YÊU RỒI LÀM

Một vị ẩn sĩ sống trong một khu rừng luôn bị một cô gái làng chơi đến cám dỗ.  Ngạc nhiên trước sự thanh thản của vị tu hành, nhưng đồng thời cũng nghi ngờ sự bất bình thường của người đàn ông, cô liền hỏi một câu chế nhạo:

– Thầy không biết yêu sao?

Vị ẩn sĩ trả lời:

– Chưa đến giờ đó thôi.

Câu chuyện bỏ lửng tại đó.  Một lần kia, trong lúc đi khất thực, vị tu hành phát hiện người con gái hay đến phá phách mình đó bị bọn cướp trấn lột và đánh cho thừa sống thiếu chết bên lề đường.  Ông bèn dừng chân lại săn sóc cô ta, chữa các vết thương và đưa cô về thành phố điều trị.

Cô gái sững sờ nhìn vị ân nhân mà chưa biết mở lời ra sao, thì vị ẩn sĩ mỉm cười nói:

– Đã đến giờ rồi đấy, giờ của lòng thương xót!

***********************************

Người thông luật trong bài Tin Mừng hôm nay hỏi Đức Giêsu:  “Ai là người thân cận của tôi?”  Thay vì trả lời, Đức Giêsu đã kể dụ ngôn người Samari tốt lành: Một khách bộ hành đi từ Giêrusalem xuống Giêricô, bị bọn cướp đánh nhừ tử, trấn lột, rồi bỏ nằm nửa sống nửa chết bên lề đường.  Trong khi hai thầy tư tế và Lêvi “tránh qua bên kia mà đi”, thì người Samari ngoại đạo lại dừng chân, băng bó vết thương, đem nạn nhân về nhà trọ săn sóc.

Đức Giêsu hỏi lại người thông luật:  “Vậy ai là người thân của kẻ bị cướp?”.  Hỏi tức là trả lời.  Và người thông luật đáp:  “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót”.  Đức Giêsu bảo:  “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (Lc 10,37).

Vị ẩn sĩ trong câu chuyện trên đây và người Samari nhân hậu đã sống luật yêu thương một cách tuyệt vời, đó là “yêu bằng việc làm”.  Yêu không chỉ trên đầu môi chót lưỡi, rồi phủi tay không làm gì cả, mà yêu chính là “miệng nói tay làm”, làm thực sự với hết khả năng của mình.  Những việc làm cụ thể thường hùng hồn hơn những lời nói suông.  Con đường dài nhất là con đường từ trái tim đến đôi tay.  Đức Giêsu muốn chúng ta đi hết con đường đó:  “Hãy đi và làm như vậy”.  Pascal đã nói:  “Khuyết tật lớn nhất của một người là phục vụ quá ít cho những kẻ họ yêu thương”.

Sở dĩ người ta không dám làm một cái gì đó cho những người anh em, là vì họ không có can đảm vượt qua nỗi sợ.

Sở dĩ thầy tư tế và thầy Lêvi “tránh qua bên kia mà đi” là vì các thầy sợ ô uế khi đụng vào xác chết, sợ bọn cướp còn ẩn nấp đâu đây, sợ rắc rối phiền hà đến bản thân.

Sở dĩ chúng ta không dám làm một cái gì đó cho người anh em khi họ cần giúp đỡ, là vì chúng ta sợ phải thiệt thòi, sợ tốn công sức, sợ mất thời gian, sợ phải trả giá, sợ đụng đến sự an toàn, tiện nghi của mình.  Chúng ta muốn được yên thân!  Thầy tư tế và thầy Lêvi đã tự hỏi:  “Điều gì sẽ xảy ra cho tôi, nếu tôi dừng lại và săn sóc người anh em bị đánh nhừ tử?”.  Trái lại, người Samari đã đảo ngược câu hỏi:  Điều gì sẽ xảy ra cho người anh em bị đánh nhừ tử, nếu tôi không dừng lại săn sóc người ấy?”  Người Samari tốt lành đã xả thân vào một hành động vị tha đầy nguy hiểm.

Yêu thương không phải là cho đi một cái gì, nhưng là cho đi chính bản thân.  Yêu thương là hy sinh, là quên mình, là hiến thân phục vụ tha nhân.  Kahil Gibram có một câu nói chí tình:  “Bạn cho đi quá ít khi chỉ cho đi của cải.  Chỉ khi nào cho đi chính mình, bạn mới thực sự cho đi”.  Càng đi tìm bản thân, con người càng đánh mất chính mình.  Càng co cụm trong vỏ ốc ích kỷ của mình, con người càng chết dần mòn trong nỗi cô đơn.  Càng muốn được yên thân, con nguời càng vong thân..

Nỗi khát khao hạnh phúc của con người chỉ có thể được lấp đầy khi họ biết đến gần, cúi xuống phục vụ tha nhân.

Con người chỉ thành đạt đúng nghĩa, chỉ thực sự là người khi họ dám sống chết cho anh em.

Người Kitô chỉ thực sự là con Chúa khi họ dám tiêu hao vì người khác.  Mẹ Têrêsa Calcutta nói:  “Kitô hữu là người dám trao ban chính bản thân mình”.

Yêu rồi làm.  Khi đã yêu rồi chúng ta sẽ biết phải làm gì cho người anh em.  Khi đã yêu rồi chúng ta sẽ có sáng kiến để xả thân vì mọi người, nhất là những người nghèo hèn, đau khổ.  Khi đã yêu rồi, chúng ta sẽ biết cách làm cho kẻ xa lạ nên người thân cận, kẻ thù địch nên người bạn tốt, chỉ cần chúng ta dám dừng lại, đến gần và cúi xuống trước anh em.

***********************************

Lạy Chúa, cuộc sống đạo của chúng con sẽ trở nên phù phiếm nếu cái cốt lõi của đạo là yêu thương chỉ là điều phụ thuộc.  Xin đừng để chúng con loay hoay với những tính toán ích kỷ, chai đá, dửng dưng trước những khổ đau của anh em.  Nhưng xin dạy chúng con biết chạnh lòng xót thương và giúp đỡ những ai đang cần đến chúng con.  Amen!

Thiên Phúc

Kinh LẠy Cha

Một bạn trẻ cầu nguyện:

– Lạy Cha chúng con ở trên trời…

Thiên Chúa:

– Con gọi gì vậy?

– Đừng có ngắt ngang, con đang cầu nguyện.

– Nhưng mà con đang gọi đến Ta.

– Con gọi đến Ngài? Không, đâu phải vậy, chúng con luôn cầu nguyện như thế: Lạy Cha chúng con ở trên trời…

– Đó, thêm một lần nữa con lại gọi Ta đến, muốn thưa một chuyện gì? Nào hãy bắt đầu đi!

– Chúng con nguyện Danh Cha cả sáng…

– Con có nói thiệt không đấy?

– Con nói thiệt cái gì?

– Nói thiệt là nguyện cho Danh Ta cả sáng. Ý nghĩa của câu này là gì con biết không?

– Nó có nghĩa là … là… Trời ơi, làm sao con biết được nghĩa là gì?

– Nó có nghĩa là con tôn thờ Ta và Ta là người quan trọng duy nhất, với một danh xưng luôn được tôn kính.

