bolshevik) đã phân ly họ cách nghiệt ngã, mãi đến khi họ gặp nhau vào cảnh cuối nhưng lại không nhận ra nhau.

Mỗi khi những nốt nhạc này vang lên, đức tin làm cho tôi hầu như muốn thét lên bên trong con người tôi: Vâng, có một nơi ta sẽ chẳng bao giờ trở về và cũng chẳng muốn trở về.  Đức Giêsu đã ra đi để chuẩn bị cho chúng ta, Ngài đã mở ra cánh cửa sự sống ngang qua sự phục sinh của Ngài và Ngài đã chỉ cho ta biết đường theo Ngài qua tám mối phúc thật.  Nơi thời gian đi tới hồi tận sẽ mở đường dẫn vào cõi vĩnh hằng.  Tại nơi ấy, tình yêu sẽ trở nên sung mãn và trọn vẹn, không chỉ là tình yêu Thiên Chúa và cho Thiên Chúa mà còn là tất cả tình yêu chân thành và thánh thiện vốn đã tồn tại trên trái đất.

Đức tin không giải thoát tín hữu khỏi nỗi đau khổ của cái chết, nhưng nó xoa dịu chúng ta qua đức tin.  Kinh Tiền Tụng ngày lễ các linh hồn viết: “Nếu việc phải chết làm cho chúng ta buồn rầu, thì niềm hy vọng vào sự bất tử mai sau sẽ an ủi chúng ta.”  Trong cảm thức này, có một chứng từ đầy cảm động ở nước Nga.  Vào năm 1972, một tạp chí bí mật đã cho đăng lời cầu nguyện được tìm thấy trong túi áo của một người lính tên Aleksander Zacepa.  Anh viết lời cầu nguyện này chỉ trước khi chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, và anh đã thiệt mạng trong cuộc chiến ấy.

Lời cầu nguyện như thế này: “Lạy Chúa, xin Ngài lắng nghe con!  Trong suốt cuộc đời, con chưa từng một lần nói chuyện với Ngài, nhưng hôm nay con có ao ước làm điều đó.  Khi con còn nhỏ, người ta bảo con rằng Ngài không hiện hữu.  Và như một thằng ngốc, con đã tin điều ấy.

Con chưa bao giờ suy niệm về công trình của Ngài, nhưng đêm nay nằm trong hố bom và nhìn bầu trời đầy sao, con đã bị choáng ngợp bởi vẻ huy hoàng của chúng.  Ngay lập tức, con hiểu rằng sự lừa dối ấy khốn nạn đến mức nào.  Ôi lạy Chúa, con không biết là Chúa có giang tay chạm đến con hay không, nhưng con dám nói với Chúa rằng Chúa hiểu con…

Chẳng phải là lạ lùng lắm sao khi giữa cảnh địa ngục rợn rùng, ánh sáng đã chiếu giãi trên con, và con đã khám phá ra Ngài?

Con chẳng có điều gì nữa để thân thưa với Ngài.  Con cảm thấy thật hạnh phúc, vì con đã nhận biết Ngài.  Vào lúc nửa đêm hôm nay, chúng con sẽ bắt đầu chiến sự, nhưng con chẳng sợ hãi gì vì Ngài trông thấy con.

Họ phát tín hiệu rồi Chúa ạ.  Con phải đi đây.  Thật tuyệt vời dường bao khi con được ở với Ngài.  Con muốn thưa với Chúa, và Chúa cũng biết, là trận đánh sẽ rất ác liệt.  Có lẽ đêm nay, con sẽ đến gõ cửa nhà Ngài.  Và nếu đến lúc này đây, con chưa phải là bạn của Ngài thì khi con ra đi, Ngài có đón con vào nhà Ngài không?

