BẢO HIỂM LINH HỒN

“Những của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai?” (Lc 12:20)

Nasruddin đang bò gối trên thảm cỏ trước nhà, hình như đang tìm kiếm vật gì.  Người hàng xóm của anh ta thấy thế bèn cất tiếng:

– Này Nasruddin, anh đang tìm gì vậy?

– Tôi tìm chiếc chìa khoá. Nasruddin trả lời.

– Thế là người hàng xóm liền tỏ lòng hào hiệp. Anh cùng bò gối trên sân để tìm chiếc chìa khoá cho Nasruddin.  Sau một hồi lâu tìm kiếm mà không được, anh hàng xóm ngước mắt lên hỏi:

– Mà Nasruddin nè, anh làm rơi chiếc chìa khóa ở chỗ nào vậy?

– À, tôi làm rớt ở trong nhà.
Nghe câu trả lời, người hàng xóm ngẩn ra vì tức:

– Rơi ở trong nhà… nhưng tại sao anh lại tìm ở đây?
Nasruddin tỉnh bơ đáp lại:

– Bởi vì ở ngoài này sáng hơn, còn trong kia tối quá.

****************************

Thế đấy! Ở trên đời có không ít người đi tìm hạnh phúc, nhưng lại chẳng tìm đúng nơi.  Cũng có lắm kẻ đã đến đúng nơi rồi nhưng lại không biết mình nên tìm thứ gì.

Có nhiều người tầm sư học đạo mà tìm mãi không ra, nhưng cũng có lắm kẻ đang ở trong chính đạo, nhưng lại cứ kiếm những thứ gì đâu!  Có bao giờ bạn đặt câu hỏi với chính mình: “Tôi đã thuộc về chính đạo chưa?  Nếu rồi, thì nơi đó tôi đang muốn điều chi?”

Đặt câu hỏi như vậy là để xác định cho mình một mục tiêu, nếu chưa có.   Hỏi như thế cũng là để chỉnh đốn hướng đi, nếu như mình đang bước không đúng với tinh thần của đạo.

Khi yêu quí thứ gì thì người ta đâu muốn bị mất mát hư hao.  Cho nên nếu có phương cách để bảo vệ, tất họ sẽ không ngần ngại thi hành.  Đây là tâm lý chung mà nhiều kẻ nhờ biết khai thác và kinh doanh đã trở nên giàu to.  Bao dịch vụ hay công ty mang danh bảo hiểm – insurance – đã xuất hiện để bồi hoàn cho những mất mát hay hư hao đó.

Kết quả là nhiều thứ bảo hiểm xuất hiện:  nhà cửa, xe cộ, vật dụng, công việc, sức khoẻ, nhân thọ.  Thậm chí còn có bảo hiểm cho cả chó mèo, chim chóc trong nhà.

Không có thứ bảo hiểm nào lại không liên quan đến sự sống người ta.  Tôi mua bảo hiểm cho chiếc xe, cái nhà, cửa tiệm, bức tranh, chiếc nhẫn kim cương… là vì những thứ đó có dính dáng đến cuộc sống của tôi phần nào.

Nhưng thử hỏi có mấy thứ bảo hiểm người ta đang có mà lại không đụng đến đồng tiền?  Phải nói rằng trong thực tế, thứ nào cũng cần có tiền mới mua được.  Thành ra để bảo hiểm cho thứ này vật kia, tôi phải nai lưng ra kiếm tiền; để bảo vệ sự sống, tôi phải lo lắng vất vả thức khuya dậy sớm cày thêm tí “job” để có tiền đóng bảo hiểm.  Rốt cuộc, tôi đã tiêu hao sự sống để bảo vệ sự sống.  Trực tiếp giữ gìn sự sống thân xác trong khi đã gián tiếp đánh mất nó.  Mà nhiều khi lại đánh mất trong hãnh diện và tự hào mới khốn chứ!

Quả là phù vân tiếp nối phù vân, hư không trên các sự hư không.

Nếu không thoát được bao sự hư không phù phiếm đó thì tôi sẽ chẳng khác chi gì “người phú hộ giàu có” trong Tin mừng của thánh Luca: gặp năm được mùa, lúc thóc dư tràn, người phú hộ không biết để đâu cho hết.  Sau nhiều hôm trằn trọc băn khoăn, cuối cùng ông tìm được một kế: phá quách các kho nhỏ, đóng một kho thật lớn để chất tất cả tài sản thóc gạo vào đó.  Thế rồi, khi mọi sự hoàn tất, được bảo đảm bởi một kho lẫm chắc chắn, ông phú hộ mới nói với linh hồn: “Hãy ăn đi, uống đi, hãy nếm cho thoả thích mùi đời đi, hỡi linh hồn của ta.”

Nhưng bất thần có tiếng Chúa phán: “Đồ ngốc,ngay đêm nay người ta sẽ đòi lại hồn ngươi, thế thì những của ngươi tích trữ kia sẽ để lại cho ai đây?” (Lc 12:16-21)

Mới đọc qua dụ ngôn, không ít người thắc mắc : một kẻ làm ăn cần cù, có lẽ không gian dối lừa gạt bóc lột ai, nhưng sao lại bì kết án “đồ ngốc” nặng nề như vậy?  Thế nhưng, suy nghĩ một chút người ta sẽ phải công nhận người giàu có kia đã phạm phải ba lỗi lầm chứng tỏ ông ta ngốc thật.

Lỗi lầm thứ nhất: ông tưởng của cải vật chất là yếu tố căn bản có thể mang lại sự sống cho linh hồn, một hữu thể vô vật chất.  Ông ngây ngô khi nói với linh hồn mình hãy cứ ăn uống những thứ mà ông thu tích được kia.

Lỗi lầm thứ hai: ông phá được các kho lẫm ích kỷ nhỏ nhoi của mình để rồi xây lại một cái khác to lớn hơn.
Phải chăng trong thực tế cũng có không ít người phá được hầu bao của mình để dâng cho Chúa một chút tiền công đức thì lại cứ muốn tên tuổi được khắc ghi trên bia đồng hay bia đá, hoặc có những người vừa thoát được cái thế giới thầm lặng khép kín của mình để ra đóng góp cho cộng đoàn tha nhân thì lại xây ngay một cái kho khác lớn hơn: cái kho của tự cao tự phụ – “mọi người phải biết đến phần đóng góp của tôi, nếu không thì tôi rút lui.”

Đó không phải là nẻo đường chân chính của Phúc âm.  Trái lại, theo tinh thần Kitô giáo, phá kho là để trao ban cho người chứ không phải xây lên kho khác để rồi lại tích lũy cho mình.

Điều lầm lẫn thứ ba của người phú hộ là chỉ biết hướng về những sự dưới đất, những chuyện thế gian, những phạm vi thân xác, và thiếu quan tâm đến những thiêng liêng hay cuộc sống mai sau.          

“Người ta sẽ đòi linh hồn ngươi.”  Câu nói này đã bộc lộ một chân lý:  Đến giờ chết thân xác sẽ tiêu tan, trở về với cát bụi, chẳng ai còn tha thiết với nó.  Những gì sẽ được đem đi chính là linh hồn. Cho nên thật là khờ dại khi chỉ tích trữ, trang điểm, vỗ béo cho thân xác mà quên mất hay coi nhẹ việc tô điểm hoặc bảo hiểm cho linh hồn.

“Người ngốc” được nói đến trong Phúc âm là kẻ chỉ biết có hiện tại, tìm kiếm và hưởng thụ những giá trị hữu hình.

Người khôn ngoan chính là người sống trong hiện tại nhưng biết hướng về tương lai, ở trong thế giới hữu hình nhưng luôn chuẩn bị cho mình những giá trị và tài sản vô hình thiêng liêng.

Người khôn ngoan “khi còn sống trên địa cầu biết kiềm chế các chi thể là sự gian dâm, ô uế, dục tình, đam mê xấu xa và hà tiện, tức là những sự thờ quấy… (cùng với) nóng giận, gắt gỏng, thâm độc, chửi rửa, thô tục” (Col 3:5,8).

Người khôn ngoan là người biết rằng không có gì quí bằng linh hồn, không có gì quan trọng cho bằng sự sống mai sau với Đức Kitô.  Từ chỗ nhận biết này người khôn ngoan sẽ lo việc bảo hiểm linh hồn của mình nhiệt thành hơn.
Có rất nhiều phương cách để giúp bảo hiểm linh hồn, nhưng có một phương cách mà ai chịu khó đầu tư cũng đều nắm chắc phần thắng.  Đó là cầu nguyện.  Thánh Anphongsô từng khẳng định: “Ai cầu nguyện nhất định được rỗi linh hồn.”  Bởi vì qua cầu nguyện, người ta sẽ vững bước trên con đường tiến về Thiên Chúa.

