NGƯỜI THU THUẾ

Khi còn nhỏ ở quê nhà, mỗi khi ra chợ, tôi thường hay trông thấy chú Ba, người hàng xóm ở bên cạnh nhà tôi, chú cầm quyển sách đi đi lại lại trong chợ, chú đến từng quầy bán hàng để thu tiền thuế chợ. Chú Ba làm nghề thu thuế chợ đã nhiều năm rồi, và có lẽ cả đời chú đã gắn bó với nghề thu thuế cho đến ngày chú về già.  Sau này khi lớn lên, tôi có dịp gặp gỡ nhiều người thu thuế trong nhiều lọai thuế khác nhau:  Thuế ruộng, thuế vườn, thuế nhà, thuế đất, thuế xe, thuế lợi tức cá nhân, thuế doanh nghiệp ..v..v..

Kinh thánh cũng kể lại ít nhất hai trường hợp của hai người thu thuế khác nhau: Trường hợp thứ nhất là người thu thuế đến đền thờ cầu nguyện cùng với người Biệt Phái, ông ý thức mình là một tội nhân nên đã run rẩy xấu hổ, ngồi xa xa, đầu cúi xuống chẳng dám ngước lên, ông âm thầm khẩn khoản nài xin: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc.18:13).

Trường hợp thứ hai là người thu thuế đang ngồi trên bàn thu thuế nơi phố chợ. Trong lúc ông đang làm việc thì Đức Giêsu đi ngang qua, Ngài đến bên cạnh ông, ông nhìn Ngài, Ngài nhìn ông và ông đứng dậy bước đi theo Ngài.(Lc.5:28).  Người thu thuế đó tên là Lêvi; người thu thuế đó đã ghi chép lại cuộc sống và những lời giảng dạy của thầy mình qua cái tên mới là Mát-thêu do chính thầy mình đặt cho, người thu thuế đó đã được Giáo Hội mừng kính vào ngày 21 tháng 9 sắp tới đây .

Chúng ta hãy lần theo dấu vết của ông trong Kinh Thánh để biết thêm về ông, biết thêm về những năm tháng ông đi theo Chúa, làm môn đệ  của Chúa.      

* * * * *

Mát-thêu sinh quán tại Capharnaum, là con của ông An-phê (Mc.2:14). Khi ông khôn lớn, ông đã bỏ tiền mua quyền được thu thuế. Một ngày kia, ngày “Hồng phúc” đã đến trong cuộc đời ông, đã mang cuộc đời ông sang một ngã rẽ khác, ngày đó Đức Giêsu trên đường đi từ một thành phố cảng nằm giáp miền đất Pê-ri-a, Ngài nhìn thấy ông đang làm việc, Ngài đi đến bàn làm việc của ông, Ngài nói với ông: “Hãy theo ta”. Ông bỏ tất cả, đứng dậy đi theo Ngài (Lc.5:28).  Có lẽ chỉ một mình Đức Giêsu biết tại sao Ngài lại tuyển chọn Mát-thêu trong số đám đông có mặt tại đó, và cũng chỉ một mình Mát-thêu mới có thể cho chúng ta biết là ông đã nhận thấy điểm gì sáng ngời nơi Đức Giêsu đến nỗi ông đã lập tức rời bàn thu thuế để đi theo Ngài.

Bạn thân mến! Chắc hẳn Đức Giêsu cũng đã nhiều lần đến bên tôi, đến bên bạn, Ngài cũng đã nói với tôi và bạn câu nói năm xưa Ngài đã nói với Mát-thêu: “Hãy theo ta”. Tôi và bạn, chúng ta có nghe thấy lời mời gọi của Ngài không? Chúng ta đã đáp trả lời mời gọi của Ngài ra sao?  Đôi khi Ngài đã không trực tiếp nói lời mời gọi ấy, nhưng Ngài đã nhờ những người xung quanh chuyển lời mời gọi đó cho tôi và bạn, Chúng ta có để ý và nghe được lời mời gọi đó không? Đôi khi Ngài nói trực tiếp với chúng ta trong những giây phút nghỉ ngơi thinh lặng trong ngày, chúng ta có dành ra những giây phút thinh lặng để lắng nghe tiếng mời gọi của Ngài  không ?

Quả thật! Ơn gọi thật nhiệm mầu…Ơn gọi là tình yêu… Có lẽ Đức Giêsu gọi và chọn một người không phải là người đó thánh thiện xứng đáng, nhưng Ngài gọi và chọn vì Ngài muốn tỏ bày tình yêu thương của Ngài.

Kinh Thánh cũng kể lại rằng: Sau khi nghe lời mời gọi của Đức Giêsu, Mát-thêu đã đứng dậy bước theo Ngài, lòng ông tràn ngập niềm vui với ơn gọi mới, với lý tưởng mới. Để ghi nhớ và tạ ơn vì được lãnh nhận ơn gọi, ông đã tổ chức một bữa tiệc tại nhà riêng và mời Đức Giêsu cùng bạn hữu đến tham dự (Lc.5:29). Trong bữa tiệc, chắc hẳn ông đã líu lo với bạn bè về ơn gọi của ông, về niềm vui mới của ông và nhất là về Thầy Giêsu của ông, người mà ông đã bỏ công việc thu thuế béo bở, bỏ cuộc sống êm ấm giàu sang để đi theo Ngài. Chính hôm nay đây, ông đã làm chứng cho thầy mình bằng việc công khai loan báo với bạn bè rằng ông bỏ mọi sự để đi theo Ngài, ông cũng đã tạo cơ hội để bạn bè của ông có dịp gặp gỡ và trò truyện bên Thầy Giêsu của ông (Mt 9:10-13).

Bạn thân mến! nếu bạn và tôi, chúng ta đang cộng tác phụ giúp chương trình mục vụ trong cộng đòan giáo xứ, trong phong trào đòan thể, trong việc bác ái từ thiện ngòai xã hội.v..v.. Mời bạn cùng với tôi, chúng ta hãy nhìn lại công việc phục vụ của mình để tự hỏi chính lòng mình: Tôi có giống Mát-thêu xưa kia không? Lòng tôi có tràn nhập niềm vui với ơn gọi của mình không? Tôi có biết tạ ơn vì được lãnh nhận ơn gọi không? Tôi có trân qúy và biết gìn giữ ơn gọi của mình không?

Ơn gọi là một hồng ân lớn lao, vì được tham dự vào công cuộc xây dựng Nước Trời, vì được cộng tác làm việc cho vị Vua trên tất cả các vua, vị Tổng Thống trên tất cả các tổng thống …Tôi phải vui mừng và hãnh diện khi được mời gọi cộng tác với Ngài, phục vụ trong vương quốc của Ngài.

Mát-thêu đã cùng với Nhóm Mười Hai sống bên Đức Giêsu trong 3 năm khi Ngài đi rao giảng, ông đã cùng ăn uống cùng nghỉ ngơi bên Ngài.  Trong ba năm đó, ông đã được Ngài dạy dỗ biến đổi thành một người mới, ông được chứng kiến sự chết và sự phục sinh của Đức Giêsu. Ngày lễ Ngũ Tuần, ông cùng với các bạn hữu trong nhóm được lãnh nhận sức mạnh từ Thánh Thần Thiên Chúa. Một lần nữa ông đứng dậy, một mình lên đường rao giảng và làm chứng về Đức Giêsu Kitô.

Truyền thống tin rằng Mát-thêu đã viết Phúc Âm thứ nhất, nguyên bản bằng tiếng Aramaic, nhưng sau đó đã được dịch sang tiếng Hy lạp. Chắc hẳn khi Mát-thêu ngồi viết, ông đã bồi hồi nhớ lại buổi đầu tiên gặp gỡ Đức Giêsu, nhớ lại những kỷ niệm sống bên cạnh thầy mình, những cử chỉ thân thương, những chân lý trong lời dạy dỗ chí tình của thầy mình …

Phần thưởng cho người môn đệ Đức Giêsu khi đi rao giảng và làm chứng cho thầy mình là được mất đi mạng sống của chính mình…Mát-thêu cũng không đi ra ngòai quy luật đó. Truyền thống đã kể lại rằng Mát-thêu đã chịu tử đạo trên đường đi rao giảng tại xứ Ba Tư.