– Vậy à, con hiểu rồi.  Thôi để con cầu nguyện tiếp: Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời…

– Con có làm như vậy thật không ?

– Làm như ý Cha hả, đương nhiên rồi. Con đi tham dự thánh lễ Chúa nhật đều đặn, con giúp cho  nhà thờ và luôn đóng góp cho những việc từ thiện.

– Ta muốn con làm thêm hơn nữa. Ta muốn con ổn định lại cuộc sống của con. Muốn con bỏ đi những thói quen tật xấu để khỏi làm phiền đến người khác, muốn con nhìn thấy suy nghĩ của người khác và biết suy nghĩ cho người khác, để mọi người chung quanh con được giúp đỡ, và để mọi người nhận biết được chân lý.  Ta muốn con chữa lành cho những người bệnh tật, muốn con làm cho những người đói được no đầy, những người đau khổ được an ủi, những kẻ tù đầy được tự do.  Vì tất cả những gì con làm cho họ, là con làm cho chính Ta.

– Tại sao Ngài lại trách móc những điều này nơi con? Ngài thử nghĩ xem, trong nhà thờ còn bao nhiêu kẻ giả hình đang ngồi đó? Ngài hãy nhìn kỹ đi kìa!

– Xin lỗi nhá! Ta cứ tưởng con cầu nguyện cho vương quốc của Ta trị đến và ý của Ta được thể hiện.  Vậy hãy bắt đầu từ nơi bản thân mình, là người cầu nguyện những điều ấy.  Khi nào ý của con giống như ý của Ta thì lúc đó con mới xứng đáng là người rao giảng Tin Mừng về vương quốc của Ta.

– Con thông hiểu rồi, vậy Ngài hãy để cho con cầu nguyện tiếp tục: Xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày.

– Nhưng con đang nặng cân quá rồi. Điều con đang cầu nguyện nói lên trách nhiệm của con đối với hàng triệu người đang đói khổ trên thế giới, hãy lo cho họ thức ăn đầy đủ hằng ngày.

– Xin Cha tha nợ cho chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con!

– Vậy đối với người đồng nghiệp của con thì sao?

– Ngài đừng có nhắc đến cái thằng khốn nạn ấy! Ngài biết mà, nó đã nhục mạ con trước mặt mọi người. Nó kiêu căng phách lối, mỗi khi thấy mặt nó là đã làm cho con bực tức.  Nó cũng biết điều đó nhưng nó không tôn trọng con. Nó chỉ chọc giận con thôi, nó là cái thằng đáng ghét.

– Ta biết! Ta biết! Nhưng mà lời cầu nguyện của con?

– Thật ra con đâu nghĩ như vậy.

– Ít ra thì con đã thật lòng.  Con có vui không khi luôn mang theo trong lòng của mình nhiều cay đắng và sự ác cảm?

– Không… Nhưng thằng đồng nghiệp làm cho con muốn bệnh luôn.

– Ta muốn chữa cho con. Hãy tha cho nó và cho chính con. Có thể Ta đã tha cho con trước rồi. Sự kiêu căng và hận thù là tội của hắn không phải của con. Có thể con sẽ mất tiền, mất danh dự tiếng tăm, nhưng trong trái tim của con tràn đầy an bình.

– Không biết con có thể  vượt qua được thử thách này không?

– Ta sẽ giúp con.

– Xin chớ để chúng con sa trước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.

– Không có điều gì tốt hơn điều đó. Hãy nêu lên những con người hoặc sự việc làm cho con bị cám dỗ.

– Ý Ngài muốn nói gì?

– Con biết những khuyết điểm của con mà: sự ngang tàng, cách xài tiền, tính dục, sự tức giận, cách giáo dục … Đừng để cho bị cám dỗ.

– Con nghĩ đây là Kinh Lạy Cha khó nhất mà từ hồi nào đến giờ con đã đọc.  Nhưng kinh này có liên quan đến cuộc sống của con.

– Rất tốt, chúng ta đang có đà tiến.  Con hãy cầu nguyện cho xong đi!

– Vì Chúa là vua uy quyền và vinh hiển muôn đời. Amen!

– Con biết điều gì làm cho Ta vui không? Khi mọi người và ngay chính con bắt đầu ý thức tôn trọng Ta và nghiêm túc khi đọc Kinh Lạy Cha, làm theo lời Ta dạy và làm theo ý Ta.  Nếu mọi người nhận ra được sứ mạng của mình là sự chuẩn bị cho nước Ta trị đến ngay giữa thế gian thì chính đó cũng là điều sẽ làm cho mọi người được hạnh phúc và bình an.

* * * * *

Lạy Chúa! Xin giúp con … Xin giúp con luôn quyết tâm cầu nguyện và dấn thân phục vụ trong yêu thương tha thứ. Amen

Sưu tầm

LỜI HẰNG SỐNG

Ngày tôi tốt nghiệp cấp ba cũng là ngày Đức Tin của tôi bị dao động.  Xin anh biết cho, tôi là một học sinh giỏi và tốt nghiệp với một điểm cao nhưng không được tiếp tục đi học vì gia đình tôi nghèo quá.  Suốt mấy tháng trời không tìm được một công việc gì, tôi đâm ra oán trách Thiên Chúa vì đã để cho tôi cù bơ cù bất như thế.  Tôi bị xua đuổi khắp nơi; cô đơn đến cùng cực và chán nản, tôi tìm quên bằng cách uống rượu.  Dần dần, tôi trở nên một cái gì gớm ghiếc cho gia đình. Trong nhà có cái gì vừa tầm với một bữa nhậu là tôi đem bán.  Tôi chỉ còn có mẹ, mẹ tôi chỉ biết khóc thật nhiều……

Cho đến ngày tôi bị nhốt vì liên can đến một vụ đánh nhau.  Suốt thời gian bị nhốt, tôi căm thù Thiên Chúa vì Ngài đã sinh ra tôi trên thế gian này để chịu những bất công.  Anh là một người thành công, chắc anh không bao giờ hiểu được nỗi cô đơn của một người thất bại.  Sau khi được khoan hồng với giấy cam kết không rượu chè nữa, tôi về nhà, nhưng không biết làm thế nào để trốn sự cô đơn mà không phạm pháp……

Thế là tôi đến với anh em thanh niên công giáo… để giải trí.  Nhập gia tùy tục, tôi cũng tập hát, cũng vờ nghe đọc Kinh Thánh, đôi khi dự lễ tôi cũng rước lễ vì không muốn các bạn thắc mắc, nhưng không bao giờ xưng tội… Chúa đối với tôi là một trò đùa……

Cho đến mùa Chay vừa qua, hôm ấy là một ngày thứ sáu thì phải, tôi được nghe bài Thương Khó Chúa Giê-su… Khi nghe vị chủ tế đọc lên: “Lạy Chúa, sao Chúa bỏ con”, tôi bỗng rùng mình.  Trong khoảnh khắc, tôi thấy toàn bộ sự chua chát của Ngài:  Đêm cô đơn ở Ghết-sê-ma-ni, tù đày, tra tấn, nhạo báng, phỉ nhổ, con đường lên núi Sọ với Thập Giá, tiếng búa, mũi đinh… tất cả.  Và tôi cảm thấy Ngài là một người bạn chí thiết vì Ngài cũng đã bị cô đơn và bất công như tôi, hơn tôi.