Lm Bùi Quang Tuấn, DCCT – Vietcatholic.net

***************************

Lạy Chúa xin mở mắt con để biết hướng về những gì hữu ích cho linh hồn mình, cho đời sống vĩnh cửu mai sau.  Xin đừng để của cải vật chất đời này làm u mê bước chân người lữ hành.  Lạy Chúa, xin dạy bảo con trước khi quá muộn màng, xin đừng để ai trong chúng con phải hư mất như người phú hộ trong bài Tin Mừng hôm nay, Amen!

NHỮNG CÁI CHẾT TRONG CUỘC SỐNG

Người ta thường có một thái độ rất mông lung trước cái chết.  Một đàng người ta không muốn nhắc đến nó, vì sợ rằng sẽ có điều không may xảy đến, nhưng đàng khác, người ta lại rất tò mò về nó, muốn tìm hiểu và khám phá nó.  Dù sao đi nữa, dù có muốn hay không, chúng ta đều biết rằng một ngày nào đó mình sẽ phải đối diện với cái chết.  Cái chết trở thành một phần của sự sống, của thân phận thụ tạo.  Nó là điểm chấm hết cho một cuộc hành trình.  “Cái chết” là một từ ngữ buồn bã.  Nó làm tắt đi tất cả nguồn sức sống, sinh lực.  Nó đưa ta về với vùng trời u ám mà chẳng ai muốn vào.  Tuy nhiên, giữa cuộc sống này, “cái chết” lại mang rất nhiều màu sắc.  Nói cách khác, có rất nhiều loại “chết”, trong đó, có cái làm ta buồn, nhưng cũng có cái làm cho ta được trở nên giá trị hơn.

Kiểu chết mà ta nghĩ đến đầu tiên là cái chết sinh học.  Cái chết này mang đến cho người ta sự tang thương chia cắt.  Bản thân người chết lẫn người thân của họ đều phải đối diện với sự tang tóc, đau buồn.  Cái chết này làm người ta đặt dấu hỏi về ý nghĩa của sự hiện hữu trên đời.  Có đó rồi mất đó.  Từ bụng mẹ chui ra rồi trở về lòng đất.  Có một thời ta đã không hiện hữu, rồi sau một thời gian ngắn được hít thở chút không khí, ta lại trở về với cái “không hiện hữu”.  Ta có thể còn tồn tại không ký ức, trong nỗi nhớ, nơi kỷ niệm, nhưng ta giờ đây chẳng còn là gì nữa.  Một thoáng mây bay, một kiếp hoa dại.  Cái chết này cho thấy sự mỏng dòn, yếu đuối của bản thân.  Nó đập tan tất cả mọi tham vọng, ngạo nghễ.  Nó sẽ ập đến bất cứ lúc nào nó muốn, không phân biệt thanh xuân hay tuổi già; giàu sang hay nghèo khổ; thông minh hay ngu dốt; khoẻ mạnh hay bệnh tật…  Nó là kẻ thù đáng sợ nhất của con người và mãi mãi, con người chẳng bao giờ có thể chiến thắng được nó.  Còn mang thân xác này, là còn phải đối diện với nó vào một khoảnh khắc nào đó ta chẳng hay.

Cái chết thứ hai là kiểu chết về tinh thần.  Cái chết này không làm cho người ta tắt thở, không đưa người ta vào lòng đất, nhưng đục khoét con người và làm cho con người “sống không bằng chết.”  Đó là khi người ta mất hết nhuệ khí, chẳng còn hy vọng.  Người ta chỉ có đó, hít thở không khí, chứ chẳng hề “sống” thật sự.  Từng ngày tháng dài trôi qua một cách vật vã.  Người ta không thấy được ý nghĩa của cuộc sống, không biết mình hiện hữu để làm gì, không biết tại sao mình lại được sinh ra trên đời, và đặc biệt, họ không thấy mình được yêu thương.  Họ chẳng biết yêu là gì.  Không được sưởi ấm và che chở bởi tình cảm nhân sinh.  Họ chỉ sống bằng một thân xác chơ vơ, ngày ngày kiếm sống như bao loài động vật khác.  Họ bị cô lập hoặc tự mình cô lập trong thế giới này.  Họ nhốt mình trong quá khứ buồn, trong những ký ức xa xưa, đến nỗi chẳng còn một ý chí thúc đẩy họ vươn tới, hướng về tương lai phía trước.

Cái chết thứ ba mang tính luân lý và tôn giáo.  Đó là cái chết của người không còn sống theo tiếng lương tâm ngay lành mách bảo.  Họ chẳng còn ý thức gì về sự chính trực, sự công bằng, về đạo đức.  Họ phạm tội này đến tội khác nhưng cứ xem đó như là niềm hãnh diện của mình, chứ không ý thức rằng, cứ mỗi lần phạm tội là họ tự chà đạp nhân phẩm của mình, làm cho sự hiện hữu của mình mất đi ý nghĩa.  Cứ để ý mà coi, người ta càng sống trong tội, càng cảm thấy bất an, sợ sệt.  Còn người nào càng tích trữ nhân đức cho mình thì càng sống cách an nhiên, tự tại, vui sướng.  Khi người ta thấy hạnh phúc, là khi sự sống trong họ trở nên trào tràn, họ thấy mình sung mãn năng lượng để vui hưởng cuộc sống.  Người nào không đặt đời mình trên nền tảng các nhân đức thì sẽ thấy những gì mình làm chẳng có giá trị tốt đẹp nào cả.  Càng sống trong đầm lầy của tội, người ta càng tự thấy mình dần chết đi.  Chính họ, chứ không phải ai khác, kết án mình và huỷ hoại sự sống của mình.

Cái chết cuối cùng đáng được nhắc tới lại có âm vị khác hẳn.  Nó là cái chết mà ai ôm ấp nó thì trở thành anh hùng và sống mãi trong trái tim của mọi người.  Người ta thường gọi cái chết thứ tư này bằng hai chữ rất thân thương: hy sinh.  Hy sinh là tiêu hao đi, là chịu thiệt thòi (vốn dĩ là những điều chẳng ai muốn), nhưng người ta chấp nhận nó vì một mục đích cao cả, và người ta chỉ có thể đón nhận nó bằng lực đẩy của tình yêu.  Phải, cái gì gắn liền với tình yêu thì luôn cao đẹp.  Điều kỳ lạ là, cứ mỗi lần người ta “chết” theo kiểu này, người ta lại càng cảm thấy như mình đang sống và sống cách sung mãn hơn, đến nỗi có thể nói như thế này: muốn sống thì phải biết hy sinh, phải biết chết đi để được sống.  Sống giữa đời, nếu không có những kiểu “chết” này thì cũng sẽ chẳng còn ý nghĩa gì nữa.  Cuộc sống của chúng ta có trở nên đẹp, chính là nhờ cái chết này.  Dù là nhỏ nhoi, dù là ít ỏi, nhưng mỗi lần ta hy sinh lợi ích của mình cho người khác, sự mất mát đó lại trổ sinh hoa trái, sự sống trong ta lại trở nên dồi dào và ta cảm thấy có một niềm vui thiêng liêng nào đó tràn ngập tâm hồn không sao diễn tả nổi.

Chúng ta sẽ là “người” hơn khi biết hy sinh cho nhau.  Đó không chỉ là bí quyết của cuộc sống mà còn là ơn gọi, là sứ mạng, là mệnh lệnh của Tạo Hoá dành cho chúng ta.  Khi ta tự nguyện thực hành những hy sinh trong cuộc sống, sự sống của ta trở nên đong đầy, đến nỗi, cả khi phải đối diện với cái chết sinh học, ta chẳng còn cảm thấy sợ hãi nữa; ta sẽ thấy mình được đong đầy bởi tình yêu nên cũng không còn cái chết tinh thần; và nhờ tích góp nhiều nhân đức, ta cũng thoát khỏi cái chết luân lý.  Một chút hy sinh ở đời này là góp phần dựng xây hạnh phúc ở đời sau.  Hay đúng hơn, ngay khi ta biết hành động với tình yêu trong những sự hy sinh nhỏ bé, chính là ta đã nếm được sự viên mãn của tâm hồn rồi.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

HÃY CHO NHAU NỤ CƯỜI

Có lần mẹ Têrêsa thành Calcutta kể lại câu chuyện như sau:

Nhiều người đến thăm tôi tại Calcutta và trước khi ra về thường ngỏ ý với tôi: “Xin cho chúng tôi một lời khuyên để chúng tôi sống tốt đẹp hơn”.

Tôi liền bảo họ: “Quí vị hãy về và hãy ban tặng cho nhau những nụ cười. Một nụ cười cho vợ của ông.  Một nụ cười cho chồng của bà.  Một nụ cười cho con cái của ông bà.  Hãy cười tươi với tất cả mọi người, bất luận người đó là ai.  Với những nụ cười tươi như thế quí vị sẽ lớn lên trong tình yêu hỗ tương.”