* * * * *

Lạy Chúa, cuộc sống hằng ngày với viết bao ồn ào và bận rộn, với biết bao lời kêu mời réo gọi vang vọng bên tai con.  Làm sao con có thể nghe được tiếng của Chúa?  Làm sao con có thể nhận ra lời mời gọi của Ngài?

Lạy Chúa! Xin giúp con, xin cho con biết lắng nghe, biết phân biệt và nhận ra lời mời gọi của Ngài, Xin cho con biết noi gương bắt chước thánh Mát-thêu, biết đáp trả lời mời gọi của Chúa, biết đứng dậy và bước đi theo Ngài. Amen .

TRÁCH NHIỆM LINH MỤC

Trong trận chiến Pháp – Đức vào những năm 1939-1945, hạm đội Pháp ngày đêm tuần hành trên biển. Vào một sáng, đài báo cho biết một chiếc tầu ngầm của Đức đang tiến lại.

Lệnh được ban ra.  Những chiếc phóng ngư lôi xối xả phóng thuỷ lôi về phía tầu địch. Một lát sau người ta thấy những mảng dầu đen nổi trên mặt biển. Những lính thuỷ Pháp được lệnh xuống những ca-nô nhỏ để cứu những lính địch bị nạn.  Mấy chiếc đầu nhô lên giữa những mảng dầu.  Tất cả được vớt lên và cho lên tầu cấp cứu.  Cha tuyên uý trên tầu có mặt ngay bên các nạn nhân để ban các Bí tích cuối cùng.  Trong số những nạn nhân, có một người bị thương rất nặng.  Toàn thân bị cháy, mặt bị cháy đen, hai mắt mù, chỉ còn cái miệng là còn hoạt động. Cha tuyên uý đến gần ghé sát nạn nhân.  Ngài nghe những tiếng Giêsu-Maria-Giuse thoát ra từ miệng người sắp chết.  Ngài nói đôi lời an ủi, khuyên bảo và giải tội và ban các Bí tích cuối cùng bằng ngôn ngữ La-tinh, Ngài đọc đến đâu, nạn nhân thưa lại bằng tiếng La-tinh.  Ngài ngạc nhiên hỏi :

– Xin lỗi anh, chắc anh đã học ở chủng viện.

– Hơn thế nữa.

Cha tuyên uý Pháp xúc động, ngực ngài nghẹn lại :

– Xin lỗi, anh là Linh mục?

– Phải, tôi là tuyên uý của chiếc tầu ngầm.

Cha Pháp thổn thức, đây là đồng nghiệp!  Ngài ôm lấy nạn nhân, ghé sát mặt, hôn lên cái mặt đen nhèm đó.

– Xin lỗi, anh cho tôi biết đôi chút về anh được không?

Nghe nạn nhân thều thào kể xong, cha khóc nức lên:

– Anh còn nhớ Michel Pháp không? Tôi đây mà!

Trên đôi mắt cháy đen của nạn nhân, hai giọt nước mắt nhỏ xuống.  Cha tuyên uý Pháp ôm ghì nạn nhân vào ngực mình.  Họ là đôi bạn, tuy khác dân tộc, nhưng cùng học tại trường Truyền Giáo bên Rôma.  Họ kết thân với nhau.  Trở về quê hương, mỗi người thi hành nhiệm vụ công dân của mình.  Và hôm nay họ gặp nhau trong tình trạng thế này.

Cha tuyên uý Đức đã trút hơi thở cuối cùng về với Chúa trong vòng tay của người bạn thân khác chiến tuyến.

***************************

Từ ngàn xưa Cha đã yêu con, Cha gọi con giữa muôn người. Đây là ơn gọi cao cả của cuộc đời các linh mục, Bước hành trình của những linh mục được Chúa sai đi phục vụ khắp muôn nơi:  Từ thành thị cho đến vùng nông thôn hẻo lánh, từ học đường đến bệnh viện – trại mồ côi, từ chốn bình an đến vùng chiến tuyến sục sôi lửa bỏng…  Nói chung linh mục là người được Chúa sai đi, đến để phục vụ những nơi nào có sự hiện diện của con người.

Hình ảnh của Đức Giêsu, một tấm gương sáng cho tất cả mọi thành phần dân Chúa, đặc biệt cho linh mục của Chúa.  Khi Người đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ.  Người đã đi khắp mọi nơi, mọi chốn trên quê hương của Người (Mt 4,23-25). Cả đến vùng Samaria là một miền toàn dân ngoại, Người cũng đến để gieo mầm giống đức tin cho dân miền này (Ga 4,1-39).  Người tranh luận giải thích về truyền thống Do Thái giữa những vị Pharisiêu và kỳ lão (Mt 15,1-9).  Chính Người đã xông pha đi vào những nơi đang biến đền thờ thành nơi họp chợ, Người đã mạnh dạn đánh đuổi những người buôn bán (Mt21,12-15).  Nói chung cuộc sống trần thế của Người mong muốn canh tân cách sống, muốn cải thiện lại việc giữ đạo thờ kính Thiên Chúa, kiện toàn luật Mai-sen (Mt 5,17-19).  Rồi đến cuối cuộc hành trình truyền giáo của Người.  Người đã hiên ngang như một vị Vua đi vào Thành Giêrusalem, nơi những người đang chống đối và mưu toan tìm bắt và thủ tiêu Người (Mt 21,1-10).  Và cũng chính các môn đệ cho rằng những Lời Người nói là chướng tai gai mắt, không thể chấp nhận được trong cuộc sống

Hai linh mục tuyên uý được sai đến phục vụ trong môi trường giống nhau, nhưng thi hành nghĩa vụ công dân cho hai dân tộc khác nhau.  Cuộc chiến giữa con người với con người đã cho đôi bạn thân, khi còn ngồi trên ghế nhà trường gặp nhau trong hoàn cảnh bi đát này!  Cũng chính vì con người với con người muốn tranh giành quyền lợi cho riêng mình, đã làm mất đi cái giá trị cao quí của tình người, vi phạm đến giới răn thứ hai chính Đức Giêsu đã dạy con người là yêu người.

***************************

Lạy Chúa, xin cho các quốc gia trên thế giới luôn thể hiện sự thân ái, đầy thiện cảm, để cùng nhau xây dựng cho thế giới có nền hoà bình viên mãn.  Xin Chúa cho các linh mục của Chúa luôn hăng say trong việc phục vụ tha nhân, cho dù nơi đó có khó khăn, trở ngại, biết hy sinh – cầu nguyện, dùng nghị lực để vượt qua những chông gai, thử thách. Amen.

Pet. PBH

CAY ĐẮNG NHƯNG LẠI TỐT ĐẸP HƠN?

Trong quyển sách nhan đề: Này tôi tin (This I believe) có một loạt bài khảo luận của một số tác giả nổi tiếng. Họ mô tả lại những thời kỳ trong cuộc đời của họ đã tác động trên họ một cách sâu xa.  Chẳng hạn, James du Pont thuộc công ty Du Pont kể lại sự kiện xảy đến cho ông khi ông vừa mới 7 tuổi đầu như sau: Một đêm, đang say ngủ, chợt James thức giấc, cậu bé nhìn thấy mẹ đang khóc lớn tiếng.  Đây là lần đầu tiên cậu thấy mẹ khóc, James mô tả biến cố này như sau;

“Giọng bố tôi trầm xuống lộ vẻ bối rối trong khi ông cố gắng an ủi mẹ tôi – lúc đó cả hai người đều sầu buồn nên quên mất tôi đang hiện diện ở bên cạnh. Tôi nghe lỏm được những gì các ngài đang nói”. Ông nói thêm: “Khi vấn đề của các ngài đã được giải quyết và bị chìm vào quên lãng lâu rồi, thì ‘biến cố’ quan trọng tôi khám phá được vào đêm khuya ấy và mãi mãi còn lưu lại trong tâm trí tôi.  Khám phá ấy được ghi nhận bằng những lời an ủi của bố tôi; ‘Đời sống đâu phải chỉ toàn là vừa ý và hoa hồng đâu! Nhiều lúc nó rất là khó khăn và cay đắng’.