Nhưng điều gì đang xảy ra với con đây?  Con la lên hay sao?  Lạy Chúa Trời con, xin hãy nhìn đến những điều xảy ra với con.  Chỉ lúc này đây, con mới bắt đầu nhìn thấy Chúa cách rõ ràng.  Lạy Chúa, con đi đây, có lẽ chẳng bao giờ trở lại.  Thật lạ lùng, lạy Chúa, cái chết chẳng làm con sợ hãi.

Nguyễn Quốc Tâm
(Nguồn: Bài viết của Cha Raniero Cantalamessa, OFM, Zenit ngày 31 tháng 10, năm 2008)

***************************** 

Khi con đi hết đường đời
Trên chuyến xe lửa cuối cùng của ngày vĩnh biệt
Con mong muốn được ra đi hạnh phúc
Và rời xa những đêm tối nghi nan.
Dù không có hành trang nào hết
Con sẽ mang theo ngàn lẻ một bông hoa
Mà con đã hái trên nẻo đường hạnh phúc
Nơi những bạn bè đã đến bên con.
Kỷ niệm của ngày tháng nhọc nhằn
Sẽ phai mờ trong buổi sáng cuối cùng
Cái nhìn của những người yêu quý.
Và nếu là một sự sinh hạ
Một địa cầu và một thái dương khác
Và nếu như là một thức giấc mới
Chính là sự tái sinh muôn đời.

Hiền Hòa chuyển dịch

THẾ NÀO LÀ KHIÊM NHƯỜNG

Trong một tu viện nọ, luật dòng đòi buộc các tu sĩ hằng ngày phải luyện tập đức khiêm nhường.  Sống thoát ly, diệt trừ tự ái, chết cho chính mình để sống cho Chúa Giêsu là lối tu hành của Dòng Thánh.  Số là có một tập sinh hằng ngày ước ao luyện tập đức khiêm nhường, nhưng không biết làm thế nào cho phải cách.  Thầy đến hỏi một vị linh mục khôn ngoan lão thành trong Dòng về cách thức tập luyện đức khiêm nhường.  Thầy nài xin cha chỉ giáo cách từ bỏ cái tôi tự ái.  Vị linh mục thánh thiện hỏi:

– Này con, con có hứa sẽ tuyệt đối vâng lời cha hay không?  Nếu con vâng lời, cha sẽ dạy cho con biết thế nào là từ bỏ chính mình.

Thầy đáp:

– Thưa cha, con xin hứa vâng lời cha tuyệt đối.

– Thế thì tối nay con hãy làm một việc này cho cha.

– Vâng thưa cha, bất cứ điều gì cha dạy bảo, con cũng sẽ cố gắng làm hết sức.

– Này con, đằng sau tu viện của chúng ta có một cái nghĩa địa.  Tuần qua, thầy An-tôn Dòng ta được Chúa gọi về, vừa mới được chôn cất ở đó.  Đêm nay, con hãy ra ngoài đất thánh đến quỳ trước mộ thầy, suy niệm về cái chết.  Con hãy làm như thế này.  Trong lúc suy niệm về cái chết của thầy An-tôn, con hãy nhớ lại mọi điều tốt lành nhất của thầy để khen ngợi.  Con hãy khen ngợi thầy trước nấm mộ ấy.  Đến khi nào con không còn lời để khen, con hãy tưởng tượng ra những điều hay điều tốt mà thầy không có để ca tụng thầy.  Cha cho phép con tâng bốc, kể cả nịnh hót thầy nữa.  Xong sáng mai, con hãy trở lại gặp cha.

– Vâng, thưa cha, con sẽ làm theo ý cha.

Rồi tối hôm ấy, thầy tập sinh vâng lời bề trên ra ngoài nghĩa địa quỳ trước nấm mộ của thầy An-tôn quá cố suy niệm về cái chết.  Thầy làm y như lời của cha linh hướng.  Tìm mọi lời hay ý đẹp, kiếm những gương lành gương sáng của thầy An-tôn mà khen ngợi.  Cuối cùng, không  còn tìm được lời khen, thầy bịa đặt ra những điều hay điều tốt mà thầy An-tôn không có để tâng bốc.  Đêm tàn, bình minh đến, người tập sinh trở về lại tu viện, đến trình diện cha linh hướng.  Lúc ấy, cha hỏi:

– Này con, đêm qua con có làm theo lời cha chỉ bảo không?