***************************

Hôm đó là lần đầu tiên tôi về nhà tự ý mở Phúc Âm ra đọc lại sau ba năm không chạm đến.  Anh đừng tưởng tôi đến với Lời Chúa đâu nhé, tôi muốn đọc lại tiểu sử của một người bạn mà tôi thấy giống mình.  Nhưng khi đọc Lu-ca về giây phút cuối cùng, tôi không còn hiểu gì nữa.  Lu-ca viết: “Lạy Cha, con phó linh hồn trong tay Cha”.  Tôi không thể hiểu tại sao một người bị bỏ rơi đến chết như thế mà vẫn còn tin tưởng và phó thác vào Cha mình.

Tôi đến trao đổi với một vị Linh Mục trẻ mà tôi rất có cảm tình.  Ông lắng nghe thật lâu và không nói tiếng nào.  Cuối cùng ông đề nghị cùng đọc một đoạn khác của Lu-ca: đoạn đứa con hoang đàng.  Tôi hiểu ý ông và bảo rằng tôi không muốn xưng tội vì không biết phải xưng thế nào… tội tôi nhiều quá.  Ông bảo: Anh cứ nói với Chúa những gì anh nói với tôi nãy giờ.  Rồi ông quỳ xuống trước mặt tôi và làm dấu Thánh giá.  Không biết có một mãnh lực nào đã khiến tôi cũng quỳ xuống bên ông và nói: “Lạy Cha xin Cha tha tội cho con…”  Tôi chỉ nói được có thế rồi nghẹn họng… Nước mắt cứ chực trào.  Thật lâu, tôi nghe: “Cha tha tội cho con….” và tôi oà lên khóc… Kể từ ngày có trí khôn không bao giờ tôi khóc, tôi ghét cái sướt mướt đàn bà, hèn!  Thế mà hôm đó tôi đã oà khóc như một đứa con nít…..

Và quả thật từ ngày đó tôi là một đứa con nít trong tay Cha trên trời, Đấng đã yêu tôi đến độ cho tôi cái đặc ân bị bỏ rơi giống như Con Chí Ái của Ngài.  Tôi đã chấp nhận lại cuộc đời và cuộc đời đã chấp nhận tôi.  Vâng, tôi là một đứa con hoang đàng đã trở về, bởi vì tình yêu của Ngài mạnh hơn sự căm thù của tôi… Và nếu hôm nay tôi có nói nhiều là chỉ vì để nói với anh điều này: Lời Chúa là Lời-Hằng-Sống vì chính tôi đã được Lời Ngài cứu sống.

Trích kịch bản: Cuốn Phúc Âm Thứ Năm – Trần Duy Nhiên

********************************

Chiều nay lặng lẽ trên đồi
Tôi đi tìm lại đời tôi trong Thầy
Tình tôi một thưở xa bay
Tình Thầy như những áng mây dịu dàng
Trong tôi tình những dở dang
Thầy, nguồn Từ Ái mênh mang vòm trời
Thầy ban cho vạn nụ cười
Sai tôi đem tặng cho đời đắng cay
Dối gian quên hết Lời Ngài
Phù du đeo đuổi tháng ngày trái ngang
Rong chơi một thưở hoang đàng
Tôi đem phung phá tan hoang tình Thầy
Ưu phiền từng phiến trên tay
Tôi về qua những mê say loạn cuồng
Trót làm kẻ mất tình thương
Trong tôi còn lại mù sương cuộc đời
Đường trần một kiếp nổi trôi
Thôi xin trả lại đời tôi cho Thầy
Tình tôi còn một chút này
Gom góp tôi quyết từ đây theo Ngài.

MÊNH MÔNG LÚA ĐỒNG

Một buổi tối nọ, ông John Keller, một diễn giả nổi tiếng được mời thuyết trình trước khoảng một trăm ngàn người tại vận động trường Los Angeles.  Đang diễn thuyết, bỗng ông dừng lại và nói:  “Xin các bạn đừng sợ.  Tôi sắp cho tắt tất cả đèn trong sân vận động này”.

Đèn tắt, sân vận động chìm sâu trong bóng tối dày đặc.  Ông John Keller nói tiếp:  “Bây giờ tôi đốt lên một que diêm.  Những ai nhìn thấy ánh lửa của que diêm tôi đốt thì hãy kêu lớn lên: “Đã thấy!”  Một que diêm được bật lên, cả vận động trường vang lên:  “Đã thấy!”

Sau khi đèn được bật sáng, ông John Keller giải thích:  “Ánh sáng của một hành động nhân ái nhỏ như một que diêm sẽ chiếu sáng trong đêm tăm tối của nhân loại y như vậy”.

Một lần nữa, tất cả đèn trong sân vận động lại tắt.  Một giọng nói vang lên ra lệnh:  “Tất cả những ai có mang theo hộp quẹt, xin hãy đốt cháy lên!”  Bỗng chốc, cả vận động trường rực sáng.

Ông John Keller kết luận:  “Tất cả chúng ta hợp lực cùng nhau, có thể chiến thắng bóng tối, sự dữ và oán thù bằng những đốm sáng nhỏ của tình thương và lòng tốt chúng ta”.

***********************************

Đã qua 2000 năm nhưng lời dạy của Đức Giêsu vẫn như đang nói với chúng ta hôm nay:  “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít” (Lc 10,2).  Thế giới có trên 6 tỉ người, mà kẻ tin vào Chúa mới chỉ hơn 1 tỉ.  Riêng tại Á Châu, chiếm 2/3 dân số thế giới, nhưng người Công giáo chỉ không tới 3%.

Cánh đồng lúa mênh mông còn bị bỏ hoang không thợ gặt hái.  Thế giới này dường như vẫn còn mò mẫm trong bóng đêm dày đặc của sự dữ, của tranh chấp, của oán thù; rất cần những đốm sáng của tình thương, của khoan dung, tha thứ.  Thế nên, không lạ gì Đức Giêsu đã nói:  “Anh em hãy ra đi.  Này Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa bầy sói” (Lc 10,3).

Tuy cuộc ra đi có nguy hiểm, bấp bênh, thiếu thốn vì “Không mang theo túi tiền, bao bị, giày dép” (Lc 10,4) nhưng chúng ta vẫn phải lên đường, vì Thầy đã nói “Anh em hãy ra đi”.

“Ra đi” chứ không phải “ở lại”, đó là một lệnh truyền.  Cả cuộc đời của Thầy là một hành trình:  Sinh ra ngoài đường, sống và rao giảng ngoài đường, cuối cùng chết cũng ngoài đường.  Thầy luôn lên đường và không ngừng ra đi.  Cộng đồng Vaticano II cũng long trọng khẳng định:  “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo” (TG 2).  Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng quả quyết:  “Không một ai trong những người tin vào Đức Kitô, không một tổ chức nào trong Giáo Hội được miễn khỏi trách vụ cao cả này:  Đó là loan báo Đức Kitô cho mọi dân tộc”  (Sứ vụ Đấng Cứu Độ, 3).