*********************************

Chắc chắn chúng ta đều có thể mường tượng được cảnh chú bé 7 tuổi đang nằm trên giường lắng nghe mẹ chú khóc. Chúng ta cũng có thể nhớ lại đã có lần ta nghe mẹ mình khóc, và điều ấy đã gây ấn tượng mạnh trên chúng ta như thế nào, và điều ấy đã khiến chúng ta, có lẽ lần đầu tiên trong đời, ý thức được cuộc đời không chỉ toàn là vừa ý và hoa hồng, đôi khi nó rất khó khăn và khổ đau. Từ đó chúng ta hiểu được những lời Chúa Giêsu nói trong Phúc Âm ngày hôm nay.

“Ai muốn đến với Ta, thì hãy quên mình, vác thập giá mình rồi theo Ta”. Nói cách khác, khổ đau sầu muộn có thể ví như những cơn bão táp, lụt lội xảy đến. Chúng ta là một phần cuộc sống mà chúng ta không thể nào tránh né được.  Tuy nhiên, Chúa Giêsu lại tiếp tục biểu lộ một điều kỳ diệu khi Ngài nói:

“Ai muốn cứu lấy mạng mình thì sẽ bị mất nó, nhưng ai liều mất cuộc sống vì ta và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được nó”. Nói cách khác, đối với Chúa Giêsu, điều quan trọng trong cuộc sống không phải là nỗi phiền muộn hay đớn đau xảy đến trên chúng ta mà chính là thái độ chúng ta đáp ứng chúng, cách thức chúng ta xử lý chúng. Có lẽ chúng ta không thể nào tránh được khổ đau phiền muộn nhưng chúng ta vẫn có thể biến chúng thành nguồn trợ lực thay vì huỷ diệt, nguồn mang sức sống thay vì chết chóc, nhờ đó chúng ta trở nên tốt đẹp hơn thay vì chua chát hơn.

Xin hãy nghe một minh chứng qua trường hợp Eugene Oneill:  Mãi đến tuổi 25, ông vẫn còn là một người thất bại, cuộc sống thì hầu như không mục đích, không qui củ, không định hướng.  Thế rồi một hôm, ông lâm trọng bệnh và được đem vào bệnh viện.  Nhờ thời gian nằm viện, ông đã có dịp may làm được điều trước đó ông chưa bao giờ làm được; ông mới có dịp may suy nghĩ và định hướng cho cuộc đời mình. Nhờ đó ông đã khám phá ra tài năng soạn kịch của ông.

Cuối cùng Eugene O’Neill bình phục, ông chọn nghề viết kịch và bắt đầu trở thành người canh tân nền kịch nghệ Hoa Kỳ.  Tất cả điều này xảy ra chính là do ông đã biết biến đổi phiền muộn khổ đau thành phương cách xây dựng tích cực, đã biến chúng thành sức sống cho ông.

Trường hợp Golda Meir cũng thế. Khi còn là một thiếu nữ, Golda Meir rất thất vọng về nhan sắc của mình. Cô viết: “Mãi về sau, tôi mới nhận ra rằng không được đẹp lại là một may mắn tiềm tàng, bởi vì điều ấy buộc tôi phải khai triển những tài năng sâu kín hơn, cuối cùng tôi hiểu được rằng phụ nữ không thể ỷ lại vào sắc đẹp của mình, mà phải làm việc chăm chỉ để nhờ đó… mang lại lợi ích cho mình hơn.” Nói cách khác, Golda Meir đã biết chấp nhận thánh giá của mình.  Cô đã không kêu gào than khóc, không bẳn gắt, căm hờn, cô biết cam nhận vác nó lên với lòng can đảm, để rồi cuối cùng cô đã trở nên nữ thủ tướng đầu tiên của Israel.

Cuối cùng, chúng ta hãy xét đến trường hợp của Oscar Wilde.  Ở đỉnh cao nghề nghiệp viết lách, ông đã xác tín sứ mạng luân lý của mình.  Sau khi ở tù ra, ông không còn chấp nhận viết những vở hài kịch phù phiếm nữa, không dành trí tưởng tượng cho ba chuyện lăng nhăng lít nhít nữa. Ông đã sáng tác những câu thơ tuyệt vời như:

“Đau khổ chính là mảnh đất thánh”, hay: “Đức Kitô đâu có thể đi vào tâm hồn chúng ta bằng nẻo đường nào khác ngoài trái tim đã vỡ nát”.

Oscar Wilde đã dùng kinh nghiệm nhục nhã của mình như một dịp để tăng triển tốt đẹp hơn.  Giống như tinh thần bài Phúc Âm hôm nay ông đã biết biến đổi kinh nghiệm ấy thành nguồn ban sức sống chứ không để nó thành nguồn chết chóc huỷ diệt.

Những câu chuyện về Eugene O’Neill, Golda Meir và Oscar Wilde cho ta thấy rõ ràng điều quan trọng trong cuộc sống không phải là những khổ đau phiền muộn xảy đến cho chúng ta, mà chính là cách thức chúng ta đáp lại chúng, cách thức chúng ta xử lý chúng.  Nếu ta từ chối không chấp nhận khổ đau phiền muộn, không chịu cúi xuống nâng chúng lên, thì chúng ta sẽ đánh mất chính cuộc sống của mình.  Ngược lại, nếu chúng ta bắt chước Đức Giêsu can đảm cúi xuống nâng chúng lên, thì chúng ta sẽ biến chúng thành năng lực tích cực, thành nguồn ban sức sống giống như trường hợp Eugene O’Neill, Golda và Oscar Wilde.

Để tóm tắt, chúng ta hãy nhớ lại:

– Như cậu bé bảy tuổi trong câu chuyện mở đầu, sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ khám phá ra rằng đời sống không phải chỉ toàn là vừa ý và hoa hồng, nó thường là khó khăn và cay đắng.

Nhưng chúng ta cũng khám phá ra một điều khác nữa.  Sớm muộn gì chúng ta cũng thấy rằng phiền muộn và khổ đau không nhất thiết sẽ đem lại chết chóc, hủy diệt. Chúng ta hãy cảm tạ Chúa Giêsu và Phúc Âm vì phiền muộn và khổ đau có thể biến thành nguồn sống. Thiên Chúa thường dùng khổ đau phiền muộn để biến đổi chúng ta thành người tốt hơn và biết thông hiểu kẻ khác hơn. Khổ đau và phiền muộn có thể mở mắt cho chúng ta để chúng ta thấy được cuộc sống phong phú tốt đẹp, hơn là chúng ta đã từng dám mơ ước.

*********************************

Thi sĩ Robert Browning Hamilton tóm tắt tinh thần bài Phúc Âm hôm nay bằng những lời như sau:

“Tôi bước đi một dặm đường với Nữ Thần Lạc Thú, Nàng ve vuốt tôi đủ điều, nhưng cuối cùng chả làm tôi khôn ngoan hơn tí nào qua những điều nàng nói.

Tôi lại bước đi một dặm với Nữ Thần đau khổ, Nàng chả nói với tôi một lời, nhưng tôi lại học được biết bao điều khi nàng bước đi bên cạnh tôi…”

Cha Mark Link, S.J.
Trích trong Along the Road – Dọc đường

BỨC THƯ TỪ BIỆT (có Youtube)

thứ…., ngày…., tháng….

Nhớ khi thu dọn mọi sự rời bỏ sở làm để về “hưu non”, cái tâm trạng giã từ thật xao xuyến, bâng khuâng. Chợt nhận ra biết bao nhiêu điều tự bao lâu nay luôn luôn là những chuyện rất quan trọng, rất cần thiết, rất giá trị, bỗng nhiên thành ra không còn một ý nghiã, một giá trị, một cần thiết gì nữa cả!  Vì thôi rồi, vì ngưng rồi, vì thay đổi rồi.  Ấy dẫu sao cũng chỉ là một thay đổi thật nhỏ bé thôi so với cái thay đổi chung cuộc, hết cuộc đời, hết cuộc sống này… như một con người đang chỉ còn những ngày cuối để sống.  Bỗng nhiên bao chuyện tưởng là quan trọng nay thành ra như không!…Tàn hơi, lià đời, hết một kiếp người… Thân lạnh, tay xuôi, thôi khóc, thôi cười …

thứ…., ngày…., tháng….