Thầy đáp:

– Vâng, thưa cha, con đã làm y như lời cha chỉ dạy.  Con đã tìm tất cả những điều hay nhất, tốt nhất của thầy An-tôn để mà ca tụng thầy.  Rồi đến khi hết những điều hay để nói thì con đã bịa đặt ra những gương lành gương sáng thầy không có để khen ngợi thầy.

– Thế thì con tâng bốc ca tụng thầy An-tôn, con thấy thầy có phản ứng gì không? Thầy có vui mừng thích chí không?  Hay thầy có nói gì không con?

– Thưa cha, phản ứng làm sao được?  Thầy An-tôn đã chết rồi mà!

– Tốt lắm! Vậy con hãy làm theo ý cha một lần nữa.  Đêm nay, con hãy trở lại nghĩa địa, đến trước nấm mộ thầy mà suy niệm về cái chết.  Nhưng lần này con hãy nhớ lại những điều xấu xa tồi tệ nhất của thầy.  Con hãy cho thầy An-tôn biết những điều con ghê tởm gớm ghét nhất về thầy.  Nếu con không tìm ra những điều xấu về thầy, con hãy dùng trí tưởng tượng mà bày ra những chuyện xấu xa của thầy mà nói với thầy.  Thậm chí, cha cho phép con nguyền rủa thầy!

Thế rồi, đêm hôm ấy, người tập sinh trẻ lại ra thăm mộ thầy An-tôn một lần nữa.  Lần này, trong khi suy niệm về cái chết, thay vì nói những điều tốt lành của thầy An-tôn, người tập sinh kia lại suy về những tội lỗi, những điều tồi tệ của thầy.  Rồi buông lời mắng chửi thậm tệ.  Đến khi hết lời chửi mắng, người tập sinh kia phải phịa ra những điều xấu xa tội lỗi nhất để mà nguyền rủa thầy.  Suốt cả đêm mặc sức mà mạt sát chửi rủa cho đến tảng sáng.  Tiếng gà vừa gáy, người tập sinh chỗi dậy trở về nhà dòng tìm gặp cha linh hướng trình bày đầu đuôi sự việc.  Thấy thầy, cha linh hướng hỏi:

– Này con, đêm qua con có làm theo lời cha chỉ bảo không?

Người tập sinh đáp:

– Vâng, thưa cha, con đã làm y như lời cha chỉ dạy.  Con đã tìm những lời độc địa xấu xa nhất thiên hạ để hạ nhục thầy An-tôn trước nấm mộ của thầy.  Con còn bịa thêm nhiều chuyện để mắng nhiếc thầy như cha đã dạy con.

– Thế thì khi nghe con buông lời mắng nhiếc, thầy An-tôn có phản ứng gì không con?  Thầy có buồn, có giận không con? Hay thầy có nói gì không?

– Thưa cha, lam sao thầy An-tôn buồn giận mà đáp lại được? Thầy ấy đã chết rồi mà!

– Tốt lắm! Vậy thì, con hãy sống như thầy An-tôn đang nằm dưới nấm mồ ấy.  Hãy sống như một người đang chết, con hãy coi như mình đã chết, bởi vì người chết sẽ không còn biết phản ứng gì trước những lời tâng bốc khen ngợi hay lăng mạ mắng chửi.  Khi con xem mình như kẻ đã chết, con sẽ tìm được bình an vô tận.  Con sẽ từ bỏ được chính bản thân con.