Vậy ơn gọi của người tín hữu Kitô là “Ra đi”.
Ra đi đem “bình an” đến cho các dân tộc, bình an giữa mọi người với nhau, bình an với Chúa.
Ra đi chữa lành bệnh nơi thể xác cũng như trong tâm hồn.
Ra đi loan báo Nước Thiên Chúa đã đến gần, nước tình yêu và ân sủng, nước công chính và bình an.

Thánh Phalô đã phải thốt lên:  “Khốn cho thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cr 9,16).  Nhưng việc làm mới chứng thực cho lời rao giảng, và lời rao giảng sẽ soi sáng cho việc làm.  Ra đi là để làm chứng, và lời chứng sáng giá nhất chính là việc làm.  Đúng như L. Moody đã nói:  “Các ngọn hải đăng không thổi còi ầm ĩ, chúng chỉ chiếu sáng”.

***********************************

Lạy Chúa Giêsu, Chúa sai chúng con ra đi không mang theo túi tiền, bao bị, giày dép… là để chúng con được siêu thoát mà lên đường, không cậy dựa vào sức riêng hay trần thế, nhưng chỉ phó thác nơi một mình Chúa mà thôi.  Xin cho chúng con luôn tin tưởng lên đường, dám sống chết cho sứ mạng Chúa đã trao ban.  Amen!

Thiên Phúc

LINH MỤC ĐỜI ĐỜI

Một khách hành hương hỏi một đệ tử:

– Tại sao bạn lại phải cần tới một Minh Sư ?

Người đệ tử trả lời:

– Để được đun nóng, nước cần tới một cái ấm để làm trung gian giữa nó với lửa.

( Anthony de Mello, trích trong One Minute Wisdom)

* * * * *

Bạn thân mến,

Cái ấm là vật trung gian giữa nước và lửa, giúp cho nước và lửa được tiếp cận gần nhau. Nước cần cái ấm làm trung gian để được đun sôi, để được thăng tiến hóa thân ….

Tương tự như vậy, để được thăng tiến hoá thân, để được hạnh phúc đời đời trong cuộc sống mai hậu, con người cũng cần đến một Đấng Trung Gian để tiếp cận với Thiên Chúa.  Đấng Trung Gian ấy chính là Đức Giêsu (Tm.2:5).  Ngài là Linh Mục Đời Đời, là Linh Mục Tối Cao (Dt 7:17); và là “máng xối“ để thông truyền ân sủng của của Thiên Chúa cho con người.

Để tiếp nối thiên chức linh mục mà Đức Giêsu đã thiết lập và truyền lại cho con người.  Hằng năm Giáo Hội, qua quyền năng của Chúa Thánh Thần, đã xức dầu tấn phong cho những người được kêu mời và tuyển chọn, đã khắc ghi dấu ấn “Linh Mục Đời Đời” vào con tim, vào linh hồn và thân xác của những người đã đứng lên đáp trả lời mời gọi.  Trong số những người được kêu mời và tuyển chọn trong năm nay có người bạn thâm giao của tôi, anh Giuse Ngô, người được xức dầu tấn phong trong nhà nguyện của trường đại học Loyola (California,USA) vào tháng Sáu vừa qua.

Tham dự thánh lễ truyền chức linh mục của anh, điều làm tôi cảm động sâu xa nhất là trong khi cộng đoàn qùy gối đọc kinh cầu Các Thánh, anh đã giang tay nằm xuống phủ phục trước bàn thờ, anh nằm giữa cộng đoàn, giữa  những bạn bè và người thân yêu ruột thịt trong gia đình của anh … Anh nằm đó để chấp nhận chết đi cho chính mình và để sống cho Chúa …Anh nằm đó để hy sinh vất bỏ những hạnh phúc riêng tư của đời mình, để đi vào huyền nhiệm của tình yêu với Đấng mà anh đã được kêu mời và tuyển chọn .

Tôi cùng với vợ con, cùng với cộng đoàn qùy gối để hiệp dâng lên Thiên Chúa trong lời kinh, nhưng ánh mắt và lòng trí của tôi cứ hướng về chỗ anh đang nằm phủ phục xa xa. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi, tôi hình dung được khuôn mặt của anh, trên khuôn mặt đó đã bắt đầu có những nếp nhăn của người đàn ông gần 50 tuổi đời, và giờ đây trên khuôn mặt gầy gầy xương xương đó dường như có những giọt nước mắt đang chảy dài trên khóe mắt … Chắc hẳn đó phải là giọt nước mắt của hạnh phúc, của yêu thương và vui mừng sung sướng.

Tôi được biết, sau thánh lễ truyền chức, anh sẽ rời bỏ cuộc sống tiện nghi vật chất trên xứ sở này để được “sai đi” đến với những người nghèo khó.  Anh ra đi nối gót các bậc cha anh để tiếp tục công việc của những vị thừa sai trên những cánh đồng truyền giáo mênh mông xa tít tận cuối trời. “Thánh Thần Chúa ngự trên con, Người đã sai con đem Tin Mừng cho người nghèo khó (Lc. 4:18)   Đó là câu kinh thánh mà tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần để làm lời nguyện dâng lên Thiên Chúa cho bước đường truyền giáo nơi xứ lạ quê người mà anh đang bước vào.

Anh Giuse thân mến! Linh mục được sai đến với  tất cả mọi người, đặc biệt là những người đau khổ, nhưng chính linh mục cũng mang đầy thương tích của đau khổ.  Linh Mục được sai đi để cứu vớt những người tội lỗi nhưng chính linh mục cũng là người cần được cứu vớt khỏi tội lỗi.  Linh mục thánh hóa người khác, loan báo Tin Mừng cho người khác, nhưng chính linh mục cũng phải được thánh hóa và được Phúc Âm hóa.  Phải chăng “thiên chức” Linh mục quá thánh thiện và cao cả nhưng “con người” linh mục lại chỉ là một tạo vật với tất cả sự yếu hèn và bất xứng của một con người.

Hôm nay anh đã là linh mục của Chúa, khi nhìn vào cuộc sống và quyết định của anh, có người đã lên tiếng thắc mắc rằng : ”Linh mục! ông là ai?. “Trả lời ra sao đây anh nhỉ?  Trả lời ra sao cho những người đang sống trong xã hội vật chất kim tiền hôm nay?  Xin anh cùng với tôi, chúng ta hãy mượn lời thánh Gioan Kim Khẩu để trả lời cho câu hỏi này anh nhé .

“Hỡi linh mục, ông là ai?
Ông không phải bởi ông, vì ông bởi hư vô,
Ông không phải cho ông, vì ông là trung gian dẫn tới Thiên Chúa,
Ông không thuộc về ông, vì ông phải sống cho một mình Thiên Chúa,
Ông không phải là của ông, vì ông là tôi tớ của mọi người,
Ông không phải là ông, vì ông là một “Kitô khác’’.
Thế thì ông là gì vậy?
Chẳng là gì cả, nhưng lại là tất cả!”