Chúa ơi, con chỉ còn ít thời gian vắn vỏi chuyện trò với Chúa trên dương gian này, trên giường bệnh này thôi.  Con biết nói gì thêm với Chúa đây nhỉ? Con chỉ biết tạ ơn Chúa đã ở bên con từng giây phút sống, từ bé thơ cho đến nay.  Bao ân tình Chúa tuôn đổ… tuy dù con đã nhiều nhạt nhòa đáp lại… Chúa là tất cả, là khởi đầu và kết thúc của đời con nhưng con biết đời mình đã quá nhiều nhạt nhòa. Thôi, dù muộn màng và dù chỉ còn ít thời giờ ngắn ngủi, con vẫn muốn làm lại với Chúa những nồng nàn đáp trả, những lời tạ ơn bằng chính cơn đau đớn đang tăng dần này… Con chẳng còn thứ gì khác để dâng cho Chúa hết… Con xin dâng lên Chúa những giờ phút rất bịn rịn, lo âu, sợ hãi, bối rối này.

Cũng như mọi người, con chỉ có một lần đối diện với giây phút xao xuyến ấy, xin Chúa đừng bỏ con.  Xin ở lại với con, vì đời con đang xế chiều…   Xin đừng quên bỏ những phần “tim con còn để lại”.  Chúa không muốn con hoàn tất trách nhiệm của mình đối với họ thì Chúa hãy làm cho họ thay con vậy.  Xin che chở, gìn giữ từng đứa con của con.  Ước gì chúng là dấu chỉ của ân sủng và tình thương Chúa ban cho con. Xin nâng đỡ người vợ góa bụa của con nữa.  Con vẫn muốn chia sẻ gánh nặng trên vai nàng, nhưng nếu Chúa không muốn, con xin trao gánh nặng đó vào tay Chúa.  Chúa ơi, xin ở với con… Xin đừng bỏ con…

thứ…., ngày…., tháng….

Thôi, Em ạ, ngày giờ của Anh đã đến.  Với tất cả quyến luyến, nhớ thương, Anh gởi Em lời giã từ ngay khi Anh còn có thể viết.  Cơn đau sẽ đến chỉ trong một quãng rất ngắn nữa.  Anh vô cùng cảm ơn Em đã yêu Anh, đã đồng hành với Anh trong quãng đường định mệnh, đã chia sẻ với Anh mọi nỗi niềm vui mừng sướng khổ cuộc đời.  Cám ơn Em đã cho Anh những đứa con đẹp đẽ thiên thần.  Em và các con vẫn mãi là cả bầu trời yêu thương, là con tim của Anh, là ân sủng của Chúa cho đời Anh.  Cám ơn Em về bao cố gắng Em đã làm cho Anh, cho các con, đặc biệt, Em đã nâng đỡ Anh suốt thời gian yếu đau với bao quan tâm săn sóc… Em ơi, Anh yêu quý, cảm ơn Em lắm.  Tạ ơn Chúa đã xe kết Em và Anh trong bí tích hôn phối.  Dù không được may mắn sống với Em đến đầu bạc răng long, Anh vẫn cảm tạ Chúa về từng ngày hạnh phúc ở bên Em… Thương và lo cho các con, Em nhé.  Các con là tất cả gia tài của Em, của Anh và là hồng ân của Chúa cho chúng ta… Anh sẽ nguyện cầu xin Chúa hoàn tất nơi Em, nơi các con những điều Ngài đã bắt đầu.

Anh xin Em cảm thông đối với những bất toàn nơi bản thân Anh, nơi cuộc sống của Anh suốt thời gian chung sống.  Em ơi, Anh thương quý Em mãi mãi… mãi mãi…

thứ…., ngày…., tháng….

Các con ơi, tạm biệt các con, Cha ra đi nhé. Cha không còn ở bên các con, nhưng còn Mẹ… Hãy ở bên Mẹ, chăm sóc, kính yêu Mẹ… Mẹ thương các con vô cùng, từ thuở các con lọt lòng và vẫn tảo tần lo cho các con khôn lớn… Các con mãi là ân sủng của Chúa, là những đóa hoa, là cả con tim và ước vọng của Mẹ, của Cha.  Cha vẫn muốn hy sinh thêm cho các con, hy sinh hết mọi thứ, hy sinh tất cả phần đời còn lại,  nhưng tiếc là thời gian của Cha không còn.  Mẹ đang hy sinh như thế cho các con đấy, gấp đôi, cả đời.  Biết ơn Mẹ, yêu kính Mẹ, và hãy luôn thương nhau, các con nhé.  Các con ơi, Cha thương, Cha nhớ các con lắm.

thứ…., ngày…., tháng….

Các Bạn ơi, tôi nói lời giã từ với các Bạn đây.  Cám ơn các Bạn đã hiện diện bên tôi lúc đời tôi biến cố. Cám ơn các Bạn về những cái xiết tay, những lời động viên, những chia sẻ giúp đỡ những lúc gia đình tôi cần đến một tấm lòng…

Xin cảm ơn mọi người… sẽ hiện diện cùng với tôi trong thánh lễ cuối cùng, thánh lễ mà chúng ta sẽ cùng tha thiết và vui mừng tạ ơn vì chúng ta được Chúa ở cùng.  “Ngày ấy”  là ngày Thiên Chúa dựng nên, Chúng ta vui mừng sung sướng triền miên” … “Hôm nay đáng ghi muôn đời. Hôm nay Chúa thương dân Người Hôm nay Chúa đem dân Người lên núi Sion” …..

Chúa ơi, xin ở với con… Xin đừng bỏ con…  Amen

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

CON CHO CHÚA CƠ MÀ

Một tên trộm lẻn vào nhà thờ cậy cửa nhà tạm lấy bình đựng Mình Thánh Chúa, hắn ta đổ Mình Thánh xuống đất và lấy chiếc bình.  Cha xứ xúc động báo tin cho cộng đoàn và kêu gọi mọi người góp phần mua chiếc bình mới.

Trong số những người đến dâng góp có một bà goá, bà có tám con nhỏ, bà đến trao phần của bà một đồng tiền vàng, đó là tất cả cơ nghiệp của bà.  Cha xứ cảm động từ chối :

– Bà dâng nhiều quá. Tôi không dám nhận đâu.  Chúa cũng không đòi bà quá thế.  Tôi không thể nhận một hy sinh to lớn như vậy.  Bà rất cần số tiền đó, rất cần để nuôi nấng và may sắm cho các con bà. Nhận số tiền của bà tôi coi như một trọng tội.

Bà già thưa lại :

– Thưa cha, sao cha không nhận?  Ai bảo rằng con cho cha đâu?  Đây không phải là con biếu cha, nhưng con dâng cho Chúa cơ mà.  Chúa đã ban cho con và còn ban cho con hơn gấp bội ấy chứ.

Cha xứ phải nhận tiền của bà già dâng và nói :

– Này bà, lòng tin yêu Chúa của bà lớn quá!

********************************

Câu chuyện cho tôi liên tưởng tới đoạn Tin Mừng: Hai đồng tiền nhỏ của bà goá. (Lc 21,1-4). Chúa đã nhận được tấm lòng “của ít lòng nhiều” nơi bà goá.  Hai đồng tiền kẽm và đồng tiền vàng là cả gia tài của hai bà, họ thực sự đã yêu mến Chúa “hết linh hồn, hết trí khôn”, sẵn sàng dâng hết tài sản nhỏ bé của mình để góp phần xây dựng, tu bổ nhà Chúa, trong khi gia đình họ là thành phần mẹ goá con côi, vắng bóng người chồng là cột trụ trong gia đình, họ phải bương chải buôn thúng bán bưng, để chèo lái dẫn dắt gia đình của họ trong cuộc sống.