LM Michael Joshep Trường Luân
Trích “Lời cầu động lòng Thiên Chúa”

******************************

Chỉ mong tôi chẳng còn gì,
Nhờ thế gọi được Người là tất cả của tôi

Chỉ mong ý muốn trong tôi chẳng là gì,
Nhờ thế cảm thấy Người ở mọi chốn, mọi nơi,
đến với Người trong mọi thứ, mọi điều
và dâng Người tình tôi lúc nào cũng được.

Chỉ mong tôi chẳng còn gì,
Nhờ thế không bao giờ tôi lẩn tránh được Người!

Chỉ mong ràng buộc trong tôi chẳng còn gì,
Nhờ thế trói được thân mình vào ý Người muốn,
Nhờ thế thực hiện ý Người trong suốt đời tôi
Ý ấy là tình yêu Người ràng buộc thân tôi.

R. Tagore

ĐÓI TÌNH THƯƠNG

Nước Êthiôpia phải chịu một nạn đói khủng khiếp trong những năm 1984 đến 1986. Đức Hồng Y Hume của giáo phận Wesminster kể về một câu chuyện xảy ra lúc ngài đến thăm xứ này giữa thời gian đó. Người ta đã dùng một chiếc trực thăng chở ngài đến một ngọn đồi nơi dân chúng đang tập trung chờ cứu trợ.

Khi ngài vừa bước xuống chiếc trực thăng thì một cậu bé khoảng 10 tuổi chạy đến níu lấy cánh tay của Ngài. Em chẳng mặc gì ngoài một chiếc khố. Em cũng chẳng biết ngoại ngữ nên chỉ làm cử điệu tay chân : tay trái em chỉ vào miệng, và tay phải em cầm lấy tay ngài đặt lên má em.

Đức Hồng Y hiểu: chỉ vào miệng nghĩa là em đói thức ăn, và đặt lên má nghĩa là em đói tình thương.

******************************

Mỗi khi một nơi nào đó xảy ra nạn đói thì hầu như cả thế giới xúc động gởi thực phẩm đến tới tấp để cứu đói.  Nhưng có mấy ai quan tâm đến những cái đói tinh thần: đói yêu thương, đói công bình, đói chân lý, đói tha thứ, đói cảm thông…, ai có thể lấp đầy những cơn đói khát đó của nhân loại?   Ai có thể cho những của ăn mà ăn rồi sẽ không bao giờ đói nữa?

Trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đã cảm thông cơn đói của những người đã lặn lội vạm dặm đường xa đi nghe giảng nên Ngài đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều.  Dân chúng được ăn no nê thừa thãi thứ bánh vật chất mà Ngài vừa làm phép lạ, bánh ăn rồi lại đói, đói rồi lại đi tìm của ăn.  Bây giờ Ngài hướng họ đến một thứ lương thực cao quý hơn, đó chính là Mình và Máu Ngài : “Tôi là bánh trường sinh… Bánh tôi sẽ ban chính là thịt tôi, để cho thế gian được sống…Ai ăn thịt và uống máu tôi thì sẽ được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết”.

Như em bé xứ Êthiôpia trong câu chuyện trên, em không chỉ đói lương thực mà còn đói những thứ khác nữa.  Giả sử em được thoả mãn đầy đủ, được cho ăn ngon mặc đẹp, được một gia đình khá giả nhận làm con nuôi với đầy đủ tình thương, em có còn tiếp tục đói khát một cái gì khác nữa không?  Em có tiếp tục chạy đến vị cứu tinh để tiếp tục chỉ chỏ nữa không?

Như một người cha thấu hiểu tâm sự con mình, nhìn nó ú ớ vụng về đưa tay chỉ chỏ lung tung, Ngài biết cái nó đang khao khát tìm kiếm nhưng chưa biết thể hiện ra sao.  Ngài biết cái nó đang vẫy vùng vươn tay kiếm tìm nằm ngoài tầm tay nó.  Ngài hiểu linh hồn nó đang sống trong thao thức.  Nó chưa xin, Ngài đã cho!  Cho đi chính Thịt và Máu mình.  Cho đi cái mà đứa con không dám xin, không dám nghĩ đến.