(Thánh Gioan Kim Khẩu)

* * * * *

Lạy Chúa Giêsu, trong bữa ăn cuối cùng với các môn đệ , Chúa đã thiết lập thiên chức Linh mục và đã trao ban tác vụ Linh mục cho con người.  Xin Chúa luôn ban ơn giúp sức và gìn giữ các linh mục trong tình yêu và ân sủng của Chúa, để các ngài sống giữa thế gian nhưng không bao giờ thuộc về thế gian… Để các ngài luôn gần gũi và tiếp xúc với bụi trần nhưng không bao giờ vấn vương bụi trần … Để các ngài luôn là gương mẫu cho đoàn chiên Chúa noi theo trên con đường lữ hành trần gian về tới quê trời. Amen

Linh Xuân Thôn

NHIỆM MẦU CUẢ KHỔ ĐAU

Gian nhà vắng.  Cây đèn đêm.  Đứa con đau, mặt hồng lên theo cơn sốt.  Cơn sốt lạnh lùng tăng.  Ngoài trời, mưa tháng tám tuôn xối xả.

Nước mưa chảy cuồn cuộn trên sân, như cuộc  đời thiếu phụ  trôi vào tăm tối.

Đóng vội cánh cửa, thiếu phụ quay vào nhà.  Cánh cửa đập nhẹ vào ngón tay.  Không đau gì nhiều, nhưng, như ly nước tràn, thiếu phụ oà lên khóc.  Một mình trong đêm khuya, tâm hồn rạn vỡ .

Trên bàn, một bài thơ dang dở:

“Cha ơi, Cha dạy luân thường
Mà Cha không dạy con đường chông gai
Bây giờ con biết hỏi ai
Con con còn dại, dặm dài bơ vơ …”

Mới ba mươi sáu tuổi đầu,  tôi bị chồng ruồng bỏ, mang áo quần  đi theo vợ bé.  Trên tay ba đứa con dại, tôi đi làm, một mình nuôi con.

Việt Nam không ai  làm thiện nguyện.  Không ai đưa một bàn tay nâng đỡ kẻ khổ đau.  Ở xã hội khắc nghiệt này, người đàn bà bị chồng bỏ mang nỗi nhục lớn.  Chồng tôi làm Trung Tá.  Nhà ở cạnh sở làm.  Hàng ngày trên đường đi làm, tôi gặp những ánh mắt thương hại.  Họ không dám lên tiếng nói bất cứ câu nào vì sợ liên lụy: ở VN máu lửa, uy ông Trung Tá  không phải là nhỏ!

Ba vợ ông Đại Tá Chỉ Huy Trưởng đến thăm, bày vẽ khôn dại :

– Mất một “thằng” chồng này, có trăm “thằng” khác.

Nhưng những tư tưởng  loại này không có mặt trong tôi .

Điều đáng nói là Thiên Chúa rất gần gũi người khổ đau.  Tình Yêu Thiên Chúa luôn luôn rộng mở đón nhận tôi như vòng tay Người Cha hiền chờ đợi đứa con của mình, bất chấp những yếu đuối, thiếu sót, tội lỗi của tôi.  Tôi gặp Ngài qua đau thương, và Rửa Tội.  Như một người con gái đi lấy chồng xa, gặp cảnh phụ  bạc, về khóc với Bố mình, tôi được Tình Yêu Thiên Chúa từ nhân an ủi.  Dần dần, với Ơn Chúa, tôi hiểu Ngài hơn.  Ngày ngày tôi cám ơn  Ngài về những đau khổ dài dặc của đời mình.  Vì chính những đau khổ này, với Tình Thương Phụ Tử bao la, và biệt tài đổi Nguy thành An của Ngài, đã mở ra cho tôi một chân trời mới.  Tình Yêu Thiên Chúa đã biến đổi tâm hồn tôi, đời sống tôi toàn diện.  Sống trong Tình Yêu của Ngài, đời tôi ngày càng phong phú ý nghĩa.   Theo Ngài, tôi học được hai điều :

1. Đức Tin là một toà nhà
Chỉ kiên cố trên nền Khiêm Hạ …

2. Tôi có thói quen nhắm mắt khi cầu nguyện. Trong trí tôi, hiện ra một cánh cửa sổ có màn che. Chiếc màn này tự động vén ra, vén đến đâu, ánh sáng lùa vào đến đấy.  Chúa muốn tôi tập từ bỏ: tôi càng từ bỏ nhiều (ý riêng, tinh thần dính bén thế gian) thì tôi càng nhận được Ân Sủng nhiều, từ bỏ ít thì nhận được ít.

Không phải Chúa hà tiện, nhưng Ngài, vì lòng thương con cái, chỉ cho tôi những gì tôi dung nạp nổi .

*****************************

Lạy Thầy, ngàn lần, con xác tín:  Khổ đau là Ân sủng.  Vì như Thầy vẫn dạy:  “Ơn Ta đủ cho con” , Thầy đã giúp con vượt thắng khổ đau để hạnh phúc bên Thầy.  Con xin ân cần cảm tạ Thiên Chúa quý yêu.

Đông Khê

CÁI GIÁ NGƯỜI MÔN ĐỆ PHẢI TRẢ

Cuốn phim “A man for all seasons” (Người trong mọi hoàn cảnh) được xây dựng dựa theo cuộc đời thánh Thomas More.

Khi Kha Luân Bố khám phá ra Mỹ Châu, Thomas More mới là một thiếu niên mười mấy tuổi tại Anh Quốc. Chàng theo học tại Đại học Oxford. Sau khi tốt nghiệp Đại học, chàng dấn thân vào cuộc đời chính trị. Là một viên chức của triều đình, chàng được thăng quan tiến chức rất mau lẹ, năm 1529, vua Henri thứ VIII đã phong chàng lên chức Đại pháp quan của Anh Quốc.

Nhưng thảm kịch đã xảy đến cho Thomas More. Khi vua Henri VIII ly dị với hoàng hậu và tái kết hôn không đúng theo luật lệ. Để chống lại bất cứ ai phản đối cuộc tái hôn này, Henri ra lệnh cho một số quan chức triều đình ký vào một văn bản tuyên thệ rằng sự tái hôn của ông là hợp pháp. Ông truyền cho các vị chức sắc này là nếu họ từ chối không chịu ký vào văn bản ấy họ sẽ bị hạ ngục vì tội phản loạn. Và rồi thảm kịch đã xảy ra khi ngài Norfold mang văn bản ấy đến cho Thomas More. Ông này chẳng chịu ký bất chấp biết bao lời thuyết phục khuyên ông thay đổi ý. Cuối cùng, Norfolk không còn kiên nhẫn được nữa, ông nói với bạn:

“Tôi không biết cuộc kết hôn có hợp pháp hay không, nhưng thây kệ nó! Thomas ơi, ông hãy nhìn vào tất cả những kẻ đã ký vào đây! Ông biết rõ những người này mà! Tại sao ông không thể làm như chúng tôi, nhân danh tình bạn của chúng ta?”

Thomas More vẫn từ chối. Ông không muốn tuyên thệ điều gì mà tận thâm tâm ông biết là sai trái. Cuối cùng, Thomas More bị tống giam. Vào ngày 6 tháng 6 năm 1535 ngài đã bị hành hình vì tội phản loạn.