Họ cho đi vì niềm tin của họ đã đặt để trọn vẹn nơi sự quan phòng của Thiên Chúa, họ biết chắc chắn Chúa sẽ bù đáp lại cho họ gấp trăm lần.

Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy.” (Lc 6,38).  Đấy chính là niềm tin của họ đã thúc đẩy họ dành cho Chúa trong việc kính mến Chúa đến như vậy.

Ngày nay muốn cho Giáo Hội trường tồn và phát triển rộng khắp, là những Kitô Giáo phải biết quan tâm đến vấn đề này, mỗi người một tay đóng góp hỗ trợ công sức, tài năng, tiền bạc … Để từ những nguồn trợ lực đó của mọi người Giáo Hội mới có đủ điều kiện chi phí mở mang, đào tạo … nhằm mục đích đem Tin Mừng Chúa đến cho muôn dân, để tất cả mọi người đều được hưởng Ơn Cứu Độ của Chúa.

Niềm xúc động khi mọi người thấy Mình Thánh Chúa bị cái tên vô lại nào đó xúc phạm, chỉ vì lòng tham, hắn ta đã bất chấp cả sự phạm Thánh, hắn ta cứ ngỡ là chiếc bình là vàng thật nên mới cố tình muốn chiếm đoạt, làm tổn hại đến Thánh Thể Chúa. Đứng trước sự phạm Thánh như thế. Mọi người đều cảm nhận được và sẵn sàng cùng góp phần để sắm một chiếc bình khác.

Còn tôi, tôi nghĩ gì? làm gì? mỗi khi nơi Giáo xứ, Giáo phận tôi ở, đang cần có sự đóng góp của mọi người, trong đó có tôi.

* Tôi có tích cực tham gia để cùng mọi người chung nhau góp tài góp trí, góp sức góp của, cho mục đích nơi Giáo xứ, Giáo phận đang cần?

*  Hay tôi chỉ là một bà mợ “không có mợ thì chợ cũng đông”, hoặc chỉ mang tư tưởng “cha chung không ai khóc”

********************************

Lạy Chúa, xin cho con biết sống “đừng phung phí biết tiết kiệm” để con dùng những tiết kiệm ấy biết “rộng rãi chớ hà tiện”, nhất là trong công việc mở mang Hội Thánh Chúa nơi trần gian này, cho con thực sbiết rộng rãi không toan tính.  Amen!

Pet. PBH

CÂM ĐIẾC TÂM LINH

Một phụ nữ kia có người bạn bị điếc.  Ngày nọ bà ta hỏi người bạn muốn được tặng gì vào ngày sinh nhật.  Người bạn ấy đáp lại thật bất ngờ: “Xin bạn hãy vui lòng viết thư cho Ann Landers yêu cầu bà ta in lại bảng kinh cầu nguyện cho người điếc. Bà ấy đã từng in nó trước đây vào mục của bà trong một tờ báo, nhưng tôi đã đánh mất bản sao mục đó rồi!”.  Thế là người phụ nữ đã viết thư cho Ann Landers.  Và vào ngày 1.6 ngày sinh nhật của cô bạn, bà Ann đã in lại lời cầu nguyện đó trong cột báo của mình. Một đoạn trong lời cầu đó như sau:

“Lạy Chúa, nỗi đau khổ mà người điếc phải gánh chịu là đa số thiên hạ xem họ như những người chuyên làm phiền người khác.  Người ta thường thiện cảm với người mù, người què, nhưng lại thường nổi xung và bực bội với người điếc.  Kết quả là người điếc thường phải trốn lánh bạn bè và càng ngày càng trở nên khép kín” (William Barclay).

Lời kinh trên cho chúng ta thấy một nỗi niềm, một uẩn khúc nào đó của người điếc mà chúng ta thường ít người nhận ra được.  Đa số chúng ta đều cho rằng mù thì tệ hại hơn điếc.  Thế nhưng Helen Keller vừa bị mù lẫn điếc thì cho rằng bị điếc không nghe được, thì quả là phần lớn những cánh cửa trong cuộc đời ta đã bị khép chặt lại, chẳng hạn: mở radio thì chả hiểu gì, xem truyền hình cũng chả thú vị gì mà còn phát chán, và hầu như không thể trò chuyện với ai được cả.  Vì thế, sau một thời gian chúng ta sẽ cảm thấy cô đơn như bị bỏ rơi.

***************************************

Câu chuyện về người điếc nói trên giúp ta hiểu rõ hơn bài Phúc Âm hôm nay.  Nó giúp ta hiểu được người câm điếc vui sướng như thế nào sau khi được Chúa Giêsu chữa lành. Lần đầu tiên trong cuộc đời anh ta cảm nếm được một phần nào vui thú của cuộc sống.

Điều này dẫn chúng ta đến một vài câu hỏi:

–    Tại sao Chúa Giêsu đã chữa lành người câm điếc ấy?

–    Tại sao Ngài đã khai thông lỗ tai người ấy?

–    Tại sao Ngài đã phục hồi miệng lưỡi người ấy?

Câu trả lời nằm trong bài đọc thứ nhất ngày hôm nay. Trong lời mô tả vài dấu chỉ sẽ xảy ra khi Đấng Mêsia đến, tiên tri Isaia đã nói: “Kẻ điếc sẽ được nghe, ai không nói được sẽ mừng rỡ reo lên”… Qua việc chữa lành người câm điếc trên, Chúa Giêsu đã hoàn tất hai dấu chỉ mà tiên tri Isaia đã nói để giúp dân chúng nhận ra Đấng Mêsia.  Vậy, một trong những mục đích của việc chữa lành ngày hôm nay là xác nhận rõ hơn Đức Giêsu chính là Đấng Mêsia.

Tuy nhiên, việc chữa lành ngườì câm điếc kia còn tỏ lộ một điều ẩn kín nào đó nơi bản thân Đức Giêsu.  Nó cho ta thấy Đức Giêsu là một mẫu người giàu lòng thương xót.  Điều này đặc biệt biểu lộ qua cung cách Ngài tách biệt anh chàng câm điếc ra khỏi đám đông.  Như ta biết, người điếc thường hay mặc cảm nên lúng túng trước tình cảnh của mình.  Họ không hiểu ất giáp gì cả khi nghe người ta hỏi, nên họ luôn cảm thấy mình như ở ngoài rìa.  Vì thế khi dẫn anh chàng câm điếc ra khỏi đám đông, Chúa Giêsu đã biểu lộ lòng xót thương thực sự của Ngài đối với anh, Ngài rất nhạy cảm đối với tình cảnh đáng thương của anh.  Như thế ngoài việc tỏ cho ta biết Chúa Giêsu là Đấng Mêsia, việc chữa lành người câm điếc còn cho ta thấy rõ lòng thương xót của Đức Giêsu.

Cuối cùng, việc Đức Giêsu chữa lành cho người câm điếc đã tạo nên nguồn hy vọng cho chúng ta là những kẻ đang sống ở thời đại ngày nay.

Trạng thái của người câm điếc không giống trạng thái của riêng chúng ta.  Nhiều người trong chúng ta không điếc về thể lý nhưng lại điếc về tâm linh.  Chúng tôi muốn ám chỉ gì đây? Hãy dùng một ví dụ để làm sáng tỏ.

Mới đây một bà mẹ và ông bố đến thăm đứa con gái của họ đang lâm trọng bệnh ở nhà thương.  Ngay khi họ lái xe rời bệnh viện, bà mẹ bắt đầu vừa khóc vừa nói; “Anh Ron ơi, em chả biết rõ điều gì đang xảy đến cho em, lẽ ra 10 năm trước em có thể cầu nguyện với tất cả tấm lòng cho con gái chúng ta.  Lẽ ra em có thể trình bày với Chúa về nó, và lẽ ra em có thể nghe lời Chúa dặn dò em “Đừng lo”.  Thế nhưng em không còn làm điều ấy được nữa.  Em không còn cầu nguyện được nữa, em không thể nói chuyện với Chúa như em đã thường làm. Hình như về mặt thiêng liêng em đã trở nên như câm như điếc”.