Vì món quà lớn quá nên đứa con ngỡ ngàng….
Vì món quà tuyệt vời quá, ngoài sự hiểu biết nên có đứa nhắm mắt chối bỏ không tin….

******************************

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,  nếu con cảm thấy đủ, sẽ không bao giờ con cất bước đi tìm của ăn.  Nếu con cảm thấy thỏa mãn, không bao giờ biết đói khát thì con sẽ không bao giờ cảm thông được cái đói của những người xung quanh.  Xin cho con biết đói: đói Lời Chúa, đói của ăn cho linh hồn, đói sự sống vĩnh cửu.  Trong cái đói, xin cho con biết chạy đến Chúa để tận hưởng món quà tình yêu Chúa đã trao ban cho nhân loại qua Bí Tích Thánh Thể.  Sống trong cái đói, con sẽ dễ dàng chia sẻ và cảm thông với những cơn đói khát của anh em mình.

THIẾU SÓT

Thiếu sót tình yêu thương là thiếu sót lớn của Kitô hữu.  Khổ nỗi, ít khi nó được xem như một tội.  Người ta thừa nhận là có tội khi nó gây thiệt hại cho người lân cận nhưng không coi là tội khi thiếu sót hoặc từ khước yêu thương.

Người ta kể lại một câu chuyện về người bán chiếc xe “dỏm” cho một người nước ngoài, rồi đi xưng tội.  Sau đó, người ấy gặp một người bạn cũ trong quán rượu.  Khi người bạn này nghe nói ông ta đã đi xưng tội, liền nói: “Tôi hy vọng anh đã kể lại cho linh mục nghe anh lừa gạt người mua xe như thế nào”.

“Đời nào tôi làm thế”, ông ta trả lời. “Tôi xưng ra các tội của tôi cho linh mục.  Nhưng linh mục không có quyền biết công việc kinh doanh của tôi”.

Nguy hiểm lớn đe dọa người-đi-nhà-thờ là họ không biết mối liên quan giữa việc họ làm trong nhà thờ ngày Chúa nhật với việc làm trong quan hệ với người lân cận vào những ngày khác trong tuần.

Người ta có thể xem xét lương tâm mình nhưng không đụng gì đến toàn cảnh: Người có lương tâm làm tròn bổn phận của mình, lương thiện trong công việc làm ăn, công bằng, tôn trọng và hợp tác với những người sống cùng một mái nhà v.v…  Với những người như thế, tôn giáo tách rời khỏi đời sống và trở thành một vấn đề riêng tư giữa họ và Thiên Chúa.  Theo Kinh Thánh, một tôn giáo như thế là sự bóp méo, xuyên tạc.  Tệ hơn nữa là một điều đáng ghét.

Phân ly hai giới răn lớn ấy là việc rất dễ dàng.  Trong một ý nghĩa nào đó, chỉ có một giới răn duy nhất – giới răn của tình yêu.  Nó giống như một đồng tiền, một thực thể có hai mặt.  Không thể có mặt này mà không có mặt kia, không phải chúng ta ghét những người lân cận của chúng ta.  Không, chúng ta không ghét những người lân cận.  Nhưng chỉ vì chúng ta khước từ đưa họ vào trái tim chúng ta.  Nếu sự thật được nói ra, chúng ta lãnh đạm và thờ ơ với họ.

Mọi người trong chúng ta có khả năng yêu thương to lớn, nhưng khổ nỗi, hiếm khi chúng ta sử dụng hết.  Diễn viên Christopher Reeve, nổi tiếng về hình tượng siêu nhân mà ông thể hiện trong phim ảnh.  Tuy nhiên, trong một tai nạn té ngựa, ông bị liệt từ cổ trở xuống và phải ngồi xe lăn.  Ông nói ông đã nhận được 100.000 lá thư bày tỏ thiện cảm và sự ủng hộ của quần chúng.  Điều này dẫn ông đến chỗ hỏi rằng: “Tại sao cần phải có một bi kịch trước khi chúng ta bày tỏ sự cảm kích của chúng ta đối với một người khác?”