************************************

Câu chuyện thánh Thomas More làm sáng tỏ lời dạy của Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay: “Nếu tay con làm mất đức tin, hãy chặt nó đi!… Nếu chân con làm con mất đức tin, hãy chặt phăng nó đi!… Nếu mắt con làm con mất đức tin, hãy móc nó quẳng đi! vì thà rằng con bị chột mà vào nước trời hơn là còn toàn vẹn hai mắt mà bị ném vào hoả ngục”.

Chúa Giêsu không bảo chúng ta chặt chân tay, móc mắt, theo nghĩa đen, Ngài chỉ muốn dùng những thành ngữ quen thuộc của thời đại Ngài để nhấn mạnh một điểm quan trọng là:

Các môn đệ Ngài phải sẵn lòng hy sinh tất cả sự gì cần thiết để giữ mình khỏi phạm tội, phải sẵn lòng hy sinh cả những gì quí báu nhất đối với ta để được vào nước trời. Trong trường hợp Thomas More, điều này có nghĩa là hy sinh cả mạng sống mình.

Chúng ta chớ vội nghĩ rằng vì Thomas More là một vị thánh nên ngài đã tự hiến dâng đời sống một cách dễ dàng.  Chúng ta hãy lắng nghe những lời trong lá thư ngài viết cho cô con gái của ngài ít lâu sau khi ngài bị giam, những lời này sẽ cho ta biết cuộc đấu tranh khủng khiếp xảy ra bên trong tâm hồn ngài như thế nào:

“Meg thân yêu, Bố sẽ không bất tín với Chúa, dù bố cảm thấy yếu đuối khi sắp phải đương đầu với nỗi sợ hãi.  Bố nhớ lại sự kiện thánh Phêrô bắt đầu chìm xuống nước vì thiếu đức tin, khi thấy gió thổi mạnh, bố sẽ bắt chước ông kêu cầu Chúa Kitô nài xin Chúa giúp đỡ Bố.  Bố tin rằng Chúa sẽ đặt đôi tay thánh thiện lên Bố và ngay trong cơn bão biển Chúa sẽ giữ cho bố khỏi bị chìm xuống… vì thế hỡi con gái yêu của bố, con đừng bối rối âu lo về bất cứ điều gì sẽ xảy đến cho bố trong cuộc sống dương trần này, không điều gì xảy ra ngoài ý Chúa, Bố rất xác tín rằng bất cứ điều gì tồi tệ xảy ra, thì chắc hẳn đó là điều tốt nhất đấy”.

Bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta đặt lại câu hỏi này: chúng ta có biết phòng tránh tội lỗi để đạt nước trời không? Chúng ta có biết canh chừng đối với bất cứ điều gì có thể khiến chúng ta đánh mất nước trời không?

Trong một lá thư của mình, một vị thánh danh tiếng người Pháp, Francis de Sales, đã nói về vấn đề cám dỗ và việc canh phòng chống lại tội lỗi như sau;

“Mặc cho quân thù gào thét ở ngoài cửa,
mặc cho nó gõ, nó la, nó gào, nó làm bậy làm bạ.
chúng ta biết chắc rằng nó không thể đi vào nhà trừ khi chúng ta bằng lòng mở cửa cho nó”.

Vậy chúng ta cần tỉnh thức đề phòng tội lỗi.  Khi cơn cám dỗ xảy đến – và chắc chắn nó sẽ đến chúng ta hãy nhớ lại những lời thánh Thomas More đã viết cho Meg con gái ngài:

“Bố sẽ nhớ lại sự kiện thánh Phêrô bắt đầu chìm xuống vì thiếu đức tin khi thấy gío mạnh thổi lên, và bố cũng sẽ bắt chước ngài kêu lên với Chúa Kitô và khẩn cầu Ngài giúp đỡ.  Bấy giờ bố tin rằng Chúa sẽ đặt tay lên người bố và giữ bố khỏi chìm xuống giữa cơn bão biển”.

Tóm lại, sứ điệp của Chúa Giêsu ẩn chứa trong bài Phúc Âm hôm nay như sau; chúng ta phải sẵn lòng chấp nhận mọi hy sinh để tránh tội và để đạt được nước trời.  Và chúng ta cũng phải sẵn lòng chấp nhận mọi hy sinh để tránh tội và để đạt được nước trời.  Và chúng ta cũng phải sẵn sàng bắt chước Thomas More người đã hy sinh mạng sống mình vì nước trời.

************************************

Chúng ta sẽ kết thúc với những lời rút ra từ bài hát cổ xưa mà Giáo hội thường xử dụng trong Kinh nhật tụng giờ Kinh chiều của một số ngày Chúa Nhật trong năm phục vụ.

“Nghe danh hiệu Giêsu, mọi gối phải quì xuống. Mọi miệng lưỡi phải xưng tụng Ngài là Vua vinh quang…. Hãy để Ngài ngự trị tâm hồn bạn.  Hãy để Ngài chinh phục những gì chưa thánh thiện, những gì chưa đúng. Ước gì bạn biết lên tiếng gọi Ngài trong cơn cám dỗ.  Hãy để Ngài che phủ bạn bằng ánh sáng và quyền năng của Ngài.  Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu sẽ trở lại trong vinh quang của Cha Ngài, để ngự trị trên trái đất. Ngài là Thiên Chúa cứu độ.  Ngài là Đấng Kitô Chủ tế chúng ta”.

Lm Mark Link, S.J.

CHÂN DUNG NGƯỜI MỤC TỬ

Cha Ngô phúc Hậu đang truyền giáo tại Cà Mau, Việt Nam. Trong cuốn Nhật Ký Truyền Giáo, cha đã ghi lại rằng:  Trong giờ dạy giáo lý, cha hỏi một người dự tòng:

– Trước khi con đến đây xin học đạo, thì con đã tới nhà thờ lần nào chưa?

– Con chỉ đi qua trước cổng, chứ không dám vào?

– Tại sao vậy?

– Người ta biểu: người ngoại mà vô nhà thờ, thì ông cha đánh thấy mồ.

– Eo ơi, làm gì có. Con đã bị đánh lần nào chưa?

– Con nghe người ta nói vậy, chứ con có vô nhà thờ bao giờ đâu mà bị đánh.

Chắc chắn chẳng có linh mục nào lại đánh những người lương dân đến nhà thờ để tham quan, hoặc là để làm thỏa mãn tính tò mò. Nhưng tại sao lại có tin đồn như thế? Do ác ý hay do vô tình? Nhưng có một điều chắc chắn là nhiều người giáo dân vẫn thích đưa cha sở của mình ra, để hù thiên hạ.

Họ còn nói thêm:

– Mày mà không đi lễ, tao méc cố sở, cố sở “uýnh” thấy cha mày.

– Mày mà không cắt đứt với con nhỏ này, thì ông cố sở cho mày đi đoong.

Cha viết tiếp: “Có một lần kia, mình đang đi ngoài đường, thì nghe một người đàn bà dọa thằng cu tí đang gào khóc lên như cái ống bô bể, người đàn bà nói:

– Mày mà không nín, tao méc ông cố, ông cố cắt chim mày.