Câu chuyện trên mô tả tình trạng của nhiều người trong chúng ta. Chúng ta đôi lúc cũng cảm thấy khó cầu nguyện khác với chúng ta ngày xưa.  Chúng ta cũng cảm thấy khó đối thoại với Chúa và chúng ta cũng cảm thấy khó khăn trong việc nghe Chúa nói với chúng ta.  Vậy trong trường hợp này, chúng ta phải làm gì? Câu trả lời đã nằm sẵn trong bài Phúc Âm hôm nay.  Chúng ta có thể bắt chước người câm điếc trên, nghĩa là tìm kiếm Chúa Giêsu, cùng Ngài bước ra khỏi đám đông và tận hưởng đôi chút thời gian bên sự hiện diện có khả năng chữa lành của Ngài.

Bài Phúc Âm hôm nay khuyên chúng ta nên tạo điều kiện thuận lợi cho Chúa Giêsu để Ngài mở miệng lưỡi chúng ta về mặt thiêng liêng, để Ngài đặt ngón tay của Ngài khai mở đôi tai điếc của chúng ta.  Nó cụ thể hơn, Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta hãy làm lại những gì chúng ta đã từng có thói quen hay làm, tức là bỏ ra ít phút mỗi ngày để cầu nguyện, để Chúa Giêsu thực hiện nơi chúng ta điều Ngài đã làm cho người câm điếc ấy, nghĩa là bài Phúc Âm mời gọi chúng ta hãy để Chúa Giêsu chữa lành bệnh câm điếc của chúng ta.

Như thế, câu chuyện người câm điếc trên nói với chúng ta 3 điều:

–  Thứ nhất, nó mặc khải cho chúng ta Đức Giêsu chính là Đấng Mêsia của Israel đã được mong đợi từ lâu.  Đức Giêsu đã thực hiện điều mà Isaia tiên báo Đấng Mêsia sẽ làm, tức là cho người điếc được nghe và người câm nói được.

–  Thứ hai, câu chuyện người câm điếc mặc khải cho ta biết Chúa Giêsu là Đấng giàu lòng xót thương. Ngài đưa người điếc ra khỏi đám đông để chữa lành cho người ấy.  Ngài không biến người ấy thành trò cười cho thiên hạ mà muốn tiếp xúc thân mật riêng tư với người ấy.

–   Cuối cùng, bài Phúc Âm mặc khải cho chúng ta phương pháp giải quyết các vấn nạn mà nhiều người trong chúng ta đang gặp phải ngày hôm nay. Đó là chúng ta không còn cầu nguyện được nữa, không còn thưa chuyện với Chúa, lắng nghe lời Ngài nói trong tâm hồn chúng ta được nữa. Về mặt thiêng liêng quả thực chúng ta đang bị câm điếc.

Để tìm ra phương pháp giải quyết vấn đề khổ tâm này, chúng ta hãy bắt chước người câm điếc, là tìm kiếm Chúa Giêsu và xin Ngài chữa lành chúng ta. Cụ thể hơn, chúng ta hãy để riêng vài phút mỗi ngày tiếp xúc với Chúa Giêsu ngõ hầu Ngài sẽ chữa lành và làm cho chúng ta hoàn toàn khoẻ mạnh trở lại.

Cha Mark Link, S.J.

***************************************

Lạy Chúa Giêsu, nỗi bất hạnh của người điếc là nghe mà không hiểu và từ từ họ cảm thấy bị tách biệt xa lạ với thế giới bên ngoài.  Còn nỗi bất hạnh của con là theo Chúa nhưng không hiểu Chúa muốn nói gì, không biết Chúa muốn gì nơi con nhưng bất hạnh hơn là con không biết mình đang bị câm điếc tâm linh để xin Chúa chữa lành.  Lạy Đấng giàu lòng xót thương, xin cho con nhận thức căn bịnh tâm linh thời đại mà con đang mang và xin chữa lành tâm hồn con.  Xin cho con biết  sống thân mật với Chúa hơn, biết bỏ ra vài phút mỗi ngày để tiếp xúc với Chúa, để nghe mà hiểu Chúa muốn nói gì, để dễ dàng nhận ra thánh ý Chúa trong đời sống con.  Amen!

NGÃ RẼ CUỘC ĐỜI

Kinh thánh thuật lại những ngã rẽ của người đi theo Chúa. Chúng ta hãy lần theo dấu vết của những người môn đệ trong Kinh thánh để nhận diện những ngã rẽ cuộc đời. Có ba ngã rẽ tiêu biểu.

Ngã rẽ của Giu-đa. Giu-đa là môn đệ trung tín theo Chúa trong suốt 3 năm Chúa đi rao giảng. Ông còn được Chúa tin cẩn trao phó cho công việc quan trọng: nắm giữ tài chánh. Ngày Lễ Lá chắc chắn ông có mặt. Nhưng khi Chúa chịu chết thì ông vắng mặt. Ông đã rẽ sang lối khác. Lối rẽ đuổi theo tiền bạc vật chất. Theo tiếng gọi của tiền bạc, ông đã đưa chân đi những bước xa lạ. Ông đi vào con đường khác. Ông trở thành con người khác. Ông bỏ Chúa vì tiền. Tệ hơn nữa ông bán Chúa để lấy tiền.

Ngã rẽ của Phê-rô. Phê-rô là môn đệ rất thân thiết của Chúa. Là người đứng đầu tông đồ đoàn. Ông thề rằng dù mọi người có bỏ Chúa thì ông vẫn trung thành với Chúa. Ngày Lễ Lá chắc chắn ông ở bên Chúa. Nhưng ngày thứ Sáu Tuần thánh, không thấy ông đâu. Ông đã rẽ sang lối khác: lối rẽ lười biếng và hưởng thụ. Lười biếng vì khi vào vườn Giệt-si-ma-ni, Chúa kêu gọi ông hãy tỉnh thức cầu nguyện với Chúa, vậy mà ông cứ ngủ. Hưởng thụ vì trong sân tòa án, thay vì theo dõi cuộc xét xử Chúa thì ông lại vào tìm hơi ấm nơi đống lửa giữa sân. An nhàn hưởng thụ đã kéo ông xa Chúa. An nhàn hưởng thụ đã đẩy ông đến chỗ chối Chúa.

Ngã rẽ của đám đông. Hàng vạn người đã theo Chúa, mê mệt nghe đến mấy ngày quên ăn, quên về. Biết bao người reo mừng nghênh đón Chúa ngày long trọng vào thành. Thế mà trên Núi Sọ chỉ thấy những người đến sỉ vả, chê bai, nhạo cười. Đám đông đã rẽ sang lối nào? Thưa họ rẽ sang lối dư luận. Thiếu lập trường, chạy theo đám đông. Thấy người ta đi nghe Chúa thì cũng đi. Thấy người ta nhạo cười Chúa thì cũng cười nhạo. Thấy người ta kết án Chúa thì cũng kết án.

Để tự nhiên, chắc chắn không ai nỡ nhẫn tâm bán Chúa, chối Chúa, lên án Chúa. Nhưng người ta thay lòng đổi dạ do tác động của tiền bạc, của hưởng thụ, của dư luận. Đó là những ngã rẽ nguy hiểm.

***********

Những gì đã xảy ra cho Giu-đa, cho Phê-rô và cho đám đông năm xưa vẫn có thể xảy ra cho ta hôm nay. Làm sao để ta luôn đi trên đường theo Chúa và trung thành với Chúa? Thưa hãy Sống Lời Chúa.  Đức Thánh Cha Benedicto cũng khuyên nhủ chúng ta hãy siêng năng đọc, học hỏi, suy niệm Lời Chúa để thực hành trong đời sống.

Lời Chúa sẽ hướng dẫn các bạn biết sáng suốt trước những chọn lựa trong đời sống.

Lời Chúa sẽ soi sáng cho các bạn trong những lúc bóng tối vây phủ.

Lời Chúa sẽ ban sức mạnh khi các bạn cảm thấy yếu mệt.