Chúng ta bày tỏ điều đó quá chậm và đầy sự hối tiếc.  Chúng ta chờ cho đến khi quá muộn để nói và tỏ cho người khác thấy rằng chúng ta yêu họ.  Chúng ta bày tỏ quá muộn ý muốn sửa chữa một mối bất hòa, quá chậm nỗi vui mừng về sức khỏe và quà tặng của con cái hoặc cha mẹ chúng ta.

Đức Giêsu nói với người Kinh sư: “Ông không còn xa nước Thiên Chúa đâu!”  Biết rõ về hai giới răn quan trọng nhất là bước đầu tiên.  Đem chúng ta thực hành là bước thứ hai.  Chúng ta không còn xa nước Thiên Chúa là bao – Chỉ cần thêm một bước nữa.  Để thực hiện được bước này, chúng ta cần Thiên Chúa chạm tay Người vào tâm hồn chúng ta.

Sưu tầm

**************************************

Lạy Chúa,
Ước gì con có thể yêu Chúa
Bằng một trái tim sốt mến,
Dứt khoát hiến dâng!
Ước gì con biết yêu Chúa vì Chúa
Và ở lại trong tình yêu Chúa
Như những nhà thần bí lớn đã biết yêu Chúa…

Chớ gì con có thể đồng thời yêu anh em
Bằng một trái tim nhân từ, niềm nở thủy chung,
Vì Chúa, vì anh em,
Mà vẫn đơn sơ, chân thành,
Ân cần săn sóc, hoà mình với họ,
Luôn sẵn sàng yêu mỗi người,
Yêu mọi người, xem tất cả là Dân Chúa.

Chớ gì con biết yêu anh em
Như Chúa yêu họ, như Chúa yêu con….
Song lạy Chúa, đâu có dễ như vậy
Đối với trái tim phàm hèn con,
Bao giờ cũng chứa đầy tự ái,
Có lúc lạnh lùng như sắt đá,
Có lúc quá trớn bồng bột…..

Jean Dozolme

NGƯỜI PHU QUÉT RÁC

Cứ tối đến là Sài Gòn se se lạnh, cái lạnh nhẹ nhàng của mùa xuân cũng không làm cho một số người mát hơn chút nào. Mồ hôi họ vẫn chảy, tuy vậy họ vẫn bịt kín từ trên xuống dưới, ngay cả chân tay họ cũng không có chỗ nào hở.

Họ là ai? Thưa họ là những Người Phu Quét Rác. Họ che kín thân người, chắc là để cho cát bụi không bám vào các lỗ chân lông lúc nào cũng “rộng mở” cho mồ hôi chảy ra; họ bịt kín mặt mũi là để cho bụi đất, bụi đời, và bụi thời gian không thể len lỏi vào bên trong thân xác và cuộc sống của họ được; và cũng có thể để cho những kẻ qua đường, như chúng ta, không nhận ra họ là ai. Nhưng cuộc sống của họ giống cuộc sống Linh Mục của tôi một điểm (theo ý của riêng tôi – không phải là ý kiến chung của các Linh Mục) đó là: dẫu biết rằng hôm nay có quét sạch bụi đời, thì ngày mai mình cũng phải quét lại; dẫu có làm sạch bây giờ thì trong giây lát sẽ có người làm dơ bẩn. Nhưng mặc kệ, ai xả cứ xả, còn chúng tôi quét dọn vẫn cứ quét dọn! Họ dọn sạch đường cho tôi và bạn đi! Tôi dọn sạch tâm hồn cho bạn thênh thang!!! Tuy vậy giữa hai cuộc sống tưởng chừng như khá giống nhau đó, lại có một điều vô cùng khác nhau: Tôi được tôn trọng (ít ra cũng được người khác gọi bằng cha), còn họ bị người khác nhìn khinh khi. Cho nên tối hôm nay trước khi đi tìm trẻ bụi đời, tôi tìm đến họ.