Thằng cu tí dòm mình, mặt tái mét …

Mình cảm thấy bất bình với người đàn bà ấy, vì bà đã đem mình ra làm con ngáo ộp, để dọa thằng cu tí. Thế là vô tình bà đã gieo vào tâm thức con bà một hạt giống sợ hãi. Lớn lên nó sẽ giữ đạo trong nỗi sợ: sợ cha sở, sợ Chúa, sợ hỏa ngục.”

Cha còn ghi thêm: “Dân gian vẽ chân dung mục tử như thế đó. Bất công thay. Còn đâu nữa hình ảnh mục tử tốt lành: dẫn chiên đi ăn trên đồng cỏ xanh tươi; đưa chiên xuống suối uống nước trong lành; cho chiên nằm nghỉ dưới bóng râm của cây cổ thụ; băng bó những con chiên bị thương; vác con chiên lạc trên vai; phang gậy trên đầu chó sói để bảo vệ bầy chiên ?” (NKTG, trang 132-134).

* * * * *

Lạy Chúa! Nhiều lúc vô tình nhưng cũng có nhiều lúc vì những mục đích riêng tư nên con đã cố ý tạo ra khuôn mặt Người Mục Tử theo ý muốn của con, con đã vẽ chân dung của Chúa một cách sai lạc, con đã thêm tóc thêm râu vào khuôn mặt của Chúa, đôi khi con đã bôi bẩn khuôn mặt của Chúa bằng những lời nói và việc làm không có tình yêu thương.

Lạy Chúa! Xin ban ơn giúp sức cho con để cuộc sống của con mỗi ngày được trở nên giống Chúa hơn một chút, giống Chúa trong yêu thương, khiêm tốn và phục vụ … để qua cuộc sống đó, con có thể vẽ được khuôn mặt của Ngài một cách trung thực nhất cho những người xung quanh của con . Amen

Linh Xuân Thôn.

TÌNH YÊU QUAN TRỌNG HƠN PHÉP TẮC

Tôi lớn lên trong gia đình có đạo, được giáo dục trong một khuôn khổ, phép tắc “đi thưa, về trình”; nói một câu “dạ, thưa” đến hai ba lần. Tôi giáo dục con cái tôi theo nề nếp này, vì tôi nghĩ đây là phong tục tốt cần phải giữ.  Nhưng tôi đã đi qúa lố. Tôi coi trọng hình thức lễ nghĩa hơn tình yêu.  Tôi thiếu lòng thương xót cho đứa con gầy guộc đang nằm trên giường bệnh, không biết còn đi đứng lại bình thường được hay không…

Ngày đầu vào nhà thương, sau vài giờ chuyền nước biển và thuốc, con tôi bị sốt, lạnh run cầm cập, đắp ba bốn cái mền cũng không đủ ấm.  Bác sĩ cho uống Tylenol và chích thêm thuốc cầm đau. Khi cô y tá tiêm thuốc vào cánh tay nhỏ xương xẩu, con tôi la nhói lên vì đau.  Mắt con đỏ hoe, rướm nước mắt.  Nhìn con lòng tôi quặn đau.  Tôi không cầm được nước mắt, để các giòng lệ rơi, tôi cố giữ giọng để trấn an con:

– Con ráng chút nữa, sắp hết thuốc rồi!

Sau gần năm tiếng khi chai thuốc đã cạn, cô y tá mới tháo ống nước biển nơi cánh tay của con ra.  Đến lúc này con tôi đã mệt lả người.  Khuôn mặt lừ đừ, không thần sắc vì từ khi nhập viện lúc trưa cho đến giờ đã hơn mười giờ đêm, con tôi chưa có gì lót lòng.  Chứng bệnh đã làm liệt các dây thần kinh ở đôi chân và đôi tay của con.  Người con không khác gì cọng bún mềm, rã rượi.  Con tôi chẳng buồn ăn uống và cũng lười trả lời các câu hỏi của tôi.  Nếu có trả lời, con chỉ nói cộc lốc một hai câu, quên kềm theo hai tiếng “dạ, thưa”.  Khi đó tôi cảm thấy như bị xúc phạm vì con đã thiếu lễ phép.  Nhưng khi ý tưởng đó vừa dứt, ý nghĩ khác chợt đến: con bị đau như thế, ăn ngủ không được, làm sao mà nhớ để dạ với thưa.  Vô lý! Ngày hôm sau con đã khỏe, ăn uống được chút đỉnh.  Mỗi lần nhờ tôi giúp việc gì, con tôi đều lễ phép nói: “Dạ thưa Ba…Cám ơn Ba…”

Đêm về tôi mở lại đoạn phim của ngày hôm qua, trở lại cái khúc tự ái bị xâm phạm.  Tôi tìm mọi lý lẽ để bênh vực cho lối suy nghĩ “chính đáng” của mình.  Nhưng cũng cùng lúc ấy, lòng tôi bị thổn thức, xốn xang.  Tôi mất bình an. Tiếng nói của Thần Dữ gợi lên lòng tự ái, tự kiêu, đem cái truyền thống phép tắc đã có từ nghìn xưa, lôi tôi trở về theo phe nó.  Trong lúc lòng tôi đang phân vân chưa biết nghe theo tiếng nói của Thần Lành hay Thần Dữ, thì lời Chúa đến với tôi: “Trên hết mọi sự hãy làm vì đức yêu thương.”  Tôi nghe những lời này rất nhiều lần, từ tai này sang tai kia.  Nhưng chưa bao giờ tôi dừng lại để cảm nghiệm hay để sống những lời này.  Tôi thấy mình thật vô lý khi đòi hỏi nơi con một điều qúa đáng.  Đã bao lần tôi nằm co quắp ôm bụng, nhăn nhíu mặt mày vì cơn đau bao tử, tôi có được mấy lời nhã nhặn với vợ con của tôi?  Mãi đến hôm nay, tôi mới thật sự thấm hiểu Lời Hằng Sống này.  Mới biết rằng bao lâu nay tôi đã đặt sai thứ tự trong cuộc sống.  Tình yêu quan trọng hơn hết mọi sự, quan trọng hơn phép tắc ngàn lần!

Bạn thân mến! Những biến cố đau thương: bệnh tật, chia ly, chết chóc xẩy ra trong cuộc sống, trong gia đình, cho mỗi người chúng ta không hẳn là một điều xấu nếu được nhìn bằng con mắt đức tin; khi chúng ta biết lắng đọng tâm hồn để tìm thánh ý Chúa qua từng biến cố.

***********************

Lạy Chúa, cám ơn Chúa đã mở mắt tâm hồn con, giúp con nhận ra chỉ có Tình Yêu là quan trọng nhất, là cao qúi nhất trên cuộc đời này.  Xin Chúa gíup con luôn biết khiêm nhường để nhận và sửa sai những lỗi lầm của con, để mỗi ngày con được trở nên giống Cha trên trời là Đấng hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Amen.

Lữ Khách (24-06-2005)
El Camino Real Hospital, Mountain View

KHUÔN MẶT RẠNG RỠ

Một thầy giáo ra bài làm ở nhà cho các học sinh: “Hãy viết lại quãng thời gian trong cuộc đời mà em là ‘một người Samari tốt lành’ đối với ai đó.” Một trong các học sinh đã viết bài ấy như sau:

“Vào mùa hè trước khi tôi lên trung học, giáo xứ chúng tôi tổ chức một ngày đi thăm người già và người tàn tật ở một bệnh viện gần đó. Cả một dẫy xe lăn và bệnh nhân làm tôi choáng váng. Lúc đầu tôi chỉ nhìn thấy xe lăn.