Nghe vậy một người trong nhóm hỏi tôi:

– Bà có lập gia đình không?

Tôi gật đầu và nói:

– Ðôi khi tôi cũng cảm thấy khó nở một nụ cười với vị hôn phu của tôi.

Và mẹ Têrêsa kết luận:

– Ðúng thế, Chúa Giêsu có thể đòi hỏi rất nhiều.  Và chính khi Ngài đòi hỏi như thế thì không gì đẹp cho bằng nở một nụ cười thật tươi với Ngài.

* * * * *

Bạn thân mến! Các sách Phúc Âm không ghi lại một nụ cười nào của Chúa Giêsu mà chỉ đôi ba lần nhắc đến những thổn thức và tiếng khóc nức nở của Ngài.  Vậy mà cả cuộc đời, những lời rao giảng, những việc làm và nhất là cái chết của Ngài được gọi là Tin Mừng !!!

Chúa Giêsu mang đến cho con người một Tin Mừng, bởi vì qua cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của mình, Ngài đã mang đến cho mọi người con đường hy vọng.  Ðau khổ và sự chết đã bị khắc phục, bởi vì hy vọng, niềm vui, sự sống đã bừng dậy từ đau khổ và sự chết của Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu chính là nụ cười của Thiên Chúa gửi tặng chúng ta.  Trong Ngài con người tìm được ý nghĩa của cuộc sống, ngay cả khi gặp thất bại, khổ đau.  Trong Ngài con người tìm được niềm vui, ngay cả khi thua thiệt mất mát.  Trong Ngài, con người tiếp tục hy vọng, ngay cả giữa những giờ phút tăm tối nhất của cuộc đời.

Nụ cười lôi cuốn nụ cười.  Chúa Giêsu đang chờ đợi nơi con người một nụ cười đáp từ:

  • Cười vui với Ngài là biết đón nhận từng phút giây trong cuộc sống và mọi biến cố với tất cả tin yêu, hy vọng và phó thác.
  • Cười vui với Ngài là luôn sẵn sàng nhận ra Ngài với khuôn mặt của mỗi người anh em.
  • Cười vui với Ngài cũng có nghĩa là biết trao ban một ánh mắt cảm thông, một nụ cười thân thiện, một lời nói ủi an tha thứ với tất cả mọi người.

(R. Veritas)

* * * * *

Lạy Chúa! Nụ cười không mất tiền mua, không phải vất vả cực nhọc để đi xa mang về … Nụ cười thật dễ dàng để xuất hiện trên môi miệng và trên khuôn mặt nhưng sao con lại thấy thật khó khăn vất vả để trao tặng nụ cười trên khuôn mặt của con cho những người xung quanh …Con đã thay thế nụ cười bằng những cái nhăn mặt méo mó, bằng  những ánh mắt giận dữ, bằng những cái lắc đầu xua tay và đôi khi bằng những lời nói làm đau lòng người khác.  Xin cho con luôn ý thức rằng : mỗi khi con mang nụ cười đến cho những người xung quanh chính là lúc con dâng lên Thiên Chúa  tình yêu và nụ cười, sức sống và hy vọng của đời con . Amen

LINH THAO LÀ GÌ?

Một huyền thoại kể rằng, lúc Chúa Giêu Hài Đồng được sinh ra, ba vị vua tới thăm viếng Chúa là ba vị tu sĩ đại diện cho ba Dòng lớn trên thế giới: Dòng Tên, Dòng Phan Sinh (do Thánh Francis of Assisi sáng lập), và Dòng Chúa Cứu Thế (do Thánh An Phong Ligouri sáng lập)

Ba vị tu sĩ lần lượt cầu nguyện như sau:

Vị tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế thốt lên:

– Ôi Lạy Chúa, con ngợi khen Thiên Chúa và Tình Yêu bao la của Ngài đã cho Người Con Một xuống thế để chuộc tội trần gian.

Còn vị tu sĩ dòng Phan Sinh khó nghèo xấp mặt xuống đất nghẹn ngào cầu nguyện:

– Ôi lạy Chúa! xin thương xót chúng con. Xin cho chúng con trở nên bé nhỏ và có lòng khó nghèo như Chúa vậy.

Lúc đó vị tu sĩ Dòng Tên chỉ đứng lẩm bẩm và lắc đầu nói:

– Hừm, đứa nhỏ này cần phải được cho vô trường học đàng hoàng và cần phải  đi tĩnh tâm Linh Thao trước khi bước vào cuộc đời công khai!

***************************

Mẩu chuyện vui trên đây nhắc chúng ta nhớ đến hai đặc sủng của Dòng Tên, ngoài sứ mạng giáo dục họ còn gắn liền với sứ mạng hướng dẫn tĩnh tâm Linh Thao.  Vậy Linh Thao là gì mà lại gắn bó với cuộc đời tu sĩ Dòng Tên?  Linh Thao có liên hệ gì với người giáo dân không?

Ngày nay, ai cũng biết thánh I-nhã là một vị linh mục, Đấng sáng lập Dòng Chúa Giêsu mà ở Việt Nam quen gọi là Dòng Tên, một vị thánh lớn của Giáo hội mà người ta quên rằng khi soạn thảo phương pháp tĩnh tâm Linh Thao, tâm điểm của linh đạo I-nhã, ngài chỉ là một người giáo dân bình thường.  Từ thưở ban sơ, mục đích của Linh Thao là giúp người giáo dân ở bất cứ giai đoạn nào trong đời sống đức tin, sống trong bất cứ ơn gọi nào có thể đáp trả lại lời mời gọi thiêng liêng của người Kitô tiến đến đời sống thân mật thâm sâu với Chúa hơn.

Ngược xuôi giữa dòng đời bon chen bận rộn, không phải là một chuyện đơn giản để nhận biết đời sống mình đang quy hướng về phía Thiên Chúa hay bị kéo ngược về thế gian.  Làm thế nào để tôi có thể giữ mình bình tâm trong thế giới vật chất này?  Làm thế nào để nhìn ra thánh ý Chúa?  Làm sao để có một chọn lựa đúng đắn nhất?  Như một thân thể cường tráng dẻo dai phải cần đến sự siêng năng tập thể dục thì linh hồn cũng có một nhu cầu cần đến sự luyện tập để đời sống thiêng liêng ngày càng triển nở hơn, để có thể sống trong sự bình an hoan lạc ngay từ đời này.  Linh Thao là phương pháp rèn luyện nội tâm trong thinh lặng và qua cầu nguyện, dựa trên những kinh nghiệm của thánh I-nhã.  Linh Thao bao gồm cầu nguyện, chiêm niệm, và những hoạt động thiêng liêng khác nhằm“chuẩn bị và dọn dẹp linh hồn, để dẹp bỏ mọi quyến luyến lệch lạc, và sau đó  tìm kiếm ý Thiên Chúa hầu sắp đặt cuộc đời làm sao để có thể mưu ích cho linh hồn mình’ [Linh Thao 1].  Đi Linh Thao giúp người tín hữu nhìn ra thánh ý Chúa, mạnh dạn rũ bỏ những quyến luyến lệch lạc để sắp xếp lại trật tự đời mình, biết kết hiệp với Chúa trong đời sống thường, biết nhận định để có những quyết định phù hợp với chương trình của Chúa trong cuộc sống mình.  Linh Thao không chỉ để nghe, để học hỏi, thảo luận hay tìm tòi nghiên cứu một cái gì mới lạ mà Linh Thao đơn giản là “sống”.  “Sống” với Chúa trong một thời gian nhất định, “sống” lại mầu nhiệm Cứu Chuộc và sau đó trở lại đời thường với một sức sống mới mạnh mẽ hơn, với những kinh nghiệm gặp gỡ Chúa của riêng mình.

Linh Thao trọn vẹn được soạn thảo bởi thánh I-nhã kéo dài ba mươi ngày, tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài và được làm ở một nơi thanh vắng.  Và một dạng Linh Thao dài ngày khác phù hợp với giáo dân được thực hiện ngay trong đời sống thường với thời gian lâu dài hơn một tháng [Linh Thao 19].  Vì đối tượng của Linh Thao là cho giáo dân, vì giáo dân nên trải qua hơn bốn thế kỷ, Linh Thao đã được các tu sĩ Dòng Tên soạn thảo thành nhiều dạng, nhiều hình thức khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh, hoàn cảnh sống khác nhau của mỗi người như Linh Thao vài tuần, Linh Thao bảy-chín ngày, Linh Thao hai-ba ngày, Linh Thao Hôn Nhân Gia Đình, Linh Thao qua Internet, Linh Thao tại gia, chương trình Thao Luyện Nhẹ Nhàng, v.v…..  Linh Thao lý tưởng nhất là làm tại một nhà tĩnh tâm, tuy nhiên vì hoàn cảnh khác biệt của mỗi giáo dân, Linh Thao có thể làm tại nhà với một chương trình dài hơn.