Tôi bao một chiếc honda ôm cho 2 tiếng đồng hồ với giá 150 ngàn đồng và lên đường tìm những người phu quét rác. Cứ gặp ai thì tôi bảo anh lái xe Honda dừng lại, tôi đến cạnh họ, nói chuyện và chúc mừng năm mới rồi lì xì cho họ 50 ngàn đồng.

– Chào chị!

Tôi tiến lại và nói to để chị có thể nghe. Chị dừng đôi tay đang thoăn thoắt đưa cái chổi trên mặt đường nhìn tôi có ý thăm dò nhưng không nói gì. Tôi liền nhắc lại vẫn một câu nói đã thuộc nằm lòng từ nãy tới giờ, và đã được lặp đi lặp lại cho bao nhiêu người:

– Em cám ơn chị đã dọn sạch đường phố cho mọi người trong những ngày giáp tết. Cám ơn chị vẫn âm thầm làm việc không kể nắng mưa. Em muốn tặng chị một chút quà để thay lời cám ơn.

Vừa nói tôi vừa đưa cho chị một cái phong bì trong đó có 50 ngàn.

– Cám ơn em, chị cầm lấy và nói.

– Cám ơn chị, chúc chị một năm mới bình an trong tâm hồn và xin Thiên Chúa chúc lành cho chị!

Nói xong tôi lên xe Honda tính tiếp tục lên đường. Xe vừa chồm bánh thì tôi nghe tiếng chị gọi.

– Em ơi, em ơi, cho chị hỏi cái.

– Dạ chị gọi em.

Tôi trả lời, bảo anh tài xế dừng xe rồi bước xuống xe quay lại bên chị.

– Em có phải là người Công Giáo không?

– Dạ phải.

Nghe tới đó chị từ từ gỡ đôi găng tay, gỡ cái mũ, gỡ khẩu trang và tôi nhìn thấy nước mắt chị đang rơi trên khuôn mặt mà có lẽ tôi phải gọi là cô mới đúng. Chị nói:

– Chị làm nghề này đã được 30 năm, từ ngày “giải phóng.” 30 năm quét rác, chưa có một người qua đường nào nói với chị một điều tốt lành, chứ đừng nói tới việc họ cám ơn chị. Họ nhìn chị với một con mắt khinh khi và ghê ghét. Chị đâu phải là người thất học. Năm giải phóng thì chị đang chuẩn bị thi tú tài toàn phần . Một tương lai đang mở ra trước mắt chị…

Nói tới đó chị dừng lại đưa bàn tay đầy bụi bặm lên lau nước mắt. Thấy vậy tôi vội móc túi lấy cái khăn mùi xoa đưa cho chị. Chị cầm lấy cám ơn tôi lau nước mắt rồi nói tiếp.

– Nhưng thế thời thay đổi và chị đã trở thành người phu quét rác 30 năm nay. Chị đã nhận được bao nhiêu lời chế diễu, bao nhiêu lời xúc phạm và bao nhiêu lời có thể nói là chửi mắng từ những đứa trẻ choai choai chỉ đáng tuổi làm con của chị. Có những lúc vô tình, hay cũng có thể là bụi nhiều quá, nên khi chị quét rác thì bụi bay mịt mù nên những người chạy xe qua đường nhìn chị xỉa xói hay nói những câu đại loại như “Quét nhẹ tay một chút” hay “Đui sao không thấy bụi bay ngất trời.”