Lời Chúa sẽ hướng dẫn các bạn biết lối quay về nếu lỡ lạc đường.

Lời Chúa sẽ biến các bạn trở thành chứng nhân cho Chúa trong xã hội hôm nay.

Lời Chúa sẽ ấp ủ, nuôi dưỡng để các bạn lớn lên trong tình thương yêu. Cảm nghiệm được tình yêu thương của Chúa, các bạn sẽ biết đáp lại. Và sẽ trung thành với Chúa cho đến cùng.

(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt – Trích bài giảng thánh lễ giới trẻ)

***********

Lạy Chúa, đời sống con người với những ngã rẽ khác nhau, có ngã rẽ mang con đến gần Chúa; cho con được sống hạnh phúc sung mãn trong tình thương ân sủng của Chúa, nhưng cũng có ngã rẽ mang con ra xa chúa; mang con đến miền tăm tối mịt mờ … Xin Chúa luôn hướng dẫn và gìn giữ con trong tình thương của Chúa, Xin cho con đừng bao giờ lìa xa Chúa … Amen

KHÔNG AI LÀ ĐỒ VÔ DỤNG

Alưu là một cậu tiểu đồng của ông Chu Nguyên Tố.  Cậu thật ngây ngô không làm được việc gì cả.  Thí dụ, một hôm Chu Nguyên Tố mới trồng được vài cây liễu trước sân, sợ trẻ láng giềng nghịch phá, ông sai cậu trông nom dùm.  Đến lúc vào ăn cơm, Alưu nhổ cả cây lên và cất đi một chỗ vì nghĩ rằng như thế an toàn hơn.  Cậu còn làm nhiều chuyện ngây ngô đáng cười như thế, nhưng Chu Nguyên Tố vẫn nuôi cậu suốt đời.  Tại sao?

Chu Nguyên Tố là một họa sĩ tài ba.  Một hôm, ông pha màu để vẽ, thấy Alưu lân la bên mình, ông hỏi đùa: “Mày có biết vẽ không?” Alưu tươi cười đáp: “Thưa vẽ dễ ợt chứ có khó gì mà không biết.”  Đang hứng chí, Chu Nguyên Tố bảo Alưu vẽ thử.  Cậu bé cầm cọ, chấm màu và hí hoáy vẽ.  Nét vẽ cậu tài tình như một họa sĩ lành nghề.   Chu Nguyên Tố thử luôn mấy lần, lần nào Alưu cũng vẽ được như ý ông muốn.  Vì thế, ông đã nuôi nấng, săn sóc cho Alưu và giúp cậu trau dồi tay nghề.  Về sau, Alưu nổi tiếng là một họa sĩ tài ba.

****************************

Thiên Chúa không quan tâm đến những cái bề ngoài. Ngài chê bỏ những hành vi đạo đức và sự bố thí rộng rãi của những người biệt phái, họ chỉ cố gắng đề cao chính mình.  Nhưng Chúa nhận đồng xu bé nhỏ của bà goá, lễ dâng của một tâm hồn quảng đại và vô vị lợi.

Thường mỗi khi chúng ta xét đoán ai, chúng ta chỉ đoán xét dựa theo bề ngoài, chứ ít khi nhìn thấu đáo tận bên trong, để nhận ra tất cả những phức tạp của con người.  Và một khi in trí những khía cạnh nào đó của ai, chúng ta chỉ còn thấy người đó dưới cái nhìn chủ quan của mình mà thôi.  Nếu Chu Nguyên Tố chỉ nhìn thấy khía cạnh ngây ngô, đến độ ngu ngốc khờ dại của Alưu, và tống cổ cậu tiểu đồng của mình đi nơi khác vì cho là đồ vô dụng thì làm sao nhân loại có được nhà danh họa Alưu.

Ở đời, không ai là đồ vô dụng cả, chỉ có người không biết khám phá ra tài năng của người khác do thành kiến, do thiển cận, do suy luận một chiều mà thôi. Chúng ta phải luôn nhớ rằng: mỗi một con người là hình ảnh của Thiên Chúa, được cứu chuộc bằng giá máu của Chúa Kitô, được Chúa Thánh Thần luôn ban ơn nâng đỡ. Vì thế, trong mỗi người luôn tiềm tàng một thánh nhân, và bổn phận của chúng ta là phải cố gắng nhìn thấy vị thánh nhân tiềm tàng nơi người đó, để cùng nhau giúp cho vị thánh tiềm tàng đó càng ngày càng rõ nét hơn nơi mọi người.

****************************

Lạy Chúa, xin giúp con biết nhìn anh chị em con bằng đôi mắt của Chúa để con thấy những điều tốt đẹp Chúa đã an bài nơi mỗi người.  Từ nay trước khi con phê bình chỉ trích ai, nói xấu ai, kết án ai, xin cho con cảm nghiệm được thế nào là phê bình, chỉ trích, nói xấu kết án.  Ngược lại mỗi khi con cảm thấy can đảm hơn, tự tin hơn, khi được ai khích lệ, xin cho con cũng biết dùng kinh nghiệm đó để nâng đỡ khuyến khích anh chị em con như thế.  Amen!

Thiên Phúc

TÀN NHƯNG KHÔNG PHẾ

Mùng 3 Tết, ghé Trung Tâm thăm cộng đoàn và bệnh nhân.  Lần đầu tiên gặp em, em trong mắt tôi là một người tri thức, xinh gái.  Hỏi thăm thì em nói rằng em đến Trung Tâm để giúp các em nhỏ học hành.  Tôi ngạc nhiên trước sự hy sinh lớn lao cao cả này vì lẽ giữa nhịp sống “kinh tế thị trường mà có người quảng đại như thế !

Trên đường về, anh bạn mới cho tôi biết sự thật về em: em bị nhiễm vi khuẩn AIDS!!!

Tôi hụt hẫng vì thật sự mà nói em có khuôn mặt khả ái, dễ nhìn, tri thức, trình độ ngoại ngữ thuộc loại khá, đi nước ngoài cũng nhiều … vậy mà !

Lần sau gặp lại em, tôi mạo muội hỏi thăm em và em bắt đầu kể cho tôi nghe :

“… Em quen anh cách đây 5 năm. Và rồi em chợt nhận ra giữa anh và em có một khoảng cách quá lớn.  Khoảng cách đó chính là lập trường sống.  Em từ bé theo gia đình bước vào đời với công việc kinh doanh và rồi em điều khiển cuộc sống của em bằng kinh doanh và kinh doanh chi phối đời em.  Còn anh thì ngược lại.  Gia đình anh thuộc gia đình công chức và lập trường của anh là chính trị.  Anh muốn điều khiển con người theo chính trị và chính trị chi phối đời anh.

Nhận ra sự bất đồng ấy và rồi em chủ động chia tay …

… Tưởng chừng cuộc chia tay ấy đơn giản nhưng chẳng đơn giản chút nào cả.

Anh đã đến nhà em, anh đã van xin, anh đã quỵ luỵ để được đến với em như ngày nào.
Lý trí em đã quyết định đường ai nấy đi cho thanh thản nhưng rồi con tim lại kéo em về bên anh.

… Và tưởng chừng sự quay lại ấy bình yên nhưng nào ngờ lại có sóng gió.

Bỗng nhiên anh nghĩ lại anh là một người đàn ông, một người cứng rắn với lập trường chính trị của mình mà phải yếu đuối, phải van xin tình cảm của một cô con gái….  Anh trút nỗi buồn ấy với một người hàng xóm bằng những mũi tiêm oan nghiệt.

Một thời gian sau, người hàng xóm của anh qua đời.  Người hàng xóm ấy qua đời vì bị sốc thuốc.  Sau đó anh đi khám nghiệm AIDS và rồi anh cùng gia đình suy sụp.

Em cũng chẳng thoát được căn bệnh thế kỷ khi tình yêu em đã dành hết cho anh.

… Ngày còn học cấp III, em có nghe nói về căn bệnh này nhưng em chẳng hiểu tại sao em bị như vậy … em xem như đây là điều không may trong cuộc đời.