Ngày nay ai cũng biết tập thể dục không chỉ dành riêng cho các vận động viên Olympic hay các huấn luyện viên thể thao các cấp, thì Thao Luyện Thiêng Liêng cũng không chỉ dành riêng cho các bậc tu sĩ hay các thần học gia lỗi lạc.  Ai cảm thấy mình có linh hồn, ai cảm nhận được nhu cầu khát khao cần được luyện tập của linh hồn thì hãy lên đường tìm cho mình một phương pháp luyện tập thích hợp.  Cũng như tập thể dục, người mới bắt đầu nên đi từ dễ đến khó, từ nhẹ đến nặng, từ những khoá ngắn ngày trước rồi mới lên khóa dài ngày.

Muốn biết rõ thêm về Linh Thao, trăm nghe không bằng mắt thấy, mời bạn ghi danh tham dự một khoá tĩnh tâm Linh Thao để có kinh nghiệm gặp gỡ Chúa của chính mình.

Các khoá Linh Thao:  http://www.donghanh.org/main/3LTLT.htm

Các khoá Linh Thao tại San Jose, North California:  http://www.linhthao.org/ltrinh.php

Linh Thao trong cuộc sống qua Internet: http://www.linhthaotrongcuocsong.net

***************************

Kết thúc khoá Linh Thao, một linh hồn tràn đầy tình yêu với bầu nhiệt huyết đầy sự sống siêu nhiên có thể mạnh dạn thân thưa với Chúa bằng lời cầu nguyện của Đấng sáng lập ra phương pháp Thao Luyện Thiêng Liêng:

Lạy Chúa ! Xin hãy nhận lấy,
Tất cả tự do, trí khôn, và cả ý chí của con,
Tất cả những gì con có và đang làm chủ,
Chúa đã ban cho con, 
Nay con xin dâng lại Chúa,
Vì tất cả là của Chúa,
Xin Chúa sử dụng hoàn toàn theo ý Chúa,
Lạy Chúa! xin ban cho con,
Tình yêu và ân sủng Chúa,
Đối với con, thế là đủ.  Amen!

Lang Thang Chiều Tím

HÃY XIN SẼ ĐƯỢC

Một người giầu có Millwankee có một đứa con trai duy nhất mười hai tuổi.  Thường ông cho con mọi cái nó muốn.  Có một điều người con ao ước hơn hết, là có một người anh em cùng lứa tuổi để chia sẻ, để cùng chơi.  Người cha quyết định nuôi một bé trai nghèo nhỏ hơn con trai ông sáu tháng.  Cả hai đứa trẻ đều sung sướng.  Đứa con trai có bạn, đứa con nuôi có những món đồ chơi mà nó chưa bao giờ biết đến.

Một bữa nọ, hai đứa trẻ đang thảy banh qua lại trong sân.  Đứa con nuôi ngỏ ý: “Gee, em ước mong Kenny có một trái banh như thế này.  Nó thích đá banh lắm, nhưng cha mẹ nó không thể mua cho nó một trái banh như thế này” và em tiếp tục nói về Kenny, một người bạn lối xóm cũ.  Người con ruột nói: “Sao em không xin ba cho nó một trái banh?”  Người con nuôi trả lời:  “Ba đã quá tốt với em rồi, em không dám làm phiền người nữa”.  Nhưng người con ruột nài nỉ:  “Em đừng quên ba anh là ba em.  Người cho anh mọi cái anh xin.  Người cũng làm cho em như vậy.  Nếu người cho rằng cái đó không tốt cho em, người sẽ nói, nhiều khi người cho em những cái tốt hơn nữa.  Hãy xin đi, Kenny sẽ có trái banh”.

*************************

Chúa Giêsu cũng nói với chúng ta như vậy trong bài Tin Mừng hôm nay:  “Hãy xin, thì sẽ được”.  Bạn và tôi, chúng ta là những đứa con nuôi, là anh em, chị em với Chúa Giêsu, Cha chúng ta, như Chúa Giêsu đã gọi, muốn tất cả chúng ta chia sẻ  hạnh phúc và hồng ân với Chúa Giêsu, Chúa Giêsu muốn anh chị em của Người chia sẻ lòng nhân từ của Cha Người.

Cha trên trời đã sắp đặt nhận bạn và tôi làm con.  Người còn cho chúng ta tham dự vào sự sống của Người – sự sống của Thiên Chúa đã ban tặng cho chúng ta trong bí tích rửa tội.  Như người con nuôi trong câu chuyện chúng ta  hạnh phúc không lời nào diễn tả vì  cuộc sống cao vời của người con Chúa.  Anh chị em với Chúa Kitô.  Nhưng chưa hết, Chúa Giêsu nói rằng chúng ta còn nhận được nhiều hồng ân khác nữa của Cha chúng ta, cho chúng ta và cho nhiều người khác nữa.  “Hãy xin thì sẽ được”.  Bạn để ý, nhiều lần Chúa chúng ta cầu nguyện cùng Cha Người hầu như luôn luôn cầu nguyện cho chúng ta.

Ý tưởng này là chủ đề của thánh lễ hôm nay.  Trong bài đọc thứ nhất Abraham nài nỉ với Chúa khoan nhân cho những người tội lỗi thành Sôđôma và Grômôna.  Trong bài đáp ca chúng ta kêu cầu: “Lạy Chúa, đêm ngày con kêu cứu Chúa đã đáp lời con.  Chúa đã nghe tiếng miệng con kêu xin”.  Bài đọc thứ hai khích lệ chúng ta “Thiên Chúa ban cho anh em đời sống mới trong Đức Kitô”

Lời cầu nguyện của cộng đoàn hay cá nhân sẽ có ý nghĩa hơn khi chúng ta ý thức rằng như một người con chúng ta thân thưa cùng người cha đang lắng nghe và yêu thương, chúng ta nên thường cầu nguyện bằng những lời nguyện tự phát, bạn nhớ cách thức của đứa con thân thưa với cha mình và kiên trì nài xin.  Đó là điều Chúa Giêsu muốn chúng ta làm khi Người dạy chúng ta cầu xin.  Bạn nhớ kêu xin những điều người khác cần và ước mong cũng như những điều bạn cần và ước muốn, và đừng quên lời cảm tạ.  Cầu nguyện cá nhân và riêng tư giúp chúng ta tham dự đầy đủ hơn việc phụng tự cộng đoàn như Thánh lễ hôm nay.

Gm. Arthur Tonne

************************

Con gởi ước Mơ
Vào Thơ cầu Nguyện
Mong lòng tan biến
Bao chuyện buồn đau
Chấp tay khẩn cầu
Chúa mau tuôn dổ
Để ngàn bão tố
Mãi mãi lìa xa
Cho những mái nhà
Ấm êm hạnh phúc
Dẫu đời lắm lúc
Tủi nhục ùa vây
Xin Cha từng ngày
Dang tay nâng đỡ
Phần con xin nhớ
Nguyện cầu Ngài luôn.

BẢY VỊ TIÊN TỔ DÒNG TÊN

(Xin gởi đến qúy vị và các bạn bài viết dưới đây nhân dịp kỷ niệm 50 năm Dòng Tên trở lại hoạt động tại Việt Nam lần thứ hai, và cũng để kỷ niệm  ngày lễ kính thánh Inhaxiô – 31/7 )

Tháng 10 năm 1525, hai sinh viên trẻ cùng tuổi 19, ghi tên tại trường đại học Saint-Barbe ở thủ đô Paris, nước Pháp.  Cả hai cùng ở chung một phòng, cùng quý mến nhau và cùng trao đổi tình bạn chân thành với nhau.  Một người tên Phêrô Favre, quê quán vùng Savoie – nước Pháp.  Người kia tên là Phanxicô Xavier, đến từ vùng Basque – Tây-Ban-Nha.  Phêrô Favre tính tình dễ thương và chuyên cần học hỏi.  Trái lại Phanxicô Xavier thì nhanh nhẹn, ưa thích thể thao và có nhiều cao vọng.

Bốn năm sau, ngày 1-10-1529, sinh viên thứ ba đến trọ cùng phòng với Phêrô và Phanxicô.  Sinh viên này khoảng 38 tuổi và có dáng đi khập khiễng.  Anh ăn mặc nghèo nàn, hành lý ít ỏi, nhưng toàn thân anh toát ra sức hấp dẫn diệu kỳ.  Anh tỏ ra chững chạc, ăn nói khiêm tốn dịu hiền và sẵn sàng giúp đỡ người khác.  Đặc biệt anh có đôi mắt tươi vui hóm hỉnh.  Sinh viên lớn tuổi ấy tên là Inhaxiô (I-Nhã).  Anh đến từ vùng Loyola – Tây-Ban Nha.  Sự có mặt của sinh viên Inhaxiô đã đưa hai sinh viên trẻ tuổi Phêrô và Phanxicô vào khúc rẽ quan trọng trong cuộc đời của họ.