“Sau đó tôi nhận thấy có người ngồi xe lăn nhìn chăm chăm vào đôi chân của tôi.

“Chỉ có thế. Bấy giờ tôi không chỉ nhìn đến xe lăn và tôi bắt đầu nhìn thấy người ngồi trong đó.  Tôi thấy các bà tàn tật, những cựu chiến binh bị tê liệt, những ông già không ai chăm sóc, các em nhỏ thật mảnh khảnh. Tất cả đang chờ đợi xem có ai đó để ý đến họ. Tôi ngột ngạt; vội vàng bước đi.

“Tôi rảo bước quanh bệnh viện có đến một giờ đồng hồ. Tôi cảm thấy tức giận Thiên Chúa và hoàn toàn hoang mang khi thấy quá nhiều sự đau khổ trong một nơi chốn. Tôi cảm thấy cô đơn hơn bất cứ bệnh nhân nào. Tôi là người cần sự giúp đỡ, chứ không phải họ.

“Nhưng một lúc sau, vị Thiên Chúa mà tôi trút sự giận dữ lên Người bỗng dưng trở nên thực tế hơn bao giờ hết trong cuộc đời. Tôi cảm thấy Thiên Chúa đã yêu thương những người này một cách đặc biệt.

“Đó là một cảm nghiệm kỳ lạ; bỗng dưng đức tin sút giảm và bỗng dưng đức tin gia tăng–tất cả xảy ra trong khoảnh khắc.

“Tôi trở lại nơi có những người già và tàn tật. Và tôi bắt đầu làm bất cứ gì có thể để làm họ vui: lấy cho họ ly nước ngọt và chỉ nói chuyện với họ. Tôi làm cho gương mặt họ sáng lên vào buổi chiều hôm ấy.

“Nhưng trong tất cả các khuôn mặt rạng rỡ hôm ấy, một khuôn mặt nổi bật hơn tất cả. Tôi không bao giờ quên được khuôn mặt ấy. Đó là khuôn mặt của chính tôi. Chưa bao giờ tôi cảm thấy mình tốt lành đến thế; chưa bao giờ tôi cảm thấy vui như vậy.”

*********************************

Câu chuyện này thích hợp với bài đọc ngày hôm nay. Đặc biệt, nó thích hợp với điều mà Chúa Giêsu nói với các môn đệ sau khi họ cãi nhau xem ai là người lớn nhất.  Chúa Giêsu nói, “Ai muốn là người đầu thì phải tự đặt mình chót hết và trở thành người phục vụ tất cả” (Mc 9:35).

Và vì vậy Chúa Giêsu đã dùng cơ hội này để nhấn mạnh đến một chủ đề nổi bật trong phúc âm: giúp đỡ người khác, nhất là người có nhu cầu. Chúng ta hãy xem xét chủ đề này kỹ hơn.

Hãy nhìn đến chủ đề từ hai quan điểm. Trước hết, hãy nhìn nó dưới quan điểm của người có nhu cầu. Thứ hai, hãy nhìn nó dưới quan điểm của những người giúp đỡ.

Trong cuốn sách Majority of One, tác giả Sydney Harris đã diễn tả quãng thời gian ông bị gẫy xương ở bàn chân, khiến ông phải chống gậy đi khập khiễng trong vài ngày. Về cảm nghiệm này, ông viết:

“Điều khoan khoái về cảm nghiệm này mà nếu không có nó sẽ thật đau lòng là phương cách người ta đối xử với tôi.  Họ mở cửa cho tôi, giúp tôi bước lên xe taxi, nhường chỗ cho tôi trong thang máy.  Tinh thần tôi phấn khởi khi được đối xử như vậy.”

Nhận xét của ông Harris cho thấy sự phục vụ đã làm gì theo quan điểm của người có nhu cầu. Nó đã làm cho khuôn mặt họ rạng rỡ. Nó làm họ cảm thấy có người lo lắng đến họ. Nó làm họ cảm thấy có người thương mến họ.

Điều này đưa chúng ta đến quan điểm thứ hai: sự phục vụ làm gì cho những người giúp đỡ. Không có gì tốt hơn để minh họa bằng nhận xét của em học sinh trên, khi em nói:

“Tôi làm cho gương mặt họ sáng lên vào buổi chiều hôm ấy. Nhưng trong tất cả các khuôn mặt rạng rỡ hôm ấy, một khuôn mặt nổi bật hơn tất cả. Tôi không bao giờ quên được khuôn mặt ấy. Đó là khuôn mặt của chính tôi. Chưa bao giờ tôi cảm thấy mình tốt lành đến thế; chưa bao giờ tôi cảm thấy vui như vậy.”

Sự nhận xét của em minh họa điều mà sự phục vụ đã làm cho những người giúp đỡ. Nó làm cho gương mặt họ rạng rỡ hơn cả khuôn mặt của những người được sự giúp đỡ.

Và tôi nghĩ lý do của điều này thật đơn giản. Nó phát xuất từ điều mà chúng ta quên. Nó xuất phát từ điều mà chúng ta không thấy. Nó phát xuất từ điều mà chúng ta cần được nhắc nhở luôn luôn. Để tôi minh hoạ bằng một câu chuyện.

Có một bức tranh thời thế kỷ 19 vẽ một hàng dài những người nghèo trong một khu tồi tàn của thành phố, họ đang đứng đợi trước một nhà phát chẩn.

Đó là một bức tranh đáng chú ý. Nhưng điều đáng chú ý nhất trong bức tranh là một trong những người nghèo đứng xếp hàng. Ông ta có vòng hào quang trên đầu. Nhìn kỹ lại thì đó là Chúa Giêsu. Và điều này cho chúng ta thấy lý do mà khuôn mặt những người giúp đỡ lại rực rỡ hơn những người được giúp đỡ. Chính vì khi giúp đỡ người nghèo, họ khám phá ra Chúa Giêsu trong thế giới ngày nay. Người ở ngay trong những người có nhu cầu.

Đây là điều chúng ta quên. Đây là điều chúng ta không thấy. Đây là điều chúng ta cần được nhắc đi nhắc lại.

Vì không ai khác hơn là chính Chúa Giêsu đã nói: “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han… mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy!” (Mt 25:35-36, 40).

*********************************

Chúng ta hãy chấm dứt bằng sự thành khẩn lắng nghe lời mạnh mẽ của Albert Schweitzer, một trong những Kitô Hữu vĩ đại trong thế kỷ của chúng ta.

Vào lúc 30 tuổi, ông hy sinh sự nghiệp của một nghệ sĩ trình tấu cho những người nhà giầu ở Âu Châu và trở nên một bác sĩ đi truyền giáo và chăm sóc người nghèo ở Phi Châu. Khi về già, ông nói:

“Tôi không biết định mệnh của bạn ra sao, nhưng tôi biết chắc một điều: chỉ có người thực sự hạnh phúc là người tìm cách phục vụ người khác.”

Lm Mark Link, S.J.