Em đã bỏ quê hương để vào đây tá túc trong những ngày còn lại của cuộc đời.  Bố mẹ của anh ấy cũng đã vào đây đón em về để chăm sóc nhưng em không chịu.  Anh có ngỏ ý cưới em nhưng em không đồng ý vì em không muốn lấy một “em bé” về làm chồng.  Sở dĩ em nói anh là “em bé” vì từ bé đến giờ anh chỉ sống trong sự cung phụng của gia đình, anh chẳng có một chút trách nhiệm gì cả thì lấy về làm gì.  Lấy về chỉ thêm khổ …”

Nghe em tâm sự về cuộc đời của em tôi mới hiểu được căn bệnh từ đâu.  Chỉ từ một chút tự ái, một chút nông nỗi mà người tình đã đi tìm đến mũi thuốc oan nghiệt để giải sầu.  Tưởng chừng giải được sầu nhưng nào ngờ đâu cái sầu đó lại ngày càng chồng chất lên anh bạn và lên đời của em.

Nghe chuyện của em lòng tôi quặn lại.  Đau cho em quá!  Đau cho cuộc đời quá!  Thế nhưng trong nỗi đau của mình, sự tàn phế của em đã làm cho tôi cũng như em và mọi người loé lên một tia hy vọng.

Tâm nguyện của em là sẽ dành quãng đời còn lại của mình để giúp cho những người đồng cảnh ngộ.

Em tàn nhưng em không phế.  Cuộc đời và mọi người vẫn trân trọng nhân cách của em.  Ước gì tâm nguyện của em sẽ mãi mãi ở trong em và rồi em tận dụng tất cả những gì trời ban cho em để em phục vụ cho những người em gặp gỡ.

Anmai.CSsR

NGƯỜI KHÔNG NHÌN LẠI

Vào năm 1924, ông Eric Liddell là lực sĩ chạy bộ 100 thước nhanh nhất nước Anh.  Ai ai cũng tin rằng ông sẽ giựt huy chương vàng Thế Vận Hội ở Balê vào năm đó.  Nhưng đột nhiên có vấn đề làm xôn xao dư luận.

Khi chương trình Thế Vận Hội được quảng bá, cuộc chạy đua 100 thước lại xảy ra vào ngày Chúa Nhật.  Với ông Eric, giới răn “giữ ngày Chúa Nhật thánh thiện” có nghĩa ông không được chạy đua vào ngày Chúa Nhật.  Ông thật buồn.

Khi tin đồn khắp nơi là ông Eric sẽ không dự cuộc đua 100 thước, bao nhiêu áp lực đổ lên ông. Ngay cả Hoàng Tử xứ Wales cũng cố can thiệp vào lương tâm của ông.  Khi ông quyết định từ chối tham dự cuộc đua, báo chí Anh quốc gọi ông là kẻ phản quốc.  Nhưng ông Eric vẫn từ chối không muốn đi ngược với điều ông tin tưởng.

Ông gặp các huấn luyện viên và đề nghị một toán lực sĩ sẽ thay ông chạy đua 100 thước. Còn ông sẽ tham dự cuộc đua 400 thước, dù rằng chưa bao giờ trong đời ông tham dự loại này.

Kết quả không những ông Eric đã đoạt huy chương vàng cuộc đua 400 thước mà toàn đội của ông cũng đoạt huy chương vàng cuộc đua 100 thước.  Thay vì chỉ được một huy chương vàng, các lực sĩ chạy đua của nước Anh đã đoạt được hai huy chương vàng.

Một vài năm sau Thế Vận Hội, ông Eric làm thế giới ngạc nhiên khi ông tình nguyện sang Trung Quốc truyền giáo.  Sau đó, người yêu của ông cùng tham gia với ông.  Họ kết hôn và có được ba người con xinh đẹp.

Sau đó Thế Chiến II xảy ra, khi nước Nhật tham dự cuộc chiến, ông Eric đưa gia đình sang Gia Nã Đại.  Sau đó không lâu, Nhật xâm lăng Trung Quốc.  Ông Eric bị bắt và bị đưa vào trại tập trung của Nhật.  Ở đây ông tiếp tục sứ vụ, làm việc với các tù binh khác.

Một vài năm sau, ông từ trần một cách anh hùng trong trại tù.

Sau cái chết của ông, vợ ông nhận được rất nhiều lá thư nói về cử chỉ anh hùng của ông Eric khi ở trong trại. Trong các thư khác, có hai người viết là nhờ ông Eric mà họ đã không tự tử.

Vào năm 1980 có người muốn thực hiện cuốn phim về ông Eric và Thế Vận Hội 1924. Khi vợ ông nghe được, lúc ấy bà đang sống ở Toronto, bà nói, “Có ai để ý đến một biến cố xảy ra đã quá lâu về một người không muốn chạy đua vào ngày Chúa Nhật chỉ vì đức tin Kitô Giáo?”

Kết quả không ngờ là cả hàng triệu người muốn lưu ý.  Cuốn phim, được gọi là Chariots of Fire, không chỉ phá kỷ lục số vé bán mà còn chiếm Giải Academy năm 1982.

**********************************

Câu chuyện của ông Eric Liddell cho thấy khía cạnh tích cực của lời Chúa Giêsu trong bài phúc âm hôm nay. Chúa Giêsu nói:

“Ai bắt đầu cầy cấy mà còn nhìn lại thì không phục vụ cho Nước Trời.”

Ông Eric Liddell không bao giờ nhìn lại.  Một khi ông đã quyết định theo Chúa Giêsu, ông luôn nhìn tới trước.  Ông không bao giờ nhìn lại, ngay cả khi phải đương đầu với áp lực của quần chúng. Ông không bao giờ nhìn lại ngay cả khi bị gọi là kẻ phản quốc.

Bí quyết nào giúp ông Eric can đảm không bao giờ nhìn lại?

Bí quyết nào giúp ông trung thành với Chúa Giêsu, ngay cả khi phải đương đầu với sự chống đối trùm lấp?

Bí quyết này nằm trong sự nhận xét của bà quả phụ Eric khi được tờ Toronto Star phỏng vấn. Nói về ông Eric, bà cho biết, “Ông ta luôn luôn dùng giờ phút đầu tiên, thật sớm của một ngày để đọc Kinh Thánh, cầu nguyện và hoạch định chương trình trong ngày.”

Đó, chúng ta đã có bí quyết đằng sau sự can đảm của ông Eric. Đó, chúng ta đã có bí quyết đằng sau sự trung thành của ông đối với Chúa Giêsu. Ông Eric Liddell là một người siêng cầu nguyện.  Ông đã có thể luôn cầm lấy cái cầy và không nhìn lại đằng sau vì mỗi sáng ông đều gặp Chúa Giêsu trong sự cầu nguyện.

Câu chuyện của ông Eric Liddell đã thách đố chúng ta.  Chúng ta không thể chỉ nghe qua những câu chuyện này và không cảm thấy một tiếng nói bên trong mời gọi chúng ta thi hành điều gì đó tương tự trong đời sống chúng ta.

Nếu chúng ta có khó khăn khi phải để ý đến Chúa Giêsu, nếu chúng ta có khó khăn nắm chặt cái cầy và đừng nhìn lại đằng sau, nếu chúng ta cảm thấy cuộc đời trống rỗng, có lẽ chúng ta phải nghĩ đến lời hứa hằng ngày với Chúa Giêsu.

Lời hứa đó phải là gì? Không ai có thể trả lời câu hỏi đó cho chúng ta. Chúng ta phải tự trả lời. Nhưng chúng ta phải thi hành điều gì đó.  “Điều quan trọng là lời hứa.”

**********************************

“Lạy Chúa, xin dạy con biết quảng đại.
Xin dạy con biết phục vụ Chúa cách xứng đáng;
biết cho đi mà không quan tâm đến giá cả;
biết tranh đấu mà không để ý đến thương tích;
biết cần cù mà không tìm sự an nhàn;
biết lao nhọc và không tìm phần thưởng,
ngoại trừ được biết là con đang thi hành thánh ý Chúa.”

Tóm lược theo LM Mark Link, S.J.