Inhaxiô đã từng đi lính, ra trận và bị thương ở chân.  Trong thời gian chữa trị, để giết giờ, anh đã đọc sách “Hạnh Các Thánh”.  Thiên Chúa đã hoán cải tâm lòng anh, khiến anh quay về với Ngài. Anh đặc biệt suy gẫm Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu Kitô và nhất quyết bước theo chân Ngài.  Sau khi lành bệnh, anh tìm nơi thanh vắng để sống ẩn dật và cầu nguyện trong vòng một năm.  Sau đó anh đi hành hương đất thánh Giêrusalem.

Sau chuyến hành hương đất thánh, anh trở lại Tây-Ban-Nha với tâm hồn hoàn toàn đổi mới, Inhaxiô ước ao chia sẻ những khám phá thiêng liêng anh vừa tìm thấy cho nhiều người.  Anh tìm được cách thức phân biệt tác động nội tâm: tác động nào đưa đến niềm vui và tác động nào đưa đến chán nản ê chề.  Nhưng vì anh chưa được huấn luyện về thần học, nên anh bắt đầu dành thời giờ để nghiên cứu học hỏi, và cùng lúc vẫn giảng thuyết về Thiên Chúa.

Xã hội Tây Ban Nha lúc bấy giờ đòi buộc các nhà giảng thuyết phải có bằng cấp hẳn hoi mới được phát biểu công khai. Thế là Inhaxiô lên đường sang Paris (Pháp) để ghi tên học tại Saint-Barbe, cùng trường với Phêrô Favre và Phanxicô Xavier.

Nhờ dành nhiều giờ cầu nguyện, suy gẫm và suy tư về chặng đường mà anh đã trải qua, Inhaxiô dần dần thành hình phương pháp mà anh gọi là ”Thao Luyện Thiêng Liêng” (hay còn gọi là Linh Thao)  nhằm giúp người tín hữu tu chỉnh cuộc sống (reform) và định hướng cuộc đời mình (election).

Tất cả khám phá thiêng thiêng trên đây, Inhaxiô thường chia sẻ cho hai người bạn trẻ cùng phòng. Phêrô Favre tỏ ra nhạy cảm trước kinh nghiệm của Inhaxiô nhưng Phanxicô Xavier thì ít chú ý hơn.  Thời gian này có thêm một sinh viên trẻ khác đến từ Bồ-Đào-Nha tên là Simon Rodriguez, anh mới vừa tròn 17 tuổi.

Một ngày kia Simon Rodriguez tình cờ nói chuyện với Inhaxio. Khám phá thiêng liêng của Inhaxiô đã lôi cuốn sự chú ý và khơi dậy lòng đạo đức của Simon.  Anh quyết định chọn con đường phục vụ Thiên Chúa, khởi đầu bằng chuyến hành hương Giêrusalem, rồi dấn thân giúp người khác trên con đường thiêng liêng. Từ đó ba bạn trẻ (Phêrô Favre, Phanxicô Xavier và Simon Rodriguez) trở thành bạn tâm giao của Inhaxiô Loyola.

Thời gian sau có thêm 3 sinh viên nữa đến từ Tây Ban Nha và cùng học tại Saint-Barbe.  Đó là Diego Laynez, Alphonso Salmeron và Nicolas Bobadilla.

Nhờ nghe tiếng đồn về lòng thánh thiện của Inhaxiô và nhờ sự quan phòng của Thiên Chúa, cả ba sinh viên đều gặp Inhaxiô và muốn nhận Inhaxiô làm thầy hướng dẫn thiêng liêng.

Ngày 15-8-1534 là ngày lịch sử. Tất cả bảy sinh viên trên đây cùng leo lên đồi Montmartre ở thủ đô Paris và cùng vào một nhà nguyện nhỏ. Tại đây, một người trong nhóm vừa chịu chức linh mục, đó là cha Phêrô Favre.  Họ đã cử hành Thánh Lễ chung với nhau.  Trước lúc rước Mình Thánh Chúa, cả bảy người bạn, lần lượt đọc lời tuyên khấn giữ đức khó nghèo, khiết tịnh, đi hành hương Giêrusalem và dấn thân làm việc tông đồ bằng việc rao giảng Lời Chúa.  Tuy nhiên nếu lời khấn hứa hành hương Giêrusalem không thực hiện được thì sẽ giao cho Đức Giáo Hoàng quyền quyết định tương lai và những hoạt động của mình.

Sau ngày lịch sử trên đây, tình bạn thiêng liêng giữa bảy người mỗi ngày một đậm đà sâu sắc. Họ rất qúy mến nhau, giúp đỡ và khích lệ nhau tận tình. Cuộc sống chung mang một ý nghĩa siêu nhiên cao thượng.  Và cộng đoàn huynh đệ này đã đề cử Inhaxiô Loyola làm thủ lãnh tinh thần cho mình.

Và từ đây, những người trong cộng đoàn huynh đệ này đã trở thành những vị tiên tổ của Dòng Tên, đó là  Inhaxiô Loyola (1491-1556), Phêrô Favre (1506-1546), Phanxicô Xavier (1506-1552), Simon Rodriguez, Diego Laynez, Alphonso Salmeron và Nicolas Bodadilla.

(Sr. Minh Nguyệt –  radiovaticana.org ,  21/04/2006 )

* * * * *

Lạy Chúa! “Thao Luyện Thiêng Liêng” giúp chúng con gặp gỡ Chúa và gặp gỡ chính mình … Thao Luyện Thiêng Liêng giúp chúng con biết “phân biệt thần loại”, biết  “tu chỉnh” cuộc sống và “định hướng” cuộc đời theo Thánh Ý Chúa …và Thao Luyện Thiêng Liêng là món quà cao qúy mà Chúa đã ban cho chúng con  qua thánh Inhaxiô.  Xin cho chúng con luôn biết noi gương bắt chước Thánh nhân biết sống kết hợp với Chúa, biết “yêu mến Chúa trong mọi sự”, biết luôn quy hướng về Chúa để mỗi ngày trong cuộc sống là mỗi ngày chúng con làm “vinh danh Chúa hơn”. Amen

NHẶT CÁ

Trong mẻ lưới cuộc đời, tôi bắt được nhiều thứ cá. Tôi buông lưới kéo lên. Rác rưởi, cá, đất sỏi, vỏ dừa. Người ngư phủ nào cũng cần ngồi nhặt cá. Ðời tôi quá bận rộn, tôi không có giờ. Tôi cần gấp gáp thả lưới. Tôi chỉ muốn kéo lên. Ðổ cá đó, xuống chợ đời tiếp tục thả. Vì đời quá nhiều người thả lưới. Tôi sợ sẽ đi về đâu cuối ngày khi chung quanh tôi có kẻ thả lưới suốt đêm.

Tôi phải hối hả. Tôi cần gấp gáp. Tôi không có giờ ngồi bên bờ nhặt cá. Tôi để đó, lẫn lộn những gì kéo lên từ cuộc đời.

“Con thương, má phải về trễ đêm nay. Thức ăn má để trong tủ. Con hấp nóng rồi mấy chị em ăn trước nhé.”

Tôi vẫn thường để lại những lời yêu thương như thế. Rồi con tôi lớn dần. Chúng lớn không ngờ. Những đêm về trễ, tôi nhìn con ngủ. Cúi xuống hôn con. Mẹ ước ao có giờ cho con, nhưng mẹ quá bận rộn. Lòng tôi chùng xuống một chút se sắt. Con ngủ, con không biết mẹ mình sau một ngày thả lưới quá mệt, đang hôn con trong khoảnh thời gian, mà đối với con chẳng ý nghĩa gì, vì con đang ngủ. Tôi gắn lên cửa tủ lạnh, tôi gài trên tay cầm phôn những lời căn dặn yêu thương. “Con thương, má phải về trễ đêm nay. Thức ăn má để trong tủ. Con hấp nóng rồi mấy chị em ăn trước nhé.”

Rồi con tôi cứ lớn lên, không ngờ.

* * * * *

Chồng tôi cũng thế. Anh phải thả lưới cuộc đời. Như tâm sự của anh viết trong ánh mắt, một lần tôi đọc. Tôi thấy trong ánh mắt anh, như nói trong tâm trạng băn khoăn. Cũng chùng xuống một chút se sắt như tôi đối với con.

Em yêu dấu. Ngày sinh nhật em. Em yêu dấu. Ngày chúng ta thành hôn. Em yêu dấu. Ðáng nhẽ anh phải đưa em đi nghỉ hè, đáng nhẽ… Nhưng anh quá bận. Cuối tuần này vắng anh nhé. Công việc quá nhiều. Một project đang dang dở. Em yêu dấu.