Chị nói như trút bầu tâm sự với một người mà tưởng chừng đã thân quen. Tự dưng tôi cảm nhận được cái cảm giác mà những ngày đầu tiên qua Mỹ khi không biết một chữ tiếng anh mà đi đâu gặp một người biết nói tiếng Việt thì mừng lắm. Cứ bám chặt vào nói chuyện như đã quen biết từ lâu. Có thể chị chưa tìm được “người công giáo” nào để chia sẻ nên giờ có tôi chị như bắt phải cái phao. Thế là tôi dìu chị vào lề đường, tôi ra hiệu cho anh chạy Honda đi về trước và tôi ngồi xuống bên chị. Chi lại lau nước mắt kể tiếp:

– Chị cũng người công giáo! Nhiều khi chị đi làm về là sáng, chạy vội vào đi lễ không kịp tắm rửa, chị biết là chị không thơm tho nên đâu dám vào trong nhà thờ chỉ dám đứng xa xa, vậy mà cũng không ai dám đứng gần chị. Họ có lỡ đến gần rồi họ cũng bỏ đi. Thôi kệ chị đến với Chúa mà, nếu không thì chị mất Lễ Chủ Nhật. Nhưng chị khổ nhất là chị không dám xếp hàng lên rước Chúa vì những người chung quanh chê chị hôi…

Chị nói tới đây thì tôi cầm lấy tay chị mà nước mắt bắt đầu rơi. Tôi khóc vì hạnh phúc với niềm tin quá ư là lớn lao của chị. Và tôi cũng khóc cho niềm tin mỏng giòn của tôi chưa dám đặt Thiên Chúa lên hàng đầu. Và tôi cũng khóc cho các bạn nữa, thật đấy. Tôi khóc vì chúng ta đang sống trong một thế giới tự do và đầy đủ nhưng lại có những lý do để từ chối đến với Chúa ngày Chủ Nhật… Ôi tôi thật thấy hổ thẹn với lòng mình, với chị và với Chúa.

– Sao em khóc vậy?

Chị kéo tôi về với thực tại

– Em không sao. Em chỉ phục Đức Tin quá lớn lao của chị vào Thiên Chúa, trong khi đó em được Chúa ban cho rất nhiều mà không tin được như chị. Em thấy mắc cỡ thôi.

– Mỗi người có một hoàn cảnh em à. (Chị an ủi tôi). Niềm tin của chị càng vững hơn khi người khác càng khinh khi chị – vì chị biết Chúa yêu thương chị nhiều lắm khi nhìn thấy người ta khinh con của Chuá như vậy.

Chị dứt lời thì tim tôi đau nhói. Không phải bởi vì cái bệnh tim của tôi mà vì chị đã dạy tôi một bài học thật đến nỗi không thể thật hơn được nữa. Tôi quyết định thú nhận với chị.

– Chị có tin không? Em là một Linh Mục đó!

– Cha… cha… cha… Chị nấc lên từng tiếng trong ngỡ ngàng và nghẹn ngào. Con xin lỗi cha, con không biết cha là cha. Cha tha lỗi cho con.

Vừa nói chị vừa qùy xuống như van nài tôi.

– Không có gì đâu chị. Em phải xin lỗi chị mới đúng chứ!

Vừa nói tôi đỡ chị trở lại vị trí ngồi bên tôi và chúng tôi ôm nhau khóc. Vâng, chị khóc và tôi cũng khóc. Chúng tôi khóc giữa lòng đời mặc cho bao người qua lại soi mói. Khóc cho nỗi đau khổ của cuộc đời, những trớ trêu của nó, và cho cả hai thân phận lẻ loi trong những đêm gần tết. Nhưng chị cuối cùng cũng phải xác nhận là chị khóc là bởi vì chị đang hạnh phúc. Chị hạnh phúc vì chị cảm thấy có người hiểu được và cám ơn công việc quét rác của chị, và chị cảm thấy được yêu thương, một tình thương không vụ lợi. Còn tôi khóc vì… tôi khóc và cảm thấy xấu hổ. Đơn giản thế thôi, không thể giải thích được, mà tôi nghĩ là cảm xúc dâng ngập con tim nhỏ bé và tràn ra trên khoé mắt.

LM. Martino Nguyễn Bá Thông
www.hayyeuthuongnhau.org