Ai cũng bận rộn, hối hả thả lưới cuộc đời. Tôi chỉ hơi buồn mỗi khi vắng anh như thế. Có buồn, nhưng tôi im lặng chịu đựng vì tôi cũng bận rộn như anh. Cuộc đời là những rượt bắt không ngừng. Chung quanh tôi là những bàn chân hối hả.

* * * * *

“Con của ba! Ba tặng con món quà ngày sinh nhật.”

Ðã có lần chúng tôi nói với nhau. Mình chẳng có thời giờ cho con. Thôi thì bù trừ cho chúng, chúng muốn gì em cứ mua. Chúng tôi mua quà cho con như một yêu thương đền bù. Chúng tôi lấy đồ chơi thay cho nụ hôn ôm con, lúc chúng còn bé. Chúng tôi lấy tiền bạc, quà tặng thay cho những bữa cơm chiều vắng bố, vắng mẹ, khi chúng đã lớn. Chúng tôi cũng đối xử với nhau như thế. Anh vội vã tạt vào shop mua cho tôi chiếc ví da, thay vì những phút phải đi bên nhau tâm sự. Thời gian cứ trôi xuôi lạnh lùng. Tôi cứ thả lưới và nặng nề kéo lên.

Người ngư phủ ngồi nhặt cá tốt cho vào giỏ. Sau mỗi mẻ lưới kéo lên, ông ngồi kiên nhẫn, chậm rãi vứt cá xấu đi.

Tôi không giống người ngư phủ. Tôi có nghe mùi tanh của một loài cá ươn. Tôi biết có rác, có đỉa, có củi mục trong mẻ cá vừa kéo. Nhưng tôi không có giờ.

* * * * *

Năm tháng qua đi không ngờ. Con tôi bây giờ cũng như bày cá đến tuổi lớn. Chúng dần dần bỏ bến ao, tìm đường ra sông cái. Vào đại học rồi đi xa. Ðôi khi tôi thẫn thờ lần về quá khứ. Những tấm ảnh con tôi lúc lên năm, lên ba. Chỉ nhớ và thương.

Rồi một ngày chồng tôi cũng như tôi, không biết những tấm hình năm xưa chụp chung bây giờ ở đâu. Trong mẻ lưới cuộc đời, anh cũng chẳng có giờ ngồi nhặt cá tốt cho vào giỏ, còn cá xấu quăng đi. Ðến một ngày tôi linh cảm bơ vơ một nỗi lo âu, mệt mỏi và chán nản. Ðó là ngày tôi vô tình nghe mẩu đối thoại:

– I love you.

– I love you too.

Chồng tôi bảo em không nên lo. Không phải chuyện tình cảm. Chỉ là công việc làm ăn của anh. Anh tiếp tục thả lưới và cứ hì hục kéo lên. Tất cả, cá tốt lẫn cá xấu. Tôi không biết rõ mình. Nhưng trong tôi dường như thấy một chút hoang vu nào đó đi về. Nỗi hoang vu khó định nghĩa. Về phía mẻ lưới của tôi, lần cuối tôi nói với người đàn ông không phải chồng tôi:

– Anh gởi cho em về hộp thư này.

Tôi không muốn chuyện gì xảy ra cho gia đình. Tôi muốn gìn giữ hạnh phúc. Không muốn chồng tôi hiểu lầm. Tôi có hộp thư riêng, một P.O. Box. Tất cả chỉ là công việc làm ăn. Những gì tôi lý luận cũng giống chồng tôi. Và tôi tiếp tục thả lưới. Tiếp tục kéo lên tất cả. Chúng tôi giống nhau là không ai có giờ ngồi bên bờ nhặt cá xấu vứt đi. Mơ hồ lãng đãng, tôi không phân biệt được cá nào lành. Tôi yêu mầu sắc của những con cá độc. Tôi không hiểu tình yêu hôn nhân chúng tôi có tiếng thở dài từ bao giờ. Chỉ biết hôm nay, tiếng thở dài quá mệt mỏi.

* * * * *

Thời gian cứ trôi, rồi đến một ngày. Những con cá ươn sình lên mùi hôi. Rác chung với cá. Mảnh chai, vỏ dừa. Những con đỉa và những càng cua gẫy nát. Tốt và xấu lẫn lộn. Những con cá lành bị nhiễm độc.

Khi chiều tàn mệt mỏi. Lúc hoàng hôn rủ nắng xuôi mùa. Những cơn mưa lộp độp kéo về, cũng là lúc chúng tôi mất nhau.

Chồng tôi ra đi với người ấy.

Tôi quay về tấm lưới cuộc đời xuôi theo loài cá khác.

Nhìn lại những bến bờ. Lời Kinh Thánh như một nốt nhạc than trầm:

“Nước Trời giống như chuyện chiếc lưới thả xuống biển, gom được đủ thứ cá. Khi lưới đầy, người ta kéo lên bãi, rồi ngồi nhặt cá tốt cho vào giỏ, còn cá xấu thì vứt ra ngoài. Ðến ngày tận thế cũng xảy ra như vậy. Các thiên thần cũng sẽ xuất hiện, và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính, rồi quăng chúng vào lò lửa. Ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng (Mt. 13: 47-50).

Hạnh phúc không chỉ giống như chiếc lưới thả xuống biển rồi kéo lên tất cả. Hạnh phúc hệ tại ngồi bên bờ, nhặt cá xấu vứt đi. Tôi để con tôi vào đời giống tôi. Chúng đã lớn lên, học nơi tôi những mẻ lưới hối hả. Tôi đã từng dạy chúng phải nhanh chân kẻo thua trễ người ta. Tôi không chỉ cho chúng ngồi bên bờ, sau mỗi mẻ lưới, nhìn kỹ, nhặt cá xấu vất đi.

Chúng đang thả lưới. Ðời đang hối hả. Con tôi có sẽ tự ngồi bên bờ lựa cá tốt cho vào giỏ, cá xấu thì vất đi? Hay chúng cũng sẽ như tôi, hối hả kéo lưới, tiếp tục gắn trên cửa tủ lời nhắn với các con của chúng: “Con ơi, má thương con thật nhiều. Má phải về trễ đêm nay.”

Người ta bận rộn thả lưới.

Chẳng mấy ai có giờ ngồi bên bờ xem mẻ lưới đời mình.

Biết đâu ngày nào, người chồng của con gái tôi cũng có những lời tương tự với nó: Em yêu dấu. Ngày sinh nhật em. Em yêu dấu. Ngày chúng ta thành hôn. Em yêu dấu. Ðáng nhẽ anh phải đưa em đi nghỉ hè, đáng nhẽ… Nhưng anh quá bận. Cuối tuần này vắng anh nhé. Công việc quá nhiều. Một project anh đang dang dở.

* * * * *

Bạn thân mến,

Ðoản khúc trên đây thật buồn. Nhưng dường như đang xảy ra. Bạn cứ ngồi bên bờ, với Chúa trong những ngày tĩnh tâm, bạn sẽ thấy những gì bạn đang không thấy. Và rồi, biết đâu bạn lại chẳng hạnh phúc nuối tiếc vì đã không sớm ngồi bên bờ cuộc đời nhặt cá.

NGUYỄN TẦM THƯỜNG, S.J.
(Trích tập suy niệm ÐƯỜNG ÐI MỘT MÌNH)

CẦU NGUYỆN VÀ PHỤC VỤ

Có hai thầy Dòng thường hay đến gốc cây trong tu viện để phì phèo điếu thuốc. Một hôm họ bàn với nhau là sẽ đi gặp cha linh hướng để hỏi ý kiến ngài về việc hút thuốc và cầu nguyện.  Họ quyết định sẽ nghe theo lời khuyên bảo của cha linh hướng.  Một thời gian sau, một người đã bỏ hút thuốc, còn người kia thì vẫn còn ung dung phì phèo điếu hút thuốc như trước.  Lấy làm lạ người đã bỏ thuốc hỏi anh bạn mình:

– Này anh! Anh đã nói làm sao với cha linh hướng mà nay anh vẫn còn hút thuốc vậy?

Người bạn trả lời:

– Có gì lạ đâu, tôi đã hỏi cha linh hướng: “Thưa cha, Trong khi con hút thuốc, con có được phép cầu nguyện không?”  và cha linh hướng trả lời: “Trong khi con hút thuốc thì con vẫn được phép cầu nguyện”. Thế là tôi cứ hút, và trong khi tôi hút thuốc, tôi cầu nguyện.  Còn anh, anh đã hỏi cha linh hướng làm sao mà bây giờ anh không còn hút thuốc nữa?

Người bạn bỏ thuốc trả lời:

– Tôi hỏi cha linh hướng như thế này: “Trong khi con cầu nguyện thì con có được phép hút thuốc không?”  Cha linh hướng đã trả lời: “Trong khi cầu nguyện thì con không được phép hút thuốc”.  Chính vì thế mà tôi đã bỏ thuốc để cầu nguyện.

* * * * *

Bạn thân mến! Câu chuyện vui trên đây cho ta thấy hai con người, hai cách ứng xử khác nhau nhưng cùng chung một hướng đi, cùng chung một mục đích là cầu nguyện.

Phúc âm Chúa Nhật hôm nay (Lc 10:38-42) cũng nói lên hai khuôn mặt với hai lối ứng xử khác nhau, hai lối biểu hiện lòng kính trọng và tình yêu mến khác nhau đối với Chúa Giêsu.

Phúc âm thuật lại rằng: Khi được Chúa đến nhà ghé thăm. Martha đã bận rộn với công việc, chị lo lắng chuyện ăn uống bếp núc, chuyện phục vụ đón tiếp sao cho chu đáo.  Nhưng Maria có vẻ bình an và hạnh phúc, trong tư thế gần gũi và gắn bó, chị khiêm tốn ngồi bên chân Chúa để lắng nghe Chúa nói chuyện. Thấy thế Chúa Giêsu đã lên tiếng nói với Martha:

– Martha! Martha ơi! Chị lo lắng và lăng xăng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi.  Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi. (Lc 10:41-42)

Phải chăng trong những điều tốt đẹp, ta phải chọn điều tốt nhất, đẹp lòng Chúa nhất…Đó là lời nhắc nhở khuyên bảo của Chúa Giêsu cho Martha ngày xưa và cho mỗi người chúng ta ngày nay về bậc thang giá trị giữa hoạt động phục vụ và cầu nguyện; giữa công việc của Chúa và chính Chúa.

Phải chăng điều tốt nhất, đẹp lòng Chúa nhất là chính Chúa; là gần gũi gắn bó với Chúa để nghe Lời Ngài giảng dạy khuyên bảo; là tâm tình cầu nguyện với Chúa để biết ý Ngài và làm theo ý Ngài muốn; là ở bên Ngài, nói chuyện với Ngài và mời Ngài cùng hiện diện và cùng góp công sức trong công việc phục vụ và hoạt động … Lúc đó công việc phục vụ và hoạt động không còn được làm bằng sức của ta, nhưng bằng sức của Chúa.  Thành công hay thấy bại trong công việc phục vụ không còn là của ta và do ta nữa, mà là của Chúa và do Chúa.

Phải chăng phục vụ mà không có cầu nguyện là phục vụ cho mình và theo ý mình?  Phải chăng hoạt động mà không có cầu nguyện thì “nhiều lúc” đồng nghĩa với phá hoại, đi ngược với chương trình kế hoạch của Chúa?

Phải chăng đời sống của người Kitô là kết hợp hài hòa giữa Martha và Maria? Giữa tất bật và an bình? Giữa lăng xăng và yên tĩnh? Giữa hoạt động phục vụ và cầu nguyện chiêm niệm?  Ðể rồi giữa tất bật ta tìm thấy an bình, giữa lăng xăng ta thấy mình yên tĩnh, giữa hoạt động phục vụ ta thấy mình chiêm niệm cầu nguyện.

Một tấm gương sáng về đời sống “phục vụ và cầu nguyện” mà chúng ta phải luôn ghi nhớ, luôn nỗ lực để noi gương bắt chước.  Đó là đời sống của đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Trong suốt 30 năm Giáo Hoàng của Ngài là 30 năm cầu nguyện và phục vụ không ngơi nghỉ.  Đời sống của Ngài là một sự phối hợp hài hòa giữa phục vụ và cầu nguyện; là một đời phục vụ với cầu nguyện liên lỉ và một đời cầu nguyện với phục vụ không mệt mỏi.

* * * * *

Lạy Chúa! Khi bị bao vây bởi muôn vàn tiếng ồn ào,
xin cho con tìm được những giây phút thinh lặng.
Khi bị rã rời vì trăm công ngàn việc,
xin cho con quý chuộng những giây phút thinh lặng nghỉ ngơi bên Chúa.
Khi bị xao động bởi những bận tâm âu lo,
xin cho con biết thanh thản ngồi dưới chân Chúa để lắng nghe Lời Ngài.
Khi những đam mê dục vọng bủa vây con,
xin cho con được thoát ra khỏi, nhờ sức mạnh của cầu nguyện.
Lạy Chúa! Ước gì tinh thần cầu nguyện thấm nhuần vào cuộc sống của con.
Vì nhờ cầu nguyện, con gặp được chính con người thật của con và khuôn mặt của Chúa.

Amen

CON TIN CHÚA LUÔN ĐỒNG HÀNH CÙNG CON

Nhà tôi đông anh chị em, tôi là đứa con đầu tiên của gia đình được lên thành phố học đại học. Đằng sau niềm tự hào, phấn khởi của gia đình, tôi biết đó còn là nỗi lo toan vất vả cho ba mẹ.  Bởi thế, mới bắt đầu vào năm thứ nhất được hai tháng, tôi quyết định đi làm thêm.  Mong sao phần nào giúp đỡ được cho ba mẹ.

Theo kinh nghiệm của các anh chị khóa trên truyền lại thì nghề gia sư (kèm trẻ tại gia) là “ngon ăn” hơn cả.  Vừa nhẹ nhàng vừa tốn ít thời gian (4- 6 tiếng / tuần) mà không ảnh hưởng đến việc học nhiều lắm.  Vậy là tôi quyết định đến trung tâm gia sư xin việc.  Tôi nhận dạy toán cho một cô bé lớp 11 vào buổi tối, từ 19 giờ đến 21 giờ các ngày thứ Năm và Chủ Nhật hàng tuần.   Sau khi nộp lệ phí cho trung tâm và ký hợp đồng, họ đưa giấy giới thiệu cùng địa chỉ của gia đình học sinh cho tôi rồi nói:

– Bây giờ, em đến gặp gia đình họ và làm quen với học sinh của mình đi.  Nếu không có gì thay đổi thì thứ Năm này, em dạy luôn nhé!

Tôi ra về, lòng vừa thấy vui lại vừa thấy hơi lo lo.  Vui vì mình sẽ đi làm và sẽ có lương.  Còn lo là lo không biết gia đình họ có “hắc xì dầu” không, học sinh có ngoan không?  Bởi nghe có người kể, có nhiều gia đình rất ghê gớm.  Còn có gia đình thì học sinh láo lắm, cãi và thậm chí còn chửi cả người dạy…. Vừa đứng chờ xe Bus, tôi vừa cầu xin Chúa chúc lành cho tôi.

Hỏi thăm, tôi biết chỉ có duy nhất xe bus số 33 là đi qua nơi tôi sẽ dạy.  Sau 15 phút đợi, tôi đã ngồi yên vị trên xe 33 để tới nơi mình cần tới.   Chiếc xe ậm ạch lăn bánh trên con đường đầy ổ trâu, ổ gà khiến tôi thấy… choáng!  Đâu chỉ vậy, còn quang cảnh xung quanh nữa chứ.  Hai bên đường chạy dài chỉ có cây và cây, um tùm và cao lừng lững.  Xa hơn chút nữa thì có hai hay ba khu đất là công trường đang thi công dở dang.  Nhà dân thì thưa thớt, nhìn kỹ mới thấy lẻ tẻ vài căn nhà.  Có lẽ đây là khu đất mới đang thi công.

Mười tám tuổi, chân ướt chân ráo lên thành phố, nhìn cảnh tượng nơi  này như thế, tôi thấy rờn rợn người… Và tôi muốn bỏ cuộc, không muốn tới đây gia sư nữa.  Nhưng nếu rút hợp đồng, tôi sẽ mất 60% tiền đã đóng.  Thế sẽ ra sao đây?  Đó là số tiền ăn tháng này mẹ vừa gửi lên cho tôi. Còn nếu đồng ý đi dạy ở đây ư?  Liệu tôi có can đảm không khi mà ở đây hoang vắng lại chỉ có duy nhất xe bus 33 chạy qua.  Mà khi tôi kết thúc giờ dạy cũng là lúc hết giờ xe bus hoạt động. Hay là đi xe đạp? Sẽ ra sao khi tôi là con gái, 9 giờ tối mới lóc cóc đạp xe về nhà trên con đường đậm chất “rừng núi” này?  Tôi thấy tâm trí mình cứ rối tung rối mù hết cả lên.  Tôi đang ở thế “tiến thoái lưỡng nan”, lùi cũng khổ mà tiến cũng không xong.

Suy nghĩ miên man, cộng thêm cái nắng nóng bỏng của mùa hè khiến mồ hôi cứ túa ra trên áo làm tôi chuếnh choáng.  Thật sự, lúc ấy tôi thấy mình bị bỏ rơi!  Cái cảm giác đó khó mà dứt trong tôi khi không có một chuyện xảy ra…

Ngồi như bị thôi miên trên xe, bất chợt tôi bừng tỉnh bởi tiếng chuông nhà thờ!  “W…o…a! Ở đây có nhà thờ, có nhà thờ!”  Suýt nữa thì tôi hét to lên câu ấy.  Chính tiếng chuông ấy đã nói cho tôi biết: “Chúa luôn ở bên tôi, đồng hành cùng tôi.”   Cảm giác an lành, sung sướng tràn ngập trong tôi.

Điểm xe bus ngay nhà thờ chính là điểm tôi xuống.  Tôi dừng lại dành một phút để cầu nguyện: “Lạy Chúa, con xin phó thác tất cả nơi Người.” Vừa làm dấu xong thì có tiếng nói:

– Ồ, cháu cũng theo đạo à?  Bác cũng là người công giáo đây.

Câu nói thân thiện của một bác gái làm tôi thấy ấm lòng.  Thế là tự nhiên hai bác  cháu  tôi  nói  chuyện rất cởi mở với nhau.  Sau mãi tôi mới ngớ người ra là quên chưa hỏi địa chỉ mình cần tìm.  Và không thể tả nổi cái cảm giác hạnh phúc ngày hôm đó khi biết cô bé học sinh tôi sẽ dạy lại là con gái của bác.  Khi nghe tôi trình bày điều kiện đi lại không thuận lợi, bác đã đồng ý cho tôi chuyển dạy vào các buổi sáng thứ Bảy và Chủ Nhật.  Và sáng Chủ Nhật, khi dạy xong, tôi sẽ cùng gia đình bác đi tham dự Thánh lễ.

Nhờ hồng ân của Chúa mà tôi mới được như vậy đấy. Tôi luôn tin tưởng vào Chúa, tin là Người luôn đồng hành cùng tôi dù đó là bất cứ hoàn cảnh nào đi chăng nữa.

Thật hạnh phúc khi bạn sống có niềm tin!  Và hạnh phúc hơn nữa khi bạn đặt niềm tin vào Chúa Kitô!

( giaophanhanoi.org – Trang “Sinh Viên & Giới Trẻ” )

 ĐIỀU KHÁC THƯỜNG TRONG NHỮNG CÁI BÌNH THƯỜNG

Tôi vẫn nhớ câu chuyện thầy Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương kể cho chúng tôi nghe trong một buổi học: Lúc thầy còn trẻ ở quê miền Trung, trong một lần dạo chơi ngoài đồng vắng, chú “tiểu đồng” đi theo đã hỏi thầy: “Cậu ơi, bông hoa nở trong kẹt đá để làm chi, không có ai thấy cả!”.

Câu hỏi của chú bé nọ đã ăn sâu vào trí nhớ của tôi.  Nhiều lần tôi đã suy nghĩ đề tìm câu trả lời, nhưng tôi chỉ tự trả lời được bằng một câu “kinh điển” chung chung: Vì Thiên Chúa yêu thương loài người nên Ngài dựng nên muôn loài muôn vật cho loài người hưởng dùng mà ca ngợi Ngài! Tôi đã “ví von” câu chuyện này qua bài thơ “Ngẫm Nghĩ” sau đây:

Đoá hoa nở giữa đồng không.
Con chim hót giữa mênh mông đất trời.
Sao lấp lánh giữa chơi vơi.
Cá tôm bơi lội giữa khơi nước ngàn.
Vô thường mà lại đa mang,
Thân con giữa chốn trần gian đông người.
Sinh ra để khóc hay cười?

****************

Hôm nay, sau một cuộc nói chuyện với hai bạn trẻ đến thăm và sau khi tình cờ đọc xong một đoạn trong cuốn “Hoàng Tử Bé” của Saint-Exupéry, tôi đột nhiên “thấy” được một câu trả lời có vẻ cụ thể và “sát sườn” hơn cho mình: “Bông hoa ấy nở trong kẹt đá là để chú bé kia thấy nó và đặt ra câu hỏi nọ”.  Bông hoa ấy không nở ra một cách “vô nghĩa lý” trong cuộc đời!

Tôi thử suy nghĩ thêm và thấy có điểm tương đồng giữa bông hoa nọ và một con người nào đó đang hiện diện trên cuộc đời này:  Không ai có mặt trên cuộc đời một cách “vô nghĩa lý” cả.  Nếu Thiên Chúa dựng nên một người thì chắc chắn người ấy đã được Ngài trao cho một sứ mạng để hoàn thành.

Tôi trở lại suy nghĩ về những bông hoa và thấy Thiên Chúa đã dựng nên quá nhiều bông hoa, hình như nhiều hơn cả mức cần thiết, như chú bé nọ đã nhận xét.  Nhưng nghĩ cho kỹ, tôi thấy bất kỳ bông hoa nào – dù là bông hoa dại – cũng có một “sứ mạng”: hoặc là để cho con người ngắm nhìn, hoặc là để cho ong bướm hút mật, hay thậm chí để cho chim chóc côn trùng nhấm nháp cho no bụng…  Không bông hoa nào nở ra một cách vô ích cả.

Con người cũng vậy.  Hình như Thiên Chúa dựng nên nhiều người quá, có lẽ nhiều hơn cả mức cần thiết?  Thầy Dương đã đưa ra nhận xét như thế khi đi giữa đường phố Sài Gòn đông nghẹt người.

****************

Trong hàng tỷ người đang có mặt trên trái đất này, thoạt nhìn, có rất nhiều cuộc đời xem ra vô nghĩa lý vì “ẩn khuất trong những kẹt đá” như bông hoa mà chú bé nọ đã tình cờ nhìn thấy.  Họ âm thầm được sinh ra và âm thầm chết đi mà chẳng để lại dấu tích gì trên trần gian.  Thậm chí nhiều khi cuộc đời họ chỉ toàn là đắng cay bất hạnh phải âm thầm gánh chịu một mình.  Thế thì họ được sinh ra làm gì nhỉ?

Chú bé nọ “tình cờ” gặp được bông hoa và đặt ra được một câu hỏi.  Khi ấy chú còn quá nhỏ để biết rằng câu trả lời đã nằm sẵn trong câu hỏi mà chú đặt ra.  Tôi hy vọng rằng khi lớn lên chú đã tìm ra câu trả lời cho mình.  Nếu còn sống, bây giờ chắc “chú” cũng đã bước qua tuổi 70!

Riêng tôi, nhờ câu hỏi ấy mà tôi tìm ra được một câu trả lời về cuộc nhân sinh cho chính mình: Mỗi một con người được sinh ra trên mặt đất này là để hạnh ngộ với một-ai-đó.

Rất nhiều lần và rất tình cờ, tôi đã được soi sáng bởi những con người “vô danh”:  những người hành khất, những người tàn phế, những đứa trẻ con, những người nhà quê bình dị…  Nếu được phép, tôi xin ví họ như những bông hoa nở trong kẹt đá.  Họ âm thầm sống giữa cuộc đời, không kỳ vọng có một ai đó “ngắm nhìn” mình, “trưng bày” mình cho những người khác chiêm ngưỡng.  Họ sống một cuộc đời bình dị.  Họ được sinh ra trong bình dị và sẽ chết đi trong bình dị, hầu như không để lại một dấu ấn nào cho những người chung quanh.  Tuy nhiên, nếu xét cho kỹ, họ đang âm thầm thực hiện sứ mạng cao cả của mình dù họ không hay biết.  Nếu họ sống đúng với ơn gọi làm người, chắc chắn họ đang soi sáng cho ít là một-ai-đó đã may mắn tình cờ gặp được họ.  Là người, họ đang thực hiện sứ mạng cao cả của một con người trong cuộc đời này.

****************

Là Kitô hữu, là con cái “gần gũi” của Thiên Chúa, chắc chắn tôi đang mang trong mình một sứ mạng trọng đại mà Thiên Chúa trao phó.  Sứ mạng ấy trọng đại không phải vì tôi sẽ làm những việc lớn lao mang lại những thành công vang dội khiến nhiều người trầm trồ thán phục.  Không, như một bông hoa dại nở trong kẹt đá, sứ mạng trọng đại của tôi là hãy nỗ lực làm triển nở toàn vẹn ơn gọi Kitô hữu trong chính hoàn cảnh sống hiện tại của mình.  Rồi đến một lúc bất ngờ nào đó, phút giây hạnh ngộ giữa tôi và một-ai-đó sẽ đến.  Nếu cuộc gặp gỡ này có thể giúp cho người đó đặt ra câu hỏi về ý nghĩa của cuộc nhân sinh, thì tôi đã thực hiện được sứ mạng mà Thiên Chúa uỷ thác khi Ngài cho tôi được diễm phúc sinh ra trong cuộc đời này.

Lạy Chúa, xin Chúa giúp con biết sống một cách “khác thường” giữa những điều “bình thường” trong mọi giây phút của cuộc đời con. Amen.

– Trầm Tĩnh Nguyện –